Tháng Hai 28, 2020, 03:50:19 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG I-- 首楞嚴宗通經 1  (Đọc 15262 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Hai 11, 2011, 08:11:05 PM »

KINHTHỦ LĂNG NGHIÊM

TÔNG THÔNG

首楞嚴宗通經



 

TÂY TẠNG TỰ - BÌNH DƯƠNG

平陽 - 西藏寺


Người dịch : -

THUBTEN OSALL LAMA - NHẪN TẾ THIỀN SƯ

忍濟禪師譯



THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP. HỒ CHÍ MINH
Phật lịch : 2541 – 1997

------------------------

《大佛頂如來密因修證了義
諸菩薩萬行首楞嚴宗通經》

ĐẠI PHẬT ĐẢNH NHƯ LAI MẬT NHÂN
TU CHỨNG LIỄU NGHĨA CHƯ BỒ TÁT
VẠN HẠNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH TÔNG THÔNG

Đời Đường :

Ngài Bát Lạt Mật Đế, Sa Môn xứ Thiên Trúc dịch.
Ngài Di Già Thích Ca, Sa Môn xứ Ô Trường dịch ngữ.
Trần Chánh Nghị Đại Phu Phòng Dung, Bồ Tát Giới Đệ Tử chép.

Đời Minh :

Bồ Tát Giới Đệ Tử Tiền Phụng Huấn Đại Phu, Lễ Bộ Từ Tế Thanh Sử Tư Viên Ngoại Lang, Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi tông thông.

Việt dịch :

Thubten Osall Lama - Nhẫn Tế thiền sư

1944-1950

Biên tập :

Chúng đệ tử Đời Thứ Ba Tây Tạng Tự

Bổ sung chánh văn chữ Hán:- Cư sĩ Chánh Nguyên



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N, ngodao, dieunha, Yahoo, laodongta, byphuong, SCC
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 16, 2011, 08:49:59 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Hai 11, 2011, 08:16:16 PM »

(tiếp theo)


 


Hòa Thượng TS  Thích Nhẫn Tế



MỤC LỤC CHI TIẾT

Lời Nói Đầu

Tiểu sử Ngài Thubten Osall Lama (Nhẫn Tế Thiền Sư)

A.- PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN TỰA

Duyên khởi của Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông


QUYỂN I

Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông.
Tựa chung
Duyên khởi của Kinh


B.- PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I :  CHỈ  BÀY CHÂN TÂM
                       
*Mục Một : Gạn Hỏi Cái Tâm:
Nguyên do của thường trụ và lưu chuyển.
Chấp tâm ở trong thân
Chấp tâm ở ngoài thân
Chấp tâm núp sau con mắt
Chấp nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong thân
Chấp tâm hợp với chỗ nào thì liền có ở chỗ ấy
Chấp tâm ở chặng giữa
Chấp tâm không dính dáng vào đâu tất cả

*Mục Hai : Chỉ Rõ Tánh Thấy
Cầu đi đến chỗ chân thật
Phóng quang nêu ra tánh thấy viên mãn sáng suốt
Hai thứ căn bản
Nương cái thấy, gạn hỏi cái tâm
Chỉ rõ tính thấy không phải là con mắt
Ý nghĩa chủ và khách


QUYỂN II

Chỉ tánh thấy không sanh diệt
Chỉ chỗ điên đảo
Lựa bỏ tâm phan duyên để chỉ tánh thấy khôngthể trả về đâu
Lựa riêng trần cảnh để nêu ra tánh thấy

*Mục Ba : Phật Nêu Ra Tánh Thấy Ngoài Các Nghĩa "Phải" Và "Chẳng Phải":
Nghi tánh thấy hiện ở trước mắt
Chỉ ra không có cái gì tức là cái thấy
Ngài Văn Thù kính xin Phật phát minh hai thứ
Tánh thấy không có phải hay chẳng phải

*Mục Bốn : Phá Những Thuyết Nhân Duyên, Tự Nhiên:
Nghi Tâm Tính Tự Nhiên Như Thần Ngã
Chỉ ra không phải là tự nhiên
Nghi là nhân duyên
Tánh thấy không phải là nhân duyên, rời các danh, tướng
Bác nhân duyên, tự nhiên
Chỉ thẳng tánh thấy

*Mục Năm : Chỉ Ra Cái Vọng Thấy
Xin chỉ dạy tánh thấy chẳng do thấy
Chỉ ra hai thứ vọng thấy

*Mục Sáu: Chỉ Rõ Ý Nghĩa Tánh Thấy Không Phải Là Cái Thấy, Viên Mãn Bồ Đề.

*Mục Bảy : Tóm Thu Về Như Lai Tạng
A. Thu sắc ấm
B. Thu thọ ấm
C. Thu tưởng ấm
D. Thu hành ấm
E. Thu thức ấm


QUYỂN III

Thu sáu nhập
Thu mười hai xứ
Thu mười tám giới
Thu bảy đại
Đốn ngộ Pháp thân và phát nguyện


QUYỂN IV

*Mục Tám : Chỉ Rõ Căn Nguyên Hư Vọng Và Tánh Giác Toàn Vẹn:

Ông Mãn Từ Tử trình bày chỗ nghi
Vô minh đầu tiên
Nguyên nhân vọng thấy có thế giới
Chỉ rõ giác chẳng sanh mê
Chỉ các đại có thể tương dung
Chỉ tánh Diệu Minh là Như Lai Tạng, rời cả hai nghĩa "Phi" và "Tức"
Chỉ mê vọng không có nhân, hết mê là bồ đề
Lại phá xích nhân duyên, tự nhiên (A). Xưa nay không vọng (B). Đưa vào bồ đề

*Mục Chín : Chỉ Nghĩa Quyết Định
Các phép tu hành sau khi đốn ngộ, phát bồ đề tâm
Tâm nhân địa
A. Xét rõ gốc rễ phiền não
B. Đánh chuông để thể hiện tính thường
1. Nghi căn tánh không có tự thể
2. Chỉ bày tánh nghe là thường trụ


QUYỂN V


CHƯƠNG II : NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU

*Mục Một : Nêu Ra Cái Căn Để Chỉ Chỗ Mê
Xin khai thị cách cởi nút
Mười phương Như Lai đồng một lời chỉ thị.
Sáu căn là đầu nút sanh tử và niết bàn
Thấy rõ tánh của mối nút để tức thời giải thoát
Kệ tụng

*Mục Hai : Cột Khăn Để Chỉ Mối Nút Và Cách Mở Nút
Cột nút
Cách mở nút

*Mục Ba : Hỏi Đại Chúng Về Viên Thông
Viên thông về thanh trần
Viên thông về sắc trần
Viên thông về hương trần
Viên thông về vị trần
Viên thông về pháp trần
Viên thông về nhãn căn
Viên thông về tỷ căn
Viên thông về thiệt căn
Viên thông về thân căn
Viên thông về ý căn
Viên thông về nhãn thức
Viên thông về nhĩ thức
Viên thông về tỷ thức
Viên thông về thiệt thức
Viên thông về thân thức
Viên thông về ý thức
Viên thông về hỏa đại
Viên thông về địa đại
Viên thông về thủy đại
Viên thông về phong đại
Viên thông về không đại
Viên thông về thức đại
Viên thông về kiến đại


QUYỂN VI

*Mục Bốn : Viên thông về nhĩ căn

Diệu lực vô tác thành tựu ba mươi hai ứng thân
Bốn công đức vô uý

*Mục Năm : Chỉ Pháp Viên Tu. Phóng hào quang, hiện điềm lành
Phật bảo Ngài Văn Thù chọn căn viên thông
Lựa ra những căn không viên
Nhĩ căn viên thông hơn hết
Phụ Lục


QUYỂN VII

CHƯƠNG III : PHẬT KHAI THỊ VỀ MẬT GIÁO
Khai thị đạo tràng tu chứng
Tuyên thuyết thần chú
Khai thị đây là tâm chú của mười phương Như Lai
Sức của thần chú làm tiêu nghiệp chướng
Chú là phước đức như ý cho mình và cho cả nước, bảo hộ cho người sơ học
Các thần hộ pháp phát nguyện bảo hộ rộng rãi
Lăng Nghiêm Thần Chú

CHƯƠNG IV : KHAI THỊ CÁC ĐỊA VỊ TU CHỨNG

*Mục Một : Khai Thị Hai Cái Nhân Điên Đảo Và Ba Món Tiệm Thứ

I. Ông Anan xin khai thị những danh mục, Thứ bậc tu hành
II. Khai thị hai cái nhân điên đảo


QUYỂN VIII

Khai thị ba tiệm thứ tu tập

*Mục Hai : An Lập Các Thánh Vị-Càn tuệ địa

Thập tín
Thập trụ
Thập hạnh
Thập hồi hướng
Tứ gia hạnh
Thập địa
Đẳng giác và diệu giác

*Mục Ba : Chỉ Dạy Tên Kinh

Hỏi về sự sanh khởi và nhân quả của lục đạo
Khai thị về phận trong, phận ngoài của chúng sanh
Chỉ ra mười tập nhân và sáu giao báo
Không tu theo chánh giác : thành các thứ tiên
Các cõi trời


QUYỂN IX

Các cõi trời
A. Sắc giới
B. Vô sắc giới
C. Bốn giống A Tu La
Khai thị sự hư vọng của bảy loài để khuyên tu chân chánh
Phân biệt các ấm ma
Phạm vi của sắc ấm
Phạm vi của thọ ấm
Phạm vi của tưởng ấm


QUYỂN X

Phạm vi của hành ấm
Phạm vi của thức ấm
Sanh tử là vọng tưởng năm ấm mà có,lý tuy đốn ngộ, sự phải tiệm trừ



C.-PHẦN THỨ BA : PHẦN LƯU THÔNG

Được phước, tiêu tội hơn cả
Trừ ma hơn cả
Lưu thông chung

---------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N, ngodao, dieunha, Yahoo, laodongta, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Hai 11, 2011, 08:22:37 PM »

(tiếp theo)

Lời Nói Đầu

Bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông này được Ngài Thubten Osall Lama, tức Nhẫn Tế thiền sư (忍濟禪師), Đức Sơ Tổ Tây Tạng Tự, dịch và chú thích thêm từ bản Hán văn sang Việt văn vào năm 1944, đến năm 1950 thì hoàn tất.


Nay, với mong muốn để nhiều người có cơ hội được đọc bộ kinh này, vì muốn được sự liễu ngộ Phật Đạo mà không đọc đến bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông thì khó bề được mỹ mãn.  Nên chúng tôi, chúng đệ tử Tây Tạng Tự đời thứ ba, sau khi được sự chấp thuận của Thầy Bổn Sư, Hòa Thượng Thượng Tịch Hạ Chiếu, Nhị Tổ Tây Tạng Tự, đã biên tập lại bản dịch của Đức Sơ Tổ Thubten Osall Lama theo ngữ văn đương thời.

Trong công tác biên tập này, chúng tôi xin biết ơn chư tôn đức đã dịch kinh Lăng Nghiêm và các kinh khác sang Việt văn.  Nhờ công trình của quí vị mà chúng tôi có được những danh từ chính xác, những chỉ dẫn bổ ích hỗ trợ cho công việc vốn khó khăn và quá sức chúng tôi.

Chúng tôi xin sám hối với chư Tổ và quí độc giả về những lỗi lầm ắt có trong việc giản lược một số chú thích và biên tập lại bản dịch nguyên được Ngài Thubten Osall Lama trong Định, Huệ viết ra.  Ngưỡng mong nhận được những chỉ giáo quí báu của các bậc thiện tri thức.

Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh đều tròn thành Phật Đạo.

           
Chúng đệ tử đời thứ ba Tây Tạng Tự.
---------------------------

TIỂU SỬ NGÀI THUBTEN OSALL LAMA

(NHẪN TẾ THIỀN SƯ 忍濟禪師)

Ngài sanh ngày Rằm tháng Bảy năm Kỷ Sửu (1888), tại làng An Thạnh thuộc Búng - Lái Thiêu Tỉnh Bình Dương, trong một gia đình khá giả.

Từ thơ ấu Ngài đã thọ quy y với Hòa Thượng trụ trì Chùa Sắc Tứ Thiên Tôn Tự (ở Búng), được đặt pháp danh Nhẫn Tế.   Sau đó, Ngài thọ giới cụ túc với Hòa Thượng Thiên Thai (ở Bà Rịa) làm chủ Giới Đàn, được đặt pháp hiệu Minh Tịnh.

Trải qua thời gian, phần lớn là tự tu, thấy không thỏa mãn chí nguyện, Ngài lên đường đi Ấn Độ tầm sư học đạo.
Tháng Tư năm Ất  Hợi (1935), Ngài đến Ấn Độ.  Trong thời gian trên đất  Ấn, Ngài tùy thuận phong tục, đắp y theo xứ Sri Lan-ka.  Ở Ấn Độ, Ngài cũng không thấy thỏa mãn, lại muốn sang Tây Tạng học hỏi.

Ngài được một vị Lama pháp danh Gava Samden, từ Tây Tạng sang cùng ba đệ tử là Lama Chamba Choundouss, Lama Ise và Lama Isess qua Ấn Độ rước Ngài về Tây Tạng.  Do được thông báo, nên qua các trạm dẫn vào Tây Tạng Ngài đều được nghinh tiếp rất niềm nở và trọng đãi.

Ngài đến Lhasa vào tháng Sáu năm 1936.

Tại Tây Tạng, Ngài cầu pháp với Lama Quốc Vương và dự cuộc thi tuyển toàn quốc, chỉ có hai người được tuyển chọn ứng thí:  một người Tây Tạng và người còn lại là Ngài, người Việt Nam.  Khi đoạn dây chỉ bện màu đỏ thắt quanh cổ Ngài xiết lại, Ngài vẫn bình thản nhìn.  Chỉ có Ngài qua được cuộc khảo thí.

Sau một trăm ngày ở Tây Tạng, Ngài được Đại Thượng Toạ Lama Quốc Vương ngự ý ban cho pháp danh THUBTEN OSALL LAMA và ấn chứng sở đắc Pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, Bất Lập Văn Tự, Trực Chỉ Chơn Tâm Kiến Tánh Lập Địa Thành Phật tại triều đình nước Tây Tạng.

Dòng Tổ Sư Thiền  nay lại được khơi nối lại ở Việt Nam từ ngày đó.

Ngài trở về Việt Nam ngày 20 tháng 6 năm 1937.

Cuộc hành trình cùng các hình ảnh được Ngài ghi chép cẩn thận trong nhật ký còn lưu lại tại Chùa Tây Tạng - Bình Dương.

Về Việt Nam, Ngài lập Chùa Thiên Chơn (ở Búng - Lái Thiêu).  Sau đó, lại xây dựng Chùa Tây Tạng hiện nay tại Bình Dương.

Ngài thị tịch ngày 17 tháng Năm năm Tân Mão (1951) tại Chùa Tây Tạng, thọ 63 tuổi.

Vị kế thế Ngài là Hoà Thượng Thượng TỊCH  Hạ CHIẾU  (thế danh TRẦN ĐÌNH THẤU) , hiện trụ trì Chùa Tây Tạng - Bình Dương.


--------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, anhlam, tadamina, mavuong, 8N, ngodao, dieunha, Yahoo, laodongta, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 07:52:56 PM »

(tiếp theo)

大佛頂首楞嚴經

唐天竺‧沙門般剌密帝譯

明 - 曾鳳儀宗通

No. 318-A

               
楞嚴宗通緣起

  昔天台智者。師我南嶽思大禪師。獲證法華三昧。睹靈山一會。儼然未散。自是閱諸經典。渙然冰釋。及解法華六根清淨義。沉吟久之。有西域僧謂 曰。唯首楞嚴經。著明六根功德。足與相證。智者於是渴慕。每昕夕望西遙拜。如是者積十六歲。南嶽天台寺左畔有拜經台遺址云。距智者後百餘年。楞嚴始入中 國。經屬房相筆受。文字爾雅。宇內學士大夫多誦之。余凡三至拜經台。輒徘徊不忍去。竊嘆古人繫懷聖典。積十餘載不及見。今楞嚴盈書肆。乃棄置不復觀。何 也。余因發心書楞嚴於石。命工鐫刻。以次砌成石室。俾造拜經台者。周環讀之。咸曰經來也。庶為智者補一欠缺事。方操筆端書間。忽作是念。余所書者字也。非 義也。智者欲此經之來。無非欲人人知有此經義爾。如玄沙備頭陀。因閱楞嚴。發明心要。是深於義者。乃至靈岩安長水璇竹庵圭黃龍南及紹隆安民等。靡不因楞嚴 而有悟。此諸宗師不孤此經之來也已。若因文解義。句釋字訓。漸疏漸徹。累至數十家。而經義愈遠。則不求諸心之過也。故能得諸心。此經雖未至。而智者依教立 義。往往與楞嚴合。不得諸心。雖日對楞嚴。而此經猶然在西域也。即充塞棟宇奚益。宗師家務掃除文字見解為不足尚。有以哉。然諸宗師出詞吐氣。接引初機。語 意多似楞嚴。至發明向上。證入菩提。則與二十五圓通機緣無異。即不誦楞嚴。而楞嚴具在。即楞嚴不至此土。而此土未始無楞嚴也。余不自揆。遍采宗語。配合經 文之後。或與暗符。或與互見。或推衍其意。或發所未發。念之所到。隨取隨足。余亦不自知其湊泊一至於此。豈天地間合有此種議論。而余多生夙願。固欲藉是宣 楞嚴之義耶。是借諸老宿以明經。而非以我明經也。抑即宗以明經。而非以文字見解明經也。遂名之曰宗通。宗通及說通。當有自得於心者與。諸老宿披襟相見。不 但楞嚴一會。儼然未散。而智者亦至今在。

  
南嶽山長金簡曾鳳儀舜征父題
--------------------


PHẦN THỨ NHẤT : PHẦN TỰA

DUYÊN KHỞI CỦA
KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG


***

Đề tựa : Núi Nam Nhạc, Quan Trưởng Kim Giản tên là Tăng Phụng Nghi, Thuấn Chinh   phụ đề.


Xưa, Ngài Thiên Thai Trí Giả theo học Đạo thiền sư Huệ Tư ở núi Nam Nhạc, đắc Pháp Hoa Tam Muội, thấy được pháp hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan. Từ đó xem Kinh, Luật hoát nhiên thông suốt. Đến khi Ngài giải thích ý nghĩa sáu Căn trong sạch trong kinh Pháp Hoa thì trầm ngâm rất lâu.

Có một vị tăng người Ấn nói với Ngài : “Chỉ có kinh Thủ Lăng Nghiêm là nói rõ ràng công đức của sáu Căn, đủ để y chứng”. Từ đó, Ngài Trí Giả khao khát ngưỡng mộ. Suốt mười sáu năm, mỗi sáng tối hướng về phương Tây lễ bái. Ở phía trái chùa Thiên Thai ở núi Nam Nhạc vẫn còn Đài Kinh. Sau Ngài hơn một trăm năm, kinh Lăng Nghiêm mới vào Trung Quốc. Kinh do Tể Tướng Phòng Dung ghi chép, văn tự tao nhã, bởi thế các bậc học sĩ đại phu đều tụng kinh này.

Tôi từng ba lần đến Bái Kinh Đài, lần nào cũng bồi hồi chẳng muốn về, thầm than : “Người xưa ngưỡng mộ kinh này hơn mười mấy năm mà chẳng được thấy. Nay Lăng Nghiêm bày đầy thì người ta lại chẳng hề xem ! Tại sao thế ?”. Nhơn đó, tôi bèn phát tâm viết bộ Lăng Nghiêm lên đá, thuê thợ chạm rồi xếp thành một tòa thạch thất, khiến người đến viếng Bái Kinh Đài sẽ đọc được mà đều nói : Kinh đã đến đây rồi ! Như là vì Ngài Trí Giả mà bổ sung cho một sự thiếu sót.

Vừa cầm bút định viết, chợt nghĩ : chỗ ta viết đây là chữ, chẳng phải là nghĩa vậy ! Ngài Trí Giả mong bộ Kinh này đến đây là mong người người hiểu nghĩa của Kinh. Như Ngài Huyền Sa Sư Bị, nhân đọc Lăng Nghiêm mà phát minh tâm yếu, đó là thâm nhập vào nghĩa vậy. Cho đến thiền sư Linh Nham An, Trường Thủy Tuyền, Trúc Am Khuê, Hoàng Long Nam, Thiệu Long An Dân... đều do Lăng Nghiêm mà ngộ. Như vậy là các Ngài đã không cô phụ sự truyền sang của bộ kinh này.

Nếu theo văn mà giải nghĩa, chú thích câu chữ, đến mấy mươi nhà mà nghĩa kinh càng ngày càng xa, đó là lỗi lầm do chẳng cầu ở tâm mình. Nếu tỏ ngộ tự tâm, thì tuy là kinh này chưa đến, mà chỗ y giáo lập nghĩa của Ngài Trí Giả, mỗi mỗi đều hợp với Lăng Nghiêm. Không ngộ được tự tâm, tuy là có kinh Lăng Nghiêm trước mặt, thì cũng như kinh ở tại Ấn vậy. Tức là kinh điển đầy nhà mà nào có ích ! Việc nhà của các thiền sư là quét sạch văn tự kiến giải cho là chẳng đủ để sùng thượng, thật có lý lắm thay !

 Nhưng khi tiếp dẫn hàng sơ cơ, xuất lời thổ khí, lời lẽ ý tứ thật tợ Lăng Nghiêm. Cho đến sự phát minh hướng thượng, chứng nhập Bồ Đề, thì cùng với hai mươi lăm chỗ chứng viên thông, cơ duyên không khác. Tức là chẳng tụng Lăng Nghiêm, mà Lăng Nghiêm đã sẵn đủ hiện giờ. Tức là Lăng Nghiêm chưa đến cõi này, mà cõi này chẳng phải là chưa có Lăng Nghiêm.

Tôi chẳng biết tự lượng sức, góp khắp lời của Tông Môn, phối hợp vào kinh văn. Hoặc để thầm hợp, hoặc để cùng thấy, hoặc suy rộng ý kinh, hoặc bày tỏ chỗ chưa bày tỏ. Tôi cũng không ngờ mình làm nổi. Trong khoảng trời đất làm sao có được thứ nghị luận này. Âu cũng do túc nguyện nhiều đời vậy.

Đây là tôi nhờ các vị Lão Túc để làm rõ nghĩa kinh chứ chẳng phải tự do tôi, và lấy Thiền Tông để soi sáng kinh chớ chẳng phải lấy văn tự kiến giải mà giảng. Bèn đặt tên là Tông Thông  -(ct) Tông Thuyết cu thông, nghiã là đạo lý nói ra đều là tự tại suốt thông. Có câu : Tông Thông là Thuyết Thông vậy. Phép thiền (thiền môn) từ khi được tỏ ngộ thấu đáo, nói rằng Tông Thông; nói pháp tự tại (không còn trở ngại), nói rằng Thuyết Thông.

   Có câu : Tông Thuyết cu thông làm bậc Đại Tông Sư.

   Tổ Đình Sự Vân Thất nói : Tổ Thanh Lương nói rằng Tông Thông là tự mình tu hành. Thuyết Thông chỉ bậc chưa tỏ ngộ.

   Kinh Lăng Già : Phật dạy Ông Đại Huệ : Tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát có hai giống thông tướng. Gọi là Tông Thông, Thuyết Thông.

   Đông Chú nói : Tông ấy là gốc của Đạo. Thuyết ấy là dấu tích của pháp giáo.

   Chứng Đạo Ca nói : Tông cũng thông, Thuyết cũng thông. Định Huệ tròn sáng, chẳng trệ nơi không. ). Tông Thông cùng với Thuyết Thông. Phải tự đắc Bản Tâm thì mới cùng với các bậc Lão Túc mặc áo gặp nhau. Chẳng những một hội Lăng Nghiêm nghiễm nhiên chưa tan, mà Ngài Trí Giả đến nay cũng vẫn còn đó.

Bài văn tán ngợi rằng :

Sáu vạn ba ngàn lời mười trang
Giáo, Hạnh, Lý; Không, Giả, Trung quán
Viên thông Hoa tạng Tín Hạnh giải
Chứng rồi Định Huệ xứ Niết Bàn
Phá Vọng hiển Chân, Chân Nhất thật
Phản văn nung Ấm, Ấm tiêu tan
Tội lỗi vô minh mười phương ngục
Tội ấy băng tiêu, tọa Phật tràng.

Nam mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Thánh Hiền Tăng.
--------------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, dailuc, Yahoo, laodongta, ngodao, 8N, byphuong, phaolon, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 07:58:58 PM »

(tiếp theo)

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經

卷第一


  唐天竺沙門般剌密帝譯

  烏萇國沙門彌伽釋伽譯語

  唐菩薩戒弟子前正議大夫同中書門下平章事清河房融筆受

  明菩薩戒弟子前奉訓大夫禮部祠

  祭清吏司員外郎南嶽曾鳳儀宗通



   
LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG - QUYỂN I


ĐẠI PHẬT ĐẢNH, NHƯ LAI MẬT NHÂN, TU CHỨNG LIỄU NGHĨA, CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG.

Đời Đường, Ngài Bát Lạt Mật Đế, sa môn xứ Thiên Trúc, dịch nghĩa;
Ngài Di Già Thích Ca, Sa môn xứ Ô Trường, dịch ngữ.
Trần Chánh Nghị Đại Phu Phòng Dung, Bồ Tát Giới đệ tử chép.

Đời Minh, Bồ Tát Giới đệ tử Tiền Phụng Huấn Đại Phu, Lễ Bộ Từ Tế Thanh Sử Tư Viên Ngoại Lang, Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi, Tông Thông.


曾鳳儀 《楞嚴宗通》

  通曰。此經胡以名大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴也。

爾時文殊師利法王子。在大眾中。即從座起。頂禮佛足。而白佛言。當何名是經。我及眾生。云何奉持。佛告文殊師利。是經名大佛頂悉怛多般怛囉無上寶印。十方如來清淨海眼。亦名救獲親因。度脫阿難。及此會中性比丘尼。得菩提心。入遍知海。亦名如來密因修證了義。亦名大方廣妙蓮華王。十方佛母陀羅尼咒。亦名灌頂章句諸菩薩萬行首楞嚴。汝當奉持。


*Giải nghĩa rộng ra:-  Kinh này tại sao lại đặt tên là “Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm” ?

Kinh chép : “Khi ấy, Đức Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử từ trong đại chúng, rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng : “Phải gọi kinh này tên gì ? Tôi cùng với chúng sanh làm thế nào phụng trì ?”

Phật dạy Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng : “Kinh này tên Đại Phật Đảnh, Tát Đát Đa Bát Đát Ra (Bạch Tán Cái), ấn báu vô thượng, Hải Nhãn trong sạch của mười phương Như Lai. Cũng gọi là cứu hộ người thân, độ thoát A Nan, và Tánh Tỳ kheo ni ở trong hội này, đắc tâm Bồ Đề, bước vào biển Biến Trí. Cũng gọi là “Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa”. Cũng gọi là “Đại Phương Quảng, Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni chú”. Cũng gọi là “Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm”. Ông nên thọ trì”.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, dailuc, Yahoo, laodongta, ngodao, 8N, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 08:05:12 PM »

(tiếp theo)

據本文含有多義。此但以大佛頂該之。以佛頂神咒。即十方佛母陀羅尼咒。即灌頂章句。即度脫阿難及性比丘尼者。故不重出。咒曰摩訶悉怛多般怛囉。此云大白傘蓋。純潔白淨。含覆一切。故謂之大。此大佛頂神咒。不可思議。乃如來之密因。修證之了義。諸菩薩萬行。即此具足。而一切究竟堅固也。夫法能漸而不能頓者。不可謂大。能頓而不能圓者。不可謂大。今曰密曰了。已該頓義。曰修證曰萬行。已該圓義。唯此圓頓法門。與大方廣佛華嚴經。及妙法蓮華經無異。蓋信住行向地等妙覺。已包裹華嚴。而耳根圓通。都與普門品互見。兼備二經旨趣。其大何如。未悟者。轉不生滅而為生滅。即非了義。其悟者。轉生滅而為不生滅。即一切究竟堅固。故向上一路。非悟不可。然則咒何關於悟。悟何關於咒。均以大佛頂名。何也。咒不可思議。悟亦不可思議。咒即悟境。悟即咒境。言語道斷。心行處絕。見猶離見。見不能及。故取於佛頂。離自見相故。又諸佛頂族。一超直人。至尊至貴法門也。合論名曰尊頂以此。僧問黃檗。無邊身菩薩。為什麼不見如來頂相。檗云。實無可見。何以故。無邊身菩薩。便是如來。不應更見。祗教汝不作佛見。不落佛邊。不作眾生見。不落眾生邊。不作有見。不落有邊。不作無見。不落無邊。不作凡見。不落凡邊。不作聖見。不落聖邊。但無諸見。即是無邊身。若有見處。即名外道。外道者。樂於諸見。菩薩於諸見而不動。如來者。即諸法如義。所以云彌勒亦如也。如即無生。如即無滅。如即無見。如即無聞。頂即圓。亦無圓見。故不落圓邊。所以佛身無為。不墮諸數。權以虛空為喻。圓同太虛。無欠無餘。等閒無事。莫強辯他境。辯著便成識。

又僧問百丈。無邊身菩薩。不見如來頂相。如何。丈云。為作有邊見。無邊見。所以不見如來頂相。祗如今都無一切有無等見。亦無無見。是名頂相見。



Đoạn kinh trên gồm nhiều nghĩa, chỉ cần ba chữ “Đại Phật Đảnh” là bao gồm hết. Bởi vì Phật Đảnh thần chú, tức là mười phương Phật Mẫu Đà La Ni chú, tức là Quán Đảnh Chương Cú, tức là độ thoát Anan và Tỳ kheo ni Tánh, do đó khỏi lập lại. Chú này là “Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra”, dịch là “Đại Bạch Tán Cái”, là cái Lọng Trắng Lớn Che Trùm. Ròng trắng phau trong sạch, trùm che hết thảy, nên gọi là lớn. Đại Phật Đảnh thần chú này, chẳng thể nghĩ bàn, mới gọi là Nhân Địa Bí Mật  -(ct) Như Lai Mật Nhân. ) của Như Lai, cái Liễu Nghĩa của Tu Chứng. Vạn Hạnh của Bồ Tát do đây mà sẵn đủ, nên cả thảy rốt ráo bền chắc vậy.

 Pháp có thể Tiệm mà không thể Đốn, thì không thể gọi là Đại.

Có thể Đốn mà không thể Viên, thì cũng không gọi là Đại (lớn) được.

 Nay nói là Mật, là Liễu, tức là đã gồm nghĩa Đốn. Nói là Tu Chứng, nói là Vạn Hạnh là ngầm nghĩa Viên.

Duy cái pháp môn Viên Đốn  -(ct) Tròn vẹn, tức thời. ) nầy, cùng với Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, không khác. Từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Diệu Giác là đã bao gồm trong Hoa Nghiêm; còn Nhĩ Căn Viên Thông trọn cùng phẩm Phổ Môn tương ứng. Gồm đủ chỉ thú của hai bộ kinh trên, kinh Lăng Nghiêm thật rộng lớn biết bao !

Chưa ngộ, thì chuyển Cái chẳng có Sanh Diệt thành ra Cái Sanh Diệt, tức chẳng phải Liễu Nghĩa.

Ngộ rồi, thì chuyển Cái Sanh Diệt thành ra Cái Chẳng Có Sanh Diệt, tức là nghĩa “Hết thảy rốt ráo kiên cố”. Cho nên, một đường đi lên  -(ct) Hướng thượng nhất lộ. ), không ngộ thì không được.

Thế thì Chú và Ngộ liên quan thế nào, Ngộ và Chú quan hệ với nhau ra sao, mà đều cũng gọi là Đại Phật Đảnh ? Chú không thể nghĩ bàn, Ngộ cũng không thể nghĩ bàn. Chú tức là cảnh giới của Ngộ, Ngộ tức là cảnh giới của Chú. Đây là chỗ “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ tuyệt”, thấy do lìa cái Thấy, thì cái Thấy là siêu việt. Cho nên giữ cái Phật Đảnh, lìa cái Tướng Thấy của mình là vậy. Các dòng giống của Phật Đảnh, một phen vượt lên nhập thẳng vào, đó là pháp môn cực tôn cực quý vậy. Hiệp Luận đặt tên là Tôn Đảnh vì lẽ này.


Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng  Bá   rằng : “Vô Biên Thân Bồ Tát  -(ct) Tên khác của Đức Như Lai. ) vì sao chẳng thấy Đảnh Tướng của Như Lai ?”

Ngài Bá  đáp : “Thật không thể thấy. Vì sao thế? Vô Biên Thân Bồ Tát tức là Như Lai, không thể trở lại thấy.

Chỉ cần ông không tạo ra cái Phật Kiến thì không rơi vào Phật Biên.
Không tạo ra cái Thấy Chúng Sanh thì không lạc vào giới hạn chúng sanh.
Không gây ra cái Thấy Có thì không lạc vào giới hạn của cái Có.
Không tạo ra cái Thấy Không thì không rơi vào giới hạn của cái Không.
Không tạo ra cái Thấy của phàm phu thì không rơi vào giới hạn của phàm phu.
Không tạo ra cái Thấy của Thánh thì không rơi vào giới hạn của Thánh.

Chỉ Không tất cả mọi cái Thấy, tức là Vô Biên Thân. Nếu có chỗ Thấy, tức là ngoại đạo.
 Ngoại đạo thì ham các cái Thấy. Bồ Tát nơi mọi cái Thấy mà chẳng động.

Như Lai là nghĩa Như của tất cả các Pháp, nên nói “Di Lặc cũng là Như  -(ct) Kinh Duy Ma Cật. )”. Như tức là không có Sanh ra, Như tức là không có Diệt mất. Như tức là không có Thấy, Như tức là không có Nghe. Đảnh tức là Viên (tròn), cũng không có cái thấy Viên, nên chẳng rơi vào biên giới của Viên. Bởi thế, thân Phật là Vô Vi, không rơi vào giới hạn. Tạm lấy Hư Không làm thí dụ. Tròn đầy như Hư Không rộng lớn, không thiếu không dư. Hãy nhàn nhã vô sự, chớ gắng gượng biện biệt cảnh giới giác ngộ, biện biệt thì thành Thức”.


Lại có vị tăng hỏi Tổ Bá Trượng : “Bồ Tát Vô Biên Thân không thấy Đảnh Tướng của Như Lai là vì sao ?”

Tổ Bá Trượng rằng : “Vì gây ra cái Thấy Hữu Biên, cái Thấy Vô Biên, nên chẳng thấy được Đảnh Tướng Như Lai. Chỉ như bây giờ đây trọn không có cả thảy cái Thấy Hữu Vô, cũng không phải là không có cái Thấy, thì đó là thấy Đảnh Tướng”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, dailuc, Yahoo, laodongta, 8N, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 08:08:13 PM »

(tiếp theo)

觀二尊宿說佛頂義。如珠走盤。若知他落處。許頂門上具隻眼。既曰如來密因。則不藉修證矣。又曰修證了義。胡以別於不了義哉。蓋如來者果號也。金剛經云。若有人言。如來若來若去。若坐若臥。是人不解我所說義。何以故。如來者。無所從來。亦無所去。故名如來。夫來無所從。去無所至。果何物哉。可謂密矣。佛頂神咒。為如來密語。其密無二。以此密為因。即以此密得果。如蓮之蔤。因果一時具足故。以此為修。修而無修。以此為證。證而無證。經云。何藉劬勞肯綮修證。此即了義之旨。如其不然。猶為未了。昔惠明趁及六祖。祖曰。汝既為法而來。可屏息諸緣。勿生一念。吾為汝說。明良久。祖曰。不思善。不思惡。正與麼時。那個是明上座本來面目。明言下大悟。復問云。上來密言密意外。還更有密意否。祖曰。與汝說者。即非密也。汝若返照。密在汝邊。明曰。某甲雖在黃梅。實未省自己面目。今蒙指示。如人飲水。冷暖自知。今行者即某甲師也。祖曰。汝若如是。吾與汝同師黃梅。善自護持。


Xem hai vị tôn túc nói ra nghĩa Phật Đảnh, thật như viên ngọc tròn lăn trên bàn. Nếu biết chỗ ấy mới cho là trên cửa Đảnh, có được con mắt lẻ  -(ct) Nhất chích nhãn: một con mắt, con mắt Đạo. ).

Đã nói là Như Lai Mật Nhân, tức chẳng cậy mượn sự Tu Chứng.

Lại nói Tu chứng liễu nghĩa  -(ct) Tu cho chứng được chỗ hiểu nghĩa. ) là để phân biệt với Chẳng có liễu nghĩa  -(ct) Chưa được chỗ hiểu nghĩa Như Lai Mật Nhân. ) vậy.

Như Lai, ấy là nói về quả vậy. Kinh Kim Cang : “Nếu có người nói “Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm”, thì người ấy chẳng hiểu nghĩa chỗ ta nói. Vì sao thế ? Như Lai là không từ chỗ nào đến, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai”.

“Đến không từ chỗ nào, đi không về đâu”, quả là vật gì ? Thế mới gọi là Mật vậy.

Phật Đảnh Thần Chú là Mật Ngữ của Như Lai, thì hai cái Mật (Mật Ngữ và Như Lai) đó không phải là hai. Lấy cái Mật này làm Nhân, tức lấy cái Mật ấy đắc quả. Như đóa bông sen, nhân quả đồng thời sẵn đủ. Dùng cái này mà tu, thì tu mà không tu. Dùng cái này để chứng, thì chứng mà không chứng. Kinh nói “Nào mượn sự cực nhọc tu chứng”, đây tức là ý chỉ của Liễu Nghĩa. Nếu không được như thế là vì chưa liễu ngộ vậy.
 
Xưa, Huệ Minh đuổi kịp Đức Lục Tổ để dành y bát.

Tổ dạy : “Ông đã vì Pháp mà đến, hãy an dừng các duyên, không sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà nói”.

Ông Huệ Minh im lặng hồi lâu, Tổ nói : “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy, là Bản Lai Diện Mục  -(ct) Bản Lai Diện Mục: cái xưa nay trước mặt. ) của Minh Thượng Tọa”.

Ông Huệ Minh nghe xong, đại ngộ.

Lại hỏi : “Ngoài lời mật, ý mật ấy, còn cái ý mật nào không ?”

Tổ đáp : “Đã nói cùng ông, tức chẳng phải Mật. Nếu ông soi trở lại, thì Mật ở tại bên ông”.

Thầy Minh thưa : “Tôi mặc dầu ở Huỳnh Mai, mà thật chưa tỏ ngộ được mặt mũi của mình. Nay nhờ ơn chỉ bày, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Nay hành giả tức là thầy của tôi vậy”.

Tổ dạy : “Ông đã như vậy, thì nay tôi và ông cùng một thầy Huỳnh Mai. Hãy khéo tự hộ trì”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, dailuc, Yahoo, laodongta, 8N, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 08:13:17 PM »

(tiếp theo)

又懷讓初謁嵩山安禪師。問如何是祖師西來意。安曰。何不問自己意。讓便問如何是自己意。山曰。要觀密作用。問如何是密作用。山以眼開合示之。讓不領。山指見六祖。祖曰。從何來。讓曰。嵩山。祖曰。什麼物恁麼來。讓不能對。經八載。始白祖曰。某甲有個會處。祖曰。如何。對曰。說似一物即不中。祖曰。還可修證否。對曰。修證即不無。污染即不得。祖曰。善哉。秪此不污染。諸佛之所護念。汝既如是。吾亦如是。若二尊宿者。深契密意。得修證了義矣。

Ngài Hoài Nhượng ban đầu ra mắt Đức Tung Sơn An thiền sư, hỏi : “Thế nào là ý Tổ Sư từ phương Tây  -(ct) Ấn Độ. ) đến ?”

Tổ An nói : “Sao không hỏi cái ý của chính ông?”

Ngài bèn hỏi : “Thế nào là ý của chính mình ?”

Tổ Sơn đáp : “Cần quán xét cái Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng”.

Hỏi : “Như thế nào là cái Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng ?”

Tổ Sơn dùng mắt mở, nhắm chỉ bày đó.

Sư Nhượng không lãnh hội được. Tổ Sơn bèn bảo Ngài ra mắt Đức Lục Tổ.

Tổ hỏi : “Từ đâu đến ?”

Sư Nhượng đáp : “Tung Sơn”.

Tổ hỏi : “Vật gì đó ? Đến thế nào ?”

Sư chẳng đáp dược.

Trải qua tám năm, mới bạch với Tổ rằng : “Tôi đã có chỗ am hiểu”.

Tổ hỏi : “Như thế nào ?”

Ngài đáp : “Nói giống như một vật là chẳng trúng !”

Tổ hỏi : “Lại có thể tu chứng chăng ?”

Đáp rằng : “Tu chứng thì chẳng phải là không, mà ô nhiễm thì chẳng thể được”.
 
Tổ rằng : “Hay lắm ! Cái chẳng có ô nhiễm ấy, là chỗ hộ niệm của chư Phật. Ông đã y vậy, ta cũng y vậy”.

Như hai vị tôn túc ấy, khế hợp sâu xa cái Mật Ý, được Tu Chứng Liễu Nghĩa vậy.

後僧問百丈。從上祖宗。皆有密語遞相傳受。如何。丈曰。無有密語。如來無有秘密藏。秪如今鑑覺語言分明。覓形相了不可得。是密語。從須陀洹向上。直至十地。但有語句。盡屬法之塵垢。但有語句。盡屬煩惱邊收。但有語句。盡屬不了義教。但有語句。即不許也。了義教俱非也。更討什麼密語。據百丈見處。密之一字。亦須吐卻。了義教亦不立。可謂向千佛頂上行。諸菩薩萬行。未離修證。何謂一切究竟堅固。蓋諸菩薩未至灌頂位。即有修有證。已至灌頂位。即超入等妙覺。何修證之有。諸行雖無常。但自妙覺中流出一切事法。當處寂滅。故謂之究竟堅固。經云。有三摩提名大佛頂首楞嚴王。具足萬行。十方如來。一門超出。妙莊嚴路。此三摩提。即首楞嚴大定也。乃具足萬行妙莊嚴路。非離萬行而別有所謂定也。一切皆定。故曰一切事究竟堅固。傅大士日常營作。夜則行道。見釋迦金粟定光三如來。放光襲其體。大士乃曰。我得首楞嚴定。此經未至。此名已標。異哉。四祖語牛頭融禪師曰。夫百千法門。同歸方寸。河沙妙德。總在心源。一切戒門定門慧門。神通變化。悉自具足。不離汝心。一切煩惱業障。本來空寂。一切因果。皆如夢幻。無三界可出。無菩提可求。人與非人。性相平等。大道虛曠。絕思絕慮。如是之法。汝今已得。更無闕少。與佛何殊。更無別法。汝但任心自在。莫作觀行。亦莫澄心。莫起貪嗔。莫懷愁慮。蕩蕩無礙。任意縱橫。不作諸善。不作諸惡。行住坐臥。觸目遇緣。總是佛之妙用。快樂無憂。故名為佛。融禪師聞此。橫出一枝佛法。即灌頂章句。何以加焉。


Sau, có vị sư hỏi Tổ Bá Trượng : “Trước đến giờ, chư Tổ đều có Mật Ngữ trao truyền cho nhau là thế nào ?”

Tổ đáp : “Không có lời Mật. Như Lai không có Bí Mật Tạng. Chỉ như bây giờ soi tỏ ý nghĩa cho rõ ràng, tìm kiếm hình tướng, rõ là bất khả đắc, đó là Mật Ngữ. Từ bậc Tu Đà Hoàn (Nhập Lưu) trở lên cho đến Thập Địa, bất quá chỉ có Chữ và Lời (Ngữ Cú), còn là thuộc về pháp Trần Cấu hết thảy.
Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều nằm trong phiền não.
Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều thuộc về Bất Liễu Nghĩa.
Chỉ có lời nói, tức chẳng được chấp nhận vậy.
 Liễu Nghĩa Giáo đều chẳng phải là gì hết thảy (Phi), thì còn tìm kiếm Mật Ngữ nào ?”

Theo chỗ thấy của Tổ Bá Trượng, thì một chữ Mật cũng phải mửa ra luôn, Liễu Nghĩa Giáo cũng chẳng lập, mới có thể gọi là hướng lên ngàn Phật Đảnh mà đi.

Các vị Bồ Tát muôn Hạnh chưa lìa tu chứng thì sao lại gọi là “Hết thảy rốt ráo kiên cố” ? Sở dĩ như vậy vì các Bồ Tát chưa tới địa vị Quán Đảnh, phải có tu, có chứng. Đến địa vị Quán Đảnh rồi, tức là siêu nhập đồng đẳng bậc Diệu Giác, thì có cái gì tu chứng ? Các Hành tuy vô thường, nhưng từ trong Diệu Giác lưu xuất ra tất cả sự pháp, đương xứ tịch diệt, nên gọi là rốt ráo kiên cố.

Kinh nói “Có cái Tam Ma Địa  -(ct) Samadhi. Xưa gọi là Tam Muội. ) (Chánh Định), gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, sẵn đủ muôn Hạnh. Mười phương Như Lai do một cửa này mà siêu xuất, đây là con đường Diệu Trang Nghiêm”. Tam Ma Đề này là Đại Định Thủ Lăng Nghiêm, lối Diệu Trang Nghiêm sẵn đủ muôn Hạnh, chẳng phải rời lìa muôn Hạnh mà riêng có cái gọi là Định. Tất cả đều Định, nên gọi là tất cả sự rốt ráo kiên cố. Đức Phó Đại Sĩ, ngày thì kinh doanh gây tạo, đêm thì hành Đạo. Thấy Đức Thích Ca, Đức Kim Túc, Đức Định Quang ba vị Phật phóng quang phủ lên mình Ngài. Đại Sĩ mới nói : “Ta được Định Thủ Lăng Nghiêm”. Thuở đó, kinh này chưa đến mà tên Định đã nêu, lạ lùng thay.

Tứ Tổ Đạo Tín  -(ct) Đời Đường Cao Tông, nối pháp Tổ Tăng Xán, truyền lại cho Tổ Hoằng Nhẫn. ) dạy Ngài Lại Dung ở núi Ngưu Đầu rằng : “Trăm ngàn pháp môn đều quy về Tâm, hằng sa Diệu Đức gồm tại nguồn Tâm. Tất cả Giới Môn, Định Môn, Huệ Môn, thần thông biến hóa đều tự sẵn đủ, chẳng rời tâm ông. Hết thảy Phiền Não, Nghiệp Chướng xưa nay rỗng rang vắng lặng. Hết thảy Nhân Quả đều như mộng huyễn. Chẳng có ba cõi để lìa, không có Bồ Đề nào để tìm cầu. Người cùng chẳng phải người, Tánh Tướng bình đẳng. Đại Đạo rỗng suốt, tuyệt nghĩ, tuyệt lo. Cái Pháp như thế, ông nay đã được, tuyệt không thiếu hụt, cùng Phật không khác, nào có Pháp nào khác nữa. Ông chỉ mặc dùng tự tại, chớ khởi Quán Hạnh, cũng chẳng lóng Tâm, chẳng khởi Tham Sân, chẳng giữ lo buồn, thênh thang vô ngại, mặc ý dọc ngang. Chẳng làm các điều thiện, không gây các điều ác. Đi, đứng, nằm, ngồi, chạm mắt gặp duyên, thảy đều là Diệu Dụng của Phật. Vui sướng không lo nên gọi là Phật”.

Được nghe thế, Ngài Lại Dung mở ra một chi phái, gọi là Quán Đảnh Chương Cú.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, dailuc, Yahoo, laodongta, ngodao, 8N, byphuong, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Hai 13, 2011, 08:25:17 PM »

(tiếp theo)

法眼云。修行三生六十劫。四生一百劫。如是直到三祇果滿。古人猶道不如一念緣起無生。超彼三乘權學。故曰。彈指圓成八萬門。剎那滅卻三祇劫。宗門中原有此奇特事。豈謂萬行具足。而後可得首楞嚴定哉。經者。常道也。說文曰。織有經有緯。經常而緯變。此經系龍勝於龍宮默誦而出。五天世主秘重不傳。豈知此經人人具有。個個不無。乃為常道。何必秘也。有僧問首山。一切諸佛。皆從此經出。如何是此經。山曰。低聲低聲。僧云。如何受持。山曰不染污。投子頌曰。

水出崑崙山起云。
釣人樵父昧來因。
只知洪浪岩巒闊。
不肯拋絲棄斧斤。

藥山尋常不許人看經。有時自看次。僧云。和尚尋常不許人看經。何故自看。山曰。我只要遮眼。僧曰。某學和尚得否。山曰。汝若看。牛皮也須穿透。故知遮眼分齊。斯得受持之妙。若透牛皮。幾何不至於染污哉。

Ngài Pháp Nhãn dạy : “Tu hành trải qua ba đời sáu chục kiếp, bốn đời một trăm kiếp hay tăng kỳ kiếp cho đến thành quả mà cổ nhơn còn nói là chẳng bằng một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu quá hàng Tam Thừa Quyền Học”. Nên chi nói rằng : Gảy móng tay mà viên thành tám vạn Pháp Môn, trong sát na dứt hết ba a tăng kỳ kiếp. Trong Thiền Tông quả có chuyện kỳ đặc đó, há phải vạn hạnh đầy đủ, rồi sau mới đắc Định Thủ Lăng Nghiêm ư ?

Kinh là Thường Đạo vậy. Cuốn Thuyết Văn Giải Tự viết : “Dệt vải có sợi dọc (kinh), sợi ngang (vĩ) : sợi dọc thì thường hằng, mà sợi ngang thì thay đổi. Kinh này do Ngài Long Thọ ở dưới Long Cung mặc tụng đem lên. Vua Ngũ Thiên  -(ct) Ở miền Nam Ấn. ) trân trọng giữ kín chẳng có truyền ra. Há chẳng biết rằng quyển kinh này người người sẵn có, đâu có ai không ! Thế mới là Thường Đạo, nào phải là bí mật”.

Có vị tăng hỏi Ngài Thủ Sơn : “Tất cả Chư Phật đều do kinh này mà có ra. Thế nào là kinh này ?”

Tổ Sơn đáp : “Nói nhỏ ! Nói nhỏ !”

Vị tăng hỏi : “Thọ trì thế nào ?”

Tổ Sơn rằng : “Chẳng nhiễm ô”.

Ngài Đầu Tử  -(ct) Nghiã Thanh thiền sư, đời Đường. Nối pháp Đại Dương Huyền thiền sư. ) tụng rằng :-

“Nước chảy Côn Luân, núi nổi mây
Người đến, tiều ngư chẳng có hay
Nếu biết núi cao, sông tràn nước
Ắt chẳng quăng rìu với bỏ dây”.

(Thủy xuất Côn Luân, sơn khởi vân
Điếu nhân, tiều phụ muội lai nhân
Chỉ tri hồng lãng, nham loan khoát
Bất khẳng phao ty khí phụ cân)


Tổ Dược Sơn bình thường không cho người ta xem kinh.

 Có lần tự Ngài xem kinh. Một vị tăng hỏi : “Hòa Thượng bình thường không cho người xem kinh, sao Hòa Thượng lại xem ?”

Tổ Sơn rằng : “Ta chỉ cần che mắt”.

Vị tăng hỏi : “Tôi bắt chước Hòa Thượng được không ?”

Tổ Sơn nói : “Ông muốn xem thì phải suốt qua tấm da trâu  -(ct) Da trâu: ngưu bì. Trùm da trâu đi ra nắng càng bị bó cứng; buộc râu rồng (long tu) Xuống nước càng thắt chặt, đau đớn. Hai cái dùng để chỉ cái phước hữu lậu của người và trời làm hại huệ mạng. ) đã”.

Cho nên, rõ được chỗ che mắt này, thì mới được cái Diệu của sự Thọ Trì. Mà có xuyên thủng mới chẳng nhiễm ô vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
laodongta, anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, ngodao, 8N, mavuong, byphuong, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Hai 13, 2011, 08:31:45 PM »

(tiếp theo)

如是我聞一時。佛在室羅筏城。(此云豐德)祇桓精舍。(即祇樹給孤獨園)與大比丘眾千二百五十人俱。皆是無漏大阿羅漢。


  通曰。如是我聞一時。諸經皆以此冠。阿難稟佛遺旨。結集諸經。唱此六字。群疑頓釋。如是如是云者。但可自信。無容言說。若了如是之法。佛祖密付。則以下葛藤。皆其註腳矣。有僧參南陽忠國師。師問習何事業。曰講金剛經。師曰。最初兩字是甚麼。曰如是。師曰。是甚麼。僧無對。咄哉。是甚麼講經。又雪峰存禪師問座主。如是兩字。儘是科文。作麼生是本文。主無對。五云代云。更分三段著。且道五云出語。是科文。是本文。比丘具三義。曰乞士。曰破惡。曰怖魔。阿羅漢亦具三義。曰應供。曰殺賊。曰無生。始因終果。相為呼應。皆云大者。揀非小品。謂其所從事者。即大佛頂之大。故均以大名也。漏亦有三種。曰無明。曰欲。曰有。經云。汝常聞我毗柰耶中。宣說修行三決定義。所謂攝心為戒。因戒生定。因定發慧。是則名為三無漏學。戒則無慾漏。定則無有漏。慧則無無明漏。此三無漏。名決定義。似以慧為極則。而洞山語曹山曰。末法時代。人多干慧。若要辨驗真偽。有三種滲漏。一曰見滲漏。機不離位。墮在毒海。二曰情滲漏。滯在向背。見處偏枯。三曰語滲漏。究妙失宗。機昧終始。濁智流轉。於此三種。子宜知之。此於干慧中。又分此三種。非具擇法眼。莫能照破。故回向大乘阿羅漢。必合洞山之語觀之。而無漏之義始備。


TỰA CHUNG

Kinh : Như thế, tôi được nghe, một thời Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc Vô Lậu  -(ct) Lậu: tiếng chỉ phiền não. ) Đại A La Hán.


*Giải nghĩa rộng ra:-  Tất cả các kinh đều mở đầu bằng “Như thị ngã văn nhất thời”.

 Đây là Đức Anan tuân theo ý chỉ của Đức Phật, kết tập các kinh, trước xướng sáu chữ này, giải tan mọi nghi ngờ. Như thị, như thị ấy là chỉ có thể tự tin lấy, không cần ngôn thuyết. Nếu hiểu được cái Pháp Như Thị, là chỗ phó chúc bí mật của Phật Tổ, tức là những lời lòng vòng sau này, đều là lời cước chú chua thêm vậy.

Có vị tăng vào tham lễ quốc sư Huệ Trung, sư hỏi : “Làm sự nghiệp gì ?”

Tăng đáp : “Giảng kinh Kim Cang”.

Sư hỏi : “Hai chữ đầu hết là cái gì ?”

Đáp : “Như thị”.

Sư hỏi : “Đó là cái gì ?”

Tăng không đáp được.

Sư bảo : “Than ôi ! Vậy thì lấy gì mà giảng kinh ?”
 
Lại còn thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn  -(ct) Tuyết Phong thiền sư, tên Nghiã Tồn, người xứ Phước Châu. Đắc pháp nơi Tổ Đức Sơn. Đời Đường Ý Tông, năm Hàm Thông, tại núi Tuyết Phong xứ Phước Châu sáng lập nhà thiền. Thường có đến 1500 người trong chúng học đạo. ) hỏi một vị tòa chủ : “Hai chữ Như Thị là tất cả khoa văn, vậy thì bản văn là làm sao ?

Vị tòa chủ  -(ct) Người cầm đầu trong đại chúng. ) không đáp được.
 
Đức Ngũ Vân đáp thay rằng : “Lại chia làm ba đoạn rồi”.

Hãy nói chỗ Đức Ngũ Vân mở lời, là khoa văn hay là bản văn ?

Chữ Tỳ Kheo có ba nghĩa : Khất Sĩ; là Phá Ác; là Bố Ma (làm cho ma sợ).

 Chữ A La Hán cũng có ba nghĩa là Ứng Cúng, là Sát tặc (giết giặc), là Vô Sanh.

 Đại là để phân với Tiểu.

Lậu cũng có ba loại : Vô Minh Lậu, Dục Lậu và Hữu Lậu.


Kinh nói “Ông thường nghe trong Luật của Ta có ba nghĩa quyết định tu hành, đó là Nhiếp Tâm làm Giới, do Giới sanh Định, nhờ Định phát Huệ. Đó là ba môn Vô Lậu Học. Cấm Răn (Giới) tức là không lọt ra cái Ham Muốn Dâm Dục (Dục Lậu), Yên Tĩnh (Định) ắt không có Phiền Não (Hữu Lậu), sáng tâm (Huệ) ắt không có Vô Minh Phiền Não”.

Ba món Vô Lậu này gọi là nghĩa quyết định. Tựa hồ lấy Huệ làm chỗ cực tắc. Nên Đức Động Sơn nói với Ngài Tào Sơn rằng : “Ở thời mạt pháp, người ta phần nhiều là Huệ Khô Khan (Càn Huệ  -(ct)  Càn Huệ Địa, địa vị thứ nhất của Thập Địa và Tam Thừa. Cái trí tuệ khô khan nên chưa thuần thục. Đại Thừa Nghĩa Chương nói: Tuy có trí tuệ, chưa đặng tịnh thủy (tâm tĩnh lặng, ví như nước đứng im). Lại còn về phép quán sự (đối lý quán nói sự quán) Đây chưa xong về lý, chưa thuần tịnh. )).

Để phân biệt thiệt hay giả, thì có ba loại rỉ chảy (sấm lậu) :

- Một là, Kiến  -(ct) Chỗ thấy theo sở học. ) sấm lậu : chưa lìa phàm phu, sa vào trong biển độc.

-Hai là, Tình sấm lậu : vướng mắc vào thuận nghịch, chỗ thấy không được quân bình.

- Ba là, Ngữ sấm lậu : cứu xét chỗ huyền diệu mà mất đi Tông chỉ, sau trước Cơ Trí đều mê muội tối tăm, trí dơ lưu chuyển.

Đối với ba loại này, thầy phải nên biết”.

Trong cái Càn Huệ, lại chia làm ba thứ này, nếu không có con Mắt Pháp phân biệt thì không thể chiếu phá.

Do đó, bậc A La Hán hồi hướng về Đại Thừa, hẳn phải tư duy quán xét lời dạy của Ngài Động Sơn, thì mới đầy đủ cái nghĩa Vô Lậu vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
laodongta, anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, ngodao, 8N, mavuong, byphuong, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Hai 13, 2011, 08:38:49 PM »

(tiếp theo)

佛子住持。善超諸有。能於國土。成就威儀。從佛轉輪。妙堪遺囑。嚴淨毗尼。(此云戒律)弘范三界。應身無量。度脫眾生。拔濟未來。越越塵累。

  通曰。住持云者。覺性常住。能持萬法者也。數語總敘。實該一經之大旨。曰善超諸有。則七征八還。五陰六入。十二處。十八界。以至七大。所不能障也。破妄之義已具。曰成就威儀。則建立道場。及三漸次。五十五位菩提之路也。顯真之義已具。曰妙堪遺囑。則二十五圓通。各證自性。俱堪授記作佛者也。見性宗趣自存。曰弘范三界。此經扶律。諄諄於四禁十善。及九次第定。弘彰三界之軌則也。阿難啟教。以斷淫為首務。即此而在。曰應身無量。即敕諸菩薩。及阿羅漢。應身生彼末法之中。作種種形。度諸輪轉是也。為末法眾生防範魔事。超諸塵累。證於圓通。實如來最後垂範至意。


Kinh : Các vị Phật Tử trụ trì, khéo vượt lên các Hữu. Ở các quốc độ, thành tựu uy nghi. Theo Phật chuyển pháp luân, kham lãnh xứng đáng di chúc của Phật. Nghiêm tịnh Giới Luật để mở rộng khuôn phép cho ba cõi. Hiện thân vô số, cứu thoát chúng sanh, tột đời vị lai, khỏi các Trần ràng buộc.



*Giải nghĩa rộng ra:-  Trụ Trì là cái Giác Tánh Thường Trụ (hằng còn), hay nắm giữ (trì) vạn Pháp.

Đoạn kinh này chỉ mười mấy chữ, thật bao quát hết ý chỉ của cả bộ kinh.

Nói rằng “Khéo vượt lên các Hữu”, tức là Ngũ Ấm, Lục Nhập, Mười Hai Xứ, Mười Tám Giới, cho đến bảy Đại đều chẳng có thể làm chướng ngại, thì nghĩa “Phá Vọng” đã đầy đủ hết.

Nói rằng “Thành tựu uy nghi”, tức là dựng lập Đạo Tràng, ba món tiệm thứ. Năm mươi lăm địa vị, tức là con đường Bồ Đề, thì nghĩa “Hiển chơn” đã đầy đủ. Nói rằng “Diệu kham di chúc” thì hai mươi lăm pháp môn viên thông đều chứng Tự Tánh, đồng kham thọ ký thành Phật, mà cái tông chỉ “Kiến Tánh” tự còn. Nói rằng “Mở rộng khuôn phép trong ba cõi”, thì bộ kinh này phù trì Giới Luật, dặn dò cẩn thận bốn Cấm Giới, Thập Thiện và chín loại Định để nêu rõ quy tắc cho ba cõi.

Ngài Anan thị hiện dâm sự để mở đầu bộ kinh là cũng vì vậy. Nói “Ứng thân vô lượng”, là dạy các vị Bồ Tát và A La Hán hiện thân trong đời mạt pháp, hóa làm đủ thứ hình dạng, cứu vớt các chúng sanh luân hồi vậy. Vì phòng ngừa cho chúng sanh đời mạt pháp khỏi các ma sự, “Siêu khỏi các Trần ràng buộc”, chứng đến chỗ viên thông.

Thật là lời dặn dò khuôn mẫu sau chót của Như Lai vậy.

風穴沼禪師垂語云。若立一塵。家國興盛。野老顰蹙。不立一塵。家國喪亡。野老謳歌。雪竇拈柱杖云。還有同生同死的衲僧麼。意在立塵處。頌云。

野老從教不展眉。
且圖家國立雄基。
謀臣猛將今何在。
萬里清風只自知。

雪竇於佛事門中不捨一法。天童兼實際理地。不受一塵。兩法齊行一併拈出。頌云。

皤然渭水起垂綸。
何似首陽清餓人。
只在一塵分變態。
高名勳業兩難泯。

又長慶云。總似今日。老胡有望。保福云。總似今日。老胡絕望。天童拈云。富嫌千口少。貧恨一身多。觀諸老宿傳持大教。總為得人。與佛祖拔濟未來之心。等無差別。故錄之為住持者法。


Ngài Phong Huyệt Chiểu thiền sư có lời dạy rằng : “Nếu lập một mảy trần  -(ct) Trần: hạt bụi. ), dẫu nước nhà đang hưng thịnh, lão quê này cũng buồn rầu. Không lập một mảy trần, dẫu nước nhà sụp đổ, lão quê này cũng vui ca”.

Ngài Tuyết Đậu dựng cây trụ trượng lên mà nói : “Lại còn có vị tăng cùng sống cùng chết nào không ?”, ý chỗ lập trần là ở đó.

Tụng rằng :

 
“Lão tăng dạy dỗ chẳng nhướng mày.

 Mong cho nhà nước vững nền ngay.

Mưu thần dũng tướng giờ đâu tá.

Vạn dặm gió trong, chỉ tự hay.”

Ngài Tuyết Đậu ở trong cửa Phật sự, chẳng bỏ một Pháp. Ngài Thiên Đồng ở nơi Thực Tướng chẳng thọ một mảy trần. Hai Pháp song hành bình đẳng, cùng một chỗ xuất ra.

Tụng rằng :

“Sông Vị trắng trong thả nhợ câu
Nào giống Di Tề chết đói đâu
Chỉ tại mảy trần sanh lắm vẻ
Nghiệp tốt, danh cao, khó bỏ thay”.

Lại còn Tổ Trường Khánh nói rằng : “Mọi chuyện giống như ngày nay là bởi Lão Hồ  -(ct) Lão Hồ: người rợ già. Chỉ Đức Đạt Mạ. ) có chỗ cho người ta ngưỡng vọng”.

Tổ Bảo Phước nói : “Mọi sự giống như ngày nay là vì Lão Hồ tuyệt hết mọi chỗ cho người ta ngưỡng vọng”.

Ngài Thiên Đồng dạy thêm : “Giàu, ngàn miệng ăn vẫn cho là ít. Nghèo, một thân này vẫn hận là nhiều”.

Xét chỗ khai thị của các vị tôn túc, tất cả đều vì người, nào có khác với tâm cứu độ chúng sanh đời sau của Phật, Tổ. Nên sao chép lại để làm cái pháp Trụ Trì  -(ct) Còn hoài. ).


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
laodongta, anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, ngodao, 8N, mavuong, byphuong, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Hai 13, 2011, 08:46:01 PM »

(tiếp theo)

其名曰大智舍利弗。(此云鶖子)摩訶目犍連。(此云大采菽氏)摩訶拘絺羅。(此云太膝)富樓那彌多羅尼子。(此滿慈子)須菩提。(此云空生)優婆尼沙陀。(此塵性空)等而為上首。復有無量辟支無學。並其初心。同來佛所。屬諸比丘。休夏自恣。十方菩薩。(此覺有情)咨決心疑。欽奉慈嚴。將求密義。即時如來敷座宴安。為諸會中宣示深奧。法筵清眾。得未曾有。

  通曰。此敘經之始。謂諸菩薩將求密義。而不云何者為密。謂世尊宣示深奧。而不云何者為奧。胡為法筵清眾。得未曾有。昔世尊一日昇座。文殊白椎云。諦觀法至法。法王法如是。世尊便下座。天童頌云。一段真風見也麼。綿綿化母理機梭。織成古錦含春象。無奈東君漏洩何。雪竇頌云。列聖叢中作者知。法王法令不如斯。會中若有仙陀客。何必文殊下一椎。若於世尊敷座宴安處。得個消息。是真妙契奧密。而不假詞說之繁者矣。辟支有初發心者。蓋辟支之徒也。休夏自恣。律開三日。七月十四十五十六。


Kinh : Các vị là : Đại Trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm Thượng Thủ. Lại có vô số các vị Bích Chi Vô Học và Sơ Tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị tỳ khưu mãn hạ Tự Tứ, các vị Bồ Tát từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng Đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu Nghĩa Thâm Mật.
Đức Như Lai trải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả Pháp Hội mà tỏ bày cái mật nhiệm sâu xa. Chúng hội trong sạch, được việc chưa từng có.


*Giải nghĩa rộng ra:-  Đây là nói về chỗ bắt đầu của kinh. Nói là các vị Bồ Tát thỉnh cầu Mật Nghĩa, mà chẳng có nói cái gì là mật. Nói đức Phật tỏ bày cái thâm áo, mà chẳng nói cái gì là thâm áo, thì làm sao chúng hội thanh tịnh lại được chỗ chưa từng có ?

Xưa, Đức Thế Tôn một hôm lên tòa pháp. Đức Văn Thù bạch chùy rằng : “Hãy xem rõ Pháp Vương Pháp. Pháp Vương Pháp như thế  -(ct) Đế quán Pháp Vương Pháp. Pháp Vương Pháp như thị. )”.

Đức Thế Tôn bèn xuống pháp tòa.

Tổ Thiên Đồng tụng :

“Một đoạn của nhà có thấy không
Miên man trời đất chạy thoi nhanh
Gấm cổ dệt thành, bao Xuân sắc
Ngại gì tiết lộ bởi Đông Quân
-(ct) Thần mùa Xuân. )”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Thánh chúng đương nhiên ắt hiểu ngay
Pháp Vương, Pháp Lệnh chẳng như đây
Hội này mà có Thiền gia khách
Văn Thù nào phải hạ một chùy”.

Nếu đối với chỗ Đức Thế Tôn lên tòa yên ngồi mà đã rõ thông tin tức, mới thật diệu khế cái Áo Mật, mà chẳng cần nhờ đến lời lẽ phiền phức vậy.

Hàng Bích Chi, còn có hạng Sơ Phát Tâm là học trò của hàng Bích chi.

Hưu Hạ Tự Tứ” là trong Luật có dạy ba ngày ra Hạ là Mười Bốn, Mười Lăm và Mười Sáu tháng Bảy.

迦陵仙音。遍十方界。恆沙菩薩。來聚道場。文殊師利而為上首。

  通曰。迦陵仙鳥。在㲉已具美音。眾鳥莫及。喻頓教入如來種。不假修習。非三乘所及。如來此音。以應頓機故也。昔目犍連欲窮佛音。盡其神力。歷恆沙界。至一佛國。報身甚鉅。缽飯邊圍。可當道路。目連振錫而游其上。彼諸弟子問其佛曰。安所有蟲而人其貌者彼佛云。是娑婆界釋迦文佛弟子目犍連。未可以其小而易之也。因問連何為至此。連以窮佛音聲對。彼佛語連。佛音無盡。非汝可窮。連乃返。所謂遍十方界者。良有征已。恆沙菩薩。各有住處。如華嚴所載。補陀。支提。五台。峨嵋。那羅延窟。列剎相望。踵接肩摩。宇宙無窮。何地非菩薩住處。聞佛音聲。來集佛所。即恆沙未足方其多也。文殊此云妙德。以表實智。宣示頓教。則文殊為當機。故為上首。昔無著文喜禪師。嘗至五台金剛窟。禮謁文殊。遇一老翁。牽牛而行。邀師入寺。翁呼均提。有童子應聲出迎。翁縱牛。引師升堂。堂宇皆耀金色。翁據床。指繡墩命坐。翁曰。近自何來。喜曰。南方。翁曰。南方佛法。如何住持。喜曰。末法比丘少奉戒律。翁曰。多少眾。喜曰。或三百。或五百。喜卻問此間佛法。如何住持。翁曰。龍蛇混雜。凡聖同居。喜曰。多少眾。翁曰。前三三。後三三。翁呼童子致茶。並進酥酪。喜納其味。心意豁然。翁拈起玻璃盞問曰。南方還有這個否。喜曰無。翁曰。尋常將甚麼喫茶。喜無對。惜哉。當時只合與撲碎玻璃盞。喜睹日色稍晚。遂問翁擬投一宿得否。翁曰。汝有執心在。不得宿。喜曰。某甲無執心。翁曰。汝曾受戒否。喜曰。受戒久矣。翁曰。汝若無執心。何用受戒。喜辭退。翁令童子相送。喜問童子。前三三後三三。是多少。童召大德。喜應諾。童曰。是多少。喜復問曰。此為何處。童曰。此金剛窟般若寺也。喜淒然悟彼翁者。即文殊也。不可再見。乃稽首童子。願乞一言為別。童說偈曰。面上無嗔供養具。口裡無嗔吐妙香。心裡無嗔是珍寶。無垢無染是真常。言訖。均提與寺俱隱。喜後參仰山。頓了心契。令充典座。文殊常現於粥鑊上。喜以攪粥篦便打。曰文殊自文殊。文喜自文喜。殊乃說偈曰。苦瓠連根苦。甜瓜徹蒂甜。修行三大劫。卻被老僧嫌。到這裡。還道有執心麼。雪竇頌云。千蜂盤屈色如藍。誰謂文殊是對談。堪笑清涼多少眾。前三三與後三三。於此透脫。許覿面文殊。

Kinh : Tiếng của Phật hòa nhã như tiếng chim Ca Lăng Tần Già, vang khắp mười phương. Hằng sa Bồ Tát dến chốn đạo tràng, có Ngài Văn Thù Sư Lợi làm Thượng Thủ.


*Giải nghĩa rộng ra:-  Chim Ca Lăng Tần Già khi còn trong trứng đã đủ tiếng hay, các loài chim khác không so sánh kịp. Thí dụ cho Đốn Giáo vào ngay dòng giống Phật, không cần mượn tu tập, Tam Thừa không bì kịp. Phật dùng âm thanh này để dạy cho hàng căn cơ Đốn Ngộ.

Thuở xưa, có lần Ngài Mục Kiền Liên muốn cùng tột âm thanh của Phật, dùng hết thần lực, đi qua hằng sa cõi, đến một cõi Phật có Báo Thân rất lớn. Ngài chống trượng đi trên miệng bát cơm của chư vị cõi đó. Các đệ tử ở đấy đều thưa với đức Phật cõi đó : “Tại sao lại có loại trùng giống hệt con người ?”

Đức Phật kia đáp : “Đó là Mục Kiền Liên, đệ tử của phật Thích Ca ở cõi Ta Bà. Chớ thấy hình vóc nhỏ nhoi mà xem thường !” Rồi đức Phật hỏi Ngài Mục Kiền Liên đến đây làm gì.

Ngài trả lời là muốn cùng tột âm thanh của Phật.

Đức Phật dạy : “Âm thanh của Phật vô tận, ông không thể cùng tột được đâu”.

Ngài Mục Kiền Liên bèn trở về.

Nên nói “Khắp hết mười phương” là đúng vậy.

Hằng sa Bồ Tát mỗi mỗi đều có chỗ ở, như những cõi kể trong kinh Hoa Nghiêm, vũ trụ vô cùng, chỗ nào mà chẳng phải là Trụ Xứ của Bồ Tát ? Nay nghe âm thanh Phật, các Bồ Tát đi đến với Phật.

Văn Thù tức là Diệu Đức, để bày tỏ cái Thiệt Trí. Mở bày Đốn Giáo thì đúng là Cơ của Ngài, nên Ngài làm Thượng Thủ.

Xưa, Ngài Vô Trước Văn Hỷ thiền sư đến động Kim Cương ở núi Ngũ Đài chiêm bái Đức Văn Thù. Ngài gặp một ông già đang dắt trâu đi và mời Ngài vào chùa.

Ông già gọi : “Sa di !” Thì có một đồng tử ứng tiếng dạ, chạy ra tiếp. Ông già thả trâu đi, dắt thiền sư lên nhà khách. Nhà cửa đều chói lọi ánh vàng. Ông già ngồi lên giường, chỉ một cái đôn gấm mời Ngài ngồi.

Ông nói : “Ông từ đâu tới ?”

Sư Văn Hỷ đáp : “Phương Nam”.

Ông hỏi : “Phật Pháp ở phương Nam trụ trì thế nào ?”

Sư đáp : “Đời mạt Pháp các Tỳ Kheo ít phụng trì Giới Luật”.

Ông hỏi : “Chúng nhiều ít ?”

Sư đáp : “Hoặc ba trăm, hoặc năm trăm”.
 
Sư Văn Hỹ trở lại hỏi : “Phật Pháp ở đây trụ trì thế nào ?”

Ông già trả lời : “Rồng rắn lẫn lộn, phàm Thánh ở chung”.

Sư hỏi : “Chúng nhiều ít ?”
 
Ông đáp : “Trước ba ba, sau ba ba  -(ct) Tiền tam tam, hậu tam tam. )”. Ông kêu đồng tử đem trà và váng sữa  -(ct) Tô lạc. ) lại. Sư dùng xong, tâm ý thông suốt.

Ông già cầm chén pha lê lên hỏi : “Phương Nam có thứ này không ?”

Sư đáp : “Không có”.

Ông hỏi : “Bình thường lấy gì uống trà ?”

Sư không đáp được.

(Tiếc thay ! Đang khi ấy chỉ nên đập nát nghiến cái chén pha lê ! )

Văn Hỷ thấy trời đã tối, bèn hỏi ông ở lại một đêm được chăng.

Ông già nói : “Ông còn cái tâm chấp không thể ở lại”.

Sư nói : “Tôi đâu có tâm câu chấp”.
 
Ông già hỏi : “Ông đã thọ Giới chưa ?”

Sư đáp : “Thọ Giới đã lâu”.

Ông già nói : “Nếu không có cái tâm chấp, thì thọ Giới để làm gì ?”

Sư cáo từ. Ông già bảo đồng tử tiễn Ngài về.

Ngài hỏi đồng tử : “Trước ba ba, sau ba ba là nhiều ít ?”

Đồng tử gọi lớn : “Đại Đức !”

Sư ứng tiếng dạ.

Đồng tử nói : “Đó là nhiều ít ?”.
 
Sư Hỷ lại hỏi : “Đây là chỗ nào ?”

Đáp rằng : “Đây là động Kim Cương, chùa Bát Nhã”.

Sư Văn Hỷ mới tỉnh ngộ ra rằng ông già tức là Văn Thù vậy. Không thể ra mắt trở lại dược nữa, bèn cúi đầu trước đồng tử, xin một lời nói để từ biệt.

Đồng tử đọc bài kệ :-

Trên mặt không sân : đồ cúng dường
Trong miệng không sân : xuất Diệu Hương
Trong tâm không sân là châu báu
Không dơ, không nhiễm tức Chân Thường.

Nói xong, cả người lẫn chùa đều ẩn mất.

Thầy Hỷ sau tham học với Tổ Ngưỡng Sơn, chóng ngộ tâm khế, giữ chức Điển Tòa  -(ct) Lo về trai tăng trong thiền viện. ). Khi nấu ăn, Đức Văn Thù thường hiện hình trên nồi cháo. Sư Văn Hỷ lấy cái đũa tre quậy cháo đánh mà nói rằng : “Văn Thù tự mặc Văn Thù. Văn Hỷ tự mặc Văn Hỷ”.

Đức Văn Thù bèn nói bài kệ :

“Bầu đắng rễ cũng đắng,
Dưa ngọt tận cuống ngọt
Tu hành ba đại kiếp
Lại bị lão tăng từ (chối)”.

Thấu đến Trong Ấy  -(ct) Giá Lý. ) lại còn nói có tâm câu chấp nữa ư ?

Tổ Tuyết Đậu tụng rằng :

“Ngàn đỉnh nhấp nhô một màu lam
Ai là Văn Thù để đối đàm
Nực cười Thanh Lương  -(ct) Núi Ngũ Đài. ) nhiều ít chúng
Trước ba ba sau cũng ba ba”.

Chỗ này mà thấu thoát  -(ct) Hiểu thấu róc tuốt. ) được mới cho gặp mặt Đức Văn Thù.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
laodongta, anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, ngodao, 8N, mavuong, byphuong, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Hai 13, 2011, 09:12:52 PM »

(tiếp theo)


時波斯匿王。(此名勝軍) 為其父王諱日營齋。請佛宮掖。自迎如來。廣設珍羞無上妙味。兼復親延諸大菩薩。城中復有長者居士。同時飯僧。佇佛來應。佛敕文殊。分領菩薩及阿羅漢。應諸齋主。唯有阿難。(此云慶喜) 先受別請。遠遊未還。不遑僧次。既無上座。及阿阇黎。 (此軌範師)途中獨歸。其日無供。即時阿難執持應器。於所游城。次第循乞。心中初求最後檀越 (此云施者)以為齋主。無問淨穢剎利(此云王種)尊姓及旃陀羅。(此云屠膾)方行等慈。不擇微賤。發意圓成一切眾生無量功德。阿難已知如來世尊訶須菩提及大迦葉。 (此云飲光)為阿羅漢。心不均平。欽仰如來。開闡無遮。度諸疑謗。經彼城隍。徐步郭門。嚴整威儀。肅恭齋法。


DUYÊN KHỞI CỦA KINH LĂNG NGHIÊM

Kinh : Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày kỵ (giỗ) phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thọ trai. Tự Ngài đứng nơi cung dịch nghinh rước Đức Như Lai, dọn bày các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả, cư sĩ cùng dự lễ Trai Tăng chờ Phật đến chứng minh. Phật khiến Ngài Văn Thù phân lãnh các vị Bồ Tát và A La Hán đi đến nhà các trai chủ.

Duy có Ông Anan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có Thượng tọa hay A xà lê cùng đi, và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ, ông mang bình bát vào trong một thành, trên đường đi tuần tự khất thực. Ban đầu, trong lòng cầu được một người bố thí tối hậu để làm trai chủ, không kể sang hèn, đều hành tâm Từ bình đẳng. Phát tâm viên thành cho tất cả chúng sanh được vô lượng công đức.

Ông Anan đã biết đức Phật quở ông Tu Bồ Đề và Ông Đại Ca Diếp làm bậc A La Hán, mà tâm chẳng bình đẳng. Ông kính vâng lời khai thị của Phật, lìa thoát mọi nghi báng. Đi đến bên thành, thong thả vào cửa, nghiêm chỉnh oai nghi, kính giữ phép hóa trai.


通曰。波斯匿王。及長者居士。同時飯僧。何若是殷也。以飯僧功德。最利益故。佛嘗為須達說佈施果報。謂多施少報。少施多報。供養百千諸佛。不如供養一淨行。乃至供養百千諸佛。不如供養一無心道人。又四十二章經云。佛言飯惡人百。不如飯一善人。飯善人千。不如飯一持五戒者。飯持五戒者萬。不如飯一須陀洹。飯百萬須陀洹。不如飯一斯陀含。飯千萬斯陀含。不如飯一阿那含。飯一億阿那含。不如飯一阿羅漢。飯十億阿羅漢。不如飯一辟支佛。飯百億辟支佛。不如飯一三世諸佛。飯千億三世諸佛。不如飯一無念無住無修無證之者。大略相同。有僧問洛浦。供養百千諸佛。不如供養一無心道人。百千諸佛有何過。無心道人有何德。浦云。一片白雲橫谷口。幾多歸鳥盡迷巢。丹霞頌云。拾得疏慵非覺曉。寒山懶惰不知歸。聲前一句圓音美。物外三山片月輝。此單頌無心道人爾。甘  行者一日入南泉設齋。黃檗為首座。行者請施財。檗曰。財法二施。等無差別。甘曰。恁麼道。爭消得某甲 。便將出去須臾復入。曰請施財。檗曰。財法二施。等無差別。甘乃行 。又一日入寺設粥。仍請南泉唸誦。泉乃白槌曰。請大眾為狸奴白牯念摩訶般若波羅蜜。甘拂袖便出。泉粥後。問典座。行者在甚處。坐曰。當時便去也。泉便打破鍋子。疏山如頌云。特來設粥誇英俊。那知王老更風流。打破粥鍋呈丑拙。狸奴白牯一齊收。若 者可謂能供養無心道人矣。行乞有五種義。一由內證平等理。外不見貧富相故。二離貪慢心偏利故。三有大定力。不懼惡象淫女家故。四離凡夫猜嫌故。五破二乘分別故。淨名曰。於食等者。於法亦等。無論貴賤淨穢。俱證菩提。是為圓成一切眾生無量功德。須菩提舍貧從富。大迦葉舍富從貧。則慈不均平。不為等慈。阿難心中作如是念。即落意識分別。即屬鬼家活計。所以魔得其便。何似契此之行乞乎。常以杖荷一布囊。並破席。凡供身之具。盡貯囊中。入廛肆聚落。見物則乞。或醯醢魚   。才接入口。分少許投囊中。時號長汀子。一日有僧在師前行。乃拊其背。僧回首。師曰。乞我一文錢。僧曰。道得。即與汝一文錢。師放下布袋。叉手而立。又一日在市立。僧問和尚在這裡作甚麼。師曰等個人。僧曰。來也來也。師曰。汝不是這個人。僧曰。如何是這個人。師曰。乞我一文錢。嘗有偈曰。一缽千家飯。孤身萬里游。青目睹人少。問路白雲頭。若契此者。可謂得諸佛儀式矣。世尊一日敕阿難。食時將至。汝當入城持缽。阿難應諾。世尊曰。汝既持缽。須依過去七佛儀式。阿難便問如何是過去七佛儀式。世尊召阿難。阿難應諾。世尊曰。持缽去。噫。阿難若早了此。何至有摩登之事。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Vua Ba Tư Nặc cùng các vị trưởng giả, cư sĩ đồng thời cùng dự lễ Trai Tăng, sao ân cần như vậy ? Vì công đức Trai Tăng rất lợi ích. Phật có thuyết cho Ông Cấp Cô Độc về quả báo của bố thí: hoặc là bố thí nhiều mà quả báo ít, hoặc là bố thí ít mà quả báo nhiều. Cúng dường cho ngàn vị Phật, không bằng cúng dường cho một vị Tịnh Hạnh. Cho đến cúng dường trăm ngàn vị Phật không bằng cúng dường cho một Đạo Nhân Vô Tâm.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói rằng : “Phật dạy : cho một trăm người ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người giữ Ngũ Giới ăn. Cho một vạn người giữ Ngũ Giới ăn không bằng cúng dường một vị Tu Đà Hoàn. Cúng dường một trăm vạn vị Tu Đà Hoàn không bằng cúng dường một vị Tư Đà Hàm. Cúng dường một ngàn vạn vị Tư Đà Hàm không bằng cúng dường một vị A Na Hàm. Cúng dường một ức vị A Na Hàm không bằng cúng dường một vị A La Hán. Cúng dường mười ức vị A La Hán không bằng cúng dường một vị Bích Chi Phật. Cúng dường một trăm ức vị Bích Chi Phật không bằng cúng dường ba đời Chư Phật. Cúng dường ngàn ức ba đời Chư Phật không bằng cúng dường cho một vị Không niệm, Không Trụ, Không Tu, Không Chứng”.

Đại lược hai đoạn trên tương đồng với nhau.

Có vị sư hỏi Tổ Lạc Phổ  -(ct) Tên bến sông Lạc, nay là tên của một huyện. Tổ ở huyện này nên lấy tên xứ để gọi. ) : “Cúng dường trăm ngàn vị Phật chẳng bằng cúng dường một vị đạo nhân không tâm (Vô Tâm). Trăm ngàn chư Phật có lỗi gì ? Người đạo nhân Vô Tâm có đức gì ?”.

Tổ đáp : “Một mảnh mây trắng qua trước hang. Biết bao chim chóc lạc ổ về”.
Ngài Đơn Hà  -(ct) Thiên Nhiên thiền sư, ở Đơn Hà Sơn, Đông Châu. ) tụng rằng :

“Thập Đắc bơ thờ không tỏ hiểu
Hàn Sơn  -(ct) Thập Đắc và Hàn Sơn là hai vị tăng giả vờ điên khùng. Thật ra, là hiện thân của hai Đại Bồ Tát. ) uể oải chẳng biết về
Trước tiếng (thanh tiền) một câu viên âm đẹp
Ngoài vật ba núi mảnh trăng soi”.

(Thập Đắc số dung phi giác hiểu
Hàn Sơn lại đọa bất tư quy
Thanh tiền nhất cú viên âm mỹ
Vật ngoại tam sơn phiến nguyệt quy).

Câu ba : Viên Âm là tiếng vọng trải khắp mầu nhiệm, thuộc ẩn.

Câu bốn là hiển.

Đây là riêng tụng về đạo nhân Vô Tâm đó vậy.

Ông Cam Chi hành giả một ngày kia vào chỗ Ngài Nam Tuyền  -(ct) Phổ Nguyện thiền sư, đời Đường, ở núi Nam Tuyền, nối kế pháp của Mã Tổ. ) bày Trai cúng, gặp Tổ Huỳnh Bá làm Thủ Tòa  -(ct) Người xem hết đại chúng trong chùa. ). Ông xin được bố thí tiền của  -(ct) Thí tài. ).
Tổ Bá nói : “Tài Thí và Pháp Thí đều không sai biệt”.
Ông Cam Chi nói : “Nói thế nào để tiêu được cái của cúng của tôi ?” Bèn ra về.
Một lát, lại trở vào, nói : “Xin được thí tài”.
Tổ Bá nói : “Tài Thí và Pháp Thí đều không sai biệt”.
Ông Cam Chi bèn dâng cúng.

Lại một ngày nọ, ông vào chùa dọn cháo, xin Tổ Nam Tuyền tụng niệm cho. Tổ Tuyền mới bạch chùy  -(ct) Gõ bản. ), nói : “Xin đại chúng vì chồn, trâu già mà niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”.
Ông Cam Chi bèn phất tay áo đi ra.
Dùng cháo xong, Tổ Tuyền hỏi thầy Điển Tòa  -(ct) Vị tăng đảm trách việc trai chúc (cơm, cháo cúng dường... ). ) : “Hành giả đâu rồi ?”
Đáp : “Liền khi nãy đi rồi”.
Tổ Tuyền bèn đập nát cái nồi.

Ngài Sớ Sơn  -(ct) Tổ Quang Nhâm thiền sư, hiệu Sớ Sơn. Tướng lùn xấu, biện luận tinh anh. Gọi là Ông Phật lùn. Nối kế pháp ở Động Sơn. ) tụng rằng :

“Một mình bày cháo khoe anh tuấn
Nào hay vương lão lại phong lưu
Đập tan nồi cháo bày vụng xấu
Chồn với trâu già một lượt thâu”.

Như Ông Cam Chi mới đáng gọi là có thể cúng dường đạo nhân Vô Tâm vậy.

Hành khất có năm nghĩa : một là, trong chứng bình đẳng, ngoài không thấy tướng giàu nghèo. Hai là, rời cái tâm tham lam kiêu mạn ngã theo điều lợi. Ba là, có sức Đại Định, chẳng có sợ các độc dữ của nhà gái dâm. Bốn là, lìa bỏ sự nghi ghét của phàm phu. Năm là, phá chỗ phân biệt của Nhị Thừa. Đức Duy Ma Cật nói rằng : “Nơi ăn mà bình đẳng, thì nơi pháp cũng bình đẳng. Chẳng luận sang hèn, dơ sạch đều chứng Bồ Đề. Đó là viên thành vô lượng công đức của tất cả chúng sanh”. Ông Tu Bồ Đề thì bỏ nghèo theo giàu. Ông Đại Ca Diếp thì bỏ giàu theo nghèo. Thế tức là lòng Từ chẳng quân bình, chẳng gọi là lòng Từ bình đẳng. Nhưng khi Ông Anan trong tâm vừa khởi niệm như thế, là đã rơi vào ý thức phân biệt, bèn thuộc về cái kế sanh nhai của nhà quỷ, nên ma mới có cơ hội.
Làm sao sánh được với sự hành khất như thế này : thuở trước, có vị Hòa Thượng, thường dùng gậy quảy một cái bao bố với cái nệm rách. Bao nhiêu đồ dùng đều bỏ hết ráo trong cái bao ấy. Vào chợ búa xóm làng, thấy vật gì thì xin. Hoặc thịt chua cá mặn, vừa lấy thì bỏ vào miệng, còn lại thì bỏ trong bao. Đời ấy người ta gọi là Trường Đinh Tử. Một hôm, có vị tăng đi trước mặt, Sư bèn vỗ vào lưng, vị tăng quay đầu lại.

Sư nói : “Cho ta một đồng tiền”.
Tăng nói : “Nói được thì cho ông một đồng tiền”.
Sư bỏ cái bao bố xuống, khoanh tay mà đứng sững.

Lại một ngày nọ, Ngài đứng ở chợ. Có vị tăng hỏi : “Hòa Thượng tại Trong Ấy  -(ct) Trong Giá Lý. ) làm cái gì ?”
Ngài đáp : “Đồng với “con người””.
Tăng rằng : “Đến rồi vậy, đến rồi vậy”.
Ngài nói : “Ông chẳng phải là con người ấy đâu”.
Tăng hỏi : “Thế nào là con người đó ?”
Ngài đáp : “Cho ta một đồng tiền !”
Ngài có bài kệ :-

“Một bát cơm ngàn nhà
Cô thân muôn dặm xa
Mắt xanh, người ít thấy
Mây trắng hỏi đường qua”.

(Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đỗ nhân thiển
Vấn lộ bạch vân đầu).

Nếu khế hợp được chỗ ấy, có thể nói là được Nghi Thức của Chư Phật vậy.

Một hôm, đức Phật bảo Anan : “Đã đến giờ, ông nên vào thành đi trì bát  -(ct) Ôm giữ bát. ).
Anan vâng lời. Thế Tôn nói : “Ông đã ôm giữ bát thì phải y theo Nghi Thức của bảy vị Phật đời quá khứ”.
Ông Anan mới hỏi : “Như thế nào là Nghi Thức của bảy vị Phật đời quá khứ ?”

Thế Tôn gọi lớn : “Anan !”.
Ông Anan ứng dạ.
Thế Tôn rằng : “Ôm bát đi !”

Ôi, nếu Ông Anan sớm hiểu chỗ này, thì đâu có việc Ma Đăng Già !


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
laodongta, anhlam, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, dieunha, ngodao, 8N, mavuong, byphuong, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 08:27:54 PM »

(tiếp theo)

爾時阿難因乞食次。經歷淫室。遭大幻術摩登伽女。(此云本性) 以娑毗迦羅 (此云黃髮外道) 先梵天咒。攝入淫席。淫躬撫摩。將毀戒體。

如來知彼淫術所加。齋畢旋歸。王及大臣。長者居士。俱來隨佛。願聞法要。於時世尊頂放百寶無畏光明。光中出生千葉寶蓮。有佛化身。結跏趺坐。宣說神咒。

敕文殊師利將咒往護。惡咒銷滅。提獎阿難。及摩登伽。歸來佛所。


Kinh : Khi đi khất thực, Ông Anan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyền thuật của cô ta, là tà chú Ta Tì Ca La của ngoại đạo, bắt vào giường riêng dựa kề vuốt ve làm cho ông gần phá giới thể.
Đức Như Lai biết Ông Anan mắc phải dâm thuật, dùng trai xong liền trở về. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong được nghe Pháp yếu.
Khi ấy, trên đỉnh Thế Tôn phóng ra ánh sáng rực rỡ Vô Úy, trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, trên có Hóa Thân của Phật ngồi kiết già, tuyên thuyết thần chú khiến Ngài Văn Thù Sư Lợi đem chú này đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú rồi đưa Ông Anan và nàng Ma Đăng Già về chỗ của Phật.



合論曰。世尊愍眾生流轉三界。皆由著欲。於諸欲中。惟淫為重。故經首敘摩登伽女。特言其故。謂溺之為大患。絕之為大利。譬如牧羊鞭其後者。故於機會處。必痛致其意焉。寶蓮香比丘尼。持菩薩戒。私行淫慾。妄言行淫非殺非偷。無有業報。即於女根生大猛火。然後節節猛火燒然。墮無間獄。而烏芻瑟摩以聞佛說多淫之人。成猛火聚。以火光三昧。成阿羅漢。曰諸漏既消。生大…。登無上覺。夫無上覺。佛地也。而觀淫性。則便能登之。無間獄。惡道也。而從淫事。則便生陷之。又論十種習因。則首敘淫習。曰一者淫習交接。發於相摩。研摩不休。如是故有大猛火光。於中發動。是故如來色目行淫。同名慾火。然後乃敘貪慢等。又毗柰耶宣說修行三決定義。所謂攝心為戒。因戒生定。因定發慧。是則名為三無漏學。今斷殺盜淫妄。而此經序淫於先。又觀世音菩薩自敘三十二應身說法。而梵天王以欲心明悟。便與佛菩薩緣覺聲聞同名解脫。自余二十八種。止名成就而已。又以五種辛。發淫增恚。令立三漸次以斷之。名第一增進。又觀淫慾。過猶毒蛇。禁戒成就。父母肉眼。能觀十方。是皆機會處痛致其意者也。此論檃括一經脈絡。反覆叮嚀。深明此經啟教。必以斷淫為首。務令人惕然毛骨為悚。雖然。證實智者視一切聲色。如幻如夢。又惡足以滑其中哉。四十二章經云。佛言愛慾之人。猶如執火逆風而行。必燒手也。天神獻玉女於佛。欲以試佛。觀佛道意而定遐邇。佛言。革囊眾穢。爾來何為。去。吾不用汝。天神逾敬。因問道意。佛為解說。即得須陀洹果。又維摩經云。舍利弗問天女。汝何以不轉女身。天曰我從十二年來。求女人相。了不可得。當何所轉。譬如幻師。化作幻女。若有人問。何以不轉女身。是人為正問否。舍利弗言。不也。幻無定相。當何所轉。天曰。一切諸佛。亦復如是。無有定相。云何乃問不轉女身。即時天女以神通力。變舍利弗令如天女。天自化身如舍利弗。而問言。何以不轉女身。舍利弗以天女像而答言。我今不知何轉而變為女身。天曰。舍利弗若能轉此女身。則一切女人。亦當能轉。如舍利弗非女而現女身。一切女人。亦復如是。雖現女身而非女也。是故佛說一切諸法。非男非女。即時天女還攝神力。舍利弗身還復如故。天問舍利弗。女身色相。今何所在。舍利弗言。女身色相。無在無不在。天曰。一切諸法。亦復如是。無在無不在。夫天女神力。能轉舍利弗。先梵天咒。不能毀阿難戒體。是兩段經義。可謂兩彩一賽。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Bộ Hiệp Luận nói : “Đức Phật thương xót chúng sanh bị trôi lăn trong Tam Giới đều do mắc vào Dục”.

Trong các thứ Dục, chỉ có cái Dâm Dục là nặng hơn hết, nên bộ kinh này mở đầu bằng việc cô Ma Đăng Già. Để nhấn mạnh là nếu bị chìm đắm vào đó là một hoạn nạn lớn, mà diệt trừ được lại là một lợi ích lớn. Ví như chăn dê thì đánh ở sau, nên hễ có cơ hội là răn nhủ cẩn thận.

“Có vị tỳ kheo ni tên là Bảo Hương, thọ Bồ Tát giới mà lại lén làm chuyện dâm, lại nói xằng rằng Dâm Dục chẳng phải giết hại hay trộm cắp nên chẳng có sự trả Nghiệp. Liền từ nữ căn sanh ra ngọn lửa lớn rồi dần dần thiêu luôn cả cơ thể, đọa vào Vô Gián địa ngục.

“Còn Ngài Ô Sắc Ma thì nghe Phật dạy rằng người đa dâm như đống lửa lớn, nên tu mà hóa Tánh Dâm thành Hỏa Quang Tam Muội, chứng quả A La Hán. Ngài nói rằng : “Các phiền não đã tiêu, sanh ra ngọn lửa quý báu, lên bậc Vô Thượng Giác”.

“Ôi ! Vô Thượng Giác là địa vị Phật mà nhờ quán sát Dâm Tánh thì có thể lên được ! Địa ngục Vô Gián là đường dữ mà vì theo chuyện dâm nên đang còn sống mà đã bị đọa vào. Luận về mười loại Tập Nhân thì Dâm Tập đứng đầu. Nói là Dâm Tập đứng đầu vì đó là sự giao tiếp, phát sinh từ sự cọ xát, nên có ngọn lửa rất mạnh phát ra ở bên trong. Cớ nên Phật bảo sự Hành Dâm gọi là Lửa Dục. Sau mới đến những tội Tham Lam, Kiêu Mạn. Trong Bộ Luật, nói về ba Nghĩa Quyết Định Tu Hành, đó là nhiếp tâm làm Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định sanh Huệ, gọi là ba Vô Lậu Học  -(ct) Ba Giáo Pháp trừ phiền não. ). Sự đoạn trừ Sát, Đạo, Dâm, Vọng thì kinh này nói Đoạn Dâm trước hết.

“Lại nữa, Quán Thế Âm Bồ Tát tự kể về ba mươi hai Ứng Thân thuyết pháp của Ngài, nói rằng : “Phạm Thiên Vương nhờ Dục tâm được Minh Ngộ mà cùng với Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đồng gọi là Giải Thoát  -(ct) Rảnh rang, mở khỏi. ), còn hai mươi tám hạng kia chỉ có tên thành tựu mà thôi”. Lại năm thứ Mùi Cay  -(ct) Ngũ Vị Tân. ) là thứ làm phát Dâm, tăng Oán Giận nên dạy lập ba món Tiệm Thứ để đoạn trừ, gọi là Tăng Tiến Đệ Nhất. Lại dạy rằng phải quán sát Dâm Dục hơn cả rắn độc, nếu thành tựu được Cấm Giới thì với con mắt thịt của cha mẹ sinh ra có thể thấy suốt cả mười phương”.

Đó là gặp cơ hội thì dặn dò kỹ lưỡng vậy. Bộ Luận này quả đã uốn nắn cho ngay ngắn toàn thể mạch lạc của kinh, dặn dò kỹ lưỡng, tỏ liễu sâu xa chỗ mở dạy của bộ kinh mà lấy việc dứt lìa cái Dâm Dục làm đầu, khiến cho người ta sợ hãi đến dựng tóc gáy, lạnh xương sống. Tuy nhiên, người chứng Thật Trí, thì thấy tất cả Thanh, Sắc đều như huyễn như mộng, việc dữ kia chẳng có bóng dáng nào cả ở trong ấy.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói “Người nhiều Ái Dục như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất phải bị cháy tay”. Thiên Thần dâng Ngọc Nữ để thử Phật, muốn xem đạo ý Ngài ra sao. Phật nói : “Cái bao da chứa đồ dơ kia đến đây làm gì. Hãy đi đi ! Ta chẳng dùng đến”. Vị Thiên Thần rất kính trọng, thưa hỏi ý đạo. Phật dạy cho, liền đắc quả Tu Đà Hoàn.

Lại còn Kinh Duy Ma Cật có đoạn : “Ông Xá Lợi Phất hỏi Thiên Nữ : “Sao cô chẳng chuyển thân nữ ?”
 
“Thiên nữ đáp : “Từ mười hai năm nay, tôi tìm cầu hình tướng người nữ mà chẳng thể được. Vậy thì phải chuyển cái gì ? Ví như một nhà huyễn thuật, tạo ra một người nữ huyễn. Như có người hỏi cô ấy : “Sao cô không chuyển thân nữ đi ?” Người ấy hỏi có đúng không ?”

“Xá Lợi Phất trả lời : “Không đúng ! Huyễn không có tướng nhất định, thì có gì mà chuyển”.

“Thiên Nữ nói : “Tất cả Chư Phật cũng lại như thế. Hết thảy đều không có định tướng, tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ ?”

“Liền đó, Thiên Nữ dùng thần thông biến Ông Xá Lợi Phất thành Thiên Nữ và Thiên Nữ thì hóa thân thành như Xá Lợi Phất; rồi hỏi rằng : “Sao ông chẳng chuyển thân nữ ?”

“Ông Xá Lợi Phất trong hình tướng thân nữ đáp rằng : “Không hiểu sao tôi lại biến thành thân nữ ?”

“Thiên Nữ nói : “Nếu Ông Xá Lợi Phất có thể chuyển thân nữ này, thì hết thảy người nữ cũng có thể chuyển. Như Xá Lợi Phất chẳng phải là người nữ mà lại hiện thân nữ, tất cả người nữ lại cũng như thế, tuy hiện thân nữ mà chẳng phải là người nữ. Thế nên, đức Phật nói rằng : “Tất cả các pháp chẳng phải nam, chẳng phải nữ”.

“Thiên Nữ liền thu lại thần lực, Ông Xá Lợi Phất trở lại như cũ.

“Thiên Nữ bảo : “Này, Ông Xá Lợi Phất, sắc tướng thân nữ bây giờ ở đâu ?”

“Xá Lợi Phất nói : “Sắc tướng thân nữ không có ở đâu mà không đâu chẳng có”.

“Thiên Nữ nói : “Tất cả các pháp lại cũng như thế, không có ở đâu mà không đâu chẳng có”.

Ôi ! Thần lực của Thiên Nữ có thể chuyển Ông Xá Lợi Phất, còn chú Tiên Phạm Thiên chẳng thể hủy phá Giới Thể của Ông Anan. Nghĩa hai đoạn kinh có thể so sánh cho rõ ràng vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, ngodao, 8N, laodongta, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 08:33:12 PM »

(tiếp theo)

阿難見佛。頂禮悲泣。恨無始來。一向多聞。未全道力。慇勤啟請十方如來得成菩提妙奢摩他三摩禪那最初方便。於時復有恆沙菩薩。及諸十方大阿羅漢辟支佛等。俱願樂聞。退坐默然。承受聖旨。


Kinh : Anan thấy Phật, cúi lạy buồn khóc, căm hận mình từ vô thủy đến nay một bề nghe rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực. Tha thiết xin Phật dạy cho những Pháp Xa Ma Tha (Chỉ), Tam Ma (Quán), Thiền Na (Thiền, Chỉ Quán Viên Tu) vi diệu, là những phương tiện tu hành đầu tiên nhờ đó mười phương Như Lai đắc thành Bồ Đề.
Lúc ấy, lại có hằng sa Bồ Tát, Đại A La Hán và Bích Chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe lời Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lãnh thọ Thánh chỉ.


通曰。此阿難發問。乃一經之領袖。自始至終。世尊酬答無遺。所云奢摩他。此云至靜。當空觀。三摩缽提。此云變化力用。當假觀。禪那此云寂滅。不取幻化及諸靜相。當中觀。圓覺經云。寂靜奢摩他。如鏡臨諸像。如幻三摩提。如苗漸增長。禪那唯寂滅。如彼器中锽。三種妙法門。皆是覺隨順。十方諸如來。及諸大菩薩。因此得成道。三事圓證故。名究竟涅槃。阿難一向多聞。於此素所修習焉者。何待於問。然今日為幻術所加。則平昔所習觀行。所修禪定俱不得力。竊計十方如來。必有妙於此者。玩一妙字。似彷彿窺見何藉劬勞肯綮修證之旨。但不知最初方便。何由悟入耳。圓覺亦云。唯除頓覺人。並法不隨順。原有一種頓門。但以見性為宗。故能見性。則無心於止觀。而止觀自具。不能見性。雖日從事於止觀。而難敵魔境。唯見性則得妙矣。向後所云妙明真心。妙莊嚴海妙明明妙。不一而足。皆以酬彼妙字之意。而終之以偈曰。是名妙蓮華。金剛王寶覺。如幻三摩提。彈指超無學。此阿毗達磨。十方薄伽梵。一路涅槃門。此頓門也。故非尋常止觀禪定所及。昔雪峰三上投子。九上洞山。亦既多聞矣。已嗣德山。與岩頭至澧州鰲山鎮。阻雪。頭每日秪是打睡。峰一向坐禪。一日喚曰師兄師兄。且起來。頭曰。作甚麼。峰曰。今生不著便。共文 個漢行腳。到處被他帶累。今日到此。又秪管打睡。頭喝曰。噇眠去。每日床上坐。恰似七村裡土地。他時後日。魔魅人家男女去在。峰自點胸曰。我這裡未穩在。不敢自謾。頭曰。我將謂你他日向孤峰頂上。盤結草庵。播揚大教。猶作這個語話。峰曰。我實未穩在。頭曰。你若實如此。據你見處。一一通來。是處與你證明。不是處與你剗卻。峰曰。我初到鹽官。見上堂舉色空義。得個入處。頭曰。此去三十年。切忌舉著。又見洞山偈曰。切忌從他覓。迢迢與我疏。渠今正是我。我今不是渠。頭曰。若與麼。自救也未徹在。峰又曰。後問德山。從上宗乘中事。學人還有分也無。德山打一棒。曰。道甚麼。我當時如桶底脫相似。頭喝曰。你不聞道。從門入者。不是家珍。峰曰。他後如何即是。頭曰。他後若欲播揚大教。一一從自己胸襟流出。將來與我蓋天蓋地去。峰於言下大悟。便作禮起。連聲叫曰。師兄今日始是鰲山成道。妙哉妙哉。豈是一向坐禪。得這般話頭來。

*Giải nghĩa rộng ra:-  Ông Anan phát ra lời hỏi đây, là cái xương sống của toàn bộ kinh. Từ đầu đến cuối, Thế Tôn trả lời không bỏ sót chỗ nào.

-“Xa Ma Tha” gọi là Chí Tĩnh  -(ct) Yên lặng cùng tột. ), là Không Quán.

-“Tam Ma Bát Đề” gọi là Lực Dụng Biến Hóa (Như Huyễn), là Giả Quán.

-“Thiền Na” là Tịch Diệt, nghĩa là chẳng giữ cái huyễn hóa cũng chẳng trụ tướng Tịnh, tức là Trung Quán.

Kinh Viên Giác nói : “Tịch tỉnh Xa Ma Tha, như kính soi muôn tượng. Như Huyễn Tam Ma Đề, như mầm giống dần dần tăng trưởng. Thiền Na là Tịch Diệt, như tiếng vang trong chuông. Ba loại diệu Pháp Môn gọi là Giác Tùy Thuận, nhờ chúng mà mười phương Như Lai cùng chư Đại Bồ Tát được thành đạo. Viên chứng được cả ba thứ là rốt ráo Niết Bàn”.

Ông Anan một bề nghe nhiều học rộng, chứ nếu vẫn tu tập ba Pháp Môn này thì đâu còn phải hỏi. Nay ông bị huyễn thuật ắt là trước đây các công phu Quán Hạnh, Thiền Định đều chẳng được gì, nên mới nghĩ mười phương Như Lai hẳn phải có điều vi diệu về các thứ này. Xét một chữ “Diệu”, tợ hồ phảng phất thoáng thấy : nào phải mượn đến sự tu hành khó nhọc lao khổ ! Chỉ vì chẳng biết cái phương tiện ban đầu hết là do Ngộ Nhập đó vậy.

Kinh Viên Giác cũng có nói “Chỉ trừ bậc Đốn Giác, thì không theo Pháp Môn”. Vốn có một Pháp Môn Đốn Ngộ, chỉ lấy việc Thấy Tánh (Kiến Tánh) làm Tông. Cho nên, nếu thấy được Tánh, thì Vô Tâm đối với Chỉ, Quán mà Chỉ Quán tự có sẵn. Không thấy Tánh, tuy hằng ngày có tu Chỉ Quán cũng khó địch với cảnh ma. Chỉ có “Thấy Tánh” mới được “Diệu” vậy. Đoạn kinh sau có nói đến Diệu Minh Chân Tâm, Biển Diệu Trang Nghiêm, Diệu Minh Minh Diệu... đều để trả lời cho ý nghĩa của chữ Diệu, mà chấm dứt bằng bài kệ :

“Gọi đó : Diệu Liên Hoa
Kim Cương Vương, Bảo Giác
Như huyễn Tam Ma Đề
Khẩy tay, vượt Vô Học
Pháp này là Vô Thượng
Một đường trực nhập Niết Bàn
Của mười phương chư Phật”.

Pháp Đốn Ngộ này, chẳng phải các loại Chỉ Quán, Thiền Định tầm thường có thể so sánh.

Thuở xưa, Ngài Tuyết Phong ba lần tham yết Tổ Đầu Tử  -(ct) Nghiã Thanh thiền sư, đời Đường, xứ Thơ Châu, tại núi Đầu Tử. Nối kế pháp Đại Dương Huyền thiền sư. ), chín lần thưa hỏi Tổ Động Sơn  -(ct) Tức Quân Châu Động Sơn. Đắc pháp nơi Vân Nham Thịnh Tổ sư. Lập Thiên Chánh Ngũ Vị, thế mạnh, pháp rất thịnh hành. Sắc phong Ngộ Bổn thiền sư. ), cũng đã là bậc đa văn. Kế thế Tổ Đức Sơn rồi, cùng Tổ Nham Đầu đến núi Ngao Sơn ở Lễ Châu. Gặp lúc tuyết rơi, Tổ Đầu mỗi ngày chỉ lo ngủ, còn Ngài Tuyết Phong cứ một mạch tọa thiền.

Một hôm, Ngài kêu lớn rằng : “Sư huynh, Sư huynh ! Dậy đi chớ !”

Tổ Nham Đầu rằng : “Làm cái gì ?”

Ngài đáp : “Đời này chẳng lo xong thì gặp cái lão Văn Thúy ấy sẽ bị lão trói đấy. Ngày nay đã đến đây, vậy mà chỉ lo ngủ”.

Tổ Nham Đầu hét to : “Cây cột phướn, ngủ đi ! Hằng ngày cứ ngồi như ông Thổ Địa trong làng rồi sau nầy đi làm nam nữ ma mị nhà người !”

Ngài tự chỉ vào ngực mà nói : “Tôi đây trong cái ấy chưa yên, chẳng dám tự dối mình”.

Tổ Nham Đầu nói : “Tôi sắp nói rằng ngày sau ông sẽ hướng lên đỉnh núi trơ trụi trên tảng đá kết thảo am, xiển dương đại giáo, sao ông lại nói như thế?”

Ngài nói : “Tôi ở trong ấy quả thật không yên”.

Tổ Nham Đầu  -(ct) Đức Nham Khoát thiền sư, đời nhà Đường, ở núi Nham Đầu. Tham học với Tổ Đức Sơn mà khế hiểu ý chỉ. Gặp Tổ Võ Tông gạn hỏi giáo pháp. Lánh ẩn mình làm người đưa đò. Sau cất am ở núi Ngoạ Long Sơn. Ba năm tịch. Sắc tặng Thanh Nham thiền sư. ) nói : “Nếu ông thật như thế, thì cứ theo chỗ thấy của ông, mỗi mỗi nói ra hết đi. Đúng, tôi sẽ chứng minh cho. Không đúng, tôi sửa sang đẽo gọt cho”.

Ngài nói : “Mới đầu, tôi đến tham yết Ngài Giám Quan  -(ct) Tên riêng của Tổ Tề An thiền sư. ), nghe buổi giảng nêu lên cái nghĩa Sắc Không, bèn có chỗ vào”.

Tổ Nham Đầu nói : “Chuyện ấy đã ba mươi năm rồi, rất kỵ nêu lại !”

Ngài nói : “Lại thấy bài kệ của Tổ Động Sơn :-

“Rất kỵ tìm nơi khác
Mỗi mỗi càng cách xa
Y nay chính là ta
Ta giờ chẳng phải y”.

(Thiết kỵ tùng tha mích
Điều điều dữ ngã sơ
Cừ kim chính thị ngã
Ngã kim bất thị cừ).

Tổ Nham Đầu nói : “Nếu cho là như thế thì tự cứu cũng chẳng xong”.

Ngài lại nói : “Sau đến hỏi Ngài Đức Sơn  -(ct) Tổ Thích Tuyên Giám, đời Đường, ở Chùa Đức Sơn, Lãng Châu. Xuất gia từ nhỏ. Rất hiểu biết Kinh Luật, lắm thấu đáo kinh Kim Cang. Người đời ấy gọi là Châu Kim Cang. Chẳng tin chịu cái đạo của Nam phương thiền tông (Nam phương Huệ Năng). ) : “Việc xưa nay trong Tông Thừa người tu học có được phần nào chăng ?” Tổ Đức Sơn đánh cho một gậy, mà rằng: “Nói gì vậy ?” Khi ấy, tôi như thùng vỡ đáy”.

Tổ Nham Đầu hét to : “Ông há chẳng nghe nói, “Từ cửa mà vào ắt chẳng phải là của báu nhà mình”, sao ?”

Ngài hỏi : “Ngày sau như thế nào mới phải ?”
 
Tổ Nham Đầu đáp : “Ngày sau mà muốn hoằng dương đại giáo, mỗi mỗi đều từ trong ngực mình tuôn ra. Ngày sau hãy cùng ta mà trùm trời trùm đất đi”.
 
Ngài Tuyết Phong nghe xong đại ngộ, bèn làm lễ, mừng rỡ la lên rằng : “Sư huynh ơi, hôm nay mới đúng là Ngao Sơn  -(ct) Tên núi ở Hồ Nam. Lời truyền, tích xưa có ba nhà sư là Giám Tuyên, Nghiã Tồn, Văn Thúy du phương đến đây ngộ đao. Từ đó đồ đệ nói Ngao Sơn ngộ đạo. ) thành đạo”.

Kỳ diệu thay, kỳ diệu thay. Đâu phải cứ một bề ngồi thiền mà có được thứ thoại đầu này !


------------------------------


(xin xem tiếp Phần thứ hai :-
PHẦN CHÁNH TÔNG )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dieunha, byphuong, ngodao, 8N, laodongta, Yahoo, SCC
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.226 seconds với 25 câu truy vấn.