Tháng Chín 27, 2020, 04:09:05 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT  (Đọc 8284 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Mười 24, 2011, 06:47:47 AM »

Thành, lũy, thị

(...) thành vừa dùng làm trụ sở hành chính (thủ đô, tỉnh lỵ, phủ lỵ v.v.) vừa làm nơi đồn trú quân đội (...)

Tường các ngôi thành có khi đắp bằng đất, có khi xây bằng gạch, cũng có khi bên ngoài tường đất người ta còn xây ốp gạch để thành được thêm kiên cố (...) chân thành có khi dày tới 20m (...) Tường thành lại thường có nhiều vòng để sự phòng thủ được hiệu lực hơn (...) Ngoài tường thành, người ta còn đào hào rộng và sâu có cắm chông để cản trở được hơn nữa sự công phá của đối phương.

Ở Việt Nam, vòng ngoài cùng thường được đắp bằng đất và có trồng tre bên ngoài nên còn được gọi là lũy.

Vì thành là trung tâm chính trị và quân sự có nhiều người ở, nhu cầu tiêu thụ lớn nên ngoài thành, tự nhiên phải hình thành một khu vực dịch vụ bao gồm đủ mọi thành phần dân cư như nhà buôn, thợ thủ công (...) người khuân vác, khiêng võng, kiệu, thầy lang, thầy đồ v.v. ở ngoài các phố (...) khi xưa nói đến thành thị và thành phố là có ý nói đến trung tâm được cấu thành bằng thành và thị (chợ) hay thành và phố (phố chợ) (...) thành (...) lỵ sở cho phủ (...) có một dãy phố nhỏ cấu thành khu thị (...) những trung tâm lớn hơn như thành Bắc Ninh, Sơn Tây, Nam Ðịnh v.v. (...) khu thị rộng hơn nhiều, bao gồm nhiều khóm phố (...) tại những trung tâm lớn (...) vòng ngoài cùng của hệ thống thành thường bao bọc (...) toàn bộ khu thị và cả khu nông nghiệp chưa biến (...) thành phố chợ. Vòng ngoài cùng đó, như trên đã nói, thường được gọi là lũy. Ðó cũng là một loại la thành, tức thành bao (...)

(...) những nơi có cả thành lẫn lũy thì lối ra vào thành được gọi là cổng hay cửa (...) cửa đông (...) cửa nam (...) còn lối ra vào lũy thì lại được gọi là ô như ô Cầu Giấy, ô Cầu Dền, ô Ðông Mác v.v. ở Hà Nội, hoặc chốt như chốt Nghệ (lối ra làng Thuận Nghệ) ở Sơn Tây.


(Nguyễn Khắc Ðạm, Thành lũy, phố phường và con người Hà Nội trong lịch sử, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1999, tr. 29-33)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Archéo, SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Mười 24, 2011, 06:49:34 AM »

Tranh mộc bản Việt Nam

(...) tranh mộc bản Việt Nam (...) có một vẻ đẹp giản phác, mộc mạc, tươi sáng về màu sắc, lành mạnh về nội dung, điểm thêm chút trào lộng hồn nhiên không ác ý, rất phù hợp với tâm hồn người Việt Nam (...)

Tranh mộc bản (còn gọi là thủ ấn họa: tranh in tay) là loại tranh được vẽ rồi đem khắc trên gỗ và in bằng tay thành nhiều bản để phổ biến. Những bản khắc gỗ ấy sẽ được truyền lại cho con cháu và được coi như là di sản của gia đình.

Tranh mộc bản Việt Nam phần lớn, có thể nói là hầu hết, không ghi tên tác giả (...) Có thể nói tranh mộc bản Việt Nam chính là những bài ca dao mà những câu hát đã được thay thế bằng đường nét và màu sắc.

(...) vào thời đó (tức trước 1945), có nhiều nơi sản xuất tranh mộc bản (...) làng Ðông Hồ, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (...) sản xuất một loại tranh in trên giấy dó quét một lượt bột vỏ sò, hến đã được nung lên rồi giã nhỏ trộn với hồ loãng nấu bằng bột gạo tẻ. Giấy ấy gọi là giấy điệp.

Sau làng Ðông Hồ phải kể đến phố hàng Trống, Hà Nội (...) Kỹ thuật tranh hàng Trống có khác với tranh làng Hồ (...) chỉ dùng bản khắc gỗ để in những nét chính, màu sắc được tô sau bằng tay (...) màu sắc không mộc mạc mà lấy từ những phẩm màu nhập cảng (...) đề tài là nếp sống thị thành, như tranh tố nữ, tứ bình Xuân Hạ Thu Ðông, để phục vụ đa số khách hàng là thị dân (...) tranh hàng Trống không có tính chất giản dị, hồn nhiên như tranh làng Hồ.

(...) còn có làng Kim Hoàng huyện Hoài Ðức tỉnh Hà Ðông, thuộc phía tây (?) ngoại thành Hà Nội, sản xuất một loại tranh in trên giấy hồng điều mà dân địa phương quen gọi là tranh đỏ để phân biệt với tranh điệp trắng của làng Hồ. Về đề tài và nét vẽ, tranh Kim Hoàng tương tự như tranh Ðông Hồ nhưng kỹ thuật thực hiện thì lại theo kỹ thuật hàng Trống, nghĩa là chỉ in một bản trên giấy đỏ rồi nghệ nhân sẽ tô màu khác sau.

Ngoài ra ở Vĩnh Phúc Yên có làng Phù Ninh huyện Lập Thạch và ở Nam Ðịnh ngay trong thành phố cũng có nhà in tranh ở phố hàng Nâu ngày trước in tranh mộc bản bán vào dịp Tết.

(...) tranh mộc bản Việt Nam (...) vẽ theo một ước lệ riêng, không bị ảnh hưởng của bất kỳ một đường lối hội họa nào, kể cả (...) của Trung Hoa (...)

(...) một lối vẽ giản phác, thực thà, hồn nhiên đôi khi tinh nghịch, trào lộng nhưng không ác ý, phản ảnh tính ưa giễu cợt nhưng rất khoan dung của người dân đồng ruộng (...)

(...) tranh Tết Việt Nam rực rỡ nhưng không lòe loẹt và luôn luôn tạo cho người xem một cảm giác dễ chịu, thoải mái.

Về màu sắc của tranh mộc bản Việt Nam, Lê Văn Hòe đã có lần nhận xét: “Tranh gà lợn đỏ như xôi gấc, vàng như màu lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ hày đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực của tranh Tàu tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc quen thuộc như những màu sắc xanh đỏ (...) điềm đạm, thật thà của tranh gà.”


(Trích Nguyễn Nhật Tân, “Tranh Tết dân gian Việt Nam”, trong Hình ảnh người Việt đất Việt trong tranh Nguyễn Nhật Tân, xb. ở Ca-na-đa, hình như trong thập kỷ 1990)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Archéo, SCC, byphuong, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Mười 30, 2011, 12:39:54 PM »

CÂU HỎI CỦA PHẠM QUỲNH

Năm 1930 Phạm Quỳnh có thắc mắc 50 năm nữa chúng ta ra sao?
Bây giờ là 2011, những cái mà Phạm Quỳnh nói đã biến mất hẳn rồi. “Những cốt cách cũ” đã giúp người Việt cũ đạt những đỉnh cao về văn hóa tinh thần không nhường bất cứ dân tộc nào


Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng có ngày bao nhiêu cái nguồn sâu sinh hoạt của dân tộc này sẽ tiêu tan đi hết cả (...) rằng (...) cái thi vị thâm trầm nó chan chứa trong những bài dã ca, khúc cổ điệu của nước nhà (...) cái hồn thơ phảng phất của một dòng giống (...) đời đời cày sâu cuốc bẫm nhọc nhằn trên thửa ruộng của ông cha, nhưng nghe con chim oanh học nói, thoảng chút gió đồng thổi qua, cũng biết rùng mình mà cảm động. Tôi không thể tưởng tượng những cái đó có ngày biến mất hẳn đi được (...)

(...) trân trọng giữ những cốt cách tinh thần cũ đã tạo thành ra chúng ta bây giờ (...)


(Phạm Quỳnh, “Nước Nam năm mươi năm nữa thế nào?”, Nam Phong số 154, tháng 9-1930, in lại trong Phạm Thị Ngoạn, Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, nguyên tác Pháp văn, bản dịch Phạm Trọng Nhân, nxb. Ý Việt, Pháp, 1993, tr. 156-157)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong, Archéo
Logged
 
 
Trang: 1 2 [3]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.051 seconds với 24 câu truy vấn.