Tháng Tám 20, 2018, 11:11:06 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: GHI ƠN TIỀN BỐI--HT THÍCH THIỆN HOA  (Đọc 7896 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 08, 2011, 04:05:33 am »

(tiếp theo)

II.- QUÝ LIỆT VỊ BỊ THẢM SÁT QUA CÁC CUỘC KHỦNG BỐ VÀ ĐÀN ÁP

 

1. – Trước năm 1963, Đại Đức Thích Viên Quang, trụ trì chùa Kim Quang, xã Hà Thành, quận Sơn Hà, bị hạ sát trên đường từ chùa Kim Liên (xã Sơn Tây) đến Hà Thành.

2. – Năm 1965 ngày … Cư sĩ Phan Duy Trinh, huynh Trưởng gia đình Phật tử Thừa Thiên Huế, bị thảm sát và được phong Thánh Tử Đạo.

3. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Đặng Văn Công 13 tuổi.

4. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi.

5. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Yến 20 tuổi.

6. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Huỳnh Thị Tôn Nữ Tuyết Hoa 12 tuổi.

7. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi.

8. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Văn Đạt 13 tuổi.

9. –  Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Ngọc Lan 12 tuổi.

10. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị phúc 15 tuổi.

(8 vị trên đây bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế, đã phong Thánh Tử Đạo).

11. –  Năm 1963 ngày 8.5 Quý Mão, Cư sĩ Hồ Thị Mùi bị thảm sát tại Huế.

12. – Năm 1963 ngày 7.6 Quý Mão, Cư sĩ Nguyễn Tăng Chắc bị thảm sát tại Huế.

13. – Năm 1963 ngày 14.7 Quý Mão, Cư  Sĩ Hoàng Tuyết bị thảm sát tại Huế.

14.– Năm 1963 ngày 20.7 Quý Mão, Cư  Sĩ  Trần Du bị thảm sát tại Huế.

15.– Năm 1963 ngày 25.8 Quý Mão, Quách Thị Trang bị thảm sát tại chợ Bến Thành Sài gòn.

16.– Năm 1964 ngày 31.8 (24.7 Giáp Thìn), Phật tử  Nguyễn Văn Phát bị thảm sát tại Sài gòn.

17. – Năm 1964 ngày 1.9 (25.7 Giáp Thìn), Phật tử Phan Văn Hòa bị thảm sát tại Sài gòn.

18. – Năm 1966 ngày 1.3, Phật tử Nguyễn Văn Đức bị thảm sát tại Tuyên Đức.

19. – Năm 1966 ngày 21.4 Phật tử Nguyễn Văn Triệt bị thảm sát tại Tuyên Đức.

20. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Châu Kỳ bị thảm sát tại Tuyên Đức.

21. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Đoan Chánh bị thảm sát tại Tuyên Đức.

22. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Hoàng Văn Dậu bị thảm sát tại Tuyên Đức.

23. – Năm 1966 ngày 11.6, Cư sĩ Văn Bá Hoành, Đặc Ủy gia đình Phật tử Quận Duy Xuyên bị thảm sát tại Quảng Nam.

24. – Năm 1966 ngày 16.6 Phật tử  Đoàn Thanh Niên Thiện Chí Huỳnh Văn Thiện, bị bắn trước cửa Việt Nam Quốc Tự, đã được phong Thánh tử Đạo ngày 20.8.1967 (Rằm tháng 7).

25. – Năm 1966 ngày 12.7, Cư sĩ Nguyễn Dần, Chánh Đại diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị chôn sống tại quận Duy Xuyên Quảng Nam.

26. –  Năm 1966 ngày 27.3 AL, Cư Sĩ Nguyễn Đại Thức bị thảm sát tại Huế.

27. – Năm 1966 ngày ... Cư sĩ  Lê Đình Linh, Đặc Uỷ gia đình Phật tử Điện bàn Quảng Nam, bị bắt và mất tích tại Quảng Nam.

28. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trịnh Văn Lộc bị mất tích tại Quãng Tín.

29. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trương Dzu bị bắt và mất tích tại Quãng tín.

30.– Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Bùi Xuân Hiền bị thủ tiêu tại Quãng nam.

31. – Năm 1966 ngày …  Trung Uý Đào Quang Thống.

32.– Năm 1966 ngày …  Thượng Sĩ Chế Quang Khương.

33. – Năm 1966 ngày …  Trung Sĩ Bùi Mùi.

34. – Năm 1966 ngày …  Trung sĩ Nguyễn Cao Thiên.

35. – Năm 1966 ngày …  Binh nhất Võ Liên.

36. – Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Đăng Quang.

37. – Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Xin.

38. –  Năm 1966 ngày …  Binh Nhì Nguyễn Thành.

39. –  Năm 1966 ngày …  Phật tử Nguyễn Bá Lập (gia đình Phật tử).

40. – Năm 1966 ngày …  Phật tử Bùi Văn Kiểm (mất tích).

(8 quân nhân và 2 Phật tử trên đây đều tranh đấu đòi Quốc Hội Lập Hiến do Giáo Hội chủ trương, bị chết tại Quãng Ngãi).

41.      Năm 1967 ngày 1.3, Cư sĩ Nguyễn Cúc, Chánh Đại Diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị thủ tiêu tại Quãng Nam.

42.      Năm 1967 ngày 24.4, Giáo sư Trương Thị Phưộng Liên ở Đà Nẳng bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định

43.      Năm 1967ngày 24.4Sinh viên Trần Thị Vui bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định

44.       Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Tâm Thể (Nguyễn Nhứt Trí) bị mất tích tại xã Linh Đông quận Thủ Đức.

45.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Huyền Đắc (Nguyễn Văn Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức, Gia Định.

46.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Minh Hoài (Diệp Quang Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.

47.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh  Thích Tâm Minh (Lưu Quang Dũng) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.

48.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Đinh Viết Dương mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.

49.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Trọng Ngành  mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.

50.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Khắc Quỳnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.

51.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Trần Văn Bỉnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định

52.  Năm 1967 ngày 5.7, Tăng sinh Thích Thanh Quang (Hồ Ngọc Tuấn) cán bộ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

53.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Nguyễn Viết Tự Hy, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

54.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Lê Thế Linh tức Lành, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định

55.  Năm 1967 ngày 5.7, sinh viên Võ Văn Thi tức Thơ, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

  (từ số 42 đến 55 cộng 14 người là nhân viên của Trường TNPSXH trong GHPGVNTN ở chùa Pháp Vân xã Phú Thọ Hòa, tỉnh Gia Định).

56.  Năm 1970 ngày 23.6, Đại Đức Thích Thiện Ân tịch tại bệnh viện Triều Châu vì bị bắn ngày 3.5.1970 tại Việt Nam Quốc Tự.

57.  Thượng Tọa Thích Thiện Lai tự thiêu, năm 1971 tại chùa Phổ Quang đường Cô Giang Phú Nhuận Gia Định để cầu nguyện Hòa Bình VN.

 ***

Thưa Quý Liệt Vị,

Cũng vì đóng góp cho Phong trào tranh đấu bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc, nên một số đông Tăng Ni Phật tử, nhất là Quân nhân Phật tử năm 1966 trên toàn quốc đã bị tù đày khổ nhục.

Nói đến đây, chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ tưởng lại công đức hy sinh tột độ Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh Tử Đạo và Tăng Ni cùng Phật tử bị khổ nhục. Nhờ Quý vị đó mà Đạo pháp và Dân tộc khỏi bị lầm than! Quý vị chết đi để cho chúng ta được sống. Quý vị đau khổ để cho chúng ta được an vui.

Vậy một lần nữa, chúng tôi cung thỉnh chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử đồng đứng lên, để 3 phút thành kính tưởng niệm công đức vô biên của Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh tử Đạo, Tăng ni và phật tử, đã hy sinh bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc từ năm 1963-1970.

 

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, Ngoisaobiec, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Ba 08, 2011, 04:09:41 am »

(tiếp theo)

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

THỐNG NHẤT RA ĐỜI


Thưa Quý Liệt vị,

Cuộc cách mạng ngày 1.11.1963 đã chấm dứt chế độ tàn bạo độc tài của Ngô Triều. Phật-giáo thoát khỏi cơn đại nạn. Sau đó 2 tháng, một Đại Hội Phật-giáo Việt-Nam được tổ chức trọng thể từ ngày 30.12.1963 đến ngày 1.11964 tại chùa Xá Lợi Sài gòn, gồm cả Tăng Ni Phật tử Nam tôn và Bắc Tôn, để thống nhất thành một Giáo Hội, gọi là “Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất”.

Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời lãnh sứ mạng nặng nề và cao cả của các vị Tiền Bối gần 50 năm qua giao phó, tiếp tục công nghiệp của Giáo Hội Tăng già toàn quốc, Tổng hội Phật-giáo Việt-Nam và các tập đoàn Phật-giáo cả Nam Tôn và Bắc Tôn.

Từ đây, Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất có trách nhiệm lèo lái con thuyền Đạo pháp qua cơn sóng gió, đưa đến chổ vinh quang. Đây là giai đoạn của người hậu tấn và cũng là nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta hiện nay vậy.

Trước khi dứt lời, nhân danh Viện Trưởng Viện Hóa-Đạo, chúng tôi đốt nén hương lòng cầu nguyện giác linh Quý Liệt Vị Tiền Bối, chư Thánh Tử Đạo giáng lâm chứng chiếu, và Quý Liệt Vị hiện tiền, hữu công trong Phong trào Chấn Hưng Phật-giáo trong nữa thế-kỷ qua, chứng minh cho lòng thành kính tri ân của tất cả chúng tôi.

Nam Mô Công đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

[1] Xem hình ảnh tự thiêu của Chư Thánh Tử Đạo ở sau (Thiêu đòi Hòa Bình Việt Nam, thiêu để bảo vệ Đạo Pháp).

-------------------

TỔNG KẾT

PHẬT GIÁO VIỆT NAM QUÁ KHỨ

Chúng ta hãy nghiêm chỉnh và từ từ giở lại từng trang sử Phật-giáo Việt-Nam; chúng ta thấy từ khi Phật-giáo có mặt trên đất nước Việt Nam đến nay, gần 2000 năm. Phật-giáo luôn luôn trung thành với Dân tộc quốc gia Việt Nam; cùng với Dân tộc đồng an đồng nguy. Khi nào nước nhà bị ngoại xâm, dân chúng đồ thán, thì Phật-giáo đứng ra chống xâm lăng cứu nước giúp dân. Khi nước nhà thái bình thạnh trị, dân chúng an cư lạc nghiệp thì các vị Thiền sư trở về chùa tu niệm. Phật-giáo không mưu đồ ngai vàng, công danh, quyền thế hay độc tôn. Phật-giáo không để cho một thế lực nào, dù mạnh đến đâu khuynh đảo. Không để bị mua chuộc dù tiền bạc nhiều đến mấy. Phật-giáo không chạy theo ngoại bang, không dựa quyền thế, không làm tay sai cho bất cứ ai. Mà Phật-giáo chỉ trung thành với quốc gia Dân tộc, chỉ dựa trên căn bản Dân tộc, sống chết với Dân tộc mà thôi. Lịch sử Việt Nam, từ Đinh, Lê, Lý, Trần đã chứng minh hùng hồn và cụ thể điều đó.

ĐẠI HỘI THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Phật-giáo từ khi có mặt trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, chưa làm đổ một giọt máu nào của nhân loại hay của một quốc gia chủng tộc nào, (chỉ trừ một vài cá nhân mượn lốt tu sĩ, vì quyền lợi riêng tư) hay có hậu ý mưu đồ xâm lăng chiếm đoạt. Phật-giáo đi đến đâu chỉ mang ánh sáng từ bi đạo đức chiếu soi đến tận đó và tạo dựng Hòa Bình an lạc cho Dân tộc xứ ấy.

Phật-giáo Việt-Nam trong quá khứ đã viết một trang lịch sử vàng son như thế. Là Phật tử, dù gặp phải hoàn cảnh nghèo nàn khổ nhục, tai nạn đến đâu, bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải giữ gìn trang lịch sử ấy.

 
PHẬT GIÁO VIỆT NAM CẬN ĐẠI


Thưa quý liệt vị, xuyên qua bài “Ghi ân Tiền Bối”, chúng ta thấy gì? Thời kỳ cận đại, nước Việt Nam bị người Pháp đô hộ gần 1 thế-kỷ, dân chúng Việt Nam làm nô lệ gần 100 năm, thì Phật-giáo Việt-Nam cũng bị gian khổ, kỳ thị, chèn ép, suy đồi gần 1 thế-kỷ.

Thế mà các vị Tiền Bối không nệ thân già sức yếu, đã hy sinh, dốc toàn lực để giương mình dưới sức ép nặng nề của tảng đá khổng lồ của ngoại bang là Thực dân Pháp.

Từ con số không, quý Ngài đã gầy dựng, Chấn Hưng với một sự cố gắng không ngừng, trở mình tiến triển qua nhiều giai đoạn, cho đến ngày nay, Phật-giáo được một sự nghiệp khả quan như ngày nay!.

Cũng trong thời gian bị kỳ thị suy đồi ấy, Phật-giáo vừa Chấn Hưng để bảo vệ Đạo pháp, vừa giữ vững truyền thống ngàn xưa là “Trung thành với quốc gia Dân tộc”. Như năm 1946 trên toàn quốc, chư Tăng Ni lập “Phật-giáo cứu quốc” để “Chống Pháp cứu nước”. Hòa Thượng Nguyễn Văn Đồng, trụ trì chùa Tam Bảo Rạch Giá đã bị Pháp và tay sai đánh đập tra tấn và đày ra Côn Đảo cho tới ngày rục xương; Thượng Tọa Trí Thuyên bị Pháp bắn tại Tòng Lâm Kim Sơn Huế, … cũng vì tội “Trung thành với Quốc gia Dân tộc!”.

Chúng ta thành tâm ghi ân quý vị Tiền Bối đã có công đóng góp cho nền Chấn Hưng Phật-giáo và quốc gia Dân tộc, một sự hy sinh vô tận. Quý Ngài đã viết thành một trang lịch sử vẻ vang cho Phật-giáo Việt-Nam cận đại. Chúng ta là đàn hậu tấn, có bổn phận tiếp nối, giữ gìn và làm sáng tỏ thêm trang lịch sử vàng son ấy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, Ngoisaobiec, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Ba 08, 2011, 04:13:02 am »

(tiếp theo)

PHẬT GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY
( là năm 1970)


Chúng ta đã thấy Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại. Còn “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay” đã làm gì cho Đạo pháp và Dân tộc?

Thưa quý liệt vị, kiểm điểm lại từ năm 1963 đến nay (1970), chúng ta đã thấy những gì?

- Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm nắm chính quyền 9 năm, đã viết một trang lịch sử vô cùng đen tối: tàn bạo, độc tài, đàn áp dân chúng, kỳ thị tôn giáo, âm mưu tiêu diệt các đảng phái và tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo, rốt sau là Phật-giáo.

Trước một bạo lực hung hăng vô cùng nguy hiểm như thế, nhưng vì tinh thần quật cường bất khuất, Phật-giáo vùng lên tranh đấu, với tư thế “Châu chấu chống xe, đem trứng chọi đá” để “cứu nước, cứu dân, cứu các tôn giáo đảng phái, kể cả tự cứu mình”

Ngô triều sụp đổ, nhưng chế độ của Ông vẫn còn, nên Phật-giáo phải tiếp tục tranh đấu.

- Đến năm 1966, vì thấy nước nhà hoàn toàn mất chủ quyền, bị ngoại nhân khuynh đảo, mọi mặt như: chính trị, kinh tế, xã hội, … đều bị lệ thuộc ngoại bang và hoàn toàn sụp đổ, nên một lần nữa, Phật-giáo đứng lên tranh đấu đòi “chủ quyền quốc gia”, đòi “Quốc hội lập hiến”, đòi “Thành lập hiến pháp”, và đòi “Chánh phủ dân cử”, để xây dựng nền dân chủ cho miền Nam nước Việt.

Cũng vì truyền thống của Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại, nên Phật-giáo Việt-Nam ngày nay cũng, đã và đang tiếp tục viết một trang lịch sử oai hùng và vẻ vang vào thế-kỷ thứ 20 này là “cứu nước, cứu dân và bảo vệ Đạo pháp”.

Trang đầu, trong bản Hiến chương của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất (1964) đã nói rõ “Lập trường của Phật-giáo” như sau:

Viết trang lịch sử oai hùng này, Phật-giáo Việt-Nam đã tốn khá nhiều xương máu: Tăng Ni Phật tử hy sinh rất nhiều; Sinh Viên, Học sinh Phật tử bị đánh đập tra tấn, nhất là quân nhân Phật Tử bị tù đày khổ nhục và thiên chuyển.

Khởi đầu Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu để “cứu nguy Dân tộc và Đạo pháp” làm rúng động cả Thế giới. Tiếp theo lửa Từ bi của Bồ Tát, có gần 30 ngọn đuốc thiêng, liên tiếp đốt lên, phá tan bao nhiêu lớp mây mù si mê hắc ám của chế độ tàn bạo độc tài, làm sáng chói cả Việt Nam và Thế Giới.

Và tiếp theo 28 ngọn đuốc Từ Bi, đã có trên 50 vị Thánh Tử Đạo hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc, làm cho Thế Giới kinh hoàng; Liên Hiệp Quốc phải nhóm gấp để can thiệp, và cử một phái đoàn đến Việt Nam để điều tra về chính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật-giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm.

Cuộc đấu tranh vẻ vang oai hùng của Phật-giáo, làm cho dân chúng trong và ngoài nước có nhiều dư luận phê phán và ca ngợi như sau:


1.      Từ khi có lịch sử loài người, trên thế giới chưa có một cuộc cách mạng tranh đấu nào được một phần ba thế giới ủng hộ. Thế mà cuộc đấu tranh của Phật-giáo năm 1963, hầu hết tất cả các nước trên thế giới, chẳng những thế giới tự Do, mà cả Thế giới Cộng Sản, từ nước nhược tiểu cho đến nước đại cường quốc như: Mỹ, Anh, pháp, Nga, Tàu và Ấn Độ … đều ủng hộ.

2.      Tinh thần dũng cảm của Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh Tử Đạo, toàn thể Tăng Ni và đồng bào Phật tử hy sinh đấu tranh để “bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc Việt Nam” đã viết lên một trang lịch sử vẽ vang oai hùng, vô tiền khoáng hậu.

3.      Mỗi khi Quốc tế can thiệp, phải là việc công cộng và rất quan trọng. Cuộc đấu tranh của Phật-giáo năm 1963, chỉ trong phạm vi nhỏ bé của Việt Nam, thế mà Liên Hiệp Quốc phải chú trọng đến, họp khẩn cấp và cử một phái đoàn đến Việt Nam để trực tiếp điều tra, để đưa ra quốc tế xét xử. Như thể đủ biết được cuộc đấu tranh của Phật-giáo có giá trị và quan trọng đến mức nào.!

4.      Cuộc tranh đấu của Phật-giáo năm 1963, làm cho thế giới rúng động và kính nể chí khí anh hùng, quật cường, bất khuất của Dân tộc Việt Nam nói chung và Phật-giáo Việt-Nam nói riêng.

5.      Trên Thế giới, các nước Phật-giáo, chưa có nước nào Phật-giáo Nam Tôn và Bắc Tôn được thống nhất. Thế mà nước Việt Nam, nhờ cuộc đoàn kết tranh đấu năm 1963, nên Phật-giáo được thống nhất cả Nam Tôn và Bắc Tôn.

- Đến năm 1970, thêm hai ngọn đuốc thiêng là Thượng Tọa Thiện Lai, Ni Cô Liên Tập và năm 1967 Phật tử Nhứt Chi Mai là 3 vị hy sinh cho Quốc Gia Dân tộc, tự thiêu để đòi chấm dứt chiến tranh, cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam (xem tiểu sử của 3 vị ở sau).

Tóm lại, xuyên qua bao nhiêu dư luận của quần chúng trong và ngoài nước, chúng ta thấy: vẫn theo truyền thống Phật-giáo Việt-Nam quá khứ và cận đại, Phật-giáo Việt-Nam ngày nay (1963-1970) đã tiếp tục viết một trang lịch sử vẽ vang oai hùng bằng máu lửa, bằng đại hùng, đại lực, đại từ bi, để “Bảo vệ quốc gia, Dân tộc và Đạo pháp”.

Là Phật tử, bất luận xuất gia hay tại gia, chúng ta đều có bổn phận phát huy truyền thống của Tổ tiên, giữ gìn trang lịch sử vàng son nay.

----------------------
 

PC:      - Tập II sẽ nói về “Phật-giáo Việt-Nam ngày nay” (tức là Phật-giáo Việt-Nam năm 1970).

            - Tập III sẽ chép về tiểu sử, hình ảnh danh lam và danh tăng cổ kim và quý vị cư sĩ hữu công.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, Ngoisaobiec, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Ba 08, 2011, 04:16:50 am »

(tiếp theo)


THÔNG BẠCH

của

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

gửi

TOÀN THỂ PHẬT GIÁO ĐỒ TRONG NƯỚC.


Sau cuộc vận động 5 nguyện vọng của Phật-giáo, tất cả mọi người con Phật ai ai cũng thấy một cách cần thiết là nền Phật-giáo Việt-Nam phải được thống nhất, Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam phải có Giáo Quyền, Phật-giáo đồ ở cả nước phải thống nhất ý chí lẫn hành động để xây dựng một nền Đạo giáo Dân tộc thực sự xứng đáng với trách vụ của nó ở hai phương diện: Đạo và Đời.

Để đáp ứng kịp thời những nhu cầu vừa sâu xa vừa cấp thiết trong giai đoạn hiện tại.

Để thực hiện sự thống nhất đó, một hội nghị Phật-giáo Việt-Nam được tổ chức từ ngày 30.12.1963 đến 1.1.1964 tại chùa Xá Lợi quy tụ các đại biểu thuộc 2 giáo phái Nam Tông, Bắc tông và gồm các quan sát viên của các giáo phái khác. Đại Hội đã thu được những kết quả mong muốn và Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất ra đời. Đặt dưới sự trông coi của 2 viện TĂNG THỐNG và HÓA ĐẠO. Một chương trình hành động nhằm củng cố hệ thống Phật tử Việt Nam với mục tiêu lấy Đạo xây dựng Đời, đem Đời vào Đạo đã được hoạch định. Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất bảo trọng lý tưởng Hòa Bình, phục vụ dân tôc và nhân loại, đúng theo nghĩa từ bi của Đức Phật. Giáo Hội đặt sự tồn tại của mình trong sự tồn tại của Dân tộc và nhân loại. Ý thức hệ của Phật-giáo nhằm hoạt động hướng đến hạnh phúc của con người trong lý tưởng của cộng đồng.

Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất mong mỏi và sẵn sàng tiếp nhận mọi tầng lớp Phật tử thuộc các giáo phái đã cử quan sát viên tham dự đại hội kịp thời gia nhập để xây dựng nền Phật-giáo Dân tộc thật sự xứng đáng với danh nghĩa của nó. Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất, ý thức vai trò của mình qua truyền thống mà lịch sử của Dân tộc đã chứng minh một cách rõ ràng. Khi nào xứ sở suy tàn thì Phật-giáo vong, lúc nào Đạo pháp hưng thì xứ sở thịnh. Vì lẽ đó, Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất nhận thức được trách nhiệm của mình trong sự tồn tại của Dân tộc và nhân loại.

Phật-giáo đồ xây dựng mọi hoạt động của mình trên tinh thần Từ Bi Trí Tuệ và với tinh thần đó, Phật tử sẵn sàng đón nhận mọi người trong tình huynh đệ và trong sự tương thân rộng rãi.

Tất cả chúng ta phải sống cho Chính pháp, hy sinh vì Chính pháp, để xây dựng một nền Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất thực sự. Đó là trách vụ thiết yếu nhất của chúng ta trong giai đoạn hiện tại và đó cũng là một lối cúng dường duy nhất đối với Tam Bảo.
 



(xin xem tiếp Phần Phụ Lục)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, Ngoisaobiec, dieunha
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 10, 2011, 04:14:47 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Ba 09, 2011, 04:45:13 am »

(tiếp theo)

PHẦN PHỤ LỤC

V –Di ảnh và tiểu sử Chư Thánh Tử Đạo.

TIỂU SỬ

BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC



I – THỜI KỲ THIẾU NIÊN

Bồ Tát sinh năm 1897, tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Trung Việt; tên đời Lâm Văn Tuất, pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Đức.

Lên 7 tuổi, Bồ Tát được song thân cho xuất gia học đạo, thọ giáo với Hòa Thượng Thích Hoằng Thăm. Năm 15 tuổi, Bồ Tát thọ giới Sa Di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ Kheo và Bồ Tát. Sau khi thọ giới, Bồ Tát ở tu 3 năm tại núi Ninh Hòa. Sau đó, Bồ Tát tu hạnh Đầu Đà, một mình với chiếc bình bát đi Hóa-Đạo khắp nơi, rồi về nhập thất tại chùa Thiên Ân, Ninh Hòa, Nha Trang.

II – THỜI KỲ TRUNG NIÊN

Năm 1932, chi hội An Nam Phật Học tại tỉnh Ninh Hòa, thỉnh Bồ Tát làm Chứng Minh Đạo Sư. Và Giáo Hội Tăng già Trung Việt mời Bồ Tát làm chức Kiểm Tăng ở tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo ở miền Trung, Bồ Tát đã kiến tạo và trùng tu được 14 ngôi chùa.

Năm 1943, Bồ Tát vào Nam đi Hóa-Đạo các tỉnh Sài gòn, Gia Định, Bà Rịa, Long Khánh, Định Tường, Hà Tiên, rồi Bồ Tát đến Nam Vang 3 năm nghiên cứu kinh điển chữ pali.

Hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, Bồ Tát đã khai sơn và trùng tu được 17 ngôi chùa. Như thế là Bồ Tát đã có công trùng tu và khai sơn tất cả 31 ngôi chùa. Bồ Tát thường ở chùa Long Vĩnh, nên được người đời gọi là Hòa Thượng Long Vĩnh.

III – THỜI KỲ LÃO THÀNH

Năm 1953, Giáo Hội Tăng già Nam Việt mời Bồ Tát làm chức Trưởng Ban Nghi Lễ. Và theo lời thỉnh cầu của hội Phật Học Nam Việt, Bồ Tát nhận làm chủ trì chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), trụ sở của Hội.

Đến năm 1963, vì thấy chế độ tàn bạo độc tài, âm mưu tiêu diệt Phật-giáo của Ngô Triều, nên Bồ Tát phát nguyện thiêu thân để cứu nguy cho Dân tộc và Đạo pháp.

IV – THỜI KỲ SẮP VIÊN TỊCH
 

Đến ngày 20.4 nhuần năm Quý Mão (11.6.1963), sau buổi lễ cầu siêu tại chùa Phật Bửu, hàng ngàn Tăng Ni đang diễn hành trên các đường phố để đòi chính phủ thực thi 5 nguyện vọng chân chính của Phật-giáo và đòi phải chấm dứt chính sách kỳ thị tôn giáo. Khi đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, Bồ Tát từ trên xe ung dung bước xuống, đến ngồi kiết già tại giữa ngã tư, rồi tự tay mình quẹt lửa châm vào y hậu. Sau khi ngọn lửa bắt xăng bốc cháy cao phủ kín cả thân người trên 15 phút, Bồ Tát vẫn ngồi kiết già lưng thẳng như tượng đồng đen, tay còn bắt Ấn Tam Muội. Đến lúc lửa hạ ngọn, Bồ Tát gật đầu 3 lần như cuối chào vĩnh biệt, rồi ngã ngửa xuống.

Trước giờ thị tịch, Bồ Tát thốt ra những lời tâm huyết như sau:

“Trước khi tôi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên lấy lòng Từ Bi Bác Ái mà đối xử với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo, để giữ vững nước nhà muôn thuở.”

   Và Bồ Tát không quên nhắn nhủ Tăng Ni và Phật tử như sau:

   “Tôi thiết tha kêu gọi chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí, hy sinh để bảo tồn Phật Pháp.”


Kim thân của Bồ Tát Quảng Đức quàng lại chùa Xá Lợi 5 ngày. Đến ngày 16.6.1963, Tất cả Tăng Ni và Phật tử trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật-giáo đưa Ngài về an dưỡng địa, cử hành trọng thể lễ Trà tỳ.
 

Sau khi hỏa thiêu suốt ngày, xương thịt đều tiêu hết nhưng trái tim Bồ Tát vẫn còn y nguyên, mặc dù đã thiêu bằng lửa điện trên 6 tiếng đồng hồ. Hiện nay trái tim Bồ Tát tôn thờ tại chùa Ấn Quang trụ sở tạm của Giáo Hội Phật-giáo Việt-Nam Thống Nhất.

***

Sự thị tịch của Bồ Tát, có 2 điều huyền diệu:


1.      – Khi lửa cháy phủ người mà Ngài vẫn ngồi như tượng đồng đen, tay bắt ấn tam muội, chân ngồi kiết già, không hề lay chuyển.

2.      – Khi trà tỳ, xương thịt cháy hết, trái tim vẫn còn y nguyên. Sự huyền diệu này làm cho Tăng Ni và Phật tử trong ngoài nước đều vô cùng kính phục.

Linh cốt Bồ Tát, được tôn thờ tại các chùa như sau:

3.      – Việt Nam Quốc Tự, Trụ sở Viện Hóa-Đạo.

4.      – Chùa Ấn Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng già toàn quốc.

5.      – Tháp Đa Bảo, chùa Phước Hậu, Trà Ôn.

6.      – Chùa Từ Nghiêm, trụ sở Ni Bộ Bắc Tông, …

7.      – Chùa Quán Thế Âm (Phú Nhuận) nơi di tích cuối cùng của Bồ Tát QUẢNG ĐỨC.

Tóm lại, Bồ Tát dùng nhục thân làm ngọn đuốc, đốt lên để phá tan mây vô minh hắc ám của Ngô Triều, làm chấn động năm Châu, tất cả các nước trên Thế Giới đều bênh vực Phong trào tranh đấu chân chánh của Phật-giáo.

Nhờ ngọn lửa từ bi của Bồ Tát mà cứu nguy được cả Dân tộc và Đạo pháp, làm cho Liên Hiệp Quốc phải tận tâm chú ý đến nước Việt Nam bé nhỏ này và cử một phái đoàn đến can thiệp; cả Thế giới đều kính phục sự can đảm anh dũng của Dân tộc Việt Nam nói chung và của Phật-giáo nói riêng.

Bồ Tát tuy viên tịch, nhưng ngọn lửa Đại Hùng, Đại Lực Đại Từ Bi của Bồ Tát vẫn còn sáng chói mãi trong lòng người Phật tử trong và ngoài nước đến muôn đời chẳng hết.

Nam mô Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi QUẢNG ĐỨC Bồ Tát.

---------------------
 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Ba 09, 2011, 04:47:40 am »

(tiếp theo)

LỬA TỪ BI


(Kính dâng lên Bồ Tát Quảng Đức.)

Lửa! Lửa cháy ngất Tòa Sen!

Tám chính phương nhục thể trần tâm hiện thành THƠ, quỳ cả xuống.

Hai vầng sáng rưng rưng

Đông Tây nhòa lệ ngọc

Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc

Ánh Đạo vàng phơi phới, đang bừng lên dâng lên …

Ôi ! Đích thực hôm nay Trời có Mặt

Giờ là Giờ Hoàng Đạo nguy nga.

Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt

Nhìn nhau: tình huynh đệ bao la.

Nam Mô Đức Phật Di Đà

Sông Hằng kia, bởi đâu mà cát bay?

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ

NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày

Bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây

Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ

Phật pháp chẳng rời tay …

Sáu ngả luân hồi đâu đó

Mang mang cùng nín thở

Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay.

Không khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió;

Người siêu thăng … Giông bão lắng từ đây,

Bổng người vượt chín tầng mây

Nhân gian mát rợi bóng cây Bồ Đề

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc!

Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi.!

Chổ Người ngồi: Một thiên thu tuyệt tác

Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi.

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát

Với thời gian lê vết máu qua đi.

Còn mãi chứ ! Trái tim BỒ TÁT

Gội hào quang xuống tận ngục A Tỳ.

Ôi ngọn Lửa Huyền Vi!

Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác

Từ cõi Vô Minh

Hướng về Cực Lạc.

Vần điệu của thi nhân chỉ còn lại rơm rác

Và chỉ nguyện được là rơm rác

Thơ cháy lên theo với lời Kinh

Tụng cho Nhân Loại Hòa Bình

Trước sau bền vững tình Huynh Đệ này.

Thổn thức nhẹ lòng Trái Đất

Mong thành Quả Phúc về Cây,

Nam mô Thích ca Mâu Ni Phật

Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt

Tình thương hiện Tháp Chín Tầng xây.

VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Sài gòn – 1963

--------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Ba 09, 2011, 04:49:54 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Đại Đức THÍCH NGUYÊN HƯƠNG


Đại Đức THÍCH NGUYÊN HƯƠNG 23 tuổi, hiệu là Đức Phong, tục danh là Huỳnh Văn Lễ, sanh năm 1940, tại làng Long Tỉnh, xã Liên Hương, Quận tuy Phong, Tỉnh Bình Thuận (Trung Việt). Thân phụ là Huỳnh Thân, Thân Mẫu là Trương Thị Lang, chỉ sanh một mình Đại Đức, đặt tên là Huỳnh Văn Lễ.

Trong thời thơ ấu, vì nhà ở sát chùa, nên Đại Đức thường được mẹ dẫn dắt tới lui cảnh thiền môn để lễ Phật nghe kinh. Do đó, năm vừa lên 6, lòng mến đạo đã thấm nhuần trong tâm tưởng, Đại Đức được cha mẹ cho xuất gia học đạo, và được Thượng Tọa Thích Quang Chí, tọa chủ chùa Linh Bửu cho thọ Tam Qui, Pháp danh là Nguyên Hương. Năm 12 tuổi, Đại Đức được thọ ngũ giới. Từ đó Đại Đức chuyên tâm tu niệm, dốc lòng phụng sự Tam Bảo.

Năm 20 tuổi, Đại Đức thọ Cụ túc giới, được hiệu là Đức Phong. Thọ giới xong, đạo niệm của Đại Đức ngày một thêm tinh tấn. Và trên bước đường vân du Hóa-Đạo, Đại Đức đã được rất nhiều người cảm mến kính trọng. Nhưng vì thầm nguyện an tâm tu niệm, nên Đại Đức dừng bước vân du và nhận chức Trụ trì tại chùa Bảo Tạng.

Từ ngày Phật-giáo bị đại nạn, Đại Đức đã thấu triệt sự tồn vong của Đạo pháp là vấn đề trọng đại, còn tấm thân ngũ uẫn này là tạm bợ, nên sau 2 ngày tuyệt thực tại chùa Tỉnh hội Phật-giáo Bình Thuận, Đại Đức bèn noi gương Bồ Tát Quảng Đức, dũng cảm hiến thân cho Đạo pháp bằng cách tự thiêu hồi 12 giờ ngày 4.8.1963, tức là ngày rằm tháng 6 âm lịch, trước tòa Tỉnh Trưởng Bình Thuận.

Huyễn thân tuy mất, nhưng Đại Đức còn để lại trong lòng người một cái gì bất diệt.

-------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 10, 2011, 04:13:10 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Ba 09, 2011, 04:52:16 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Đại Đức THÍCH THANH TUỆ

 

Đại Đức THÍCH THANH TUỆ 18 tuổi, tục danh Bùi Huy Chương, sinh tại ba Khê, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là Bùi Dư, thân mẫu là bà Hoàng Thị Phục. Mẹ mất từ lúc Đại Đức lên 10 tuổi. Cụ Dư ở vậy nuôi con. Đại Đức có 2 chị gái lớn và 1 anh trai là Bùi Cầu 23 tuổi, quân nhân. Sau Đại Đức còn 1 em trai út.


Vì ham mộ đạo lý nhà Phật, nên năm 1960 Đại Đức vào quy y chùa Phước Duyên, thuộc xã Hưng long, quận Hương trà, tỉnh Thừa thiên, được pháp danh là Thanh Tuệ.

Năm 1963, Đại Đức đỗ bằng trung học Đệ Nhất cấp với hạng bình thứ. Vì tính rất ôn hòa và hiền hậu, nên Đại Đức đã được Ngài trụ trì chùa Cu Võ Đức Phú, pháp danh Thích Đãnh Lễ rất thương yêu. Đặc biệt là Đại Đức rất hiếu thảo với cha mẹ, thường tỏ ý thương tiếc Từ mẫu đã quá vãng sớm. Hằng năm đến ngày rằm tháng 6 là ngày giỗ mẹ, dầu cho bận việc thế nào, Đại Đức cũng về quê tại Hải Lăng, tụng kinh niệm Phật ngày đêm để cầu siêu cho Mẹ.

Trước ngày tự thiêu 9 hôm, tức là ngày mùng 4.8.1963, nhằm ngày rằm tháng 6 là ngày giỗ mẹ, Đại Đức cùng Ngài trụ trì là Thích Đãnh Lễ về quê nhà. Đại Đức tụng niệm suốt đêm ngày, để cầu siêu cho Mẹ và cũng là lần chót Đại Đức từ giã gia đình về cõi Phật.

Vì thấy Phật-giáo bị đại nạn, đứng trước sự tồn vong của Đạo pháp, Đại Đức phát nguyện tự thiêu vào đêm 12 rạng 13.8.1963 để cứu nguy Đạo pháp.
 
------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 10, 2011, 04:12:52 am gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Ba 09, 2011, 04:54:11 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Ni Cô THÍCH NỮ DIỆU QUANG

Thích Nữ  Diệu Quang 27 tuổi, tục danh là Ngô Thị Thu Minh, tự Minh Nguyệt, sinh ngày 11.1.1936, tại xã Phù Cát, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên và nơi đây cũng là chánh quán. Thân phụ là Ngô Đình Hòe và Thân Mẫu là bà Nguyễn Thị Nghĩa, gia đình của ni cô hiện cư trú tại Nha Trang.

Sinh trưởng trong một gia đình nề nếp gia phong, thuở thiếu thời Ni Cô đã là một người chị gương mẫu trong gia đình (Cô là con thứ 2, chị đầu của Ni cô là tu sĩ Huệ Thành hiện tu tại chùa Từ Nghiêm Sài gòn).

Nhận thấy cuộc đời là giả tạm, năm 21 tuổi, Ni Cô đã cát ái từ thân, mở đầu cuộc hành trình, đi tìm Đạo pháp. Thấu được lòng thành khẩn của Ni cô, Ni Sư Thích Nữ Như Hoa, trụ trì chùa Vạn Thạnh ở Nha Trang, đã thâu nhận Ni cô làm đệ tử.

Với tinh thần quyết chí tu học và nhờ trợ duyên ngoại điển (học xong ban trung học) Ni Cô đã thọ Sa Di giới năm 21 tuổi và được theo học các lớp nội điển tại Phật học Viện Nha trang.

Năm 26 tuổi, Ni Cô được thọ giới Thức Xoa ma Na. để đóng góp vào phần nào công việc xây dựng thế hệ mai sau và thể hiện được tinh thần lợi tha của Phật pháp, Ni Cô đã phát tâm theo dạy các lớp Sơ học Thiên Tài miễn phí, do tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa quản trị.

Đến năm 1963, Ni Cô được 27 tuổi, vì thấy Đạo pháp lâm nguy nên tự mình tẩm xăng tự thiêu, để cảnh tỉnh sự mê muội của nhà Ngô và cứu nguy Đạo pháp.

Ni Cô đã tự thiêu vào lúc 8 giờ 30 ngày 26.6 năm Quý Mão, tức ngày 15.8.1963, tại cạnh trường Hòa Xuyên, quận Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Ngọn đuốc Diệu Quang là ngọn đuốc thứ tư của Pháp nạn 1963.
 
----------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 03:59:56 am »

(tiếp theo)
TIỂU SỬ

Thượng Tọa THÍCH TIÊU DIÊU

 



Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu 71 tuổi, hiệu là Tâm Nguyện, tục danh là Đoàn Mễ, sanh năm 1892 tại làng An Tuyền  tức là Chuồn, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, cách Thị xã Huế ngót 10 cây số.

Thượng Tọa sanh trưởng trong một gia đình đạo đức giàu có và chức sắc trong làng.

Thượng Tọa có 9 người con, hai người cũng đã xuất gia tu hành là Đại Đức thích Thiên Ân (đậu bằng Tiến Sĩ ở Nhật) và Đại Đức Thích Đức Tường, hiện tu học tại Phật Học Viện Nha Trang Trung Phần.


Thượng Tọa Tiêu Diêu xuất gia năm 1930 và tu tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Thượng. Thượng Tọa là đệ tử của Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, tăng Thống GHPGVNTN. Năm 1952, người thọ Cụ túc giới. Vì muốn tu trong cảnh thanh vắng, nên Thượng Tọa đã lập một cái cốc trên ngọn đồi bên chùa Châu Lâm, để tiện nhập thất tu niệm.

Thượng Tọa rất chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp qua kinh sách và đã dự các lớp Phật pháp tại Phật học viện Tây Thiên, Linh Quang. Thượng Tọa tu theo hạnh Đầu đà: ăn ngủ rất ít, cứ 2 ngày mới ăn một bữa vào giờ ngọ.

Khi cuộc tranh đấu của Phật-giáo phát khởi, Thượng Tọa thường đến ở chùa Từ Đàm Huế, để tham dự các cuộc cầu siêu và tuyệt thực.

Thượng Tọa dự định sẽ tự mổ bụng hoặc tuyệt thực cho đến chết. Đến ngày 16.8.1963, Thượng Tọa đã tự thiêu vào lúc 4 giờ sáng tại chùa Từ Đàm Huế, để bảo vệ Đạo pháp.
 
-------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 04:03:28 am »

(tiếp theo)


TIỂU SỬ

Đại Đức THÍCH QUẢNG HƯƠNG


Đại Đức Thích Quảng Hương 37 tuổi, tục danh là Nguyễn Ngọc Kỳ, đạo hiệu là Bảo Châu, sanh ngày 28.7.1926 tại xã An Ninh, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.


Năm 1940, anh ruột của Đại Đức xuất gia đầu Phật, nên Đại Đức thường xuyên lui tới chùa để tụng kinh sám hối và học kinh.

Năm 1943, Đại Đức xuất gia tu học, làm đệ tử của Hòa Thượng trụ trì chùa Kim Cang, Phú Yên.

Năm 1947, Đại Đức cùng với 5 vị Đại Đức khác trong xã An Đức, quận An Thành, lập Chi hội Phật học tại quận này.

Năm 1949, Đại Đức cầu Pháp và thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Liểu Tôn, trụ trì chùa Quãng Sơn và nhận chức Thư Ký của chi hội Phật-giáo An Hiệp.

Năm 1950, Đại Đức đến Phan Thiết chữa bệnh. Sau khi bình phục, Đại Đức vào học tại Phật Học Viện Nha Trang.

Năm 1959, Đại Đức được Thượng Tọa Giám Viện Phật học Viện Nha Trang cử làm Giảng sư tại tỉnh Hội Phật-giáo Đà Lạt.

Năm 1961, Đại Đức được Hòa Thượng Hội Chủ cử kiêm nhiệm trụ trì và Giảng sư tại tỉnh Hội Phật-giáo Buôn Mê Thuột. Đại Đức đã ở đây cho đến ngày tự thiêu.

Vì thấy Phật-giáo bị đại nạn, nên Đại Đức phát nguyện tự thiêu vào 12:25 ngày 5.10.1963, tại bồn binh chợ Bến Thành Sài gòn, để tranh thủ cho 5 nguyện vọng chân chính của Phật-giáo.
 
------------------------
TIỂU SỬ

Phật tử HỒNG THỂ Thương Phế Binh

Phật tử Nguyễn Thìn 31 tuổi, pháp danh Hồng Thể sanh năm 1932 tại Huế. Hồng Thể gia nhập hàng ngũ quân lực VNCH nhiều năm, cuối cùng bị thương và trở thành Thương Phế Binh.

Sau khi bị thương tàn phế, Hồng Thể về ở tại Vũng Tàu. Khi Phong trào tranh đấu của Phật-giáo đòi tự do tín ngưỡng, công bằng xã hội đối với một chính quyền tàn bạo độc tài, kỳ thị tôn giáo. Hồng Thể đã tận mắt chứng kiến sự đàn áp khốc liệt của Triều Ngô, nên đã tự nguyện thiêu thân để phản đối hành động của một chính quyền tàn bạo đàn áp Phật-giáo, và nguyện cầu cho những nguyện vọng tha thiết của toàn thể Phật-giáo đồ Việt Nam sớm được thành tựu.

Hồng Thể tự thiêu thân vào ngày 29.9.1963 ở phía sau chùa Phước Lâm Vũng Tàu.

Trước khi tự thiêu, Hồng Thể đã để lại nhiều bức thư. Những bức thư của Hồng Thể để lại có nhiều đoạn nói lên đầy sự chân thành của một người con Phật mong muốn được sống trong công bằng xã hội và tự do tín ngưỡng.

“… tôi tự thiêu thân để phản đối chính sách tàn bạo gian ác của chính quyền Thiên Chúa Giáo, đã đập phá các chùa chiền, bắt bớ, bắn giết, giam cầm tra tấn các vị Tăng Ni cùng Phật-giáo đồ và Học Sinh sinh viên …

Con đem hết lòng thành kính cầu nguyện đức Từ Phụ gia ân cho cuộc đấu tranh của Phật-giáo Việt-Nam thoát khỏi cảnh lầm than điêu đứng.”
 
------------------------- 

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 04:06:39 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Đại Đức THÍCH THIỆN MỸ


Đại Đức Thích Thiện Mỹ chờ đúng ngày 27.10.1963, cùng giờ phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc trên đường tới thăm chùa Ấn Quang, thì Đại Đức tự thiêu tại công trường Hòa Bình (đối diện Vương Cung Thánh Đường Sài gòn).

Đại Đức Thiện Mỹ đã tự thiêu ngay dưới cột đèn, có gắn bảng đường Tự Do. Lúc Đại Đức mới châm lửa vào áo tẩm xăng sẵn, thì có một số đồng bào từ trong nhà thờ đi ra, và người đi đường xúm lại bao quanh lễ Ngài.

Một phút sau, cảnh sát ập lại, lấy mền đè Đại Đức ngã xuống. Nhưng ngọn lửa bùng lớn, làm cháy luôn cái mền. Cảnh sát vùng chạy, Đại Đức lại từ từ ngồi ngay dậy, chấp tay vái lạy những Phật tử bên đường đang lễ Ngài, cho đến lúc Ngài tịch diệt.

Sụ hy sinh cao cả và phi thường của Đại Đức Thích Thiện Mỹ đã gây xúc động mạnh toàn Thế giới, gây khó khăn cho chính quyền Diệm và cũng thúc đẩy phái đoàn điều tra Liên hiệp Quốc mau chóng hoàn tất nhiệm vụ, để cứu vớt Dân tộc Việt Nam.

Ngọn lửa tự thiêu thứ 8 của Phật-giáo Việt-Nam đã là ngọn lửa thiêng châm vào bể căm hờn âm ỉ trong lòng quân dân Việt Nam bùng lên dữ dội, bốc thành biển lửa cách mạng ngày 1.11.1963, đốt thiêu một chế độ tàn bạo đen tối.

Sự hy sinh của Đại Đức Thích Thiện Mỹ, quả đã đưa cuộc đấu tranh đầy nguy hiểm gian nan khổ cực của Phật-giáo Việt-Nam đến chổ toàn thiện và toàn mỹ.

(Tranh đấu sử Phật-giáo Việt-Nam)
 

 -----------------------

Đại Đức THÍCH HUỆ HỒNG

Tự thiêu năm 1966 tại Tổng vụ Thanh Niên

Số 294 Đường Công Lý Sài gòn.
-----------------

TIỂU SỬ

Nữ sinh Phật tử NGUYỄN THỊ VÂN

 

Nguyễn Thị Vân 17 tuổi, pháp danh Không Gian, học sinh lớp Đệ Ngũ trường Trung Học Bồ Đề Thành Nội Huế. Nguyên quán làng La Vân Hạ, quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, thuộc gia đình phật tử Thành Nội huế.

Vân là học sinh hiền hậu, ngoan ngoãn nhất trong nhóm học sinh đệ ngũ; lòng tha thiết yêu đạo, yêu tự do, công lý, giàu lòng hy sinh và hăng say trong các công tác từ thiện, xã hội.

Vân đã hòa mình với quần chúng trong pháp nạn năm 1966. lòng đau khổ cùng tận, Vân đã phát nguyện tự thiêu để cảnh tỉnh chánh quyền và cầu nguyện Phật-giáo qua cơn pháp nạn.

Trước Phật đản 2 ngày, vào lúc 3 giờ sáng ngày 30.5.1966, nhằm 12.4 năm Bính Ngọ, Vân đã tự mình châm lửa thiêu trước Niệm Phật Đường Thành Nội.

Vân để lại 4 bức thư:

-         1 dâng lên Hòa Thượng Tăng Thống.

-         1 dâng lên Ngài Viện Trưởng Viện Hóa-Đạo.

-         1 gởi Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.

-         1 gởi Quốc Hội Mỹ.

 
----------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 04:09:01 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Đại Đức THÍCH THIỆN HUỆ


Đại Đức Thích Thiện Huệ 18 tuổi, tục danh Nguyễn Lang, pháp danh Quãng Trí, tự Thiện Huệ, sinh ngày 5.5.1948, chánh quán ấp Định Nhiên, xã An Nghiệp, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên; Thân Phụ là Ông Nguyễn Cương và Thân Mẫu là Bà Trần Thị Giả.

Đại Đức sinh trưởng trong một gia đình nông nghiệp và đã xuất gia vào ngày 18.4.1964 tại chùa Từ Ân xã Tuy An.

Tùy thuận nhân duyên, Đại Đức đã vào tu học tại chùa Phật-giáo Tu Bòng, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa và thọ giới Sa Di vào đầu năm 1966 và Bổn sư truyền giới là Hòa Thượng Thích Thiên Sơn.

Đến năm 1966, tức năm Đại Đức 18 tuổi, vì thấy cảnh bi đát của Giáo Hội, thấy cảnh đau thương của Dân tộc, nên ngày 1.6.1966 tức là ngày 13.4 năm Bính Ngọ (Phật lịch 2510) Đại Đức châm lửa tự thiêu, tại Gò Giếng Nước Nóng ấp Tân Phước, xã Vạn Phước, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa để cầu nguyện an lành cho Dân tộc và Đạo pháp.

Trước khi tự thiêu, Đại Đức đã để lại 3 bức thư:

-     1 bức gởi cho tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa.

-     1 bức gởi cho Bổn sư, Đại Đức Thích Từ Viên.

-     1 bức gửi cho gia đình.

Sự hy sinh cao cả của Đại Đức đã để lại trong lòng mọi người nhiều nỗi cảm kích chân thành!
 
----------------------

TIỂU SỬ

Ni Cô THÍCH NỮ DIỆU TRI



Ni Cô DIỆU TRI 27 tuổi, tục danh là Lê Thị Hiếu, pháp danh Tâm Lương, sinh ngày 1.1.1939 tại làng Phước Mỹ, quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là Ông Lê Văn Phò và thâm mẫu là Bà Ngô Thị Thí.

Ni Cô sinh trưởng trong một gia đình Phật-giáo thuần thành, nên từ nhỏ đã tỏ ra rất hiền hòa, hiếu thuận. Thân phụ mất sớm khi Ni Cô lên 9 tuổi.

Hấp thụ sâu đậm tinh thần Phật-giáo, Ni Cô đã có ý nguyện xuất gia từ thuở ấu thơ, nhưng không được sự chấp thuận của gia đình.

Năm 1945, tức năm lên 6 tuổi, Ni Cô đã gia nhập gia đình Phật tử. Với tinh thần sinh hoạt hăng say và là một Phật tử có nhiều khả năng đặc biệt, nên năm 1961, Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật Tử Quảng Trị đã đề cử Cô đảm nhiệm chức vụ Uỷ viên Oanh Vũ Nữ.

Năm 1963, tức năm 24 tuổi, Ni Cô đã chính thức thí phát và quy y vào ngày 12.4.1963 tại chùa Diệu Ấn, Phan Rang và sau đó được đưa vào tu học tại Ni Viện Diệu Quang Nha Trang. Bổn sư của Ni Cô là Sư bà Đàm Hương. Ni Cô thọ Sa Di giới ngày 6.4.1965.

Ngoài việc tu học, hằng ngày Ni Cô còn đảm trách việc giáo dục con em tại trường mẫu giáo Kiều Đàm, một cơ sở Văn Hóa Giáo Dục của Giáo Hội Phật-giáo VNTN tỉnh Khánh Hòa, đặt tại khuôn viên Ni Viện Diệu Quang.

Năm 1966, vì thấy tình trạng đau buồn của đất nước và Đạo pháp, Ni Cô đã phát nguyện tự thiêu vào lúc 2 giờ sáng ngày 4.6.1966, tức là ngày 16.4 năm Bính Ngọ, trước đài Quán Thế Âm, tại Ni Viện Diệu Quang, nơi Ni Cô tu học.

Với ý nguyện chân thành, Ni Cô đã để lại 2 bức thư gởi cho Giáo Hội và cho Chính phủ, thật là tha thiết với Đạo pháp.
 
----------------------



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 04:12:18 am »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Ni sư THÍCH NỮ THANH QUANG


Ni sư Thanh Quang tục danh là Bùi Thị Lệ, sinh năm kỷ Sửu, tại Vĩnh Thanh trong một gia đình khá giả.


Năm 20 tuổi Ni sư xuất gia tu học tại Ni Viện Diệu Đức Huế. Ni sư chuyên tu về Pháp Tham Thiền, ưa làm những việc từ thiện xã hội.

Năm 1966, trước Phong trào đòi hỏi Quốc Hội Lập Hiến, đòi Chính phủ dân cử, Ni sư đã phát nguyện tự thiêu để đòi hỏi chính phủ Mỹ và chính quyền Sài gòn phải chấp thuận nguyện vọng chính đáng của Phật-giáo nói riêng, dân chúng Việt Nam nói chung.

Ni sư định tự thiêu trước tòa Lãnh Sự Mỹ, tại Huế. Nhưng hoàn cảnh không chiều theo ý muốn, nên Ni sư về chùa Diệu Đế tuyệt thực. Rồi vào lúc 3 giờ sáng ngày 26.5.1966 nhằm ngày mùng 9.4 Bính Ngọ, Ni sư tự thiêu tại chùa Diệu Đế Huế.

Ngày 16.6.1966, chính quyền đã cướp nhục thể của Ni sư đem chôn tại đồi Tam Thai gần núi Ngự Bình Huế.

Ni sư có để lại 4 bức thư:

-     1 dâng lên Đức Tăng Thống.

-     1 dâng lên Viện Hóa-Đạo.

-     1 gởi Trung Tướng Chủ tịch ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.

-     1 Gởi Tổng Thống Mỹ.

-----------------------

TIỂU SỬ

Phật tử ĐÀO THỊ YẾN PHI

 

Phật tử Đào Thị Yến Phi 17 tuổi, pháp danh Nguyên Thường, tự  Diệu Mai, sinh ngày 6.1.1948 tại Hà Đông, Bắc Phần. Thân phụ là Ông Đào Trọng Bình và thân mẫu là Bà Lê Thị Vượng, hiện cư ngụ tại Nha Trang. Thân phụ đi xa và biệt tích từ khi Yến Phi lên 10 tuổi. Thế nên Yến Phi chỉ sống với mẹ. Hai mẹ con đều là Phật tử thuần thành. Yến Phi rất ngoan và hiếu thảo.

Yến Phi được mẹ cho vào gia đình Phật tử năm 1958, với tư cách là một đoàn sinh Oanh vũ. Yến Phi sinh hoạt đầu tiên là Gia đình Phật tử Linh Thứu. Năm 1961 Yến Phi được lên ngành thiếu  và chánh thức quy y Tam Bảo trong ngày Phật Đản 2506.

Yến Phi đã dự trúng cách trại huấn luyện Đội, Chúng trưởng Than Hội năm 1962, và Trại huấn luyện Sơ Cấp Lộc Uyển năm 1964. Yến Phi trở về sinh hoạt với gia đình Phật tử Chánh Quang với tư cách Đoàn Phó Oanh Vũ Nữ.

Với bản tính hiền hòa, lại được hấp thụ tinh thần Từ Bi của đạo Phật, Yến Phi luôn luôn tỏ ra là một Phật tử gương mẫu và được mọi người cảm mến.

Năm 1964, Yến Phi được 16 tuổi, vì thấy sự sống còn của Dân tộc, vì sự tự do dân chủ, vì mọi thống khổ của đồng bào, Yến Phi đã lặng lẽ phát nguyện tự thiêu để cúng dường Tam Bảo.

Thế là Yến Phi đã thực hiện ý nguyện vào lúc 14 giớ 30 ngày 26.1.1965, tức là ngày 24 tháng Chạp năm Giáp Thìn, tại trước tòa Hành chánh tỉnh Khánh Hòa, nơi tuyệt thực của chư Tăng Ni và toàn thể Phật-giáo đồ.

Trước khi từ biệt cõi đời giã tạm, Yến Phi có để lại 3 bức thư:

-     1 bức gởi cho chư Thượng Tọa, Đại Đức tăng Ni và Phật-giáo đồ.

-     1 bức gởi cho Thủ Tướng Trần Văn Hương.

-     1 bức gởi cho mẹ.

Yến Phi đã ra đi vĩnh viễn, để mưu cầu tự do dân chủ yên lành cho Dân tộc và Đạo pháp.

Yến Phi tuy đã mất, nhưng vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người.

--------------------



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, dieunha, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Ba 10, 2011, 01:51:45 pm »

(tiếp theo)

TIỂU SỬ

Phật tử NGUYỄN THỊ HUÊ


Phật tử Nguyễn thị Huê tự Nguyễn Thi 17 tuổi, sinh ngày 24.9.1949 tại Sài gòn, nữ sinh lớp đệ tứ, niên khóa 1965-1966, trường Trung học Gia Long Sài gòn.


Huê chỉ có 2 mẹ con. Suốt 3 năm liền Huê ăn chay trường. Mỗi khi thấy Mẹ ăn cá thì Huê mua cá phóng sanh. Khi thấy mẹ ăn cua thì Huê mua cua thả. Mẹ hỏi sao khi con lấy tiền mua rồi thả hết? Huê thưa: Có ai chết mà đem tiền theo được đâu? Vả lại mình nuốn sống thì loài vật cũng muốn sống. Mẹ Huê nghe con nói như vậy, nên từ đó bà cũng ăn chay luôn để cho con được vui lòng.

Mẹ Huê thường may quần áo tốt cho con, nhưng Huê không thích se sua, chỉ thích mặc những bộ đồ thường đến trường.

Huê đã dự các lớp giáo lý tại Hội trường Việt Nam Quốc Tự và được giấy khen thưởng Ban Giảng Huấn của Viện Hóa-Đạo.

Đến năm 1966, vì thấy Việt Nam Quốc Tự là chổ tối cao tôn nghiêm, cũng là nơi tự do tín ngưỡng Dân tộc; Viện Hóa-Đạo là cơ quan đầu não của Phật-giáo, đều bị chánh quyền chiếm đóng, nên Huê phát nguyện tự thiêu để phản đối sự kỳ thị của chánh quyền và bảo vệ Đạo pháp.

Đến ngày 29.8.1966, mẹ Huê đã về quê, nên vào lúc 8 giờ, Huê đóng cửa ra đi để thực hiện ý định. Đầu tiên Huê đến Viện Đại học Vạn Hạnh để đóng học phí trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội. Sau Huê đến chùa Ấn Quang lễ Phật và xem thông cáo. Thấy bệnh trạng và hình ảnh ốm gầy của Hòa Thượng Trí Quang, Huê rất cảm động đau xót và thương tâm …!

Huê đến cô nhi viện Quách Thị Trang để thăm các em mồ côi. Đi đến đâu đều thấy cảnh tang tóc đau lòng! Nên Huê không trở về nhà và quyết định ở lại cô nhi viện.

Đến 2 giờ khuya đêm 29, rạng ngày 30.8.1966 (tức rằm tháng 7 âm lịch), Huê một mình qua vườn chùa Việt Nam Quốc Tự chế xăng rồi tự châm lửa hỏa thiêu! Không một ai hay biết.

Đến sáng ngày, có người đến cắt cỏ, thấy hoảng sợ chạy tri hô lên! … Chánh quyền liền đến lấy xác chở đi mất!...
 
------------------------------

Phật tử ĐÀO THỊ TUYẾT P.D Tâm Bạch

Tự thiêu vào lúc 21:30 ngày 17.6.1966

Tại Việt Nam Quốc Tự.[/b]

-------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, dieunha
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 [2] 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.53 seconds với 25 câu truy vấn.