Tháng Chín 27, 2020, 04:26:00 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: GÓC NHÌN VĂN HÓA VIỆT  (Đọc 8285 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Hai 05, 2011, 11:40:38 AM »

Thần làng và đình

Thần làng của ta là thần riêng của dân làng (...) đó là điều quan trọng (...) vì các làng Trung Hoa không bao giờ có thần riêng cả, từ thời cổ đến nay (Maspéro) (...)

Ðó là tục của người Mã Lai (1) mà hiện Nhựt Bổn và các đảo Mã Lai còn giữ.

(...)

Ðình của Trung Hoa không phải là nơi thờ phượng mà chỉ là cái nhà cất trên đường để bộ hành nghỉ ngơi, nam nữ đều vào được.

Ðình của ta là nơi thờ thần làng và nơi hội họp của các nhà lãnh đạo trong làng và phụ nữ không được vào.

Sự trùng hợp của danh từ đình, có thể hoặc là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hoặc là một cuộc vay mượn vì ảnh hưởng Trung Hoa về sau, ta đã vay mượn một cách không cần thiết một số danh từ mà ta đã có rồi.

(...) cái đình thì người Sơ Ðăng, một thứ người nói tiếng Mã Lai y như Việt Nam, gọi nó là cái rong. Có thể tổ tiên ta bỏ rong vay mượn (...) đình (...)

Thần thành hoàng của Trung Hoa (...) xuất hiện vào đời nhà Chu (...) Thành là bức tường bao quanh thành phố và hoàng là cái hào bao quanh bức tường (...)

(...) thần thành hoàng (...) là thần (...) của thị dân (...) gọi thần của ta là thần thành hoàng là sai (...)


(Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971, tr. 438-441)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Hai 05, 2011, 11:42:16 AM »

Chùa và đình

Ðình làng xuất hiện muộn - đình sớm nhất còn đến nay là của thế kỷ XVI (tr. 184)

Chùa vốn có trước đình (tr. 196)

Phải chăng tiền thân của đình làng chỉ là ngôi miếu (tr. 197)

ngôi đình sớm nhất hiện còn là đình Thụy Phiêu (Hà Tây) dựng năm (...) 1531 (...) đình làng có từ thế kỷ XV (tr. 198)

Về sau, phần lớn các địa phương đã chuyển sinh hoạt văn hóa ở chùa sang đình (tr. 201)


(Chu Quang Trứ, Văn Hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, Việt Nam, 2002, tập I)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Hai 05, 2011, 11:45:24 AM »

Ở Việt Nam, Phật giáo tiểu thừa truyền thẳng từ Ấn-độ, Phật giáo đại thừa truyền từ Trung Quốc. Tiểu qua trước, đại qua sau.

Chu Quang Trứ nghiên cứu kiến trúc chùa tháp Việt Nam rồi cho biết mãi đến đời Lý, Phật giáo ở ta vẫn còn chủ yếu là tiểu thừa.

Ðiều ngộ nghĩnh là, phần nào do hai cách hiểu lời Phật khác nhau, khi tu “tiểu” thì ta xây chùa “đại”, mà khi tu “đại” thì ta lại xây chùa “tiểu”!

(Thu Tứ)


Chùa Lý, chùa Trần

Trong kiến trúc Phật giáo thời Lý, tháp chính là điểm quần tụ các kiến trúc vật khác, tạo nên phong cảnh kiến trúc đặc sắc của cả cảnh chùa (...)

Qua các kiến trúc chùa tháp, cách bố trí Phật điện, ta nhận ra yếu tố tiểu thừa trong Phật giáo thời Lý rất đậm nét, chỉ từ thời Trần, yếu tố đại thừa mới dần thắng thế (...)

Trước đây nhiều người cho rằng ta “ít có công trình kiến trúc lớn”, thậm chí còn khẳng định “chúng ta không có những công trình kiến trúc lớn” (...)

Thật ra không phải như thế (...) Chẳng hạn tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm ngồi còn cao sáu trượng. Chuông tháp Báo Thiên dùng 12000 cân đồng vẫn chưa được xếp vào hàng khí vật lớn. Tháp Chương Sơn có cạnh chân dài những hơn 19m. Tháp Phật Tích văn bia ghi cao thiên trượng (...) Cột trụ chùa Một Cột có chu vi chạm đủ ngàn cánh hoa sen...

Quy mô to lớn ấy, từ sau thời Lý không thấy nữa (...) Vì sao (...)

tài lực nước ta ở thời Lý cho phép xây dựng nhiều công trình lớn, mà từ thời Trần thì điều ấy dần không còn nữa (...)

Quy mô của mỹ thuật Phật giáo còn do tính chất của Phật giáo đương thời quyết định.

Phật giáo thời Lý (...) các nhà sư coi cuộc đời là hư ảo, hiện thực thế giới là ảo ảnh, cuộc sống ở cõi nát-bàn mới là vĩnh cửu, nên phải tập trung tâm lực vào xây chùa tháp. Sang thời Trần, theo phái Trúc Lâm (...) mọi hành động của con người đều là Phật giáo, do đó không thể dồn toàn tâm xây chùa tháp (...)


(Chu Quang Trứ, Văn Hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, Việt Nam, 2002, tập II, tr. 48-50)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Hai 05, 2011, 11:52:09 AM »

Thờ cúng ở đình làng

Làng nào cũng có một cái nhà chung vừa là nơi thờ thần, vừa là nơi tụ hội của dân. Ðối với dân làng, thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chịa. Ðình làng lớn thường có một tòa nhà hình chữ T, phần dọc là đình trong (hậu cung hay nội điện) là chỗ thâm nghiêm để thờ thần, phần ngang là đình ngoài (tiền tế hay đại bái) chia làm ba khoảng, giữa gọi là trung đình là nơi tế tự, hai bên gọi là tả gian và hữu gian, ở trong có bàn thờ Thổ địa, hoặc thờ bộ hạ của thần, hoặc thờ Hậu thần. Ở hai bên tả hữu có hai hành lang là chỗ dân làng sửa soạn lễ vật để cúng.

Trong hậu cung có tượng hoặc bài vị của thần an phụng ở trong long ngai hay long khám, trên hương án có hòm sắc chứa sắc phong và kim sách, cùng những đồ thờ như tam sự, ngũ sự, đài rượu, quả trầu v.v. Ở trước thì các đồ nghi trượng và lỗ bộ, như loan giá, long đình, bát bửu, cờ quạt, tàn tán v.v.

Vị thần thờ ở đình có khi là thiên thần, như thần Tản Viên, thần Phù Ðổng, thần Sử Ðồng Tử, có khi là nhân thần hay phúc thần, như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lý Ông Trọng, Phạm Ngũ Lão. Những người sáng lập ra làng, hay những ông quan có công với làng, khi chết thường cũng được thờ làm thần, như Nguyễn Cẩn lập ra làng Ðông Lâm ở Hải Dương (...) Nguyễn Công Trứ lập ra các làng ở hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải ở Ninh Bình và Thái Bình. Lại còn một thứ thần là người thường mà chết bất đắc kỳ tử được giờ thiêng thì cũng được người ta thờ làm thần, vì thế mà có những thần Ăn trộm (Lộng Khê, huyện Phù Dực, tỉnh Thái Bình), thần Trẻ con (làng Ðông Thôn, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Ðông), thần Chết nghẹn, thần Tà dâm v.v.

Sự tích của mỗi vị thần có ghi chép ở trong thần tích (hay kinh sách), dân làng giữ rất kín ở một nơi với thần sắc của vua ban cho. (Thần sắc có ba bực: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần, Hạ đẳng thần.) Thỉnh thoảng có thần không có vị thần nào ở trong các hạng thiên thần và nhân thần kể trên mà thờ, thì thờ tạm vị thổ thần ở bản thổ.

Cũng như gia đình đối với tổ tiên, hương thôn đối với thần làng, gặp những ngày húy cùng các ngày tuần tiết trong một năm thì phải cúng cấp. Thường trong một tháng có hai kỳ lễ sóc và lễ vọng, ngoài ra còn có những lễ Hạ điền ở đầu mùa cày cấy, lễ Thượng điền ở cuối mùa, lễ Thượng tân hay Cơm mới vào tháng chín, lễ Thượng nguyên hay lễ Kỳ yên, lễ Trung nguyên, lễ Hạ nguyên, lễ Hàn thực, lễ Ðoan ngọ, lễ Trung thu, lễ Nguyên đán, và hai kỳ Xuân tế, Thu tế. Mỗi năm, hoặc năm ba năm một lần, người ta làm lễ nhập tịch hay đại hội (vào đám hay vào hội) để kỷ niệm ngày sinh hay ngày kỵ của thần. Lễ này thường làm to, có nhiều nghi tiết long trọng và nhiều cuộc vui chơi, như hát chèo, chạy chữ, đánh cờ, cướp cầu, chọi gà, chọi trâu v.v.

Trong lễ vào đám hay vào hội của ít nhiều làng, có một nghi tiết đặc biệt gọi là hèm, người ta thường bày một trò để nhắc lại tính tình, sự nghiệp hoặc sinh bình của vị thần làng thờ. Ví dụ khi vào đám lễ thần ăn trộm thì ban đêm con trai con gái trong làng đốt đuốc đi xung quanh đình giả tìm kẻ trộm, trong khi ấy người thủ từ lấy tượng thần đưa qua lỗ ngạch, có ông tiên chỉ đứng chực sẵn ở phía ngoài nắm lấy cổ tượng thần đấm ba đấm rồi bỏ lên kiệu rước lại vào đình. Ở làng thờ thần cụt đầu (làng Khắc Niệm thượng, huyện Vũ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) thì đến ngày vào đám, người ta lấy một con lợn sống, một người cầm gươm chém đứt đầu lợn lấy bỏ vào nồi nước mắm đương sôi, rồi đặt lên hương án để cúng.


(Ðào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương (1938), thiên III, phần 6, “Tín ngưỡng và tế tự”)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Hai 05, 2011, 11:58:22 AM »

Ðọc mấy định nghĩa của Tạ Chí Ðại Trường dưới đây, nẩy vài thắc mắc:

- Miếu: làm nhớ "miễu", tra từ điển thấy miễu nghĩa là miếu nhỏ. Có đúng vậy chăng? Miễu bà Chúa Xứ ở núi Sam (Châu Ðốc) lớn hay nhỏ? Có thể miễu là một biến âm Nam bộ của miếu?

- Ðền: còn là chỗ thờ anh hùng dân tộc. Hay hễ anh hùng dân tộc mà được thờ trong đền thì coi như đã hiển thánh, đã vào thần điện của Ðạo giáo?

- Ðể chỉ riêng nơi thờ cúng của Ðạo giáo, hình như ta hay dùng chữ "điện". Ngoài ra, có chữ "phủ" (như TCÐT kể) và chữ "quán".

- Am: không nhất thiết là nơi thờ cúng của Phật giáo? Vì, chẳng hạn, ở Cổ Loa có am Mỵ Châu. Am đây giống như miếu. Ngoài ra, am còn có nghĩa là nơi cư trú của người ở ẩn, như am Bạch Vân của Nguyễn Bỉnh Khiêm...

(Thu Tứ)


Am, miếu, đền v.v.

- Nhà thờ là của gia đình;

- Ðình là nơi thờ thành hoàng đồng thời là nhà chung của làng xã (nhà làng);

- Miếu dành cho các thần được thờ cúng đều đặn, liên tục;

- Ðền, Phủ là nơi thờ cúng của Ðạo giáo;

- Chùa hay Am là nơi thờ cúng của Phật giáo.


( Tạ Chí Đại Trường, Những bài dã sử Việt, nxb. Thanh Văn, Mỹ, 1996, tr. 17)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Hai 06, 2011, 09:42:22 AM »

Theo Ðào Duy Anh, “thành hoàng thần” là “ông thần làm chủ trong thành” (Hán Việt từ điển).

Sao làng lại có “thần thành”! Hiển nhiên thành hoàng chỉ là cái tên vay mượn từ tiếng Tàu để gọi một nội dung Việt.



Tục thờ thành hoàng


Trong tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thành hoàng phổ biến nhất từ Bắc chí Nam (tr. 47)

Trong số 382 thành hoàng tác giả khảo sát ở 15 tỉnh thì tối đại đa số đều là những người có công với nước, với làng. (tr. 48)

Như vậy là tín ngưỡng dân gian về cơ bản quy chiếu về trách nhiệm với đồng bào. Nó là kết tinh khát vọng của một tâm thức hướng về cuộc sống dưới đất, lo khắc phục những khó khăn thực tế trong cuộc sống để tồn tại, không chứa đựng kiến giải siêu hình nào hết. (tr. 48)

thành hoàng là xuất phát từ cơ sở tín ngưỡng Ðông Nam Á nhưng đã được tôn ti hóa kiểu Trung Hoa (tr. 353)


(Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Hai 06, 2011, 09:46:13 AM »

Cứ hễ cần biết Hoa kiều ở nước ta sinh hoạt thế nào thì tự nhiên, so với hầu hết các nhà nghiên cứu khác, nhất là những vị cư ngụ ở miền Trung hay miền Bắc, Bình Nguyên Lộc có một ưu thế rõ ràng. Ðó là vì ông ngẫu nhiên sống giữa đông đảo Hoa kiều và vì ông giao thiệp được với họ.

Ông thấy tận mắt là người Tàu Chợ Lớn không thờ cúng tổ tiên. Hoa kiều vẫn nổi tiếng giữ vững truyền thống khi ra nước ngoài sinh sống, ngay ở những nước ít Hoa kiều họ còn giữ được truyền thống, huống gì ở Việt Nam là nơi họ có hàng triệu đồng bào sống tương đối tập trung. Vậy, ít nhất, ở những địa phương bên Tàu nơi người Tàu Chợ Lớn sống trước khi qua nước ta, không có tục thờ cúng tổ tiên.

Bình Nguyên Lộc lại bảo không tìm thấy bằng chứng thành văn về việc dân Tàu xưa kia có theo tục này. Dường như cho đến bây giờ cũng vẫn chưa ai tìm thấy thứ bằng chứng ấy.

(Thu Tứ)


Thờ tổ tiên là ta

Hiện miền Nam có non một triệu người Tàu mà chúng tôi sống giữa một khu phố toàn là Hoa kiều ở Cầu Ông Lảnh, chúng tôi lại giao thiệp với người Tàu Chợ Lớn rất thường. Thế mà vào nhà họ, chúng tôi không bao giờ thấy họ có bàn thờ tổ tiên, trong khi đó thì trong các gia đình Việt, bàn thờ tổ tiên chiếm vị trí sang trọng nhứt, lại dùng đồ thờ cúng mắc tiền nhứt. Người nghèo dám hy sinh cơm áo để sắm bộ lư đồng, để đóng một cái bàn thờ bằng danh mộc khảm xa cừ, còn người Tàu thì tuyệt đối không có bàn thờ tổ tiên.

Họ cũng không có cúng kiến tổ tiên, không hề làm đám giỗ như ta, trong khi mỗi ngày họ cúng đến hai ba lần những thánh thần (...) nào đó, cúng cả mùa màn thời tiết nữa, như cúng Hạ chí, Ðông chí, Xuân phân, Thu phân, thần cửa, thần bếp, thần cầu xí, thần tài (...)

Ðó là sự thật mà chúng tôi thấy tận mắt từ 50 năm nay, tại miền Nam nước Việt. Còn đây là sự thật tìm thấy trong sách Tàu.

Xét tôn giáo của Trung Hoa cố thời, không thấy nói có việc thờ cúng tổ tiên trong dân chúng bao giờ (...)

Tôn giáo thờ cúng tổ tiên là của ta chớ không phải của Tàu (...)


(Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971, tr. 214-215)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Hai 06, 2011, 09:47:26 AM »

Thờ cúng tổ tiên là ĐNÁ

thờ cúng tổ tiên (...) là một tín ngưỡng chung của ÐNA, kể cả của Hoa Nam xưa kia vốn thuộc phạm vi văn hóa ÐNA. Những tìm hiểu của tôi về tín ngưỡng này ở vùng Hoàng Hà trong dịp tôi thăm Trung Quốc chưa đủ để khẳng định ở đấy cũng có tín ngưỡng này và các học giả tôi hỏi không thống nhất với nhau. Ðiều chắc chắn qua các sách cổ, đó là tín ngưỡng này tồn tại ở tầng lớp quý tộc và nó được đạo Khổng đề cao. Nhưng nó có tồn tại ở nhân dân lao động không thì chưa nhất trí (tr. 102)

Việc thờ cúng tổ tiên tuy không phải gốc Nho giáo nhưng mang nhiều hình thức Nho giáo (tr. 202)

chế độ thờ cúng tổ tiên ở người Việt có gốc ÐNA nhưng đã được cấu trúc hóa lại theo Trung Quốc (tr. 352)

(Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, 8N, byphuong, nhuocthuy, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Hai 07, 2011, 09:40:40 AM »

Vất vả là cái nghề trồng lúa nước của tổ tiên ta xưa kia. Do tùy thuộc vào quá nhiều yếu tố ngoài sức mình mà nhìn đâu cũng thấy thần! Thấy thì phải thờ cẩn thận, chứ không thể vờ không thấy.

Rộng rãi thay là Phật. Chùa xây thờ Phật, nhưng dân có thờ thêm Mẫu, cũng chẳng sao.

Cái sự kiện Mẹ Ðất phải ở dưới Mẹ Trời, Mẹ Rừng, Mẹ Nước, liệu nó có ý nghĩa gì thật đặc biệt không nhỉ?

(Thu Tứ)


Trồng lúa nước và thờ Mẫu


Là cư dân trồng cấy lúa nước, người Việt cổ rất sùng bái các lực lượng tự nhiên, họ thấy ở đâu cũng có thần (tr. 15)

Các thần ấy, trong tầm thức của cư dân lúa nước đều mang tính nữ, trở thành Mẹ - Mẫu. Từ đấy, khái quát lên thành đạo Mẫu được coi là hiện thân của tất cả sinh lực vũ trụ (tr. 15)

thần điện của đạo Mẫu (...) nhập vào trong chùa trở thành phủ thờ mà hầu như chùa nào cũng có (tr. 15)

Tam tòa thánh mẫu trên điện thờ được thể hiện thành ba pho tượng dàn hàng ngang ở trên cùng. Ðó là Mẫu đệ nhất Thượng Thiên trùm khăn đỏ (...) cai quản cả bầu trời (...) Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn trùm khăn xanh cai quản vùng rừng núi (...) Ðối lại ở phía bên trái là Mẫu đệ tam: Mẫu Thoải (đọc trệch của chữ Thủy) (...) cai quản biển cả cùng sông hồ (tr. 15-16)

Mẫu đệ tứ: Mẫu Ðịa. Trong điện thờ, Mẫu Ðịa trùm khăn vàng (...) tách ra một hàng riêng ở dưới Tam tòa (...) Mẫu Ðịa sáng tạo ra vùng đồng ruộng (tr. 16)


(Chu Quang Trứ, Văn Hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, VN, 2002, tập I )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, byphuong, nhuocthuy, Ngoisaobiec, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Hai 07, 2011, 09:42:08 AM »

Đạo Mẫu và Đạo giáo

từ tục thờ Nữ thần, Mẫu thần phát triển lên thành Ðạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ (...) ảnh hưởng của Ðạo giáo Trung Quốc có vai trò quan trọng (...) những ảnh hưởng này, một mặt giúp Ðạo Mẫu "lên khuôn", hệ thống hóa và bước đầu mang tính phổ quát nguyên lý Mẫu - Mẹ, nhưng mặt khác cũng làm tăng thêm tính ma thuật, phù thủy mà vốn trong dân gian đã từng tiềm ẩn.

Như vậy trên cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian, với những ảnh hưởng Ðạo giáo Trung Quốc, đã hình thành và định hình Ðạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ (Tam tòa Thánh Mẫu), một thứ Ðạo giáo dân gian đặc thù của Việt Nam (...) có thể gọi một cách ngắn gọn (...) Ðạo Mẫu.


(Ngô Đức Thịnh, "Đạo Mẫu ở Việt Nam", trong Ðạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á (Ngô Ðức Thịnh chủ biên), nxb. Khoa Học Xã Hội, VN, 2004, tr. 27-28)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, byphuong, nhuocthuy, Ngoisaobiec, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Hai 08, 2011, 02:31:51 PM »

Dĩ nhiên người Việt còn khác người Hoa ở rất nhiều chỗ nữa, ngoài mấy chỗ Trần Quốc Vượng nêu ra. Ðây ông Trần chỉ nhắc cách ngẫu nhiên, chứ không có ý liệt kê cho thực đầy đủ.

Việt nhà sàn, Hoa nhà hầm... Ðất nào nhà nấy. Qua cái nhà truyền thống, dễ dàng thấy gốc gác Nam, Bắc của ta và của họ.

Sĩ Việt ở làng, sĩ Hoa ở phố... Vốn nước ta là một “nước làng”. Trí thức ta không ở làng thì ở đâu?!

Việt “nửa vời”, Hoa “làm lớn, làm lố”... Quả thực, chính người Việt mới trung dung
(Thu Tứ)


Việt khác Hoa thế nào


Trị thủy (...) người Trung Quốc khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy (...) người Việt đắp đê (tr. 37)

người Hoa ở nhà hầm (...) người Việt (...) nhà sàn (tr. 38)

Trung Quốc (...) đúc đỉnh (...) Việt Nam (...) đúc trống (tr. 39)

Kẻ sĩ Trung Quốc nằm ở các đô thị (...) Trí thức Việt - phần lớn nằm ở làng quê (tr. 79)

tâm lý dân tộc (...) chủ tình (...) ưa dung hòa (...) nửa vời (...) Trung Quốc (...) tâm lý làm lớn, làm lố (...) duy ý chí (tr. 80)

(Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2000)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, nhuocthuy, byphuong, Ngoisaobiec, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Hai 08, 2011, 02:33:56 PM »

Việt khác Tàu thế nào

trang 581-582:

Văn hóa Việt Nam, dù sau này có vay mượn khá nhiều từ văn hóa Trung Hoa, nhưng những yếu tố vay mượn đó đều đã được Việt hóa, chính là nhờ có những đặc trưng truyền thống từ xa xưa chi phối. Cho nên, mới thoạt nhìn vào cứ tưởng rằng Việt Nam chỉ là bản sao của văn hóa Trung Hoa, nhưng thực ra, bên cạnh rất nhiều nét tương đồng, nhìn vào đâu ta cũng vẫn có thể thấy cái dị biệt:

(...) người Hán trung với (...) vua (...) người Việt (...) “ái quốc” (...);

(...) người Hán coi trọng gia đình (...) người Việt coi trọng gia tộc (...);

(...) tiếng Hán chỉ phân biệt bốn thế hệ (...) tiếng Việt phân biệt rạch ròi (...) tới chín thế hệ (...);

(...) tiếng Hán chỉ có các đại từ khái quát cho ba ngôi (...) tiếng Việt sử dụng một hệ thống đại từ và các từ đại từ hóa (...);

(...) âm nhạc Trung Hoa (...) chú trọng (...) hùng tráng (...) Việt Nam (...) trữ tình;

(...) hội họa Trung Hoa (...) kết hợp (...) ước lệ với (...) tả thực (...) Việt Nam (...) thiên hẳn về (...) ước lệ;

(...) nông nghiệp (...) Hoa Bắc (...) trồng kê - mạch (...) nông nghiệp Việt Nam (...) lúa nước;

(...) người Hán xưa ăn nhiều thịt, bánh bao (...) người Việt chủ yếu ăn cơm, rau;

(...) phương tiện giao thông truyền thống ở Trung Hoa (...) là xe, ngựa (...) ở Việt Nam (...) thuyền bè (...);

(...) nghệ thuật quân sự Trung Hoa (...) bài bản (...) Việt Nam (...) nhân dân (...) du kích;

(...) truyền thống dân gian Trung Hoa (...) bát quái (...) Việt Nam (...) âm dương - ngũ hành;

(...) thần thánh trong thần thoại Trung Hoa phát huy (...) cá nhân (...) Việt Nam (...) thần thánh luôn có đôi (...) hoặc làm việc tập thể;

(...) tín ngưỡng dân gian người Hán thiên về nam thần (...) Việt Nam thiên hẳn về nữ thần;

(...) truyền thống Hán tộc luôn coi trọng đàn ông (...) Việt Nam ngay cả lúc Nho giáo cực thịnh vẫn giữ được phần nào truyền thống coi trọng phụ nữ;

(...) Trung Hoa (nhất là vùng Hoa Bắc) sớm phát triển đô thị và giỏi buôn bán (...) Việt Nam đô thị rất kém phát triển (...) dân chúng có truyền thống khinh rẻ nghề buôn...

trang khác:

người phương Bắc thích dùng những cách nói khái quát với những con số chẵn 4,6,8 (...) Tư duy số lẻ là nét đặc thù của văn hóa nông nghiệp trọng tĩnh phương Nam (...) (119-121)

Văn hóa gốc nông nghiệp (...) có khuynh hướng thiên về thơ; văn hóa gốc du mục (...) thiên về văn xuôi: truyền thống văn chương phương Tây mạnh về văn xuôi. Trung Hoa cũng thiên về văn xuôi hơn thơ (...) Thơ ca Trung Hoa chỉ thực sự nở rộ vào đời Ðường; vào thời cổ (...) ngoài Kinh Thi là (...) ca dao (...) chỉ có Sở từ (...) thì lại chính là sản phẩm của văn hóa phương Nam (Khuất Nguyên và Tống Ngọc là người nước Sở, phía Nam sông Dương tử) (288)

Trong cuốn Trung Quốc triết học sử, Hồ Thích nhận xét (...) các dân tộc phương Nam (...) thần thoại giàu chất trữ tình (...) chuyện thần thoại trong (...) tác phẩm (...) của Khuất Nguyên, Tống Ngọc (...) văn học phương Bắc chưa bao giờ có (289)

truyền thống coi trọng bên trái (phía Ðông) của văn hóa nông nghiệp (419)

(Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, in lần 3)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, nhuocthuy, byphuong, tuanlong, Ngoisaobiec, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Hai 08, 2011, 02:38:57 PM »

Cái sự việc tục thờ Mẫu của ta “hòa quyện” dễ dàng với Ðạo giáo của Tàu thực đáng chú ý.

Ðể những niềm tin khác nhau hòa quyện được, hình như cần hai điều kiện. Thứ nhất là chúng phải cùng gốc. Thứ hai là cái gốc ấy phải không có cái tính cực đoan, đòi độc tôn.

Có điều kiện thứ nhất mà không có điều kiện thứ hai là, chẳng hạn, Do-thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo. Ba tôn giáo này tuy một gốc mà không sao “hòa” với nhau được, nói chi “quyện”!

Mẫu và Ðạo có cùng gốc là một thứ niềm tin từng phổ biến khắp Ðông Nam Á tiền sử, thời còn gồm cả Hoa Nam. Niềm tin ấy không đòi bá chủ, nên Mẹ Liễu Hạnh thoải mái ở chung một “quán” với Ngọc Hoàng Thượng đế!

(Thu Tứ)


Đạo giáo hòa quyện...

Ðạo giáo (...) nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ II (...) tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng (...) có sẵn từ lâu (...)

Ðạo giáo phù thủy Việt Nam (...) bên cạnh việc thờ (...) Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão quân, thần Trấn Vũ, Quan Thánh đế (Quan Công) (...) còn thờ (...) Ðức Thánh Trần và Bà Chúa Liễu (“Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ”) (...) Ðạo giáo (...) hòa quyện với tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu.

( Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, , nxb. TPHCM, VN, 2001, in lần 3, tr. 512-514)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, nhuocthuy, byphuong, Ngoisaobiec, tuanlong, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Hai 09, 2011, 10:19:39 AM »

Hoài Thanh bảo “tổ tiên ta trong hàng ngàn năm từng say mê văn hóa Trung Quốc”. Bảo thế không chính xác. Không phải người Việt nào ngày xưa cũng mê văn hóa Tàu, mà chỉ người Việt trí thức - tức một số rất rất ít - mới mê. Tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam không biết chữ Hán, họ làm sao mê văn Tàu thơ Tàu được! (Quý, nể vì thấy nó ở miệng người sang là chuyện khác!)

Ngày xưa, nhân dân là cái “cơ sở thực tiễn” giúp giới trí thức khỏi trở nên vong bản. Nhờ ảnh hưởng của nhân dân mà trí thức Việt hóa được văn hóa Tàu chứ không bị văn hóa Tàu hóa.

Ngày nay, giao thương phát triển và kỹ thuật truyền thông tiến bộ đang giúp văn hóa Tây phương xông thẳng vào giữa nhân dân ta mà tiến hành đồng hóa đại quy mô!

Hễ nhân dân mà bị hóa rồi, thì là thôi đấy.

(Thu Tứ)


Say mà không hóa...

Tổ tiên ta trong hàng ngàn năm từng say mê văn hóa Trung Quốc, và say mê đến một mức độ có thể nói là ít thấy trong lịch sử văn hóa xưa nay, nhưng dân tộc ta có vì thế mà bị đồng hóa đâu. Văn hóa nước ngoài, tiếp thu trên cơ sở thực tiễn nước mình, càng giúp ta phát huy bản sắc riêng của dân tộc.

(Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, nxb. Văn Học, VN, 1982, tr. 238)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, 8N, Ngoisaobiec, nhuocthuy, SCC, Archéo
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Hai 09, 2011, 10:29:43 AM »

Ðã là vợ chồng, còn ở đâu xa mà đi với lại? Mà để sẵn sàng cho cái ngày “vô phúc đáo tụng đình”, chả lẽ mỗi lần “đi lại” là một lần ký sổ hay đòi nhân chứng?!

Chẳng biết cái điều Ba Lẻ Tám trong bộ luật nổi tiếng của Lê Thánh Tôn có thực tế lắm không, chỉ biết nó hẳn tiêu biểu cho những “lệ làng” rất cũ kỹ mà “phép vua” của một đấng thánh quân cũng phải thua.

Nhìn gần chỉ thấy chuyện làng thắng vua, nhưng nhìn từ xa hơn, thấy đây là văn hóa Việt trọng nữ thắng văn hóa Tàu trọng nam khinh nữ. Truyền thống dân tộc đã thắng vẻ vang ngay trong hoàn cảnh rất bất lợi là một vương triều đang kiên quyết tự Hoa hóa!(1)

(Thu Tứ)


Luật Hồng Đức


Luật Hồng Ðức ở thế kỷ XV có một số điều chú ý đến quyền lợi của phụ nữ. Như con gái có quyền hưởng gia tài như con trai, có quyền sở hữu về tài sản; vợ có quyền ly dị chồng nếu chồng bỏ vợ trong năm tháng không đi lại, trường hợp có con, thời hạn ấy tăng lên một năm. Ðó là tập tục cổ truyền còn được giữ lại, và đó cũng là giá trị lớn nhất của luật Hồng Ðức.


(Trương Chính và Ðặng Ðức Siêu, Sổ tay văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1978, tr. 69)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, 8N, Ngoisaobiec, nhuocthuy, SCC, Archéo
Logged
 
 
Trang: [1] 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.096 seconds với 24 câu truy vấn.