Tháng Hai 24, 2020, 10:46:50 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5] 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG I-- 首楞嚴宗通經 1  (Đọc 15247 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Ba 02, 2011, 08:33:09 PM »

(tiếp theo)

於是大眾非無學者。聞佛此言。茫然不知是義終始。一時惶悚。失其所守。如來知其魂慮變懾。心生憐愍。安慰阿難及諸大眾。諸善男子。無上法王。是真實語。如所如說。不誑不妄。非末伽黎四種不死矯亂論議。汝諦思惟。無忝哀慕。

Kinh : Khi ấy, trong đại chúng những vị chưa chứng quả Vô Học nghe Phật nói thế, mờ mịt chẳng biết nghĩa ấy đầu đuôi thế nào, nên đồng thời sợ hãi, mất chỗ bám níu.

Như Lai biết đại chúng tâm niệm rối loạn, sanh lòng thương xót, an ủi Ông Anan và đại chúng rằng : “Này các trai lành, bậc Vô Thượng Pháp Vương, thật là Chân Thật Ngữ : như tánh Chân Như mà nói, không dối, không vọng, không phải là bốn thứ nghị luận càn dở Bất Tử của nhóm Mạt Già Lê. Ông hãy suy nghĩ chín chắn, chớ phụ lòng thương mến của Ta”.



通曰。茫然不知是義始終。始則見不是物。終則見無非物。始則妙性現前。終則無可指陳。故茫然失其所守也。是真實語云云。即金剛般若五語。佛真語者。與二乘共也。實語者。與菩薩共也。如語者不共無實無虛。無虛故不誑語。無實故不異語。懸見未然曰不異。此但以不妄總之。婆娑論。外道計天常住。名為不死。計不亂答。得生彼天。若實不知而輒答者。恐成矯亂。故有問時答言。秘密言詞。不應皆說。或不定答。佛訶云。此真矯亂。詳見第十捲。世尊因外道問。昨日說何法。曰說定法。外道曰。今日說何法。曰不定法。外道曰。昨日說定法今日何說不定法。世尊曰。昨日定。今日不定。且道世尊此語。如所如說。是矯亂語。參。

*Giải nghĩa rộng ra:-  “Mờ mịt chẳng biết nghĩa ấy trước sau thế nào ?” Trước là, “Cái Thấy chẳng phải là vật”. Sau là, “Cái Thấy chẳng phải là không phải vật”. Cái trước tức là “Chân Tánh hiện tiền”, cái sau tức là “Không thể chỉ ra được”. Cho nên mờ mịt mất chỗ bám níu vậy.

Chân Thật Ngữ v.v... tức là năm lời nói trong Kim Cang Bát Nhã :

- Phật Chân Ngữ thì chung với Nhị Thừa;

- Phật Thật Ngữ thì chung đồng với hàng Bồ Tát;

- Phật Như Ngữ thì không chung với Bồ Tát hay Nhị Thừa;

- Phật Vô Thật Ngữ;

- Phật Vô Hư Ngữ.


Vô Hư nên không là lời lừa dối, Vô Thật nên chẳng có khác lời. Chỗ thấy chưa dứt khoát cho nên nói “Chẳng khác”. Đây chỉ để nói tóm là không vọng ngữ.


Trong Luận Bà Sa : “Ngoại đạo cho trời là thường trụ, gọi là Bất Tử, cho rằng đáp lời mà chẳng rối loạn thì sanh về cõi trời kia. Nếu thật chẳng biết mà vội trả lời, thì sợ thành Kiểu Loạn  -(ct) Dối trá, lộn xộn. ). Nên khi hỏi thì đáp những lời bí mật, không cần phải nói ra đây. Hoặc là đáp một cách bất định. Phật quở rằng : Đó thật là kiểu loạn  -(ct) Xem rõ ở Quyển X. )”.

Đức Thế Tôn, nhân có ngoại đạo hỏi : “Hôm qua Ngài thuyết pháp gì ?”

Phật đáp : “Thuyết định pháp”.

Ngoại đạo lại hỏi : “Hôm nay thuyết pháp gì ?”

Ngài đáp : “Bất định pháp”.

Ngoại đạo nói : “Hôm qua giảng định pháp, hôm nay sao lại giảng bất định pháp ?”

Đức Phật nói : “Hôm qua định, hôm nay chẳng định”.

Hãy nói xem lời nói này của Thế Tôn là như Tánh Chân Như mà nói hay là kiểu loạn ? Hãy tham !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Ba 02, 2011, 08:37:45 PM »

(tiếp theo)

是時文殊師利法王子。愍諸四眾。在大眾中。即從座起。頂禮佛足。合掌恭敬而白佛言。世尊。此諸大眾。不悟如來發明二種精見色空是非是義。世尊。若此前緣色空等象。若是見者。應有所指。若非見者。應無所矚。而今不知是義所歸。故有驚怖。非是疇昔善根輕鮮。唯願如來大慈發明。此諸物象。與此見精。元是何物。於其中間。無是非是。佛告文殊及諸大眾。十方如來。及大菩薩。於其自住三摩地中。(此云正定)見與見緣。並所想相。如虛空華。本無所有。此見及緣。元是菩提妙淨明體。云何於中有是非是。

IV. NGÀI VĂN THÙ KÍNH XIN PHẬT PHÁT MINH HAI THỨ


Kinh : Lúc ấy, Ngài Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi thương xót hàng tứ chúng, ở giữa đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, các đại chúng đây không ngộ được chỗ Như Lai phát minh hai nghĩa Tức Là (Thị) và Chẳng Phải Là (Phi Thị) nơi hai thứ Cái Thấy và Sắc Không. Thưa Thế Tôn, nếu những hình tượng tiền trần sắc không trước mắt tức là cái Thấy thì phải có chỗ chỉ ra được. Còn nếu chẳng phải là cái Thấy thì lẽ ra không thể thấy được. Nay đại chúng không rõ nghĩa ấy về đâu, nên mới kinh sợ, chứ không phải căn lành đời trước kém thiếu. Kính mong Như Lai thương xót, phát minh cho rõ : các vật tượng này và cái Thấy ấy vốn là vật gì mà ở trong đó không có các nghĩa Phải (Thị) cùng Chẳng Phải (Phi Thị) ?”


Phật bảo Ngài Văn Thù cùng tất cả đại chúng rằng : “Mười phương Như Lai và các Đại Bồ Tát ở trong Tự Trụ Tam Ma Địa, thì trong ấy, cái thấy và cái được thấy cùng các chỗ Tưởng Tướng đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không chỗ có. Cái thấy cho đến những cái được thấy, tất cả vốn là Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu. Làm sao ở trong đó lại có Phải hay Chẳng Phải ?”



通曰。文殊七佛之師。慣說如來禪。要世尊發明此諸物象。與此見精。元是何物。世尊前云。不知色身外洎山河虛空大地。咸是妙明真心中物。已明明說破。何容更說。但於其中。撥萬象則有非相。不撥萬象則有是相。是非二相。最為微細。惟真見無上菩提妙淨明體方有出身之路。妙淨明體。即菩薩自住三摩地也。住此定中。夐脫根塵。故見與見緣。俱不可得。色空為見緣。乃至想相為意緣。屬六塵。見聞覺知屬六識。證菩提者。不但所空。能亦空故曰本無所有。能所俱空。此見及緣。當體寂滅。即是菩提妙淨明體。不容擬議。不容分別。一切智智清淨。無二無二分。無斷無別故。何得於中分別之曰。此是見此非見乎。若強生是非。即同翳眼。妄見空華。於菩提真性。有何干涉。石霜初參道吾。問如何是觸目菩提。吾乃喚沙彌。彌應諾。吾云。添淨瓶水著。良久。卻問霜。適來問甚麼。霜擬舉。吾便歸方丈。霜乃有省。丹霞頌云。垂手還他作者機。尋常語里布槍旗。重詢擬進歸方丈。一句分明更不疑。要知不疑底道理。須問石霜始得。後來有僧問石霜。咫尺之間。為甚麼不睹師顏。霜隔窗應曰。我道遍界不曾藏。僧又舉問雪峰。遍界不曾藏意旨如何。峰曰。甚麼處不是石霜。霜聞曰。這老漢著甚死急。峰聞曰。老僧罪過。只多此一是字。引人入情解窟裡。便遭石霜砭剝。毫釐之間。非具眼者莫辨。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đức Văn Thù là thầy của bảy vị Phật thời quá khứ, quen thuyết Như Lai Thiền, nên yêu cầu Thế Tôn phát minh ra các vật tượng và cái Thấy vốn là vật gì. Trước, Đức Thế Tôn đã dạy “Sao chẳng biết sắc thân cho đến núi sông, hư không, đại địa đều là vật ở trong cái Chân Tâm Diệu Minh này”. Đã mở toang rõ ràng ra rồi, còn nói gì nữa !

Vậy mà ở trong đó, bác bỏ vạn tượng thì mới có cái Chẳng Phải, không bác bỏ vạn tượng thì bèn có cái Phải. Hai tướng Phải, Chẳng Phải thật cùng cực vi tế, chỉ có cái Thấy chân chánh trực tiếp Thể Bồ Đề Vô Thượng mới có đường thoát thân. Cái Tâm Tánh Diệu Tịnh sáng suốt này tức là Tự Trụ Tam Ma Địa của Bồ Tát. Ở trong cái Tự Định này thì thoát hẳn căn trần nên cái Thấy cùng cái Được Thấy đều bất khả đắc.

Sắc Không là duyên cho cái Thấy, cho đến Tưởng Tướng là duyên của cái Ý, thuộc về sáu Trần. Thấy, Nghe, Hay, Biết thuộc về sáu Thức. Chứng Bồ Đề, không chỉ là Sở không, mà Năng cũng không. Nên nói “Vốn không chỗ có”, Năng Sở đều không.

Cái Thấy cùng cái Được Thấy, hiện là vắng lặng. Tức đó là cái Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu, chẳng kịp luận bàn, chẳng dung phân biệt. “Nhất Thiết Trí thanh tịnh, không hai, không hai phần, vì không riêng, không dứt”  -(ct) Kinh Đại Bát Nhã. ) là vậy. Trong đó, làm sao có được phân biệt để mà nói “Cái này phải thật cái Thấy, cái này chẳng phải cái Thấy” ? Nếu gượng sanh Phải hay Chẳng Phải, thì cũng như mắt bệnh, vọng thấy Không hoa. Nơi Chân Tánh Bồ Đề, nào đâu dính dáng !

Ngài Thạch Sương ban đầu đến viếng Tổ Đạo Ngô, hỏi rằng : “Như thế nào là “Chạm mắt là Bồ Đề”?”

Tổ Ngô liền gọi : “Sa di !”

Sa di lên tiếng dạ.

Tổ nói : “Thêm nước vào tịnh bình đi !”


Chập lâu rồi hỏi lại Ngài Thạch Sương : “Ông vừa mới hỏi cái gì thế ?”

Ngài Thạch Sương vừa định nói, Tổ Ngô bèn quay về phương trượng.

Ngài Thạch Sương bèn tỉnh ngộ.

Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Buông tay trở lại, khéo làm Cơ !
Trong tiếng bình thường trí súng, cờ
Hỏi trùng, định đáp, về phương trượng
Câu ấy, phân minh lại chẳng ngờ”.


Muốn biết cái đạo lý “Chẳng Ngờ”, phải hỏi Ngài Thạch Sương mới được !

Về sau, có nhà sư hỏi Tổ Thạch Sương : “Trong khoảng gang tấc, vì sao chẳng thấy mặt thầy ?”

Tổ Sương, cách cửa sổ, lên tiếng rằng : “Đạo ta cùng khắp chẳng từng che !”

Nhà sư lại đem đến hỏi Tổ Tuyết Phong : “Cùng khắp chẳng che”, ý chỉ thế nào ?”

Tổ Phong đáp : “Có chỗ nào mà chẳng phải là Thạch Sương ?”

Tổ Sương nghe được rồi nói rằng : “Cái lão già ấy bám vào để chết cho lẹ !”

Tổ Phong nghe được, bèn nói : “Tội lỗi của lão tăng vì chỉ dư một chữ “là”, mà dẫn người vào trong hang Tình giải, may gặp Thạch Sương mổ xẻ, phanh phui”.

Trong khoảng mảy lông, chẳng phải là bậc có mắt thì nào có biện ra nổi !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Ba 02, 2011, 08:42:19 PM »

(tiếp theo)

文殊。吾今問汝。如汝文殊。更有文殊是文殊者。為無文殊。如是。世尊。我真文殊。無是文殊。何以故。若有是者。則二文殊。然我今日非無文殊。於中實無是非二相。


V. TÁNH THẤY KHÔNG CÓ PHẢI HAY CHẲNG PHẢI


Kinh : “Văn Thù, nay ta hỏi ông : “Như ông chính là Văn Thù, vậy thì còn có Văn Thù nào tức là Văn Thù nữa hay không ?”

- Bạch Thế Tôn, đúng thế ! Tôi chính thật là Văn Thù, không có cái gì tức là Văn Thù nữa. Tại sao thế ? Nếu có cái Tức Là nữa thì thành ra hai Văn thù, nhưng giờ đây tôi chẳng phải không là Văn Thù. Trong đó, quả thật không có hai tướng Tức Là hay Chẳng Phải.


通曰。我真文殊。答第一義。例立菩提妙淨明體也。無是文殊。答第二義。例破色空是見也。非無文殊。答第三義。例破色空非見也。若謂色空是真見者。斯乃從妄辨真。對於無妄之真。則成二義。故曰若有是者則二文殊。若謂色空非真見者。其如妄境全體是真。故曰然我今日非無文殊。洛浦示疾。告眾曰。今有一事問汝等。若道這個是。即頭上安頭。若道不是。即斬頭求活。第一座曰。青山常舉足。日下不挑燈。浦曰。是甚麼時節。作這個語話。時有彥上座對曰。離此二途。請和尚不問。浦曰。未在。更道。曰彥從道不盡。浦曰。我不管你盡不盡。曰彥從無從者秪對和尚。浦便休。修山主偈曰。是柱不見柱。非桂不見柱。是非已去了。是非裡薦取。於此二則透脫。則是非可泯。昔豐干欲游五台。問寒山拾得曰。汝共我去游五台。便是我同流。若不共我去游五台。不是我同流。山曰。你去五台作甚麼。曰禮文殊。山曰。你不是我同流。干獨入五台。逢一老人。便問莫是文殊麼。曰豈可有二文殊。干作禮未起。忽然不見。趙州代云。文殊文殊。又文殊三處過夏。迦葉欲白槌擯出。才拈槌。乃見百千萬億文殊。迦葉盡其神力。槌不能舉。世尊遂問迦葉。汝擬擯那個文殊。迦葉無對。天童拈云。金色頭陀。有心無膽。當時盡令而行。莫道百千萬億文殊。秪是這黃面瞿曇。也須擯出。若能如是。不唯壁立真風。亦令後人知我衲僧門下。著你閒佛祖不得。快哉快哉。須知是見得。即菩提妙淨明體亦無著處。何得有是非二相來。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Câu “Tôi chính thật là Văn Thù” trả lời nghĩa thứ nhất, bày ra cái Tâm Thể Bồ Đề sáng sạch, nhiệm mầu.

Câu “Không có cái gì tức là Văn Thù nữa” trả lời nghĩa thứ hai, phá cái chấp Sắc Không là cái Thấy.

Câu “Chẳng phải không là Văn Thù” trả lời nghĩa thứ ba, phá cái chấp Sắc Không chẳng phải là cái Thấy”.

Nếu bảo rằng “Sắc Không là Chơn Kiến”, thế là từ Vọng mà biện Chơn, do đó, đối với Cái Chơn của không Vọng thành ra hai nghĩa, nên nói : Nếu có Tức là Văn Thù thì thành ra hai Văn Thù.

Nếu bảo rằng “Sắc Không chẳng phải là Chân Kiến”, thế mà toàn thể vọng cảnh là chân, nên mới nói “Giờ đây tôi chẳng phải là không Văn Thù”.


Tổ Lạc Phổ bảo với đại chúng : “Nay có một việc muốn hỏi các ông : nếu nói là Phải tức là trên đầu chồng thêm đầu, nếu nói là Chẳng Phải, tức là chặt đầu mà cầu sống”.

Thầy Đệ Nhất Thủ Tòa nói : “Núi xanh thường cất bước, dưới mặt trời chẳng khêu đèn”.

Tổ Phố nói : “Đó là thời tiết nào mà nói lời ấy ?”

Khi ấy, có thầy Thượng Tọa Ngạn trả lời rằng : “Lìa hai lối ấy, xin Hòa Thượng chớ hỏi !”

Tổ Phố nói rằng : “Chưa đúng trong đó. Nói lại đi !”

Thầy Ngạn đáp : “Ngạn này theo thì nói không cùng tận !”

Tổ Phố nói : “Ta chẳng kể ông cùng tận hay chẳng cùng tận !”

Đáp : “Ngạn theo hay không theo ấy, chỉ đối với Hòa Thượng”.

Tổ Phố bèn thôi.


Ngài Tu Sơn Chủ kệ rằng :

“Tức là cột, chẳng thấy cột
Chẳng phải cột, chẳng thấy cột
Thị   -(ct) Tức là. ), Phi   -(ct) Chẳng phải. )đã bỏ hết
Trong Thị Phi, mời dùng”.


(Thị trụ bất kiến trụ
Phi trụ bất kiến trụ
Thị Phi dũ khứ liễu
Thị Phi lý tiến thủ).


Đối với hai tắc trên mà thấu thoát, thì Thị, Phi có thể tiêu tan hết !


Xưa, Ngài Phong Can muốn đi chiêm bái Ngũ Đài Sơn, hỏi Ngài Hàn Sơn và Thập Đắc rằng : “Các ông cùng ta đi thăm Ngũ Đài, tức là đồng lưu của ta; nếu chẳng cùng ta đi thăm Ngũ Đài thì chẳng phải là đồng lưu của ta !”

Ngài Hàn Sơn hỏi : “Ông đi Ngũ Đài làm gì ?”

Ngài Phong Can đáp : “Lễ bái Văn Thù”.

Ngài Hàn Sơn nói : “Ông chẳng phải là đồng lưu của ta”.

Ngài Phong Can một mình đi vào Ngũ Đài, gặp một ông lão, bèn hỏi : “Chẳng phải là Văn Thù ư ?”

Đáp : “Há lại có hai Văn Thù ?”

Ngài bèn lễ bái, chưa kịp đứng lên, bỗng nhiên chẳng còn thấy.

Tổ Triệu Châu nói thay rằng : “Văn Thù, Văn Thù, lại Văn Thù ! Ba phen bỏ Hạ, Ông Ca Diếp muốn bạch chùy đuổi ra. Vừa cầm dùi lên thì thấy có trăm ngàn, vạn, ức Văn Thù. Ông Ca Diếp dùng hết thần lực mà chùy không dỡ nổi.

Đức Thế Tôn bèn hỏi Ông Ca Diếp : “Ông định đuổi Văn Thù nào ?” Ông Ca Diếp không đáp được”.

Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ông Đầu Đà sắc vàng  -(ct) Ca Diếp. ) có tâm mà không có mật. Cứ hết lệnh mà làm ! Chớ bảo trăm, ngàn, vạn, ức Văn Thù. Ngay cái Lão Cù Đàm mặt vàng ấy cũng phải đuổi ra ! Nếu có thể như vậy thì không những dựng thẳng Chân Phong mà cũng khiến người sau biết rằng học trò của thầy tu ta khỏi cho rằng ông ngăn cản Phật Tổ chẳng được !”

Khoái thay ! Khoái thay ! Phải nên như vậy mà thấy. Ắt là cái Tâm Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu cũng không có chỗ bám níu, làm sao mà có được hai tướng Thị, Phi ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, mavuong, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 06:35:57 AM »

(tiếp theo)

佛言。此見妙明。與諸空塵。亦復如是。本是妙明無上菩提淨圓真心。妄為色空及與聞見。如第二月。誰為是月。又誰非月。文殊。但一月真。中間自無是月非月。

Kinh : Phật dạy : “Tánh Thấy mầu sáng này cùng các thứ Không, Trần cũng lại như thế. Vốn là Chân Tâm Bồ Đề Vô Thượng, tròn sáng, mầu sạch mà lầm nhận cho là Sắc, Không cho đến các thứ Thấy, Nghe. Như mặt trăng thứ hai. Hai mặt trăng ấy, cái nào là mặt trăng thật, cái nào chẳng phải là mặt trăng ? Văn Thù ! Chỉ có một mặt trăng thật, trong đó tự không có cái Tức Là mặt trăng hay cái Chẳng Phải là mặt trăng !


通曰。本是妙明無上菩提淨圓真心。妄為色空及與聞見。與前晦昧為空。空晦暗中。結暗為色。色雜妄想。想相為身。聚緣內搖。趣外奔逸。昏擾擾相。以為心性。生起略同。皆妄想為之祟也。妄想即是病根。如捏目故。本一妙明真心。以妄想分別見。謂有色空聞見。此見與見緣。豈能離真心而自為體。既名之曰色空聞見。去真心遠矣。譬之本一真月。以捏目分別見謂有第二月。此第二月。豈能離真月而自為體。既名之曰第二月。去真月遠矣。故於色空聞見妄為卜度。以為即真心乎。不可。以為非真心乎。不可。以妄辨真。真隨妄轉。譬之於第二月。妄為卜度。以為是月乎。不可。以為非月乎。不可。以捏辨月。月隨捏轉。是心本真也。隨妄想變。如月本真也。隨捏目變。但除妄想。只一妙淨明體。不見有色空。不見有聞見。是非從何而立。但除捏目。只一月真。不見有第二月。是非從何而起。此即上文我真文殊。於中實無是非二相。故曰亦復如是。昔云岩掃地次。道吾云。太區區生。岩云。須知有不區區者。吾曰。恁麼則有第二月也。岩提起掃帚云。這個是第幾月。吾便休去。玄沙別云。正是第二月。長慶云。被他倒轉掃帚攔面   。又作麼生。沙休去。云門云。奴見婢慇勤。天童頌云。借來聊爾了門頭。得用隨宜即便休。象骨岩前弄蛇手。兒時做處老知羞。雪峰曾示眾云。南山有一條鱉鼻蛇。汝等諸人切須好看。云門以杖攛向面前作怕勢。此豈不是奴見婢慇勤。與云岩提起掃帚何以異。故曰老知羞也。西園藏禪師。一日自燒浴次。僧問何以不使沙彌。園撫掌三下。僧舉似曹山。山曰。一等是拍手撫掌。就中西園奇怪。俱胝一指頭禪。蓋為承當處不諦當。僧卻問西園撫掌。豈不是奴兒婢子邊事。山曰是。曰向上更有事也無。山曰有。曰如何是向上事。山叱曰。這奴兒婢子。看諸老宿恁般提唱。政恐人認奴作郎。落在第二月見解。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Câu “Vốn là Chân Tâm Bồ Đề Vô Thượng, tròn sáng mầu sạch mà lầm nhận là Sắc, Không cùng với các thứ Thấy, Nghe” cùng với câu ở đoạn trước : “Mê muội thành ra hư không, trong cái hư không mê muội ấy, kết cái tối tăm thành ra có Sắc, Sắc xen lẫn với vọng tưởng, tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên trong, rong ruổi theo cảnh vật bên ngoài, rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm Tâm Tánh”, thì chỗ sanh khởi giống nhau, đều do lấy vọng tưởng làm chỗ sùng mộ vậy. Vọng tưởng là gốc bệnh, như dụi mắt mà thấy vậy. Vốn là một Chân Tâm Mầu Sáng mà lấy cái thấy vọng tưởng phân biệt để nhìn, bèn có cái thấy sắc không, nghe-thấy. Cái vọng thấy và cái vọng-được-thấy này há có thể lìa Chân Tâm mà có tự thể sao ? Đã gọi nó là Sắc, Không, Nghe, Thấy thì cách Chân Tâm xa rồi vậy. Ví như vốn một mặt trăng chơn thật, mà dùng cái thấy phân biệt của sự dụi mắt mà nói là có mặt trăng thứ hai. Cái mặt trăng thứ hai này há có thể lìa ngoài mặt trăng thật mà có tự thể sao ? Đã gọi nói là mặt trăng thứ hai thì cách xa mặt trăng thật rồi đó.

Cho nên, ở nơi Sắc, Không, Nghe, Thấy mà vọng làm chuyện đo lường mò mẫm rồi cho Sắc, Không, Nghe, Thấy tức là Chân Tâm cũng không được, mà cho rằng chẳng phải Chân Tâm cũng không được ! Lấy Vọng tìm Chơn : Chơn theo Vọng mà chuyển!

Cũng như ở nơi mặt trăng thứ hai mà vọng làm chuyện tính toán mò mẫm, lấy đó cho rằng tức là mặt trăng thì không được, mà cho là chẳng phải mặt trăng cũng không được ! Lấy cái dụi mắt tìm trăng, trăng tùy theo dụi mắt mà chuyển !

Cái Tâm này vốn Chơn, bởi tùy Vọng Tưởng mà đổi. Như mặt trăng vốn thật, bởi do dụi mắt mà dời. Chỉ dứt trừ vọng tưởng ắt chỉ còn một Tâm Thể tròn sáng nhiệm mầu, không thấy có sắc, không, không thấy cái thấy-nghe, thì Phải, Chẳng Phải do đâu mà lập ? Chỉ trừ sự dụi mắt, ắt độc một mặt trăng, xưa nay vẫn thế, có đâu mặt trăng thứ hai mà Phi mà Thị ?

Chỗ này tức là đoạn văn trước nói “Tôi chính thật Văn Thù... Trong đó thật không hề có hai tướng phải cùng chẳng phải”, nên đoạn này nói “Cũng lại như thế”.


Xưa, Ngài Vân Nham đang quét sân.

Tổ Đạo Ngộ nói : “Việc nhỏ mọn quá”.

Vân Nham nói : “Cần biết có cái chẳng nhỏ mọn”.

Tổ Đạo Ngộ nói : “Như thế ắt có mặt trăng thứ hai vậy”.

Ngài Vân Nham đưa chổi lên, nói : “Cái này là mặt trăng thứ mấy ?”   

Tổ Đạo Ngộ bèn thôi mà bỏ đi.


Tổ Huyền Sa riêng nói rằng : “Đích thị là mặt trăng thứ hai !”

Tổ Trường Khánh rằng : “Bị người ta xây ngược chổi che đến mặt, còn làm quái gì nữa !”

Tổ Sa bèn thôi.


Tổ Vân Môn nói : “Tôi thấy tớ thì ân cần”.


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Nhờ nhau như thế rõ môn đầu
Được dụng, tùy nghi cũng tiện thôi
Xương voi trước hang tay rắn múa
Chỗ làm hồi nhỏ, già biết thẹn”.

Tổ Tuyết Phong từng khai thị chúng rằng : “Núi Nam có một con miết tỵ xà  -(ct) Con ba ba lỗ mũi rắn. ), tất cả các ông cần phải xem cho kỹ”.

Tổ Vân Môn cầm cây gậy ném ra trước mặt, làm bộ sợ hãi.

Chỗ này há chẳng phải là “Tôi thấy tớ thì ân cần” sao ? Cùng với Tổ Vân Nham đưa cây chổi lên nào có khác ! Cho nên mới nói “Già biết thẹn” vậy.


Thiền sư Tây Viên Tạng một ngày kia tự nấu nước tắm. Có nhà sư hỏi : “Sao chẳng sai Sa di ?”

Tổ Viên vỗ tay ba lần.

Vị sư kể lại với Tổ Tào Sơn. Tổ Sơn nói : “Cái vỗ tay, tựu trung là việc kỳ quái của Tây Viên. Một-ngón-tay-Thiền của Câu Chi, cũng vì chỗ thừa đương mà chẳng chịu kham nhận vậy”.

Vị sư lại hỏi : “Ngài Tây Viên vỗ tay, há chẳng phải là chuyện một bên mé của con tôi, cái tớ  -(ct) Nô nhi, tỳ nữ. ) sao ?”

Tổ Sơn nói : “Phải”.

Hỏi : “Hướng thượng  -(ct) Từ ngọn chỉ gốc. ) lại có chuyện hay không?”

Tổ Sơn rằng : “Có”.

Hỏi : “Như thế nào là chuyện hướng thượng ?”

Tổ Sơn nói : “Cái đồ con tôi, cái tớ”.

Xem cái lối đề xướng ấy của các vị lão túc, chính là sợ cho người nhận “Tớ làm chồng”, sa vào trong kiến giải mặt trăng thứ hai.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 08:46:21 PM »

(tiếp theo)

是以汝今觀見與塵。種種發明。名為妄想。不能於中出是非是。由是真精妙覺明性。故能令汝出指非指。

Kinh : “Vậy nên, hiện nay các ông phát minh các thứ Xem Thấy và trần cảnh đều là vọng tưởng, thì không thể ở trong đó mà chỉ ra Phải hay Chẳng Phải. Nhưng do tất cả đều là Chân Tâm nhiệm mầu sáng suốt nên có thể làm cho các ông ra khỏi các nghĩa Chỉ được và Không chỉ được”.

通曰。若未見性。性在見中。同名見精。種種妄想分別。豈能出是非是。若能見性。性脫於見。不名見聞覺知。一切分別都無。故能出指非指。不能於中出是非是。如第二月誰為是月。又誰非月。故能令汝出指非指。但一月真。中間自無是月非月。物為所指。即前云指皆是物是也。見非所指。即前云無是見者是也。阿難雖能發明是塵非見是塵即見二種義。猶為是非所縛。不能出離。良由不知是義所歸。歸於見性也。若見真精妙覺明性。則此見及緣。本無所有。安所容其指乎。此見及緣。元是菩提妙淨明體。安所容其非指乎。於其中間無是非是。方有出身之路。出字最有味。所以能出者。必此之由也。故曰由是。指歸必見性乃可耳。僧問韶山。是非不到處。還有句也無。山曰有。僧云是甚麼句。山曰一片白雲不露醜。天童拈云。通身回獲。不觸尊嚴。退位傍提。要當宛轉。還見韶山相為處麼。盡力推爺向裡頭。洞山偈曰。青山白雲父。白雲青山兒。白雲終日倚。青山總不知。韶山云一片白雲不露醜。本此。有僧問九峰虔侍者。如何是外紹。峰云不借別人家裡事。如何是內紹。峰曰。推爺向裡頭。天童云盡力推爺向裡頭。本此。又投子頌云。白雲不到中峰頂。滿目煙霞景象殊。一句曲寒千古調。萬重青碧月來初。要知妙覺明性。出是非是。如第一月。須究竟曹洞宗旨。方得其妙。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Nếu chưa thấy Tánh thì Tánh ở trong cái Thấy, cùng tên là Kiến Tinh, đủ các thứ vọng tưởng phân biệt thì làm sao ra khỏi Tức là hay Chẳng Phải được. Nếu thấy Tánh, thì Tánh thoát ngoài cái Thấy, nên chẳng gọi là Thấy, Nghe, Hay, Biết. Tất cả phân biệt đều không, nên thoát ra ngoài sự Chỉ được hay Không chỉ được.

Câu “Không thể ở trong đó chỉ ra các nghĩa Phải và Chẳng Phải”, thì như mặt trăng thứ hai : cái nào Tức là mặt trăng ? Cái nào Chẳng Phải mặt trăng ?
 
Câu “Nên có thể làm cho các ông ra ngoài các sự Chỉ được và Không chỉ được”, thì như một mặt trăng thật, trong đó tự nhiên chẳng có thật hay giả.

Vật là cái được chỉ ra, như đoạn trước nói “Những cái chỉ ra được đều là Vật”. Cái Thấy không có chỗ nào để chỉ ra, như đoạn trước nói “Chứ không phải là cái Thấy”. Ông Anan tuy có thể phát minh được hai nghĩa “Tiền trần chẳng phải là cái Thấy” và “Tiền trần tức là cái Thấy”, nhưng còn bị Thị, Phi trói buộc, chẳng thể thoát ra, cũng do bởi vì không biết chỗ quy về của cái nghĩa này, chỗ đó là Thấy Tánh vậy.

Nếu thấy cái Chân Tánh tròn sáng, nhiệm mầu vốn hằng hằng giác ngộ, thì cái Thấy cùng cái Được Thấy vốn không chỗ có, chỗ nào có cái “Chỉ ra” ? Cái Thấy này cùng cái Được Thấy vốn là Tâm Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu, thì chỗ nào mà chỉ ra chẳng được ? Trong Thể Bồ Đề ấy, không có cái gì gọi là Phải hay Chẳng Phải, mới là con đường thoát thân (xuất thân). Chữ Xuất (thoát ra) ở chánh văn rất có ý vị. Sở dĩ ra được phải do chỗ này, nên kinh nói “Do thị”, chỉ rằng phải vào trong Kiến Tánh mới có thể ra được.


Có nhà sư hỏi Tổ Thiều Sơn : “Chỗ thị phi không đến, còn có câu biện luận không ?”

Tổ đáp : “Có”

Nhà sư hỏi : “Đó là câu gì ?”

Tổ Sơn nói : “Một mảnh mây trắng chẳng lộ bày vẻ xấu”.

Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng : “Khắp thân che chở, chẳng phạm tôn nghiêm. Bỏ địa vị lui về, ở một bên nâng đỡ. Cần nên uyển chuyển. Có thấy hình tướng của Thiều Sơn ở chốn nào ? Nếu tận lực tìm cha, hãy hướng vào trong ấy !”


Tổ Động Sơn kệ rằng :

“Núi xanh : cha mây trắng
Mây trắng : con núi xanh
Mây trắng suốt ngày dựa
Núi xanh vốn chẳng hay”.

(Thanh sơn bạch vân phụ
Bạch vân thanh sơn nhi
Bạch vân chung nhật ỷ
Thanh Sơn tổng bất tri)


Tổ Thiều Sơn nói : “Một mảnh mây trắng chẳng lộ bày vẻ xấu” vốn là đây”.

Có vị tăng hỏi thị giả Cổ Phong Kiền : “Như thế nào là nối bề ngoài ?”

Ngài Phong nói rằng : “Chẳng nhờ việc trong nhà người khác”.

Hỏi : “Như thế nào là nối bề trong”.

Ngài đáp : “Nếu tìm cha, hãy hướng vào trong ấy !”

Tổ Thiên Đồng nói : “Tận lực tìm cha, hãy hướng vào trong ấy, vốn là chỗ này”.

Lại Tổ Đầu Tử tụng rằng :

“Mây trắng không hề đến đỉnh non
Mắt đầy khói, ráng, cảnh muôn ngàn
Một câu ngâm lạnh, ngàn xưa điệu
Muôn trùng xanh biếc, mọc trăng non”.

Phải biết rằng cái Tánh mầu sáng vốn hằng hằng Giác Ngộ, vượt ngoài Phải cùng Chẳng Phải, như mặt trăng thứ nhất. Phải rốt ráo được tông chỉ của Tông Tào Động mới được chỗ vi diệu.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 08:50:37 PM »

阿難白佛言。世尊。誠如法王所說覺緣遍十方界。湛然常住。性非生滅。與先梵志(此云外道)娑毗迦羅所談冥諦。及投灰等(習定灰凝)諸外道種說有真我遍滿十方。有何差別。世尊亦曾於楞伽山。為大慧等敷演斯義。彼外道等常說自然。我說因緣。非彼境界。我今觀此覺性自然。非生非滅。遠離一切虛妄顛倒。似非因緣與彼自然。云何開示。不入群邪。獲真實心。妙覺明性。


MỤC BỐN :

PHÁ NHỮNG THUYẾT NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN


I. NGHI TÂM TÍNH TỰ NHIÊN NHƯ THẦN NGÃ


Kinh : Ông Anan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, thật như chỗ Pháp Vương  -(ct) Phật. ) dạy : Cái Giác Duyên  -(ct) Tâm Tánh. ) cùng khắp mười phương thế giới, lặng trong, thường trụ, tánh chẳng có sanh diệt. So với thuyết Minh Đế của nhóm Ông Phạm Chí Ta Tỳ Ca La  -(ct) Thuộc ngoại đạo. ), hay cái thuyết Chân Ngã cùng khắp mười phương của các nhóm ngoại đạo Đầu Khôi  -(ct) La hán tiểu thừa. Hoặc vào phép Hỏa Định (ngồi định mà chết, lấy lửa phép đốt tiêu cái thức đầu thai và cái nghiệp luân hồi) ; hoặc do thiêu xác (dùng giàn hỏa) Nên sắc thân tiêu dứt ra tro. ) có gì là khác ?

“Thế Tôn cũng từng ở núi Lăng Già vì các Bồ Tát Đại Huệ mà giảng bày nghĩa này : Các ngoại đạo kia thường nói Tự Nhiên, còn Ta nói Nhân Duyên, chẳng phải cảnh giới của họ. Nay tôi xem cái Giác Tánh ấy, thấy là Tự Nhiên, chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, lìa xa tất cả hư vọng điên đảo, hình như chẳng phải là Nhân Duyên, cũng không phải là Tự Nhiên của họ.

“Xin Phật khai thị thế nào để chúng tôi khỏi lạc vào tà kiến, được cái Tâm Tánh chân thật, mầu sáng, giác ngộ”.



通曰。外道所談冥諦。體非生滅。說有神我遍滿十方。但以八識為宗。止得杳杳冥冥趣味。非有大圓鏡智之妙也。既有神我。即是生死根本。豈得為正因乎。佛言正因。即第一義諦。以不生不滅為本修因。非世俗因緣之謂也。阿難方信忽疑曰。似非因緣與彼自然。而猶以覺性為自然者。謂覺性遠離是非二相。湛然常住。名為自然。向者執觀河之見為不生滅。既未達本。今者指離見之性以為自然。尤未超脫。故願世尊開示不入一切因緣自然虛妄顛倒之邪見也。長沙岑令僧問會和尚。未見南泉時如何。會良久。僧云。見後如何。會云。不可別有也。僧回舉似沙。沙云。百尺竿頭坐底人。雖然得入不為真。百尺竿頭須進步。十方世界現全身。僧云。百尺竿頭如何進步。沙云。朗州山。澧州水。僧云不會。沙云。四海五湖王化裡。天童頌云。玉人夢破一聲雞。轉盼生涯色色齊。有信風雷催出蟄。無言桃李自成蹊。及時節。力耕犁。誰怕春疇沒脛泥。只如會坐在潔淨地。不能入泥入水。撒手橫行。便是與生滅對。故雖得入而非真也。外道所云冥諦。大率似此。長沙云。十方世界是全身。外道亦說有神我遍滿十方。何處不同。試參看。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ nói Minh Đế của ngoại đạo, Thể chẳng sanh diệt, nói có Thần Ngã cùng khắp mười phương, chỉ là lấy cái Thức Thứ Tám làm Tông, chỉ được cái mùi vị vui thú mờ mờ mịt mịt, chớ chẳng phải có cái nhiệm mầu của Đại Viên Cảnh Trí.

Đã có Thần Ngã, tức là căn bản sanh tử, sao được là cái Nhân Địa Chân Chánh ?
Phật nói Nhân Địa Chân Chánh tức là Đệ Nhất Nghĩa Đế, lấy cái chẳng sanh chẳng diệt làm cái Nhân Địa tu hành, chẳng phải là cái nhân duyên thế tục.

Ông Anan vừa mới tin được, bỗng khởi nghi mà nói “Hình như chẳng phải là Nhân Duyên, cũng không phải là Tự Nhiên của ngoại đạo”, mà còn cho Giác Tánh là Tự Nhiên, nói rằng Giác Tánh lìa xa hai tướng Thị và Phi, lặng trong, thường trụ nên gọi là Tự Nhiên. Trước thì chấp cái Thấy Sông ( ct) Thấy Sông : xem Quyển I, phần II ...) là chẳng Sanh Diệt, đã là chưa đạt đến cội gốc. Nay thì chỉ ra cái “Tánh lìa khỏi cái Thấy”, cho đó là Tự Nhiên, lại càng chưa siêu thoát. Nên ông cầu xin Thế Tôn khai thị cho khỏi lạc vào những tà kiến hư vọng điên đảo của các thuyết Tự Nhiên và Nhân Duyên.

Tổ Trường Sa Sầm khiến vị tăng hỏi Hòa Thượng Hội : “Khi chưa thấy Nam Tuyền thì như thế nào ?”

Ngài Hội im lặng hồi lâu.

Vị tăng hỏi : “Sau khi thấy thì thế nào ?”

Ngài Hội nói : “Không thể riêng có !”


Vị tăng về thưa lại với Tổ Trường Sa. Tổ Sa nói :

“Đầu sào trăm thước đã được ngồi
Tuy rằng nhập được vẫn chưa Chân
Đầu sào trăm thước cần tiến bước
Mười phương thế giới hiện toàn thân”.

(Bách xích can đầu tọa để nhơn
Tuy nhiên đắc nhập bất vi Chơn
Bách xích can đầu tu tấn bộ
Thập phương thế giới hiện toàn thân).

Vị tăng hỏi : “Đầu sào trăm thước làm sao tiến bước ?”

Tổ Sa đáp : “Núi Lãng Châu, sông Lễ Châu”.

Vị tăng thưa : “Dạ, chẳng am hiểu”.

Tổ Sa rằng : “Bốn biển, năm hồ vua trị trông”.


Ngài Thiên Đồng tụng :

“Một tiếng gà phá mộng ngọc nhân  -(ct) Người ngọc. )
Nhìn lại cuộc đời sắc sắc bằng
Có tin xuân sấm dục trùng nở
Đào lý vô ngôn, tự thành đường (lối)
Đến thời tiết, gắng sức cày
Ai ngại ruộng xuân bùn lút cẳng ?”.

Cũng như họp nhau ngồi ở chỗ sạch sẽ, chẳng thể xuống nước, xuống bùn, ra tay ngang dọc bèn là cùng sanh diệt chống trái. Nên tuy là có nhập nhưng chẳng phải chân thật. Chỗ ngoại đạo gọi là Minh Đế, đại khái tựa hồ như đây.

Tổ Trường Sa nói : “Mười phương thế giới hiện toàn thân. Ngoại đạo cũng nói có Thần Ngã cùng khắp mười phương. Chỗ nào chẳng đồng, thử tham coi !

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #66 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 08:52:36 PM »

(tiếp theo)

佛告阿難。我今如是開示方便。真實告汝。汝猶未悟。惑為自然。阿難。若必自然。自須甄明有自然體。汝且觀此妙明見中。以何為自。此見為復以明為自。以暗為自。以空為自。以塞為自。阿難。若明為自。應不見暗。若復以空為自體者。應不見塞。如是乃至諸暗等相以為自者。則於明時。見性斷滅。云何見明。


II. CHỈ RA KHÔNG PHẢI LÀ TỰ NHIÊN


Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Nay Ta phương tiện chỉ bày chân thật bảo ông như thế, ông còn chưa ngộ mà lầm cho là Tự Nhiên !

“Anan, nếu chắc là Tự Nhiên, tự phải chỉ rõ thể tánh của Tự Nhiên. Ông hãy xét trong cái Thấy Diệu Minh đó, lấy cái gì làm tự thể ? Cái Thấy đó lấy cái sáng làm tự thể ư ? Lấy cái tối làm tự thể ư ? Lấy hư không làm tự thể ư ? Lấy cái ngăn bít làm tự thể ư ?

“Anan, nếu cái sáng là tự thể thì lẽ ra không thấy cái tối ! Nếu lấy cái không làm tự thể thì lẽ ra không thấy được ngăn bít. Như vậy cho đến lấy cái tướng tối làm tự thể thì đến khi sáng, thì cái Tánh Thấy phải diệt mất, làm sao còn thấy cái sáng ?”


通曰。自然云者。謂自體本然常住不變也。即此妙明見性。以見明為自然乎。以見暗為自然乎。以見空見塞為自然乎。若自然見明。應不見暗。自然見空。應不見塞。若隨緣而變。便非自然之體。或謂見者。其自然之體也。明暗空塞。隨感而見。豈不自然。設無明暗空塞。見將安施。所謂自然者。渾成斷滅矣。此但破見性不可以自然名。非謂見性自明暗空塞而有也。若論生起之自。見性雖不因明暗空塞而有。卻自本覺妙明而出。然則本覺妙明。又以何為自。真開口不得也。石霜初在溈山作米頭。一日篩米次。溈曰。施主物。莫拋撒。霜曰。不拋撒。溈於地上拾得一粒曰。汝道不拋撒。這個是甚麼。霜無對。溈又曰。莫輕這一粒。百千粒盡從這一粒生。霜曰。百千粒從這一粒生。未審這一粒從甚處生。溈呵呵大笑。歸方丈。溈至晚上堂曰。大眾。米裡有蟲。諸人好看。夫求其生出之自。不可得也。何處更安立此自然之名乎。故謂為自然者非也。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Nói rằng Tự Nhiên tức là nói tự thể vốn y nhiên thường trụ chẳng biến đổi. Vậy cái Tánh Thấy mầu sáng này lấy cái thấy sáng làm Tự Nhiên ư ? Lấy cái thấy tối làm Tự Nhiên ư ? Lấy thấy hư không làm Tự Nhiên ư ? Lấy ngăn bít làm Tự Nhiên ư ? Nếu tự nhiên thấy Sáng thì lẽ ra không thấy Tối ! Nếu tự nhiên thấy hư không thì lẽ ra không thấy ngăn bít ! Nếu tùy Duyên mà biến đổi thì cái Thể chẳng phải là Tự Nhiên vậy.

Hoặc nói cái Thấy ấy là cái thể của Tự Nhiên; sáng, tối, hư không, ngăn bít tùy duyên mà thấy, há chẳng phải Tự Nhiên ư ? Nhưng giả sử không có sáng, tối, hư không và ngăn bít thì cái Thấy dùng vào đâu ? Cái gọi là Tự Nhiên ấy đều thành đoạn diệt đấy thôi.

Ở đây chỉ bác bỏ là không thể lấy Tự Nhiên làm Tánh Thấy, chứ chẳng phải nói rằng cái Tánh Thấy do sáng, tối, không, bít mà có. Nếu luận về chỗ sanh khởi từ đâu thì Tánh Thấy tuy chẳng do sáng, tối, không, bít mà có, lại từ Bổn Giác Diệu Minh lưu xuất ra. Nhưng thế thì Bổn Giác Diệu Minh lấy gì làm tự thể, thật mở miệng chẳng nói được !

Tổ Thạch Sương ban đầu ở Tổ Quy Sơn làm người giã gạo. Một hôm, đang sàng gạo, Tổ Quy Sơn nói : “Vật của thí chủ chớ làm rơi rớt”.

Ngài nói : “Chẳng có rơi rớt”.

Tổ Quy Sơn nhặt được một hột gạo trên mặt đất, rồi nói : “Ông nói chẳng rơi rớt, vậy cái này là cái gì?”

Ngài Thạch Sương không đáp được.

Tổ Quy Sơn lại nói : “Chớ khinh thường một hột gạo này. Trăm ngàn hột đều do một hột này sanh ra”.

Ngài Thạch Sương nói rằng : “Trăm ngàn hột từ một hột ấy sanh ra, chưa rõ một hột ấy từ chỗ nào sanh ?”

Tổ Quy Sơn ha hả cười lớn, quay về phương trượng.

Tối đến, Tổ Quy thượng đường nói : “Này đại chúng, trong hột gạo có sâu, các người hãy xem cho kỹ !”

Ôi ! Tìm cầu tự thể của cái sanh ra này chẳng thể được ! Chỗ nào để an lập cái tên Tự Nhiên đây ? Cho nên gọi ấy là Tự Nhiên thì chẳng phải !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, SCC, byphuong, 8N, Yahoo
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #67 vào lúc: Tháng Ba 04, 2011, 08:32:53 PM »

(tiếp theo)

阿難言。必此妙見性非自然。我今發明是因緣生。心猶未明。諮詢如來。是義云何合因緣性。


III. NGHI LÀ NHÂN DUYÊN


Kinh : Ông Anan thưa : “Chắc là cái Tánh Thấy mầu nhiệm này Tánh nó chẳng phải là Tự Nhiên, thì nay tôi phát minh là nói do Nhân Duyên sanh, nhưng tâm trí còn chưa rõ, xin hỏi Như Lai, nghĩa lý thế nào cho hợp với Tánh Nhân Duyên ?”

通曰。阿難嘗聞世尊以因緣破自然。今此見性既非自然。必屬因緣。卻疑因緣之義。無常生滅。此有彼無。體非常遍。豈同。覺性湛然常住。行相相違。云何合因緣性。此疑甚微。中觀論曰。無物從緣起。無物從緣滅。起唯諸法起。滅唯諸法滅。譬如畫水成文。未嘗生滅。庶幾合矣。報恩明禪師。嘗舉雪峰塔銘。問諸老宿。夫從緣有者。始終而成壞。非從緣有者。歷劫而長堅。堅之與壞即且置。雪峰今日在甚麼處。法眼別云。秪今是成是壞。時老宿莫能對者。此豈可以淺近窺乎。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan thường nghe Thế Tôn lấy Nhân Duyên phá Tự Nhiên. Giờ đây, cái Tánh Thấy này đã chẳng phải là Tự Nhiên, ắt phải thuộc về Nhân Duyên. Bèn nghi cái nghĩa Nhân Duyên : vô thường, sanh diệt, đây có, kia không, thể chẳng thường khắp. Thế thì há đồng với Giác Tánh lặng trong thường trụ sao ? Hành tướng trái nhau, làm sao hợp với Tánh Nhân Duyên ? Cái nghi này rất vi tế.

 Luận Trung Quán nói : “Không có vật gì từ Duyên mà sanh khởi. Không có vật gì theo Duyên mà diệt mất. Khởi chỉ là các Pháp khởi. Diệt chỉ là các Pháp diệt”. Cũng như vẽ trên nước thành chữ, chưa từng sanh ra hay diệt mất. Như thế thì làm sao mà hợp với tính nhân duyên ?

Thiền sư Báo Ân Minh thường nêu lên bài Minh ở tháp của Ngài Tuyết Phong mà hỏi các vị lão túc : “Phàm từ Duyên mà có : trước sau đều thành, hoại. Chẳng từ Duyên mà có : trải kiếp vẫn lâu bền. Bền chắc với hư hoại, dẹp qua một bên ! Ngài Tuyết Phong ngày nay ở tại chỗ nào ?”

Ngài Pháp Nhãn riêng nói rằng : “Chỉ nay, đấy là thành, đấy là hoại !”

Các bậc lão túc đương thời chẳng thể đối đáp.

Chỗ này há có thể lấy sự nông cạn mà dòm ngó sao ?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, SCC, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, 8N, Yahoo, dieunha
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #68 vào lúc: Tháng Ba 04, 2011, 08:37:18 PM »

(tiếp theo)

佛言。汝言因緣。吾復問汝。汝今因見。見性現前。此見為復因明有見。因暗有見。因空有見。因塞有見。阿難。若因明有。應不見暗。如因暗有。應不見明。如是乃至因空因塞。同於明暗。複次阿難。此見又復緣明有見。緣暗有見。緣空有見。緣塞有見。阿難。若緣空有。應不見塞。若緣塞有。應不見空。如是乃至緣明緣暗。同於空塞。當知如是精覺妙明。非因非緣。亦非自然。非不自然。無非不非。無是非是。離一切相。即一切法。汝今云何於中措心。以諸世間戲論名相而得分別。如以手掌撮摩虛空。秪益自勞。虛空云何隨汝執捉。


IV. TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ NHÂN DUYÊN, RỜI CÁC DANH, TƯỚNG


Kinh : Phật dạy : “Ông nói Nhân Duyên, Ta hỏi ông : “Nay ông do nhân bởi cái Thấy, Tánh Thấy hiện tiền. Vậy cái Thấy này nhân cái sáng mà có thấy ? Nhân cái tối mà có thấy ? Nhân hư không mà có thấy ? Nhân ngăn bít mà có thấy ?

“Anan, nếu cái Thấy nhân cái sáng mà có thì lẽ ra không thấy được tối; còn như nhân cái tối mà có thì lẽ ra không thấy được cái sáng. Như vậy cho đến nhân hư không, nhân ngăn bít thì cũng đồng như nhân cái sáng và cái tối.
“Lại nữa, Anan, cái Thấy ấy lại là nương cái sáng mà có thấy ? Nương cái tối mà có thấy? Nương hư không mà có thấy hay nương ngăn bít mà có thấy ? Anan, nếu nương hư không mà có thấy thì lẽ ra không thấy được ngăn bít. Nếu nương ngăn bít mà có thấy thì lẽ ra không thấy được hư không. Như vậy cho đến nương cái sáng, nương cái tối cũng đồng như nương hư không, nương ngăn bít.

“Nên, biết rằng cái Tinh Giác Diệu Minh như thế chẳng phải Nhân, chẳng phải Duyên, cùng chẳng phải Tự Nhiên, chẳng phải Không Tự Nhiên. Không có cái Không Phải hay Không Không Phải, không có Tức Là hay Không Tức Là, lìa cả thảy tướng, tức là cả thảy pháp. Nay ông làm sao ở trong ấy mà khởi tâm, dùng những danh tướng hý luận thế gian mà phân biệt cho được ? Như lấy tay mà nắm bắt hư không, chỉ thêm tự làm nhọc mình. Hư không làm sao lại để cho ông nắm bắt ?”


通曰。假物為因。循物為緣。因親緣疏。故分二門。現前見性。謂因明暗空塞而顯則可。謂因明暗空塞而有則不可。謂緣明暗空塞而用則可。謂緣明暗空塞而起則不可。故謂為因緣者非也。何以故。精覺妙明。本無相故。若謂為因緣。為自然。即屬因緣自然之相。故始而曰非因非緣。亦非自然。遣相也。猶有非相在。故繼之曰非不因緣。非不自然。遣非相也。猶有不非相在。故終之曰無非與不非。無是與非是。是非俱不到之地。不容擬議。不容測度。即精覺妙明實相也。彼是非等相。皆是妄情遍計分別。妙明本體。原無是事。故曰離一切相。遍計既離。則圓成實體。觸處現前。故曰即一切法。古德云。但離妄緣。即如如佛。此之謂也。昔疏山到溈山懶安處。便問承師有言。有句無句。如藤倚樹。忽然樹倒藤枯。句歸何處。溈山呵呵大笑。疏山云。某甲四千里賣布單來。和尚何得相弄。溈喚侍者。取錢還這上座。遂囑云。向後有獨眼龍。為子點破去在。後到明招。舉前話。昭云溈山可謂頭正尾正。只是不遇知音。疏便問樹倒藤枯句歸何處。昭云。更使溈山笑轉新。疏於言下有省。乃云溈山元來笑裡有刀。天童頌云。藤枯樹倒問溈山。大笑呵呵豈等閒。笑裡有刀窺得破。言思無路絕機關。先後溈山到這裡。只有呵呵大笑。如一印印出。疏山曰。笑裡有刀。卻捉得虛空也。石鞏問西堂。汝還解捉得虛空麼。堂曰。捉得。鞏曰。作麼生捉。堂以手撮虛空。鞏曰。汝不解捉。堂卻問師兄作麼生捉。鞏把西堂鼻孔拽。堂作忍痛聲曰。大煞拽人鼻孔。直欲脫去。鞏曰。直須恁麼捉虛空始得。故以戲論名相而捉虛空者。大難大難。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Nương vào vật là Nhân; theo với vật là Duyên. Nhân thì gần, Duyên thì xa, nên phân làm hai môn. Tánh Thấy hiện tiền, nếu nói là Thông Bít mà hiển bày, thì được ; chứ nói : tánh Thấy nhân sáng, tối, thông bít mà có, thì không được. Nói rằng Tánh Thấy duyên sáng, tối, thông, bít mà phát ra tác dụng, thì được, chứ nói : Tánh Thấy duyên sáng, tối, thông, bít mà khởi, thì không được.

Cho nên nói Nhân Duyên là sai. Vì sao thế ?

Cái Tinh Giác Diệu Minh vốn không có hình tướng. Nếu nói là Nhân Duyên, là Tự Nhiên thì thuộc về tướng Nhân Duyên, tướng Tự Nhiên rồi. Bởi vậy, ban đầu nói “Chẳng phải Nhân, chẳng phải Duyên, cũng chẳng phải Tự Nhiên”, là để trừ bỏ Tướng. Nhưng còn cái chẳng phải Tướng ở trong đó. Kế đến nói “Chẳng phải Không Nhân Duyên, chẳng phải Không Tự Nhiên”, là để trừ bỏ Phi Tướng. Nhưng mà còn cái Không Phải Phi Tướng ở trong đó. Cuối cùng thì nói “Không có Không Phải hay Không Không Phải, không có Tức là hay Không Tức là". Đó là cái chỗ mà Phải và Chẳng Phải đều không tới được, chẳng cho phép sự luận bàn, chẳng dung tha suy tính, tức là cái thực tướng Tinh Giác Diệu Minh vậy.

Các tướng Phải hay Chẳng Phải kia đều là vọng tình biến kế phân biệt. Bản Thể Diệu Minh vốn không có chuyện đó, nên nói “Lìa cả thảy Tướng”. Biến kế vọng tưởng phân biệt đã lìa thì đó là cái Thể Viên Thành Thật, chạm vào đâu là hiện bày trước mắt. Thế nên mới nói “Tức cả thảy Pháp”.

Cổ Đức nói “Chỉ lìa vọng duyên tức Như Như Phật”, là nói chỗ này đây vậy.

Xưa, Tổ Sơ Sơn đến chỗ ở của Tổ Quy Sơn bèn hỏi : “Thầy tôi có nói : “Câu có, câu không, như dây leo bám cây. Bỗng nhiên cây ngã, dây khô, câu về chốn nào ?”

Tổ Quy Sơn ha hả cười lớn.

Sơ Sơn nói : “Tôi mua vải làm giày, từ bốn ngàn dặm đến đây, Hòa Thượng đâu nên đùa cợt”.

Tổ Quy Sơn gọi thị giả : “Lấy tiền trả lại cho Ông Thượng Tọa này”.

Rồi dặn rằng “Sau này sẽ có con rồng một mắt vì thầy mà chỉ phá cho”.

Sau, Ngài Sơ Sơn đến Tổ Minh Chiêu, kể chuyện cũ.

Tổ Minh Chiêu nói : “Ngài Quy Sơn, có thể nói là đầu chánh, đuôi chánh, chỉ vì chẳng gặp tri âm !”

Ngài Sơ Sơn bèn hỏi : “Cây ngã, dây khô, câu về xứ nào ?”

Tổ Chiêu nói : “Lại khiến Quy Sơn phát tiếng cười mới”.

Ngài Sơ Sơn ngay dưới lời nói có tỉnh ngộ, bèn nói : “Thì ra trong cái cười của Quy Sơn vốn có chứa đao !”


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Dây khô, cây ngã, hỏi Quy Sơn
Ha hả cười to, há chẳng màng ?
Trong cười có dao sắc, nhìn ra được
Không đường suy, nói, bặt cơ quan  -(ct) Máy then. )”.

(Đằng khô thọ đảo vấn Quy Sơn
Đại tiếu kha kha khởi đẳng nhàn
Tiếu lý hữu đao không đắc phá
Ngôn tư vô lộ tuyệt cơ quan).


Tổ Quy Sơn trong chỗ ấy, trước sau chỉ có ha hả cười to, như một dấu ấn ấn ra.

Ngài Sơ Sơn nói “Trong cái cười có đao !”, bèn chụp được hư không vậy.

Tổ Thạch Củng hỏi Thầy Tây Đường : “Ông có nắm bắt được hư không chăng ?”

Ngài Tây Đường đáp : “Nắm bắt được”.

Tổ Củng nói : “Bắt thế nào ?”

Tổ Đường lấy tay chụp nắm hư không.

Tổ Củng nói : “Ông chẳng biết chụp !”

Tổ Đường hỏi lại : “Sư huynh bắt như thế nào ?”

Tổ Thạch Củng nắm mũi Ngài Tây Đường kéo đi.

Ngài Tây Đường nhịn đau, nói : “Gã đại hung thần này kéo lỗ mũi người !” Liền muốn thoát ra.

Tổ Thạch Củng nói : “Phải như thế mới bắt hư không được”.

Nên chi, lấy danh tướng hý luận mà nắm bắt hư không : Ôi, khó thay ! Khó thay !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, SCC, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, 8N, Yahoo, dieunha
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #69 vào lúc: Tháng Ba 04, 2011, 08:39:48 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。必妙覺性非因非緣。世尊云何常與比丘宣說見性具四種緣。所謂因空因明因心因眼。是義云何。佛言。我說世間諸因緣相。非第一義。阿難。吾復問汝。諸世間人說我能見。云何名見。云何不見。阿難言。世人因於日月燈光。見種種相。名之為見。若復無此三種光明。則不能見。阿難。若無明時。名不見者。應不見暗。若必見暗。此但無明。云何無見。阿難。若在暗時。不見明故。名為不見。今在明時。不見暗相。還名不見。如是二相俱名不見。若復二相自相凌奪。非汝見性於中暫無。如是則知二俱名見。云何不見。


V. BÁC NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN



Kinh : Ông Anan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, nếu quả cái Tánh Diệu Giác chẳng phải Nhân, chẳng phải Duyên thế sao Thế Tôn thường chỉ dạy cho chúng Tỳ Kheo rằng Tánh Thấy có đủ bốn thứ Duyên, đó là : Nhân Hư Không, Nhân Ánh Sáng, Nhân Tâm Thức và Nhân Con Mắt. Nghĩa ấy thế nào ?”

Phật bảo : “Anan, Ta nói như thế, là nói về các tướng nhân duyên của thế gian, chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa. Anan, Ta lại hỏi ông : Các người thế gian nói “Tôi thấy được”, thì thế nào gọi là thấy ? Thế nào gọi là không thấy ?”
Anan thưa : “Người đời nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng, đèn mà thấy mọi thứ hình tướng thì gọi là thấy. Nếu không có ba thứ ánh sáng đó thì không thấy được”.

- Anan ! Nếu khi không có ánh sáng mà gọi là không thấy, thì lẽ ra không thấy tối. Nếu có thấy tối, thì đó chỉ vì không có ánh sáng chứ đâu phải là không thấy ? Anan, nếu trong khi tối, vì không thấy sáng mà gọi là không thấy, thì khi sáng, không thấy tướng tối, cũng gọi là không thấy. Như thế thì cả hai tướng sáng, tối đều gọi là không thấy cả. Còn nếu như hai cái sáng, cái tối tự lấn đoạt nhau, chứ không phải trong đó cái Tánh Thấy của ông có lúc không có. Như thế thì biết : cả hai lúc sáng và tối đều gọi là thấy, chớ sao lại nói là không thấy ?”



通曰。此世尊先破世間因緣之相。後顯第一義諦也。世間以見因緣日月燈光而有。如無日月燈光夫豈無見。見暗與見明等耳。明暗自屬前塵。見精原無生滅。由此言之。世間之見。且非因非緣也。況進此者乎。九峰虔禪師受印於石霜。僧問教中有言。三光緣就。始成其見。三光未就。還成見否。虔曰。緣有差殊。見無虧損。僧云。既無虧損。暗中為甚麼不見物。虔曰。雖不見物。寧無見暗。僧云。離卻三緣。如何是真見處。虔曰。匝地日頭黑似漆。石頭參同契曰。當明中有暗。勿以暗相遇。當暗中有明。勿以明相睹。正同此旨。此是何等明暗。須具眼者別之。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ này, Thế Tôn trước là phá cái tướng Nhân Duyên của thế gian, sau là hiển bày cái Đệ Nhất Nghĩa Đế. Thế gian cho rằng cái Thấy nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn mà có. Nhưng không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn đâu phải là không có cái Thấy, cũng là thấy Tối, thấy Sáng đó vậy. Sáng, Tối tự chúng thuộc về tiền trần, cái Thấy (Kiến Tinh) vốn không sanh diệt. Do đó mà nói “Cái Thấy của thế gian cũng là chẳng phải Nhân, chẳng phải Duyên”, huống tiến đến chỗ này ư ?

Thiền sư Cửu Phong Kiền thọ tâm ấn nơi Tổ Thạch Sương. Có nhà sư hỏi : “Trong kinh có nói : Đủ ba duyên ánh sáng mới thành cái Thấy. Ba Duyên chưa có, có thành cái Thấy không ?”

Tổ Kiền nói : “Duyên có sai khác, cái Thấy không thiếu hụt”.

Vị sư hỏi : “Đã không thiếu hụt, ở trong tối sao chẳng thấy vật ?”

Tổ Kiền nói : “Tuy chẳng thấy vật, đâu phải không thấy tối ?”

Nhà sư hỏi : “Lìa hết ba duyên, như thế nào là chỗ Chân Kiến ?”

Tổ Kiền nói : “Giáp vòng trái đất, mặt trời đen tợ sơn đen”.

Trong bài Tham Đồng Khế của Ngài Thạch Đầu có câu : “Ngay trong sáng có tối, chớ dùng tối gặp nhau ! Ngay trong tối có sáng, chớ dùng sáng thấy nhau !

Chính là đồng với cái ý chỉ này. Đây thật là nào có đồng bậc với sáng tối, cần phải có mắt mới phân biệt được.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, SCC, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, 8N, Yahoo, dieunha
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #70 vào lúc: Tháng Ba 04, 2011, 08:44:52 PM »

(tiếp theo)

是故阿難。汝今當知。見明之時。見非是明。見暗之時。見非是暗。見空之時。見非是空。見塞之時。見非是塞。四義成就。汝復應知見見之時。見非是見。見猶離見。見不能及。云何復說因緣自然及和合相。


VI. CHỈ THẲNG TÁNH THẤY


Kinh : “Cho nên, Anan, bây giờ ông nên biết rằng : Khi thấy sáng, cái thấy chẳng phải là sáng. Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là tối. Khi thấy không, cái Thấy chẳng phải là không. Khi thấy ngăn bít, cái thấy chẳng phải là ngăn bít. Bốn nghĩa đó đã thành rồi, ông lại nên biết: khi Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tánh Thấy. Cái Thấy mà do lìa tướng Thấy, đó là Tánh Thấy Siêu Việt (Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập).

“Vậy thì làm sao lại nói các tướng Nhân Duyên, Tự Nhiên hay Hòa Hợp ?”


通曰。此世尊顯出第一義諦。所謂妙菩提路也。見與見緣。具五種義。明暗空色為四種見緣。見精為一種見妄。世尊於此分擇見精。非前明暗空色之相。以四義推之。成就見精離塵而有。即於此分擇真見照了見精。非見精所及。此第一月也。故以見精為妄。嗚呼。見猶離見。何處有影響氣息。乃從而描摸之。曰因緣。曰自然。曰和合。豈不妄哉。百丈問僧見否。曰見。丈曰。見後如何。曰見無二。丈曰。既云見無二。不以見見於見。若見更見。為前見是。為後見是。如雲見見之時。見非是見。見猶離見。見不能及。所以不行見法。不行聞法。不行覺法。諸佛疾與授記。又寶積經云。法身不可以見聞覺知求。非肉眼所見。以無色故。非天眼所見。以無妄故。非慧眼所見。以離相故。非法眼所見。以離諸行故。非佛眼所見。以離諸識故。若不作如是見。是名佛見。昔紹隆禪師初謁長蘆。得其大略。有傳圓悟語至者。隆讀之。嘆曰。想酢生液。雖未洗腸沃胃。要且使人慶快。恨未領謦欬耳。遂由寶峰依湛堂。客黃龍。叩死心。次謁圓悟。一日入室次。悟問曰。見見之時。見非是見。見猶離見。見不能及。舉拳曰。還見麼。隆曰見。悟曰。頭上安頭。隆聞。脫然契證。悟叱曰。見個甚麼。隆曰。竹密不妨流水過。悟肯之。俾掌藏教。有問悟曰。隆藏主柔易若此。何能為哉。悟曰。瞌睡虎耳。德山涓禪師上堂。見見之時。見非是見。見猶離見。見不能及。遂喝曰。鯨吞海水盡。露出珊瑚枝。眾中忽有個衲僧出來道。長老休寱語。卻許伊具一隻眼。古人於此章句。往往因指見月。一粒仙丹。點化凡骨。大不容易。


*Giải nghĩa rộng ra:-  : Chỗ này Đức Thế Tôn hiển bày Đệ Nhất Nghĩa Đế, cái gọi là Con Đường Bồ Đề Nhiệm Mầu.

Kiến và Kiến Duyên đủ năm thứ nghĩa : Sáng, Tối, Hư Không, Ngăn Bít là bốn thứ; Kiến Duyên và Kiến Tinh (cái Thấy) là một thứ Vọng Kiến. Thế Tôn ở chỗ này mà lựa ra cái Kiến Tinh chẳng phải là bốn thứ Sáng, Tối, Không, Bít. Lấy bốn nghĩa này suy ra để rõ được cái Thấy lìa duyên trần mà vẫn tự có. Ngay ở đây lại lựa ra cái Chơn Kiến (Tánh Thấy) soi rõ Kiến Tinh, là cái mà cái Thấy không thể bì kịp. Đây chính là mặt trăng thứ nhất, cho nên cái Thấy vẫn còn là vọng. A ha ! Cái Chơn Kiến còn lìa cả mọi tướng thấy thì chỗ nào có hơi thở, bóng dáng gì để theo đó mà mô phỏng ra nó ? Nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên, nói Hòa Hiệp, há chẳng là hư vọng ư ?

Tổ Bá Trượng hỏi vị tăng : “Thấy không ?”

Đáp : “Dạ, thấy”.

Tổ Trượng rằng : “Sau khi thấy thì như thế nào?”

Đáp : “Thấy chẳng có hai”.

Tổ Trượng nói : “Đã nói là thấy thì không hai, tức là không lấy cái Thấy mà thấy nơi Cái Vốn Thấy. Nếu Cái Vốn Thấy mà trở lại thấy, thì cái Thấy trước là đúng hay cái Thấy sau là đúng ?

 Như nói, “Khi Thấy mà còn có tướng Thấy, đó chẳng phải là Chơn Kiến. Thấy mà do lìa tất cả tướng Thấy, cái Thấy ấy là Siêu Việt( ct) Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập.)”.

Bởi thế, chẳng hành cái Pháp Thấy, chẳng hành cái Pháp Nghe, chẳng hành cái Pháp Giác Ngộ, thì Chư Phật liền thọ ký”.

Lại nữa, kinh Bảo Tích nói : “Pháp Thân chẳng có thể lấy Thấy, Nghe, Hay, Biết mà tìm cầu. Chẳng phải là chỗ thấy của con mắt thịt, vì là không có Sắc. Chẳng phải là chỗ thấy của Thiên Nhãn vì không Hư Vọng. Chẳng phải chỗ thấy của Huệ Nhãn, vì lìa hình tướng. Chẳng phải chỗ thấy của Pháp Nhãn, vì lìa các Hành. Chẳng phải là chỗ thấy của Phật Nhãn, vì lìa hết thảy Thức. Nếu chẳng tạo ra các thứ Thấy như vậy, thì gọi đó là cái Thấy của Phật”.

Xưa, thiền sư Thiệu Long ban đầu ra mắt Tổ Trường Lô, được chỗ đại lược. Nhân có người đưa đến bộ Ngữ Lục của Ngài Viên Ngộ, sư đọc mà than rằng : “Nghĩ đến chua thì chảy nước miếng. Tuy chưa rửa sạch gan ruột, đã khiến người được vui sướng. Chỉ hận là chưa được giáp mặt chuyện trò”.

Bèn từ giả Ngài Trường Lô mà qua chỗ Ngài Trạm Đường. Trước làm khách của Ngài Hoàng Long, hỏi Tổ Tử Tâm; kế đó tham yết Ngài Viên Ngộ.

Một hôm, đang nhập thất thì Ngài Viên Ngộ nói: “Khi thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy ấy không phải là cái Thấy Chân Thật. Thấy do lìa tướng Thấy, cái Thấy ấy siêu việt”.

Rồi đưa tay lên mà nói : “Thấy không ?”

Sư Long nói : “Thấy”.

Tổ Viên Ngộ nói : “Trên đầu để thêm cái đầu !”

Sư Long nghe thì tức thời khế ngộ.

Tổ Viên Ngộ quát nạt rằng : “Thấy cái gì ?”

Thiệu Long đáp : “Tre dày chẳng ngại nước chảy qua”.

Tổ Viên Ngộ chấp nhận, khiến trông coi chỗ cất kinh.

Có người hỏi Ngài Viên Ngộ : “Thiệu Long yếu như thế, sao làm nổi ?”

Ngài đáp : “Con cọp ngủ đó !”


Thiền sư Đức Sơn Quyên thượng đường dạy rằng: “Khi thấy mà có tướng Thấy, đó chẳng phải là Chơn Kiến. Thấy do lìa tướng Thấy, đó là cái Thấy siêu việt”.

Rồi hét lên rằng : “Cá kình uống hết biển, lộ ra nhánh san hô”.

Trong đại chúng bỗng có ông tăng bước ra, nói : “Trưởng Lão thôi đừng nói chiêm bao, mới hứa cho y đủ một con mắt lẻ”.

Người xưa ở nơi câu này (“Kiến kiến chi thời,...”) đều nhờ ngón tay mà thấy mặt trăng. Một hột thuốc Tiên biến đổi cốt phàm, quả chẳng dễ dàng !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, SCC, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, 8N, Yahoo, dieunha
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #71 vào lúc: Tháng Ba 04, 2011, 08:49:31 PM »

(tiếp theo)

汝等聲聞。狹劣無識。不能通達清淨實相。吾今誨汝。當善思惟。無得疲怠妙菩提路。


Kinh : “Hàng Thanh Văn các ông hẹp hòi không biết, chẳng có thể thông đạt Thật Tướng thanh tịnh. Nay ta khuyên dạy ông hãy khéo tư duy, chớ nên trễ nải trên đường Bồ Đề Mầu Nhiệm”.


通曰。清淨實相。人人具足。何故聲聞不能通達。以有執著故。執著意識。處處能緣。唯不能緣於般若。故世尊愍之。令善思惟。當於見而離見。證妙菩提。則非見之所及也。夾山云。目前無法。意在目前。不是目前法。非耳目之所到。妙契乎此。天童拈云。夾山老子。解開布袋頭。將差珍異寶。撒向諸人面前也。正當恁麼時。作麼生路不拾遺。君子稱美。只如這般好話頭。尚不許留於胸次間。正是見猶離見實詣處。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái Thật Tướng thanh tịnh ai ai cũng sẵn đủ. Vậy tại sao hàng Thanh Văn chẳng có thể thông đạt ? Bởi vì chấp trước vậy. Cái ý thức chấp trước, chốn chốn đều thọ duyên theo. Chỉ có cái là không thể duyên với Bát Nhã. Nên Đức Thế Tôn thương xót, khuyên hãy khéo tư duy. Phải ở nơi Thấy mà lìa thấy, chứng Diệu Bồ Đề. Đó tức là chỗ chẳng phải cái Thấy đến được vậy.

Tổ Giáp Sơn nói : “Trước mắt không có pháp. Trước mắt là ý, chẳng phải trước mắt là pháp. Đó chẳng phải là chỗ tai, mắt đến được. Diệu khế chỗ này”.

Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng : “Cái lão Giáp Sơn mở banh cái bao bố, đem đồ châu báu thảy ra trước mặt các ông. Chính ngay khi đó thì làm sao đây ? Trên đường chẳng lượm của rơi, người quân tử mới khen là tốt đẹp”.

Ngay cái thoại đầu tuyệt diệu thế này mà còn chẳng cho giữ lại trong ngực, Thật là đến chỗ của Kiến do lìa kiến vậy.

阿難白佛言。世尊。如佛世尊為我等輩。宣說因緣。及與自然。諸和合相。與不和合。心猶未開。而今更聞見見非見。重增迷悶。伏願宏慈。施大慧目。開示我等覺心明淨。作是語已。悲淚頂禮。承受聖旨。爾時世尊憐愍阿難及諸大眾。將欲敷演大陀羅尼。(此云總持)諸三摩提(此云正受)妙修行路。告阿難言。汝雖強記。但益多聞。於奢摩他微密觀照。心猶未了。汝今諦聽。吾當為汝分別開示。亦令將來諸有漏者。獲菩提果。


MỤC NĂM :

CHỈ RA CÁI VỌNG THẤY

I. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY

Kinh : Ông Anan bạch Phật rằng : “Thưa Thế Tôn, như Đức Thế Tôn vì chúng tôi mà chỉ dạy về Nhân Duyên, Tự Nhiên, các tướng Hòa Hợp và Chẳng Hòa Hợp, tâm tôi còn chưa khai ngộ. Nay lại nghe Phật dạy : Tánh Thấy chẳng do thấy, thì lại càng thêm mê muội.

“Cúi mong Phật thương xót, bố thí cho con mắt Đại Huệ, chỉ bày cho chúng tôi cái Giác Tâm sáng sạch”.

Nói vậy xong, khóc lóc cúi lạy, vâng nghe lời dạy.

Khi ấy, Thế Tôn thương xót Ông Anan và cả đại chúng, sắp muốn hiển bày pháp Đại Tổng Trì (Đà La Ni), các Tam Ma Đề là Con Đường Vi Diệu của sự tu hành, nên mới bảo Ông Anan rằng : “Ông tuy có trí nhớ mạnh mẽ, nhưng chỉ thêm phần đa văn, chứ nơi pháp Xa Ma Tha quán chiếu vi mật, tâm còn chưa rõ. Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt chỉ bày, cũng là khiến cho những kẻ hữu lậu mai sau được quả Bồ Đề”.


通曰。寂而常照。故能照了見精是妄。照而常寂。故知見非是見。此非平日三觀圓融。未易了此。石門蘊輝師。在青林作園頭。一日侍立次。林曰。子今日作甚麼來。曰種菜來。林曰遍界是佛身。子向甚處種。對曰。金鋤不動土。靈苗在處生。林欣然。來日入園。喚蘊阇黎。蘊應諾。林曰剩栽無影樹。留與後人看。蘊曰。若是無影樹豈受栽耶。林曰。不受栽且止。你曾見他枝葉麼。曰不曾見。林曰。既不曾見。爭知不受栽。曰秪為不曾見。所以不受栽。林曰如是如是。若悟得見猶離見。則一切因緣自然和合因見而立者。從何而生哉。智炬禪師。初問先曹山曰。古人提持那邊人。學人如何體悉。山曰。退步就己。萬不失一。炬於言下頓忘玄解。乃辭去。遍參至三祖。因看經次。僧問禪僧心。不掛元字腳。何得多學。炬曰。文字性異。法法體空。迷則句句瘡疣。悟則文文般若。苟無取捨。何害圓伊。故多聞強記。若智炬者可也。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Tịch mà thường Chiếu, cho nên có thể soi rõ Kiến Tinh (cái Thấy) là hư vọng. Chiếu mà thường Tịch cho nên biết : “Tánh Thấy chẳng phải là cái thấy (Kiến phi thị kiến)”. Chỗ này mà hàng ngày chẳng viên dung ba Pháp Quán  -(ct) Không, Giả và Trung. ) thì chưa dễ hiểu nổi.

Sư Thạch Môn Uẩn Huy làm vườn ở chỗ Tổ Thanh Lâm.

Một ngày kia đang đứng hầu, Tổ nói : “Hôm nay ông làm gì ?”

Đáp : “Trồng rau”.

Tổ Lâm nói : “Khắp pháp giới, đó là thân Phật, ông hướng chỗ nào trồng”.

Sư đáp : “Cày vàng chẳng động đất, mầm linh tại chỗ sanh”.

Tổ Lâm hân hoan.

Hôm sau, Tổ Thanh Lâm vào vườn, gọi : “Uẩn Xà Lê !”

Sư Uẩn lên tiếng : “Dạ”.

Tổ Lâm rằng : “Trồng thêm cây không ảnh, để lại cho người sau xem”.

Sư Uẩn nói : “Nếu là cây không ảnh, há để chịu trồng ư ?”

Tổ Lâm nói : “Không chịu trồng thì để đó ! Ông từng thấy nhánh lá nó không ?”

Đáp : “Chẳng từng thấy”.

Tổ Lâm : “Đã chẳng từng thấy, sao biết nó chẳng chịu trồng ?”

Đáp : “Chỉ vì nó chẳng từng thấy, cho nên nó chẳng chịu trồng”.

Tổ Lâm rằng : “Đúng vậy, đúng vậy”.


Nếu ngộ được Tánh Thấy lìa mọi Tướng Thấy, thì tất cả Nhân Duyên, Tự Nhiên, Hòa Hợp do cái Thấy lập ra từ đâu mà sanh khởi ?

Thiền sư Trí Cự ban đầu hỏi Tổ Tiên Tào Sơn rằng : “Người xưa nâng giữ cho người bên ngoài mé, kẻ học nhân này làm sao lãnh hội ?”

Tổ Sơn đáp : “Lui bước liền tựu thành mình, muôn ngàn chẳng mất một !”

Thiền sư Trí Cự, ngay dưới lời, liền tiêu tan hết kiến giải, mới từ biệt đi. Sau đó, tham học khắp nơi.

Một hôm, đang xem kinh thì có vị sư hỏi : “Tâm của Thiền Tăng chẳng treo nhẫn đến một chữ cái, đâu thể học nhiều ?

Ngài đáp : “Văn tự thì khác nhau, muôn pháp thể vốn không. Mê thì câu câu đều là ghẻ lở. Ngộ thì lời lời đều là Bát Nhã. Ví không lấy, bỏ, nào hại Vẹn Tròn kia".



Cho nên nhớ nhiều, đa văn mà được như Ngài Trí Cự thì cái gì mà chẳng có thể ?



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, SCC, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, anhlam, 8N, Yahoo, dieunha
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #72 vào lúc: Tháng Ba 05, 2011, 08:14:30 PM »

(tiếp theo)

阿難。一切眾生。輪迴世間。由二顛倒分別見妄。當處發生。當業輪轉。云何二見。一者眾生別業妄見。二者眾生同分妄見。

II. CHỈ RA HAI THỨ VỌNG THẤY


Kinh : “Anan, tất cả chúng sanh luân hồi trong thế gian đều do hai cái Vọng Thấy điên đảo phân biệt. Ngay nơi Tâm Tánh mà phát sanh, ngay theo nghiệp mà xoay vần. Thế nào là hai cái Vọng Thấy ? Một là, cái Vọng Thấy Biệt Nghiệp của chúng sanh. Hai là, cái Vọng Thấy Đồng Phận của chúng sanh.


通曰。將明見精是妄。故以別業妄見。及同分妄見。分別開示。知別業之為妄。而同分之妄。可以例知。知同分之為妄。而見精之妄。可以例知。知見精之為妄。而見見者不妄。可以例知。悉此。則見非是見。可自洞然無疑矣。見聞覺知。同為虛妄顛倒。而獨詳辨於見者何。前云使汝流轉。心目為咎。故流逸奔色。惟見難制。阿難為摩登所惑。匪摩登能惑阿難。由阿難見妄為病耳。況此見妄流思。原屬生滅。而真見無還。湛然常住。故以盲人之見見色。則色無可好。以見暗之見見明。則見本非緣。直達見見之源。了知非見所及。又何流轉之咎哉。昔溈山問仰山。大地眾生。業識茫茫無本可據。子作麼生知他有之與無。仰曰。慧寂有驗處。時有一僧從面前過。仰召曰。阇黎。僧回首。仰曰。和尚。這個便是業識茫茫。無本可據。溈曰。此是師子一滴乳。迸散六斛驢乳。天童頌云。一喚回首識我不。依稀羅月又成鉤。千金之子才流落。漠漠窮途有許愁。即此一則。謂之別業妄見可也。又陳操尚書與僚屬登樓次。見數僧行來。有一官人曰。來者總是行腳僧。操曰不是。曰焉知不是。操曰待來勘過。須臾僧至樓前。操驀然喚上座。僧皆舉首。公謂諸官曰。不信道。官罔措。天童拈曰。陳尚書當面白拈。瞞長蘆一點不得。即此一則。謂之同分妄見可也。若其中有個漢。呼喚不回頭。當令仰山吐舌。陳操謝過。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Sắp nói rõ cái Kiến Tinh (cái Thấy) là hư vọng, nên dùng hai cái Vọng Kiến Biệt Nghiệp và Đồng Phận mà chỉ bày.

 Đã rõ Biệt Nghiệp là hư vọng thì cái hư vọng của Đồng Phận có thể suy ra vậy. Đã biết Đồng Phận là hư vọng, thì có thể suy ra cái hư vọng của Kiến Tinh. Biết Kiến Tinh là hư vọng thì rõ ngay Tánh Thấy chẳng hư vọng. Hiểu suốt chỗ này thì Tánh Thấy chẳng phải là cái Thấy, có thể tự suốt nhiên không nghi ngờ gì nữa.

Thấy, Nghe, Hay, Biết cũng cùng là hư vọng điên đảo, vậy sao chỉ biện rõ ở cái Thấy mà thôi ? Ở đoạn trước đã nói, “Khiến cho ông bị trôi lăn là lỗi ở tâm và con mắt”. Cho nên trôi nổi bôn ba theo sắc, chỉ có cái Thấy là khó trị nhất.
Ông Anan bị Cô Ma Đăng Già mê hoặc, đó chẳng phải Cô Ma Đăng Già mê hoặc Ông Anan, mà chính là do cái Vọng Thấy của Anan làm nên bệnh. Huống gì cái Vọng Thấy lưu chuyển này lại thuộc về sanh diệt, mà cái Thấy Chân Thật (Chơn Kiến) thì chẳng thể trả về đâu, lặng trong thường trụ.

Cho nên lấy cái Thấy của người mù mà thấy sắc, thì sắc chẳng đáng ưa ! Lấy cái Thấy của thấy tối mà thấy ánh sáng, tức là cái Thấy vốn chẳng có sáng, có tối. Đạt thẳng đến cái gốc nguồn của mọi cái Thấy, thì rõ suốt cái Tánh Thấy vốn không có cái Thấy nào đến được, thế thì còn đâu cái lầm lỗi trôi lăn ?

Xưa, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Chúng sanh trong đại địa, cái nghiệp thức mang mang, vốn không có gốc rễ, căn cứ. Ông làm sao biết kia có hay không có ?”

Ngưỡng Sơn đáp : “Huệ Tịch này có chỗ nghiệm xét”.

Khi ấy, có một vị tăng đi ngang trước mặt, Ngài Ngưỡng Sơn gọi : “Thầy Xà Lê !”

Vị tăng quay đầu lại.

Ngưỡng Sơn nói : “Thưa Hòa Thượng, cái này chính là nghiệp thức mang mang, không có gốc rễ, căn cứ”.

Tổ Quy Sơn nói : “Đây thật là một giọt sữa sư tử, làm tiêu sáu đấu sữa lừa !


Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Một gọi, quày đầu biết ta không ?
Lưới trăng thưa thớt lại thành cong
    (như móc câu)
Con quí ngàn vàng vừa lưu lạc
Mờ mịt đường cùng chắc thấy sầu”.

Một tắc này đây, gọi là Vọng Kiến Biệt Nghiệp thì được đó !



Ông Thượng Thơ Trần Tháo đang cùng những bạn đồng liêu ở trên lầu thì thấy có vài nhà sư đi tới.
Có một vị quan nói : “Những người đi tới đó đều là tăng hành cước”.

Trần Tháo nói : “Chẳng phải đâu”.

Vị quan nói rằng : “Sao biết chẳng phải ?”

Tháo nói : “Chờ tới rồi thẩm nghiệm xem”.

Chốc lát, các vị sư đi tới trước lầu. Ông Tháo đột nhiên kêu lớn : “Thượng Tọa !”

Các nhà sư đều ngẩng đầu lên.

Ông liền nói với các vị quan rằng : “Chẳng tin đạo”.

Các quan ngơ ngác.

Ngài Thiên Đồng nêu lên rằng : “Trần Thượng Thơ ngay mặt mà nêu rõ, dối Ngài Trường Lô một điểm chẳng được !”

Tức một tắc này, gọi là Vọng Kiến Đồng Phận thì được lắm ! Nhưng nếu trong các vị sư, có vị khi nghe la mà chẳng quay đầu, ắt khiến Ngài Ngưỡng Sơn phải nhổ lưỡi ra và Ông Trần Tháo phải xin lỗi đấy.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, 8N, Yahoo, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #73 vào lúc: Tháng Ba 05, 2011, 08:18:12 PM »

(tiếp theo)

云何名為別業妄見。阿難。如世間人。目有赤眚。夜見燈光別有圓影。五色重疊。於意云何。此夜燈明所現圓光。為是燈色。為當見色。阿難。此若燈色。則非眚人。何不同見。而此圓影。唯眚之觀。若是見色。見已成色。則彼眚人見圓影者。名為何等。複次阿難。若此圓影。離燈別有。則合傍觀屏帳幾筵。有圓影出。離見別有。應非眼矚。云何眚人目見圓影。是故當知色實在燈。見病為影。影見俱眚。見眚非病。終不應言是燈是見。於是中有非燈非見。如第二月。非體非影。何以故。第二之觀。捏所成故。諸有智者。不應說言此捏根元。是形非形。離見非見。此亦如是。目眚所成。今欲名誰是燈是見。何況分別非燈非見。



Kinh : “Thế nào là Vọng Kiến Biệt Nghiệp?

“Anan, như người thế gian con mắt bị nhặm đỏ thì ban đêm nhìn ngọn đèn thấy có riêng một bóng tròn năm màu bao phủ. Ý ông thế nào? Cái bóng sáng tròn hiện ra nơi ngọn đèn đó là sắc của ngọn đèn hay sắc của cái Thấy ?
“Anan, nếu như đó là cái sắc của ngọn đèn thì sao những người không nhặm mắt lại không có thấy, mà chỉ có người nhặm mắt mới thấy cái bóng tròn ? Nếu đó là sắc của cái Thấy thì cái Thấy đã thành sắc rồi, vậy người nhặm mắt thấy bóng tròn kia gọi là cái gì ?

“Lại nữa, Anan, nếu cái bóng tròn ấy rời đèn mà riêng có, thì lẽ ra các bức bình phong, màn, bàn, ghế, cũng phải có bóng tròn. Còn nếu rời cái Thấy mà riêng có, thì lẽ ra không thể thấy được, cớ sao người nhặm mắt lại thấy cái bóng tròn ấy ?

“Vậy nên biết rằng : Sắc thật ở nơi đèn, cái Thấy bị bệnh làm ra có bóng tròn. Cái bóng tròn và cái thấy có bóng tròn đều là bệnh nhặm. Cái Thấy Được Bệnh Nhặm thì vốn chẳng phải là bệnh.

“Rốt cuộc, không nên nói rằng cái bóng tròn ấy là ngọn đèn hay là cái Thấy, vì ở trong đó, cái bóng tròn không phải từ ngọn đèn, cũng không phải từ cái Thấy. Cũng như mặt trăng thứ hai, chẳng phải mặt trăng thật, cũng chẳng phải là cái bóng của mặt trăng. Tại sao thế ? Bởi thấy cái mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà có. Cho nên những người Trí không nên đi tìm cái căn nguyên của mặt trăng do dụi mắt mà thành là hình tướng hay chẳng phải hình tướng, là lìa cái Thấy hay chẳng phải cái Thấy. Bóng tròn cũng như thế : nó do nhặm mắt mà thành. Muốn gọi cái gì là ngọn đèn hay cái gì là cái Thấy cũng còn chẳng được, huống hồ phân biệt cái bóng tròn là không phải ngọn đèn hay không phải là cái Thấy ?


通曰。將明見非是見。故以目眚為喻。目眚見病。故妄見圓影。彼無眚者。即不見有圓影。是眚為病。而見眚者未嘗病也。以例見精是妄。故妄見心境。彼無妄者。即不見有心境。是見為妄。而見見者未嘗妄也。若於妄見心境。重起因緣自然是非之見。譬猶於眚見圓影。而窮其生出之根元也。以為是燈是見。謂圓影由燈見而有。即因緣義。以為非燈非見。謂圓影離燈見而有。即自然義。既非因緣。又非自然。但目眚所成耳。此眚見圓影。與捏見二月。同一見病。若根究此月生處是形是見。又謂之曰離形離見。不足以言智。乃於圓影名為是燈是見。又從分別非燈非見。其可以為智乎。即此二者。明知是妄。推求因緣自然之義。尚不可得。何況本覺明心。非眚非捏。原無圓影二月之相。何處安立因緣自然之戲論乎。故以因緣自然和合而論見精者。猶之乎眚也。智者不應如此。故名為別業妄見。溈山嘗見野火。問道吾。還見火麼。吾曰見。山曰從何處起。吾曰。除去行住坐臥。請師別緻一問來。山休去。佛鑑拈云。炎炎野火。人人皆見。獨有道吾。見得迥別。又香林遠鋤草次。有一僧曰。看俗家失火。遠曰那裡火。僧曰不見那。遠曰不見。僧曰這瞎漢。是時一眾皆言遠上座敗闕。後明教寬聞舉。嘆曰。須是我遠兄始得。此見迥別。不離正位。與世間見精如病眚者。不可同日而語矣。又溈山問道吾。甚麼處去來。吾曰。看病來。山曰。有幾人病。吾云。有病者不病者。山云。不病者。莫是智頭陀麼。吾云。病與不病。總不干他事。速道速道。山云。道得也沒交涉。天童於沒交涉處頌云。妙藥何曾過口。神醫莫能捉手。若存也渠本非無。至虛也渠本非有。不滅而生。不亡而壽。全超威音之前。獨步劫空之後。成平也天蓋地擎。運轉也烏飛兔走。此則於真見中拔除病本。即病與不病且沒交涉。何況分別是眚非眚。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Sắp chỉ rõ rằng Tánh Thấy chẳng phải là cái Thấy, nên lấy mắt nhặm làm ví dụ. Cái thấy-bệnh của mắt nhặm thì vọng thấy có bóng tròn. Người không nhặm làm sao thấy có bóng tròn ? Nhặm mắt đó là bệnh, nhưng cái Thấy Được Bệnh Nhặm thì chưa từng bệnh vậy. Đó là để so sánh với cái Thấy (Kiến Tinh) là hư vọng, nên vọng thấy có Tâm Cảnh.

Cái Tánh Thấy thì không hư vọng, nên không thấy có Tâm Cảnh. Vậy thì cái Thấy là hư vọng chứ Tánh Thấy chưa từng hư vọng vậy. Nếu ở nơi chỗ vọng thấy có Tâm Cảnh lại sanh khởi thêm cái thấy về Nhân Duyên, Tự Nhiên, Thị Phi thì cũng giống như người nhặm mắt thấy cái bóng tròn rồi truy tìm cái căn nguyên phát sanh của nó !
Cho cái bóng lòa ấy là ngọn đèn, là cái Thấy tức nói cái bóng tròn do ngọn đèn, do cái Thấy mà có : đó là nghĩa Nhân Duyên.

Cho cái bóng lòa ấy chẳng phải ngọn đèn hay cái Thấy, là nói cái bóng tròn lìa ngọn đèn, lìa cái Thấy mà riêng có : đó là nghĩa Tự Nhiên.

Đã chẳng phải là Nhân Duyên, lại chẳng phải là Tự Nhiên, thời chỉ do mắt nhặm mà thành có bóng tròn vậy.
Cái nhặm mắt thấy có bóng tròn, và cái dụi mắt thấy mặt trăng thứ hai, đồng là một cái bệnh-thấy. Nếu suy xét cái chỗ phát sinh của mặt trăng thứ hai này là hình tướng hay là cái Thấy, lìa hình tướng hay lìa cái Thấy thì quả là mê muội thay ! Cũng như nói cái bóng tròn là ngọn đèn, là cái Thấy, hay chẳng phải ngọn đèn, chẳng phải cái Thấy, thì gọi là người Trí được sao ?

Ở hai trường hợp này, biết rõ là hư vọng, suy cứu cái nghĩa Nhân Duyên, Tự Nhiên còn không thể được huống gì trong cái Bổn Giác Minh Tâm chẳng phải là nhặm mắt hay dụi mắt các thứ, vốn không có tướng tròn hay mặt trăng thứ hai thì ở chỗ nào mà vọng lập ba thứ hý luận Nhân Duyên, Tự Nhiên !

Cho nên, lấy Nhân Duyên, Tự Nhiên, Hòa Hợp mà luận về cái Thấy, cũng còn trong bệnh nhặm mắt vậy thôi, người Trí không thế, vì đó là Biệt Nghiệp Vọng Kiến.

Tổ Quy Sơn thấy lửa đồng  -(ct) Dã hỏa. ), hỏi Ngài Đạo Ngô : “Có thấy lửa không ?”

Đạo Ngô nói : “Dạ, thấy”.

Tổ Sơn : “Từ đâu khởi ra ?”

Đạo Ngô : “Dẹp hết sự đi, đứng, nằm, ngồi xin thầy riêng đưa một câu hỏi xem ?”

Tổ Quy làm thinh.


Tổ Phật Giám nêu ra rằng :

Rực rực lửa đồng
Người người đều thấy
Chỉ có Đạo Ngô
Thấy ra khắc hẳn.

Tổ Hương Lâm Viễn đang giãy cỏ, có vị tăng hỏi: “Hãy xem nhà người đời mất lửa”.

Tổ Viễn nói rằng : “Lửa trong chỗ nào ?”

Vị tăng nói : “Chẳng có thấy sao ?”

Tổ Viễn nói rằng : “Chẳng thấy”.

Vị tăng nói : “Cái lão già mù này”.

Khi ấy, chúng đều nói : “Viễn Thượng Tọa thua rồi !”

Sau Ngài Minh Giáo Khoan nghe chuyện, than rằng : “Phải là huynh Viễn ta mới được”.


Cái Thấy này xa khác lắm thay, chẳng rời Chánh Vị  -(ct) Tự Tâm thường trụ. ). Với cái Kiến Tinh của thế gian giống như bệnh nhặm mắt, làm sao sánh được ?


Lại Tổ Quy Sơn, hỏi Ngài Đạo Ngô : “Đi đâu về đó ?”

Ngài Đạo Ngô đáp : “Thăm bệnh về”.

Tổ Sơn : “Bao nhiêu người bệnh ?”

Đáp : “Có người bệnh, có người không bệnh”.

Tổ Sơn : “Người không bệnh có phải là Trí Đầu Đà ?”

Tổ Ngô nói : “Nói được cũng chẳng ăn nhằm gì”.

Tổ Thiên Đồng ở chỗ “Chẳng ăn nhằm  -(ct) Giao thiệp. ) gì”, tụng rằng :


“Thuốc diệu nào từng qua miệng
Thần y không thể cầm tay
Nhược Tồn  -(ct) Nhược Tồn : nếu còn.. ) nó vốn chẳng phải Không
Chí Hư  -(ct) Chí Hư : rỗng không.. ) nó vốn chẳng phải Có
Chẳng Diệt mà sanh, chẳng mất mà thọ
Siêu hết trước Phật Oai Âm
Một mình bước sau Không Kiếp
An bình thì trời che đất chở
Vận chuyển thì thỏ chạy quạ bay”.


(Diệu dược hà tằng quá khẩu
Thần y mạc năng trốc thủ
Nhược Tồn dã cừ bổn phi vô
Chí Hư dã cừ bổn phi hữu
Bất Diệt nhi sanh, bất vong nhi thọ
Toàn siêu Oai Âm chi tiền
Độc bộ Kiếp Không chi hậu
Thành bình dã thiên cái địa kình
Vận chuyển dã ô phi thố tẩu)

Tắc này ở trong Chân Kiến mà nhổ sạch gốc bệnh. Bệnh với không bệnh cũng chẳng có liên quan gì, huống là phân biệt nhặm với chẳng nhặm !



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, 8N, Yahoo, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #74 vào lúc: Tháng Ba 05, 2011, 08:21:23 PM »

(tiếp theo)

云何名為同分妄見。阿難。此閻浮提。除大海水。中間平陸有三千洲。正中大洲。東西括量。大國凡有二千三百。其餘小洲在諸海中。其間或有三兩百國。或一或二。至於三十四十五十。阿難。若復此中有一小洲。祗有兩國。唯一國人同感惡緣。則彼小洲當土眾生。睹諸一切不祥境界。或見二日。或見兩月。其中乃至暈適佩玦。彗孛飛流。負耳虹霓。種種惡相。但此國見。彼國眾生。本所不見。亦復不聞。


Kinh : “Thế nào là Vọng Kiến Đồng Phận ?

“Anan, cõi Diêm Phù Đề này, ngoài nước biển cả ra, trong đó đất liền có ba ngàn châu. Châu lớn chính giữa, bao quát từ Đông sang Tây có đến hai ngàn ba trăm nước lớn. Còn các châu nhỏ khác ở trong các biển, trong đó có châu đến hai trăm, ba trăm nước hoặc có mười, hai mươi cho đến ba mươi, bốn mươi, năm mươi nước.

“Anan, nếu ở trong đó có một châu nhỏ chỉ có hai nước mà riêng người trong một nước đồng cảm ác duyên, thì chúng sanh trong nước đó thấy tất cả những cảnh giới không tốt. Hoặc thấy hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng, cho đến thấy nhiều ác tướng khác như Vựng, Thích, Bội, Quyết, Tuệ, Bột, Phi, Lưu, Phụ Nhĩ, Hồng Nghê. Chỉ nước đó thấy, còn chúng sanh nước bên kia thì không thấy mà cũng không nghe.


合論曰。暈氣環日也。適所謂適見於日月之災。佩玦近日氣狀如之。彗所謂掃星。偏指曰彗。芒氣四出曰孛。飛星自下而升者。流星自上而降者。負氣背日如負者。耳氣旁日如耳者。虹霓。螮蝀也。明者虹。暗者霓。春秋傳曰。魯哀公六年。楚有云如赤烏。夾日以飛。三日。楚子使問諸周太史。史曰。其當王身乎。杜預注曰。日為人君。妖氣守之。故以為王身。云在楚上。唯楚見之。故禍不及他國。又魯昭公二十六年冬十一月。齊有彗星。齊候使禳之。晏子曰。無益也。祗取誣焉。天道不慆。不貳其命。若之何禳。且天道之有彗也。以除穢也。君無穢德。又何禳焉。若德之穢。禳之何損。杜預注曰。出齊之分野也。不書。魯不見。以是驗有一小洲。秪有兩國。唯一國人同感惡緣。則彼小洲當土眾生。睹諸一切不祥境界明矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Bộ Hiệp Luận nói “Vựng là khí chung quanh mặt trời. Thích là điều xấu ở mặt trời, mặt trăng. Bội, Quyết : khí xấu gần mặt trời. Tuệ là sao chổi. Bột : một loại sao chổi. Phi là phi tinh, một loại sao từ dưới bay lên. Lưu là lưu tinh, một loại sao từ trên rơi xuống. Phụ là phụ khí, khí giống như cõng mặt trời. Nhĩ là nhĩ khí, khí bên cạnh mặt trời như cái tai. Hồng Nghê là cầu vồng, cái sáng gọi là Hồng, cái tối gọi là Nghê”.

Sách Xuân Thu Truyện chép : năm Thứ Sáu đời vua Ai Công, nước Sở có điềm mây như con quạ đỏ ôm lấy mặt trời mà bay trong ba ngày. Vua sai hỏi Châu Thái Sử, Thái Sử nói : “Ứng vào thân vua”. Ông Đỗ Dự bàn thêm : “Mặt trời là vua của con người, yêu khí ôm lấy thì ứng vào vua. Chỉ có nước Sở thấy, thì vua nước khác không hề gì !”


Đời Lỗ Châu Công, năm Thứ Hai Mươi Sáu, tháng Một  -(ct) Mười Một. ) nước Tề có sao chổi. Tề Hầu sai cầu đảo.
Ông Án Tử thưa : “Vô ích, làm vậy là mê tín. Đạo trời chẳng thay đổi, đâu có hai mệnh thì cầu đảo làm gì ? Đạo trời có sao chổi là để trừ uế khí. Nếu vua không có uế đức thì cầu đảo làm gì ? Còn nếu có uế đức thì cầu đảo sao được ?”
Ông Đỗ Dự bàn thêm : “Chỉ có nước Tề thấy, nước Lỗ không thấy”.

Hai đoạn trên để nghiệm câu trong kinh : “Có một châu chỉ có hai nước, mà riêng người trong một nước đồng cảm ác duyên thì chúng sanh trong nước đó thấy những cảnh giới không tốt”. Thật rõ ràng vậy.

通曰。惡緣之感。有定業。有不定業。定業決不可逃。不定者未始不可移也。如二十三祖鶴勒那尊者。預知二十四祖師子尊者有難。一日忽指東北問曰是何氣象。師子曰。我見氣如白虹。貫乎天地。復有黑氣五道。橫亙其中。祖曰。其兆云何。曰莫可知矣。祖曰。吾滅後五十年。北天竺國。當有難起。嬰在汝身。後師子尊者果為罽賓國王所殺。王之右臂旋亦墮地。七日而終。太子光首嘆曰。我父何故自取其禍。時有像白山仙人。深明因果。即為光首廣宣夙因。解其疑網。此所謂定業決不可逃者也。宋景公時。熒惑在心。懼。召子韋而問焉。子韋曰。熒惑天罰也。心宋分野也。禍當君身。雖然。可移於宰相。公曰。宰相所使治國也。而移死焉。不祥。寡人請自當也。子韋曰。可移於民。公曰。民死。將誰君乎。寧獨死耳。子韋曰。可移於歲。公曰。歲飢。民飢必死。為人君欲殺其民以自活。其誰以我為君乎。是寡人之命固盡矣。子無復言矣。子韋還走。北面再拜。曰臣敢賀君。天之處高而聽卑。君有仁人之言三。天必三賞君。今夕星必徙舍。君延壽二十一歲。公曰。子何以知之。對曰。君有三善。故三賞。星必三舍。舍行七星。星當一年。三七二十一。故曰延壽二十一年。臣請伏於陛下以伺之。星不徙。臣請死之。公曰可。是夕也。星三徙舍。如子韋言。此所謂不定之業猶可轉移者也。要之定業不定業。於自性何加損。猶之乎幻也。執幻而以為實者。是為妄見而已矣。

Cảm ứng ác duyên có định nghiệp và bất định nghiệp. Định nghiệp thì không thể tránh. Bất định nghiệp thì có thể thay đổi.

Ví dụ, như Tổ đời Hai Mươi Ba, là Ngài Hạc Lặc Na  -(ct) Haklena. Lặc Na : âm tiếng Phạn. Hạc : âm tiếng Hán; tôn giả sau khi sanh ra, có bầy hạc cảm mến bay theo nên gọi vậy. ) tôn giả, biết trước vị Tổ đời Hai Mươi Bốn là Sư Tử tôn giả sẽ gặp nạn. Một hôm, bỗng nhiên Tổ chỉ về hướng Đông Bắc, hỏi rằng : “Đó là khí tượng gì ?”

Tổ Sư Tử thưa : “Tôi thấy khí như cái mống trắng khắp cả trời đất, lại có năm luồng hắc khí chạy ngang trong đó”.

Tổ nói : “Điềm đó thế nào ?”

Ngài Sư Tử thưa : “Tôi không biết được”.

Tổ dạy : “Sau khi tôi mất năm mươi năm, nước Bắc Thiên Trúc sẽ có nạn nổi lên, chạm đến thân ông”.

Sau này, Ngài Sư Tử tôn giả quả bị vua nước Kết Tân giết. Cánh tay phải của vua tự nhiên rụng xuống đất, bảy ngày sau thì chết. Thái Tử Quang Thủ than rằng : “Vua cha ta cớ sao tự mình chiêu lấy tai họa”. Bấy giờ có vị Tiên núi Bạch Tượng rõ sâu nhân quả nên rộng nói cho Thái Tử nghe việc đời trước, mở thoát lưới ngờ. Đây là chỗ gọi là định nghiệp không thể tránh được vậy.

Vua Tống Cảnh Công bị sao Hỏa Tinh nên lo sợ, mời Ông Tử Vi vào hỏi.

Ông Tử Vi nói : “Bị sao Hỏa Tinh là điềm trời phạt, họa ứng vào thân bệ hạ, nhưng có thể dời qua quan Tể Tướng”.

Cảnh Công bảo : “Tể tướng để trụ nước, nếu dời qua mà chết thời không nên. Thôi, để quả nhân xin tự gánh chịu vậy”.

Ông Tử Vi nói : “Có thể dời qua nhân dân”.

Vua đáp : “Dân chết rồi thì làm vua với ai. Thôi, để trẫm chết một mình”.

Ông Tử Vi thưa : “Có thể dời vào năm”.

Vua đáp : “Năm đói kém thì dân chết đói. Làm vua mà muốn giết dân để tự mình sống thì còn ai xem ta là vua nữa. Âu cũng là mạng đã hết của quả nhân vậy. Khanh chẳng nên nhiều lời”.

Ông Tử Vi vội vàng quỳ xuống lạy mà tâu rằng : “Hạ thần xin chúc mừng bệ hạ. Trời ở trên cao mà nghe dưới thấp. Vua đã có được ba lần lời nói của người nhân, trời ắt thưởng vua ba lần. Đêm nay chắc sao sẽ dời chỗ, vua sống thêm hai mươi mốt năm”.

Cảnh Công nói : “Khanh làm sao biết ?”

Ông Tử Vi thưa : “Vua có ba điều thiện thì được thưởng ba lần, do đó sao dời ba lần. Mỗi lần bảy năm, ba lần là hai mươi mốt năm. Nên tuổi thọ dài thêm hai mươi mốt năm. Nếu sai, hạ thần xin chịu chết”.

Vua ưng chịu.

Đêm đó, sao dời ba lần như Ông Tử Vi đã nói. Đây là chỗ gọi là bất định nghiệp có thể chuyển dời vậy.

Tóm lại, định nghiệp và bất định nghiệp ở nơi Tự Tánh nào có thêm bớt, cũng là Như Huyễn. Chấp Huyễn mà cho là thật, thì chỉ vì vọng thấy vậy thôi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, dieunha, 8N, Yahoo, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 05, 2011, 08:24:00 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5] 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.217 seconds với 25 câu truy vấn.