Tháng Tư 07, 2020, 08:39:43 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 4 5 [6]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC-- 萬 法 歸 心 錄  (Đọc 17472 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #75 vào lúc: Tháng Một 07, 2011, 08:32:15 PM »

(tiếp theo)

PHỤ LỤC

1- VÔ TÂM LUẬN của BỒ ĐỀ ĐẠT MA
2- BỒ ĐỀ ĐẠT MA THIỀN SƯ QUAN MÔN
3- LUẬN ĐẠI THỪA KHAI TÂM HIỂN TÁNH ĐỐN NGỘ CHƠN TÔNG của Thiền sư ĐẠI CHIẾU

---------------------

達摩大師《無心論》

送於方便領悟無心者

***


自心
佛性
自性
三界
教育
   
    夫至理無言,要假言而顯理。大道無相,為接鹿而見形。今且假立二人,共談無心之論
矣。

  弟子問和尚曰:有心?無心?
  答曰:無心。

  問曰:既云無心,誰能見覺知?誰知無心?
  答曰:還是無心,既見聞覺知還是無心,能知無心。

  問曰:既若無心,即合無有見聞覺知,云何得有見聞覺知?
  答曰:我雖無心,能見能聞能覺能知。

  問曰:既能見聞覺知,即是有心。哪得稱無?
  答曰:只是見聞覺知,即是無心。何處更離見聞覺知,別有無心?我今恐汝不解,一一
為汝解說,令汝得悟真理。假如見終日見,由為無見,見亦無心。聞終日聞,由為無聞,聞
亦無心。覺終日覺,由為無覺,覺亦無心。知終日知,由為無知,知亦無心。終日造作,作
亦無作,作亦無心。故云:「見聞覺知,總是無心。」

  問曰:若為能彌?是無心?
  答曰:汝但仔細推求,看心作何相貌?其心復可得是心不是心?為復在內?為復在外?
為復在中間?如是三處推求覓心,了不可得,乃至於一切處求覓,亦不可得,當知即是無心。

  問曰:和尚既云:「一切處總是無心。」即合無有罪福,何故眾生輪迴六趣,生死不斷?
  答曰:眾生迷妄,於無心中而妄生心,造種種業,妄執為有。足可致使輪迴六趣,生死
不斷。譬有人於暗中見杌為鬼,見繩為蛇,便生恐怖,眾生妄執亦復如是。於無心中,妄執
有心,造種種業,而實無不輪迴六趣。如是眾生,若遇大善知識,教令坐禪,覺悟無心,一
切業障盡皆銷滅,生死即斷。譬如暗中日光一照,而暗皆盡。若悟無心,一切罪滅亦復如是。

  問曰:弟子愚昧,心猶未了審。一切處六根所用者,應答曰語,種種施為,煩腦菩提,
生死涅槃,定無心否?
  答曰:定是無心,只為眾生,妄執有心,即有一切煩惱生死,菩提涅槃。若覺無心,即
無一切煩惱生死涅槃。是故如來為有心者說有生死。菩提對煩惱得名,涅槃對生死得名,此
皆對治之法。若無心可得,即煩惱菩提亦不可得,乃至生死涅槃亦不可得。

  問曰:菩提涅般既不可得到,過去諸佛皆得菩提,此謂可乎?
  答曰:但以世諦文字之言得,於真諦實無可得,故「維摩經」云:「菩提者不可以身得,
不可以心得。」又「金剛經」云:「無有少法可得,諸佛如來但以不可得而得。」當知有心,
即一切有,無心一切無。

  問曰:和尚既云,於一切處盡皆無心,木石亦無心,豈不同於木石乎?
  答曰:而我無心,心不同木石。何以故?譬如天鼓,雖復無心,自然出種種妙法教化眾
生。又如如意珠,雖復無心,自然能作種種變現,而我無心,亦復如是,雖復無心,善能覺
了諸法實相,具真般若,三身自在應用無妨,故寶積經云:「以無心意而現行。」豈同石木
乎?夫無心者即真心也,真心者即無心也。

  問曰:今於心中作,若為修行?
  答曰:但於一切事上覺了,無心即是修行,更不別有修行。故知無心即一切,寂滅即無心也。

  

    弟子於是忽然大悟,始知心外無物,物外無心,舉止動用皆得自在,斷諸疑網,更無罣礙,即起作禮,而銘無心,乃為頌曰:

  
心神向寂,無色無形;
  睹之不見,聽之無聲;
  似暗非暗,如明不明。

  
達摩大師《無心論》終。


-------------------------



(xem tiếp Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #76 vào lúc: Tháng Một 07, 2011, 08:36:32 PM »

(tiếp theo)

VÔ TÂM LUẬN

(Kinh số 2831)

Phàm tột lý không lời, cốt mượn lời để hiển lý. Đạo lớn không tướng vì tiếp kẻ thô nên thấy hình. Nay giả lập hai người để bàn về luận vô tâm.

Đệ tử hỏi: Hòa thượng hữu tâm hay vô tâm?

ĐÁP: Vô tâm.

HỎI: Đã vô tâm ai thấy nghe hiểu biết, và ai biết vô tâm?

ĐÁP: Vô tâm thấy nghe hiểu biết, cũng vô tâm biết vô tâm.

HỎI: Nếu đã vô tâm tức đồng không có sự thấy nghe hiểu biết, thì làm sao được thấy nghe hiểu biết?

ĐÁP: Ta tuy vô tâm mà thường thấy nghe hiểu biết.

HỎI: Đã thường thấy nghe hiểu biết tức là hữu tâm, sao nói là vô tâm?

ĐÁP: Chỉ cái thấy nghe hiểu biết nầy tức là vô tâm. Chỗ nào lìa thấy nghe hiểu biết riêng có vô tâm? Ta nay sợ ông chẳng hiểu, nên vì ông nói rõ ràng, để khiến ông được ngộ chơn lý: Như thấy suốt ngày, thấy mà không thấy, nên cái thấy cũng vô tâm. Nghe suốt ngày, nghe mà không nghe, nên nghe cũng vô tâm. Hiểu suốt ngày, hiểu mà không hiểu, nên biết cũng vô tâm. Suốt ngày tạo tác, tác mà không tác, nên tác cũng vô tâm. Cho nên nói: Thấy nghe hiểu biết đều là vô tâm.

HỎI: Nếu vậy, cái hay biết là vô tâm ư?

ĐÁP: Ông nên nhỏ nhiệm mà xét xem, tâm khởi ra tướng mạo gì? Tâm kia có thể được là tâm hay chẳng phải tâm? Là bên trong, bên ngoài hay khoảng giữa? Như thế ba chỗ suy xét tìm tâm không thể có. Cho đến tất cả chỗ tìm cầu cũng không thể có. Nên biết, đấy tức là vô tâm.

HỎI: Hòa thượng đã nói: Mọi nơi đều vô tâm, tức là đồng với không có tội phước, vậy cớ sao chúng sanh luân hồi trong sáu thú, sanh tử không dừng?

ĐÁP: Chúng sanh mê vọng, chỗ vô tâm mà vọng sanh tâm, tạo muôn ngàn nghiệp, rồi vọng chấp là có. Bao nhiêu đó cũng khiến luân hồi trong sáu thú, sanh tử chẳng dừng. Ví như có người trong đêm tối thấy cái ghế cho là ma, thấy sợi dây cho là rắn, rồi sanh kinh sợ. Sự vọng chấp của chúng sanh cũng giống như thế. Nơi vô tâm vọng chấp có tâm, tạo muôn ngàn tội nghiệp. Vậy là sao khỏi luân hồi trong sáu thú?

Tuy nhiên nếu chúng sinh gặp được bậc Thiện tri thức lớn giáo hoá khiến Toạ thiền giác ngộ được vô tâm, thì tất cả nghiệp chướng đều tiêu diệt, sanh tử liền dứt. Thí như chỗ tối, ánh mặt trời chiếu đến tự nhiên bóng tối hết. Nếu ngộ vô tâm tất cả tội đều tiêu diệt cũng giống như vậy.

HỎI: Đệ tử còn mê muội, tâm chưa rõ ràng. Tất cả chỗ, sáu căn khởi dụng ứng đáp, lời nói và muôn ngàn thi vị, phiền não bồ đề, sanh tử niết bàn nhứt định vô tâm chăng?

ĐÁP: Nhứt định vô tâm. Chỉ vì chúng sanh vọng chấp có tâm, nên liền có tất cả phiền não sanh tử, bồ đề niết bàn. Nếu giác ngộ vô tâm liền không có tất cả phiền não, sanh tử niết bàn. Cho nên Như Lai vì kẻ có tâm nói có sanh tử.

Bồ đề đối vối phiền não mà có tên, Niết bàn đối trị với sanh tử mà có tên. Đó đều là pháp đối trị. Nếu được vô tâm thì phiền não bồ đề không thể có, cho đến sanh tử niết bàn cũng không thể có

HỎI: Bồ đề Niết bàn đã không thể có. Vậy qúa khứ chư Phật đều được Bồ đề, việc nầy có ư?

ĐÁP: Chỉ dùng văn tự của thế đế mà nói thì có, còn với chơn đế thì không thể có. Trong kinh Duy Ma nói: “Bồ đề không thể dùng thân được, không thể dùng tâm được”. Lại kinh Kim Cang nói: “Không một pháp nhỏ có thể được, chư Như Lai do không thể được mà được”. Cho nên, có tâm tức tất cả đều có, vô tâm tức tất cả đều không.

HỎI: Hoà Thượng đã nói tất cả chỗ đều vô tâm. Cây đá cũng vô tâm. Đâu chẳng giống cây đá sao?

ĐÁP: Tâm vô tâm của ta nói không đồng với cây đá. Vì sao? Thí như trống trời (thiên cổ), tuy vô tâm mà khởi ra muôn ngàn tiếng pháp vi diệu, giáo hoá chúng sanh. Lại như hạt châu Như ý, tuy vô tâm mà tự nhiên khởi ra muôn ngàn biến hiện. Sự vô tâm của ta cũng vậy. Tuy vô tâm mà khéo hay giác liễu thật tướng của các pháp, đầy đủ chơn bát nhã, ba thân tự tại ứng dụng, không ngại. Nên trong kinh Bảo Tích nói: “Do vô tâm ý mà khởi hiện hành”. Đâu có thể đồng cây đá sao?

Phàm nói vô tâm tức là chơn tâm. Nói chơn tâm tức là vô tâm.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #77 vào lúc: Tháng Một 07, 2011, 08:42:00 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Ngay đối với tâm con phải tu hành như thế nào?

ĐÁP: Chỉ trên tất cả việc biết một cách rõ ràng. Vô tâm tức là tu hành, chớ không riêng có sự tu hành nào khác. Cho nên, vô tâm tức tất cả. Tịch diệt tức vô tâm.

Người đệ tử ngay nơi đó bỗng nhiên đại ngộ, mới biết ngoài tâm không vật, ngoài vật không tâm. Cử chỉ động dụng đều tự tại, đoạn hết chướng nghi không còn chướng ngại. Liền đứng dậy đảnh lễ và làm bài minh vô tâm rằng:


Tâm thần hướng tịch
Đổ chi bất kiến
Tợ tám phi ám
Xả chi bất diệt
Vô sắc vô hình
Thính chi vô thinh
Như minh bất minh
 Thủ chi vô sanh

Đại tức quách châu pháp giới
Tiểu tức mao kiệt bất đình
Phiền não hỗn chi trọc (bất trọc)
Niết bàn trừng chi bất thanh
Chơn như bẩn vô phân biệt
Năng biện hữu tình vô tình
Thu chi nhất thiết bất lập
Tán chi phổ biến hàm linh
Diệt thần phi trí sở trắc
Chánh mích tuyệt ư tu hành
Diệt tắc bất kiến kỳ hoài
Sanh tắc bất kiến kỳ thành
Đại đạo tịch hiệu vô tướng
Vạn tượng yếu hiệu vô sanh
Như tư vận dụng tự tại
Tổng thị vô tâm chi tinh.

DỊCH:

Tâm thần về tịch
Nhìn đó chẳng thấy,
Giống tối chẳng tối,
Bỏ nó không diệt
Không hình không sắc
Nghe đó không tiếng
Như sáng chẳng sáng
Giữ nó không sanh.

Lớn thời rộng khắp pháp giới,
Nhỏ thời mảy lông chẳng dừng
Phiền não lẫn nó chẳng nhơ,
Niết bàn lắng nó chẳng sạch
Chơ như vốn không phân biệt,
Hay biện hữu tình vô tình
Thu vào tất cả chẳng lập,
Tán ra biến khấp hàm linh
Diệu thàn chẳng biết chỗ lường,
Với việc tu, dứt kiếm tìm
Diệt thời chẳng thấy nó đâu
Sanh thời chẳng thấy nó thành,
Đạo lớn lặng, gọi vô tướng
Muôn tượng mầu, gọi vô danh
Như đây vận dụng tự tại,
Đấy là tinh yếu vô tâm.

Hoà thượng lại bảo rằng: Trong các bát nhã, vô tâm bát nhã là cao tột. Nên kinh Duy Ma nói: “Dùng không tâm ý, không thọ hạnh mà hay tồi phục ngoại đạo”. Lại kinh Pháp Cú nói: “Nếu biết (ngộ) vô tâm, thì pháp không thể có, tội phước cũng không thể có, sanh tử Niết bàn cũng không thể có. Cho đến tất cả đều không thể có. Không thể có cũng không thể có”.

 Hoà Thượng nói bài tụng rằng:

Tịch nhựt mê thời vị hữu tâm,
Nhĩ thời ngộ bãi liễu vô tâm,
Tuy phục vô tâm năng chiếu dụng
Chiếu dụng thường tịch tức như như.

DỊCH:

Năm xưa mê thời vì có tâm
Ngày nay ngộ rồi lại vô tâm
Tuy vô tâm mà hay chiếu dụng
Chiếu dụng  thường tịch tức như như.
Lại nói thêm:

Vô tâm vô chiếu diệc vô dụng,
Vô chiếu vô dụng tức vô vi
Thử thị Như Lai chơn pháp giới,
Bất đồng Bồ Tát vi Bích Chi.

DỊCH:

Vô tâm không chiếu cũng không dụng,
Không chiếu không dụng tức vô vi
Đây là Như lai chơn pháp giới,
Bích Chi Bồ Tát khó thể bì.

Nói vô tâm, tức là không có tướng vọng tâm.

HỎI: Thế nào gọi là Thái Thượng?

ĐÁP: Thái là lớn. Thượng là cao. Diệu lý cao tột gọi là Thái Thượng.

 Lại Thái là địa vị lớn suốt. Chư Thiên trong ba cõi, tuy có phước sống lâu, nhưng khi hết phước cũng luân hồi trong sáu thú, nên chưa gọi là Thái.

Hàng thập trụ bồ tát tuy ra khỏi sanh tử, nhưng mà diệu lý chưa cùng cực, nên cũng chưa gọi là Thái.

 Hàng thập trụ tu tâm, vọng cái có mà vào cái không, lại không cái có, cái không kia. Cả hai đều trừ, chẳng lầm Trung Đạo, cũng chưa cho là Thái.

Lại quên Trung Đạo ba chỗ đều hết, quả vị đến Diệu Giác. Bồ tát tuy trừ ba chỗ mà không thể không cái diệu kia, nên cũng chưa cho là Thái.

Lại quên cái diệu kia thì Phật đạo cùng cực không có chỗ tồn. Không còn nghĩ thì không nghĩ.

Tâm trí mê vọng đều hằng dứt, giác chiếu đều hết, lặng lẽ vô vi. Đây mới gọi là Thái.

Thái nghĩa là cực lý. Cao tột không thể sánh, nên gọi là Thái Thượng tức tên khác của Như Lai, Phật.

---------------------------------


(xem tiếp BỒ ĐỀ ĐẠT MA THIỀN SƯ QUÁN MÔN)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, Daihongcat
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #78 vào lúc: Tháng Một 07, 2011, 08:47:47 PM »

(tiếp theo)

南天竺國菩提達摩禪師觀門

  問曰。何名禪定。

答曰。禪為亂心不起無動無念為禪定。端心止念。無生無滅。無去無來。堪然不動。名之為禪定。何名為禪觀。答曰。心神澄淨名之為禪。照理分明名之為觀。禪觀自達無有錯謬。故名禪觀。心神澄淨不生不滅不來不去湛然不動名之為禪。

問曰。何名禪定。答曰。禪定者梵音。此名功德聚林。三界諸佛皆說禪坐。故名功德聚林。

又問。何名禪法。答曰。禪法從通有次第。初學時從始終有七種觀門。

第一住心門。
第二空心門。
第三無門。
第四心解脫門。
第五禪定門。
第六真妙門。
第七智慧門。

住心門者。謂心散動攀緣不住。專攝念住更無去動。故名住心門。空心門者。謂看心轉追覺心空寂。無去無來無有住處。無所依心。故云空心門。心無相門。謂心澄淨無有相貌。非青非黃非赤非白。非長非短非大非小。非方非圓湛然不動。故無相門心解脫門者。知心無繫無縛。一切煩惱不來上心。

故名心解脫門。禪定者。西域梵音。唐言靜慮。覺心寂靜行時住時坐時臥時皆悉寂靜無有散動。

故名寂靜。真如門者。覺心無心等同虛空。遍周法界平等不二。無千無變。

故名真如門。智慧門者。識了一切名之為智。契達空源名之為惠。

故名智慧門。亦名究竟道。亦名大乘無相禪觀門。

則是修禪學道故。

禪有七種觀門。



(xem tiếp Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc
« Sửa lần cuối: Tháng Một 07, 2011, 08:55:54 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #79 vào lúc: Tháng Một 07, 2011, 08:53:40 PM »

(tiếp theo)


BỒ ĐỀ ĐẠT MA THIỀN SƯ QUÁN MÔN

(Kinh số 2832)

HỎI: Thế nào gọi là Thiền định?

ĐÁP: Thiền là loạn tâm chẳng khởi. Không động không niệm là Thiền định. Thẳng tâm dừng niệm, không sanh không diệt, không qua không lại, an nhiên bất động gọi là Thiền định.

HỎI: Thế nào gọi là Thiền quán?

ĐÁP: Tâm thần lóng lặng gọi là Thiền. soi lý rõ ràng gọi là quán. Thiền và quán tự đạt không có lầm lộn gọi là Thiền quán. Tâm thần lóng lặng chẳn sanh chẳng diệt, chẳng qua chẳng lại trạm nhiên bất động gọi là Thiền.

HỎI: Thế nào gọi là Thiền định?

ĐÁP: Thiền định là tiếng Phạn. Ở đây (Trung Quốc) gọi là rừng tịch tụ công đức. Chư Phật trong tam giới đều nói Thiền toạ. Nên gọi là rừng tích tụ công đức.

HỎI: Thế nào là Thiền pháp?

ĐÁP: Thiền pháp thông thường có thứ lớp. Người sơ học, trước sau thứ lớp có bảy loại quán môn:

Một, trụ tâm môn;

 Hai, không tâm môn;

Ba, vô tướng môn;

 Bốn, tâm giải thoát môn;

Năm, thiền định môn;

Sáu, chơn diệu môn;

Bảy, trí huệ môn.


Trụ tâm môn: Nghĩa là khi tâm tán động phan duyên chẳng dừng, chuyên nhiếp niệm dừng lại, không cho vọng động. Đấy gọi là môn trụ tâm.

Không tâm môn: Nghĩa là khán tâm, chuyên đoái đến giác tâm không tịch. Không qua lại cũng không chỗ trụ. Không có chỗ cho tâm bám. Nên gọi là môn không tâm.

Vô tướng môn: Nghĩa là tâm lắng lặng không có tướng mạo chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng. Chẳng phải dài ngắn lớn nhỏ. Chẳng phải vuông tròn. Mà trạm nhiên chẳng động. Nên gọi môn vô tướng.

Tâm giải thoát môn: Biết tâm không bị cột trói (hệ phược) tất cả phiền não không đến trên tâm. Nên gọi là môn tâm giải thoát.

Thiền định môn
: Là tiếng Phạn, đời Đường dịch là Tịnh lự. Giác tâm lặng lẽ. Đi đứng ngồi nằm đều lặng lẽ không có tán động. Nên gọi tịch tĩnh.

Chơn như môn: Nghĩa là giác tâm, vô tâm v.v. đồng như hư không, biến khắp pháp giới, bình đẳng không hai, không biến, không đổi. Nên gọi môn chơn như.

Trí huệ môn: Biết rõ tất cả danh gọi là trí. Khế đại được nguồn không gọi là huệ. Nên gọi môn trí huệ. Cũng gọi là Đạo cứu cánh. Cũng gọi là môn Thiền quán Đại thừa vô tướng.

Đấy là bảy loại quán môn của người tu thiền học đạo.

-----------------------

(xem tiếp

LUẬN ĐẠI THỪA
KHAI TÂM HIỂN TÁNH, ĐỐN NGỘ CHƠN TÔNG
)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, chonhoadong, tadamina, mavuong, dailuc, Daihongcat
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #80 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:35:56 PM »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN

大乘開心顯性頓悟真宗論

沙門 大照
集釋
居士 慧光

夫大道融心顯實一理。前後賢聖唯趣此門。悟者三界唯心。不悟隨眠□□□乘宗定對相顯。真了悟者知諸法寂然因緣立事假合成名。不了
者著名住字取想奔耶。若欲攝妄歸真染淨平等者。要須注意觀心。本覺自現。意觀有力。仍不出意念到彼岸。常入甚深禪定。久習不已。自然事是皆畢。若觀處有事漸漸向真。縱放身心虛豁其壞。起作恒寂不像而照。任運三昧溫道育德。資成法。身返悟心源無妨無礙。體若虛空名無邊三昧。心無出入名無寂三昧。於一切有處淨無求名不思議三昧。三昧不昧不從緣起名法性三昧。一切學者但求其解不求自證。若欲修習大乘者。不解安心定知悟失。時有居士。俗性李名惠光。是雍州長安人也。
法名大照。不顧榮利。志求菩提。前事安闍梨。後事會和尚。皆已親承口決蜜授教旨。至於精義妙理達本窮源。出有入無圓融自在。居士乃禪思餘暇歎此群迷。遂顯事理幽門。諮呈妙義開斯法要。可謂涉海之舟船直往菩提。斯言信矣。庶將未悟者願令得悟。未安者願令得安。未解脫者願令解脫。

 居士問曰。佛法幽玄凡人不惻。文字浩汗意義難知。請問禪師法要暫辭方便。直往直言不棄俗流。幸無祕密。
大照禪師答。善哉善哉觀汝所問。菩薩根基似欲純熟。吾長身四十有五。入道已來二十有餘。未曾有人問斯意義。汝有何事復決何疑。直問直說不假煩言。問曰。夫欲入道者當修何法看何法證何法求何法悟何法得何法而趣菩提。答曰。一法不看亦無有求。一法不證亦無有後。一法不悟亦無道可修。即是菩提。
問曰。弟子無始世來流浪生死。與理相違。乍聞頓說冥漠不知。神識昏昏莫知所在。由若醉人未能星悟。伏願下接群迷賜垂少問。方便會真。
問曰。云何真性。答曰。不起心常無相清淨。問曰。云何自性。答曰。見聞覺知四大及一切法等各有自性。問曰。自性從何而生。答曰。從妄心生。又問曰。云何離自性。答曰。心不起即離。問曰。云何是道。云何是理。云何是心。答曰。心是道。心是理。則是心心外無理。理外無心。心能平等名之為理。理照能明名之心。心理平等名之佛心。得此理者不見生死。凡聖無異。境智無二。理事俱融。染淨一如。如理真照。無非是道。自他俱離。一切行一時行。亦無前後亦無中間。縛解自在。稱之道。問曰。云何順正理人。答曰。心不起常無相順。問曰。云何順道。答曰。直心不著一切即順。問曰。云何是妄。答曰。不識自心是妄。問曰。云何是顛倒。答曰。若起種種境界是顛倒。問曰。何者是自心。何者是妄心。答曰。若行分別是妄心。不分別是自心。問曰。分別心及不分別心從何而生。答。分別心從顛倒生。不分別心從正智生。問曰。分別心及與不別心俱從何生。答曰。無我生處。問曰。既生處云何稱有顛倒稱有正智。答。若不識自心即行種種顛倒。若識自心即是正智。問曰。今言識與不識俱從何而生。答。若識從悟生。若不識從妄想生。問曰。一切眾生總在妄想。為復亦在正智。答曰。一切眾生無在正智。實無妄想。問曰。我今現在妄相云何稱有正智。答曰。汝本來實無妄想。今稱妄想。即如人食莨蕩子於空中覓針。如此虛空實無有針。問曰。本來既無妄。今一切行人斷何物而求道乎。答曰。不斷一物亦無道可求。問曰。既無道可求。無物可斷。云何世尊經文說斷妄想。答曰。世尊實不遣斷妄想。若斷妄想者即不離妄想一切眾生妄有所得妄有所斷妄見有妄想法。世尊隨眾生意說假立妄想法。世尊實不說一字妄想法。譬如艮鑿對病說藥。若無有病即不說藥。問曰。既是世尊不說妄想法。其妄想何誰造作。答曰。眾生自造作。正智即無。問曰。云何不造正智。偏造作妄想。答曰。不識正智即有妄想。若識妄想。問曰。既有正智。即合有妄想。云何說稱無妄想。答曰。眾生實無妄想。亦無正智。二俱不可得。問曰。既二俱不可得。即合無有凡夫亦無聖人。答曰。亦有凡亦有聖。汝自不識。問曰。何者是凡何者是聖。答曰。汝若分別即是凡夫。若也不分別即是聖。問曰。分別是凡。不分別是聖。如小嬰兒
長頭不分別。可是聖人乎。答曰。作此見解大是愚夫。准如嬰兒幼稚不識好惡。由如癡人不識尊卑。豈得是不分別會。須於真如理中常行分別心得無分別智。問曰。作勿生即是不分別智。答曰。汝且看處看淨心看心起處。即須覺知心從本已來清淨。不被外緣所染。事須了了見。因緣性不可得。即知因緣亦空亦非空者。即是世間所有森羅萬像君臣父母人義禮信。此即是世間法不壞。是故經文不壞世法而入涅槃。若壞世法即是凡夫流浪生死。其世間因緣法各各無主。假緣和合體性皆空。畢境不可得。若見如是理者。即名見性是也。即於分別中得無分別智。常行分別而不分別。此是不壞世法。是故經云。分別諸結相入第一義而不動。
是以能覺之者即動而起寂也。又問曰。維摩經云。常求無念實想智惠。於世間法少欲知足。於出世間法求之無厭。不壞威儀而能隨俗起神通惠引道於眾生。此義云何。答曰。此義者即是三世諸佛妙。即證者乃智非心所惻。問曰。既常求無念實想者。緣何事。諸經即說布施持戒人天之福。豈不是有念法耶。因何得不同而有差別。令一切學人孤疑不信。答曰。汝莫不信。汝不解事。佛說布施持戒人天之福者。為眾生多在妄想。佛無量善巧方便。隨眾生意說妄想法。誘引令趣大乘門。汝今不信。即為引經來證也。法華經云。我此九部法隨順眾生說大乘為本。又說云。十方佛土中准有一乘法。且以假名字引道於眾生。終不以小乘濟渡於眾生。又說云。勿親近小乘三藏學者。又說云。唯此一事實餘二即非真。又諸法無行經云。若人分別戒。是即無有戒。若見有戒者。是即為失戒。據此而言。明知佛說究竟門非說人無福。只是引眾生令入佛惠。過去現在聖人說心得自在心得解脫心得聖人者。此是三世諸佛大印破汝疑也。問曰。諸佛若說一乘。教化諸眾生故。如今總得悟。何須更說惑亂眾生。豈不得罪過也。答曰。汝莫起此意。諸佛大慈悲故。所為眾生落三惡道者眾。所以聞方便門為說六波羅蜜。波羅蜜者。布施持戒忍褥。行此三事得離三惡道人天來往。精進禪定智惠。行此三事得離生死苦。當來成佛。問曰。過去諸佛說三乘。為當現在諸佛說三乘。答曰。過去現在未來說佛總說。問曰。以何義理而得知耶。答曰。法華經云。若且讚佛乘。眾生沒在苦。不能信此法。破法不信。故墮於三惡道。我寧不說法。疾入於涅槃。尋念過去佛所行方便力。我今所得道亦應說三乘。明知過去諸佛並說三乘引道於眾生令入於一乘。問曰。何者是一乘。答曰。心是一乘。問曰。心云何知是一乘。答曰。可見心空無所有。即是一乘。問曰。了見心空無所有是一乘者得聖耶。答曰。得聖。又問曰。有凡耶答曰。亦有凡。問曰。凡與聖有異無異。答曰。並無異也。若悟朝凡暮聖。不悟即六道受生。問曰。今言悟時何物。答曰。悟心。問曰。凡心聖心是一是二。答曰。是一。云何是一。答曰。了見性清淨從本以來無染無著。即知是一。問曰。何誰知無染無著。答曰。心知無染。問曰。心云何知無染。答曰。三世諸佛說心無形體畢竟不可得。是以得知無染。問曰。既無形體。如何得知無染。答曰。只為無形體。故知無染。若有相貌處所還有染。問曰。前言說心。未審心總有幾心。答曰。汝若悟一心不可得。汝若不悟即有若干種心不可知數也。問曰。是凡心。何者是聖心。答曰。汝若取相是凡心。離相即是聖心。問曰。取相心及不取相心請示其要。答曰。一切修道者若見來去心即是長矩心。見好惡。見憎愛。見嗔喜。見邪正。見凡聖。凡自在不自在。見涅槃。見解脫。見不解脫。見佛菩薩。見究竟不究竟。見知解不知解。見精進。見禪定。見智惠等者。並是凡夫妄想心也。問曰。如何是聖人心。答曰。不起一念亦不見一物。即是聖人心也。問曰。禪師得聖人心耶。答曰。我亦無得。問曰。既是無得何有知耶。答曰。我今亦無得亦無知。是故經云。無智亦無得。以無所得即是菩提薩埵。問曰。此理究竟屬誰。答曰。一物不屬。若有所屬。即生死輪迴。若無所屬。畢竟常住。問曰。一切眾生皆以八識而轉不得自在。云何是八識。答曰。所為眼耳鼻舌身意末那賴耶是也。所言識者。以了別為義。如眼與色相應之時意識於中分別。或時計好。或時計惡。隨彼所計便有相生即薰於第七末那之識。承此薰故遂即執取。轉薰於第八識。所已積聚諸業種子得名為藏。眼識既然。諸識亦爾。一切眾生業受報者。先將藏識展轉成因作未來三業。所已因因想乘果果不絕。終還六道受生死苦。是以未能了心者即被八識惑亂也。所言此八識者。謂本有以云為因。藉現在緣而起。造作因緣和合。還欲生未來之因。今欲斷除不令生者。當正觀之時了眼識從何而得。為從色得。為從眼得。為從心得。若從心得。盲人有心。云何不能生。於眼識。若死人有眼。云何不能分別於色。若從色得。色即頑礙無知。如此眾緣不能獨辨了心之時乃知。眼見色時眼因緣空。眼緣既空。即是色空。若了此三事體空即無分別。以無分別故意識分別而無分別。七識欲執而無所執。八識藏中更無薰習。雜染種子以無種子。更不愛生死。湛然常住。不為生之所生滅之所滅。問曰。佛有三身從何而得。答曰。佛三身者從八識而得。由轉八識得成四智。就此四智束成三身。此乃從因至果。有此三身差別。問曰。云何義故而得知耶。答曰。因眼識耳識鼻識舌識身識此五識以為妙觀察智。第六意識成所作智。第七末那識為平等性智。第七阿賴耶為大圓鏡智。問曰。此四智者有何義故而作是說。答曰。用前五識亦云五根。其五根者即惠門照觸前境而無妄染。所以將此五識以為妙觀察智。第六意識者亦云意根。
是智門當須懃覺。覺云便淨。與法相應。真俗齊觀成就智惠。轉意成惠。惠照能明。識無分別。轉智成。是名成所作智。第七末那識者。更無執取自然無憎無愛。以無憎愛故一切法悉皆平等。故云平等性智。第八阿賴耶識藏中即空。雜染種子悉皆清淨。猶如明鏡懸在於空。一切萬像悉皆中現。而此明鏡終不作念言。我能現像。像亦不言。我從鏡生。無能無所。故說此智名為大圓鏡智。問曰。四智既爾。云何三身。答曰。大圓鏡智以為法身。平等性智以為報身。成所作智及妙觀察智以為化身。又問曰。以何知之而作是說。答曰。據今時現在而言。具定一切無漏功德圓滿義足。猶如世間明鏡現眾面像而無分別。故說此知以為法身。妄心既盡。平等性成萬行成就。以為報身。六根無染廣度眾生。自離離他。令他同解而修因。故以化身。問曰。一切眾生令欲求佛。三身之中先修何身。答曰。經云。所說從平等法身流出報身。從此報身流出化身。從此化身流出三藏等教十二部經。以是義故先修法身。言法身者所為妙有妙無中道正觀。若悟此理即是法身。以見法身即知自身心從無始世來常違法故。既見法以即須懃。懃用意無間自然清淨。順於如故久如不以。如心既成。是為報佛。所以法身本有報身修行。化身者。經云。現種種身名化身。問曰。佛三身既爾。云何是三寶。答曰。佛三身者亦云三寶。所謂佛寶法寶僧寶。問曰。三寶即有幾種。答曰。若具釋而言。有三種三寶。問曰。云何名三。答曰。一體三寶。別相三寶。住持三寶。問曰。云何一體三寶。答曰。真心體覺性清淨。名為佛寶圓滿義足具有恒沙功用。名為法寶。功用之義一體一味。名為僧寶。問曰。云何別相三寶。答曰。別相者即此自身。名為佛寶。亦能隨機授藥自欲修行。名為法寶。四大五蔭和合不相違。皆名為僧寶。問曰。何名住持三寶。答曰。住持者。所謂善能扶上接下事事清平。名為佛寶。隨意言說聞者歡喜觀念。名為法寶。在於眾中萬行不違善巧方便能和一切不相 諍論。名為僧寶。問曰。云何稱之為寶。答曰。此第一義者不在內外亦無中間。無有秤量無直無價。即喻而言。名三寶。若也有價。不名為寶。故說如意無價寶珠是也。問曰。老經云。佛道為而無不為。此義云何。答曰。佛道本自無為。眾生起我見如須彌。而則有為。此義非意所知非心所惻。證者了知。但能有功。一時大悟。問曰。經云一切法皆從此經出。答曰。經者心也。心能表一切。行人修習圓照無礙。無上正道因是發明。諸佛如來始則自修。終則化物無法不□。故云皆從此經出。
問曰。經云荷擔如來此義云何。答曰。汝但反照於性。不住於常。反悟無身。誰受荷負。深達般若廣為人說。是即荷負正法擔運勝義。令諸眾生成就功德。故云荷擔如來。問曰。經云。如來度眾生。此義云何。答曰。汝自了眾生正性本來清淨。六根起相。煩惱病生。觀生本空。有何可度。是故若言如來度者。即著我人眾生受者。問曰。金剛般若波羅蜜多經者。此義如何。答曰。金剛者是色心。般若者清淨也。波羅者彼岸也。蜜者到也。又問曰。不取於相如如不動。答曰。汝心若起有去有來。即有為法皆是不安之相。汝心不起即無來無去即無為法。無為法中動不動俱離。是即常住。故稱如如不動。問曰。溫室經云。具其七物洗浴眾僧獲福無量。其福意義請為表示。答曰。經云。所說者實不虛也。汝若具七物洗浴者。即須內外相應德福無量。汝離燒炭火溫淨水清灰操豆楊枝蘇膏內衣等七物先浴者。若常弄心性縱放貪嗔。呵打是非令他聲淚俱下。即是出佛身血。常行三塗業。如此洗浴者猶如洗塹。泥盡應休。但身心清淨不起貪嗔。自然平等即離分別。已分別水洗。卻一切塵垢或足清淨。問曰。此三毒之心若為對治。成就六波羅蜜。答曰。汝須心勇猛精進對三毒發其三誓願。誓斷一切惡。對於嗔毒。誓修一切善。對於癡毒。誓一切眾生。對於貪毒。以能斷能修著。會於心三毒。制成三聚淨戒。次明下心者。即便對於五蔭發五種下心者。一誓觀一切眾生作賢聖想自身作凡夫想。二者誓觀一切眾生作國王想自身作百姓想。三者誓觀一切眾生作師僧想自身作弟子想。四者誓觀一切眾生作父母於自身作男女想。五者誓觀一切眾生作曹主想自身作奴婢想。六波羅蜜者亦云六度。布施持戒忍辱精進禪定智慧等。對其六六根清淨。六道不生內外無著自然布施。即攝檀波羅蜜。善惡平等俱不可得。即攝尸波羅蜜。境智和會違害永盡。即攝忍辱波羅蜜。大寂不動萬行自然。攝精進波羅蜜。繁興妙寂法身自現。攝禪波羅蜜。妙寂開明無有變異究竟常住不著一切。攝般若波羅蜜。是名六波羅蜜。梵言波羅蜜。漢言達彼岸也。問曰。俗流向來問答皆是量起心生惱亂。禪師布施歡喜不有小疑。未敢由意。恐致勞煩。禪師答。汝若無疑不須強問。法無得答問。即有法高下。無問無答是法平等。若廣求見解。即失本道。亦與汝心中作所知障。令汝心起破□。若也實有疑滯。即須懃問。皆是證真。問曰。楞伽經云。遠離覺所覺。此義云何。答曰。覺念不生其心安泰。問曰。弟子雖是俗人。心識早已入道。曰文今聞師說皆是正真無上菩提。誓願志成心無退轉。頓斷世緣心神六識併在無所。一心專念渴仰。聲淚俱下。不能自止。領解暫愧不勝悲泣。五內當惟心中痛切自恨。多劫已來迷此真理。不因禪師悲愍。蒼生無由可悟。故云。大解脫論。作此論者。若合聖意。一切眾生同露此福。若也不合聖意。願罪消滅如有非人不可傳之。恐將傍毀破法之慧。若有實覺福重之人。傳□□與悕惜大道之法。不可輕示。不得翻喜諍論。唯是默心。自知妄念不生我所心滅。

大乘開心顯解脫論
--------------------------


(xem tiếp Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #81 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:40:05 PM »

(tiếp theo)

LUẬN ĐẠI THỪA
KHAI TÂM HIỂN TÁNH, ĐỐN NGỘ CHƠN TÔNG

LỜI TỰA

Đạo lớn chan hòa nơi đất tâm, hiển hiện ra một lý chơn thật. Các bậc hiền thánh xưa nay chỉ đến cửa nầy. Kẻ ngộ thấy ba cõi duy tâm, người chẳng ngộ theo đó ngủ say, rồi nương vào Tông cố định hiện chấp tướng.

 Bậc chơn liễu ngộ biết các pháp vốn tịch nhiên.

Nhơn nơi duyên mà lập sự, giả hợp thành danh.

Kẻ chẳng liễu ngộ, vướng danh mắc tự giữ tướng mà dong ruổi.

Nếu người muốn nhiếp vọng về chơn, nhiễm tịnh bình đẳng, cần yếu phải chú ý quán tâm thì bản giác tự hiện.

Ý quán có lực dụng nhưng chẳng ra ngoài ý niệm đến bờ kia.

Thường phải nhập thiền định sâu, tập lâu chẳng dừng thì tự nhiên việc nầy xong.

 Nếu chỗ quán có lực dụng thì tâm lần lần hướng về chơn.

Lúc ấy dù buông thân tâm dong ruổi như tan hoại, những động tác thường lặng, chẳng hình tượng mà hay chiếu soi, hồn nhiên trong tam muội, ôn đạo nuôi đức, thành tựu pháp thân, ngộ trở lại nguồn tâm, không lo không ngại, thể như hư không, gọi là vô biên tam muội.

Tâm không ra vào gọi là vô tịch tam muội.

Tất cả mọi chỗ đều không cầu gọi là bất tư nghì tam muội, chánh định chẳng lầm, chẳng từ duyên khởi gọi là pháp tánh tam muội.

Tất cả người học chỉ cầu hiểu việc kia, chẳng cầu tự chứng. Nếu người muốn tu Đại thừa mà chẳng phương pháp an tâm thì không bao giờ có ngộ.

Lúc bấy giờ có một cư sĩ tên là Lý Huệ Quang, người huyện Ung Châu, Trường an, pháp danh Đại Chiếu, chẳng màng đến danh lợi, chỉ một lòng cầu đạo Bồ Đề. Trước theo hầu ngài Xà Lê An, sau thân cận Hòa Thượng hội, đều được trao yếu quyết, và ngầm ban giáo chỉ, cho đến những tinh nghĩa, những diệu lý đều đạt cội cùng nguồn, ra vào có không viên dung tự tại.

Cư sĩ trong lúc rảnh rang thiền tịch, nghĩ thương kẻ mê, bèn hiển sự lý nơi cửa mầu, trình bày diệu nghĩa mở mang pháp yếu. Thật có thể bảo là qua bể có thuyền, thẳng đến bờ giác. Hãy tin lời nầy!

Nguyện cầu người chưa ngộ được ngộ, người chưa an được an, người chưa giải thoát được giải thoát.

-----------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #82 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:43:26 PM »

(tiếp theo)

LUẬN ĐẠI THỪA
KHAI TÂM HIỂN TÁNH, ĐỐN NGỘ CHƠN TÔNG

Tác giả: Thiền sư ĐẠI CHIẾU


Cư sĩ hỏi: Phật pháp u huyền kẻ phàm chẳng lường được, văn tự bao la ý nghĩa khó biết. Xin hỏi thiền sư về pháp yếu, tạm bày phương tiện, nói thẳng chỉ thẳng, chẳng bỏ thói tục, mong không có điều bí mật.


Thiền sư Đại Chiếu đáp: Lành thay! Khi nghe lời hỏi của ông, giống như căn cơ Bồ tát gần thuần thục. Ta nay đã bốn mươi lăm tuổi đời, vào đạo  đã hơn hai mươi năm, mà chưa từng nghe có người hỏi y như nghĩa nầy. Ông có việc gì mà lại muốn giải nghi? Nên hỏi thẳng, nói thẳng, chớ chẳng cần nói quanh.

HỎI: Người muốn vào đạo nêntu pháp gì, xem pháp gì, chứng pháp gì, cầu pháp gì, ngộ pháp gì, được pháp gì mà đến Bồ đề?


ĐÁP: Chẳng một pháp có thể xem, cũng không có cầu. Chẳng một pháp để chứng, cũng không có sau. Chẳng một pháp để ngộ cũng không có đạo đáng tu. Đấy tức là bồ đề.

HỎI: Đệ tử từ đời vô thỉ đến nay trôi nổi trong sanh tử, cùng với lý trái nhau, chợt nghe lời đốn mờ mịt chẳng rõ, thần thức lờ mờ chẳng biết nơi nào. Giống như kẻ say chưa tỉnh. Cúi mong tiếp độ kẻ mê, dủ lòng ban cho ít lơi thưa hỏi, để làm phương tiện khể hội lẽ chơn. Xin hỏi: Thế nào là chơn tánh?


ĐÁP: Không khởi vọng tâm, thường không tướng thanh tịnh.

HỎI: Thế nào là tự tánh?


ĐÁP: Thấy nghe hiểu biết, tứ đại và tất cả pháp đều có tự tánh.

HỎI: Tự tánh từ đâu sanh?

ĐÁP: Từ vọng tâm sanh.

HỎI: Thế nào là lìa tự tánh?


ĐÁP: Vọng tâm chẳng khởi tức lìa tự tánh.

HỎI: Thế nào là đạo, thế nào là lý, thế nào là tâm?


ĐÁP: Tâm là đạo, tâm là lý, tức là tâm, ngoài tâm không lý, ngoài lý không tâm. Tâm bình đẳng gọi là lý. Lý hay soi sáng gọi là tâm. Tâm và lý bình đẳng gọi là tâm Phật. Đạt được lý nầy chẳng thấy có sanh tử, phàm thánh không khác, cảnh và trí không hai, lý sự đều chan hòa nhau, nhiễm tịnh nhứt như. Lý như chơn thật chiếu soi, tất cả đều là Đạo, tự tha đều lìa. Hành một lúc hay hành tất cả, cũng không trước sau hay khoảng giữa, mở hay cuộc đề tự tại gọi là Đạo.

HỎI: Thế nào là người thuận với chánh lý?

ĐÁP: Tâm chẳng dấy khởi, thường không tướng mạo là người thuận chánh lý.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #83 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:45:45 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Thế nào là thuận với đạo?

ĐÁP: Trực tâm không dính mắc tất cả là thuận đạo.

HỎI: Thế nào là vọng?

ĐÁP: Không biết tự tâm là vọng.

HỎI: Thế nào là điên đảo?

ĐÁP: Dấy khởi muôn ngàn cảnh giới gọi là điên đảo.

HỎI: Thế nào là tự tâm, thế nào là vọng tâm?

ĐÁP: Nếu khởi phân biệt là vọng tâm, chẳng phân biệt là tự tâm.

HỎI: Tâm phân biệt và tâm chẳng phân biệt từ đâu sanh?

ĐÁP: Tâm phân biệt từ điên đảo sanh, tâm chẳng phân biệt từ chánh trí sanh.

HỎI: Tâm phân biệt và tâm chẳng phân biệt hợp lại từ đâu sanh?

ĐÁP: Từ chỗ vô ngã sanh.

HỎI: Đã có chỗ sanh thế nào lại bảo có điên đảo, có chánh trí?

ĐÁP: Nếu chẳng biết tự tâm tức hành muôn ngàn điên đảo, nếu biết tự tâm tức là chánh trí.

HỎI: Nay nói biết cùng chẳng biết từ đâu sanh?

ĐÁP: Biết từ ngộ sanh, chẳng biết từ vọng tưởng sanh.

HỎI: Tất cả chúng sanh đều ở trong vọng tưởng, sao lại cũng ở trong chánh trí?

ĐÁP: Tất cả chúng sanh không ở trong chánh trí, sự thật cũng không vọng tưởng.

HỎI: Tôi hiện giờ vọng tưởng, thế nào nói có chánh trí?

ĐÁP: Ông xưa nay thật không có vọng tưởng, nay nói vọng tưởng, giống như người uống cỏ Lan Đản tìm kim nơi hư không nhưng hư không (17) thật không có kim.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #84 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:49:22 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Xưa nay vốn không vọng. Vậy tất cả người tu hành, đoạn cái gì để cầu đạo ?

ĐÁP: Không đoạn một vật cũng không đạo để cầu.

HỎI: Không đạo để tu, không vật để cầu, vậy sao trong kinh Đức Phật nói đoạn vọng tưởng?

ĐÁP: Đức Phật thực ra không có dạy người đoạn vọng tưởng. Nếu đoạn vọng tưởng tức chẳng lìa vọng tưởng. Tất cả chúng sanh do vọng nên thấy có sở đắc, do vọng nên thấy có sở đoạn, và do vọng nên thấy có pháp vọng tưởng. Đức Phật chẳng nói một chữ về pháp vọng tưởng. Ví như ông thầy thuốc đối với con bịnh mà nói thuốc, nếu không bịnh thì không nói thuốc.

HỎI: Đức Phật đã chẳng nói pháp vọng tưởng. Vậy cái vọng tưởng kia ai tạo tác?

ĐÁP: Chúng sanh tự tạo tác. Nếu được chánh trí tức là không.

HỎI: Thế nào chẳng tạo chánh trí mà nghiêng tạo vọng tưởng cùng khắp?

ĐÁP: Chẳng biết chánh trí tức có vọng tưởng, nếu biết vọng tưởng (tức có chánh trí).

HỎI: Đã có chánh trí tức gồm có vọng tưởng, thế sao nói không vọng tưởng?

ĐÁP: Chúng sanh thật ra không vọng tưởng cũng không chánh trí, cả hai đều không thế có.

HỎI: Cả hai đều không thể có tức không có phàm phu cũng không có thánh nhơn?

ĐÁP: Cũng có phàm phu, cũng có thánh nhơn. Đấy là do tự ông chẳng biết đó thôi.

HỎI: Thế nào là phàm, thế nào là thánh?

ĐÁP: Ông nếu phân biệt tức là phàm phu, nếu chẳng phân biệt tức là thánh.

HỎI: Phân biệt là phàm, chẳng phân biệt là thánh. Như đứa bé con dài ngắn chẳng phân là thánh nhơn ư?

ĐÁP: Khởi kiến giải nầy thật là kẻ quá ngu. Đứa bé con còn nhỏ chẳng biết tốt xấu, giống như người ngu không biết tôn ty. Há được chẳng phân biệt ư? Nên đối với lý chơn như thường hành phân biệt, tâm sẽ được trí vô phân biệt.

HỎI: Tạo tác mà chẳng sanh tâm (về việc tạo tác ấy) là trí chẳng phân biệt ư?

ĐÁP: Ông hãy xét chỗ tịnh tâm và chỗ khởi tâm, tức phải biết rõ tâm từ xưa nay vốn thanh tịnh, chẳng bị ngoại duyên làm ô nhiễm, đối với mọi việc phải thấy một cách rõ ràng. Nhơn duyên tánh không thể có, tức là biết nhơn duyên cũng không, cũng chẳng phải không, tức là tất cả sum la vạn tượng, vua tôi, cha mẹ, nhơn nghĩa lễ tín v.v. có ở thế gian. Đấy tức là chẳng hoại pháp thế gian. Cho nên trong kinh nói: “Chẳng hoại thế pháp mà vào Niết bàn”.

Nếu hoại pháp thế gian tức là phàm phu trôi nổi trong sanh tử. Pháp duyên thế gian kia, mỗi mỗi đều không chủ tể, mượn các duyên hòa hợp nhưng thể tánh nó đều không, rốt ráo không thể có. Nếu có người thấy được như thế tức gọi là kiến tánh. Tức là ở trong phân biệt được vô phân biệt trí: thường hành phân biệt mà chẳng phân biệt. Đấy là chẳng hoại pháp thế gian. Cho nên kinh nói: “Phân biệt các tướng kết hợp, vào đệ nhất nghĩa mà chẳng động”. Đó là bậc giác ngộ ngay nơi động mà khởi tịnh.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #85 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:56:56 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Kinh Duy Ma nói: “Thường cầu vô niệm, trí huệ thật tướng. Nơi pháp thế gian ít muốn biết đủ, nơi pháp xuất thế mong cầu chẳng chán. Chẳng bỏ oai nghi mà thường theo thế tục khởi thần thông trí huệ dẫn đạo chúng sanh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Nghĩa nầy tức là diệu dụng của chư Phật trong ba đời. Bậc chứng ngộ mới biết, tâm không thể đo lường được.

HỎI: Người thường cầu thật tướng vô niệm, duyên vào việc gì? Các kinh đã nói bố thí trì giới là phước báo cõi người, cõi trời. Há chẳng có niệm sao? Nhơn đâu có sự sai khác chẳng đồng, khiến cho tất cả người học hồ nghi chẳng tin?

ĐÁP: Ông chớ chẳng tin, ông là người chẳng hiểu việc. Phật nói bố thí trì giới là phước cõi người, cõi trời ấy là chúng sanh phần nhiều ở trong vọng tưởng. Phật có vô vàn phương tiện khéo, tùy theo ý của chúng sanh mà nói pháp vọng tưởng, để dẫn dụ họ vào cửa Đại thừa. Ông nếu chẳng tin xin dẫn kinh để chứng minh cho ông rõ:

Kinh Pháp Hoa nói: “Chín bộ giáo pháp của ta đây là tùy thuận chúng sanh nói Đại thừa làm gốc”. Lại nói “Trong cõi Phật mười phương chỉ có pháp nhất thừa, lại dùng sanh tự giả để dẫn đạo chúng sanh chớ không dùng tiểu thừa để tế độ chúng sanh”. Lại nói: “Chỉ có một sự thật nầy, có hai tức chẳng phải chơn”.

Kinh Chư Pháp Vô Hành nói: “Nếu người phân biệt giới (luật), đấy tức không có giới. Nếu người thấy có giới, ấy tức là mất giới”.

Căn cứ vào đây mà nói, biết rõ Phật nói về môn cứu cánh, chớ chẳng phải nói người không phước. Cốt dẫn chúng sanh khiến vào trí huệ Phật. Các bậc thánh hiền trong ba đời nói tâm đắc tự tại, tâm đắc giải thoát, tam đắc thánh nhơn, đấy là chiếc ấn lớn nhất của chư Phật trong ba đời phá nghi cho ông vậy.

HỎI: Chư Phật nói pháp nhất thừa là để giáo hóa chúng sanh. Như nay mọi người đều được khai ngộ. Sao lại nói rằng hoặc loạn chúng sanh? Đâu chẳng lỗi lầm ư?

ĐÁP: Ông chớ khởi ra ý nghĩ nầy. Chư Phật vì lòng đại bi, thấy chúng sanh rơi vào ba đường ác quá nhiều, nên mở phương tiện nói sáu ba la mật. Hành bố thí,  trì giới, nhẫn nhục, sẽ lìa được ba đường ác, được sanh cõi trời cõi người. Hành tinh tấn, thiền định, trí huệ sẽ được lìa những khổ sở trong sanh tử, tương lai sẽ thành Phật.

HỎI: Cớ sao chư Phật quá khứ nói tam thừa, hiện tại chư Phật cũng nói tam thừa?

ĐÁP: Quá khứ, hiện tại và vị lai chư Phật đều nói tam thừa.

HỎI: Do nghĩa nào được biết như thế?

ĐÁP: Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu lại tán thán Phật thừa, thì chúng sanh chìm trong khổ não. Nếu chẳng tin pháp nhất thừa nấy mà còn phá hoại chẳng tin, nên đọa vào ba đường ác. Ta thà chẳng nói pháp, muốn sớm vào niết bàn.Bèn nhớ  lại phương tiện chư Phật quá khứ đã dùng, nên nay ta cũng đắc đạo cũng nói tam thừa , để biết rõ chư  Phật quá khứ đều nói tam thừa, dẫn đường chúng sanh vào nhất thừa”.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #86 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 08:59:44 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Thế nào là nhất thừa?

ĐÁP: Tâm là nhất thừa.

HỎI: Tâm thế nào là biết nhất thừa?

ĐÁP: Nên thấy tâm rỗng suốt không có tướng là nhất thừa .

HỎI: Thấy rõ ràng là tâm rỗng suốt không tướng mạo là nhất thừa, đấy là đắc quả thánh chăng?

ĐÁP: Đắc quả thánh.

HỎI: Có phàm chăng?

ĐÁP: Cũng có phàm.

HỎI: Phàm thánh có khác hay chẳng khác?

ĐÁP: Đều chẳng khác. Nếu một phen ngộ thì sớm phàm chiều thánh. Chẳng ngộ thì sáu đạo thọ sanh.

HỎI:  Nay nói ngộ là ngộ cái gì?

ĐÁP: Ngộ tâm.

HỎI: Tâm phàm tâm thánh là một hay khác?

ĐÁP: Một.

HỎI: Thế nào là một?

ĐÁP: Thấy rõ tính thanh tịnh từ xưa đến nay không nhiễm  không trước , tức là một.

HỎI: Ai biết không nhiễm không trước?

ĐÁP: Tâm biết không nhiễm không trước.

HỎI: Tâm thế nào biết không nhiễm?

ĐÁP: Các Đức Phật trong ba đời đều nói tâm không hình thể, rốt ráo không thể có. Cho nên được biếl là không nhiễm .

HỎI: Đã không hình thể, thế nào biết được không nhiễm?

ĐÁP: Chỉ vì không hình thể nên biết không nhiễm. Nếu có tướng mạo xứ sở là có nhiễm.

HỎI: Trước nói tâm, chưa biết tâm bao gồm bao nhiêu thứ?

ĐÁP: Ông nếu ngộ thì một tâm cũng không thể có. Nếu chẳng ngộ thì có biểt bao tâm, cũng không thể đếm hết được.

HỎI: Đấy là tâm phàm, thế nào là tâm thánh ?

ĐÁP: Ông nếu giữ tướng tức tâm phàm, lìa tướng tức tâm thánh.

HỎI: Tâm giữ tướng và tâm không giữ tướng thế nào, xin chỉ bày yếu nghĩa của nó?

ĐÁP: Tất cả người tu nếu thấy tâm qua lại tức là tâm dài ngắn. Thấy tốt xấu, thương ghét, vui giận, tà chánh, phàm thánh, tự tại hay chẳng tự tại. Thấy niết bàn, giải thoát, thấy Phật bồ tát, thấy cứu cánh không cứu cánh, thấy có hiểu biết không hiểu biết, thấy tinh tấn thiền định, trí tuệ v.v . Đấy là  tâm vọng tưởng của phàm phu.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #87 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 09:03:17 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Thế nào là tâm thánh chơn?

ĐÁP: Chẳng khởi một niệm, cũng chẳng thấy một vật, tức là tâm thánh nhơn.

HỎI: Thiền sư được tâm thánh nhơn chăng?

ĐÁP: Ta cũng không được.

HỎI: Đã không được tại sao biết?

ĐÁP: Ta nay không được cũng không biết. Cho nên kinh nói “không trí cũng không được”. Do chỗ không được tức là bồ tát.

HỎI: Lý nầy cứu cánh thuộc gì?

ĐÁP: Một vật chẳng thuộc. Nếu có chỗ thuộc tức là sanh tử luân hồi. Nếu không chỗ thuộc rốt ráo thường trụ.

HỎI: Tất cả chúng sanh đều do tám thức chuyển nên không được tự tại. Thế nào là tám thức?

ĐÁP: Tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức ấy vậy. Gọi thức là do nghĩa liễu biệt, như khi mắt cùng với hình sắc khế hợp nhau, ý thức ở trong phân biệt, lúc tốt lúc xấu, tùy theo chỗ chấp của nó liền có tướng sanh, rồi huân vào mạt na thức. Nương vào sự huân tập nầy rồi lại chấp thủ, rồi trở lại huân nơi đệ bát thức a lại da. Chỗ tích tụ những chủng tử của nghiệp thức nên được tên là tàng. Những thức như thế, các thức khác cũng vậy.

Tất cả chúng sanh tạo nghiệp thọ báo ấy là trước do tạng thức lần lượt thành nhơn mà tạo nghiệp vị lai. Cho nên nhơn tưởng mà thọ qủa chẳng dừng, rốt lại thọ khổ sanh tử trong sáu đạo. Nên người chưa liễu ngộ tâm, liền bị tám thức làm hoặc loạn. Nói tám thức ấy nghĩa là lấy cái sẵn có làm nhơn, nương vào duyên hiện tại mà khởi. Tạo tác nhơn duyên hòa hợp lại sanh làm nhơn tương lai.

Nay muốn đoạn trừ chẳng cho sanh nữa, nên chơn chánh quán sát rõ nhãn thức từ đâu mà có? Từ sắc có, từ mắt có, hay từ tâm có? Nếu từ tâm có người mù có tâm sao không có nhãn thức. người chết có mắt sao chẳng hay phân biệt các sắc. Nếu từ sắc có (cũng không được) vì sắc là chất ngại vô tri. Như thế các duyên nầy không thể tách riêng để biện biệt được, chỉ khi tâm liễu ngộ mới biết mà thôi. Khi mắt thấy hình sắc, mắt cùng nhơn duyên của nó là không. Mắt cùng duyên đã không, tức là sắc cũng không. Nếu nhận rõ ba việc nầy thể nó là không, liền không phân biệt. Vì không phân biệt nên ý thức phân biệt mà không phân biệt, thức thứ bảy muốn chấp mà không thể chấp.

Trong thức thứ tám lại không có huân tập những chủng tử tạp nhiễm. Do không chủng tử, lại chẳng yêu sống chết, nên lặng yên thường trụ, chẳng bận rộn về chỗ sanh diệt.

HỎI: Phật có ba thân, từ đâu mà được?

ĐÁP: Ba thân Phật từ tám thức mà được. Do chuyển tám thức thành bốn trí, gom bốn trí thành ba thân. Đấy là từ nhân đến quả mà có ba thân sai khác.

HỎI: Nghĩa là như thế nào và cớ sao được biết.


ĐÁP: Do nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân thức chuyển thành diệu quan sát trí. Đệ lục ý thức chuyển thành thành sở tác trí (18). Đệ thất mạt na chuyển thành bình đẳng tánh trí. Đệ bát a lại da chuyển thành đại viên cảnh trí.

HỎI: Bốn trí nầy nghĩa như thế nào mà nói như thế?

ĐÁP: Năm thức trước cũng gọi là năm căn. Năm căn nầy là cửa huệ riêng soi vào tiền cảnh mà không vọng nhiễm, nên đem năm thức nầy làm diệu quan sát trí.

 Đệ lục ý thức cũng gọi là ý căn. Đây là cửa trí phải nên cần mẫn giác ngộ. Giác rồi liền tịnh, cùng với pháp khế hợp, chơn tục đều xét thấy, thành tựu trí huệ, chuyển ý thành huệ, huệ hay chiếu sáng, thức chẳng phân biệt, chuyển thành trí nên gọi là thành sở tác trí.

Đệ thất mạt na thức lại không chấp thủ, tự nhiên không yêu, không ghét, nên tất cả pháp đều bình đẳng. Thế nên gọi là bình đẳng tánh trí.

Đệ bát a lại da thức bên trong tức là không, những chủng tử tạp nhiễm đều thanh tịnh, giống như gương sáng treo ở giữa hư không, tất cả muôn tượng đều hiện ở trong ấy, nhưng mà gương sáng nầy không khởi ý niệm rằng ta hay hiện hình tượng. Hình tượng cũng không nói rằng ta từ gương sanh. Không năng sở nên trí nầy gọi là Đại viên cảnh trí.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #88 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 09:07:40 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Bốn trí đã vậy, thế nào là ba thân?

ĐÁP: Đại viên cảnh trí là pháp thân. Bình đẳng tánh trí là báo thân. Thành sở tác trí và diệu quan sát trí là hóa thân.

HỎI: Do đâu mà nói như thế?

ĐÁP: Căn cứ hiện tại mà nói. Khi định lực đầy đủ, tất cả công đức vô lậu đều tròn đầy và đủ ý nghĩa. Giống như gương sáng hiện các hình tượng mà không phân biệt, nên nói trí nầy là pháp thân. Vọng tâm đã hết, tánh bình đẳng thành tựu được muôn hạnh là do báo thân. Sáu căn không nhiễm độ chúng sanh rộng rãi, tự mình xa lìa và làm  cho người xa lìa, khiến người hiểu biết mà tu nhơn là do hóa thân.

HỎI: Chúng sanh muốn cầu Phật quả. Trong ba thân trước tu thân nào?

ĐÁP: Kinh nói: “Từ bình đẳng nhập pháp thân lưu xuất báo thân, từ báo thân nầy lưu xuất hóa thân, từ hóa thân lưu xuất ba tạng giáo điển, mười hai bộ kinh”. Do lẽ đó nên trước phải tu pháp thân. Nói  pháp thân ấy là nói diệu hữu diệu vô trung đạo chánh quán, nếu ngộ lý nầy tức là pháp thân. Do thấy được pháp thân nên biết thân tâm mình từ đời vô thỉ đến nay thường trái lại với pháp. Khi đã thấy được pháp liền phải chuyên cần, cần mẫn dụng ý không cho gián đoạn thì tự nhiên được thanh tịnh, thuận hợp với NHƯ. Thường Như chẳng dừng thì tâm như đã thành tựu, đấy là báo thân. Cho nên pháp thân thì sẵn có, báo thân là do tu hành. Còn hóa thân, kinh nói “hiện muôn ngàn thân gọi là hóa thân”.

HỎI: Ba thân đã như vậy. Thế nào là Tam bảo?

ĐÁP: Ba thân Phật cũng gọi là tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.

HỎI: Tam bảo có mấy loại?

ĐÁP: Nếu nói đầy đủ thì tam bảo có ba loại.

HỎI: Thế nào là ba?

ĐÁP: Một là nhất thể tam bảo, hai là biệt tướng tam bảo, ba là trụ trì tam bảo.

HỎI: Thế nào là nhất thể tam bảo ?

ĐÁP: Thể chơn tâm giác tánh thanh tịnh gọi là Phật bảo. Đầy đủ ý nghĩa và có hằng sa công dung gọi là Pháp bảo. Nghĩa của công dụng là nhứt vị gọi là Tăng bảo.

HỎI: Thế nào là biệt tướng tam bảo?

ĐÁP: Biệt tướng ấy tức là tự thân nầy gọi là Phật bảo. Hay tùy bịnh cho thuốc tự muốn tu hành gọi là Pháp bảo. Bốn đại năm ấm hòa hợp chẳng chống trái nhau gọi là Tăng bảo.

HỎI: Thế nào là trụ trì tam bảo?

ĐÁP: Trụ trì ấy là khéo hay dở trên tiếp dưới, mọi việc đều thanh tịnh bình đẳng, gọi là Phật bảo. tùy ý phát ngôn người nghe sanh hoan hỷ, gọi là Pháp bảo. Ở trong chúng môn kinh chẳng trái khéo phương tiện, hay hòa hợp với tất cả, chẳng tranh luận với nhau, gọi là Tăng bảo.

HỎI: Tại sao cho đó là BẢO?

ĐÁP: Bổn tánh nầy (đệ nhất nghĩa) chẳng ở trong ngoài cùng khoảng giữa, không thể cân lường, không thể đo được giá trị nên gọi là tam bảo. Đấy là thí dụ mà nói. Nếu cũng có giá cả thì chẳng gọi là bảo, cho nên nói hạt như ý bảo châu vô giá ấy vậy.

HỎI: Lão Kinh nói: “Đạo Phật  không làm mà không gì chẳng làm”. Nghĩa nầy như thế nào?

ĐÁP: Đạo Phật vốn tự vô vi (không làm), chúng sanh khởi chấp ngã như núi tu di mà thành ra hữu vi (có làm). Nghĩa nầy ý không thể biết, tâm không thể lường, bậc chứng ngộ mới biết rõ. Chỉ thường công phu, một phen đại ngộ.

HỎI: Kinh nói: “Tất cả pháp đều từ kinh nầy sanh ra”, là thế nào?

ĐÁP: Kinh là tâm vậy. Tâm hay biểu hiện tất cả. Hành giả tu tập được viên chiếu vô ngại, chánh đạo cao tột nhơn đây mà phát sáng. Chư Phật ban đầu tự tu, sau giáo hóa chúng sanh, không pháp nào chẳng làm. Nên nói “từ kinh nầy sanh ra”.

HỎI: Kinh nói: “Gánh vác việc của Như lai”. Nghĩa nầy như thế nào?

ĐÁP: Ông chỉ nên phản chiếu lại tự tánh, chẳng trụ vào Thường, ngộ lẽ không thân (vô thân), ai chịu gánh vác? Liễu đạt sâu xa lý Bát nhã, và vì người rộng nói. Đấy tức là gánh vác chánh pháp, đảm đương thắng nghĩa, khiến cho chúng sanh thành tựu công đức, nên gọi “gánh vác việc Như Lai”.

HỎI: Kinh nói “Như lai độ chúng sanh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Ông tự rõ chánh tánh của chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh, do sáu căn khởi tưởng nên bịnh phiền não sanh. Nếu quán phiền não sanh vốn không thì có gì nên độ? Cho nên, nếu nói Như lai độ tức là chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #89 vào lúc: Tháng Một 08, 2011, 09:11:52 PM »

(tiếp và hết)

HỎI: “Kim cang bát nhã ba la mật đa Kinh”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Kim cang là sắc tâm, bát nhã là thanh tịnh, ba la  à bờ bên kia, mật là đến.

HỎI: “Chẳng chấp tướng, như như bất động” nghĩa như thế nào?

ĐÁP: Tâm ông nếy khởi có khứ lai tức là pháp hữu vi, đều là tướng chẳng an. Tâm ông nếu chẳng khởi, tức là không khứ không lai, ấy là pháp vô vi. Trong pháp vô vi cái động hay chẳng động đều lìa. Đấy tức là thường trụ. Nên gọi (như như bất động).

HỎI: Kinh Ôn Thất nói: “Cúng đủ bảy vật cho chúng sanh tắm rửa sạch sẽ được phước không lường”. Ý nghĩa của cái phước kia thế nào? Xin biểu thị.

ĐÁP: Kinh đã nói sự thật không dối. Ông nếu đủ bảy vật tắm rửa tức là phải trong ngoài khế hợp (tương ưng) thì phước đức không lường. Ông nếu lìa bảy vật tắm rửa (19), hoặc buông tâm tánh, thả tham sân, xen vào chuyện thị phi, khiến người khổ sở, tức là thân Phật ra máu. Thường chùi lau ba nghiệp tắm rửa như thế. Giống như rửa đồ, bùn nhơ hết thì nghỉ. Chỉ tâm thanh tịnh chẳng khởi tham sân, tự nhiên bình đẳng, tức là lìa phân biệt. Dùng nước phân biệt rửa sạch tất cả những bụi nhơ hoặc làm loạn cho được trong sạch.

HỎI: Tâm ba độc nầy nếu đối trị thành sáu ba la mật chăng?

ĐÁP: Ông chẳng có tâm dũng mãnh, siêng năng đối với ba độc, phát ba thệ nguyện. Một, thệ nguyện đoạn tất cả điều ác, để trừ chất độc của Sân. Hai, thệ làm tất cả việc lành, để trừ chất độc của Si. Ba, thệ độ tất cả chúng sanh, để trị chất độc của Tham. Do hay đoạn hay tu đối với ba độc biến thành ba nhóm tịnh giới.

Kế là phải rõ về tâm nhún nhường, tức là đối với năm ấm mà khởi ra năm loại tâm nhún nhường. một, thệ thấy tất cả chúng sanh, khởi ý tưởng là hiền thánh, tự thân mình khởi ý tưởng là phàm phu. Hai, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi ý tưởng là quốc vương, tự thân mình khởi tưởng là dân dã. Ba, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là sư tăng, tự thân mình khởi tưởng là đệ tử. Bốn, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là cha mẹ, tự thân mình khởi tưởng là con cái. Năm, thệ thấy tất cả chúng sanh khởi tưởng là chủ nhơn, tự thân mình khởi tưởng là tôi tớ.

Sáu ba la mật cũng gọi là sáu độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Đối với sáu trần sáu căn thanh tịnh, lục đạo không sanh, trong ngoài chẳng đắm trước, tự nhiên là hạnh bố thí. Tức nhiếp về đàn ba la mật. Thiện ác bình đẳng đều không thể có được, tức nhiếp về thí ba la mật (giới). Cảnh và trí hòa hợp, sự chống trái hằng tiêu, tức nhiếp về nhẫn nhục ba là mật. Lặng lẽ chẳng động, muôn hạnh tự nhiên, nhiếp về tinh tấn ba la mật. Phồn hưng diệu tịch, pháp thân tự hiện, nhiếp về thiền ba la mật. Diệu tịch mở sáng không có sự biến đổi, cứu cánh thường trụ, tất cả không dính mắc, nhiếp về bát nhã ba la mật. Đấy gọi là sáu ba la mật. Chữ Phạn gọi ba la mật, chữ Hán gọi “đến bờ bên kia”.

HỎI: Kẻ thế tục nầy đến đây thưa hỏi đều là khởi tâm suy lường, sanh mê loạn. Thiền sư vui vẻ bố thí cho (lời vàng), không còn nghi ngờ nữa. Nhưng con chưa dám hỏi hết ý, sợ nhọc phiền ngài.

ĐÁP: Ông nếu không nghi chẳng nên hỏi lại. Pháp không được hỏi đáp, hỏi đáp tức có cao thấp. Không hỏi không đáp là pháp bình đẳng, nếu cầu kiến giải rộng tức là mất đạo gốc, ông cũng lại bị cái sở tri chướng, và khiến ông sanh tâm nghi ngờ. Nếu tâm thật bị ngưng trệ nên ân cần thưa hỏi, để chứng lẽ chơn.

HỎI: Kinh Lăng Già nói: “Xa lìa năng giác và sở giác”. Nghĩa nầy thế nào?

ĐÁP: Giác niệm chẳng sanh khởi, tâm kia an ổn thái bình.

HỎI: Đệ tử tuy người thế tục, tâm thức sớm đã vào đạo. nay nghe thầy nói đều là đạo chánh chơn, giác ngộ cao tột. Thệ một dạ chí thành, tâm không lui sụt, chóng chứng duyên đời, sáu thức tâm thân đều ở chỗ không, một lòng khao khát nhớ nghĩ, sụt sùi rơi lệ khôn nguôi, hiểu rõ được lòng rất hổ thẹn, đâu bằng than khóc! Lòng nầy xót đau, tự hận đã nhiều kiếp mê mờ chơn lý. Nếu chẳng nhờ thiền sư thương xót, bao giờ được ngộ? Cho nên có thể nói đây là luận đại giải thoát.

Làm luận nầy nếu hợp thánh ý, xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Nếu chẳng hợp thánh ý, xin tội tiêu diệt. Như có người chẳng phải (đồng kiến đồng hành) chẳng nên truyền, sợ họ đem hủy báng phá hoại huệ pháp. Nếu có người phước trọng, thật sự giác ngộ, truyền cho pháp lớn không tiếc. Pháp nầy không thể xem thường cũng không thể tranh luận, chỉ nên thầm biết trong lòng: vọng niệm chẳng sanh, tâm ngã sở diệt.

------------------------------

[ Tài liệu do Phật lan tây quốc đồ thư quán sưu, trong Tạng bản Đôn Hoàng. Kinh số 2835, quyển Cổ Dật. Đại Tạng kinh.]

CHÚ THÍCH

(1) Năm phước: giàu có, sang trọng, sống lâu, vui vẻ và bình an - phú, quí, thọ, khương, ninh.

(2) Năm dục: Về phần thô là tiền tài, sắc đẹp, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thuỳ). Về phần tế là sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục.

(3) Tám gió: lợi lộc, suy vi, huỷ báng, khen tặng, ca ngợi, chê bai, khổ, vui (lợi, suy, huỷ, dự, xưng, cơ, khổ, lạc).

(4) Dương Chu và Mặc Địch là hai nhà triết học đời Chiến quốc bên Trung Hoa. Dương Chu chủ trương thuyết vị ngã, Mặc Định chủ trương thuyết kiêm ái.

(5) Ngũ luân: năm bực quan hệ của người đời là vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em và bầu bạn.

(6) Lục quần Tỳ kheo: Khi Phật còn tại thế có sáu thầy Tỳ kheo không hạnh nết, kết đảng làm việc mất oai nghi của tăng sĩ. Do đó nên Phật chế ra nhiều giới luật để răn cấm.Theo Tăng kỳ Luật, Lục quần Tỳ kheo là: Xiển Đà, Ca Lưu Đà Di, Văn Đạt, Ma hê da đạt đa, Mã Sư, Mãn Túc. Bên Ni cũng có sáu Tỳ kheo ni như vậy.

(7) Tam cang: Vua tôi, cha con, chồng vợ. Ngũ thường: Năm đức thường của con người là nhơn, lễ, nghĩa, trí, tín.

(8) Thập độ còn gọi là thập Ba la mật. đấy là mười hạnh thù tháng của Bồ tát:1) Thí ba la mật, 2) Giới ba la mật, 3) Nhẫn ba la mật, 4) Tinh tấn ba la mật, 5) Tịnh lự ba la mật, 6) Bát nhã ba la mật, 7) Phương tiện thiện xảo ba la mật, 8) Nguyện ba la mật, 9) Lực ba la mật, 10) Trí ba la mật. (Xem rõ trong Duy thức luận). Vạn hạnh là nói chung cho tất cả việc tu hành.

(9) Niềm vui đan biều là niềm vui nhàn nhã không tư lự, tiêu dao với giỏ cơm bầu nước.

(10) Phù căn là chỉ cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thô phù ở bên ngoài.

(11) Phù trần là chỉ cho tất cả pháp hữu vi, như hạt bụi lăng xăng không thật.

(12) Khí thế gian là thế giới chúng sanh cư trú.

(13) Hàng vô học là chỉ cho bậc A la hán. Quả vị này sự tu hhọc đã viên mạn,nên gọi là vô học. Ba quả đầu là Tu Đà Hoàn, Tư Dà Hàm, A Na Hàm gọi là hàng hữu học.

(14) Tam thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa

(15) Thập đại là mười từng lớp tu chứng của người tu theo Đạo Phật. Có thập đại chung cho ba thừa, có thập địa của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. Thập địa của Bồ Tát: 1. Hoan hỉ địa, 2. Ly cấu địa, 3. Phát quang địa, 4. Diệm huệ địa, 5. Cực nan thắng địa, 6. Hiện tiền địa, 7 Viễn hành địa, 8. Bất động địa, 9. Thiện huệ địa, 10. Pháp vân địa.

(16) Thừa công là Thừa Lão Pháp sư, ngài có một quyển VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC bản xưa, ngài thấy rất quí nên vận động tiền khắc bản in ấn tống. Ông Quang Phất là người có góp tiền làm công tác trên.

(17) Nói lại bằng một thí dụ khác cho đễ hiểu hơn: Như người đau mắt nhìn ra hư không thấy có những hoa đốm chập chờn, nhưng thật ra trong hư không không có hoa đốm, tại bịnh mắt nên thấy có hoa đốm thôi.

(18) Theo trong Duy Thức học thì năm thức đầu chuyển thành thành sở tác trí, đệ lục ý thức chuyển thành diệu quan sát trí, nhưng ở đây là một lối giải thích khác của các vị Thiền sư. Chúng ta nên suy ngẫm.

(19) Bảy vật dùng để tắm là than đốt, lửa ấm, nước trong, nước tro, xác đậu, cành dương, xà phòng. Nhưng ở đây là phương pháp để rửa tâm.
 
---------------------

HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina
« Sửa lần cuối: Tháng Một 08, 2011, 09:15:44 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 ... 4 5 [6]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.19 seconds với 25 câu truy vấn.