Tháng Mười 19, 2018, 06:50:38 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TRUYỆN KÝ VỀ BA MƯƠI BA VỊ TỔ THIỀN TÔNG -- 禪宗三十三代祖師傳記  (Đọc 8909 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2011, 03:14:03 pm »

(tiếp theo)

第十三祖迦毗摩羅尊者

華氏國人也。初為外道。

有徒三千。通諸異論。領眾至西印土。彼有太子。
名云自在。知尊者名。延於宮中。以伸崇禮。尊者曰。如來有教。
沙門不得親近國王大臣形勢之家。太子曰。
我國城有大山焉。山中有一石窟。師可止此否。尊者即詣之。
行數里有一大蟒。來逆尊者。盤繞其身。
尊者因與受三歸依。蟒聽訖而去。尊者將至石窟。復有一老人。
素服而出。合掌問訊。尊者曰。汝何所止。答曰。
我昔嘗為比丘。居止山林。多樂寂靜。初學比丘。數來請益。
而我煩於應答。而生嗔恨。命終墮為蟒身。住是窟中。
今巳千歲。適遇尊者。獲聞戒法。尊者問曰。
此山更有何人居止。曰北去十里。有一大樹。蔭覆五百大龍。
其樹王名龍樹。常為龍眾說法。我聽受爾。尊者詣彼。
龍樹出迎尊者曰。深山孤寂。龍蟒所居。大德至尊何枉神足。
尊者曰。吾非至尊。來訪賢者。龍樹將欲歸依。
心生疑慮曰。此師得澤定性。明道眼否。是大聖繼真乘否。
尊者曰。汝雖心語。我巳意知。但辦出家。何慮不聖。
龍樹聞巳悔謝。尊者即與披剃受具。遂告之曰。
如來以正法眼藏。付於迦葉。如是展轉。乃至於我。我今付汝。
汝可護持。流布將來。無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

非隱非顯法
說是真實際
悟此隱顯法
非愚亦非智。

付法巳。即現神變。化火焚身。龍樹收舍利起塔。
即赧王朝也。


13. - Tổ Ca-Tỳ-Ma-La (Kapimala)


Đầu thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.

Ngài người nước Hoa-Thị, ban đầu học theo ngoại đạo, giỏi các pháp huyễn thuật, đồ chúng có đến ba ngàn. Khi đến so tài với Mã-Minh, bị Tổ hàng phục,liền cùng đồ chúng phát tâm xuất gia. Tổ Mã-Minh độ cho Ngài xuất gia, sau truyền tâm pháp. Sau khi được truyền tâm pháp, Ngài đi giáo hóa khắp nơi. Lần lượt đến nước Tây-Ấn, nơi đây có Thái-tử tên Vân-Tự-Tại rất ngưỡng mộ Ngài.Thái-Tử thỉnh Ngài và đại chúng vào cung cúng dường,Ngài từ chối bảo

-Phật cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời.

Thái-tử bạch:

-Thưa Tôn-giả ! phía Bắc thành nầy có một hòn núi lớn, trong núi có hang đá yên lặng bặt người thế tục, có thể ở nơi đó thiền định được. Tuy nhiên, trong đó có nhiều rắn và thú dữ, song tin tưởng đức cao dày của Tôn-giả sẽ chuyển hóa chúng.

Ngài nhận lời, cung đồ đệ tiến thẳng đến núi ấy. Vừa đến núi nầy quả gặp một con rắn lớn dài gần một dặm, trợn mắt nhìn Ngài, Ngài vẫn đi thẳng không ngó đến nó. Ngài đi đến phía Nam chân núi dừng nghỉ chỗ đất bằng,con rắn ấy đến quấn chung quanh Ngài, Ngài cũng chẳng đoái hoài, giây lát con rắn bò đi.
Ngài tìm lại chúng theo Ngài thì họ đã chạy tán loạn hết.
 Ngài một mình đi thẳng đến hang đá.
Bỗng thấy một ông già mặc toàn đồ trắng đi ra chấp tay kính lễ Ngài, Ngài hỏi : -Ông ở đâu ?
Ông già thưa : -Con xưa làm vị Tỳ-kheo rất thích vắng lặng, bực người mới học đến hỏi,nhơn đó nổi sân; bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn ở trong hang nầy, đến giờ đã ngàn năm.Vừa gặpTôn-giả là bực thánh đức nên ra kính lễ.
Ngài hỏi :-Núi nầy còn có người nào ở nữa chăng?

Và họ theo đạo nào ? Ngươi chỉ cho ta biết ? Ông già thưa : -Cách đây mười dặm về phía Bắc có một tàng cây thật to, dưới tàng cây có năm trăm vị nhân tài ẩn dật, vị lãnh tụ hiệu là Long-Thọ,thường vì chúng nói pháp, con cũng thường đến nghe. Ngài chờ đồ chúng tụ hội, cùng họ tiến đến phía Bắc. Vừa đến cây to,quả nhiên Long-Thọ ra nghinh tiếp Ngài. Long-Thọ vui vẻ đảnh lễ thưa Ngài :- Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, đại đức chí tôn sao thương xót đến đây ? Ngài đáp : -Ta không phải chí tôn, đến để phỏng vấn hiền giả. Long-Thọ lặng thinh thầm nghĩ: -Tôn-giả nầy được tánh quyết định, đạo nhãn đã sáng chưa ? Phải là người đại thánh,thừa kế chơn tông chăng ?

Ngài biết liền bảo: -Tuy tâm niệm của ngươi,ta đã biết rồi,chỉ cần xuất gia,lo gì ta chẳng phải thánh ?

Bấy giờ Long-Thọ sám hối tạ tội. Ngài độ cho xuất gia. Một hôm,Ngài gọi Long-Thọ lại bảo: -Nay ta đem đại pháp nhãn tạng của Như-Lai trao cho ngươi, ngươi phải truyền nối chớ dứt. Nghe ta nói kệ :

Phi ẩn phi hiển pháp,
Thuyết thị chơn thật tế,
Ngộ thử ẩn hiển pháp,
Phi ngu diệc phi trí .

Dịch :

Pháp không ẩn không hiển,
Nói là mé chơn thật,
Ngộ pháp ẩn hiển nầy,
Chẳng ngu cũng chẳng trí .
Truyền pháp xong, Ngài trình thần biến rồi tịch diệt. Long-Thọ và đồ chúng hỏa táng thân Ngài, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường .
 
 
(xem tiếp Tổ thứ mười bốn)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2011, 03:20:26 pm »

(tiếp theo)

第十四祖龍樹尊者

西天竺國人也。亦名龍勝。

始於毗羅尊者得法。後至南印土。彼國之人。多信福業。
無智慧性。龍樹為說教法。信受甚稀。聞尊者至。
互相謂曰。人有福業。世間第一。徒言佛性。誰人睹之。尊者曰。
汝欲見佛性。先須除我慢。彼曰。佛性大小。尊者曰。
非廣非狹。無量無則。無福無報。不死不生。彼聞理勝。

悉乃迥心。尊者復於座上。身現圓月相。唯聞說法音。
眾中有長者。名迦那提婆。謂曰。識此相否。眾曰。
目所未睹。焉能辨識。提婆曰。此是尊者現佛性相。以示我等。

言訖輪相即隱。還居本座。而說偈曰。

身現圓月相
以表諸佛體
說法無其戒
用辨非色聲。

眾聞偈巳。咸願出家。龍樹即為披剃受具。
其國先有外道五千人。作大幻術。眾所宗仰。王返以佛乘。
呼為外道。龍樹至王殿前。王遂問曰。汝是何人。龍樹曰。
我是智人。要化愚者。王曰。自稱其智。量是智人。龍樹曰。
未知之事。但請問之。王曰。今日諸天當何所務。
龍樹曰。帝釋與阿修羅王今正交戰。王曰。何以為驗。
龍樹曰。且待須臾。言訖投戈斷肢。自空而下。王見是事。
遂發信心。悉為化之。歸向三寶。龍樹知王及眾正信。
復造大智度論。中論。十二門論。垂之於世。
後告迦那提婆曰。如來以大法眼藏。囑累迦葉。展轉相付。
而至於吾。吾今付汝。汝善護持。流布將來。無令斷絕。
汝受吾教。聽吾偈曰。

為明隱顯法
方說解脫理
於法心不證
無瞋亦無喜。

付法巳。入月輪三昧。廣現神變。復就本座疑寂。
迦那提婆與諸四眾。共起寶塔以葬焉。即始皇帝朝也。



14. - Bồ-Tát Long-Thọ (Nagarjuna)

Giữa thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.

Ngài cũng có tên là Long-Thắng,dòng Phạm-Chí ở miền Tây-Ân. Thuở nhỏ, Ngài bẩm tánh thông minh;vừa nghe Phạm-Chí tụng bốn kinh Phệ-Đà là Ngài thuộc lòng văn nghĩa. Đến 20 tuổi, Ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn, địa lý,toán số,sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Môn nào Ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người. Nhơn một cơ duyên chẳng lành. Ngài nhận thực được các pháp là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn. Số người tìm đến cầu học với Ngài rất đông.

Sau khi gặp Tổ Ca-Tỳ-Ma-La cảm hóa, Ngài xin xuất gia được Tổ độ cho và truyền cả tâm ấn. Từ đó,Ngài vân du thuyết pháp khắp nơi,lần lượt đến miền Nam-Ấn. Dân chúng xứ nầy chỉ sùng phước nghiệp,từ Ngài đến đem pháp yếu chỉ dạy,họ tự bảo nhau :< Chỉ phước nghiệp nầy là việc tôi thắng,nói về Phật tánh thì đâu thể thấy >.

Ngài nhơn đó bảo họ : -Các ngươi nếu muốn thấy được Phật tánh thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn đi,mới có thể thấy được. Họ hỏi Ngài : -Phật tánh lớn hay nhỏ ? Ngài đáp : -Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống. Dân chúng nghe Ngài nói tột lý,vui mừng nguyện học pháp ấy. Ngài liền ngay trên tòa hóa thân như vầng mặt trăng. Dân chúng tuy nghe thuyết pháp mà không thấy có hình Ngài. Trong ấy có con một ông nhà giàu tên là Ca-Na-Đề-Bà, khi thấy thế liền cảm ngộ.

Đề-Bà bảo dân chúng : -Biết tướng nầy chăng ? Dân chúng thưa : -Chúng tôi không thể phân biệt được.Đề-Bà nói: -Đây là Bồ-Tát thị hiện để biểu thị Phật tánh,muốn chúng ta hiểu rỏ vậy. Vô tướng tam muội giống như mặt trăng tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt .Đề-Bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-Tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ,nói kệ:

Thân hiện viên nguyệt tướng,
Dĩ biểu chư Phật thể,
Thuyết pháp vô kỳ hình,
Dụng biện phi thinh sắc.

Dịch :

Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể các Phật,
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thinh sắc .

Toàn chúng nghe xong, đều cảm ngộ,cầu xin xuất gia. Ngài triệu tập các bậc thánh tăng đến truyền giới. Trong số xuất gia nầy, Đề-Bà là người dẫn đầu. Một quốc gia ở gần miền Nam-Ấn,có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được nhiều phép lạ, Vua và quốc dân đều thọ giáo nơi họ,khiến đạo Phật mờ tối. Ngài thấy thế cảm động,bèn đổi hình thức,mặc áo trắng đợi mổi khi vua ra thành, Ngài cầm cây cờ đi trước,hoặc ẩn hoặc hiện. Làm như thế đến bảy lần. Hôm nọ,vua lấy làm lạ kêu lại hỏi : -Ngươi là người gì dám đi trước ta, mà bắt không được,thả chẳng đi ?

Ngài đáp : -Tôi là người trí,biết tất cả việc.

Vua nghe ngạc nhiên,muốn thí nghiệm nói: -Chư thiên nay đang làm gì ?

Ngài đáp : -Chư thiên đang đấu chiến với A-Tu-La.
Vua hỏi :-Làm sao được biết ?
Ngài đáp :-Nếu bệ hạ muốn biết chốc lát sẽ thấy chứng nghiệm.

 Quả nhiên,phút chốc thấy gươm giáo tay chơn ở trên không rơi xuống. Vua và quốc dân rất kính phục Ngài,nhơn đó,Ngài chuyển họ trở lại quy y Tam-Bảo.

Hôm nọ,Ngài gọi Ca-Na-Đề-Bà đến dặn dò.

-Như-Lai lấy đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-Diếp,cho đến đời ta,nay ta trao cho ngươi. Hãy nghe kệ :

Vị minh ẩn hiển pháp,
Phương thuyết giải thoát lý,
Ư pháp tâm bất chứng,
Vô sân diệc vô hỷ.

Dịch :

Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát,
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ.

Dặn dò xong,Ngài nhập nguyệt luân tam muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn. Ngài sáng tác rất nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại-Thừa :

1-Trung luận,
 2-Thuận trung luận,
3-Thập nhị môn luận,
4-Đại-Thừa phá hữu luận,
5-Lục thập tụng như lý luận,
6- Đại-Thừa nhị thập tụng luận,
7-Thập bát không luận,
8-Hồi tránh luận,
9-Bồ-đề tư lương luận,
10-Bồ-đề tâm ly tướng luận,
11-Bồ-đề hạnh kinh,
12-Thích ma ha diễn luận,
13-Khuyến phát chư vương yếu kệ,
14-Tán pháp giới tụng,
15-Quảng đại pháp nguyện tụng.

Bồ-Tát Mã-Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp đại-thừa ; chính Ngài là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại-Thừa, Những tác phẩm của Ngài,bộ Trung-Luận có giá trị nhất, đến hiện nay đã dịch ra nhiều thứ chữ để truyền bá khắp thế giới
 

(xem tiếp Tổ thứ mười lăm)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Giêng 15, 2011, 03:28:36 pm »

(tiếp theo)

第十五祖迦那提婆尊者

南天竺國人也。姓毗舍羅。

初求福業。兼好辨論。聞龍樹名謁之。將及其門。
龍樹知是智人。先遣侍者。以滿缽水呈之。尊者睹之。
即以一針投之而進。忻然契會。後至迦毗羅國。彼有長者。
曰梵摩淨德。財極富饒。而有二子。一名羅羅琰。
二名羅羅多。長者園樹生大耳如菌。味甚香美。
唯長者與羅羅多。取而食之。取巳復生。自余親屬。
皆不能見。時羅羅多。乃說偈曰。

此樹生奇耳
食以不枯槁
智者解此因
當師其至道。

時迦那提婆曰。如來記。卻後第二五百年。有大菩薩。
因耳解脫。即至淨德舍。忽見尊者。心生珍敬。
求聞樹耳之緣。尊者曰。汝向來嘗飯一比丘否。長者曰。
有一沙門。久曾勤供。近巳滅度。墳塔仍存。
尊者謂羅羅多曰。豈非能供侍彼比丘者乎。曰誠如所論。尊者曰。
汝與此子心同勤敬。汝家親屬。嘗蘊慢心。不能得食。
彼比丘雖持戒多聞。真理未達。壽命既盡。來償宿因。
彼之比丘。生為樹耳。父子得食。故當酬報。
尊者問長者曰。汝年多少。曰我今七十九。提婆即以偈曰。

入道不通理
覆身還信施
汝年八十一
此樹不生耳。

長者聞偈。彌加嘆伏。曰。我今衰老。不克事師。
願舍次子。依師出家。尊者曰。惟符佛記。今是其人。
即與披剃受具。隨侍。游化。至巴連弗城。聞諸外道慾障佛法。
尊者入彼眾中。外道問曰。汝何不前。尊者曰。汝何不後。
彼曰。汝似賤人。尊者曰。汝似良人。彼曰汝解何法。
尊者曰。我百不解。彼曰。我欲得佛。尊者曰。何者是佛。
彼曰我合得佛。尊者曰。既道我得。汝實不得。彼曰。
我既不得。汝云何得。尊者曰。汝有我故。所以不得。
我無我故。所以言得。彼詞既屈。乃問尊者曰。汝名何等。
尊者曰。我名迦那提婆。既而夙聞尊者之名。悔遏致謝。
尊者乃告羅羅多曰。如來以大法眼藏。密付迦葉。
展轉囑累。而至於吾。吾今付汝。汝善護持。流演將來。
無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

本對傳法人
為說解脫理
於法實無證
無終亦無始。

偈巳。入奮迅三昧。身放大光而歸寂滅。
眾起寶塔而供類之。即前漢文帝朝也。



15. - Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà (Kanadeva)

Cuối thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.
 


Ngài dòng Tỳ-Xá-Ly ở Nam-Ấn. Thuở nhỏ Ngài bẩm tánh thông minh,biện tài vô ngại, Ban sơ Ngài học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện. Khi Tổ Long-Thọ đến nước nầy, Ngài tìm đến yết kiến. Tổ Long-Thọ muốn thử Ngài,sai đồ đệ múc một thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi qua lấy cây kim bỏ vào, rồi thẳng đến yết kiến Tổ.

Thầy trò gặp nhau vui vẻ lãnh hội, khi Tổ Long-Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, Ngài thầm ngộ yếu chỉ. Ngài theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn.

Sau khi đắc pháp, Ngài vân du khắp nơi, lần lượt sang nước Ca-Tỳ-La để giáo hóa.Trong nước nầy có ông trưởng giả tên Tịnh-Đức sanh được hai người con trai, người cả tên La-Hầu-La-Điểm,người thứ tên La-Hầu-La-Đa. Ông hằng ngày chỉ săn sóc vườn tược. Hôm nọ,một cây trong vườn nẩy sanh thứ nấm lạ, ông nhổ về ăn thử, thực ngon lành. Song chỉ ông và người con thứ hằng ngày đều nhổ được nấm ăn,ngoài ra không ai nhổ được. ông bảo con thứ: <Nấm cây nầy chỉ ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường.Ước gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này>. La-Hầu La-Đa nói kệ:

Thử mộc sanh kỳ nhĩ,
Ngã thực bất khô khao,
Trí giả giải thử nhơn,
Ngã hồi hướng Phật đạo .

Dịch :

Cây nầy sanh nấm lạ,
Con ăn rất ngon lành,
Người trí giải nhơn nầy,
Con xin theo Phật đạo .

Chợt gặp Bồ-Tát Đề-Bà đến nhà,cha con ông Tịnh Đức vui mừng đem việc nầy ra hỏi.
Ngài dạy :-Khi xưa lúc ông hai mươi tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng,tâm không thấu lý,luống nhận sự cúng dường của ông. Song vị Tỳ-kheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi sa vào đường ác,vẫn phải làm cây sanh nấm nầy để trả nợ cho ông.
Xưa khi vị Tỳ-kheo ấy đến nhà ông,trong nhà chỉ có ông và người con thứ nầy thành kính cúng dường,còn bao nhiêu người đều không vui. Vì thế,nên nấm hiện nay chỉ hai cha con ông được hưởng.
Ngài lại bảo: -Ông nay được bao nhiêu tuổi ?
 Trưởng giả thưa: -Tôi được 79 tuổi.

Ngài nói kệ :

 
Nhập đạo bất thông lý,
 Phục thân hoàn tín thí,
Nhữ niên bát thập nhất,
Thử mộc diệc vô nhĩ.

Dịch :

Vào đạo không thông lý,
Hoàn thân đền tín thí,
Trưởng giả tuổi tám mốt,
Cây nầy không sanh nấm.

Ông trưởng giả nghe nói xong,biết rõ duyên trước càng thêm thán phục, Ông thưa :-Tôi già yếu tuy muốn xuất gia e không kham theo thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo,tôi xin cho nó theo làm thị giả cho thầy,mong thầy dung nạp. Ngài hoan hỷ chấp nhận La-Hầu-La-Đa xuất gia và triệu tập các vị thánh tăng đến truyền giới.

Ngài du hóa đến nước Ba-Liên-Phất gặp lúc ngoại đạo hưng thịnh Phật pháp lu mờ. Ngài đem hết khả năng chuyển hóa ngoại đạo trở về quy y Tam-Bảo,khiến xứ nầy Phật pháp hưng thịnh lại.

Khi già yếu, Ngài gọi La-Hầu-La-Đa đến phó chúc pháp nhãn tạng và dặn dò đừng để đoạn diệt. Kế nói kệ :

Bổn đối truyền pháp nhơn,
Vị thuyết giải thoát lý,
Ư pháp thật vô chứng,
Vô chung diệc vô thủy.

Dịch :

Xưa đối người truyền pháp,
Vì nói lý giải thoát,
Nơi pháp thật không chứng,
Không chung cũng không thủy.

Dặn dò xong,Ngài nhập định ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-Hầu-La-Đa và đồ chúng xây tháp cúng dường.

Ngài là Bồ-Tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại-Thừa. Những tác phẩm Ngài trước thuật :

1.-Bách luận,
2.-Bách tự luận,
3.- Đại trượng phu luận,
4.-Đề-Bà Bồ-Tát phá Lăng-Già kinh trung ngoại đạo tiểu-thừa tứ tông luận,
5.- Đề-Bà Bồ-Tát thích Lăng-Già kinh trung ngoại đạo tiểu-thừa Niết-bàn luận…

Những bộ luận trên nổi tiếng nhất là bộ Bách-luận và Đại-Trượng-Phu luận .
 


(xem tiếp Tổ thứ mười sáu)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 03:45:01 am »

(tiếp theo)

第十六祖羅羅多尊者

迦毗羅國人也。

行化至室羅筏城。有河名曰金水。見五佛影。乃曰。此河之源。
凡五百里。僧伽難提居於彼處。如來志一千年後。
當紹聖位。語巳溯流而上。至一大山。

石窟中僧伽難提安然在定。尊者伺之曰。汝身定邪。心定邪。難提曰。
身心俱定。尊者曰。身心俱定。何有出入。曰雖有出入。
不失定相。如金在井。如金出井。世相去來。金體常寂。
尊者曰。水金在井。若金出井。金無動靜。何物出入。
曰言金動靜。何物出入。言金出入。金非動靜。尊者曰。
若金在井。出者何金。若金出井。在者何物。曰金若出井。

在者非金。金若在井。出者非物。尊者曰。此義不然。
曰彼理非著。尊者曰。此義當墮。曰彼義不成。尊者曰。
彼義不成。我義成矣。曰我義雖成。法非我故。尊者曰。
我義巳成。我無我故。曰我無我故。復成何義。尊者曰。
我無我故。成於汝義。曰仁者師於何聖。得是無我。尊者曰。
我師迦那提婆。證是無我。難提偈曰。

稽首提婆尊
而出於仁者
仁者無我故
我欲師仁者。

羅羅多以偈答曰。

我巳無我故
汝須見我我
汝若師我故
知我非我我。

難提心意豁然。願師度脫。胡跪而說偈曰。
三界一明燈迥光而照我十方悉開朗如日虛空住我得遇大聖願依師解脫志誠頭面禮唯垂賜納受。
尊者曰。汝心解脫。自性清淨。語巳即以右手持金缽。
舉至梵宮。取彼香飯。將齋大眾。而大眾慮金飯少。
心各生厭。不得就食。尊者曰。非我之咎。
即命僧伽難提分坐同食。眾復訝之。尊者曰。汝不得食。由心不了故。
當知與吾分座同餐者。即過去婆羅樹王如來也。
愍物降跡。汝輩亦莊嚴劫中。巳至三果。未證無漏者也。
眾曰。我師神力斯可信矣。彼云過去佛者。即切。疑焉。
僧伽難提知眾生慢。乃曰。自雙林示滅。八百餘年。

人無至信。正念輕微。不敬真如。唯愛神力。
言訖以右手漸展入地。至金剛輪際。取甘露水。以琉璃器。
持至會所。大眾即時欽慕作禮悔過。

於是尊者告僧伽難提曰。如來以正法眼藏。付囑迦葉。次第傳授。而至於吾。
吾今付汝。汝可護持。流布將來。無令斷絕。偈曰。

於法實無證
不取亦不離
法非有無相
內外云何起。

僧伽難提聞巳。即於座前以偈贊曰。

善哉大聖者
心明如日月
一光照世界
暗魔無不滅。

付法巳。安座示滅。眾奉全身起塔。
即前漢武帝朝也.



16. -Tổ La-Hầu-La-Đa (Rahulata)

Đầu thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn .

Ngài dòng Phạm-Ma ở nước Ca-Tỳ-La, Thuở nhỏ đã có sẵn lòng mộ đạo. Khi lớn do cơ duyên trong vườn có cây mọc nấm, Tổ Đề-Bà giải thích nhơn do,mà Ngài được xuất gia. Sau khi được truyền tâm ấn,Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa nhơn gian,lần lượt đến phía Nam thành Thất-La-Phiệt gặp sông Kim-Thủy. Ngài bảo chúng :

-Các ngươi biết chăng ? Vừa thấy bóng năm đức Phật hiện dưới dòng sông, ta lấy bát mút nước nếm có mùi vị lạ, ngược dòng sông nầy chừng năm trăm dặm sẽ có bực chí nhơn ở, hiệu là Tăng-Già-Nan-Đề.

Ngài bèn dẫn chúng theo ven bờ sông trở lên,quả nhiên thấy Nan-Đề đang ngồi thiền trong thất đá.Ngài và đồ chúngdừng lại xem,chờ đến bảy ngày Nan-Đề mới xuất định.

Ngài hỏi Nan-Đề: -Thân ông định hay tâm ông định ?

Nan-Đề đáp: -Thân tâm đều định.
 –Thân tâm đều định sao có xuất nhập ?
–Tuy có xuất nhập mà không mất tướng định,như vàng ở trong giếng,vàng ra ngoài giếng,thể vàng vẫn yên lặng.
-Nếu vàng ở trong giếng,vàng ra ngoài giếng,thể vàng không động tịnh,thì vật gì ra vào ?
 -<Nơi vàng không động tịnh thì vật gì ra vào> ? Đã thừa nhận vàng ra vào mà thể vàng không động tịnh.
-Nếu vàng ở trong giếng thì ra là vật gì ?
–Vàng,nếu ra ngoài thì ở trong giếng không phải vàng,Vàng nếu ở trong giếng thì ra không phải vật.
 –Nghĩa nầy không đúng.
 –Lý kia chẳng nhằm.
–Nghĩa nầy đã ngã.
–Nghĩa kia chẳng thành.
–Nghĩa kia chẳng thành mà nghĩa của ta thành.
 –Nghĩa ta tuy thành mà pháp không có ta.
–Nghĩa ta đã thành vì ta mà không ta.
 –Ta mà không ta lại thành nghĩa gì ?
 –Vì ta không ta nên thành nghĩa của ngươi.
 –Nhơn giả thờ vị thánh nào mà được <không ta> ấy ?
 -Thầy ta là Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà chứng được <không ta>.

Nan-Đề tán thán :
-Cúi đầu lễ Đề-Bà,người tạo thành nhơn giả. Vì nhơn giả <không ta>, tôi muốn thờ nhơn giả.
 Ngài bảo :
 -Vì ta đã<không ta>, ngươi cần thấy ta ta. Ngươi nếu thờ nơi ta, biết ta chẳng ta ta.

Nan-Đề tâm được rỗng rang liền đảnh lễ nói kệ :

Tam giới nhất minh đăng,
 Hồi quang nhi chiếu ngã,
Thập phương tất khai lãng,
Như nhật hư không trụ.
Dịch :

Ba cõi một ngọn đèn,
Ánh sáng soi chiếu con,
Mười phương đều xán lạn,
Như mặt trời trong không.

Nan-Đề nói kệ xong,lại đảnh lễ cầu xin thế độ. Ngài bảo:
 -Tâm ngươi tự tại chẳng lệ thuộc vào ta,cần gì nương nhờ mà cầu giải thoát. Một hôm, Ngài gọi Nan-Đề đến bảo :
-Nay ta đã già không còn ở đời bao lâu, đại pháp nhãn tạng của Như-Lai trao lại cho ngươi. Nghe ta nói kệ :

Ư pháp thật vô chứng,
Bất thủ diệc bất ly,
Pháp phi hữu vô tướng,
Nội ngoại vân hà khởi.

Dịch :

Nơi pháp thật không chứng,
Chẳng giữ cũng chẳng lìa,
Pháp chẳng tướng có không,
Trong ngoài do đâu khởi.

Nan-Đề nghe kệ xong càng thêm cung kính, nói kệ tán thán :

Thiện tai đại thánh giả,
Tâm minh du nhật nguyệt,
Nhất quang chiếu thế giới,
Ám ma vô bất diệt.

Dịch :

Lành thay ! bậc đại thánh,
Tâm sáng như nhật nguyệt,
Ánh sáng chiếu thế giới,
Ma tối diệt hết sạch.

Ngài ngồi trên tòa lặng lẽ thị tịch. Bốn chúng xây tháp cúng dường .
 

(xem tiếp Tổ thứ mười bảy)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 03:53:32 am »

(tiếp theo)

第十七祖僧伽難提尊者


室羅筏城寶莊嚴王子也。

生而能言。常贊佛事。七歲即厭世樂。
以偈告於父母曰。

稽首大慈父
和南骨血母
我今欲出家
幸願哀愍故。


父母聞偈。固止之。遂誓曰。我今不食。自取命終。
乃聽宮內出家。命沙門禪利多就宮傳導。經十九年。
尊者每自念曰。身居王宮。胡為出家。一夕天光下燭。
見一大路坦平。徐行數里。至一大山。下有石窟焉。
乃宴寂於中。父既失子。即擯禪利多。訪尋之。不知所在。
尊者後游摩提國。忽有微風襲眾。清涼休適。眾不知其然。
尊者曰。此道德之風也。當有聖者出世。嗣續祖燈乎。
言訖以神力攝諸大眾。登一高峰名寶落迦。尊者曰。
此山頂有紫云如蓋。聖人居此矣。尊者見一童子。
持圓鑑直造尊者前。尊者問汝幾歲耶。曰我當百歲。
尊者曰。汝年尚幼。何言百歲。曰我不會理。正當百歲。
尊者曰。汝善機耶。曰佛言。

若人生百歲不解諸佛機未若生一日而得決了之。

師曰。汝持鏡者。意何所明。答曰。

諸佛大圓鏡
內外無瑕翳
兩人同得見
心眼皆相似。

父母奇之。舍令出家。尊者即與披剃受具。
名伽耶舍多。時風吹銅鳴聲。尊者問曰。鈴鳴耶。風鳴耶。伽耶曰。
非風鈴鳴。我心鈴耳。尊者曰。非風鈴鳴。我心誰爾。
伽耶曰。俱寂靜故。非三昧也。尊者曰。善哉繼吾嗣者。
非子而誰。即告曰。如來以大法眼藏。付囑迦葉。
如是展轉。以至於吾。吾今付汝。汝善護持。流布將來。
勿令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

心地本無生
因地從緣起
緣種不相妨
花果亦復爾。

付法巳。攀樹而化。眾議曰。尊者樹下歸寂。
其垂蔭後裔乎。將奉全身葬子高原。而眾力不能舉。
即就樹起塔。當前漢昭帝朝矣。


17. -Tổ Tăng-Già-Nan-Đề (Sanghanandi)

Giữa thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn.
 

Ngài là hoàng-tử con vua Bảo-Trang-Nghiêm ở thành Thất-La-Phiệt. Ngài sanh chưa bao lâu đã biết nói,mà thường nói việc Phật pháp. Năm bảy tuổi, Ngài chán thú vui ở đời,cầu xin xuất gia. Ngài nói kệ xin cha mẹ :

Khể thủ đại từ phụ,
Hòa nam cốt huyết mẫu,
Ngã kim dục xuât gia,
Hạnh nguyện ai mẫn cố .

Dịch :

Cúi đầu lễ cha lành,
Nép mình lạy mẹ hiền,
Nay con muốn xuất gia,
Xin thương xót nhận cho .
Cha mẹ cố khuyên giải không cho. Ngài phải nhịn ăn nài nỉ cho kỳ được. Đối cùng cha mẹ thấy chí Ngài quá mạnh không sao ngăn nổi,nên cho xuất gia với điều kiện ở một ngôi nhà riêng trong hoàng cung. Vua thỉnh Sa-Môn Thiền-Lợi-Đa về dạy Phật pháp cho Ngài. Từ đây Ngài được pháp danh là Tăng-Già Nan-Đề. Ngài ở trong hoàng cung chín năm tu hành,mới được thọ giới cụ túc. Một hôm,Ngài tự cảnh tỉnh : -Ta đã thọ giới cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục nầy sao ? Chợt một buổi chiều trời quang mây tạnh, Ngài nhìn thấy một con đường bằng phẳng, ở xa đầu kia lố dạng một ngọn núi xanh. Ngài liền cất bước nhắm hòn núi thẳng tiến. Ngài đi đến dưới núi mà trời chưa tối. Tự Ngài tìm được thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm ấy Ngài 26 tuổi.

Sáng hôm sau,vua nghe mất Thái-tử cho người tìm kiếm khắp nơi không được. Bực mình,vua đuổi Sa-Môn Thiền-Lợi-Đa ra khỏi thành. Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm,mới có cơ duyên gặp Tổ La-Hầu-La-Đa được truyền chánh pháp. Sau khi đắc pháp,Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc quần sanh.Một hôm,Ngài bảo đồ chúng :-

-Thầy ta La-Hầu-La-Đa thường nói nước Ma-Đề sẽ ra đời một vị thánh tên Già-Da-Xá-Đa nối ta truyền pháp. Nay ta và các ngươi sang nước ấy tìm. Ngài liền dẫn đồ chúng du hóa nước Ma-Đề. Đang đi trong nước nầy,bỗng có một luồng gió mát lành từ phương tây thổi đến làm mát khỏe toàn chúng, Ngài bảo chúng : -Đây là đạo đức phong,ba ngàn dặm về phía tây ắt gặp thánh nhơn. Thầy trò đi đến một hòn núi nhìn lên đảnh có áng mây năm sắc.

Ngài bảo chúng : -Trên đảnh núi có mây tía như cái lọng ắt là chỗ thánh nhơn ở. Lên đến đảnh,quả nhiên thấy một mái nhà tranh nằm bên cạnh núi. Một đứa bé cầm gương tròn, đến trước bái Ngài. Ngài hỏi : -Ngươi bao nhiêu tuổi ?

Đứa bé thưa :

-Trăm tuổi.
–Ngươi còn bé mà sao trăm tuổi ?
–Tôi chẳng hiểu sao,chính tôi một trăm tuổi.
–Ngươi có căn cơ lành chăng ?

Phật đâu không nói kệ :
<Nếu người sanh trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật,chẳng bằng sanh một ngày,mà được hiểu rành rõ>.
 –Ngươi cầm gương tròn ý muốn làm gì ?

Đứa bé nói kệ :

Chư Phật đại viên giám,
Nội ngoại vô hà ế,
Lưỡng nhơn đồng đắc kiến,
Tâm nhãn giai tương tợ.

Dịch :

Chư Phật gương tròn lớn,
Trong ngoài không vết che,
Hai người đồng được thấy,
Tâm mắt đều giống nhau .

Cha mẹ thấy đứa bé đối đáp hợp đạo như thế, đồng ý cho Ngài làm thị giả,Ngài nhận đứa bé dẫn về tịnh-xá cạo tóc thọ giới,cho hiệu là Già-Da-Xá-Đa.

Một hôm,gió thổi cái linh treo trên điện Phật khua động, Ngài hỏi Xá-Đa: -Linh kêu hay gió kêu ?
 –Xá-Đa thưa:
 -Chẳng phải linh kêu,chẳng phải gió kêu,mà tâm con kêu.
–Tâm ngươi là cái gì ?
-Đều lặng lẽ.
–Hay thay! ngươi khéo hội lý Phật,nên nói pháp yếu,nối đạo cho ta,chẳng phải ngươi còn ai ? Ngài liền nói kệ

Tâm địa bổn vô sanh,
Nhơn địa tùng duyên khởi,
Duyên chủng bất tương phòng,
 Hoa quả diệc phục nhi .

Dịch :

Đất tâm vốn không sanh,
Nhơn đất từ duyên khởi,
Duyên giống chẳng ngại nhau,
Hoa trái cũng như thế .

Nói kệ xong, Ngài nắm cành cây mà hóa.
 Đồ chúng bàn nhau:
< Thầy ta diệt độ ở dưới tàng cây, cũng là điềm che mát cho kẻ sau >.

Liền làm lễ hỏa táng tại đây .
 
 



(xem tiếp Tổ thứ mười tám)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 04:00:34 am »

(tiếp theo)

第十八祖伽耶舍多尊者

摩提國人也。姓郁頭藍。

父天蓋。母方聖。夢大神持鑑。因而有娠。凡七日而誕。
體瑩如琉璃。未嘗洗沐。自然香潔。幼好閑靜。語非常童。
持鑑出遊。遇難提尊者。至大月氏國。

見一婆羅門舍有異氣。尊者將入彼舍。舍主鳩摩羅多問曰。

是何從眾。曰佛弟子。彼聞佛號。心神竦然。即時閉戶。

尊者有頃。自扣其扉。羅多曰。此舍無人。尊者曰。答無者誰。
羅多聞語。知是異人。遽開關延接。尊者曰。者如來記。
吾滅後千年。有大士出現於月氏國。紹隆玄化。
今汝值吾。應斯嘉運。於是鳩摩羅多。發宿命智。投滅。出家。
披剃受具訖。乃告之曰。如來以正法眼藏。付囑迦葉。
次第傳授。而至於吾。吾今付汝。汝善護持。流布將來。
無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

有種有心地
因緣能發萌
於緣不相礙
當生生不生。

尊者付法巳。踴身虛空。現十八變。自焚其軀。

以舍利起塔。即成帝朝也。


18. -Tổ Già-Da-Xá-Đa (Gayasata)

Cuối thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn.


Ngài họ Uất-Đầu-Lam ở nước Ma-Đề, cha hiệu Thiên-Cái, mẹ là Phương-Thánh. Bà Phương-Thánh thọ thai,một đêm mộng thấy có người cầm cái gương báu đến nói: <Tôi đến >. Bà chợt tỉnh giấc,nghe toàn thân nhẹ nhàn thanh thản,khác hơn ngày thường. Trong nhà có mùi hương lạ,vài lằn hào quang xuất hiện. Bảy ngày sau, Bà sanh ra Ngài.

Thân Ngài trong sáng giống như lưu-ly. Ngài thích chỗ vắng vẻ,nói ra những lời siêu việt. Nhà cha mẹ Ngài ở trên núi Bảo-Lạc-Ca. Sau khi Ngài ra đời,ngôi nhà nầy luôn luôn có áng mây tía che đậy trên không. Tổ Tăng-Già-Nan-Đề nhơn thấy áng mây ấy,tìm đến gặp Ngài. Từ đó, Ngài theo làm đệ tử Tổ

Về sau, Ngài được Tổ truyền tâm ấn và thống lãnh đồ chúng. Tùy duyên, Ngài đi vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi ích cho quần sanh. Khi tuổi đã già, Ngài du hóa đến nước Nguyệt-Chí. Trong nước nầy có người dòng Bà-La-Môn

Tên Cưu-Ma-La-Đa tuổi được 30 tu theo ngoại đạo,chủ thuyết tự nhiên. Ông có nuôi một con chó,mỗi khi ăn xong,
con chó ra hành lang dưới tấm rèm nằm. Có những khi mưa gió ướt cả mình,mà nó vẫn nằm đó. Người nhà sợ nó lạnhđuổi đi chỗ khác,rồi nó cũng trở lại chỗ đó nằm. Ông Cưu-Ma-La-Đa lấy làm lạ, đem việc đó hỏi thầy ông, nhưng không giải được điều gì. Ông mong có dịp gặp những bậc tu hành đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.

Ngài cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn nầy,bỗng thấy khí đại thừa xông lên. Ngài dừng lại bảo chúng:

-Khí nầy nếu vòng tròn như khoen đeo tai là có Bồ-Tát bên cạnh. Nay khí nầy tương tợ vòng tròn ắt có thánh nhơn gần đây.

Thầy trò đi đến một đỗi,bỗng có người Bà-la-môn đến hỏi thị giả:

-Thầy đây là người gì ?>

Thị giả đáp: <Là đệ tử Phật>.

Người ấy liền chạy thẳng vào nhà đóng cửa lại. Ngài đi theo đến nơi gõ cửa. Trong nhà nói vọng ra rằng:

-Nhà nầy không có người.

–Ngài hỏi:

-Đáp không người đó là ai ?

Cưu-Ma-La-Đa nghe nói bèn có vẻ lạ, nghi là bậc đạo hạnh bèn mở cửa. Ra thấy Ngài, ông chào và thỉnh ngồi ghế giữa, đoạn đem nghi vấn về con chó ra hỏi.

Ngài giải thích:

-Con chó nầy là cha của ông, bởi có chút ít nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn đính vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người chết,chưa gặp ông để trối lại,vì còn tiếc của nầy nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào được, ắt nó sẽ bỏ đi.

Cưu-Ma-La-Đa liền cho người đào chỗ con chó nằm,quả nhiên được hũ vàng đúng như lời Ngài nói. Ông hết lòng kính phục phát nguyện xuất gia.

 Ngài hoan hỷ chấp nhận làm lễ xuất gia thọ giới và cho làm thị giả. Thấy cơ duyên đã mãn, Ngài kêu Cưu-Ma-La-Đa đến dặn dò: -Xưa Như-Lai đem đại pháp nhãn trao cho Tổ Ca-Diếp truyền lần đến ta, nay ta truyền lại cho ngươi. Ngươi nghe ta dạy:

Hữu chủng hữu tâm địa,
Nhơn duyên năng phát manh,
Ư duyên bất tương ngại,
Đương sanh sanh bất sanh.

Dịch:

Có giống có đất tâm,
Nhơn duyên hay nẩy mầm,
Đối duyên chẳng ngại nhau,
Chính sanh, sanh chẳng sanh..

Cưu-Ma-La-Đa cung kính vâng dạy, đảnh lễ thọ lãnh. Ngài dùng mười tám phép thần biến rồi vào viên tịch. Đồ chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường .
 
 
(xem tiếp Tổ thứ mười chín)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, anhlam, Ngoisaobiec, mavuong, dieunha, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Giêng 16, 2011, 04:03:21 am gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 01:59:29 pm »

(tiếp theo)

第十九祖鳩摩羅多尊者


大月氏國。婆羅門之子也。

昔為自在天人。見菩薩瓔珞。忽起愛心。墮生忉利。
聞帝釋說法。復生梵天。以根利故。善談法要。
諸天尊為導師。遂降月氏。後至中天竺國。有大士名阇夜多。
問曰。我家父母。素重三寶。而嘗嬰疾瘵。凡所營作。
皆不如意。而我鄰家久為旃陀羅行。而身常勇健。
所作和合。彼何幸而我何辜。尊者曰。何足疑乎。且善惡之報。
有三世焉。凡人但見仁夭暴壽。逆吉義凶。
便為亡因果。虛罪福。殊不知影響相隨。毫釐靡忒。
縱經百千萬劫。亦不磨滅。時阇耶多聞是語巳。頓釋所疑。尊者曰。
汝雖巳信三業。而未明業從惑生。惑從識有。
識依不覺。不覺依心。心本清淨。無生滅。無造作。無報應。
無勝負。寂寂然。靈靈然。汝若入此法門。可與諸佛同矣。
一切善惡。有為無為。皆如夢幻。阇夜多承言領旨。
即發宿慧。懇求出家。既受具。尊者告曰。吾今寂滅時至。
如來以正法眼藏。囑授迦葉。展轉相付。而至於吾。
吾今付汝。汝善護持。流布將來。無令斷絕。汝受吾教。
聽吾偈曰。

性上本無生
為對求人說
於法既無得
何懷決不決。

師曰。此是妙音如來。見性清淨之句。汝宜傳佈。言訖。

即於座上。放大光明。照曜四眾。而入寂滅。阇夜多。

起塔崇奉。即王莽時也。


19. -Tổ Cưu-Ma-La-Đa (Kumarata)

Đầu thế kỷ thứ tám sau Phật Niết-bàn.
 

Ngài dòng Bà-la-môn ở nước Nguyệt-Chí. Gia đình Ngài trước kia giàu có, song cha Ngài vì bịnh tham tiếc chỉ một bề bo bo giữ của. Nhơn việc con chó nằm ngoài rèm,gặp Tổ Già-Da-Xá-Đa giải nghi, Ngài phát tâm theo đạo Phật,
xuất gia thọ giới. Sau khi được được Tố Xá-Đa phó chúc và truyền tâm pháp, Ngài đi vân du khắp nơi để hoằng pháp lợi sanh. Ngài đi giáo hóa đến miền Trung-Ấn,trên đường gặp một du khách tên Xà-Dạ-Đa đến lễ bái Ngài, Ông hỏi:

-Nhà con cha mẹ đều kính Tam-Bảo tu hành đúng pháp, mà sao nhiều bệnh hoạn, làm việc gì thất bại việc ấy. Hàng xóm gần nhà con,có người hung bạo giết hại làm ác càng ngày càng nhiều, mà thân thể khỏe mạnh, ra làm việc đều được như ý. Như vậy, nhơn quả nghiệp báo đâu không phải nói suông ư ? Con rất nghi lẽ nầy, mong Ngài giải nghi.

Ngài bảo:

-Phật nói nghiệp báo thông cả ba đời, bởi do đời trước tạo nghiệp lành nên đời nầy hưởng quả lành. Dù đời nầy có làm ác thì quả ác sẽ chịu ở đời sau. Cho nên, có người đời nầy tuy làm lành mà đời nầy không hưởng được quả lành, vì nghiệp ác trước mạnh hơn. Có người đời nầy tuy làm ác mà không chịu quả ác, vì nghiệp lành trước mạnh hơn. Nếu do đời nầy không được quả lành, rồi lại tạo ác, thì đời sau càng sa vào đường ác. Nếu do đời nầy được quả lành, rồi lại tạo lành, thì đời sau càng tiến trên đường lành. Lại, có người đời trước làm lành được nửa đời, đổi sang làm ác, đến đời nầy nửa đời trước hưởng phước, nửa đời sau mắc họa.

Hiện nay cha mẹ ông và người hàng xóm lẽ báo ứng thiện ác cũng giống như thế, bởi nghiệp đời trước chiêu cảm nên vậy. Đâu thể căn cứ trong hiện đời mà hiểu được ?

-Dạ-Đa nghe giải liền tan hết nghi ngờ.

Ngài dạy thêm:

-Tuy ông đã tin nghiệp ba đời, mà chưa rõ nghiệp từ hoặc sanh, hoặc nhơn thức có, thức y nơi bất giác, bất giác y nơi tâm. Song tâm vốn thanh tịnh, không sanh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn kém, lặng lẽ linh thông.Ông nếu vào pháp môn nầy có thể đồng với chư Phật, tất cả thiện, ác,hữu vi,vô vi, đều như mộng huyễn. Dạ-Đa nghe được lời nầy liền phát huệ đời trước,bèn xin xuất gia.

Ngài hỏi:
 -Ông người xứ nào ? Cha mẹ còn chăng ? Nếu thật tâm cầu đạo, nên trở về nhà xin với cha mẹ, xin xong trở lại cũng chẳng muộn.

Dạ-Đa thưa:
 -Con là người Bắc-Ấn,cách đây hơn ba ngàn dặm, đâu thể trở lại được. Xin thỉnh Ngài đến xứ con, cho gia đình con cúng dường và nhơn đó con được xuất gia. Ngài bằng lòng, thầy trò và đồ chúng đồng sang Bắc-Ấn.

Đến nhà, Dạ-Đa xin phép cha mẹ được xuất gia. Ngài làm lễ xuất gia và truyền giới cụ túc cho Dạ-Đa tại một ngôi tháp cổ, nơi quê hương của Dạ-Đa. Một hôm, Ngài gọi Dạ-Đa đến dặn dò:

-Xưa Phật ghi rằng ngươi sẽ làm Tổ thứ hai mươi,nay ta trao pháp nhãn tạng cho ngươi, ngươi khéo giữ gìn và truyền bá.

Nghe ta nói kệ :-

Tánh thượng bổn vô sanh,
Vị đối cầu nhơn thuyết,
Ư pháp ký vô đắc,
Hà hoài quyết bất quyết.

 Dịch:

Trên tánh vốn không sanh,
Vì đối người cầu nói,
Nơi pháp đã không được,
Đâu cần giải chẳng giải.

-Lại dặn:

-Kệ nầy là lời diệu, do Như-Lai thấy tánh thanh tịnh nói ra, ngươi nên vâng giữ.

Dạ-Đa cung kính đảnh lễ vâng dạy. Ngài ngồi ngay trên tòa chấp tay hở ra như hoa sen nở, phóng hào quang sáng suốt soi khắp trong chúng, rồi yên lặng thị tịch.Toàn chúng xây tháp phụng thờ.

(xem tiếp Tổ thứ hai mươi)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 02:05:52 pm »

(tiếp theo)


第二十祖阇夜多尊者

北天竺國人也。智慧淵沖。

化導無量。後至羅閱城。數揚頓教。彼有學眾。唯尚辯論。
為之首者。名婆修槃頭。常一食不臥。六時禮佛。
清淨無慾。為眾所歸。尊者將欲度之。先問彼眾曰。
此遍行頭陀。能修梵行。可得佛道乎。眾曰。道由行證。
必獲聖果。尊者曰。今此頭陀。與道遠矣。不久當墮。眾曰。
尊者有何德行。而譏我師。尊者曰。我不求道。亦不顛倒。
我不禮拜。亦不輕慢。我不長坐。亦不懈怠。我不一食。
亦不雜食。我不知足。亦不貪慾。心無所希。名之曰道。
時遍行聞巳。發無漏智。歡喜讚歎尊者。而說偈曰。

稽首三昧尊
不求於佛道
不禮亦不慢
心不生顛倒
不坐不懈怠
但食無所好
雖慢而不遲
雖急而不躁
今我遇尊者
和南依師教。

尊者謂眾曰。會吾語否。吾所以然者。為其求道心切。
夫弦急即斷。故吾不讚。令其住安樂地。入於佛慧。
復告遍行頭陀曰。吾適對眾。抑挫仁者。得無惱於衷乎。
曰我憶唸過去劫前。生安樂國。師於智者月淨。記我。
當證斯陀含。時有大光明菩薩出世。我以老故。
策杖禮謁。師叱我曰。重子輕父。一何鄙哉。時我自謂無過。
請師示之。師曰。汝禮大光明菩薩。以杖倚壁畫佛面。
以此過慢。退失二果。我悔咎。以來聞諸惡言。
如風如響。惟願尊者大慈。以妙法垂誨。尊者曰。汝久殖德本。
當繼吾宗。如來以大法眼藏。密傳迦葉。次第囑授。
而至於吾。吾今付汝。汝善護持。流布將來。勿令斷絕。
汝受吾教。聽吾偈曰。

言下合無生
同於法界性
若能如是解
通達事理竟。

尊者付法巳。不起於座。奄然歸寂。阇維。收舍利起塔。
即漢明帝朝也。



20. -Tổ Xà-Dạ-Đa (Jayata)


Giữa thế kỷ thứ tám sau Phật Niết-bàn.

Ngài người Bắc-Ấn, trước đã sẵn lòng mến đạo, thông hiểu đạo lý. Nhơn du lịch miền Trung-Ấn gặp Tổ Cưu-Ma-La-Đa, Ngài nhờ giải nghi, rồi phát tâm xuất gia. Sau được truyền tâm ấn. Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa các nước,lần lượt đến thành La-Duyệt. Trong thành nầy hiện có số đông chúng tăng học đạo. Nghe tin Ngài đến,họ đua nhau đến yết kiến. Chúng đến trước nhất,người lãnh đạo là Bà-Tu-Bàn-Đầu. Ông nầy tu hành tinh tấn suốt ngày đêm không nằm và sáu thời lễ bái,mặc y vá, ăn một bữa,lòng đạm bạc không mong cầu. Đồ chúng nhơn đó rất kính trọng ông.

Ngài gọi đồ chúng bảo: -Người khổ hạnh tu hành thanh tịnh nầy (Bà-Tu-Bàn-Đầu) có thể được Phật đạo chăng ?

Chúng đáp: -Thượng nhơn nầy tu hành tinh tấn như thế,đâu không được đạo. Ngài bảo: -Người nầy cùng đạo xa vậy.
Dù khổ hạnh trải qua nhiều kiếp,chỉ giúp cho gốc vọng, đâu thể chứng đạo ?

Chúng hỏi: -Nhơn giả chứa đựng được pháp gì mà chê thầy tôi ?
 Ngài đáp: -Ta chẳng cầu đạo cũng chẳng điên đảo,ta chẳng lễ Phật cũng chẳng khinh mạn,ta chẳng ngồi mãi cũng chẳng lười biếng,ta chẳng biết đủ cũng chẳng tham cầu.

Bà-Tu-Bàn-Đầu nghe lời nầy vui vẻ nói bài kệ tán thán:

Khể thủ tam muội tôn,
Bất cầu ư Phật đạo,
Bất lễ diệc bất mạn,
Tâm bất sanh điên đảo,
Bất tọa bất giải đải,
Đãn thực vô sở hảo,
Tuy hoãn nhi bất trì,
Tuy cấp nhi bất tháo,
Ngã kim ngộ chí tôn,
Hòa nam y Phật giáo

Dịch:

Đảnh lễ tam muội lớn,
Chẳng cầu được Phật đạo,
Chẳng lễ cũng chẳng khinh,
Tâm chẳng sanh điên đảo,
Chẳng ngồi chẳng lười biếng,
Chỉ ăn không cần ngon,
Tuy hoãn mà không chậm,
Tuy gấp mà chẳng thô,
Nay con gặp chí tôn,
Cúi đầu vâng Phật dạy.

Ngài bảo chúng: -Người tu hạnh đầu đà nầy, bọn ngươi không thể bì kịp.Vì ông ấy kiếp trước tu hạnh bất khinh nên mới được như vậy.Vừa rồi,ta chê ông, bởi thấy ông đạo tâm tha thiết,sợ e như sợi đờn thẳng quá phải đứt nên ta không khen ông, muốn ông tiến đến chỗ vô sở đắc và dừng trụ nơi đất An-Lạc.

Ngài lại gọi Bàn-Đầu hỏi: -Ta nói trái ý ông, tâm ông được chẳng động chăng ?
 Bàn-Đầu thưa: -Đâu dám động tâm.Tôi nhớ bảy đời về trước sanh cõi An-Lạc,vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt-Tịnh làm thầy. Thầy Nguyệt-Tịnh dạy tôi: <Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả Tư-Đà-Hàm, nên siêng năng tinh tiến. Phàm tu hành như trèo lên cao, phải cố gắng tiến lần lên, không cho sụt xuống. Nếu lỡ có sụt, muốn trèo lên lại càng khó >.Lúc đó, tôi đã tám mươi tuổi, nương gậy mới có thể đi được.Khi ấy, gặp Bồ-Tát Đại-Quang-Minh ra đời, tôi muốn đến lễ Ngài, bèn đi đến tịnh-xá, lễ bái xong trở về.
Chợt gặp thầy Nguyệt-Tịnh quở trách tôi: <Dốt quá, tại sao ông lại khinh cha trọng con ? Hôm trước,ta thấy ông sắp được chứng quả, hôm nay đã mất>

Khi ấy, tôi tự cho là không có lỗi, nên không phục những lời quở ấy.Tôi cầu xin thầy Nguyệt-Tịnh chỉ lỗi cho tôi.Thầy Nguyệt-Tịnh dạy: - < Vừa rồi, ngươi đến đảnh lễ Bồ-Tát Đại-Quang tại sao lại dựng cây gậy vào mặt Phật vẽ trên vách,Ngươi do lỗi nầy nên sụt quả vị >.

Tôi nhớ kỹ lại, thật đúng như lời thầy Nguyệt-Tịnh quở.Từ đó về sau, phàm có nghe lời nào, chẳng dám không tin. Dù bị những lời chửi mắng vẫn coi như gió thổi ngoài tai. Huống là, nay Tôn-giả dùng chánh pháp chỉ dạy thì đâu dám phiền buồn. Cúi xin đấng đại từ thương xót đem đạo mầu chỉ dạy cho con.

Ngài liền dạy:

 -Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi nên truyền bá chớ để dứt mất.

Nghe ta nói kệ:

Ngôn hạ hiệp vô sanh,
Đồng ư pháp giới tánh,
Nhược năng như thị giải,
Thông đạt sự lý cánh .

Dịch:

Nói ra hợp vô sanh,
Đồng cùng tánh pháp giới,
Nếu hay hiểu như thế,
Suốt thông sự lý tột .

Bà-Tu-Bàn-Đầu lễ bái vâng lệnh. Ngài ngồi ngay trên tòa lặng lẽ qui tịch. Chúng hỏa táng thu xá-lợi xây tháp thờ .
 
(xem tiếp Tổ thứ hai mươi mốt)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Giêng 16, 2011, 02:08:08 pm gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 02:11:07 pm »

(tiếp theo)

第二十一祖婆修槃頭尊者


羅閱城人也。姓毗舍佉。

父光蓋。母字嚴一。家當而無子。父母禱於佛塔。
而求嗣焉。一夕母夢。吞明昧二珠。覺而有孕。經七日。
有一羅漢。名為賢眾。至其家。問曰。

我行四國土尋光到於此汝是誰居舍而感生聖子。
光蓋設禮。賢眾端坐受之。嚴一出拜。賢眾避席。
光蓋罔測其由。遂取一寶珠。跪獻賢眾。既受之。殊無遜謝。
光蓋不能忍。問曰。我是丈夫。致禮不顧。我妻何德。

尊者避之。賢眾曰。我受禮納珠。貴福汝爾。汝婦懷聖子。
生當為世明燈。故吾避之。非重女人也。賢眾又曰。

汝婦當生二子。一名婆修槃頭。則吾所尊者也。
二名芻尼[此云野鵲子]昔如來在雪山修道。芻尼巢於頂上。
佛既成道。芻尼受報。為那提國王。佛記曰。

汝至第二五百年。生羅閱城。毗舍佉家。與聖同胞。今無爽矣。
既生二子。尊者婆修槃頭。年至十五。禮光度羅漢出家。
感毗婆訶菩薩。與之受具。至那提國。彼王名常自在。
有二子。一名摩訶羅。次名摩拏羅。王問尊者曰。

羅閱城土風。與此何異。尊者曰。彼土曾三佛出世。
今王國有二師化導。曰二師者誰。尊者曰。佛記。第二五百年。
有一神力大士。出家繼聖。即王之次子也。吾雖德薄。
當預其志。王曰。誠如尊者所言。當舍此子作沙門。尊者曰。

善哉大王。能遵佛旨。後告之曰。如來以大法眼藏。
密傳迦葉。如是次第展轉。以至吾。吾今付汝。汝善護持。
流化將來。無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

泡幻同無礙
如何不了悟
達法在其中
非今亦非古。

尊者付法巳。凝然示寂。眾奉香大師焚其身。
收舍利建塔。即煬帝朝也。


21. -Tổ Bà-Tu-Bàn-Đầu (Vasubandhu)

Cuối thế kỷ thứ tám sau Phật Niết-bàn.
 

Ngài họ Tỳ-Xá-Khư ở nước La-Duyệt, cha hiệu Quang-Cái, mẹ là Nghiêm-Nhất. Nguyên gia đình ông Quang-Cái giàu có mà không con. Hai ông bà đồng đi lễ tháp Phật ở phía Bắc thành La-Duyệt để cầu con. Sau đó, bà mộng thấy nuốt hai hạt châu một sáng một tối. Kế bà biết mình có thai. Một hôm, có vị A-La-Hán hiệu Hiền-Chúng đến nhà. Ông Quang-Cái ra đảnh lễ. Đến lượt bà ra lễ, Tôn-giả Hiền-Chúng liền tránh qua một bên ra vẻ cung kính đáp lại.

Ông Quang-Cái lấy làm lạ hỏi:
-Tôi là trượng phu đảnh lễ Tôn-giả chẳng nhượng, tại sao vợ tôi là phụ nữ mà Tôn-giả lại kính nhượng ?

Tôn-giả Hiền-Chúng đáp:
-Bởi ông là phàm phu nên tôi nhận ông lễ, còn vợ ông đang mang thai Bồ-Tát là bậc pháp khí thượng thừa nên tôi cố tránh, không phải tôi trọng nữ khinh nam.

Ông Quang-Cái tạ lỗi thưa:
-Tôn-giả là bậc thánh nhơn hay biết việc chưa đến. Sau quả nhiên bà Nghiêm-Nhất sanh được hai người con trai một lượt. Người con lớn đặt tên là Bà-Tu-Bàn-Đầu tức là Ngài.

Thuở bé, Ngài ý chí siêu việt, đến 15 tuổi xin xuất gia với A-La-Hán Quang-Độ. Khi thọ giới được Bồ-Tát Tỳ-Bà-Ha truyền cho. Ngài mộ hạnh của Tổ Ca-Diếp nên tập tu theo hạnh đầu-đà. Lúc gặp Tổ Xà-Dạ-Đa kích khởi phát sanh đại huệ và được truyền pháp.

Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi, lần lượt đến nước Na-Đề. Vua Na-Đề tên là Thường-Tự-Tại, sanh được hai người con trai. Người con lớn là Ma-Ha-La đã 40 tuổi, người con thứ là Ma-Noa-La được 30 tuổi. Khi Ngài đến nước nầy, vua thỉnh vào cung cúng dường. Vua hỏi Ngài:

-Phong tục nước tôi chắc không bằng phong tục thuần mỹ ở thành La-Duyệt ? Ngài đáp:
-Ở thành La-Duyệt xưa kia có phước đức được ba đức Phật ra đời, ở nước nầy hiện có hai vị hiền sĩ làm phước báo.

Vua hỏi: -Hai vị hiền là ai ?

Ngài đáp: -Xưa Phật thọ ký rằng: < Gần một nghìn năm sau ta Niết-bàn, có một thần lực đại sĩ ra nối truyền chánh pháp tại nước Na-Đề tên là Ma-Noa-La >,là con thứ hai của bệ hạ.

Còn bần tăng tuy đức mỏng cũng đảm đang một vị vậy. Vua nghe hoan hỷ gọi thái-tử Ma-Noa-La đến, bạch với Ngài:

Con tôi đây đã được Phật thọ ký, cúi xin Tôn-giả nhận cho nó xuất gia.

Ngài bảo: -Vị hoàng tử nầy nếu không phải tôi làm thầy, sau nầy không ai độ được. Ngài liền triệu tập thánh chúng vào hoàng cung làm lễ xuất gia thọ giới cho Ma-Noa-La. Ma-Noa-La rất hoan hỷ được thọ lãnh giới pháp. Sau đó, Ngài dẫn Ma-Noa-La sang hóa đạo nước khác.

Một hôm, Ngài gọi Ma-Noa-La lại bảo:

 -Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai nay giao phó cho ngươi, ngươi phải gìn giữ truyền bá. Nghe ta nói kệ:

Bào huyễn đồng vô ngại,
Vân hà bất ngộ liễu,
Đạt pháp tại kỳ trung,
Phi kim diệc phi cổ.

Dịch:
 
Bọt huyễn đồng không ngại,
Tại sao chẳng liễu ngộ,
Đạt pháp ngay trong ấy,
Chẳng xưa cũng chẳng nay .

Truyền pháp xong, Ngài đang ngồi trên tòa, bỗng thân vượt lên hư không, ngồi yên trên ấy. Bốn chúng quỳ bạch:

< Chúng con muốn thờ xá-lợi, xin Tôn-giả cho chúng con được thiêu lấy xá-lợi >. Thân Ngài liền hạ xuống ngồi yên chổ cũ. Chúng thiêu lượm xá-lợi phụng thờ .
 


(xem tiếp Tổ thứ hai mươi hai)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Giêng 16, 2011, 02:13:18 pm gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 02:17:33 pm »

(tiếp theo)

第二十二祖摩拏羅尊者


那提國常自在王之子也。

年三十遇婆修尊者。至西印土。彼國王名得度。
即瞿曇族姓。歸依佛乘。勤行精進。一日於行道處。
現一小塔。欲取供養。眾莫能舉。

王即大會梵行禪觀咒術等三眾。皆莫能辦。尊者即為王廣說塔之所因。
今之所現。王福力之所致也。[阿育王塔。此不繁錄]王聞是說乃曰。
至聖難逢。世樂非久。即傳位太子。投祖出家。遂證四果。
尊者深加慰誨曰。汝居此國。善自度人。

今異域有大法器。吾當化之。曰師應跡十方。舉念當至。寧勞往耶。
尊者曰。然。時鶴勒那為彼國王寶印。說修多羅偈。忽曰。
祖師摩拏羅將至。時王與鶴勒那俱遙作禮。
尊者即辭得度比丘。往月氏國。受王與鶴勒那供養。
後鶴勒那問尊者曰。我止林間。巳經九白。

[印土以一年為一白]有弟子龍子者。幼而聰慧。我於三世推窮。莫知其本。尊者曰。
此子於往劫中。生妙善國婆羅門家。曾以梅檀。
施於佛宇。作槌橦鐘。受執聰敏。為眾欽仰。尊者曰。

我有無上法寶。汝當聽受。乃曰。如來以正法眼藏。傳授迦葉。
展轉次第。以至於吾。吾當授汝。汝善護持。流布將來。
無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

心隨萬境轉
轉處實能幽
隨流認得性
無喜復無憂。

摩拏羅付法巳。即從座踴身虛空。呈十八種變。
還本座跏趺而逝。鶴勒那與寶印王等。共奉香木茶毗。
收舍利起塔。即桓帝朝也。



22. -Tổ Ma-Noa-La (Manorhita)

Đầu thế kỷ thứ chín sau Phật Niết-bàn.


Ngài dòng Sát-Đế-Lợi ở nước Na-Đề, cha là Thường-Tự-Tại vua nước nầy. Ngài là con thứ ba của vua, khi sanh ra có nhiều điềm lạ, nên vua không dám lấy việc thế tục ràng buộc. Khi gặp Tổ Bà-Tu-Bàn-Đầu, Ngài được 30 tuổi,vua cha cho phép xuất gia theo Tổ. Sau Ngài được Tổ truyền tâm pháp.

Ngài sang Tây-ấn giáo hóa.Vua nước nầy họ Cù-Đàm tên Đắc-Độ hằng sùng Phật pháp tinh tấn tu hành.
Bảy năm hành đạo tại Long cung. Một hôm, bỗng hiện một bảo tháp xanh huyền bề cao một thước tư, ngay chổ vua tu hành.Vua đích thân lại bưng lên để thờ, nhưng bưng không nổi,lính hộ vệ họp lực nhắc lên cũng không lay chuyển. Sau cùng vua phải mở đại hội triệu tập tất cả lực sĩ, tăng sĩ, phạm-chí, chú-thuật…để hỏi nguyên nhơn bảo tháp xuất hiện và dời lên thờ.Trong cuộc hội nầy, Ngài cũng đến dự. Trước tiên những lực sĩ ra sức nhắc tháp lên không lay động. Kế các nhà chú-thuật dùng thần chú cũng bất lực.

Sau cùng Ngài Ma-Noa-La bước ra giải thích:
 -Tháp nầy do vua A-Dục tạo ra để thờ xá-lợi của Phật. Bốn mặt đều có chạm hình tiền thân Phật Thích-Ca khi còn làm hạnh Bồ-Tát. Ngày nay do đại-vương có duyên phước lớn nên tháp nầy mới hiện. Nói xong,Ngài lại nhắc bảo tháp để trên bàn thờ.Vua và toàn chúng hết lòng kính phục.

Vua thưa: -Xin Tôn-giả dạy cho chúng tôi những Phập pháp gì cần học ? Ngài bảo:-Muốn học Phật pháp phải bỏ ba vật và đủ bảy việc.
Vua thưa: -Ba vật gì phải bỏ và đủ bảy việc gì ?
 Ngài đáp: -Tham, sân, si là ba vật phải bỏ. Đủ bảy việc là: 1)- đại từ, 2)- hoan hỷ, 3)- vô ngã, 4)-dõng mãnh, 5)- nhiêu ích, 6)- hàng ma, 7)- vô chứng.

Vua Đắc-Độ nghe xong cảm ngộ, rất tiếc mình được hiểu quá muộn. Tự than: < Bậc chí thành khó gặp, sự vui trong đời có gì lâu dài !> Vua cho đòi thái tử đến giao hết việc nước, xin theo Ngài xuất gia học đạo. Ngài triệu tập các vị thánh chúng đến hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho vua. Xuất gia tu không bao lâu, vua Đắc-Độ chứng được quả thánh. Ngài dạy Đắc-Độ ở lại trong nước giáo hóa, còn Ngài sang nước Nguyệt-Chi tìm người kế truyền.

Ngài Ma-Noa-La và tăng chúng đến nước Nguyệt-Chi. Vua nước nầy là Bảo-Ấn và Tỳ-kheo Hạc-Lặc-Na đồng đón tiếp, thỉnh về nội cung. Hạc-Lặc-Na đem việc Long-Tử hỏi trước:
-Thưa Tôn-giả ! tôi có một đứa đệ tử tên Long-Tử tuổi tuy còn nhỏ mà thông minh tuyệt vời. Tôi thường nhập định tìm nguyên nhơn đời trước mà không thấy manh mối, hôm nay gặp đây xin Tôn-giả chỉ dạy cho ?

Ngài hỏi: -Ông nhập định quán thấy được mấy kiếp ?
 Hạc-Lặc-Na thưa: -Tôi chỉ thấy được ba đời.
Ngài bảo: -Đệ tử của ông trong kiếp thứ năm đã sanh trong nhà Bà-la-môn giàu có tại nước Diệu-Hỷ. Khi ấy, trong nước có ngôi chùa mới khánh thành cái đại hồng chung.Con ông Bà-la-môn nầy dùng gỗ chiên đàn tiện cái chày dộng chuông cúng chùa. Nhờ chày nầy giúp cho người được nghe chuông thức tỉnh. Bởi quả báo ấy, nên nay nó sanh ra được thông minh.

 Hạc-Lặc-Na lại hỏi: -Riêng tôi không biết duyên gì mà cảm được bầy hạc thường theo, xin Tôn-giả chỉ dạy ?

Ngài bảo:-Xưa ông trong kiếp thứ tư làm vị Tỳ-kheo đạo đức được đầy đủ,có đến 500 đệ tử.
Mỗi khi Long cung thỉnh ông cúng dường, ông xét trong hàng đệ tử không có người đủ phước đức thọ Long cung cúng nên ông chỉ đi một mình. Nhóm đệ tử bất mãn nói: < Thầy thường thuyết pháp nói: đối sự ăn uống bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng, mà nay thầy đi thọ trai một mình !> Sau Long cung thỉnh, ông đều cho chúng đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống, nên sau khi tịch diệt, chúng ấy lần lượt chết sanh trong loài có cánh. Đã trải qua năm kiếp, nay họ lại làm thân hạc. Do nhơn duyên thầy trò kiếp trước nên nay chúng cảm mến ông.

Hạc-Lặc-Na cảm động, lại hỏi:
-Nay phải tu pháp gì để giúp chúng trở lại làm người ?
Ngài bảo: -Ta có pháp bảo vô thượng, là kho tàng Như-Lai, Thế-Tôn xưa trao cho Tổ Ca-Diếp lần lượt đến ta, nay ta trao cho ông, ông nên truyền bá chớ nên để dứt mất

Nghe ta nói kệ:

Tâm tùy vạn cảnh chuyển,
Chuyển xứ thật năng u,
Tùy lưu nhận đắc tánh,
Vô hỷ diệc vô ưu .

Dịch:

Tâm theo muôn cảnh chuyển,
Chổ chuyển thật kín sâu,
Theo dòng nhận được tánh,
Không mừng cũng không lo
Hạc-Lặc-Na vui vẻ kính vâng phụng hành. Ngài truyền pháp xong, ngay chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp thờ .
 

(xem tiếp Tổ thứ hai mươi ba)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Giêng 16, 2011, 02:23:18 pm »

(tiếp theo)

第二十三祖鶴勒那尊者

月氏國人也。姓婆羅門。

父千勝。母金光。其家富而無子。乃禱於七佛金幢。
既而金光夢。神童手持金環。而謂曰。吾來矣。覺而有孕。
一日有沙門。至其舍曰。汝所懷子。德業非世所知。
能仁遺記。當隆佛事。可淨心保護。洎降誕日。天雨異花。
地現金寶。其王聞之。嚴駕往視。因持子還宮而育之。
嬪御千人。皆願傅養。付與未決。尊者化千子。各置嬪懷。
相貌無殊。王深嘆異。乃說偈曰。

我今無太子
欲收於汝故
汝現神通者
令我心不定
汝有神通者
當現本來身
汝無神通者
常作宮千子。

偈巳。所化千子。變白光而沒。其婆羅門之子。
巳在其家矣。七歲遊行聚落。睹民間淫祀。乃入廟叱之曰。
汝妄興禍福。幻惑於人。歲廢牲牢。傷害斯甚。言訖。
廟貌忽然而壞。由是鄉黨謂之聖子。年二十二。出家受具。
三十遇摩拏羅尊者。行化至中印土。

彼國王名無畏海。崇信三寶。尊者為說正法次。王忽見二人。緋素服。
拜尊者。王問曰。此何人也。師曰。此是日月天子。
吾昔曾為說法。故來禮耳。有頃不見。唯聞異香。王曰。
日月國土。總有多少。尊者曰。千釋迦佛所化世界。
各有百億彌盧日月。我若廣說。即不能盡。王聞忻然。時尊者。
以上足龍子早夭。有兄師子。事婆羅門。厥兄既逝。
弟復云亡。乃歸依於尊者。而問曰。我欲求道。當何用心。
尊者曰。汝欲求道。無所用心。曰既無用心。爭作佛事。
尊者曰。汝若有用。即非功德。汝若無作。即是佛事。
以佛有言。我所作功德。而無我所故。師子聞是言巳。
即入佛慧。時尊者。忽指東北問云。是何氣象。師子曰。
我見氣。如白虹。貫乎天地。復有黑氣五道。橫亙其中。
尊者曰。其兆如何。曰莫知矣。尊者曰。吾滅後五十年。
北天竺國。當有難起。嬰在汝身。吾將滅矣。
今以如來正法眼藏。自迦葉相傳。而至於我。我今付汝。汝善護持。
流布將來。無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

認得心性時
可說不思議
了了無可得
得時不說知。

尊者現十八變。而歸寂。阇維畢。分舍利。各欲興塔。
尊者復現空中。而說偈曰。

一法一切法
一切一法攝
吾身非有無
何分一切塔。

眾聞偈。就馱都之場。而建塔焉。


23. -Tổ Hạc-Lặc-Na (Haklena)

Giữa thế kỷ thứ chín sau Phật Niết-bàn


Ngài dòng Bà-la-môn sanh tại nước Nguyệt-Chi, cha hiệu Thiên-Thắng, mẹ là Kim-Quang. Ông Thiên-Thắng đã lớn tuổi mà không con.Một hôm, ông đến trước Kim-Tràng thờ bảy đức Phật dâng hương lễ bái cầu con. Một hôm, bà Kim-Quang nằm mộng thấy một vị thần đứng trên ngọn núi Tu-Di tay cầm vòng ngọc nói với bà: <Ta lại đây>.

Khi thức giấc, bà biết có thai.Khi Ngài được bảy tuổi đi chơi trong xóm, thấy một ngôi miếu thờ thần, dân gian hằng ngày giết các súc vật đến dâng cúng. Ngài đi thẳng vào miếu quở:
-Khéo bày đặt sự họa phước mà lừa gạt dân chúng, hằng năm làm hao phí của nhơn dân, tổn hại sinh mạng loài vật quá nhiều !

Ngài quở xong, ngôi miếu bị sụp đổ. Dân chúng trong làng gọi Ngài là ông thánh con.

Hai mươi tuổi, Ngài xuất gia tu theo Phật giáo. Ngài ở ẩn trong đám rừng xanh ngót chín năm, chỉ làm bạn với bầy hạc và chuyên tụng kinh Đại-Bát-Nhã.

Năm ba mươi tuổi, Ngài gặp Tổ Ma-Noa-La và được truyền tâm ấn. Ngài dẫn chúng du hóa miền Trung-Ấn. Ông vua xứ nầy tên Vô-Úy-Hải rất sùng mộ Phật giáo. Vua thỉnh Ngài vào cung thuyết pháp cho vua nghe.Vua nghe Ngài thuyết pháp rất hoan hỷ.

Ngài có đệ tử ưu tú nhất là Long-Tử. Long-Tử rất thông minh, mà mạng yểu. Long-Tử mất, cha mẹ và anh là Sư-Tử đến làm lễ hõa táng, song dời quan tài không được.

Sư-Tử lấy làm lạ hỏi Ngài:
-Toàn chúng tận lực dỡ lên, tại sao không nổi ?
 Ngài đáp: -Lỗi tại nơi ngươi vậy.
Sư-Tử hỏi:
 -Tôi có lỗi gì ? Xin Tôn-giả nói cho tôi biết ?

Ngài bảo: -Ngươi xưa theo Bà-la-môn, em ngươi đi xuất gia, hai bên xa cách.

Em ngươi hai năm ngày đêm nhớ thương, muốn làm phước giúp cho ngươi, bảo thầy ngươi đấp một tượng Phật, đã lâu mà chưa hoàn bị. Ngươi vì ghét nên đem tượng Phật ném xuống đất. Bây giờ, ngươi đi về thỉnh tượng Phật để trên bàn lại, thì quan tài sẽ dời được. Sư-Tử làm y như Ngài dạy, quả nhiên quan tài dời đi dễ dàng. Kế đến thầy của Sư-Tử tịch. Ông cảm thấy buồn bã, nghiệm lại lời Ngài nói, bèn đến xin xuất gia theo Phật làm đệ tử Ngài.

Sư-Tử hỏi Ngài:
-Bạch thầy ! con muốn dụng tâm cầu đạo, phải dụng tâm nào ?
 Ngài đáp: -Không có chổ dụng tâm.
-Đã không dụng tâm làm sao làm Phật sự ?
–Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Cho nên kinh nói: < Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm >. Sư-Tử nghe nói liền phát sanh trí huệ Phật.

Ngài chỉ hướng Đông-Bắc hỏi Sư-Tử:
-Ngươi thấy gì chăng ?
Sư-Tử thưa:
-Con thấy.
–Ngươi thấy cái gì ?
 –Con thấy hơi trắng xông lên giống như cái mống bao khắp trời đất, lại có hơi đen năm lằn xẹt như cây thang lên trời Đạo-Lợi.

-Ngươi thấy hơi ấy, có biết ứng điềm gì chăng ?
–Con không biết ứng điềm gì, xin thầy dạy cho.

-Cuối năm chục năm sau khi ta diệt độ, tai nạn sẽ phát khởi ở Bắc-Ấn ngươi nên biết đó.
Sư-Tử thưa: -Con muốn du phương, thỉnh thầy chỉ dạy.
Ngài bảo:
-Nay ta đã già, giờ Niết-bàn sắp đến, đại pháp nhãn tạng của Như-Lai giao lại cho ngươi, ngươi đến nước khác. Song nước ấy có tai nạn mà liên hệ đến thân ngươi. Ngươi phải dè dặt, truyền trao sớm chớ để đoạn mất. Nghe ta nói kệ:

Nhận đắc tâm tánh thời,
Khả thuyết bất tư nghì,
Liễu liễu vô khả đắc,
Đắc thời bất thuyết tri .

Dịch :

Khi nhận được tâm tánh,
Mới nói chẳng nghĩ bàn,
Rõ ràng không chỗ được,
Khi được không nói biết .

Truyền pháp xong, Ngài phi thân lên hư không làm mười tám pháp thần biến, rồi trở lại chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch
 


(xem tiếp Tổ thứ hai mươi bốn)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Giêng 17, 2011, 03:38:40 am »

(tiếp theo)

第二十四祖師子比丘尊者

中印土人也。姓婆羅門。

幼而聰悟。游罽賓國。有波利迦者。本習禪觀。
故有禪定知見執相舍相不語之五眾。尊者詰而化之。
四眾皆心服。唯禪定師達磨達者。聞四眾被責。憤悱而來。
尊者曰。仁者習定。何當來此。既至於此。胡云習定。
曰我雖來此。心亦不亂。定隨人習。豈在處所。尊者曰。
仁者既來。其習亦至。既無處所。豈在人習。曰定習人故。
非人習定。我雖來此。其定常習。尊者曰。人非習定。
定習人故。當自來時。其定誰習。彼曰。如淨明珠。
內外無翳。定若通達。必當如此。尊者曰。定若通達。一似明珠。
今見仁者。非珠之徒。彼曰。其珠明徹。內外悉定。
我心不亂。猶若此淨。尊者曰。其珠無內外。仁者何能定穢。
物非動搖。此定不是淨。達磨達蒙尊者開示。
心地渙然。尊者既攝五眾。名聞遐邇。方求法嗣。遇一長者。
引其子。問尊者曰。此子名斯多。當生。便拳左手。
今既長矣。而終未能舒。願尊者示其宿因。尊者睹之。
即以手接曰。可還我珠。童子遽開手奉珠。眾皆驚異。尊者曰。
吾前報為僧。有童子。名婆舍。吾嘗赴西海齋。
受嚫珠付之。今還吾珠。理固然矣。長者遂舍其子出家。
尊者即與受具。以前因緣故。名婆舍斯多。尊者即謂之曰。
吾師鶴勒。密有懸記。罹難非久。以如來正法眼藏。
自摩訶迦葉。展轉相授。而至於我。我付於汝。汝應保護。
流布將來。並僧伽梨衣。亦同授汝。令正法眼。
永永不斷。汝受吾教。聽吾偈曰。

正說知見時
知見俱定心
當心即知見
知見即於今。

尊者偈巳。俾之陀國。斯多受教。直抵南天。
尊者以難不可以苟免。獨留罽賓。時本國有外道二人。
一名摩目多。二名都落遮。學諸幻法。欲共謀亂。
乃盜為釋子形象。潛入王宮。且曰。不成。即罪歸佛子。妖既自作。
禍亦旋踵。事既敗。王果怒曰。吾素歸心三寶。何乃構害。
一至於斯。即命破毀伽藍。袪除釋眾。又自秉劍。

至尊者所。問曰。師得蘊空否。尊者曰。巳得蘊空。
曰既得蘊空。可施我頭。尊者曰。身非我有。何吝於頭。王即揮刃。
斷尊者首。湧白乳。高數尺。王之右臂。旋亦墮地。
七日而終。太子光首嘆曰。我父何故。自取其禍。
時有像白山仙人者。深明因果。即為光首。廣宣宿因。

云汝之父遠劫中。設般遮於瑟。[此云無遮齋]。師子尊者。當作居士。
好談名理。盛率其徒。躋於會場。因與之論。
而居士誠有愧色。潛毒其食而餉之。父遂遇害。今王是矣。
而居士即師子尊者也。因緣會遇。毫髮無差。

遂以師子尊者報體。而建塔焉。師子尊者。付婆舍斯多心法信衣。
為正嗣外。傍出達磨達。四世二十二人。


[/img]

24. -Tổ Sư-Tử (Aryasimha)

Cuối thế kỷ thứ chín sau Phật Niết-bàn


Ngài dòng Bà-la-môn người Trung-Ấn. Thuở nhỏ Ngài rất thông minh, tài hùng biện xuất chúng. Ngài có người em tên Long-Tử cũng thông minh như thế. Trước Ngài thọ giáo với thầy Bà-la-môn, em Ngài lại xuất gia tu theo Phật giáo.

Khi Long-Tử tịch, Ngài có cơ hội gặp Tổ Hạc-Lặc-Na và hồi đầu thọ giáo với Tổ. Khi Tổ sắp tịch truyền tâm pháp lại cho Ngài.Ngài sang nước Kế-Tân hoằng hóa. Trong nước nầy trước có vị Sa-môn tên Bà-Lợi-Ca, chuyên tập thiền quán Tiểu-thừa. Môn đồ của Bà-Lợi-Ca, sau lại chia làm năm phái:

1) -Thiền-định,
2) –Tri-kiến,
3) -Chấp-tướng,
4)Xã- tướng,
5)-Tịnh-khẩu.


Họ tranh nhau dành phần hơn. Ngài đến các phái ấy, dùng biện tài vô ngại chiết phục được bốn phái. Duy phái Thiền-định người cầm đầu là Đạt-Ma-Đạt, hay tin nầy tức giận tìm đến cật vấn Ngài.

Vừa gặp Ngài, Đạt-Ma-Đạt nói:
-Muốn gặp nhau vấn nạn mới đến đây.
 Ngài hỏi: -Nhơn giả tập định sao lại đến đây ? Nếu có đến đây thì đâu phải thường tập định ?
Ma-Đạt nói: -Tôi đến chỗ nầy mà tâm cũng không loạn, định tùy người tập đâu phải tại chỗ nơi.
Ngài hỏi: -Nhơn giả lại đây thì cái tập kia cũng đến. Đã không phải chỗ nơi thì đâu tại người tập ?
Ma-Đạt nói: -Vì định tập người, chẳng phải người tập định. Tuy tôi có đi lại mà cái định ấy vẫn thường tập.
Ngài hỏi: -Người chẳng tập định, vì định tập người. Vậy chính khi người đi lại, thì cái định ấy tập ai ?
Ma-Đạt nói: -Như hạt minh châu sạch, trong ngoài không bị che, nếu định được thông đạt cũng lại như thế.
Ngài bảo: -Nếu định thông đạt giống như hạt minh châu. Nay thấy nhơn giả không thể sánh được với hạt minh châu.
 Ma-Đạt nói: -Hạt châu kia sáng suốt trong ngoài đều định. Tâm tôi không loạn ví như hạt châu ấy.
Ngài bảo: -Châu kia không có trong ngoài, nhơn giả làm sao hay định ? Vật nhơ chẳng giao động, định nầy chẳng phải sạch.


Đạt-Ma-Đạt biết nghĩa mình bị bẽ gãy, càng kính phục, đảnh lễ bạch Ngài: -Con học đạo còn sơ suyển, nếu không được lời chỉ dạy của Tôn-giả làm sao biết được chỗ tột. Cúi xin Tôn-giả thương xót nhận con làm học trò.
Ngài dạy thêm: -Thiền-định của chư Phật không có sở đắc. Giác đạo của chư Phật không có sở chứng. Không đắc không chứng là chơn giải thoát. Đền nhơn trả quả là nghiệp báo của thế gian, ở trong pháp nầy (chơn giải thoát) ắt chẳng như thế. Ngươi nếu tập định nên tập như vậy.

Đạt-Ma-Đạt vui vẻ vâng lời dạy. Một hôm, có ông trưởng giả dẫn đứa con đến yết kiến Ngài.
Trưởng giả thưa: -Thằng con tôi đây tên là Tư-Đa, từ khi sanh ra cho đến giờ (20 tuổi) mà bàn tay trái vẫn nắm chặc lại chưa từng mở ra. Xin Tôn-giả từ bi nói rõ nhơn đời trước của nó cho con hiểu.

Ngài nhìn thẳng vào mặt Tư-Đa, rồi đưa tay bảo: -Trả hạt châu lại cho ta ! Tư-Đa liền sè tay dâng hạt châu cho Ngài.

Ông trưởng-giả và đồ chúng thấy thế đều ngạc nhiên.

Ngài giải thích:

-Thuở quá khứ Ta làm vị Tỳ-kheo thường được Long-Vương thỉnh xuống Long-cung tụng kinh, khi ấy, Tư-Đa nầy cũng theo ta xuất gia, tên Bà-Xá. Một hôm, Long-Vương thỉnh ta đi tụng kinh, Bà-Xá theo làm thị giả. Tụng kinh xong, Long-Vương cúng hạt châu đáp lễ. Ta nhận trao cho thị giả giữ trong tay. Ta tịch, sanh nơi đây, vì nhơn duyên thầy trò chưa hết, nên lại gặp nhau tại hội nầy.

Ông trưởng giả nghe được tiền duyên của con mình, hoan hỷ cho Tư-Đa theo Ngài xuất gia.

Ngài xét duyên xưa và nay nên hợp hai tên lại đặt là Bà-Xá-Tư-Đa.

Nhận Bà-Xá-Tư-Đa rồi, Ngài triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới. Sau đó, Ngài gọi Bà-Xá-Tư-Đa lại bảo:
-Nơi nước nầy sắp có tai nạn đến cho ta, nhưng tuổi ta đã già yếu đâu mong lánh thoát làm gì. Ta đã được truyền đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên phụng trì, ngươi mau đi khỏi nước nầy, lấy sự giáo hóa làm nhiệm vụ. Nếu có người nghi ngờ nên trình cái y tăng-già-lê của ta đây làm tin.

Nghe ta nói kệ:

Chánh thuyết tri kiến thời,
Tri kiến câu thị tâm,
Đương tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức vu kim.

*Dịch:

Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm,
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức là hiện nay.

Bà-Xá-Tư-Đa nhận lãnh tuân hành, ngay hôm ấy đi nơi khác. Lúc ấy, trong nước Kế-Tân có hai người ngoại đạo giỏi pháp huyễn thuật mưu đồ ám sát nhà vua. Nhưng còn ngại bại lộ cơ mưu, nên chúng đổi hình Tỳ-kheo đi làm việc gian ác ấy. Quả nhiên bị quân quan bắt được.Vua Di-La-Quật hay việc nầy nổi cơn phận nộ, ra lệnh triệt hạ chùa chiền, bắt nhốt tăng chúng.Vua trách:

-Lâu nay ta sùng kính Phật giáo quý trọng Tỳ-kheo mà nay họ lại manh tâm sát hại ta, vậy còn đạo đức chỗ nào ?
 Bởi sự tức giận ấy, nhà vua đích thân cầm gươm báo đến chỗ Ngài Sư-Tử hỏi:
-Thầy được không tướng chưa ?
 Ngài đáp:
-Đã được.
- Đã được, thì còn sợ sống chết chăng ?
- Đã lìa sống chết thì đâu có sợ.
-Chẳng sợ có thể cho ta cái đầu chăng ?
- Thân chẳng phải cái của ta, huống nữa là đầu.


Vua liền chặt đầu Ngài rơi xuống đất. Nơi cổ phun lên giọt sữa trắng cao chừng một trượng. Cánh tay mặt của vua Di-La-Quật cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng.

(Duyên nghiệp đời trước của Ngài và nhà vua có ghi rõ ràng trong:Thánh-Trụ Tập và Bửu-Lâm Truyện).

Thái-tử Quang -Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và thỉnh chúng tăng cúng dường sám hối. Tăng chúng lo xây tháp thờ Ngài .

(xem tiếp Tổ thứ hai mươi lăm)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Giêng 17, 2011, 03:46:48 am »

(tiếp theo)

第二十五祖婆舍斯多尊者

罽賓國人也。姓婆羅門。

父寂行。母常安。初母夢得神劍。因而有孕。既誕。
拳左手。遇師子尊者。顯發宿因。密授心印。

後適南天至中印土。彼國王名迦勝。設禮供養。時有外道。號無我尊。
先為王禮重。嫉祖之至。欲與論義。幸而勝之。
以固其事。乃於王前。謂祖曰。我解論義。不假言說。祖曰。

若不言說。爭為論義。外道曰。但取其義。祖曰。以何為義。
曰無心為義。祖曰。汝既無心。焉得義乎。曰我說無心。
當名我義。祖曰。汝說無心。當名非義。我說非心。
當名非義。曰當義非名。誰能辨義。祖曰。汝名非義。此名何名。

曰為辨非義。是名無名。祖曰。名既非名。義亦非義。
辨者是誰。當辨何物。如是往返。外道杜口信伏。
於時祖忽面北。合掌而立曰。我師師子尊者。今日遇難。
即辭王南邁。達於南天。潛隱山谷。彼國王名天德。
迎請供養。王有二子。一凶暴而色力充盛。

一和柔而常嬰疾苦。祖乃為陳因果。即頓釋所疑。又有咒術師。
忌祖之道。乃潛置藥於飯食中。祖食之。彼返受禍。
遂投祖出家。即與受具。後太子得勝即位。覆信外道。致難於祖。
太子名不如蜜多。進諫被囚。玉遽問祖曰。

我國素絕妖訛。師所傳者。當是何宗。祖曰。王國昔來。實無邪法。
我所得者。即是佛宗。王曰。佛滅既久。師從誰得。祖曰。
飲光大士親受佛印。展轉至二十四世師子尊者。
我從彼得。王曰。我聞師子比丘不能免於刑戮。
何能傳法後人。祖曰。我師難未起時。密授我信衣法偈。
以顯師承。王曰。其衣何在。祖即於囊中。出衣示王。

王命焚之。五色相鮮。薪盡如故。王即追悔致禮。
師子真嗣既明。乃赦太子。太子遂求出家。祖問太子曰。汝欲出家。
當為何事。曰我所出家。不為別事。祖曰。不為別事。
當為何事。曰當為佛事。祖嘆曰。太子智慧天至。
必諸聖降跡。即許出家受具。時大地震動。居多靈異。

祖乃命之曰。吾巳衰朽。安可久留。今以如來正法眼藏。
傳付於汝。汝善護持。流布將來。無令斷絕。汝受吾教。
聽吾偈曰。

聖人說知見
當境無非是
我今悟真性
無道亦無理。

蜜多聞偈。再啟祖曰。信衣宜可傳授。祖曰。
此衣為難故。假以證明。汝後無難。何假其衣。化被十方。
人自信向。祖遂現十八變。放大光明。化三昧火自焚。
王及臣民。收舍利。起塔供養。



25. -Tổ Bà-Xá-Tư-Đa (Basiasita)

Đầu thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn


Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-Tân, cha hiệu Tịch-Hạnh , mẹ là Thường-An-Lạc. Một hôm, bà Thường-An-Lạc nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai Ngài. Khi sanh ra, Ngài nắm chặt bàn tay trái mãi,cho đến gặp Tổ Sư-Tử mới sè ra. Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia theo hầu Tổ Sư-Tử. Tổ Sư-Tử vì nợ trước phải trả nên truyền tâm ấn xong, bảo Ngài phải sang Nam-Ấn.

Ra khỏi nước Kế-Tân, Ngài đến Trung-Ấn.Vua nước nầy hiệu Ca-Thắng ra đón tiếp Ngài.Trong nước nầy trước có chúng ngoại đạo giỏi pháp thuật, ỷ tài khinh chê Phật pháp, người cầm đầu tên Vô-Ngã.Vua thấy thế bất bình, muốn thỉnh Ngài chiết phục chúng

.Vua mở hội nghị luận,chính vua làm chủ tọa. Vô-Ngã đến hội đề xướng mặc luận, không dùng lời nói.

Ngài chống: -Nếu chẳng dùng lời làm sao phân biệt hơn thua ?
Ngoại đạo nói: -Chẳng tranh hơn thua chỉ lấy nghĩa ấy.
Ngài hỏi: -Cái gì là nghĩa ?
Ngoại đạo đáp: -Không tâm là nghĩa.
Ngài hỏi: -Ngươi đã không tâm thì đâu thành nghĩa ?

–Tôi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa.

Ngài nói:

-Ngươi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa, ta nói phi tâm chính là nghĩa chẳng phải danh.
–Chính là nghĩa chẳng phải danh thì ai hay biện được nghĩa ?

Ngài bảo:
-Ngươi nói chính là danh không phải nghĩa, thì danh nầy là danh gì ?
 –Vì biện cái phi nghĩa nên không danh mà đặt danh.
–Ngài bảo: -Danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa, người biện là ai và biện vật gì ?

Bàn qua luận lại như thế đến hơn năm chục lần, ngoại đạo mới bặt lời nép phục.

 Bỗng trong vương cung có mùi hương lạ bay đến, Ngài chợt nói:< Đây là tin đưa đến, thầy ta đã tịch >. Ngài liền xây mặt về hướng Bắc chấp tay đảnh lễ.

Lễ xong, Ngài nói với vua:
-Khi tôi mới đi, thầy dạy qua Nam-Ấn, nay ở lại đây đã lâu là trái ý thầy, xin tạm biệt Đại-Vương sang nơi ấy.Vua và quần thần đồng tiển Ngài sang Nam-Ấn.

Vua nước Nam-Ấn hiệu là Thiên-Đức nghe tin Ngài sang cũng sửa sang xe giá ra đón tiếp, thỉnh Ngài về hoàng cung

Nhơn vua có hai Thái-tử, vị lớn là Đức-Thắng thì thân thể mạnh khỏe mà tánh tình hung bạo, còn em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên, sẵn dịp vua hỏi Ngài.
Vua hỏi: -Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào ?
Ngài đáp: -Bệnh của Thái-tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu xa nầy Đại-Vương phải khéo nghe.Phật dạy người có nghiệp nặng nơi thân, ví như bệnh nội thương quá nặng, uống thuốc không có công hiệu, sắp chết bệnh càng hoành hành. Nếu là bệnh nhẹ, gặp thuốc liền bớt, bớt rồi từ từ mạnh. Người nghiệp nặng cũng vậy, tuy có công đức mà không làm gì được, đến lúc gần chết nghiệp lại càng hiện. Nếu nghiệp nhẹ, làm các việc công đức, nghiệp trước liền hiện, trả xong sau sẽ thanh tịnh. Hiện nay Thái-tử làm việc thiện mà bị bệnh lâu, hẳn là do làm các công đức nên phát ra nghiệp nhẹ nầy.Hiện nay tuy có khổ nhỏ,về sau sẽ an ổn. Kinh đã nói:< Nếu phải chịu nghiệp báo trong ba đường ác, nguyện đời nầy trả xong, để khỏi vào đường ác >. Vua còn nghi gì ư ?

-Vua Thiên-Đức tín nhận, càng phát tâm làm phước. Sau đó, Ngài từ giả nhà vua đi hoằng hóa nơi khác. Mười sáu năm sau, vua Thiên-Đức băng, Thái-tử Đức-Thắng lên nối ngôi.Vua Đức-Thắng tin theo ngoại đạo, chú thuật, nghe lời xúi dục của chúng, muốn làm khó Ngài.Thái-tử con vua Đức-Thắng tên Bất-Như-Mật-Đa biết được ác ý đó, liền đến can vua.

Thái-tử thưa:
-Tôn-giả Bà-Xá-Tư-Đa xưa kia được ông nội kính trọng, nhiều người muốn hại còn không thể được, đạo đức của Ngài rất cao, xin phụ hoàng đừng làm khó Ngài.

Vua Đức-Thắng nổi giận cho Thái-tử theo phe Tôn-giả Bà-Xá-Tư-Đa liền bắt hạ ngục. Sau vua cho thỉnh Ngài vào chánh điện.Vua cật nạn: -Nước tôi không có pháp tà, thầy tu học về Tông phái nào ?
 Ngài đáp: -Tôi tu học theo tâm tông của Phật.
Vua hỏi: -Phật diệt độ đã một ngàn năm, thầy làm sao được tâm tông của Phật ?
Ngài đáp: -Từ Phật truyền cho Tổ Ca-Diếp đã trải qua 24 đời đến thầy tôi là Tổ Sư-Tử, tôi được người truyền lại.
Vua hỏi: -Tôn-giả Sư-Tử đã bị giết, đâu thể đem pháp truyền cho thầy ? Nếu thầy thật được truyền thì lấy gì làm tin ?
Ngài đáp: -Thầy tôi truyền bát và trao y Tăng-già-lê để làm tin, hiện nay vẫn còn. Ngài liền lấy y đưa cho vua xem. Vua vẫn không tin bảo đem lửa đốt. Khi lửa cháy, y hiện năm sắc hào quang. Lửa tắt, y vẫn còn nguyên như cũ. Vua mới tin nhận, xin sám hối tạ tội. Đồng thời, vua truyền lệnh tha Thái-tử.

Sau khi được thả, Thái-tử Bất-Như-Mật-Đa quyết chí xuất gia, xin phép vua cha được như nguyện. Vua thấy không thể ngăn được chí Thái-tử, nên đành phải cho. Thái-tử đến yết kiến Ngài xin cho làm đệ tử xuất gia.
Ngài hỏi: -Nhà vua bằng lòng chăng ?
Thái-tử thưa: -Phụ vương bằng lòng.
Ngài hỏi: -Ông muốn xuất gia để làm việc gì ?

 Thái-tử thưa:

-Con muốn xuất gia để làm việc Phật.

Ngài thấy Thái-tử tha thiết cầu đạo, liền nhận cho xuất gia. Sau sáu năm, Ngài triệu thỉnh các vị thánh chúng vào vương cung truyền giới cho Bất-Như-Mật-Đa.Giờ truyền giới đó có nhiều điềm lành ứng hiện, toàn hội đều hoan hỷ.

Một hôm, Ngài gọi Bất-Như-Mật-Đa đến dặn dò:

 -Ta đã già lắm, chẳng bao lâu sẽ rời cõi nầy, xưa đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:

Thánh nhơn thuyết tri kiến,
Đương cảnh vô thị phi,
Ngã kim ngộ kỳ tánh,
Vô đạo diệc vô lý .

Dịch:

Thánh nhơn nói tri kiến,
Ngay cảnh không phải quấy,
Nay ta ngộ tánh ấy,
Không đạo cũng không lý .
Bất-Như-Mật-Đa thọ pháp xong, thưa:
-Còn y Tăng-già-lê thầy không truyền cho con, là sao vậy ?

Ngài bảo:
-Xưa ta được truyền y vì thầy ta bị nạn truyền pháp không rõ ràng. Nay ngươi được truyền, mọi người đều biết, cần y làm gì ? Chỉ cần hóa đạo. Nói xong, Ngài thị hiện thần biến rồi vào Niết-bàn. Đồ chúng lượm xá-lợi xây tháp thờ .


(xem tiếp Tổ thứ hai mươi sáu)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, dieunha, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Giêng 17, 2011, 12:59:27 pm »

(tiếp theo)

第二十六祖不如蜜多尊者


南印土德勝王之太子也。既受度得法。至東印土。彼王名堅固。奉外道。

師長爪梵志。暨尊者將至。王與梵志。同睹白氣。貫於上下。
王曰。斯何瑞也。梵志預知尊者入境。恐王遷善。乃曰。
此是魔之眾兆爾。何瑞之有。即鳩諸徒眾議曰。
不如蜜多將入都城。誰能挫之。弟子曰。我等各有咒術。
可以動天地。入水火。何患哉。尊者至。先見宮牆有黑氣。

乃曰。小難耳。直詣王所。王曰。師來何為。師曰。
當度眾生。王曰。以何法度。師曰。剛強眾生剛強化。
柔軟眾生柔軟調。時梵志聞言。不勝其怒。即以幻法。化大山。
在尊者頂上。尊者睹之。返在彼眾頂上。
梵志等怖懼投尊者。尊者愍其愚惑。化山遽滅。乃為王演說法要。

俾趣真乘。又謂王曰。此國當有聖人。而繼於我。
時有婆羅門子。年巳二十。幼失父母。不知名氏。或自言瓔珞。
故人謂之瓔珞童子。遊行閭裡。丐求度日。
若常不輕之類。人問。汝行何急。答曰。汝行何慢。或問何姓。答曰。

與汝同姓。
王與尊者。
同車出見。
瓔珞童子。
稽首於前。

尊者曰。汝憶往事否。曰我念遠劫中。與師同居。
師演摩訶般若。我轉甚深修多羅。今日之事。蓋契昔因。
尊者又謂王曰。此童子非他。即大勢至菩薩是也。
此聖之後。復出二人。一人化南印土。一人緣在震旦。
四五年內。卻返此方。遂以昔因故。名般若多羅。遂告曰。
如來以正法眼藏。付於迦葉。如是展轉。以至於吾。
吾今付汝。汝善護持。流布將來。無令斷絕。汝受吾教。
聽吾偈曰。

真性心地藏
無頭亦無尾
應緣而化物
方便呼為智。

尊者付法巳。即辭王曰。吾化緣巳畢。當歸寂滅。
願王於最上乘無忘外護。即還本座。跏趺而逝。
化三昧火自焚。收舍利。塔而瘞之。即東晉武帝朝也。


26. -Tổ Bất-Như-Mật-Đa (Punyamitra)

Giữa thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn



Ngài dòng Sát-Đế-Lợi ở Nam-Ấn, con vua Đức-Thắng, Lúc bé, Ngài đã sùng mộ Phật giáo, tánh tình thuần lương, thông minh xuất chúng. Vì can thiệp với vua cha về việc hại Tổ Bà-Xá-Tư-Đa, Ngài bị hạ ngục. Sau khi được thả, Ngài lấy cớ bệnh, từ ngôi Thái-tử,xin xuất gia với Tổ Bà-Xá-Tư-Đa. Sau đó,Ngài được Tổ truyền tâm ấn, đi giáo hóa các nơi.

Ngài sang Đông-Ấn hoằng hóa.Vua nước nầy hiệu Kiên-Cố đang tin trọng các thầy Phạm-Chi. Hay tin Ngài vào nước nầy,chúng Phạm-Chi họp nhau bàn mưu hãm hại. Thầy bọn Phạm-Chi xin theo vua lên chỗ cao, ông chỉ xa hỏi vua:
-Bệ hạ thấy gì không ? Phương-Tây có yêu khí, ắt ma vào nước.

Vua đáp:
-Không thấy,song có gì đáng ngại ?

 Phạm-Chi thưa

-Ma nầy đến thì quốc gia suy vong. Xin dâng kế với bệ hạ, chi bằng mình tiêu diệt trước đi.
Vua đáp:
-Chưa thấy họ có tội gì ? đâu thể nhẫn tâm hại được.
 Phạm-Chi lại tiến cử một đồ chúng giỏi chú thuật để theo vua trị ma.
Ngài dự biết trước việc xảy đến nên dặn đồ chúng:
 -Ta đến thành nầy ắt có nạn nhỏ, các ngươi chớ sợ.
Đến thành, Ngài xin vào yết kiến nhà vua.
Vừa gặp, vua liền hỏi:
 -Thầy đến đây làm gì ?
Ngài đáp:
-Tôi đến đây vì độ chúng sanh.
Vua hỏi:
-Sẽ lấy pháp gì ? độ những loài chúng sanh nào ?
 Ngài đáp:
 -Tùy mỗi loài kia dùng pháp độ họ.

Vua hỏi:
-Nếu có người pháp thuật giỏi, thầy dám chống chăng ?
Ngài đáp:
-Phật pháp rất chơn chánh, dù thiên ma cũng hàng phục được, huống là yêu thuật mà chẳng dám chống sao ?
Ngoại đạo nghe nói nổi nóng, liền dùng pháp thuật hóa quả núi lớn, hiện trên không ngay đầu Ngài, như chực sắp đè. Ngài lấy tay chỉ, quả núi bay lại trên đầu bọn Phạm Chi chúng hoảng sợ cầu Ngài cứu mạng. Ngài lấy tay chỉ, quả núi tan mất. Vua và chúng Phạm-Chi đều kính phục xin Ngài từ bi tha lỗi.

Nhơn đó, Ngài đem yếu lý Phật pháp giảng giải cho vua nghe. Vua hiểu rõ, thêm lòng quí kính, thỉnh Ngài lưu lại trong hoàng cung.Ngài cũng cho nhà vua biết rằng trong nước nhà vua có một vị thánh nhơn sẽ nối tiếp Ngài truyền đạo.

Nguyên trong nước nầy có một đồng tử con dòng Bà-la-môn. Cha mẹ mất sớm, đồng tử ấy phải ăn xin để sống qua ngày. Đồng tử nầy tánh tình phóng khoáng lạ thường, không ai biết tên họ gì. Có khi đồng tử tự xưng là Anh-Lạc, nên dân chúng gọi là đồng-tử Anh-Lạc.

Gặp lúc đồng tử đi nhanh, có người hỏi:
-Sao anh đi nhanh vậy ?
Đồng tử đáp:
-Sao các người đi chậm quá.
Có người hỏi:
-Anh họ gì ?
Đồng tử đáp:
-Tôi với các người đồng họ.

Một hôm,vua Kiên-Cố cùng Ngài Bất-Như-Mật-Đa ngồi chung xe đi sang thành Đông. Anh-Lạc ra đón, đứng trước xe làm lễ. Ngài nói với nhà vua:

-Người nầy là thánh nhơn ở trong nước đại vương vậy.
Ngài lại hỏi Anh-Lạc:

-Ngươi nhớ việc xưa chăng ?
 Anh-Lạc thưa:
 -Tôi nhớ xưa đồng trong pháp hội, Tôn-giả giảng Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa, tôi giảng Tu-Đa-La thậm thâm. Duyên xưa lại gặp, nên mới đón nhau đây. Ngài nói với vua:
 -Đồng tử nầy là hóa thân của Bồ-Tát Đại-Thế-Chí ra đời để nối dòng pháp cho tôi. Sau tôi sẽ có hai vị đại-sĩ ra đời, vị trước giáo hóa ở Nam-Ấn, vị sau có duyên với nước Trung-Hoa, nhưng ở bên ấy chín năm rồi trở về bổn quốc. Ngài bảo Anh-Lạc:

 -Do xưa ta giảng Bát-Nhã, ông thuyết Tu-Đa-La, nay lại gặp đây, nên lấy Bát-Nhã-Đa-La đặt tên ngươi. Bát-Nhã-Đa-La lễ tạ, theo thầy xuất gia. Ngài ở Đông-Ấn ngót sáu chục năm hoằng truyền chánh pháp. Thấy cơ duyên sắp mãn, Ngài gọi Bát-Nhã-Đa-La đến dặn dò:

-Xưa Như-Lai trao đại pháp nhãn tạng lần lượt truyền đến ta, nay ta đem truyền lại cho ngươi, ngươi nên lưu truyền chớ để dứt mất.

-Nghe ta nói kệ:

Chơn tánh tâm địa tàng,
Vô đầu diệc vô vĩ,
Ứng duyên nhi hóa vật,
Phương tiện hô vi trí .

Dịch :

Kho tâm địa chơn tánh,
Không đầu cũng không đuôi,
Hợp duyên tùy hóa vật,
Phương tiện gọi là trí .

Ngài từ giả vua Kiên-Cố rằng:
 -Đại-vương gánh vác việc nước, ủng hộ Tam-Bảo đều được an ổn. Vì tôi hóa duyên đã hết, không vì quyến luyến ân đức đại vương mà ở lâu, nay tôi sắp đi, đại vương khéo bảo hộ Phật pháp.

Ngài nói xong, trở lại chổ ngồi, thị hiện các thứ thần biến, rồi thị tịch. Vua và môn đồ xây tháp thờ xá-lợi cúng dường .
 

(xem tiếp Tổ thứ hai mươi bảy)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, chonhoadong, dailuc, anhlam, tadamina, nguyenthuy, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Giêng 17, 2011, 01:05:46 pm »

(tiếp theo)

第二十七祖般若多羅尊者
( 此祖師於佛法尤其是禪宗預言甚多)

東印土人也。既得法巳。

行化至南印土。彼王名香至。崇奉佛眾。
施一無價寶珠。王有三子。其季開士也。尊者欲試其所得。
乃以所施珠。問三王子曰。此珠圓明。有能及否。

第一子月淨多羅。第二子功德多羅。皆曰。此珠七寶中尊。
固無踰也。非尊者道力。孰能受之。第三子菩提多羅曰。
此是世寶。未足為上。於諸寶中。法寶為上。此是世光。
未足為上。於法光中。智光為上。此是世明。未足為上。
於諸明中。心明為上。此珠光明。不能自照。要假智光。

光辨於此。既辨此巳。即知是珠。既卻是珠。即明其寶。
若明其寶。寶不自寶。若辨其珠。珠不自珠。要假智珠。
而辨世珠。寶不自寶。要假智寶。以明法寶。然則師有其道。
法寶即現。眾生若悟。心珠自明。尊者嘆其辨慧。

乃復問曰。於諸物中。何物無相。曰於諸物中。不起無相。
又問。於諸物中。何物最高。曰於諸物中。人我最高。又問。
於諸物中。何物最大。曰於諸物中。法性最大。
尊者知是聖人。以時未至。默而待之。及香至王厭世。

眾皆號絕。唯第三子菩提多羅。乃求出家。遂投尊者。
尊者即與披剃受具。既觀時適至。尊者告之曰。
如來以正法眼藏。囑累迦葉。如是展轉。而至於我。我今付汝。
汝善護持。流布將來。無令斷絕。汝受吾教。聽吾偈曰。

心地生諸種
因事復生理
果滿菩提圓
華開世界起。

尊者付法巳。即於座上。放大光明。踴身虛空。

化火自焚。眾收舍利起塔。即宋武帝朝也。




27. -Tổ Bát-Nhã-Đa-La (Prajnatara)

Cuối thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn


Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông-Ấn. Cha mẹ mất sớm, Ngài đi theo xóm ăn xin qua ngày. Nếu có ai mượn làm việc gì, Ngài sẵn sàng làm tận lực mà không cần tiền. Hành động và ngôn ngữ của Ngài lạ thường, người đời không lường được. Khi gặp Tổ Bất-Như-Mật-Đa nhắc lại duyên xưa, Ngài xin xuất gia, theo hầu Tổ và được truyền tâm pháp.

Sau nầy, Ngài thống lãnh đồ chúng sang Nam-Ấn hoằng hóa. Vua nước nầy hiệu Hương-Chí hết lòng sùng kính Phật pháp. Vua sanh ba người con trai đều kính tin Phật pháp.
Người con lớn tên Nguyệt-Tịnh-Đa-La thích tu pháp niệm Phật tam muội. Người thứ hai tên Công-Đức-Đa-La thích tu bố thí làm phước.

Người thứ ba tên Bồ-Đề-La thích thông lý Phật, lấy việc xuất thế làm trên. Vua thỉnh Ngài về cung cúng dường, bảo ba vị Thái-tử ra đảnh lễ Ngài.

Ngài biết ba vị Thái-tử đều ham tu, muốn nghiệm thử trí mỗi người thế nào. Sẵn nhà vua cúng dường hạt châu quý vô giá, Ngài lấy ra hỏi: -Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu nầy chăng ?

Nguyệt-Tịnh thưa: -Hạt châu nầy quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong nhà vua thì làm gì có hạt châu nầy.

Công-Đức-Đa-La cũng đồng ý như vậy.

Bồ-Đề-Đa-La thưa: -Châu nầy là của báu thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có pháp bảo là tột.
Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột.

Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch, chỉ tâm trong sạch là trên hết.

Nhưng ánh sáng của hạt châu nầy không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng trí tuệ mới biện biệt được nó.

Đã biện rõ mới biết là châu, đã biết là châu mới hiểu cái quý báu của nó. Nếu hiểu cái quý báu của nó, thì nó báu mà không biết báu.

Nếu biện rõ nó là châu, thì nó châu mà chẳng tự biết châu. Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu.

Báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ pháp bảo. Song mà, thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện.
Chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế.

Ngài khen ngợi tài biện luận của Bồ-Đề-Đa-La. Lại hỏi thêm:

-Trong các vật, vật gì không tướng ?
–Trong các vật, chẳng khởi là không tướng.
–Trong các vật, vật gì là tối cao ?
–Trong các vật, nhơn ngã là tối cao.
 –Trong các vật, vật gì là tối đại ?
–Trong các vật, pháp tánh là tối đại.


Ngài thầm vui biết là đại pháp khí sẽ nối dõi cho Ngài sau nầy. Một hôm, vua Hương-Chí hỏi Ngài: -Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn-giả không tụng kinh ?
Ngài đáp: Tôi hơi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, thường tụng thứ kinh nầy trăm ngàn muôn ức quyển.

Vua Hương-Chí băng, hai hoàng tử lớn và hoàng thân đều kêu khóc, duy Bồ-Đề-Đa-La ngồi nhập định chỗ hoàn linh cữu suốt bảy ngày.
An táng nhà vua xong, Bồ-Đề-Đa-La xin phép mẹ và hai anh theo Ngài Bát-Nhã-Đa-La xuất gia.
Ngài thấy cơ duyên đã thuần thục nên nhận cho, rồi thỉnh thánh tăng làm lễ xuất gia thọ giới cho Bồ-Đề-Đa-La.

Hôm nọ, Ngài gọi Bồ-Đề-Đa-La đến dặn dò: Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi khéo truyền bá chớ cho đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Tâm địa sanh chư chủng,
Nhơn sự phục sanh lý,
Quả mãn bồ-đề viên,
Hoa khai thế-giới khởi.

Dịch:

Đất tâm sanh các giống,
Nhơn sự lại sanh lý,
Quả đầy bồ-đề tròn,
Hoa nở thế-giới sanh.

Truyền pháp xong, Ngài hiện các thứ thần biến, rồi thị tịch.
 



(xem tiếp Tổ thứ hai mươi tám Ấn Độ

cũng là Tổ thứ nhất Trung Hoa)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dieunha, byphuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, tadamina, nguyenthuy, mavuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.569 seconds với 25 câu truy vấn.