Tháng Hai 28, 2020, 04:10:10 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG I-- 首楞嚴宗通經 1  (Đọc 15263 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 08:41:38 PM »

(tiếp theo)

PHẦN THỨ HAI : PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I

CHỈ BÀY CHÂN TÂM

佛告阿難。汝我同氣。情均天倫。當初發心。於我法中。見何勝相。頓舍世間深重恩愛。阿難白佛。我見如來三十二相。勝妙殊絕。形體映徹。猶如琉璃。常自思惟。此相非是欲愛所生。何以故。欲氣粗濁。腥臊交遘。膿血雜亂。不能發生勝淨妙明紫金光聚。是以渴仰從佛剃落。


MỤC MỘT :

GẠN HỎI CÁI TÂM

I- NGUYÊN DO CỦA THƯỜNG TRỤ VÀ LƯU CHUYỂN.

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Ông với Ta đồng phái, tình như anh em ruột. Khi ông mới phát tâm, thì ở trong Phật Pháp, thấy tướng tốt gì mà bỏ được những ân ái sâu nặng của thế gian?

Ông Anan bạch Phật : “Tôi thấy ba mươi hai tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly. Thường tự suy nghĩ : tướng ấy không thể do Dục Ái sanh ra. Vì sao ? Thứ dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sanh được thân vàng chói trong sạch sáng ngời như vậy, nên tôi khao khát ngưỡng mộ xuống tóc mà theo Phật”.


通曰。阿難賴有此思惟。為初發心張本。故遭幻術。不甚眩惑。雖入淫室。不毀戒體。但以三十二相觀如來。不免色見聲求。猶存邪解。於佛真法身。尚遙遠在。隨州法為禪師上堂。法身無相。不可以音聲求。妙道亡言。豈可以文字會。縱使超佛越祖。猶落階梯。直饒說妙談玄。終掛唇齒。須是功熏不犯。影跡不留。枯木寒岩。更無津潤。幻人木馬。情識皆空。方能垂手入廛。轉身異類。不見道無漏國中留不住。卻來煙塢臥寒沙。於此了了。豈必勝淨妙明。紫金光聚。而後乃稱如來哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan nhờ có cái suy nghĩ này làm gốc rễ cho tâm đạo ban đầu, nên khi gặp huyễn thuật, chẳng có quá đỗi hoa mắt mê loạn, dù đã vào nhà dâm mà chưa phá hủy Giới Thể. Nhưng chỉ lấy ba mươi hai tướng tốt mà thấy Như Lai, không khỏi dùng Sắc mà thấy, lấy Tiếng mà cầu, nên còn trong tà giải, đối với Chân Pháp Thân của Phật còn xa xôi lắm.

Thiền sư Tùy Châu Pháp Vi thượng đường  -(ct) Lên tòa thuyết pháp. ) rằng: “Cái Pháp Thân không có hình tướng, chẳng thể dùng âm thanh tìm cầu. Diệu đạo tuyệt hết lời nói, đâu phải lấy văn tự mà hiểu. Cho dù siêu Phật, vượt Tổ vẫn còn rơi vào thềm bực. Dù cho có nói diệu, bàn huyền rốt cuộc cũng treo môi răng. Cần phải : chỗ công đức chẳng hưởng chút công lao, hình ảnh vết tích chẳng còn lưu lại; cây khô hang lạnh  -(ct) Đây là lời nói ý của một vị Tổ trong tích Bà Tử Thiêu Am - một công án.

   Tích rằng : Xưa, có một người "bà tử" (bà goá) Cung cấp cho một vị am chủ trải qua hai mươi năm.

   Một ngày kia, sai đứa tớ gái hỏi : “Hiện nay như thế nào ?”.

   Am chủ đáp : “Cây khô héo dựa hang núi lạnh. Ba năm (mùa lạnh) Không hơi ấm (Khô mộc ỷ hàn nham. Tam đông vô noãn khí)”.

   Tớ gái về thuật lại y như vậy.

   Bà nói : “Ta hai mươi năm đã dâng cúng cho đứa phàm tục ấy”.

   Bèn bảo đuổi đi, rồi liền đốt cái am.


   Đây là lời muốn tỏ ý nên đạo rồi , mà bà góa ấy chưa cho là "rốt ráo" đó thôi. Rốt thảy vô tri; người huyễn ngựa gỗ, tình thức đều không. Chừng ấy mới thỏng tay vào chợ, chuyển thân loài khác. Không thấy đạo, thì : “Nơi đất vô lậu nào ở được. Đành về cát lạnh khói sương nằm””.

Đối với chỗ này tỏ hiểu thì nào phải đợi thấy cái thân vàng chói trong sạch mới gọi là Như Lai ư ?

  佛言。善哉阿難。汝等當知一切眾生。從無始來。生死相續。皆由不知常住真心。性淨明體。用諸妄想。此想不真。故有輪轉。


Kinh : Phật dạy : “Lành thay, Anan ! Các ông phải biết : tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối nhau, đều do không biết cái Chân Tâm Thường Trụ  -(ct) Hằng còn. ), Thể Tánh vốn trong sạch sáng suốt, mà lại dùng các Vọng Tưởng. Các tưởng này chẳng chân thật, nên mới có sự chuyển động trôi lăn.

通曰。阿難慇勤啟請十方如來得成菩提妙奢摩他三摩禪那最初方便。正欲識知常住真心性淨明體。不入輪轉一段大事。又云。此相非是欲愛所生。亦已備知欲愛腥臊。雜亂妄想。是無始以來生死根本。故佛嘆曰善哉。真心常住。原無生滅。瞥起妄想。故入輪迴。無論欲愛粗濁。惡業非真。即緣覺聲聞。執情未化。亦皆是妄。妄想淨盡。性體瑩徹。本自無生。又何輪轉之有。此一部經。無非發明此意。故知常住真心。即謂見性。見性則無事矣。靈云上堂云。諸仁者。所有長短。盡在不常。且觀四時草木。葉落華開。何況塵劫來。天人七越。地水火風。成壞輪轉。因果將盡。三惡道苦。毛髮不曾添減。唯根蒂神識常存。上根者。遇善友伸明。當處解脫。便是道場。中下痴愚。不能覺照。沉迷三界。流轉生死。釋尊為伊。天上人間。設教證明。顯發至道。汝等還會麼僧問如何得出離生老病死。云曰。青山原不動。浮云任去來。即此數語。可為此段經文註腳。添減一字不得。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan ân cần, tha thiết thưa hỏi Pháp Môn Vi Diệu Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na là những phương tiện ban đầu nhờ đó mười phương Như Lai đắc thành Chánh Giác. Chính là muốn biết cái Chân Tâm Thường Trụ, Tánh Thể trong sạch sáng suốt, là cái Bản Thể Bất Diệt không bị xoay chuyển luân hồi. Ông đã nói “Tướng ấy chẳng phải do Ái Dục sanh ra”, là đã hiểu rõ rằng Dục Ái nhơ nhớp, Vọng Tưởng tạp loạn chính là cái gốc rễ Sanh Tử từ vô thủy đến giờ.

Cho nên Phật mới khen rằng “Lành thay !” Cái Chân Tâm Thường Trụ, vốn không sanh ra và diệt mất. Vừa khởi vọng tưởng liền nhập luân hồi. Không phải chỉ có Dục Ái nặng nề, nghiệp dữ đa mang đều chẳng phải chơn, mà bậc Thanh Văn, Duyên Giác chưa hết lòng chấp trước thì cũng đều là Vọng. Vọng tưởng hết sạch thì Tánh Thể sáng suốt, vốn tự Vô Sanh, làm sao mà có luân chuyển.

Toàn cả bộ kinh đều phát minh ý chỉ này. Cho nên, biết cái Chân Tâm Thường Trụ, tức là Thấy Tánh, Thấy Tánh thì Vô Sự vậy.

Ngài Linh Vân  -(ct) Tổ Chí Cần thiền sư, đời Đường, ở núi Linh Vân. Ban đầu ở Ngụy Sơn, nhân thấy hoa đào mà tỏ ngộ đạo. ) thượng đường dạy : “Hỡi các nhân giả, hễ có dài có ngắn là chẳng có Thường. Hãy xem bốn mùa hoa cỏ, hoa nở lá rơi. Xưa nay trời người bảy nẻo, Đất Nước Gió Lửa, thành hoại chuyển vần, nhân quả nối nhau, ba đường ác khổ, mảy lông cọng tóc chưa từng thêm bớt, chỉ có cái gốc thần thức là thường còn.

Hạng Thượng Căn gặp bạn lành soi sáng, ngay đây là Giải Thoát, trước mắt là đạo tràng. Bực Trung, bực Hạ si mê ám độn, chẳng soi suốt được, mê chìm trong ba cõi, luân chuyển tử sinh. Đức Thích Tôn vì họ, tất cả Trời người, mà dạy dỗ chứng minh, tỏ bày con đường Vô Thượng. Các ông lại am hiểu chăng ?”

Có vị tăng hỏi : “Làm sao để ra khỏi Sanh Lão Bệnh Tử ?

Ngài đáp :

“Núi xanh nguyên chẳng động
Mặc tình mây qua lại”.

(Thanh sơn nguyên bất động
Phù vân nhậm khứ lai).

Câu này đủ để chú thích đoạn kinh trên. Không thể thêm bớt một chữ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, byphuong, ngodao, 8N, Ngoisaobiec, mavuong, laodongta, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 08:51:48 PM »

(tiếp theo)

汝今欲研無上菩提真發明性。應當直心酬我所問。十方如來同一道故。出離生死。皆以直心。心言直故。如是乃至終始地位。中間永無諸委曲相。


Kinh : “Nay ông muốn học đạo Bồ Đề Vô Thượng, phát minh Chơn Tánh thì phải lấy Tâm Ngay Thẳng (Trực Tâm) mà trả lời chỗ Ta hỏi. Mười phương Như Lai đồng một con đường mà ra khỏi Sanh Tử đều là bởi Tâm Ngay Thẳng. Tâm mà nói là Ngay Thẳng, tức là từ địa vị đầu tiên cho đến cuối cùng, suốt trong khoảng giữa, cứ như thế, một mực không có những tướng quanh co".

合論曰。於此特言真發明性。則亦有妄發明性乎。曰有之。曰何以辨之。曰任運遍知。本妙而常寂者。真發明性。所謂十方如來同一道故。出離生死。皆以直心。是也。違時失候。妄覺而強知者。妄發明性。所謂用諸妄想。此想不真。故有輪轉。是也。本一體也。以無性無時。故隨所用之有異耳。任運寂常而知。則合本妙。違時失候而覺。則合妄塵。馬鳴曰。本性清淨。無明不覺。染心相現。雖有染心。性常明潔。染心之相。即現行無明。明潔之性。即不動智體。有僧問云庵。雜華論稱現行無明。即是如來不動智。此實難信。如何得解。時有童子方掃地。云庵呼之。童子回首。云庵曰。非不動智乎。又問如何是汝佛性。童子左右視。惘然而去。云庵曰。非現行無明乎。真發明性。譬如明珠之光。常自照珠。孔子曰。思無邪。近之矣。妄發明性。譬如東方將旦。澄滓之間。已有精色。易曰。蒙雜而著。近之矣。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Hiệp Luận nói : “Ở đây, đặc biệt nói là Chân Phát Minh Tánh, vậy thì cũng có Vọng Phát Minh Tánh sao ? Có chứ. Làm sao để phân biệt ? Đáp : Vô tâm tùy mặc xoay vần mà khắp biết, vốn mầu nhiệm sáng soi mà hằng vắng lặng, ấy là Chân Phát Minh Tánh”.

Chỗ nói “Mười phương Như Lai đều cùng một đường mà ra khỏi Sanh Tử đều do Trực Tâm” là thế. Còn nghịch với thời tiết, bỏ lỡ nhân duyên, lấy vọng tưởng mà gắng gượng hiểu biết, là Vọng Phát Minh Tánh.

Chỗ nói “Dùng các vọng tưởng, vọng tưởng này chẳng chân thật nên có luân hồi” chính là thế. Vốn là một Thể, nhưng bởi vì không có tự tánh, không có thời gian, nên tùy chỗ dùng mà có sai khác đó thôi. Tùy mặc xoay vần, hằng hằng vắng lặng mà Hay Biết, ắt hợp với Bổn Tánh  -(ct) Cái đức tánh xưa nay có lâu rồi vậy. ) nhiệm mầu. Nghịch thời lỡ duyên mà Biết, ắt hợp với Trần Cảnh hư vọng.

Ngài Mã Minh  -(ct) Nhà Đại Thừa luận sư ra đời 600 năm sau khi Phật nhập tịch. Tên tiếng Phạn là Asvaghosa. Học trò của Hiếp trưởng lão. ) dạy : “Cái Bổn Tánh vốn trong sạch, bởi vì Vô Minh bất giác mà hiện ra tướng tâm ô nhiễm. Tuy có tâm ô nhiễm, Bổn Tánh vẫn thường sáng suốt trong sạch. Cái tướng của tâm ô nhiễm là vô minh đang hiện hành. Còn Bổn Tánh sáng sạch là cái Trí Thể Bất Động”.

Có vị tăng hỏi Tổ Vân Am : “Luận Tạp Hoa nói : Cái vô minh đang hiện hành tức là Như Lai Bất Động Trí. Điều này thật khó tin, làm sao hiểu được ?”

Khi ấy có một đồng tử đang quét đất.

Tổ Am bèn gọi. Đồng tử quay đầu lại.

Tổ Am nói : “Chẳng phải là Bất Động Trí đó sao ?”

Lại hỏi : “Cái Phật Tánh của ngươi như thế nào ?”

Đồng tử nhìn qua trái, qua phải, như không vậy rồi bỏ đi.

Tổ Am nói : “Chẳng phải là vô minh hiện hành đó sao ?”

Chân Phát Minh Tánh ấy, như ánh sáng của hạt minh châu, thường tự soi hạt châu.

 Đức Khổng Tử dạy “Không nghĩ quấy”, là cũng gần giống vậy. Còn Vọng Phát Minh Tánh thì ví như phương Đông trời sắp sáng, trong khoảng lờ mờ, có chút bóng sắc. Kinh Dịch nói “Chỗ mờ tối hỗn tạp mà sáng”, là gần giống vậy.

阿難。我今問汝。當汝發心。緣於如來三十二相。將何所見。誰為愛樂。

Kinh : “Anan, nay Ta hỏi ông : “Đương khi ông do ba mươi hai tướng của Như Lai mà phát tâm thì ông lấy cái gì mà thấy và cái gì ưa thích?”

通曰。此世尊循循第一誘也。世尊豈不知見者屬眼。愛者屬心。然有見者。有為之見者。有愛者。有為之愛者。故問誰為見。誰為愛。要阿難當下識取本來人耳。若能迴光返照。覓見了不可得。一切愛樂。原無根株。頓入首楞嚴定。豈不快哉。後來衲僧家多用此機。有僧問百丈。如何是佛。丈曰。汝是阿誰。曰某甲。丈曰。汝識某甲否。曰分明個。丈乃舉起拂子。曰汝還見否。曰見。丈乃不語。僧所問者佛。丈竟不語之佛只就他見處提撕。即此一則。渾然托得楞嚴樣子。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là chỗ từ từ dẫn dụ trước hết của Thế Tôn. Đức Thế Tôn há chẳng biết rằng “Sự Thấy thuộc về con mắt, ưa thích thuộc về cái tâm” hay sao ?

Nhưng cái “Thấy Có” đó, là cái Thấy về hình tướng hữu vi. Cái “Có chỗ ưa thích” ấy, là cái ưa về hình tướng hữu vi. Nên hỏi ai thấy, ai yêu, cốt để Anan ngay lúc ấy nhận ra và nắm lấy con người thực xưa nay của mình vậy. Nếu có thể hồi quang phản chiếu, tìm cầu cái Thấy ấy, chợt hiểu Bất Khả Đắc, hết thảy ưa muốn vốn chưa từng có gốc rễ, tức thì nhập ngay vào Định Thủ Lăng Nghiêm. Thế chẳng khoái sao ? Về sau, nhà Thiền hay dùng cái cơ chốt này.

Có nhà sư hỏi Tổ Bá Trượng  -(ct) Tổ Đại Trí Hoài Hải thiền sư, đời Đường, ở núi Bá Trượng, nối kế mối pháp thế đức Mã Tổ Đạo Nhất thiền sư. Tổ chế lập phép thức thiền môn đầu tiên, gọi là Bá Trượng Thanh Qui. Tổ để lại nhiều công án như Bá Trượng Giả Hồ, Bá Trượng Tam Nhựt Nhĩ Lung... ) : “Như sao là Phật?”

Tổ Trượng hỏi : “Ông đó là ai ?”

Đáp : “Tôi đây vậy”.

Tổ Trượng rằng : “Ông biết cái Tôi đó chăng ?”

Đáp : “Rõ ràng vậy”.

Tổ Trượng bèn dựng đứng cây phất tử  -(ct) Vật biểu hiện chức trụ trì. ) lên, rằng: “Ông lại thấy chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Tổ Trượng bèn chẳng thốt lời nào.

Chỗ hỏi của vị tăng là Phật, mà Tổ Trượng lại chẳng nói gì đến Phật, chỉ ở Chỗ Thấy của vị tăng mà nhắc nhở. Một tắc này, rõ ràng bày tỏ được cái khuôn mẫu của Lăng Nghiêm.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, byphuong, ngodao, 8N, Ngoisaobiec, mavuong, laodongta, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 08:55:56 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。如是愛樂。用我心目。由目觀見如來勝相。心生愛樂。故我發心。願捨生死。佛告阿難。如汝所說。真所愛樂。因於心目。若不識知心目所在。則不能得降伏塵勞。譬如國王為賊所侵。發兵討除。是兵要當知賊所在。使汝流轉。心目為咎。吾今問汝。唯心與目。今何所在。

Kinh : Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, sự ưa thích đó là dùng cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt thấy tướng tốt của Như Lai, tâm sinh ưa thích, nên tôi phát tâm nguyện lìa bỏ sanh tử”.

Phật bảo Ông Anan : “Như chỗ ông nói, thật do tâm và con mắt mà có ưa thích. Nếu không biết tâm và mắt ở đâu, thì chẳng dẹp được trần lao. Ví như bậc quốc vương bị giặc xâm lăng, phát binh đánh dẹp, thì binh ấy cần nhất phải biết chỗ ở của kẻ giặc. Khiến ông bị luân hồi, thì tâm và mắt là thủ phạm. Nay ta hỏi ông : “Tâm và mắt ấy hiện ở chỗ nào ?


通曰。世尊問處。單明向上一路。曰將何所見。曰誰為愛樂。分明用標指月。阿難答處。未離常情。只知合塵。不知合覺。背覺合塵。伊誰之咎。六賊為媒。自劫家寶。故阿難所謂心與目者。唯根與識。牽引塵勞。流轉生死。常住真心。猶如國王。日為所侵。淨者日濁。明者日暗。是心與目。乃性之賊也。必窮其巢穴而蕩除之。返流全一。六用不行。然後發本明耀。六根互用。父母所生肉眼。洞見十方。則又何流轉之為咎哉。子湖樅禪師。嘗夜大叫云。有賊有賊。其徒競起逐之。樅把住一人曰。拿住一個了也。其徒曰不是。是某甲。樅拓開曰。是則是。只是不肯承當。故承當得去。賊即是子。不能承當。子反成賊。恁般說話。卻與國君討賊。另是一番播弄。具眼者別之。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ hỏi của Thế Tôn là riêng tỏ về chỗ Hướng Thượng Nhất Lộ -(ct) Tông thừa, yếu chỉ nhà thiền, gọi chung là hướng thượng nhất lộ (ngoảnh lên một đường). ).

 Nói “Lấy cái gì mà thấy, lấy ai ưa thích”, rõ ràng là chỉ thẳng mặt trăng.

Chỗ đáp của Ông A Nan chưa rời khỏi thường tình, chỉ biết hợp theo Trần mà chẳng biết hợp với Giác. Xoay lưng lại với Giác mà hiệp theo Trần, là lỗi của ai ? Sáu Giặc (sáu Căn) làm môi giới, tự cướp lấy của báu nhà mình. Cho nên, chỗ Ông Anan nói “Tâm và Mắt”, chỉ là Căn và Thức, lôi kéo theo trần lao, lưu chuyển cùng sanh tử. Cái Thường Trụ Chân Tâm  -(ct) Cái Tâm Chân Thật không sanh ra, không diệt mất. ) như vua trong nước, vì bị giặc xâm lấn, nên vốn trong sạch mà gọi là dơ, vốn sáng soi mà gọi là mờ ám. Tâm và mắt thật là lũ giặc của Chân Tánh vậy. Do đó, phải thấu đến cùng sào huyệt của chúng mà diệt trừ. Nghịch dòng trôi lăn, giữ tròn Chân Tánh, Lục Dụng (sáu Thức) chẳng hiện hành, mà phát ra sự sáng rỡ trong sạch vốn có, sáu Căn đồng dùng thay lẫn cho nhau, con mắt thịt do cha mẹ sanh ra thấy suốt mười phương, thì còn đâu các lỗi bị lưu chuyển nữa !

Thiền sư Tử Hồ Tung có đêm la lớn : “Có cướp ! Có cướp !”

Đệ tử choàng dậy tranh nhau đuổi bắt. Ngài chụp lại một người, nói rằng : “Bắt được một tên rồi”.

Người đệ tử ấy nói : “Không phải đâu, chính là tôi đây”.

Ngài buông ra nói rằng : “Chính là -(ct) Thị tức thị, thì phải rồi. )”.

Chỉ bởi vì chẳng chịu nhận lấy đó thôi !


Cho nên, nếu chịu nhận lấy thì giặc cướp tức là con cái. Chẳng thể kham lấy, con cái trở lại làm giặc. Đoạn thuyết thoại này đối với chuyện vị quốc vương đem binh trừ giặc, thật là một phen hý lộng, riêng cho bực có mắt đó thôi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, byphuong, ngodao, 8N, Ngoisaobiec, mavuong, laodongta, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 06:25:35 AM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。一切世間十種異生。同將識心居在身內。縱觀如來青蓮華眼。亦在佛面。我今觀此浮根四塵。秪在我面。如是識心。實居身內。佛告阿難。汝今現坐如來講堂。觀祇陀林。今何所在。世尊。此大重閣清淨講堂。在給孤園。今祇陀林。實在堂外。阿難。汝今堂中。先何所見。世尊。我在堂中。先見如來。次觀大眾。如是外望。方矚林園。阿難。汝矚林園。因何有見。世尊。此大講堂。戶牖開豁。故我在堂得遠瞻見。



II- CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN :-


Kinh : Ông Anan bạch với Phật : “Thưa Thế Tôn, tất cả mười loài chúng sanh ở thế gian đều cho cái Thức Tâm Hay Biết là ở trong thân. Thiết nghĩ, thì con mắt như hoa sen xanh của Như Lai cũng ở trên mặt Phật. Nay tôi thấy con mắt vật chất của tôi cũng ở trên mặt tôi. Như vậy thì cái Thức Tâm thật ở trong Thân”.
Phật bảo Ông Anan : “Hiện nay ông ngồi trong giảng đường của Như Lai. Ông hãy xem rừng Kỳ Đà ở đâu ?”
- Thưa Thế Tôn, giảng đường cao lớn thanh tịnh này ở trong vườn Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà hiện thật ở ngoài giảng đường.
- Anan, nay ông ở trong giảng đường, thì ông thấy cái gì trước tiên ?
- Thưa Thế Tôn, tôi ở trong giảng đường, trước hết là thấy Như Lai, sau đó là đại chúng, rồi nhìn ra ngoài thấy vườn rừng.
- A Nan, do đâu ông thấy được vườn rừng ?
- Thưa Thế Tôn, do các cửa giảng đường mở rộng, nên tôi ở trong này mà thấy được ra ngoài xa.


通曰。十種異生。如後列十二類生。胎卵濕化。有色無色。有想無想。若非有色若非無色。若非有想若非無想。除空散消沉土木金石二類。非心眼倫。故曰十種。張無盡以六凡四聖當之。非也。浮根四塵。六根皆然。此但指眼根耳。地水火風。性本清淨。而地水火風之相。各皆搖動如塵。六根成就。藉此四塵。六根沉於內。四大浮於外。故曰浮根四塵。十種識心居內。眼在於面。不言可知。如來眼在於面。而不敢確指識心居內者。如來已離識故。法身圓滿無內外故。阿難言固斟酌而譯語者亦自不苟。世尊欲破心不在內。必先以講堂林園戶牖為喻。講堂喻身內。林園喻外物。戶牖喻六根。而阿難其明了之人也。若見阿難端的。原不屬講堂。不屬林園。不屬戶牖。而阿難去來自在。無內外可指。若執定此心。惑為色身之內以臟腑為堂奧。以六門為戶牖攬外境為林園。非此無安身處。一旦堂圮牖壞。境謝見亡。而所謂明了者將安在乎。世尊雖就彼常情辨晢內外次第。亦灼然示以色身如幻。非所宜執。如講堂戶牖。與我了無干涉云爾。智暉禪師臨別偈曰。我有一間舍父母為修蓋。往來八十年。近來覺損壞。早擬移別處。事涉有憎愛待他摧毀時。彼此無妨礙。乃跏趺而逝。此憎愛俱忘。去來無礙。將並其能見者而忘之矣。又何內外之可言哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-

Phù Căn Tứ Trần  -(ct) Con mắt vật chất. ) cũng giống như sáu Căn, đây chỉ về Nhãn Căn mà thôi. Đất, Nước, Lửa, Gió : Tánh chúng xưa nay vốn trong sạch; mà Tướng của Đất, Nước, Lửa, Gió mỗi mỗi đều dao động như bụi bặm, gọi là Trần. Khi sáu Căn tạo thành thì nương theo tứ Trần này : sáu Căn chìm vào trong, bốn Đại trôi nổi ở bên ngoài, cho nên gọi là Phù Căn Tứ Trần.

Với cả mười loài, Thức Tâm đều ở trong, mắt ở trên mặt thì không nói cũng biết rồi. Con mắt của Như Lai ở trên mặt, nhưng không dám xác quyết Thức Tâm là ở trong, vì Như Lai đã rời lìa cái Thức rồi, vì cái Pháp Thân thì tròn đầy không có trong hay ngoài vậy. Anan nói ra thật đắn đo, mà người dịch cũng cẩn thận. Thế Tôn muốn bày rõ cái nghĩa “Tâm chẳng ở trong”, nên trước hết lấy giảng đường, rừng vườn, cửa nẻo làm ví dụ. Giảng đường ví như trong thân, vườn rừng ví như ngoại vật, cửa nẻo ví như lục căn.

 Nếu Ông Anan là người tỏ suốt, thấy được con người đích thực của Anan, vốn chẳng thuộc giảng đường, chẳng thuộc vườn rừng, chẳng thuộc cửa nẻo, thì ông sẽ đến đi tự tại, không làm gì có trong có ngoài. Nếu chấp chặt tâm này, lầm lạc cho là ở trong Sắc Thân, lấy tạng phủ làm nhà nhốt kín, lấy sáu căn làm cửa nẻo, ôm lấy ngoại cảnh làm vườn rừng, rồi nghĩ rằng ngoài những thứ đó thì không có chỗ an thân.

Một mai, nhà hư cửa nát, cảnh đổi, cái Thấy tiêu vong, thì còn chỗ nào để an được. Thế Tôn tuy nương theo chỗ bình thường biện biệt thứ tự trong ngoài, cũng chỉ rõ ràng sắc thân vốn như huyễn, chẳng phải là chỗ để bám chấp được. Như giảng đường, cửa cái, cửa sổ đối với ta chẳng có tương can gì.

Ngài Trí Huy Thiền sư trước khi tịch có bài kệ :


“Ta có một căn nhà
Xây lợp bởi mẹ cha
Tám mươi năm lui tới
Gần đây rõ sắp hoại
Sớm liệu dời nơi khác
Nào có chuyện ghét thương
Đợi lúc kia sập nát
Đây kia không ngăn ngại”.

(Ngã hữu nhất gian xá
Phụ mẫu vị tu cái
Vãng lai bát thập niên
Cận lai giác tổn hoài
Tảo nghị di biệt xứ
Sự thiệp hữu tắng ái
Đãi tha tồi hủy thời
Bỉ thử vô phòng ngại).

Rồi ngồi kiết già mà đi. Đó là thương ghét đều quên, đến đi không trở ngại, cái Năng Kiến  -(ct) Tâm và Mắt. ) đã tiêu vong thì còn nói gì đến chuyện trong ngoài nữa.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 06:28:07 AM »

(tiếp theo)

爾時世尊在大眾中。舒金色臂。摩阿難頂。告示阿難及諸大眾。有三摩提。(此資發變化定)名大佛頂首嚴楞王。具足萬行。十方如來。一門超出妙莊嚴路。汝今諦聽。阿難頂禮。伏受慈旨。


Kinh : Khi ấy, Đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng xoa đầu Ông Anan, dạy ông và đại chúng rằng : “Có Pháp Tam Ma Đề, tên là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, gồm đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai, đều do một pháp môn là con đường Diệu Trang Nghiêm ấy mà siêu xuất. Nay ông hãy nghĩ kỹ !”
Ông Anan đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy.


通曰。此一門超出。分明指出頓悟路頭。惟在轉識成智。純以金剛干慧。乃可語真菩提路。末云。如是妙法。先過去世恆沙劫中微塵如來。乘此心開。得無上道。識陰若盡。則汝現前諸根互用。從互用中。能入菩薩金剛干慧。圓明精心。於中發化。如淨琉璃。內含寶月。如是乃超十信十住十行十回向四加行心。菩薩所行金剛十地。等覺圓明。入於如來妙莊嚴海。圓滿菩提。歸無所得。首尾呼應。必以超出識陰為極則事。世尊洞徹世間生死相續。惟是妄想種種。迷而不返。識陰若盡。則常住真心。乃得現前。性淨明體。與佛無異。故能破識陰。即入頓門。阿難雖聰慧多聞。總不出識情分別。識情未除者。惟在有得。而證菩提者。惟在無得。故下文七處征心。在阿難往往以有得自縛。世尊一一以無得而蕩除之。楞伽云。得相是識。不得相是智。此真速證菩提之頓門也。二祖神光。斷臂於初祖達磨前。乞與安心法門。祖曰。將心來與汝安。光曰。覓心了不可得。祖曰與汝安心竟。使阿難能信七處征心俱不可得。則金襕袈裟。豈獨先付之迦葉哉。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Một pháp môn siêu xuất này rõ ràng chỉ ra con đường Đốn Ngộ cốt ở chỗ chuyển Thức thành Trí. Tinh thuần dùng Kim Cang Càn Huệ mới có thể nói là con đường đạo Chân Thật.

Sau này, trong kinh có nói : “Diệu Pháp này, vô lượng Chư Phật trong hằng sa kiếp đời quá khứ, nhờ khai ngộ cái tâm này mà được đạo Vô Thượng. Thức Ấm tận hết, thì ngay đây các Căn của ông có thể dùng thay cho nhau được  -(ct) Tai có thể thấy, mắt có thể nghe... ).

Từ trong chỗ dùng thay nhau đó mà có thể thấu vào Kim Cương Càn Huệ của Bồ Tát. Cái Tâm thuần nhất tròn sáng ở trong phát chiếu ra, như ngọc lưu ly trong sạch, ngậm mặt trăng quý báu ở trong.

Như vậy rồi vượt lên hàng Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hành, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh Tâm, đến chỗ tu hành của Kim Cương Thập Địa Bồ Tát, đến địa vị Đẳng Giác Tròn Sáng, nhập vào cái Biển Trang Nghiêm Mầu Nhiệm của Như Lai, tròn đầy cái Đạo, quy về trong cái Vô Sở Đắc”.

Đầu đuôi ứng nhau, tất lấy việc siêu xuất Thức Ấm làm cái quy tắc rốt ráo. Đức Thế Tôn thấu suốt rằng sự tiếp nối nhau của sanh tử thế gian chỉ là sự tiếp nối nhau của mỗi mỗi vọng tưởng, mê mờ chẳng hề biết quay trở lại. Thức Ấm hết ráo, đó là Chân Tâm Thường Trụ, hiện bày trước mắt, Thể Tánh trong sạch sáng soi, cùng Phật không khác. Cho nên, phá được Thức Ấm, tức nhập Đốn Môn.

 Ông Anan tuy thông minh học rộng, rốt cuộc chẳng ra khỏi thức tình phân biệt. Thức tình chưa trừ, chỉ là ở chỗ “Có đắc”. Mà chứng Bồ Đề, chỉ ở tại chỗ “Không đắc”. Cho nên, phần sau của kinh, nơi bảy chỗ hiển bày cái Tâm, Ông Anan mỗi mỗi cứ lấy chỗ “Có đắc” mà tự trói, còn Thế Tôn thì thảy thảy đều lấy chỗ “Không đắc” mà quét sạch. Kinh Lăng Già nói : “Có tướng để đắc là Thức, không có tướng để đắc là Trí”. Đây thật là Đốn Môn liền chứng Bồ Đề vậy.

Đức Nhị Tổ Thần Quang  -(ct) Tổ Huệ Khả. Người đời Bắc Ngụy, xứ Lạc Dương. Lúc Đạt Ma đại sư ở núi Tung Sơn, tại Chùa Thiếu Lâm, đức Thần Quang cầu đạo rất mực. Đến đêm hôm trời tuyết, chặt lìa cánh tay trái. Đức Đạt Ma cảm chịu. Cải đổi tên là Huệ Khả. Sau, thọ y bát của Tổ Đạt Ma, nối pháp của thiền tông, làm Tổ Thứ Hai. ), chặt tay trước mặt Sơ Tổ Đạt Ma cầu xin pháp môn An Tâm.

Tổ nói : “Đem cái tâm lại đây ta an cho !”

Ngài Thần Quang thưa : “Tìm hết tâm rồi, rốt là không thể đắc  -(ct) Mích tâm liễu bất khả đắc. ) !”

Sơ Tổ nói : “Ta an tâm cho ông rồi đó”.

Nếu Ông Anan có thể tin được bảy chỗ trưng bày tâm đều bất khả đắc, thì y bát đâu có riêng truyền cho Ông Ca Diếp !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 06:29:46 AM »

(tiếp theo)

佛告阿難。如汝所言。身在講堂。戶牖開豁。遠矚林園。亦有眾生在此堂中。不見如來。見堂外者。阿難答言。世尊。在堂不見如來。能見林泉。無有是處。阿難。汝亦如是。汝之心靈。一切明了。若汝現前所明了心實在身內。爾時先合了知內身。頗有眾生。先見身中。後觀外物。縱不能見心肝脾胃。爪生發長。筋轉脈搖。誠合明了。如何不知。必不內知。云何知外。是故應知汝言覺了能知之心住在身內。無有是處。

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Như lời ông nói: ở giảng đường, do cửa mở rộng nên ông thấy được vườn rừng ở xa. Liệu có chúng sanh nào ở trong giảng đường, không thấy Như Lai mà lại thấy được ngoài giảng đường không ?”
Ông Anan thưa : “Thưa Thế Tôn, ở trong giảng đường không thấy Như Lai mà lại thấy được rừng suối bên ngoài, thật không có lẽ đó”.

Phật dạy : “Anan, ông cũng như thế. Cái tâm linh của ông, hết thảy đều rõ biết. Nếu hiện nay cái tâm rõ biết đó của ông thật ở trong thân, thì trước hết nó phải rõ biết trong thân thể. Vậy có chúng sanh nào, trước thấy bên trong thân rồi sau mới thấy những vật ở bên ngoài không ? Dầu không thấy được tim, gan, tì, vị nhưng móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, đúng ra phải rõ, sao lại không biết ? Đã không biết bên trong, làm sao biết được bên ngoài ? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay rõ biết đó trụ ở thân, không có lẽ nào như vậy”.



通曰。目見心知。不離根塵。由內達外。自是常見。世尊乃即常見破之。既不知內。云何在內。雖有智者。不得不屈於其辨。其實心肝脾胃。莫非知也。爪發筋脈。莫非覺也。使非知覺。豈不塊然一物而已哉。傅大士偈曰。夜夜抱佛眠。朝朝還共起。起坐鎮相隨。語默同居止。纖毫不相離。如身影相似。欲識佛去處。秪這語聲是。由此言之。謂覺了能知之心。住在身內。亦無有不是處。云門拈寶藏論云。乾坤之內。宇宙之間。中有一寶。秘在形山。拈燈籠向佛殿裡。將三門來燈籠上。作麼生。自代云。逐物意移。又曰。云興雷動。雪竇頌云。看看。古岸何人把釣竿。云冉冉。水漫漫。明月蘆華君自看。此段公案。謂覺了能知。與本覺圓明。容易誵訛。如明月蘆華相似。務須甄別。若甄別得出。不但燈籠露柱。頓徹云門心宗。而身內之寶。亦與僧肇契合。非尋常弄精魂者所可藉口矣。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Do mắt thấy mà tâm biết, chẳng rời căn trần, do bởi phía trong mà biết phía ngoài, đó là cái thấy bình thường thế tục. Đức Thế Tôn bèn ở nơi cái thấy thường tình mà bác bỏ rằng “Đã không biết phía trong làm sao ở phía trong ?” Tuy người có Trí cũng phải khuất phục bởi lý luận này. Thật ra, tim gan tì vị, không gì mà chẳng biết rõ. Móng tóc gân mạch, không gì mà chẳng hay. Nếu không hay biết, thì hóa ra chỉ là một vật ù lì vậy sao ?
Ngài Phó Đại Sĩ  -(ct) Họ Phó, tên Hấp, tự Huyền Phong, là đạo sĩ để tóc. Lấy họ mà gọi là Phó Đại Sĩ; còn theo xứ mà gọi là Đông Dương Đại Sĩ. Tự ngài xưng là Thiện Huệ Đại Sĩ. ) có bài kệ :

“Đêm đêm ôm Phật ngủ
Sáng sáng cùng Phật dậy
Đứng ngồi vẫn theo nhau
Nói nín đồng vừa vặn
Mảy tơ chẳng lìa nhau
Tương tự như hình, bóng
Muốn biết chỗ Phật ở
Lời nói âm thanh đó”.

(Dạ dạ bảo Phật miên
Triêu triêu hoàn cọng khởi
Khởi tọa trấn tương tùy
Ngữ mặc đồng cư chỉ
Túng hào bất tương ly
Như thân ảnh tương tự
Dục thức Phật khứ xứ
Chỉ giá ngữ thanh thị).

Theo lời nói này đây, thì nói rằng “Cái tâm rõ biết ở trong Thân” cũng chẳng phải là không đúng !
Ngài Vân Môn  -(ct) Tổ Văn Yến thiền sư, tại núi Vân Môn, nối kế Tổ Tuyết Phong. Sắc phong các hiệu Khuôn Chơn thiền sư, Đại Từ Vân Khuôn Chơn Hoằng Minh thiền sư. Để lại nhiều thoại đầu công án như Vân Môn Nhất Bửu, Vân Môn Tam Cú, Vân Môn Thể Lộ Kim Phong... ) nói rằng : “Luận Bảo Tạng nói “Trong trời đất, giữa vũ trụ, có một vật báu, ẩn tại Non Hình (thân thể). Cầm lồng đèn hướng vào trong Phật điện, đem ba cửa đến để trên lồng đèn, để làm gì?”

Ngài tự thay thế mà nói : “Theo vật, ý dời”.

Lại nói : “Mây nổi sấm động”.

Ngài Tuyết Đậu  -(ct) Một vị cao tăng. Tuyết Đậu là tên núi. Được ngài Vân Môn truyền pháp. Tại núi này còn có Thường Thông thiền sư, Minh Giác đại sư đều lấy tên núi làm hiệu. ) tụng rằng :

Xem đi,
Bến cổ ai kia nắm cần câu
Mây trùng trùng, nước mênh mông
Trăng sáng, bông lau, anh tự thấy !.

Đoạn công án này nói cái Năng Tri Tỏ Biết và cái Bổn Giác Tròn Sáng rất dễ lẫn lộn, cũng tương tợ như trăng sáng và bông lau, nên cần soi xét phân biệt. Nếu soi xét phân biệt ra được, thì không chỉ lồng đèn và lộ trụ  -(ct) Lộ trụ : cây cột trước chùa. Là một công án của Tổ Vân Môn : Cổ Phật với cây lộ trụ tương giao, đó là cơ thứ mấy ?), mà còn đốn triệt được Tâm Tông của Tổ Vân Môn, và cái vật báu trong thân cũng cùng với Tăng Triệu  -(ct) Tăng Triệu : người viết bộ Bảo Tạng Luận còn gọi là Triệu Luận. ) khế hợp.. Đâu phải là bọn ma mị tinh hồn giỡn cợt tầm thường có thể mượn lời mà nói được.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 06:31:22 AM »

(tiếp theo)

阿難稽首而白佛言。我聞如來如是法音。悟知我心實居身外。所以者何。譬如燈光。燃於室中。是燈必能先照室內。從其室門。後及庭際。一切眾生。不見身中。獨見身外。亦如燈光居在室外。不能照室。是義必明。將無所惑。同佛了義。得無妄耶。佛告阿難及諸比丘。適來從我室羅筏城。循乞摶食。歸祇陀林。我已宿齋。汝觀比丘。一人食時。諸人飽不。阿難答言不也。世尊。何以故。是諸比丘。雖阿羅漢。軀命不同。云何一人能令眾飽。佛告阿難。若汝覺了知見之心實在身外身心相外。自不相干。則心所知。身不能覺。覺在身際。心不能知。我今示汝兜羅綿手。(此云細香綿色如霜)汝眼見時。心分別不。阿難答言如是。世尊。佛告阿難。若相知者。云何在外。是故應知汝言覺了能知之心住在身外。無有是處。


III- CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN

Kinh : Ông Anan cúi đầu bạch Phật :

“Tôi nghe lời Phật dạy như vầy, mới rõ tâm tôi thật ở ngoài thân. Tại sao như thế ? Ví như đèn thắp trong phòng, trước hết phải chiếu trong phòng, sau mới do cửa chiếu sáng ngoài sân. Tất cả chúng sanh không thấy bên trong thân mà chỉ thấy bên ngoài, cũng như ngọn đèn, để ở ngoài phòng, không thể chiếu sáng trong phòng. Nghĩa ấy rõ ràng, chắc là không lầm, chưa biết có đúng với liễu nghĩa của Phật hay không ?”

Phật bảo Ông Anan :

“Vừa rồi, các tỳ kheo theo Ta đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nay đã về rừng Kỳ Đà. Ta đã thọ trai rồi, giờ ông hãy xem trong chúng tỳ kheo, khi một người ăn thì các người khác có no không ?”

Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, không. Vì rằng các tỳ kheo tuy là A La Hán nhưng thân xác khác nhau, làm sao một người ăn mà các vị kia no được”.

Phật bảo Ông Anan : “Nếu cái tâm tỏ hiểu, thấy biết của ông thật riêng ở ngoài thân, thì thân và tâm ở ngoài nhau, chẳng dính líu gì với nhau. Vậy thì cái gì tâm biết thì thân không thể hay, cái gì thân hay thì tâm không thể biết. Nay Ta đưa tay nhu nhuyễn lên cho ông xem, khi mắt ông thấy thì tâm ông có phân biệt không ?”

Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, đúng vậy”.

Phật bảo Ông Anan :

“Nếu thân và tâm cùng hay biết một lúc thì làm sao tâm lại ở ngoài thân ? Vậy, phải biết rằng ông nói cái tâm rõ biết trụ ở ngoài thân, thật không thể có điều ấy”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 06:33:44 AM »

(tiếp theo)

通曰。阿難見處未真。不免隨語生解。隨語生解。正是識情所在。世尊要與拔除識根。故一一剗卻。令阿難無屯札處。此真如國王討賊。知賊之所在而討除之也。阿難謂心居身外。同佛了義。不為無見。夫心者。潛天而天。潛地而地。或神遊八極。或夢曆數世。何嘗拘拘一軀殼中。故云悟知我心實居身外。又云是義必明。將無所惑。世尊設喻。他食必非我飽。以例外心何關我身。軀命形也。故食不能以相通。知覺神也。何內外之所能隔。只為阿難執定在外。如一物然者。但能照外。不能照內。則身外是心。身內非心。心在身外。身不能知。如他人食。我不能飽。然眼之所見。心能分別。此心又何嘗不在內也。故謂在外者非也。昔曹山聞鐘聲。乃曰。 阿㖿 阿㖿 。僧問和尚作甚麼。山曰。打著我心。僧無對。五祖戒代云。作賊人心虛。又傅大士偈曰。諸佛鄉村在世界。四海山田遍滿生。佛共眾生同一體。眾生是佛之假名。若要見佛看三郡。田宅園林處處停。或飛空虛中擾擾。或擲山水 口 轟轟。或結群朋來往去。或復孤單而獨行。或使白日東西走。或使暗夜巡五更。或烏或赤而或白。或紫或黑而黃青。或大或小而新養。或老或少舊時生。或身腰上有燈火。或羽翼上有琴箏。或游虛空亂上下。或生草木亂縱橫。或無言行自出宅。或入土坑暫寄生。或鑽木孔為鄉貫。或編草木作窠城。或轉羅網為村巷。或臥土石作階廳。諸佛菩薩盡如是。這個名為舍衛城。於此契證。謂覺了能知之心。住在身外。亦無有不是處。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Chỗ thấy của Ông Anan chưa chân thật nên không tránh khỏi việc theo lời mà sanh ra sự hiểu biết. Cái tri giải sanh ra theo lời nói ấy chính là chỗ ở của thức tình. Đức Thế Tôn cốt nhổ dứt cái thức căn nên mỗi mỗi đều chặt bỏ, khiến cho Ông Anan không có chỗ để bám víu. Đấy mới thật là giống như quốc vương đi dẹp giặc, biết chỗ của giặc mà diệt trừ.

Ông Anan cho rằng cái tâm ở ngoài thân, là đúng với chỗ liễu nghĩa của Phật, chẳng phải là không có kiến thức đâu. Bởi vì cái tâm ấy, ngầm ẩn nơi Trời thì là Trời, ngầm ẩn nơi Đất bèn là Đất, cùng khắp vũ trụ, rộng trải nhiều đời, chứ đâu phải ràng buộc mãi trong một thân này. Thế nên ông mới nói “Tỉnh ngộ biết cái tâm tôi thật ở ngoài thân”. Lại thêm “Nghĩa ấy rõ ràng, chắc là không lầm”.

Đức Thế Tôn lấy ví dụ “Người khác ăn tất chẳng phải ta no”, để chỉ rằng nếu cái tâm ở ngoài thì có quan hệ gì đến thân ta. Cái thân mạng là hình tướng, nên ăn chẳng thể tương thông, làm sao người này ăn người kia no được. Còn cái tri giác là thần nhiệm, trong ngoài nào có trở ngại được. Chỉ vì Ông Anan chấp chặt “Tâm ở ngoài”, như một vật sáng, chỉ chiếu bên ngoài mà không thể chiếu bên trong. Thế thì ngoài thân là tâm, còn trong thân chẳng phải là tâm sao ! Nếu tâm ở ngoài thân, thì thân không thể biết : như người khác ăn, ta chẳng thấy no. Nhưng mắt thấy cái gì, tâm liền phân biệt ngay cái ấy, thế thì cái tâm ấy lại chẳng thường ở trong ư ? Cho nên nói ở ngoài là sai lầm.
Ngài Tào Sơn  -(ct) Bổn Tịch thiền sư, kế pháp Tổ Động Sơn Lương Giới thiền sư. Phái Tào Động. Tào Sơn là tên gọi theo chỗ ở. ) một hôm nghe tiếng chuông, bèn nói : “Ối chà, ối chà !”

Có nhà sư hỏi : “Hòa Thượng làm sao thế ?”

Ngài bảo : “Đánh trúng tâm ta”.

Nhà sư không có chỗ đối lại.

Ngài Ngũ Tổ Giới nói thay rằng : “Làm tâm của thằng giặc hoảng hồn  -(ct) Tác tặc nhân tâm hư. ) !”

Ngài Phó Đại Sĩ có bài kệ :

“Xóm làng các Phật, tại thế giới
Bốn biển núi sông, sanh đầy khắp
Phật với chúng sanh đồng một Thể
Chúng sanh là giả danh của Phật
Như cần thấy Phật : xem ba quận
Rừng ruộng, nhà vườn, ở khắp nơi
Hoặc ở không trung bay quanh quẩn
Hoặc cho sông núi tiếng vang lừng
Hoặc kết bạn bè đi khắp xứ
Hoặc lại cô đơn bước một mình
Hoặc khiến ban ngày xuôi ngược chạy
Hoặc khiến ban đêm đi gác canh
Hoặc đen, hoặc đỏ, rồi hoặc trắng
Hoặc tía, hoặc hồng với vàng, xanh
Hoặc to hoặc nhỏ mà mới dưỡng
Hoặc trẻ hoặc già lúc xưa sanh
Hoặc có cây đàn trên lông cánh
Hoặc mang đèn đóm ở thắt lưng
Hoặc giữa hư không bay loạn xạ
Hoặc sanh cây cỏ mặc tung hoành
Hoặc vô ngôn hạnh mà ra cửa
Hoặc vào hang đất tạm ký sanh
Hoặc xoi lỗ cây làm quê quán
Hoặc kết cỏ cây làm thành, ổ
Hoặc dệt võng lưới làm đường thôn
Hoặc nằm đất đá làm thềm ốc
Chư Phật Bồ Tát đều như thế
Cái ấy tên là Xá Vệ thành”.

Nơi này mà khế chứng  -(ct) Hợp tự biết thực tình. ) thì nói cái tâm Giác Liễu Năng Tri trụ ở ngoài thân cũng không phải là chẳng trúng vậy !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 08:24:18 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。如佛所言。不見內故。不居身內。身心相知。不相離故。不在身外。我今思惟。知在一處。佛言處今何在。阿難言。此了知心。既不知內。而能見外。如我思忖。潛伏根裡。猶如有人取琉璃碗。合其兩眼。雖有物合而不留礙。彼根隨見。隨即分別。然我覺了能知之心不見內者。為在根故。分明矚外無障礙者。潛根內故。佛告阿難。如汝所言。潛根內者。猶如琉璃。彼人當以琉璃籠眼。當見山河。見琉璃不。如是世尊。是人當以琉璃籠眼。實見琉璃。佛告阿難。汝心若同琉璃合者。當見山河。何不見眼。若見眼者。眼即同境。不得成隨。若不能見。云何說言此了知心潛在根內如琉璃合。是故應知汝言覺了能知之心潛伏根裡如琉璃合。無有是處。


IV- CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, như lời Phật dạy : vì không thấy bên trong thân, nên tâm không ở trong thân. Vì thân và tâm cùng biết một lần, không thể rời nhau nên tâm không riêng ở ngoài thân được. Nay tôi suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ!”

Phật bảo : “Chỗ ấy ở đâu ?”

Ông Anan bạch Phật : “Cái tâm Hay Biết ấy đã không biết bên trong mà lại thấy bên ngoài. Theo như tôi xét nghĩ, thì nó nấp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt, con mắt tuy là có vật úp vào nhưng không bị trở ngại, con mắt ấy vừa thấy thì liền phân biệt được ngay. Cái tâm hay biết của tôi không thấy bên trong là vì tâm ấy ở nơi con mắt; nhưng lại thấy bên ngoài rõ ràng không ngăn ngại, vì tâm nấp sau con mắt”.
Phật bảo Ông Anan : “Theo chỗ ông nói : tâm nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly. Vậy thì người kia đang khi lấy chén lưu ly úp vào hai mắt, trông thấy núi sông thì có trông thấy chén lưu ly không ?”

- Thưa Thế Tôn, đúng thế, người ấy đương khi lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt thật có thấy chén lưu ly.

Phật bảo Ông Anan : “Nếu tâm ông nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, thì khi trông thấy núi sông sao không trông thấy con mắt?
Nếu thấy con mắt, thì con mắt cũng là ngoại cảnh, không thể mắt liền thấy mà tâm liền biết được.
 Nếu không thấy được con mắt, thì sao lại nói rằng tâm nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly ?
Vậy, nên biết rằng ông nói cái tâm Hay Biết nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, thật không đúng vậy”.



通曰。八識規矩云。愚者難分識與根。蓋根識之難辨久矣。若謂根非識。則根自根。識自識。識應見根。若謂根即識。則彼死者眼根現存。何以不見。故知五根但白淨色照境而已。識必明了分別。二家種現。熏習不同。五根乃色法。即第八識親相分。具執受二義。是白淨無記性。五識乃心法。即第八識見分。三性皆具。但能明了。名性境屬現量。故曰性境現量通三性。至第六識方有分別。屬比量非量。此根與識之辨也。阿難謂彼根隨見隨即分別者是也。謂潛伏根裡如琉璃合者非也。果如琉璃合者。眼見山河。亦見琉璃。則心見山河。亦應見眼。今不見眼。則非潛伏根內明矣。此喻比度不真。正屬非量。據阿難所指覺了能知之心。但六識分別耳。此識從何而起。以有七識為之傳送也。以有八識為之含藏也。縱令分別易泯。而行陰難除。縱令行陰易銷。而種子難化。今阿難於分別六識。尚且不知落處。況復知所謂七識八識哉。落處且不知。況能發兵而討除之哉。此經始破六識窠白。故有七處征心。終搗八識樞穴。期於識陰都盡。此轉識成智之大略也。後文云。雖得六銷。猶未亡一。及至一六俱銷。了無所寄。回視此段潛伏根裡如琉璃合。不發一大噱哉。雖然。善喻者無所不可。昔中邑洪禪師。仰山往謝戒畢。問如何是佛性義。邑云。我與你說個譬喻。如室有六窗。中安一獼猴。外有獼猴喚云猩猩。獼猴即應。如是六窗俱喚俱應。仰山禮謝起曰。適蒙和尚譬喻。無不了知。更有一事。祗如內獼猴睡著。外獼猴欲與相見。又且如何。邑下繩床執仰山手作舞曰。猩猩與汝相見了。譬如蟭螟蟲在蚊子眼睫上作窠。向十字街頭叫云。地曠人稀。相逢者少。云居錫云。中邑當時若不得仰山這一語。何處有中邑也。崇壽稠云。還有人定得此道理麼。若定不得。只是個弄精魂腳手。佛性義在甚麼處。玄覺云。若不是仰山。爭得見中邑。且道甚麼處是仰山得見中邑處。天童頌云。凍眠雪屋歲摧頹。窈窕蘿門夜不開。寒稿園林看變態。春風吹起律筒灰。此頌分明讚嘆仰山睡處。不墮於枯槁。正是中邑與他相見處。恰恰一六俱銷境界。然園林變態如律筒灰。自與精魂腳手夐異。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Luận Bát Thức Quy Củ nói “Kẻ ngu khó phân biệt được Căn và Thức”. Vậy thì Căn và Thức khó phân biệt từ xưa rồi.

Nếu nói Căn chẳng phải là Thức thì Căn tự là Căn, Thức tự là Thức. Thức thường thấy cái Căn.

Nếu nói Căn tức là Thức, thì người chết kia, con mắt cũng hiện còn, tại sao chẳng thấy.

Cho nên biết rằng năm Căn chỉ là vật sắc trong suốt soi cảnh vật mà thôi, còn Thức thì hiểu biết phân biệt.

Chủng Tử và Hiện Hành của hai thứ huân tập chẳng giống nhau. Năm Căn tức là sắc pháp, là Tướng Phần của Thức Thứ Tám, đủ cả hai nghĩa Chấp (Giữ) và Thọ (Lãnh), có tánh vô ký và trắng sạch suốt.

Năm Thức thuộc về tâm pháp, tức là Kiến Phần của Thức Thứ Tám, đủ cả ba Tánh (Thiện, Ác, Vô Ký), hay hiểu biết rõ ràng gọi là Tánh Cảnh thuộc về Hiện Lượng, nên Luận nói “Tánh Cảnh, Hiện Lượng thông ba tánh”.

 Đến Thức Thứ Sáu mới có Phân Biệt, thuộc về Tỷ Lượng  -(ct) So sánh, suy lường. ), Phi Lượng  -(ct) Biết lầm lạc. ). Đây là chỗ phân biệt giữa Căn và Thức.

Ông Anan nói rằng “Căn ấy vừa thấy liền phân biệt ngay” là đúng. Nhưng nói tiếp “Cái tâm nấp ở trong Căn như chén lưu ly úp lên mắt”, thì sai. Vì, nếu quả như khi chén lưu ly úp lên mắt, thì mắt thấy núi sông cũng thấy được chén lưu ly, cũng thế, tâm khi thấy núi sông, cũng phải thấy con mắt. Nay tâm chẳng thấy con mắt, tức là rõ ràng tâm chẳng phải ngầm ẩn trong con mắt. Ví dụ để so sánh của ông chẳng chân thật, chính thuộc Phi Lượng. Xét chỗ chỉ bày của Ông Anan thì cái tâm Tri Giác chỉ là sáu Thức Phân Biệt vậy.

Sáu Thức này do đâu khởi ra ? Đó là do sự truyền tống, chuyển đưa của Thức Thứ Bảy và do sự hàm tàng, chứa giữ của Thức Thứ Tám. Dầu cho sự phân biệt dễ bỏ, mà Hành Ấm khó trừ. Dầu cho Hành Ấm dễ tiêu, mà chủng tử khó chuyển hóa.

Nay đối với sáu Thức Phân Biệt mà Ông Anan còn chưa biết chỗ ở của chúng, huống hồ lại biết được cái Thức Thứ Bảy và Thức Thứ Tám ? Chỗ ở còn không biết, nói gì đến chuyện đem binh đi đánh dẹp ?

Kinh này mới đầu phá hang ổ của sáu Thức, nên mới có bảy chỗ trưng bày của Tâm. Sau cùng công kích các cơ quan đầu não của Thức Thứ Tám, cho đến lúc Thức Ấm hết sạch. Đây là đại lược việc chuyển Thức thành Trí. Văn sau của kinh nói rằng “Tuy để được Sáu tiêu  -(ct) Tức là sáu Thức tiêu. ) hết, dường còn chưa mất cái Một  -(ct) Cái Thức Thứ Nhứt, A Lại Da. )”. Đến khi Một, Sáu đều tiêu, rồi không chỗ dựa, mới nhìn lại cái đoạn “Nấp trong con mắt giống như lấy chén lưu ly mà úp” này, lại không phát ra một tiếng cười lớn hay sao ! Tuy nhiên, nếu khéo thí dụ, thì không gì mà chẳng được !.

Xưa, Trung Ấp Hồng  -(ct) Tổ Hồng Ân thiền sư. ) thiền sư, có Ngài Ngưỡng Sơn đến tạ ơn truyền Giới, xong rồi hỏi rằng : “Cái nghĩa Phật Tánh như thế nào ?”

Tổ Ấp đáp : “Tôi sẽ nói một ví dụ cho ông : giống như cái nhà có sáu cửa sổ, trong ấy có nhốt một con khỉ lớn, ở ngoài có con khỉ lớn kêu rằng : “Đười ươi”, thì con ở trong liền ứng đáp. Y vậy, cả sáu cửa đồng kêu vang, đồng ứng đáp”.

Ngài Ngưỡng Sơn  -(ct) Tổ Huệ Tịch thiền sư, ở Giang Nam, núi Đại Ngưỡng Sơn, tên hiệu Ngưỡng Sơn. Tổ có ba chỗ công án: Ngưỡng Sơn Chẩm Tử, Ngưỡng Sơn Chỉ Tuyết và Ngưỡng Sơn Đằng Điều. ) lễ tạ rồi đứng lên thưa rằng : “Nhờ ơn Hòa Thượng thí dụ, không gì chẳng rõ. Lại còn có một sự : nếu con khỉ ở trong mê ngủ, con khỉ lớn ở ngoài muốn cùng gặp nhau, thì làm sao ?”

Tổ Ấp bước xuống khỏi chỗ ngồi, nắm tay Ngài Ngưỡng Sơn nhảy múa mà nói : “Đười ươi cùng ông gặp nhau rồi đó. Ví như con tò vò làm tổ trên lông nheo con muỗi, hướng về ngã tư đường mà hô hoán rằng : “Đất rộng người thưa, tương phùng ấy ít”.

Tổ Vân Cư  -(ct) Vân Cư Sơn: núi tại Giang Nam, huyện Khương Kiến Xương. Trên đỉnh thường có mây, nên đặt tên Vân Cư. Lại còn gọi là Âu Sơn, vì có đức Âu Ngập thành đạo tại đó. Đây có nhiều Tổ ở, hóa đạo nên thường lấy tên núi làm hiệu. ) Tích nói rằng : “Khi ấy mà Trung Ấp không được một lời nói ấy của Ngưỡng Sơn, thì làm gì có Trung Ấp !”
Tổ Trung Thọ Trù nói : “Có người nào định được đạo lý này chăng ? Nếu định chẳng được thì chỉ là kẻ bắt tay chơn của tinh hồn làm trò hý lộng. Nghĩa Phật Tánh ở tại chỗ nào ?”

Thiền sư Huyền Giác  -(ct) Đức Huyền Giác, đời Đường. Ban đầu thuần thông phép Chỉ Quán của Thiên Thai. Thường tu thiền quán. Sau đến Tào Khê, một đêm mà khế ngộ yếu chỉ. Đặt tên Nhất Túc Giác. Trở về Vĩnh Gia, học trò gọi hiệu là Chơn Giác Đại Sư. ) nói :

“Nếu chẳng phải là Ngưỡng Sơn, làm sao được thấy Trung Ấp. Hãy nói đâu là chỗ Ngưỡng Sơn được gặp Trung Ấp ?”

Tổ Thiên Đồng tụng rằng :

-
Nhà tuyết ngũ vùi năm sắp hết
Cửa rêu đêm chẳng mở, thâm u
Vườn rừng khô lạnh xem biến đổi
Gió xuân thổi dậy luật Đồng Khôi 
(ct) Một loại sáo. ).

Bài tụng này rõ ràng ca ngợi chỗ ngủ của Ngài Ngưỡng Sơn, chẳng đọa vào sự khô chết. Đó tức là chỗ Ngài Trung Ấp và Ngưỡng Sơn gặp nhau, quả là cái cảnh giới Một, Sáu điều tiêu, nhưng cái chuyện “Vườn rừng biến thái như luật Đồng Khôi” với lại “Tay chân tinh hồn” thì khác nhau biết bao !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 08:28:52 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。我今又作如是思惟。是眾生身。腑藏在中。竅穴居外。有藏則暗。有竅則明。今我對佛。開眼見明。名為見外。閉眼見暗。名為見內。是義云何。佛告阿難。汝當閉眼見暗之時。此暗境界。為與眼對。為不對眼。若與眼對。暗在眼前。云何成內。若成內者。居暗室中。無日月燈。此暗室中。皆汝焦腑。若不對者。云何成見。若離外見。內對所成。闔眼見暗。名為身中。開眼見明。何不見面。若不見面。內對不成。見面若成。此了知心。及與眼根。乃在虛空。何成在內。若在虛空。自非汝體。即應如來。今見汝面。亦是汝身。汝眼已知。身合非覺。必汝執言身眼兩覺。應有二知。即汝一身。應成兩佛。是故應知汝言見暗名見內者。無有是處。

V- CHẤP NHẮM MẮT THẤY TỐI LÀ THẤY BÊN TRONG THÂN

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, nay tôi lại nghĩ như vầy : trong thân thể chúng sanh nầy, tạng phủ ở bên trong, khiếu huyệt ở ngoài, có tạng thì tối, có khiếu thì sáng. Nay tôi trả lời với Phật rằng : mở mắt thấy sáng, gọi là thấy bên ngoài. Nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào ?”

Phật bảo Ông Anan : “Đương khi ông nhắm mắt thấy tối, thì cái cảnh tối ấy là đối với con mắt hay không đối với con mắt”. Nếu đối với mắt thì cái tối ở trước mắt sao lại thành ở trong thân ? Còn cái tối đó thành ở trong thân thì khi ở trong phòng tối, không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng hay của đèn, thì cái gì ở trong nhà tối đó đều là phủ tạng của ông hết hay sao ?

Còn nếu cái tối không đối với Mắt, thì làm sao thành ra có thấy ? Nếu cho rằng rời cái thấy sáng bên ngoài thì thành ra cái thấy tối đối với bên trong, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong thân, thì khi mở mắt thấy sáng sao lại không thấy cái mặt ? Nếu không thấy cái mặt thì cái thấy tối đối với bên trong cũng không thành được. Còn như thấy được cái mặt, thì cái tâm Hay Biết ấy và con mắt đều ở giữa hư không, sao lại thành ở trong thân được ? Nếu tâm và con mắt ở giữa hư không thì tất nhiên không phải là thân thể của ông, vì không lẽ hiện nay Như Lai thấy mặt ông cũng là thân của ông hay sao ? Và như thế thì con mắt của ông đã biết mà thân của ông lại chẳng biết. Thế là theo lời nói chấp trước của ông, thân và mắt ở riêng như thế đều có Tánh Biết, thì ông lại có hai Tánh Biết, rồi chính một thân ông sẽ thành hai đức Phật hay sao ? Vậy, phải biết rằng ông nói thấy tối gọi là thấy bên trong thân, thật không có lẽ ấy”.



通曰。阿難只疑滯不能見內一語。生出許多轉計。潛根既非。毋乃見暗即是乎。此見暗轉計更多。阿難雖未明言。世尊一一拈出破之。始以所見之暗為對不對。若對則成境矣。不對則非見矣。是暗固不可謂之內也。既以能見之見但由返觀非假目視。若開目返觀。可以見暗。則開眼返觀。亦可見面。面不可見。暗豈能知。是見必不能見內也。若復以心識默對。此為腑藏。此為面目。即可名見。則此心眼不在虛空乎。既以心眼本在虛空。如魘寤者。能見自己面目。則如來之身亦即汝身乎。既又以如來之見即我之見。如來之身即我之身。則阿難一身。不成兩佛乎。此從內對中翻出許多轉計。內對必不可成。則見暗必不可謂之見內也。雖然。能見者本自暗也。而誰其見之。云門垂語云。人人盡有光明在。看時不見暗昏昏。作麼生是諸人光。明自代云廚庫三門。又曰好事不如無。雪竇頌云。自照列孤明。為君通一線。華謝樹無影。看時誰不見。見不見。倒騎牛兮入佛殿。若解得倒騎牛入佛殿底道理。即謂見暗名見內者。亦無有不是處。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan chỉ vì nghi vướng vào lời nói “Chẳng thể thấy bên trong” mà sanh ra bao nhiêu là suy đoán. “Nấp sau con mắt” đã chẳng phải, thì “Cái thấy tối xoay vào trong” lại đúng hay sao ? Cái “Thấy tối” này lại càng suy ra nhiều suy tính hơn.

Ông Anan tuy chưa tỏ lời mà Đức Thế Tôn mỗi mỗi đem ra phá sạch. Ban đầu là hỏi cái cảnh tối đó là đối với mắt hay không đối với mắt. Nếu đối với mắt thì thành cảnh ở ngoài, còn nếu không đối với mắt thì chẳng thấy được, thì cái tối đó không thể gọi là ở trong vậy.

Đã cho là cái Thấy của “Năng Kiến” là do nhìn trở lại chứ không nhờ con Mắt, thì nếu nhắm mắt nhìn vào trong thấy tối, ắt mở mắt quay lại nhìn cũng có thể thấy mặt. Mặt không thấy được, làm sao thấy được cái tối, vậy thì cái Thấy ấy không thể thấy bên trong. Nếu lại dùng tâm thức im lặng suy xét, đây là tạng phủ, đây là mặt mày, mà gọi là cái Thấy, thì cái tâm Nhãn ấy, chẳng phải ở tại hư không sao?

Nếu cho là Tâm, mắt vốn ở tại hư không, có thể thấy mặt mày của mình, thì thân của Như Lai cũng là thân của ông sao ? Nếu cho rằng cái Thấy của Như Lai là cái Thấy của ông, thân Như Lai là thân của ông thì một thân Anan có thể thành hai vị Phật sao ?

Từ cái chỗ “Thấy bên trong” này mà sanh ra bao nhiêu là suy tính. Cái “Thấy đối với bên trong” đã chẳng thể thành, thì thấy tối không thể gọi là “Thấy bên trong” được. Tuy nhiên, cái Năng Kiến ấy nó vốn tự tối, vậy thì ai thấy đó ?
Ngài Vân Môn hạ lời : “Người người tự có quang minh cả. Khi xem chẳng thấy, tối thui thui. Thế nào là quang minh của người người ?”

Tự trả lời thay rằng : “Kho bếp ba cửa”.

Lại nói : “Việc tốt chẳng bằng không”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :-

“Tự chiếu bày độc sáng
Vì ông thông một đường
Hoa tàn cây không bóng
Khi xem ai chẳng thấy
Thấy, chẳng thấy
Cỡi ngược trâu, hề, vào Phật điện”.

(Tự chiếu liệt cô minh
Vi quân thông nhất tuyến
Hoa tạ thụ vô ảnh
Khán thời thùy bất kiến
Kiến bất kiến
Đảo kỵ ngưu hề nhập Phật điện).

Nếu hiểu được chỗ “Cỡi ngược trâu vào Phật điện”, thì nói “Thấy tối tức là thấy bên trong” cũng không phải là không đúng !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 08:33:52 PM »

(tiếp theo)

阿難言。我常聞佛開示四眾。由心生故。種種法生。由法生故。種種心生。我今思惟。即思惟體實我心性。隨所合處。心則隨有。亦非內外中間三處。佛告阿難。汝今既言由法生故種種心生。隨所合處心隨有者。是心無體。則無所合。若無有體而能合者。則十九界因七塵合。是義不然。若有體者。如汝以手自挃其體。汝所知心。為復內出。為從外入。若復內出。還見身中。若從外來。先合見面。阿難言。見是其眼。心知非眼。為見非義。佛言。若眼能見。汝在室中。門能見不。則諸已死。尚有眼存。應皆見物。若見物者。云何名死。阿難。又汝覺了能知之心。若必有體。為復一體。為有多體。今在汝身。為復遍體。為不遍體。若一體者。則汝以手挃一支時。四支應覺。若咸覺者。挃應無在。若挃有所。則汝一體。自不能成。若多體者。則成多人。何體為汝。若遍體者。同前所挃。若不遍者。當汝觸頭。亦觸其足。頭有所覺。足應無知。今汝不然。是故應知隨所合處心則隨有。無有是處。


VI- CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Tôi thường nghe Phật chỉ dạy tứ chúng : Do tâm sanh nên thảy thảy pháp sanh. Do pháp sanh nên thảy thảy tâm sanh”. Nay tôi suy nghĩ thì cái Thể Suy Nghĩ đó thật là tâm tánh của tôi, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa”.

Phật bảo Ông Anan : “Nay ông nói rằng : do Pháp sanh nên các thứ tâm sanh, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó. Cái tâm ấy nếu không có tự thể thì không thể hợp được, chứ nếu không có tự thể mà vẫn hợp được thì Giới Thứ Mười Chín cùng Trần Thứ Bảy hợp lại được hay sao ? Nghĩa ấy không đúng.

“Còn nếu có tự thể thì khi ông lấy tay tự gãi thân ông, cái tâm biết gãi của ông ở trong thân ra hay từ ngoài vào ? Nếu từ trong thân ra, thì phải thấy trong thân. Còn nếu từ ngoài vào, thì trước hết phải thấy cái mặt”.
Ông Anan bạch Phật : “Thấy là con Mắt, còn tâm thì Biết chứ không Thấy như con Mắt, nói tâm thấy là không đúng nghĩa”.

Phật dạy : “Nếu con mắt thấy được, thì khi ông ở trong phòng, cái cửa có thấy được không? Lại những người chết rồi vẫn còn con Mắt, lẽ ra phải thấy được vật, mà nếu thấy được vật thì sao gọi là chết ?

“Anan, lại nếu cái tâm hay biết của ông phải có tự thể thì có một thể hay có nhiều thể ? Nay tâm ở nơi thân ông, thể ấy cùng khắp cả mình hay không cùng khắp ? Nếu tâm có một thể thì ông lấy tay gãi một chi, lẽ ra cả tứ chi đều biết, mà nếu đều biết thì lại không biết gãi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ gãi thì cái thuyết một thể của ông tự nhiên không thành. Nếu như có nhiều thể thì thành ra nhiều người, còn biết cái thể nào là thể của ông.

 Nếu cái thể ấy là cùng khắp thì lại như trước kia, không biết được chỗ gãi. Còn nếu như không cùng khắp thì khi ông chạm trên đầu, đồng thời cũng chạm dưới chân, hễ đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay ông lại không phải như thế”.


“Vậy, nên biết rằng “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền ở chỗ đó”, thật không có lẽ ấy”.

通曰。觸頭頭知。觸足足知。豈不是隨所合處心則隨有。然隨所合處。心則隨有。隨所不合處。心則總無。豈不是斷常邪見。世尊姑無暇責此。但就彼合之一字。詳辨其非。合必有體。若無體者。合義不成。如無七塵。即無十九界。若有體者。此體既非外來。又非內出。以心體論。為一體乎。為多體乎。其在人身。為遍體乎。為不遍體乎。藉以手挃一支。而覺隨挃有。是覺為一體。應咸在矣。是覺為多體。應多人矣。是覺為遍體。則挃無在矣。是覺為不遍體。則挃有所不知矣。此四俱非。即無定體。何由與之合哉。隨所合者。合其一體乎。合其多體乎。合其遍體乎。合其不遍體乎。合彼則遺此。合此則遺彼。且非一非多。非遍非不遍。而卒不可合也。既不能合。何以見其隨有哉。世尊雖以此辨其隨所合之非。然亦明示以真心無體之妙。無體則無合。心境不相到。當處解脫。本自無生。而何謂法生則種種心生乎。心生種種法生。與三界唯心之旨不殊。故不必辨。法生種種心生。以心本無生。因境有觀之。亦自無病。而阿難引以證隨所合處心則隨有。是隨波逐浪之心。而非對境數起之心也。故悟心無體。即數起不為礙。緣起無生故也。有僧問夾山。撥塵見佛時如何。山曰。直須揮劍。若不揮劍。漁父棲巢。僧舉問石霜。撥塵見佛時如何。霜云渠無國土。何處逢渠。僧回舉似夾山。山上堂云。門庭施設。不如老僧。入理深談。猶較石霜百步。天童頌云。拂牛劍氣洗兵威。定亂歸功更是誰。一旦氛塵清四海。垂衣皇化自無為。丹霞頌云。當機一句玉珊珊。內外玲瓏溢目寒。無漏國中留不住。月華影裡見應難。即此一則。撥塵見佛。尚自不逢。況合塵而覓覺。抑亦顛倒甚矣。雖然。一月普現一切水。一切水月一月攝。隨所合處。何患無有。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Chạm đầu : đầu biết, chạm chân : chân biết, há chẳng phải là “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền tùy có ở chỗ đó” hay sao ? Nhưng nếu thế thì ở chỗ không hợp, thì tâm hoàn toàn không có. Đó chẳng phải là tà kiến “Đoạn, Thường” hay sao ? Đức Thế Tôn hẳn không vô cớ trách rầy chuyện này.

Chỉ ở nơi một chữ “Hợp” mà biện rõ chỗ sai lầm. Hợp tức phải là có tự thể. Nếu không có tự thể, nghĩa Hợp không thành. Cũng như không có Trần Thứ Bảy, tất không có Giới Thứ Mười Chín. Còn nếu có tự thể, thì thể này đã chẳng phải từ ngoài vào, lại cũng chẳng phải từ trong ra. Cái tâm thể ấy là một thể hay nhiều thể ? Ở nơi thân con người, nó là thể biến khắp hay là thể không biến khắp ? Lấy tay gãi một chi, thì cái Biết tùy do gãi mà có, nếu cái Biết ấy là một thể thì phải ở khắp nơi, còn nếu là nhiều thể thì thành ra nhiều người !

Cái Biết ấy nếu có ở khắp nơi thì khi gãi không rõ chỗ gãi; còn nếu không ở khắp nơi thì khi gãi lại có chỗ không biết. Có bốn điều trên đều chẳng phải, tức là cái tự thể không định được, vậy do đâu mà hợp ? Nói là “Tùy chỗ mà hợp” ấy, thì hợp với một thể ư ? Hợp với nhiều thể ư ? Hợp với thể biến khắp ư ? Hợp với Thể chẳng biến khắp ư? Hợp với kia thì bỏ đây, hợp với đây thì bỏ kia. Vả chăng phải một, chẳng phải nhiều, chẳng phải khắp, chẳng phải không khắp, mà cuối cùng chẳng có thể hợp. Đã không thể hợp, làm sao thấy “Cái tùy theo mà có” ?

Đức Thế Tôn tuy biện biệt cái sai lầm của thuyết “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền tùy có ở chỗ đó”, nhưng cũng chỉ bày cái diệu mầu của Chân Tâm vô thể. Vô thể ắt vô hiệp, Tâm Cảnh chẳng đến nhau, ngay đây Giải Thoát  -(ct) Rảnh rang. ), vốn tự Vô Sanh. Thế thì làm sao nói được “Pháp sanh thì thảy thảy tâm sanh” ? “Tâm sanh thì thảy thảy pháp sanh” cùng với ý chỉ “Tam Giới Duy Tâm” không khác, nên không cần phải biện luận. “Pháp sanh thì thảy thảy tâm sanh” thì tâm vốn Vô Sanh, nhân Cảnh mà có soi chiếu, cũng tự là không bệnh.

Nhưng Ông Anan dẫn lời dạy của Phật để chứng minh là “Hợp với chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó”, thì ấy là cái tâm theo sóng đuổi sóng, chẳng phải cái tâm hiện cảnh mà tịch diệt vậy. Nên ngộ được cái tâm vô thể thì sự hiện cảnh không làm ngăn ngại, nên duyên khởi mà Vô Sanh là vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Giáp Sơn  -(ct) Giáp Sơn: tên núi. Tổ sư tu tại núi này nên lấy tên núi làm hiệu. ) : “Khi dẹp Trần thấy Phật thì sao ?”

Tổ Sơn rằng : “Chính liền vung kiếm ! Nếu không vung kiếm, ngư ông nghỉ ổ !”

Nhà sư đem hỏi Tổ Thạch Sương  -(ct) Tổ tên Sở Viên, tự Trần Minh, cháu sáu đời của Ngài Lâm Tế Nghiã Huyền (Tổ Lâm Tế tông). Nương ở Thạch Sương Sơn, ban đầu học Nho. Hai mươi mốt tuổi đi tu, kế pháp nơi Lạc Dương Chiêu. ) : “Dẹp Trần thấy Phật thì như thế nào ?”

Tổ Sương đáp : “Hắn không quốc độ, chỗ nào gặp hắn ?”

Nhà sư trở về nói lại y vậy cho Tổ Giáp Sơn.

Tổ Sơn thượng đường nói rằng : “Cái bày vẽ của môn đình  -(ct) Nhà Thiền. ) chẳng như lão tăng. Thấu lý, luận sâu còn cách Thạch Sương trăm bước !”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

Phất thanh kiếm lớn tẩy binh oai
Dẹp loạn công đầu ấy là ai ?
Một sớm, khí trần thanh (trọng) bốn biển
Rủ y (áo), trời đất tự vô vi.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

Một câu khế lý, ngọc reo vang
Nội ngoại long lanh, mắt lạnh tràn
Cõi Vô Lậu ấy dừng chẳng được
Trong bóng trăng hoa khó thấy thay !

Một tắc này đây, “Dẹp trần thấy Phật”, mà tự mình còn chẳng thấy, huống là hợp với trần mà tìm Phật, tìm Giác thì thật là quá sức điên đảo ! Tuy nhiên, một mặt trăng hiện khắp tất cả mặt nước. Tất cả mặt trăng dưới nước thu nhiếp vào một mặt trăng. Thì sự “Tùy chỗ mà hợp” lo gì chẳng có !




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Phambanglinh, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 08:37:14 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。我亦聞佛與文殊等諸法王子談實相時。世尊亦言心不在內。亦不在外。如我思惟。內無所見。外不相知。內無知故。在內不成。身心相知。在外非義。今相知故。復內無見。當在中間。佛言。汝言中間。中必不迷。非無所在。今汝推中。中何為在。為復在處。為當在身。若在身者。在邊非中。在中同內若在處者。為有所表。為無所表。無表同無。表則無定。何以故。如人以表表為中時。東看則西。南觀成北。表體既混。心應雜亂。阿難言。我所說中。非此二種。如世尊言。眼色為緣。生於眼識。眼有分別。色塵無知。識生其中。則為心在。佛言。汝心若在根塵之中。此之心體。為復兼二。為不兼二。若兼二者。物體雜亂。物非體知。成敵兩立。云何為中。兼二不成。非知不知。即無體性。中何為相。是故應知當在中間。無有是處。


VII- CHẤP TÂM Ở CHẶNG GIỮA

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, trong khi Phật nói Thực Tướng với các vị Pháp Vương Tử như Ngài Văn Thù, Thế Tôn cũng nói ràng “Tâm không ở trong, cũng không ở ngoài”. Theo tôi suy nghĩ : tâm ở trong thân, sao lại không thấy bên trong; tâm ở bên ngoài thân thì thân và tâm sao lại không cùng biết. Không biết bên trong nên tâm không thể ở bên trong. Thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài là không đúng lý. Nay thân và tâm cùng biết, lại không thấy bên trong thân, nên tâm phải ở chặng giữa !”

Phật bảo Ông Anan : “Ông nói “Ở chặng giữa”, thì cái Giữa ấy chắc không lẫn lộn và không phải không có chỗ. Nay ông nhận định cái Giữa ấy chỗ nào, ở nơi cảnh hay ở nơi thân ? Nếu ở nơi thân mà ở một bên thì không phải là ở giữa, còn nếu ở giữa thân thì cũng là ở trong thân rồi. Nếu cái giữa ấy ở nơi cảnh thì có thể nêu ra được hay không nêu ra được ? Không nêu ra được thì cũng như không có, còn nếu nêu ra được thì lại không định được. Vì sao ? Ví như có người lấy một cây nêu, nêu một chỗ làm cái Giữa, thì phương Đông nhìn qua, cái nêu lại ở phương Tây, phương Nam lại thấy thành phương Bắc. Cái Giữa nêu ra đã lẫn lộn thì tâm phải tạp loạn”.

Ông Anan bạch Phật : “Cái Giữa của tôi nói chẳng phải là hai thứ ấy. Như Đức Thế Tôn đã nói : Nhãn Căn duyên nơi Sắc Trần sanh ra Nhãn Thức. Nhãn Căn có phân biệt, Sắc Trần vô tri, Nhãn Thức sanh ở giữa thì tâm ở tại đó”.

Phật dạy : “Nếu tâm ông ở giữa Căn và Trần, thì cái thể của tâm ấy gồm cả hai bên hay không gồm cả hai bên ? Nếu gồm cả hai bên thì vật và tâm thể xen lộn, vật thì vô tri khác với tâm thể tỏ biết, thành ra hai bên đối địch lẫn nhau, lấy cái gì làm cái ở giữa ? Gồm cả hai cũng không được, vì như thế thì chẳng phải là biết hay không biết, tức là không có thể tánh, lấy cái gì làm cái tướng ở giữa ?

“Vậy, nên biết rằng ông nói cái tâm là ở chặng giữa, thật không có lẽ ấy”.


通曰。阿難至此。方明識生其中。謂六識分別。介乎根塵之間。較前潛伏根裡之說。尤為有據。但指所謂中者。既非在內。又非在處。唯以根境相交。從中有分別之識。乃指為心。不知根塵識三。相依而立。如交蘆然。原無自性。今確定謂在中間。若有定位然者。為兼二乎。為不兼二乎。兼則一知一不知。角立而不成中。不兼則非知非不知。無體而不成中。然則中將安在。故謂當在中間者非也。若論真心。亦兼二。亦不兼二。何謂兼二。如來藏中。原具見相二分。如後舉性色真空。性空真色。何雜亂之有。何謂不兼二。靈光獨耀。迥脫根塵。如後舉塵既不緣。根無所偶。何嘗無體性哉。若信得此心非知非不知。原無自性。亦無在中之相。乃深明乎中者也。東印土國王。請二十七祖般若多羅齋次。王乃問諸人盡轉經。唯師為甚不轉。祖曰。貧道入息不居陰界。出息不涉眾緣。常轉如是經百千萬億卷。非但一卷兩卷。王便禮拜。天童頌云。云犀玩月燦含輝。木馬游春駿不羈。眉底一雙寒碧眼。看經那到透牛皮。明白心超曠劫。英雄力破重圍。妙圓樞口轉靈機。寒山忘卻來時路。拾得相將攜手歸。此祖師門風。二邊不立。中道不安。虛玄大道無著真宗。最為第一。故非六識根塵所及。若寒山拾得。去來自在。絕無纖毫識情掛胸次間。足與二十七祖相見。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đến đây, Ông Anan mới bày tỏ ra là Thức sanh ở chính giữa. Nói rằng sáu Thức phân biệt ở giữa Căn và trần, so với cái thuyết núp trong con mắt thì có căn cứ hơn. Nhưng chỗ gọi là ở giữa đó, đã không ở trong lại chẳng ở ngoài, chỉ do Căn và Cảnh giao nhau, từ giữa đó mà có cái Thức phân biệt, bèn cho là tâm. Thật ra, không biết rằng ba thứ Căn, Trần, Thức nương nhau mà thành lập, như những cành lau gác lên nhau, vốn không có tự tánh. Nay xác định nó mà nói là ở giữa, vậy nếu cái giữa đó có vị trí thì gồm cả Căn và Trần hay không gồm ? Nếu gồm, thì Căn biết mà Trần lại vô tri, sự đối địch lập ra mà cái ở giữa không thành. Nếu không gồm, thì chẳng phải biết, chẳng phải không biết, không có tự thể nên cái ở giữa cũng không thành. Vậy cái giữa ở đâu? Nên nói tâm ở chặng giữa là sai vậy.

Nếu luận về Chân Tâm, thì cũng gồm cả hai, cũng chẳng gồm cả hai. Sao gọi là gồm cả hai ? Trong Như Lai Tạng, vốn có đủ cả Kiến Phần và Tướng Phần. Như sau này, kinh nói : Tánh của Sắc là Chân Không  -(ct) Cái Không Chân Thật. ), Tánh Không là Chân Sắc, thế thì làm sao có sự lộn xộn, tạp loạn được. Sao gọi là không gồm cả hai ? Vì, đó là Cái Linh Quang độc sáng, vượt khỏi Căn Trần, thì Căn không có chỗ gặp, nào từng không thể tánh sao ? Như tin được rằng cái tâm này chẳng phải biết cũng chẳng phải không biết, vốn không tự tánh, cũng không có cái Tướng ở chính giữa, mới biết rõ sâu xa Cái Chính Giữa là ra sao.

Vị quốc vương xứ Đông Ấn sau khi thỉnh Tổ Thứ Hai Mươi Bảy là Ngài Bát Nhã Đa La thọ trai xong, bèn hỏi rằng : “Mọi người đều chuyển  -(ct) Đọc, tụng. ) kinh, chỉ có thầy tại sao không chuyển ?”

Tổ đáp : “Bần đạo thở vào chẳng ở trong ấm, giới; thở ra chẳng dính dáng với các duyên. Thường chuyển kinh ấy trăm ngàn vạn ức quyển, chứ chẳng phải một hai quyển đâu !”

Vua bèn lễ bái.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Trâu mây giỡn nguyệt sáng miên man
Ngựa gỗ chơi xuân chẳng buộc ràng
Dưới mày ngọc lạnh xanh đôi mắt
Nào phủng da bò  -(ct) Ngưu bì. ) mới khán kinh”.

Lại tụng tiếp :

“Rõ ràng tâm siêu muôn kiếp trống
Anh hùng ra sức phá vòng vây
Trời nhiệm lời yếu chuyển linh cơ
Hàn Sơn quên mất đường xưa lại
Thập Đắc song song nắm tay về”.

Đây là thói nhà  -(ct) Môn phong. ) của Tổ Sư, chẳng lập hai bên, không an trụ trung đạo, đạo lớn rỗng suốt nhiệm mầu, chân tông không bám chấp, chính là Thứ Nhất. Cho nên, đó chẳng phải là chỗ sáu Thức, Căn và Trần đến được.

Như hai Ngài Hàn Sơn, Thập Đắc : đi, đến tự tại, thong dong, nhàn nhã, trong lòng dạ tuyệt không còn một mảy tơ Tình Thức, đủ để cùng Tổ Thứ Hai Mươi Bảy tương kiến.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Phambanglinh, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Hai 23, 2011, 08:41:14 PM »

(tiếp theo)

阿難白佛言。世尊。我昔見佛與大目連須菩提富樓那舍利弗四大弟子。共轉法輪。常言覺知分別心性。既不在內。亦不在外。不在中間。俱無所在。一切無著。名之為心。則我無著。名為心不。佛告阿難。汝言覺知分別心性俱無在者。世間虛空。水陸飛行。諸所物象。名為一切。汝不著者。為在為無。無則同於龜毛兔角。云何不著。有不著者。不可名無。無相則無。非無則相。相有則在。云何無著。是故應知一切無著名覺知心。無有是處。

VIII- CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, trước đây, tôi thấy Phật với bốn đại đệ tử là Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na và Xá Lợi Phất cùng chuyển Pháp luân, Phật thường dạy : cái Tâm Tánh Hiểu Biết Phân Biệt cũng chẳng ở trong, cũng chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở chính giữa, đều không ở chỗ nào cả, tất cả không dính bám, tạm gọi là tâm. Nay tôi không dính bám, thì gọi là tâm chăng ?”

Phật bảo Ông Anan : “Ông nói “Cái tâm Tánh Hiểu Biết Phân Biệt đều không ở đâu tất cả”. Vậy các vật tượng thế gian như hư không và các loài dưới nước, trên đất, bay, chạy, nghĩa là tất cả sự vật mà ông cho là không dính bám đó, là có hay không có ? Không có, thì đồng với lông rùa sừng thỏ, có gì để gọi là không dính bám ? Đã có cái không dính bám thì không thể gọi là không. Không có tướng thì tức là không, chẳng phải không mà lại có tướng. Có tướng thì có chỗ ở, làm sao lại không dính bám được ?

Vậy, nên biết rằng ông nói cái không dính bám vào đâu tất cả là tâm hiểu biết, thật không có lẽ đó”.


通曰。阿難所引無著。未嘗不是。但多了一切二字。是對境而言無著。境在則無著在。且謂俱無所在。幾於斷滅。語便矛盾。若一切物象俱無者。何處更容不著。既有不著。則物象不可謂之無也。若無不著之相。可言無在。非無不著。不著即是相也。有不著之相在。即是心在。心實在於不著。而何以謂之俱無所在乎。心既有在。而又何以謂之無著乎。先即能以明所。不可名無。次即所以明能。相有則在。故無著之義不成。昔嚴陽尊者問趙州。一物不將來時如何。州曰。放下著。嚴云。一物不將來。放下個甚麼。州曰。恁麼則擔取去。尊者言下大悟。黃龍頌云。一物不將來。兩肩擔不起。言下忽知非。心中無限喜。毒惡既忘懷。蛇虎為知己。寥寥千百年。清風猶未已。天童頌云。不妨細行輪先手。自覺心粗愧撞頭。局破腰間柯斧爛。洗清凡骨共仙遊。此頌無著也無。故得自在。大都從境上見無著者。離境則無無著。從性上見無著者。無著即是自性。但存一無著之意。便不可。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Cái không dính bám của Ông Anan dẫn ra đó, chưa từng chẳng phải. Nhưng hiểu cho rõ hai chữ “Tất cả”, thì cái “Vô Trước” ấy là đối với Cảnh mà có. Cảnh mà có thì có vô trước, còn cả hai đều không có, thì hóa ra đoạn diệt ! Nói sao cũng mâu thuẫn. Nếu tất cả vật tượng đều không có, thì còn có chỗ nào nữa để mà không dính bám ? Mà đã có Cái không dính bám thì vật tượng không thể nói là không có !

 Nếu không có Tướng không dính bám, thì mới có thể nói là không có tất cả vật tượng. Có Sự không dính bám, tức là có Tướng rồi. Có tướng không dính bám, tức là có tâm ở đó rồi. Tâm đó ở Chỗ không dính bám thì sao lại gọi là “Đều không ở chỗ nào cả”. Tâm đã có chỗ ở thì sao lại nói là “Không dính bám” ? Trước thì ở nơi cái Năng để làm rõ cái Sở, chẳng thể gọi là không có. Tiếp sau, là dùng cái Sở để làm rõ cái Năng; cái Tướng đã có ắt phải có cái hiện hữu, nên cái nghĩa Vô trước không thành được.

Xưa, Nghiêm Dương tôn giả hỏi Tổ Triệu Châu  -(ct) Người xứ Tào Châu, học xét ở Quan Âm Viện, xứ Triệu Châu. Kế pháp Tổ Nam Tuyền. Tổ có nhiều công án truyền đạo. ): “Một vật chẳng có đem lại thì như thế nào ?”

Tổ Châu rằng : “Buông bỏ đi”.

Ông Nghiêm rằng : “Một vật chẳng có đem lại, thì buông bỏ cái gì ?”

Tổ Châu nói rằng : “Thế thì vác lên mà đi !”

Tôn giả nghe xong, đại ngộ.

Ngài Hoàng Long  -(ct) Tổ Phổ Giác thiền sư, tên Huệ Nam, ở núi Hoàng Long. Thọ pháp Tổ Từ Minh Viên thiền sư ở Hoàng Long. Tổ để lại nhiều sự tích. ) tụng rằng :

Một vật chẳng mang lại
Hai vai vác chẳng nổi
Vừa nghe, rõ lỗi mình
Trong lòng vui không xiết
Độc ác đã quên rồi
Rắn cọp là tri kỷ
Rỗng rang ngàn trăm năm
Gió mát chưa ngừng thổi”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

Chẳng ngờ tế hạnh trước trao tay
Từ rõ lòng quê, thẹn gõ đầu
Phá thoát, ngang lưng rìu cán mục
Rửa trong (sạch) phàm cốt, với tiên chơi”.

Bài tụng này thì Vô Trước cũng không, nên tự do, tự tại. Phần nhiều đều ở nơi cảnh, thì thấy có Vô Trước, lìa Cảnh tức là không Vô Trước. Ở nơi Tánh thấy Vô Trước, thì cái Vô Trước đó tức là Tự Tánh. Dầu còn chỉ một cái ý Vô Trước, bèn là hỏng hết vậy.

------------------------------------

(xin xem tiếp :-

Mục II :- CHỈ RÕ TÁNH THẤY)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, laodongta, Phambanglinh, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Hai 24, 2011, 08:24:01 PM »

(tiếp theo)

爾時阿難在大眾中。即從座起。偏袒右肩。右膝著地。合掌恭敬而白佛言。我是如來最小之弟。蒙佛慈愛。雖今出家。猶恃憍憐。所以多聞。未得無漏。不能折伏娑毗羅咒。為彼所轉。溺於淫舍。當由不知真際所詣。唯願世尊大慈哀愍。開示我等奢摩他路。(此云寂靜)令諸闡提(此云信不具)隳彌戾車。(此云惡見)作是語已。五體投地。及諸大眾傾渴翹佇。欽聞示誨。


MỤC HAI :

CHỈ RÕ TÁNH THẤY

I. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT

Kinh : Bấy giờ, Ông Anan ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo phải, đầu gối phải chấm đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng : “Tôi là em nhỏ nhất của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy đã xuất gia, còn ỷ lại nơi lòng thương của Phật. Vì thế, học rộng nghe nhiều mà chưa được quả Vô Lậu, không chiết phục nổi chú Ta Tỳ La, theo chỗ nó chuyển mà chìm nơi nhà dâm. Nguyên do vì không biết đường đến nơi Chân Tế (Phật Tánh Tự Tâm). Cầu xin Thế Tôn Đại Từ thương xót, chỉ bày cho chúng tôi con đường Chánh Định, cũng khiến cho những kẻ không tin trừ bỏ ác kiến”.

Thưa như vậy xong, rạp cả mình xuống đất, cùng tất cả đại chúng hết lòng mong nghe lời Phật dạy.



通曰。據此時阿難見地。猶未能按伏識情。至湛不搖處。所以未得無漏。始以覺了能知為有物矣。故曰在內在外在根。既知非物矣。而猶以為有識也。故曰隨合而有。識生其中。及知識俱泯。而後信其無著。然有意無著。是亦著也。故一切無著。僅斷七識。尚未至恬靜之地。即至恬靜。猶坐在八識窠窟中。外道所謂冥諦也。若奢摩他路。是轉識成智邊事。雖聖解不容注念。矧凡情可得而牽引之乎。故凡聖情盡。體露真常。方名真際所詣。既知真際。不為淫術所轉。非但自證寂靜。且令一切凡夫信不具者。破除惡見也。端師子讀楞嚴有頌云。七處征心心不遂。懵懂阿難不瞥地。直饒徵得見無心。也是泥裡洗土塊。可謂具眼者。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Xét chỗ thấy của Anan lúc ấy dường chưa thể đè bẹp thức tình để đến chỗ trong lặng không dao động, chỉ vì chưa được Vô Lậu  -(ct) Hết phiền não. ).

Mới đầu thì cho cái tâm Giác Liễu Năng Tri là có vật, nên mới nói “Ở trong, ở ngoài, ở nơi Căn”.

Đến khi đã biết là chẳng phải vật, nhưng còn cho là có Thức, nên mới nói là “Tùy chỗ Hiệp mà có”, “Thức sanh ở chặng giữa”.

Đến lúc cái Tri, cái Thức đều tiêu hết, rồi mới tin là “Chẳng có dính bám (Vô Trước)”. Nhưng đã có cái ý “Không dính bám” thì cũng đã dính bám rồi vậy.

Nhưng tất cả không có dính bám mới chỉ đoạn trừ được cái Thức Thứ Bảy, chứ chưa đến cái địa vị lặng lẻ. Mà dù có đến được địa vị lặng lẻ, thì vẫn còn ngồi trong hang ổ của Thức Thứ Tám, chỗ ngoại đạo gọi là Minh Đế  -(ct) Đế Thứ Nhất trong hai mươi lăm Đế của Số Luận Sư (ngoại đạo) lập ra. Đó là cái nguồn cội của muôn vật mù mịt, không chơn chánh nên gọi là Minh Đế, còn gọi là Minh Tánh. ).

Nếu con đường tu Định chỉ là phương tiện bờ mé của việc chuyển Thức thành Trí, mà Thánh giải còn tuyệt chẳng dung chú niệm, huống gì là lại bám lấy phàm tình để bị kéo lôi ? Cho nên, tình phàm ý Thánh đều hết, thì Chân Thường hiển lộ, mới gọi là Chân Tế. Thấu suốt Chân Tế mới không bị dâm thuật chuyển đảo.

Chẳng phải chỉ tự mình hiểu biết hẳn hoi đầy đủ chỗ Tịch Tịnh  -(ct) Tự chứng tịch tịnh. ) mà còn giúp cho hết thảy phàm phu chưa đủ lòng tin phá trừ được ác kiến vậy.

Ngài Đoan Sư Tử đọc Lăng Nghiêm có bài tụng :

“Bảy chỗ bày Tâm, tâm chẳng thỏa
Ngơ ngác Anan không liếc tới
Hiện mà bày được, thấy vô tâm
Ấy chính trong bùn rửa đất cục”.
Có thể nói là bực có con mắt đầy đủ.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, laodongta, mavuong, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Hai 24, 2011, 08:30:59 PM »

(tiếp theo)

爾時世尊從其面門。放種種光。其光晃曜。如百千日。普佛世界。六種震動。如是十方微塵國土。一時開現。佛之威神。令諸世界合成一界。其世界中所有一切諸大菩薩。皆住本國。合掌承聽。

II. PHÓNG QUANG NÊU RA TÁNH THẤY VIÊN MÃN SÁNG SUỐT

Kinh : Bấy giờ từ mặt Đức Thế Tôn phóng ra các thứ hào quang, ánh sáng rực rỡ như trăm nghìn mặt trời. Khắp các thế giới của chư Phật, sáu thứ chấn động. Các cõi nước nhiều như vi trần của mười phương hiện ra trong một lúc. Oai thần của Phật khiến các thế giới hợp lại thành một thế giới. Trong thế giới này, tất cả các vị Bồ Tát hiện có đều an trụ ở nước mình chấp tay nghe lời Phật dạy.

通曰。放光動地。舊以為不思議境界。然亦可以意會。養生家精神完固。昏夜中目光炯炯。無物不睹。況世尊多劫成就。其光有不晃曜者乎。祈求家運動元氣。可以興云致雨。況世尊清淨法身未可涯量。普佛世界有不震動者乎。世尊建大法幢。必先有所表。所云令諸世界合成一界。隱然有會妄歸真之意。若是上根利智。見如是光。睹如是事。即獲本心。證無生忍。圓照禪師上堂云。看看。爍爍瑞光。照大千界。百億微塵國土。百億大海水。百億須彌山。百億日月。百億四天下。乃至微塵剎土。皆於光中一時發現。諸仁者還見麼。若也見得。許汝親在瑞光。若也不見。莫道瑞光不照。好參人人皆有此光。何為圓照便見。眾人便不見。悟與不悟耳。法性本週。妄塵不隔。智境本圓。情量不礙。若悟自心。便知此等皆屋裡事。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Phóng quang động địa, xưa cho là cảnh giới không thể nghĩ bàn, nhưng cũng có thể hiểu được.

 Các đạo gia, tinh thần đầy đủ, vững chắc, thì trong đêm tối, mắt vẫn có sáng tỏ mà không vật gì chẳng thấy. Huống hồ Đức Thế Tôn nhiều kiếp thành tựu, thì hào quang chẳng có chói lọi rực rỡ sao ? Hạng cầu đảo vận động nguyên khí có thể kêu mây mưa xuống, huống là Pháp Thân thanh tịnh của Thế Tôn không bờ không bến thì khắp các thế giới của chư Phật chẳng chấn động sao ?

Thế Tôn dựng cây cờ Pháp lớn, tất trước tiên phải có chỗ tỏ bày. Chỗ nói là “Khiến tất cả các thế giới hợp lại thành một cõi” là đã ẩn cái ý Hội Vọng quy Chơn vậy. Nếu là hạng thượng căn  -(ct) Kẻ mắt, tai tất cả các căn nhanh lẹ, sáng láng. ) lợi trí thì thấy ánh sáng như thế, nhìn sự việc như thế, liền được Bổn Tâm, chứng Vô Sanh Nhẫn.
Thiền sư Viên Chiếu  -(ct) Tổ xuất gia lúc mười tuổi, nghiên cứu xét cùng nghiã lý Duy Ma pháp, nhơn đó rõ biết Duy Thức; bàn cứu sách Nho; chuyên về Luật Tạng. ) lên tòa giảng, nói rằng :

 “Hãy xem ! Ánh sáng tốt lành rực rỡ, chiếu sáng cả Đại Thiên thế giới. Trăm ức vi trần cõi nước, trăm ức đại hải, trăm ức núi Tu Di, trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức bốn Châu thiên hạ, cho đến cõi Phật vi trần đều ở trong ánh sáng phát hiện ra cùng một lúc. Các nhân giả ! Có thấy chăng ? Nếu thấy được, thì chính các ông đang tự thân ở trong ánh sáng tốt lành ấy. Không thấy được, đừng nói là ánh sáng tốt lành chẳng có chiếu soi. Hãy tham !”

Ai ai cũng đều có ánh sáng này. Vì sao Tổ Viên Chiếu thấy còn mọi người chẳng thấy ? Đó là ngộ với chẳng ngộ vậy.

Pháp Tánh vốn khắp cả, vọng trần chẳng ngăn cách được.

Cái Trí Cảnh vốn tròn đầy, thức tình nào ngăn ngại được.

Nếu ngộ Tự Tâm, bèn biết hết thảy, đấy đều là việc trong nhà.

佛告阿難。一切眾生。從無始來。種種顛倒。業種自然。如惡叉聚。(果名一蒂三實無孤生者)諸修行人。不能得成無上菩提。乃至別成聲聞緣覺。及成外道。諸天魔王。及魔眷屬。皆由不知二種根本。錯亂修習。猶如煮砂。欲成嘉饌。縱經塵劫。終不能得。云何二種。阿難。一者無始生死根本。則汝今者與諸眾生。用攀緣心為自性者。二者無始菩提涅槃。元清淨體。則汝今者識精元明。能生諸緣。緣所遺者。由諸眾生遺此本明雖終日行而不自覺。枉入諸趣。

III. HAI THỨ CĂN BẢN


Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, đủ thứ điên đảo, mầm giống Nghiệp tự nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được Bồ Đề Vô Thượng, đến nỗi riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại đạo, Chư Thiên, Ma Vương, hay bà con quyến thuộc của Ma. Tất cả đều do không biết hai loại căn bản, lầm lộn tu tập, cũng như nấu cát mà muốn thành món ngon, dầu trải qua số kiếp nhiều như bụi, rốt cũng chẳng được.

“Thế nào là hai loại căn bản ? Anan, một là, Cội Gốc (Căn Bản) của Sanh Tử vô thủy. Tức là ông hiện giờ và các chúng sanh dùng cái tâm Bám Níu Theo Duyên (Tâm Phan Duyên) mà làm Tự Tánh. Hai là, cái Thể bản lai thanh tịnh Bồ Đề Niết Bàn vô thủy. Tức là cái Chân Tâm vốn sáng soi của ông hiện giờ, hay sanh các duyên nhưng ông lại duyên theo các tướng duyên đó mà bỏ quên nó. Vì các chúng sanh bỏ quên cái Vốn Tự Sáng này nên tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng tự biết, uổng oan lạc vào sáu nẻo.


通曰。七處征心。皆指其非。為其用攀緣心為自性也。阿難亦知此心未得無漏。不能折伏娑毗羅咒。為彼所轉。當由不知真際所詣。亦隱隱窺見菩提涅槃。元清淨體。願佛開示。故世尊明白分析而語之。前云。用諸妄想。此想不真。故有輪轉。即此用攀緣心為自性者。乃無始來生死之根本也。前云。皆由不知常住真心。性淨明體。即此菩提涅槃。元清淨體。乃無始來不生不滅之根本也。輪轉生死。惑業苦三。生必同聚。故如惡叉聚。不但天魔外道。決入輪迴。即聲聞緣覺。錯亂修習。總名顛倒。何以故。以生滅為因故。若識精元明。能生諸緣。緣所遺者。本自不生不滅也。如後云。元明照生所。所立照性亡。與此同旨。此即妄想生起之由。既落妄想。遂遺本性。遺此本明故入諸趣。而不能成無上菩提也。有客來謁長沙。沙召尚書。其人應諾。沙曰。不是尚書本命。曰不可離卻即今秪對。別有第二主人。沙曰。喚尚書作至尊得麼。曰恁麼總不秪對時。莫是弟子主人否。沙曰。非但秪對與不秪對時。無始劫來是個生死根本。有偈曰。學道之人不識真。秪為從來認識神。無始劫來生死本。痴人喚作本來人。然則本來人何由而識。雜華出現品云。佛子。無一眾生而不具有如來智慧。但以妄想顛倒執著而不證得。若離妄想。一切智自然智無礙智。則得現前。天童頌云。天蓋地載。成團作塊。周法界而無邊。析鄰虛而無內。及盡玄微。誰分向背。佛祖來償口業債。問取南泉王老師。人人只吃一莖菜。既是人人具有底道理。何故不能俱證菩提。乃至別成聲聞緣覺等。圓覺經云。一切眾生。妄見流轉。厭流轉者。妄見涅槃。由此不能入清淨覺。非覺違拒諸能入者。有諸能入。非覺入故。然則識取不生不滅根本。非大悟徹不可。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Bảy chỗ bày cái tâm, đều là chẳng phải, vì dùng Tâm Phan Duyên làm tự tánh.

Ông Anan cũng biết cái tâm này chưa được Vô Lậu, không chiết phục nổi chú Ta Tỳ La, mà còn bị nó chuyển. Ông nói : “Nguyên do là vì không biết chỗ vào Chân Tế, là cũng đã lờ mờ trộm thấy cái Thể trong sạch của Bồ Đề Niết Bàn (Niết Bàn là Tịch Diệt), nên xin Phật chỉ bày. Do đó, Thế Tôn phân tích rõ ràng mà dạy cho. Trước, Phật đã dạy : Dùng các vọng tưởng, các tưởng này chẳng chân thật, nên mới bị luân chuyển. Điều đó, ở đây Ngài dạy : Dùng Tâm Phan Duyên mà làm Tự Tánh, đó là cái gốc rễ của sanh tử từ vô thủy đến nay vậy. Trước, Phật dạy: Đều chẳng biết cái Chơn Tâm chẳng sanh chẳng diệt, tánh nó chẳng ô nhiễm, thể nó vốn sáng suốt. Tức ở đây là : Bồ Đề Niết Bàn, vốn thể nó trong sạch, đó là gốc rễ chẳng sanh chẳng diệt xưa nay vậy.

Xoay chuyển nơi sống chết : Hoặc, Nghiệp, Khổ ba thứ này sanh ra, đồng nhau tụ hợp giống như chùm trái ác xoa. Không những Thiên Ma, ngoại đạo chắc chắn ở trong luân hồi, mà ngay cả Thanh Văn Duyên Giác tu tập lầm lộn, đều gọi là điên đảo.

Tại sao thế ? Vì lấy Sanh Diệt làm Nhân Địa tu hành vậy. Mà cái Nguyên Minh vốn sáng soi, sinh ra các duyên thì vốn tự chẳng sanh chẳng diệt, chỉ vì duyên theo cái Sở mà bỏ quên nó.

Như đoạn sau, kinh nói rằng “Tánh Nguyên Minh ấy chiếu mà sanh ra cái Sở. Cái Sở đã riêng lập thì Tánh Chiếu Soi bị bỏ quên”, thì ý chỉ cũng giống đoạn này. Đấy tức là nguyên do sanh ra các vọng tưởng, mà đã lạc vào vọng tưởng, bèn mất đi Bản Tánh. Quên mất cái Nguồn Gốc Sáng Suốt này, nên rơi vào các nẻo, mà không thành Bồ Đề Vô Thượng.

Có vị khách làm Thượng Thơ ra mắt Tổ Trường Sa.
 
Tổ Sa gọi : “Thượng Thơ !”

Vị này lên tiếng dạ.

Tổ Sa nói : “Đã chẳng phải là bổn mạng Thượng Thơ đó sao ?”

Thượng Thơ rằng : “Chẳng thể lìa bỏ. Nhưng nay vừa đối diện, lại riêng có chủ nhân thứ hai rồi”.

Tổ Sa nói : “Gọi Thượng Thơ là Chí Tôn được không ?

Nói rằng : “Như thế, suốt cả khi không đối, đã không phải là chủ nhân của đệ tử sao ?”

Tổ Sa nói : “Chẳng phải chỉ khi đối hay không đối, mà từ đời vô thủy đến nay, đó là cái Căn Bản sanh tử của ông vậy”.

Lại tụng rằng :

“Cái người học đạo chẳng biết Chân
Chỉ bởi xưa nay nhận Thức Thần
Gốc rễ tử sanh, từ vô thủy
Kẻ si lại gọi Bổn Lai Nhơn”.

(Học đạo chi nhơn bất thức Chơn
Chỉ vị tùng lai nhân Thức Thần
Vô thủy kiếp lai sanh tử bổn
Si nhơn hoán tác Bổn Lai Nhơn).

Như vậy thì chủ nhơn xưa nay, do đâu mà biết ???

Phẩm Xuất Hiện của kinh Tạp Hoa nói : “Phật tử, không có chúng sanh nào mà không vốn đủ Trí Huệ Như Lai, chỉ vì bám giữ lấy vọng tưởng điên đảo mà chẳng chứng  -(ct) Tự biết lấy rõ ràng. ) được. Nếu lìa vọng tưởng, thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí, tự hiển bày trước mắt”.

Ngài Thiên Đồng tụng :

“Trời che đất chở, nên khối, thành hòn
Khắp pháp giới nhưng không bờ mé
Chẻ lân hư mà không ở trong
Nuốt trọn huyền vi
Nào phân sau, trước.
Phật, Tổ đến đây trả nghiệp miệng

Hỏi lấy Nam Tuyền, Vương Lão Sư
-(ct) Tổ Phổ Nguyện thiền sư, kế pháp Đức Mã Tổ, hoằng đạo ở Nam Tuyền, thường xưng mình là Vương Lão Sư. )

Người người ăn chỉ rau, một cọng”.

Đã là chuyện ai ai cũng có, sao chẳng thể cùng chứng Bồ Đề mà đến nỗi riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác ?

Kinh Viên Giác nói : “Tất cả chúng sanh vọng thấy có lưu chuyển. Chán ghét lưu chuyển, lại vọng thấy có Niết Bàn. Do vậy mà chẳng nhập vào cái Giác vốn trong sạch. Chẳng phải Giác cản chống lại người-nhập. Vì, chỉ có người-nhập, chẳng phải cái Giác có sự nhập”.

Nhưng, biết chọn giữ lấy cái Căn Bản Không Sanh Không Diệt, ngoài sự đại triệt ngộ, thì không thể.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, laodongta, mavuong, Yahoo, dieunha, SCC, 8N
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 ... 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.204 seconds với 25 câu truy vấn.