Tháng Tám 05, 2020, 11:43:11 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT  (Đọc 7980 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Hai 20, 2011, 02:19:09 PM »

Mấy lời của Ðào Duy Anh về số phận của “một số khá đông” người Chiêm sau khi nước Chiêm Thành bị diệt có thể tóm tắt: “Lên rừng hóa mọi”.(1)

Vẫn hay cái gì cũng có thể tiến, thoái. Nhưng nghĩ đến chuyện “một dân tộc đã từng sáng tạo một nền văn minh vẻ vang” mà rồi buộc phải trở về nguyên thủy, cứ thấy kinh ngạc thế nào.

Những người Thượng gốc Chàm bây giờ có còn giữ được ít nhiều hình ảnh về quá khứ huy hoàng?

(Thu Tứ)


(1) Mọi có ý nghĩa miệt thị, nên tránh dùng. Ðây miễn cưỡng tạm dùng cho gọn lời.

Mất cả văn minh

Năm 1697 (...) phần đất cực nam của Chiêm Thành mất nốt.

Sau khi nước Chiêm Thành bị diệt thì một số khá đông người Chiêm không chịu đầu hàng đã chạy về phía tây, tìm chốn dung thân trong miền rừng rú ở khoảng biên giới phía đông của nước Chân Lạp. Sử cũ gọi họ là người Côn Man. Ðiều kiện sinh hoạt chật vật khó khăn đã khiến họ trở lại trạng thái sinh hoạt lạc hậu. Những người Chiêm ở phía Tây Nguyên mà trước kia Lê Thánh Tông đã cắt ra làm nước Nam Bàn, thì sau khi căn cứ của họ là nước Chiêm Thành ở miền Phan Rang, Bình Thuận đã mất, họ cũng dần dần chịu ảnh hưởng của phương thức sinh hoạt lạc hậu của những bộ lạc nguyên thủy ở miền ấy.

Hiện nay ở miền tây Phan Rang và Bình Thuận còn sót lại một số người Chiêm Thành, tục gọi là người Chàm hay người Hời, vẫn còn giữ được những phong tục và tập truyền của họ. Ðó là những đại biểu cuối cùng của một dân tộc đã từng sáng tạo một nền văn minh vẻ vang, và đã do những điều kiện lịch sử đặc biệt mà bị hấp thu vào một dân tộc láng giềng có năng lực tiến thủ mạnh hơn.


(Đào Duy Anh, Ðất nước Việt Nam qua các đời, viết xong năm 1964, không biết in lần đầu năm nào, nxb. Thuận Hóa (Huế) tái bản năm 1994, tr. 234)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chanhnguyen, mavuong, tadamina, nhuocthuy, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Hai 20, 2011, 02:21:13 PM »

Dĩ nhiên là không rồi. Dân tộc Việt Nam đâu phải như những ai kia có thói kỳ thị, mà tiêu diệt với khu trục!

Việt chiếm được đất Chàm xong, Việt không giết không đuổi Chàm, mà Việt lấy Chàm. Trên đất cũ Chàm mới Việt, bây giờ là một giống dân lai, trong người họ ngoài máu Việt là chính còn chảy thêm một lượng máu Chàm...

Chắc chắn hầu hết những cuộc hôn nhân Việt Chàm xảy ra giữa trai Việt với gái Chàm. Người Việt trên đất mới gồm chủ yếu binh lính và di dân, cả hai thành phần đều điển hình là đàn ông hoặc chưa vợ hoặc không có vợ đi theo, lấy đâu ra gái Việt “thừa” cho trai Chàm lấy?

Gái Việt thiếu, nhưng gái Chàm chưa chắc thừa. Không thừa thì trai Việt cũng cứ lấy, lấy giành của trai Chàm! Tức tối thay cái số phận của những đàn ông mất nước. Oái ăm thay cái tâm lý của những phụ nữ phải lấy kẻ thù cướp nước. Nhưng chuyện cũ như trái đất và khắp mặt đất nơi nào cũng thế.

Tất cả đã nguôi ngoai, bây giờ làm người Việt ta chỉ cần nhớ rằng mình có thể có một tổ mẫu người Chàm...

(Thu Tứ)


Hôn nhân Việt Chàm xưa

không hề có sự tiêu diệt và khu trục người Chàm ra khỏi vùng Thuận Hóa - Quảng Nam

Ðã phát hiện - qua tộc phả và mộ cổ - nhiều cuộc hôn nhân Việt (nam) - Chàm (nữ), nhiều dòng họ Việt gốc Chàm (Ông, Ma, Trà, Chế)

Sắc thái văn hóa (...) xứ Quảng và toàn Nam Trung Bộ là kết quả giao thoa, đan xen và dung hòa giữa hai văn hóa Việt Chàm


(Trần Quốc Vượng, Trong cõi, nxb. Trăm Hoa, Mỹ, 1993, tr. 114)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chanhnguyen, mavuong, tadamina, nhuocthuy, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Hai 20, 2011, 02:22:55 PM »

Năm 1499 vùng tỉnh Bình Ðịnh bây giờ mới thuộc vào nước Ðại Việt được vài mươi năm, hẳn là nơi có nhiều đàn bà con gái Chiêm Thành nhất. Nhưng hình như khi ban chiếu cấm đàn ông con trai Việt lấy vợ Chàm vua Lê Hiến Tôn không hướng về chuyện đang xảy ra nơi biên giới phía nam xa xôi ấy, mà nhằm giải quyết một vấn đề của chính Thăng Long. Vì “trên từ thân vương...”, thân vương thì chỉ ở quanh quẩn nơi kinh đô chứ có lẽ nào vào tận Bình Ðịnh mà ở để lấy vợ Chàm, để vua phải cấm?!

Tức ở Thăng Long dạo ấy có khá nhiều phụ nữ Chàm? Họ có mặt, dĩ nhiên là do chính ta vào đất Chàm bắt họ đem ra. Bắt đem ra làm chi mà nhiều thế?

(Thu Tứ)


Cấm lấy gái Chàm

Năm 1499 vua Lê Hiến Tông ban chiếu: Từ nay trở đi, trên từ thân vương, dưới đến nhà dân, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu. Như thế cũng có nghĩa trước đó quan hệ hôn nhân Việt - Chăm không bị cấm đoán


(Chu Quang Trứ, Văn Hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, Việt Nam, 2002, tập II, tr. 502)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chanhnguyen, mavuong, tadamina, nhuocthuy, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Hai 20, 2011, 02:29:09 PM »

Rõ ràng người Chăm với ta là bà con họ hàng sao đó, vì như Lương Ninh cho biết dưới đây, họ vốn cũng ăn trầu, nhuộm răng đen y như ta.

Hiện nay miền Trung vẫn là "đất trồng nhiều cau đẹp, dừa ngon". Trách nào hồi thế kỷ 5 ông Tàu Lịch Ðạo Nguyên (tác giả Thủy kinh chú) đi du lịch phương nam, ghé thăm xứ cau xứ dừa rồi trầm trồ...

Nhưng nghiện ăn trầu tới mức đặt ra chức quan lớn hầu trầu thì có "sa đà" (tiếng Chăm?)!

(Thu Tứ)


Ăn trầu, nhuộm răng

trong đời sống trước đây, cau vẫn là thức dùng thường xuyên trong giao tế, không thể thiếu được của người Chăm. Cau còn có tiếng vang ra ngoài biên giới: "Trong khi du lịch phương nam, duy chỉ có cây cau là đáng xem hơn cả" (Thủy kinh chú). Tục nhuộm răng đen phổ biến của người Chăm trước đây cũng gắn liền với việc ăn trầu. Việc dâng trầu cau còn trở thành một nghi thức tôn kính đối với nhà vua, cho nên mỗi lần vua ngự triều, thường có thị nữ dâng cau, và bia Lai Trung (Bình Trị Thiên) khoảng năm 920 đã nói về quan Danay Pinan, nghĩa đen là "hầu trầu cau", nhưng lại là một chức quan lớn (prthujana).

(Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 308)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, chanhnguyen, mavuong, tadamina, nhuocthuy, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Hai 26, 2011, 01:19:19 PM »

SỞ CHÀM THANH HÓA & TỤC ĂN MÀY

Làng Ðồn Ðiền (Quảng Thái, Quảng Xương, Thanh Hóa) có tục ăn mày (...) Làng được thành lập từ thời Lê Thánh Tông và tục ăn mày cũng có từ đó. Nguyên nhân của tục này có hai lời kể:

- Tại hướng đình làng, nhìn vào một (hai?) cái cồn đất, một cồn dài có hình cái gậy và một cồn tròn hình cái bị. Chính (hai) cồn đất hình bị (và) gậy này đã xui khiến cả làng sống theo tục ăn mày để lấy khước. Hàng năm, cả làng dành ngày mùng một tết “đi ăn mày thiên hạ” cầu may để cả năm làng được yên ổn, no đủ.

- Năm 1461, ông Tô Chính Ðạo (còn gọi là Tô Văn Bảo) được vua Lê Thánh Tông cử đem quân đội và tù binh Chiêm Thành về Thanh Hóa lập thành những đồn điền “ngụ binh ư nông”. Ðồn điền được lập ở nhiều nơi trong tỉnh, có đến 11 sở: Phú Xá, Tiền Thịnh (Quảng Xương), Tào Lâm (Triệu Sơn), Mai Xuyên (Ðông Sơn) v.v. Trong tình hình chiến tranh, sau khi bình định Chiêm Thành (1470), lương thực khó khăn, triều đình cung cấp không kịp, lại do số binh lính và tù binh quá đông, nên cuộc sống hết sức thiếu thốn. Tết đến binh lính phần thì nhớ nhà, phần thì đói khát, không yên ổn. Ông Tô Chính Ðạo cho phép quân lính tản vào các làng quanh vùng, vừa thăm hỏi chúc tết, vừa “ăn mày” lộc tết. Cũng tưởng chỉ là “công tác tư tưởng” để yên lòng binh lính, nào ngờ dân trong các làng hảo tâm tiếp đãi nhiệt tình và cho nhiều thứ bánh trái, hoa quả, mối tình quân dân cảm động vô cùng. Ngày mồng mười tết, quân lính tập trung lại, giao nộp các thứ “ăn mày” được. Lúc đó, cả sở mới bắt đầu “ăn tết”. Còn một số binh lính đi xa đến ngày 15 tháng giêng mới về đủ nên 15 tháng giêng ăn tết lại. Từ đó thành tục. Sau này ông Tô Chính Ðạo được phong làm thành hoàng ở làng Ðồn Ðiền, làng Phú Xá, làng Ða Lộc, làng Ngọc Giáp v.v. (...) Các làng trên có tục: Ngày mồng một tết, cả làng dành buổi sáng đi “ăn mày”, đến trưa về làng, xin được cái gì ít nhiều đều nộp cho làng “tại đình” để tế thành hoàng. Tế xong, miếng chín thì ăn ngay tại đình, gạo, khoai, tiền đều bỏ vào kho đến ngày ba tháng tám cơ nhỡ, đem ra trợ giúp những người khó khăn.

Rõ ràng đây là một tục hay. Riêng làng Ðồn Ðiền còn giữ được cho đến ngày nay.


(Hoàng Anh Nhân, Văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, VN, 1996, tr. 117-118)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, mavuong, tadamina, tuanlong, nhuocthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Hai 26, 2011, 01:25:46 PM »

CHIÊM NAM - MÙA BẮC

Nếu đúng như Trần Ngọc Thêm nói dưới đây thì ta đã thu được từ người Chàm một món quý hóa quá: một giống lúa trồng được vào khoảng thời gian trong năm mà giống lúa riêng của ta không sống nổi.

Nếu vụ chiêm thu hoạch tương đương với vụ mùa, thì tức là nhờ có lúa chiêm mà lượng lúa thu hoạch mỗi năm tăng gấp đôi, nuôi thêm được bao nhiêu dân!

Ta bắt đầu trồng lúa chiêm bao giờ?

Có lẽ cái tên gọi là một manh mối. Ta gọi "vàng Hời", "thành Lồi", "chúa Lồi", "tháp Chàm" v.v. Tại sao gọi lúa chiêm, mà không gọi lúa Hời, lúa Lồi, lúa Chàm?

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2004), chiêm còn có nghĩa là "sinh không đúng mùa; trái mùa", ví dụ na chiêm, ổi chiêm. Hẳn nghĩa này là do nghĩa kia...

(Thu Tứ)


Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa có nhiều mưa (hè thu) gọi là lúa mùa (1). Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (đông xuân) gọi là lúa chiêm. Lúa chiêm xuất xứ từ Chiêm Thành khô hạn nên có câu thành ngữ Chiêm Nam, mùa Bắc, và tên gọi "lúa chiêm" chỉ phổ biến ở phía Bắc, còn miền Trung thì hầu như không dùng.


(Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, in lần 3, tr. 344)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, mavuong, tadamina, tuanlong, nhuocthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Hai 26, 2011, 01:32:53 PM »

MẮM & NƯỚC MẮM

Ðọc Trần Quốc Vượng, thấy muốn góp ý:

- Mắm có thể làm bằng cá biển hoặc cá nước ngọt. Nước mắm chủ yếu làm bằng cá biển.

- Bất kể cá gì, nếu ăn tươi thấy ngon thì ưu tiên ăn tươi. Có thừa mới đem làm mắm, làm nước mắm.

- Miền Bắc ít cá biển, nên khó có thể là cái nôi của nước mắm. Cũng vì ít cá biển, miền Bắc hình như không có mắm cá biển. Miền Bắc khá nhiều cá nước ngọt, nhưng không nhiều đến mức có thừa để đem làm mắm, do đó miền Bắc hình như cũng không có mắm cá nước ngọt.

- Miền Nam cũng không thật nhiều cá biển, nên cũng khó có thể là cái nôi của nước mắm. Vì cùng lý do, miền Nam hình như rất ít mắm cá biển. Nhưng miền Nam lại rất nhiều đủ loại cá nước ngọt, do đó rất nhiều mắm cá nước ngọt. (Ðảo Phú Quốc là ngoại lệ, xem sau.)

- Miền Trung nhiều cá biển, nên nếu nước mắm đã ra đời ở nơi nào đó trên lãnh thổ nước Việt Nam, thì nơi ấy hẳn là miền Trung. Nước mắm hình như có rất lâu rồi. Nếu đúng vậy, nó là sáng kiến của chủ trước của miền Trung, tức sáng kiến của người Chàm. Khi chiếm miền Trung, người Việt đã thu món nước mắm của người Chàm vào văn hóa ẩm thực của mình. Miền Trung rất ít cá nước ngọt, do đó hình như không có mắm làm bằng cá nước ngọt. Miền Trung nhiều cá biển, nên ngoài nước mắm còn làm cả mắm; mặt khác, chỉ vài loại cá biển là bắt được nhiều, nên chỉ có vài loại mắm cá biển.

Ðảo Phú Quốc tuy thuộc miền Nam nhưng có nhiều cá biển, do đó có làm nước mắm và có mắm cá biển. Việc làm nước mắm ở Phú Quốc hình như do người Việt miền Trung vào khởi xướng.

(Thu Tứ)

----------------------------------------------------------------------------

cái nôi của mắm là miền Trung - Nam nhưng thịnh nhất là miền Trung (...) người Thái ở Thái Lan trước đây nửa thế kỷ không biết công nghệ làm nước mắm (sau học của người Việt) (...) khối cư dân ven biển Việt - Chăm (...) là tổ sư của nước mắm và mắm (...) Châu thổ Bắc Bộ (...) TƯƠNG là chính, có thêm tí mắm tôm, mắm tép (...) đường ven biển phía Bắc lõm vào, lại bị đảo Hải Nam án ngữ (...) luồng hải lưu đi xa bờ, luồng cá biển cũng vậy. (tr. 416-417)

Nước Mắm và Chượp, sản phẩm đặc sắc của người Chàm - Mã Lai, được “xuất khẩu sang tận La Mã” (theo tiến sĩ khảo cổ Úc Pamela Gutman) (tr. 525)


(Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, VN, 2000)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, mavuong, tadamina, tuanlong, nhuocthuy, anhlam, Ngoisaobiec, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 03:29:31 PM »

Vua Việt, vua Tàu, vua Miên

Dẫn nhập:

Nghĩ thương vua Tự Ðức!

Cứ dựa vào qui mô của hoàng thành Huế thì cái cung Vạn Niên nào đó làm sao to cho lắm được. Vậy mà nhân dân Việt Nam đã nổi dậy chống việc xây cung và đã đặt cả ca dao làm bia miệng mắng mỏ vua:

"Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân"!

Đọc Phan Ngọc dưới đây, hiểu vua Việt Nam chỉ được quyền đánh những giặc dâng nước Thủy Tinh, giặc cướp nước Thoát Hoan, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị v.v., chứ không có quyền xây cất thứ gì "vượt quá trí tưởng tượng" như Vạn Lý Trường Thành hay Ðế Thiên Ðế Thích.

Ðời Lý lúc đầu có dựng chùa to, đúc chuông lớn. Nhưng chắc chưa tốn của dân, sức dân gần bằng bên Tàu bên Miên. Mà sau đó cũng phải thôi, không tiếp tục được nữa...

(Thu Tứ)


-------------------------------------------------------------

Vì chế độ quân chủ Việt Nam xây dựng trên một biển công xã tự quản cho nên nó mang tính chất nước đôi. Vua chúa Việt Nam không phải ông hoàng đế Trung Hoa có thể làm bất cứ điều gì dựa trên một bộ máy quan liêu chỉ biết có vâng dạ. Họ cũng không phải là những ông Vua - Thần kiểu Ðông Nam Á có thể huy động của cải, sức lực nhân dân làm những công trình hùng vĩ, vượt quá trí tưởng tượng của con người. Bạo lực là đặc điểm của chế độ quân chủ nói chung trừ ở Việt Nam. (tr. 63)

Có hai việc một ông vua Việt Nam có quyền tận dụng sức dân mà dân vẫn theo vì nó gắn liền với quyền sống của người dân: chống ngoại xâm và đắp đê chống lũ lụt. Kiến trúc vĩ đại nhất của văn hóa Việt Nam là hệ thống đê điều ở Bắc (tr. 63-64)

Một người cầm đầu Trung Quốc, một ông vua Ðông Nam Á sẵn sàng làm cỏ một vùng khi có người nổi dậy. Ông vua Việt Nam để đàn áp một cuộc khởi nghĩa chỉ có thể chém vài người rồi tha cho dân chúng. Nếu làm cỏ một làng là đụng đến cơ chế làng xã và mất ngay sự ủng hộ của dân. (tr. 64)


(Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, chanhnguyen, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 03:31:38 PM »

Ta không khinh nữ


Một văn hóa coi khinh phụ nữ không thể gọi là nhân đạo được. Người phụ nữ Việt Nam trong làng xã có thân phận rõ ràng. Không ai bó chân họ, bắt họ cứ suốt đời trong xó bếp. Lý thuyết nam nữ thụ thụ bất thân là chuyện Trung Hoa, chỉ nhìn các hội hè đình đám nông thôn cũng thấy không ai theo chuyện ấy. Phụ nữ Việt Nam đi chợ (...) giao tiếp xã hội, có vai trò quan trọng hơn nam giới trong kinh tế, giáo dục gia đình. Họ nắm tay hòm chìa khóa (...)

Chính văn hóa truyền thống tôn trọng phụ nữ, dành cho nữ giới một địa vị chủ động trong những phạm vi nhất định mới tạo được một truyền thống nữ giới anh hùng (...)


( Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 85-86)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, nguyenthuy, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, chanhnguyen, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 03:36:13 PM »

Nước Việt, nước Hán

Dẫn nhập:

Bên Tàu, cứ mỗi lần một dòng họ mới lên làm vua, nước lại mang tên mới. Họ Lưu làm vua, nước là Hán, họ Lý nước là Ðường, họ Triệu nước là Tống, họ Chu nước là Minh v.v. (1)

Giá người Việt mà cùng truyền thống văn hóa với người Tàu thì nước ta cũng đã có bộn tên.

Người Việt từ lâu có cái lối đặt tên nước khác lối Tàu: Văn Lang thì chưa ai biết chắc nghĩa lý ra sao, nhưng Âu Lạc rõ ràng là kết hợp tên hai tộc người đang làm chủ nước, chứ không phải tên của một dòng họ nào cả.

Do về sau chỉ có người Việt hoặc người "Nam", cho nên về sau tên nước chỉ quanh quẩn trong vòng hai chữ Việt với Nam.

(Thu Tứ)

(1) Về việc người Tàu gọi tên nước bằng tên triều vua, một ví dụ có thể thấy trong hồi ký Tự phán của Phan Bội Châu. Thời gian ở Nhật cụ Phan có người bạn Tàu tên Ân Thừa Hiến, khi vào nghỉ ở lữ quán cụ Ân xưng mình là "Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh".


-----------------------------------------------------


Trung Quốc tự gọi nước mình là Hán, Ðường, Tống, Nguyên (...) tên (...) đại biểu cho dòng họ. Còn ở Việt Nam tên nước (...) độc lập với triều đại. Các triều đại Lý, Trần, Lê đều có chung tên nước Ðại Việt.


(Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 40)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, nguyenthuy, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, chanhnguyen, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Ba 03, 2011, 03:43:18 PM »

Khái niệm nước




Khái niệm trung tâm của tâm thức Việt Nam là khái niệm nước (...) không giống (...) của Trung Quốc (...) của châu Âu. Cái nôi của văn hóa Việt Nam là các châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả. Ðất nước ấy là do người Việt Nam giành lấy từ biển cả (...)

Trong óc người Việt Nam nước là của dân, không phải của vua, cũng không thuộc dòng họ nào hết. Ông vua và dòng họ của ông ta chỉ là người thay mặt dân cai quản đất nước, không phải người sở hữu đất nước.

Trong óc của người Trung Quốc, nước chỉ là vật sở hữu của dòng họ. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà các tên nước của Trung Hoa trước đây như Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh v.v. đều gắn liền với dòng họ (...) dòng họ (...) đồng nhất với nước. Không phải ngẫu nhiên mà Hàn Phi nói: “Người ta nói nước Tề mất không phải là vì đất đai, thành quách của nó bị mất, mà vì họ Lữ không cầm quyền mà họ Ðiền được dùng. Sở dĩ người ta gọi nước Tấn mất, cũng không phải vì đất đai của nó đã mất, mà vì họ Cơ không cầm quyền mà các quan khanh cai trị” (Hàn Phi tử, quyển 4).


(Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 224-225)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, nguyenthuy, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, chanhnguyen, dailuc, SCC, byphuong, 8N, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Mười 16, 2011, 12:09:03 PM »

Văn hóa là gì

(...) văn hóa là gì (...) Vấn đề không phải tầm thường (...)

(...) tôi đã để sang bên tất cả những định nghĩa cũ, và sơ khởi định nghĩa văn hóa một cách rất chính xác, chặt chẽ, nhưng rất nôm na là "cái mà ta khác họ".

(...) Văn hóa là cái mà ta khác họ.

(...) "văn hóa" là toàn bộ những khác nhau trong sự sinh hoạt của ta và sự sinh hoạt của họ.


(Trần Ngọc Ninh, Tuyết xưa, nxb. Khởi Hành, Mỹ, 2002, tr. 109-113)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Archéo, SCC, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Mười 16, 2011, 12:11:11 PM »

Hoa cúng

(...) cái bàn thờ trong mỗi gia đình, nơi vọng nhớ tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất (...) bao giờ cũng có một bát hương, chén nước và một đĩa hoa.

Ðĩa hoa cúng thường có nhiều loại hoa, những bông hoa rời, đặt trên cái đĩa nhỏ, khô, sạch. Có thể là bông huệ trắng muốt thơm ngát, một bông ngọc lan thơm nồng, một nhánh hoàng lan mềm mại, hương phảng phất. Cũng có khi một nhánh hoa sói, một bông hoa cúc bán khai, một đóa thược dược, một nhánh cúc bách nhật khô cứng, đôi khi vào mùa ít hoa, còn thấy có cả một bông hoa mào gà nữa... Tùy theo mùa, theo thời tiết mà đĩa hoa cúng đầy hay vơi, có thứ này thứ nọ.

Chợ làng Ngọc Hà, cứ hai ba giờ đêm đã họp, họp trong sương mát, trong ánh những ngọn đèn dầu di động theo bước chân người, họp trong tiếng trao đổi lầm rầm, trong hương hoa thơm ngát từ ngõ này sang ngõ khác. Nhà thơ Vân Long có câu thơ rất hay:

“Yêu sao Hà Nội sương bay trắng
Buổi chợ hoa đêm đất Ngọc Hà...”

Những người buôn hoa cũng thường mua cả rổ, cả mớ, về phân loại, gói thành từng gói sẵn, hoặc mang vào phố, ai mua mới gói.

Gói hoa, thường dùng lá bồ tát, một loại lá dong, màu lá mạ, thường trồng ven rào. Thiếu mới dùng lá chuối. Cái lạt bó hoa cũng tước thật mảnh, chỉ nhỉnh hơn sợi chỉ, buộc hững hờ cho hoa khỏi nát, cánh hoa cứ lồng khồng tinh khiết, tươi nguyên. Sợi lạt còn thắt nút thành tay cầm.

Nhiều năm trước có những bà chuyên bán hoa cúng. Sáng sớm đi dọc các phố, treo gói hoa cúng vào cái đinh đóng sẵn nơi cửa. Chủ nhà khi mở cửa đã thấy gói hoa còn ướt sương đêm, tươi rói, mát lạnh. Cuối tháng bà hàng hoa mới đi lấy tiền một loạt một lần.

Rằm, mùng một, hoa cúng cần nhiều hơn. Cái làn đi chợ, ngoài thức ăn, còn toòng teng một gói hoa cúng, một thẻ hương...

Hoa cúng khi cúng xong, ít gia đình dẹp đi, thường thì cứ để khô giống như chân hương ở bát hương, đầy lên càng tốt, không bỏ. Ðến lần cúng sau, thay hoa mới, người ta mới bỏ hoa cũ.

Những gia đình có người mất, cúng đủ trăm ngày thì cũng phải có đủ trăm đĩa hoa cúng, sáng nào cũng thay hoa mới (...)


(Băng Sơn, “Hoa cúng”, trong Thú ăn chơi người Hà Nội, nxb. Xuân Thu, Mỹ, 2001)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Archéo, SCC, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Mười 21, 2011, 08:48:03 AM »

Quốc hiệu Việt Nam

Tên nước ta, có tên do ta tự xưng và tên do người Tàu gọi.

Theo Trương Chính và Ðặng Ðức Siêu, “Ðại Việt là quốc hiệu nước ta qua các triều Ðinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê...”.(1)

Ðó là tên tự xưng chính thức. Còn không chính thức, thì từ lâu ta đã gọi nước mình là Việt Nam, như Nguyễn Ðình Ðầu cho biết dưới đây.

Về phía người Tàu, sau khi bị Ngô Quyền đuổi về Tàu, họ vẫn tiếp tục gọi cái “đô hộ phủ” bị mất là An Nam. Vua ta tha hồ xưng là Ðại Việt hoàng đế, nhưng chỉ được họ phong là An Nam quốc vương.

Cho đến năm 1792. Vua Quang Trung không chấp nhận hai chữ An Nam miệt thị ấy nữa, mà tuyên cáo An Nam phải đổi thành Việt Nam. Tiếc vua không sống đến ngày người Tàu chịu gọi vua ta là Việt Nam quốc vương.

Về chuyện Gia Long xin Thanh triều gọi ta là Nam Việt, Trần Trọng Kim bảo Gia Long “lấy lẽ rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường”.(2) Còn chuyện người Tàu không chấp nhận gọi thế thì rất dễ hiểu: Nam Việt là tên nước của Triệu Ðà xưa kia, vốn gồm cả hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây của nước Tàu bây giờ, nếu gọi ta là Nam Việt thì phải phân biệt Nam Việt mới với Nam Việt cũ, rắc rối lắm và... xúi quẩy nữa!

Tại sao sau đó nhà Thanh chịu cho ta đổi thành Việt Nam? Theo ngữ pháp Tàu, “Việt Nam” là “ở phía nam của Việt”. Mà Việt, đối với người Tàu, là đất Lưỡng Quảng. Gọi nước ta là Việt Nam, tức nhấn mạnh rằng lãnh thổ ta nằm ở phía nam Lưỡng Quảng. Yên tâm quá, còn đợi gì nữa mà không chịu!

(Thu Tứ)
Chú thích:
(1) Trong Sổ tay văn hóa Việt Nam.
(2) Xem Việt Nam sử lược. Vua Gia Long kết Việt Thường với An Nam vì tưởng rằng Việt Thường chỉ phần đất từ Hà Tĩnh, Quảng Bình trở vào. Thực ra, theo Ðào Duy Anh trong Lịch sử cổ đại Việt Nam, đất Việt Thường ở mãi lưu vực sông Dương Tử!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Archéo, SCC, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Mười 21, 2011, 08:50:41 AM »

Quốc hiệu Việt Nam

Tên Việt Nam để chỉ nước ta đã xuất hiện từ lâu (...)

Khoảng năm 1390, Hồ Tông Thốc đã lấy tên đó viết Việt Nam thế chí.

Khoảng năm 1435, Nguyễn Trãi đã ghi trong sách Ðịa dư chí: “Ngày nay cũng xưng là Việt Nam”.

Khoảng năm 1545, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm và thu thập trên 100 bài vịnh cảnh, gom thành tập Việt Nam sơn hải động thưởng vịnh.

Khoảng năm 1715, Nguyễn Phước Chu vịnh đèo Hải Vân với câu đầu: “Việt Nam hiểm ải thử sơn điên” (chót núi này là hiểm trở nhất Việt Nam).

Khoảng năm 1792, vua Quang Trung tuyên cáo: “Ðổi (...) An Nam thành Việt Nam”. Chưa kịp thi hành, nhà vua đã băng hà.

Tên Việt Nam còn được khắc (trên) bia dựng ở nhiều đình, chùa từ thế kỷ XVI (...)

Gia Long (...) phái Lê Quang Ðịnh sang Trung Quốc cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Nhà Thanh chỉ nhận đổi là Việt Nam và phong cho Nguyễn Ánh là Việt Nam quốc vương (1804).


(Nguyễn Ðình Ðầu, Lịch sử Việt Nam, tập I, Hội đồng Khoa học Xã hội TP HCM & Viện Khoa học Xã hội tại TP HCM, nxb. Trẻ, VN, 2001, tr. 237)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Archéo, SCC, Ngoisaobiec
Logged
 
 
Trang: 1 [2] 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.665 seconds với 24 câu truy vấn.