Tháng Tư 04, 2020, 05:27:41 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC-- 萬 法 歸 心 錄  (Đọc 17439 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:18:37 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Đã nghe thầy giảng sách Đại học, xin thầy giảng tiếp sách Trung Dung.

ĐÁP: “Thiên mệnh gọi là tánh, noi theo tánh gọi là Đạo, tu đạo gọi là giáo”.

Giải thích: Lý Trung Dung là tâm pháp của cửa Khổng chẳng thiên lệch, chẳng dựa nương chẳng nghiêng, chẳng dừng. Châu Hi chú giải: Tánh du cho Thiên mệnh, thiên mệnh phú cho mỗi người, mỗi vật cái lý kia. Nhưng mà chưa biết bổn tánh là vật gì? Vì lệnh của thiên mệnh đến giao phó cho người vật, đem lại lý của Khổng thánh chú giải thành ngoài tâm có pháp. Châu Hi đâu biết, bản tánh thể nó rỗng suốt như thái hư, không trong, không ngoài, chẳng lai chẳng khứ. Tất cả đều do ngay lúc ban đầu (tối sơ) không giữ tự tánh, chợt tâm khởi động nên thọ thai ngục. Gốc chỉ một tinh minh, phân làm sáu công dụng, đuổi tình theo cảnh, nổi trôi trong sanh tử. Chúng sinh chẳng thể trở về nguồn, bậc tiên Thánh mới chỉ con đường tắt: đưa ra “thiên mệnh tức là tánh thể”. Chữ thiên mệnh, thiên tâm, thiên đạo, thiên lý, tên tuy khác nhưng thể lại đồng. Nói tóm lại là tánh lý. Người xưa nói: “nơi trời gọi là mệnh, nơi người gọi là Tánh”. Thế nên dạy rằng “thiên mệnh gọi là tánh”.

Từ nơi mỗi người đều vốn đủ một chơn tánh sáng suốt mầu nhiệm, mặc tình thù đáp mà lý vốn đương nhiên. Trong Thể dung hòa nhau chẳng rơi vào chênh lệch, việc trong hàng ngày sự lý không ngại. Cho nên nói: “Noi theo tánh gọi là Đạo”.

Bởi nhơn từ lúc thọ sanh đến nay, trần nhiễm che khuất bổn lý, loạn tưởng điên đảo, chẳng ngộ tánh thể. Bậc thánh hiền bày giáo nghĩa dạy người trở lại Tánh, ngộ lý tu chứng, phản vọng qui chơn, để trở về cái lý thiên mệnh xưa nay của mình. Cho nên nói: “Vì tu đạo nên gọi là giáo”.

Giáo tu nơi đạo, Đạo gốc nơi tánh, tánh thể bắt nguồn nơi Trời. Bậc thánh nhơn biết mệnh và vui với lý Trời. Đấy là đạo Trung Dung vậy. Đạo không thể một chốc xa lìa. Có thể xa lìa được chẳng phải  đạo. Cho nên người quân tử cẩn thận, dè dặt nơi chẳng thấy, sợ sệt chỗ chẳng nghe, chẳng xem cái ẩn bày cái vi, nên người quân tử nhất định phải cẩn thận chỗ vắng kia”.

Giải thích: Nếu ngộ tánh lý không thể một chốc xa lìa, một chốc chẳng hiện hữu tập khí sẽ hiện trở lại. Cho nên e dè cẩn thận, sợ sệt như đến bên vực sâu.Giữ gìn bản tánh chẳng rơi vào tà vạy, cẩn thận đạo riêng, phải phòng ngừa chỗ ẩn chỗ vi, một tý vừa nảy mầm, hơi máy động chưa phát khởi, giống như sanh mà chưa sanh. Chính lúc ấy tốt nhứt là buông liền, thì trở về bổn lý. Công kia coi thế mà rất lớn lao. Nếu đợi cho cái niệm thiện ác phát khởi, thì tâm yêu ghét thủ xả một loạt phát dậy. Khi phát dậy rồi trở lại đi hàng phục nó, đâu chẳng phải quá xa rồi ư? Cho nên cẩn thận chỗ vắng công phu rất nên khẩn yếu. Thế nên nói: “Người quân tử nuôi đạo phải cẩn thận nơi chỗ vắng kia vậy”.

“Hỉ nộ ai lạc khi chưa phát gọi là Trung, khí phát khởi mà bên trong biết tiết chế nó là hòa. Trung là gốc lớn (đại bản) của thiên hạ. Hòa là người đạt đạo trong thiên hạ. Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự dưỡng nuôi của vạn vật”.

Giải thích: Trung chưa phát tức là chơn trí. Tịch chiếu không hai ứng đối với sự vật vô tâm, lại gọi là lương tri, cũng gọi là đạo bổn. Khi hòa đã phát tức là diệu huệ hay phân biệt các pháp mà không trụ, không nhiễm, gọi là lương năng, cũng gọi là đạt đạo. Lương tri lương năng gốc ở tại tánh thể. Tánh thể bao trùm cả thái hư và nuôi dưỡng tất cả vạn hữu. Cho nên nói: “Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự nuôi dưỡng của vạn vật”.


HỎI: Xin nói rõ trở lại về lương tri và lương năng.


ĐÁP: Lương tri và thức tri công dụng của nó đại khái chẳng đồng nhau. Lương tri vô tâm mà biết, chức tri có ý niệm mà biết. Lương tri biết rành thiện ác mà chẳng trụ thiện ác. Lương tri như gương soi vật, đen trắng tốt xấu phân biệt rõ ràng, nhưng mà không một mảy may bóng dáng lưu lại trong thể của gương. Trái lại thức tri trên bóng của gương khởi phân biệt, rồi chấp lấy hay bỏ bê làm chướng ngại bản minh của mình, hợp với vọng trần, phản lại giác ngộ. Lương tri và thức tri phải nên tự phân biệt rành rõ. Mảy may nếu sai cách xa ngàn dặm.

Lương năng là huệ, hay phân biệt các pháp, khéo trị thế đạo, nhưng không nhiễm thế sự, ứng dụng tự tại, muôn sự đều vô ngại.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:23:25 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Khổng Tử chủ trương “không không”. Nhan Hồi chủ trương thường không. Chưa biết chủ trương hai loại không của hai ngài cái lý của nó đồng hay khác?


ĐÁP: Khổng Tử chủ trương không không, do không không mà đạt lý không, do đạt lý không mà trở thành không không. Không không tức là như. Cái như này tức là chơn như. Chơn như tức là bổn tánh. Nhan Tử học đạo thánh chưa chứng chơn như, nên chẳng khỏi có niệm. Tuy có niệm động, giác nó liền không, vì vậy nên niệm không khởi lại nữa. Cho nên Khổng thánh gọi Nhan Tử là HỒI, bởi gần với thường không.

HỎI: Khổng Tử nói: “Đạo ta lấy lý một mà quán thông tất cả” (ngô đạo nhất dĩ quán chi). Chưa biết thế nào là một?

ĐÁP: Một tức là tánh, tánh tức là lý, lý tức là đạo, đạo tức là một.

HỎI: Khắc kỷ phục lễ thiên hạ có xoay về nhân chăng?

ĐÁP: Khắc phục cái tình thức của mình, để trở về với thiên lý. Lễ là tiết văn của lý. Nhân là đức dụng của tâm. Người hay khắc phục vọng tình để trở về chơn cùng thiên hạ trở về nhân thể có một.

HỎI: Kinh thư nói: “Tâm con người chỉ là sự nguy hiểm. Tâm đạo thì vi diệu, chỉ có sự tinh thuần và chỉ có một. Nên chấp ý trung kia”.

ĐÁP: Tâm con người sanh diệt chẳng dừng, nên nguy đãi chẳng an. Tâm đạo hư linh tịch chiếu, nên vi diệu mà khó thấy. Tinh thuần là lẽ màu trong cái hư. Cái một là cái hư trong lẽ mầu. Chấp là chữ chỉ cho sự cố định, Trung là tánh thể. Các bậc thánh hiền trong tam giáo gốc ở một lý. Nếu lìa tâm tánh mà nói đều là lời ma cả.

HỎI: Đạo học của Nhan Tử, chẳng khởi cái nộ, chẳng hai lỗi là thế nào?

ĐÁP: Nộ là động chớ chẳng phải sân nộ. Tâm học của Nhan Tử là niệm động. Đối với Đạo Phật là chẳng có hai niệm nối tiếp, nên nói chẳng khởi. Tâm thường ở chỗ một, ứng sự tiếp vật không thiên lệch, có lỗi liền cải, gọi là chẳng hai.

HỎI: Bậc thánh nhơn dùng dịch để rửa tâm, lui ẩn nơi mật là sao?

ĐÁP: Rửa tâm là lắng vọng, lui ẩn là về chơn. Chơn vọng đều dứt nên gọi là một.

HỎI : Không hiểu không biết, thuận phép vua ?

ĐÁP : Chơn tánh như gương, soi vật mà vô tâm, vừa khởi tri thức liền rơi vào ý thức. Khổng Tử nói: “Ta có biết ư? Không biết vậy!” (Ngô hữu tri hồ tai! vô tri dã). Trong nhà Thiền nói: “Chẳng hay chẳng biết là cốt tuỷ của Đạo Phật” (Bất tri bất thức Phật đạo cốt tuỷ).

HỎI: Ngài Phu Tử ăn cơm hẩm, uống nước trong, co tay làm gối mà nằm, cũng tìm thấy cái vui trong ấy. Chưa biết cái vui chỗ nào?

ĐÁP: Vui đấy là cái vui chơn thật, chớ chẳng phải niềm vui hoan lạc ở đời. Chỗ vui là thiên lý, chỗ biết là thiên mệnh. Vui với thiên lý biết thiên mệnh, không mừng không lo. Diệu tánh rõ ràng niềm vui khó nói.

HỎI: Niềm vui “đan biều” (9) của Nhan Tử cùng với niềm vui của Khổng thánh có đồng nhau không?


ĐÁP: Nhan Hồi đắc được đạo của Khổng Tử được niềm vui không hoan hỉ không lo buồn, lý vốn đồng, nhưng mà họ Nhan còn nhiều bảo nhiệm.

HỎI: Sự chuyên chở của trời cao, không thanh âm, không mùi vị?

ĐÁP: Trong cái không vốn không âm thanh, trong cái rỗng suốt (hư) vốn không mùi vị. Tuy không âm thanh không mùi vị nhưng mà đạo trời không bị che lấp.

HỎI: Thầy Tử Lộ hỏi về sự chết. Phu Tử đáp rằng “chưa biết sự sống làm sao biết sự chết?” Lời giải đáp này chưa biết ý như thế nào?

ĐÁP: Nếu biết buổi sớm thì biết buổi tối, biết lúc khởi đầu thì biết lúc chung cục. Ông, nếu trước ngộ diện mục của thuở chưa sanh trở về trước, thì biết chỗ an thân lập mệnh trở về sau, sanh từ đâu lại và chết đi về đâu? Nguồn của thỉ chung vốn chỉ có một.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:26:42 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Thế nào là tâm xích tử?

ĐÁP: Tâm xích tử là tâm thuần nhứt không vọng. Xích Tử chẳng phải đạo lớn, mà chỉ giữ tâm không phân biệt. Như bậc đại nhơn thông đạt, biết tất cả pháp mà không mất tâm xích tử, mới gọi là Đạo.

HỎI: Thầy Nhan Huyên như ngu, thầy Liêm Khê như dốt, thầy Minh Đạo ngồi thẳng (đoan toạ), thầy Trọng Tố thích tịnh. Cớ sao những vị này có hành động như vậy?

ĐÁP: Đấy là những người ngộ lý tu đạo, và cũng là đường tắt của sự siêu phàm nhập thánh. Hàng Nho sĩ đời sau chẳng quí trọng cửa ngộ, chỉ vụ nơi học nhiều hiểu rộng, đều đem từ bên ngoài bổ trợ vào cho phát khởi, chớ chẳng phải sự dung công của tâm địa để phát minh ra trí huệ chơn thật. Nay ông hỏi Chư Tử khá gọi là chơn học.

HỎI: Tôi tuy học nhiều nhưng không thể Đốn ngộ, chưa biết phải xem văn thư gì để có thể vào cửa lý?

ĐÁP: Người chơn tham thật ngộ không cuộc ở nơi chữ nghĩa. Những kẻ học nhiều lảu thông sách vở, đường lý giải quá nhiều nên lại làm chướng bổn tâm, làm bạn với thức. Như kẻ đếm của báu cho người, rốt lại mình không có nửa phân tiền. Phải thẳng thắn buông bỏ tất cả cái học bên ngoài, đơn độc tham cứu bốn đều mối (hỉ, nộ, ai, lạc) trước khi chưa phát khởi diệm mục nó là gì?

Trong lúc động cũng như trong lúc tịnh thời thời khắc khắc đều theo dõi tham cứu ấy là đạo lý gì? Chỉ giữ một niệm chớ không hai tâm: chẳng tâm suy lường rộng, không dùng tri giải, chẳng dụng tâm đợi ngộ, chẳng dụng tâm hiểu lý, chẳng dụng tâm rơi vào chỗ tịch diệt, không dụng tâm lăng xăng nơi sự lý, chỉ cần tham cứu chỗ chưa phát khởi trở về trước. Lâu ngày chầy tháng thuần nhứt không hai.

 Tâm nghĩ chẳng đến, ý thức chẳng hoạt động, thời tiết nếu đến lý kia tự bày rõ. Thấy hình sắc nghe tiếng tăm, chạm phá lỗ mũi, nghe một tiếng động, tro lạnh đậu nổ, tâm địa khai thông, phát minh bản tánh. Về sau mới dạy học dẫn dắt nhơn dân, cho đến sắp đặt gia đình hay ra giúp nước. Tất cả đâu chẳng phải là diệu dụng của tâm tánh ông?

HỎI: Bậc thượng căn đốn ngộ một cách trực tiếp rõ ràng, còn kẻ trung căn hạ căn tập khí sâu dầy làm sao bảo dưỡng?

ĐÁP: Người sau khi ngộ tánh tuỳ duyên bảo nhiệm, nơm nớp lo sợ như đến bên nhà vua, bên nghiêm phụ. Một lòng chí thành chơn kính thì bản tánh chẳng mất. Phải bảo dưỡng như thế lâu ngày tự nhiên thuần thục.

HỎI: Giả sử một lúc thất niệm, như thế làm sao?

ĐÁP: Như cái học của Nhan Tử, rồi sau trở về không xa, chỉ khoảng một thoắt tự nhiên trở về lý gốc.
 

-----------------

(xem tiếp  Chương III)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:30:14 PM »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN CHƯƠNG  III

3.- 釋 道 辨 偽

  道云。吾教與釋大不相同。師曰。何處不同。道云。釋教修性不修命。吾教能性命雙修。師曰。如何是性。如何是命。道云。修性者離宮習定。修命者水府求玄。師曰。如何是離宮習定。如何是水府求玄。道云。離宮習定。凝心不動以保神。水府求玄。煉精化氣以固形。形神俱妙。與道合真。師曰。釋教偏修。不煉精氣。固形保命。汝卻不知離宮習定。心息相依是二乘之法。煉水府精。化氣逆行。通關固形。是延年之術。佛教上乘。頓悟心性。山河大地。萬物身心。咸是性中虛幻之影。無故依幻修影。豈不錯之太甚。古德云。仙者著於形神。而不能捨去。且形神者。乃是真性中所現之妄想。非為真實。可笑道教。古今高真。不悟正覺。錯會至理。妄以心息相依。謂之修性。煉精化氣固形。謂之修命。總得形神俱妙。與本性遠哉。

  道云。陰鬼之徒。不能雙修。反生妄謗。吾道二乘。爾可辯明。我心方伏。師曰。學仙道者。起於眾生。雖知生死最苦。不悟最上一乘。迷執色身之內。妄以肉心之中。有一神性。號曰真汞。異名姹女。凝神不動。為之離宮習定。腎中精氣。號曰真鉛。異名嬰兒。煉精化氣。為之水府求玄。意為真土。又名黃婆。自如習定之法。須要偏於靜坐。用意調息。攝身不動。為之伏虎。凝神合氣。心定不動。為之降龍。身心意合。為歸土釜。寂然不動。為之修性。張紫陽云。真土擒真鉛。真鉛制真永。鉛汞歸土釜。身心寂不動。道家認斯心息相依。妄謂釋教偏修。豈不錯會最上至理。殊不知人人本具廣大心性。包裹太虛非有非無。不內不外。本自不動。不用習定。無端卻將身內幻識。以幻凝幻謂之修性。真是認賊為子。以謂本具真性。總得修成。不離欲界。定力若盡。還墮下界。

  道云。離宮習定。如是之說。水府求玄。爾須辯之。師曰。水府求玄。護惜精氣。二六時中。返照臍內。一寸三分。名曰氣海。守而不著。照而不住。身心定久。坎離並交。心火下降。腎水上升。精滿氣圓。內腎如火。亥末子初。尾閭氣動。用意吸提。中沖夾脊。直過玉枕。上至天谷。復化金液。香甜之味。嚥下重樓。落於黃庭。名曰乾坤交垢罷。一點落黃庭。從斯和暢。四肢通怏。一氣周流。滋潤臟腑。面返童顏。延年益壽。古仙偈云。法水能潮有秘關。逍遙日夜遣輪環。於中壅滯生諸病。才決通流便駐顏。吳仙又云。氣歸元海壽無窮。此術為金液煉形。習定為王符保神。形神俱妙。與道合真。一朝功滿。隨福淺深。行廣者上升天宮。功微者暫居蓬島。或住洞天。三五百載。二三千年。再來人間。積功累行。培養福慧。一曰行深。上帝來召。隨班列位。仙官不等。若依斯修。與佛之道同者。大似鄭州望曹門。遠之遠矣。道云。心息相依。是二乘法。因甚達摩西來。留傳胎息經文。師曰。祖師西來。傳佛心印。豈將心息相依。是佛最上一乘。達摩未來東土。此方咸習止觀。何勞遠涉。又傳胎習。卻是頭上安頭。可謂嘴上添嘴。因此震旦。初機學道。不悟心性。唯習止觀。四禪八定。不證佛心。故我初祖。航海而來。直指一心。見性成佛。不知何人。偽造胎息。假名達摩。教外別傳。迷惑後昆。金鍮不辨。

  道云。胎息法偽。非佛上乘。如是之論。有何憑據。師曰。胎息之法。如在母胎。杳杳冥冥。身心寂然。久久定成。神與氣結。煉成幻形。識神外游。瞬息萬里。逍遙自在。與佛一乘。了無交涉。楞嚴經云。諸修學人。現前雖成九次第定。不得漏盡。成阿羅漢。皆因執此生死妄想。誤為真實。殊不知幻身之中。本無性命。吾真性命。不在內外。包裹太虛。本自現成。不加修證。後學性受。悟斯性命。能現無量妙身。能度無量眾生。能成無量莊嚴。能作無量佛事。無端妄將胎息之法。誤認教外別傳之旨。可嘆自眼不明迷惑初學難辨。以小為大其過非細。

  道云。身心之內。本無性命。現今心中之神。往來呼吸之氣。斯不是吾真性真命。將此神氣。共相凝合。歸於氣穴。結成大丹。自然身輕神妙。便能遊行八極。天上人間。得大自在。斯謂性命雙修。神仙至真大道。師曰。心中之神是妄。呼吸之氣是幻。若以幻妄是真性命。總然修成。神形輕妙。遊行虛空。瞬息萬里。壽活幾千萬歲。深居洞天福地以為成聖。然而不悟正覺。報盡還來。散入諸趣。

  道云。佛教修性。偏陰無陽。總得修成見性。卻是清靈之鬼。師曰。陰陽鬼神。是空劫後之事。妙明真性。是空劫前之理。若將空劫前之理。認為空劫後之事。斯人不但不明陰陽。而且迷昧顛倒甚矣。

  道云。佛教偏修為陰。吾教雙修為陽。丹經子書咸論。非我自生杜撰。師曰。道家雙修。誤認真實。心中識神。為陽中之陰。身內精氣。為陰中之陽。聚氣合神。神凝氣住。謂之取坎填離。點化陽中之陰。成乾健體。煉成金丹。十月結胎。九年保養。上出頂門謂之陽神。散則成風。聚則成形。遊行天下。逍遙自在。有功上升天宮。功微隱居蓬島。若依斯是。而不修三昧。仙報已盡。還墮下鬼。古德偈云。學道之人不識真。只為從前認識神。無量劫來生死本。痴人喚作本來人。佛教上乘。見性無為。湛若太虛。體同法界。非陰非陽。不出不入。牽之無前。引之無後。舉之無上。抑之無下。亙古常明。至今不昧。雖無形相。能起報化。豈但能現一身。能化千百億身。度脫恆沙眾生。成就萬德莊嚴。淺機抱疑。何能信受。

  道云。吾教有云。修性不修命。萬劫陰靈難入聖。師曰。命學之理。大有差別。若不深究。恐誤後學。山僧不惜唇吻。與爾微細辯之。修命二字。有理有氣。理命有二義。氣命有兩種。吾先明氣命。後再論理命。一氣命者。固本開關。常偏靜坐。返照氣海。真意不散。湛然不著。日久月深。精滿氣圓。內腎如火。急急撞動。調勻鼻息。急提穀道。用意引之。謂之採藥。仙云。癸生須急采。望遠不堪嘗。半晌之間。精氣上騰。自從尾閭。歷歷有聲。中過夾脊。直透玉枕。努力運上。衝至頂門。其氣欲降。用鼻引之。自化甘露。香甜之味。嚥下重樓。落於黃房。此名肘後飛金晶。又曰閉任開督脈。從斯丹田氣暖。神氣沖和。潤澤肌膚。暢於四肢。面返童顏。長年益壽。以此觀之。延命之術。總活千歲。終成敗壞。不悟心性。還墮諸趣。若謂此術。可能成聖。迷惑後昆。真大誑語。二氣命者。凝氣歸根。人在母腹隨母呼吸。及至降誕。剪斷臍蒂。一點凡氣。棲於丹田。如龜一座。吐納元氣。一晝一夜。呼吸往來。一萬三千五百之息。皆從口鼻。漏洩於外。不能返本。歸於氣穴。故壽不長。色身不堅。須在行住坐臥。返照常納氣海。氣住形生。神凝氣住。神氣結成。謂之陽神。日久出形。遊行天下。隨功淺深。列位不等。報盡還來。世間為人。復作惡業。沉墮三涂妄言斯道。了脫輪迴。不修斯道。難入聖位。未免智者見笑。道云。氣命二學。分別甚明。理命二義。再乞示之。師曰。理命二義。在纏出纏。在纏以情為命。出纏以虛為命。在纏動為喪命。泯情為修命。出纏合虛為至命。又謂之覆命。儒曰天命。釋曰法界。此乃大乘之學。可謂中道之理。依斯修證謂之理命。若依氣命。不悟理命。到底成空。終非大道。

  道云。仙師有言。見性者不知其命。末後何歸。未審知命。是理是氣。師曰。見性之人。自知天命。末後一著。與虛合體。儒曰。窮理盡性以至於命。釋云。在纏名如來藏。出纏為法界性。若煉氣命。而神倚氣結。為我歸處。未免報盡。還墮諸趣。須知天命。方謂本理。

  道云。一陰一陽。謂之正道。孤陽寡陰。萬物不生。因甚卻言無陰無陽。如無陰陽。與頑空何異。師曰。動而為陽。靜而為陰。兩儀四象。五行八卦。是太極分後之事。性是無極前之理。太極之中。陰陽尚且未分。何況無極之前。豈有陰陽。頑空名無靈。有靈者非頑。後學不悟。妄生斷見。釋云。如如不動。了了常知。儒曰。寂然不動。感而遂通。道言身心不動以後。復有無極真機。三教示徒。其理無二。若悟真空。則虛靈不昧。

  道云。吾教雙修。一世飛昇。釋教偏修。未免形衰。如果道成則可。不然再來。未免遷移投胎之苦。師曰。汝祗見一世飛昇。不知他歷劫培植。道教馬丹陽。邱長春。三生為伴侶。十世做修行。一出頭來。頓悟正道。今見利根一生成辦。皆是遠劫累積功行。今時故能現世成真。勿執一偏。定在現世。

  道云。氣命之學。是偽非真。依斯之說。命術其無用乎。師曰。煉精化氣。氣聚形生。修命延年之術。若依斯了脫。則誤人非淺。須要頓悟心性。方能超凡入聖。

  問。泥水金丹。黃白妙術。未審其理。是邪是正。師曰。財色名食睡。地獄五條根。五欲不空。生死不息。真實學道。割恩斷愛。持戒明心。方能證理。無端反用。美女采戰。損人補己。不但大喪良心。他日難免火獄。佛云。貪淫眾生。惡業益深。花報眾病。果報火床。又有一等痴業之輩。貪財取利。燒茅煉汞。人問何故。假曰學道。古人去貪。財物沉之於海。今反卻使鉛錫為之修行。如此慕道。真是詭譎奇異。可嘆貪財好色之徒。自投三途苦惡之路。

  道云。大聖老子。化胡成佛。殊不知釋迦是老子之徒。師曰。佛生於周昭王二十六年甲寅。滅於穆王五十三年壬申。歷恭。懿。孝。夷。厲。宣。幽。平。桓。莊。僖。惠。襄。項。匡。定。共十六王。滅後三百四十四年。定王三年方生老子。過流沙時。佛法遐被。闡五天竺。及諸鄰國。天下聞佛正法。已經三百餘年。妄造老子化胡成佛。此是晉惠帝時。王浮偽造欺聖。自入拔舌。其罪何救。

  道云。定王三年。所生後天老子。先天老子。化胡成佛。是實有之。師曰。混沌未分。鴻蒙渺茫。自然元氣。謂之先天。太極已判。天地始分。萬物發生。謂之後天。先天本無形。後天方有像。佛生昭王離辟太遠。如何先天之無形。教化後天之有像。真無地位之言。聞者未免掩鼻。

  問。吾教氣命是外術。心息相依是二乘。還有大乘可修之理麼。師曰。有可修理。問。請示可修之理。師曰。道德清靜二經。依斯修之無過。

  問有幾異名。後學錯會。乞師慈悲。明示易悟。師曰。有疑來問。吾不吝示。問。如何示穀神不死是謂玄牝。師曰。谷者虛。神者靈。虛靈不昧謂之不死。玄牝者。即靈機。靈機者。即真心。問。如何是玄關一竅。師曰念未起。機未萌。謂之玄關。虛中靈。寂中妙。謂之一竅。如何謂取坎填離。師曰。卻妄為取坎。歸心為填離。如何謂抽鉛添汞。師曰。泯情即抽鉛。空心即添汞。如何謂之安爐。師曰。不在內。不在外。如何謂之立鼎。師曰。不即心。不離心。如何謂之金丹。師曰。圓陀陀。亙古常明。光爍爍。至今不昧。如何謂之元精。師曰。妙明真精。應現六用。如何謂之元氣。師曰。一心無妄。德氣潤身。如何謂之元神。師曰。隱顯莫測。應用無方。如何謂之火候。師曰。一念萬年。萬年一念。如何謂之溫養。師曰。返照究心。不昏不散。如何謂之降龍。師曰。心生不續。假喻降龍。如何謂之伏虎。師曰。泯情復性。異名伏虎。如何謂之動靜。師曰。無念而念。念而無念。如何謂之水火。師曰。定水慧火。等學無二。如何謂之真種。師曰。應物靈機。為真種子。如何謂之純陽。師曰。一念不生。萬緣空寂。如何謂之純陰。師曰。妄心顛倒。生滅不停。如何謂之沐浴。師曰。清心釋累。名為沐浴。如何謂之脫胎。師曰。靈光獨耀。迥脫根塵。如何謂之還虛。師曰。人法雙亡。物我一如。如何謂之了當。師曰。出纏真如。清淨法界。

  問。初學入門。從何下手。師曰。先悟後修。問。云何先悟師曰。將平日能所。一切善惡知見。置於肚外。不守一處。單參玄關在於何處。二六時中。深究疑參。此一關竅。是何面目。真疑現前。身心一空。唯有參究一念。再將一念粉碎。真性朗然。玄關現矣。然後隨緣保任。淨除微細流注。自待與虛體一。方為始終了當。

  問。上根頓悟。直下瞭然。中下之機。宿習太重。縱得頓悟。不能頓證。有何方便。再假保養。師曰。悟理之人。隨緣保任。二六時中。動靜之內。外不住有。內不守空。一種平懷。泯然自盡。忽有念生。後念不續。古仙云。神一去。便收來。神返身中氣自回。如此朝朝並暮暮。自然赤子結靈胎。赤子靈胎者。非實有胎也。如赤子之心純真。而無外想也。

  問。守赤子心。可謂道否。師曰。赤子心非是道。自取無分別。心若證赤子心。莫守赤子心。更須轉位。方為大方。

  問。如何謂之大方。師曰。靜若穀神。動若行云。卷舒無跡。出沒無蹤。不掛珍服。權披垢衣。行於非道。成就至道。隨類教化。普濟含靈。自待福慧兩足。方證大覺金仙。

萬法歸心錄捲上



(xem tiếp Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:37:12 PM »

(tiếp theo)

CHƯƠNG III

THÍCH, ĐẠO BIỆN LUẬN LẼ THIỆT HƠN

HỎI: Giáo lý của tôi vào giáo lý của Đạo Phật đại khái chẳng đồng nhau.

Sư hỏi lại: Chẳng đồng nhau chỗ nào?

Đạo sĩ đáp: Đạo Phật tu tánh chẳng tu mạng. Đạo tôi dạy tánh mạng song tu.

Sư hỏi: Thế nào là tu tánh, thế nào là tu mạng?

Đạo sĩ đáp: Tu tánh là “ly cung tập định”, tu mạng là “thuỷ phủ cầu huyền”.

Sư hỏi: Thế nào là  ly cung tập định, thế nào là thuỷ phủ cầu huyền?

Đạo sĩ đáp: Ly cung tập định là ngưng tâm chẳng động để giữ thần. Thuỷ phủ cầu huyền là luyện tinh hoá khí để được hình thể kiên cố (cố hình). Hình và thần đều diệu thì cùng với Đạo hợp lẽ chơn.

Sư nói: Đạo Phật chỉ tu một bên, chẳng luyện tinh hoá khí để được hình thể kiên cố hầu giữ mạng. Ông lại chẳng biết “Ly cung tập định” và “tâm tức tương y” (tâm và hơi thở nương nhau) là pháp của hàng Nhị thừa. Luyện tinh nơi thuỷ phủ hoá khí đi ngược trở lên, thông với huyền quan được hình thể kiên cố. Đó là thuật để kéo dài tuổi thọ.

Phật giáo thượng thừa khi đốn ngộ tâm tánh, thấy sơn hà đại địa, vạn vật, thân tâm đều là hình bóng hư huyễn ở trong Tánh, nên không cớ gì nương huyễn mà tu bóng. Như vậy há chẳng lầm to ư? Người xưa nói: “Bậc tiên còn trước nơi hình thần, nên chẳng thể xả bỏ”. Hơn nữa hình thần là những vọng tưởng từ chơn tánh hiển hiện ra, chẳng phải chơn thật. Khá cười cho Đạo giáo, những bậc cao nhơn xua nay chẳng ngộ được chánh giác lầm hiểu cho là chí lý, mê vọng dùng “tâm tức tương y” cho là tu Tánh. Luyện tinh hoá khí để được hình thể kiên cố cho là tu Mạng. Tất cả là để được hình thân đều diệu. Như vậy cùng với bản tánh quá xa vời!

Đạo sĩ nói: Bọn môn đồ của âm ma, không thể song tu mà trở lại vọng báng Đạo tôi là Nhị thừa. Ông phải biện cho rõ tâm tôi mới phục.

Sư nói: Người học đạo Tiên khởi đầu từ chúng sanh, tuy biết sanh tử là việc quá khổ, nhưng chẳng ngộ được đạo lý Nhất thừa tối thượng. Lầm chấp bề trong của sắc thân, vọng lấy tâm thịt bên trong, cho là có một thần tánh gọi là chơn hống, tên khác là xá nữ. Ngưng thần chẳng động làm như vậy là “ly cung tập định”. Tinh khí trong thân gọi là chơn công, tên khác là anh nhi. Luyện tinh hoá khí, làm như vậy gọi là “thuỷ phủ cầu huyền”. Cái ý là chơn thổ, lại gọi là hoàng bà. Như phương pháp tập định, cần phải nghiêng về tịnh toạ: dùng ý điều tức (hơi thở), nhiếp thân chẳng cho động, làm như vậy gọi là Phục hổ. Ngưng thần hợp với khí, tâm định chẳng động, làm như vậy gọi là Hàng long. Thân tâm ý hợp là trở về thổ phủ, lặng yên chẳng động gọi là tu tánh.

Trương Tử Dương nói: “Chơn thổ giữ chơn công, chơn công chế chơn hống. Công Hống qui thổ phủ, thân tâm lặng yên chẳng động”. Đạo gia nhận đấy là “tâm tức tương y” dối bảo Đaọ Phật là thiên tu (tu một bên). Há chẳng hiểu lầm về chi lý tối thượng ư?

Đâu không biết rằng mỗi người vốn có đủ một tâm tánh rộng lớn, bao trùm cả thái hư, chẳng có chẳng không, cũng chẳng bên trong bên ngoài. Vốn tự bất động chẳng cần tập định. Vô cớ lại đem cái huyễn thức trong thân, rồi dùng huyễn ngưng huyễn gọi là tu tánh. Thật là kẻ nhận giặc làm con, mà cho là “chơn tánh bổn cụ”. Tóm lại, như vậy nếu tu thành công, chẳng lìa Dục giới, một mai định lực hết trở lại đoạ xuống hạ giới!


HỎI: “Ly cung tập định”. Sư đã nói, xin bàn luôn về “thuỷ phủ cầu huyền”?

ĐÁP: Thủy phủ cầu huyền: Tiết ngữ tinh khí, trong suốt 12 giờ, phản chiếu nơi rún trong một tấc 3 phân, gọi là khí hải. Chỉ giữ mà chẳng cho dính mắc, chỉ chiếu mà chẳng trụ. Thân tâm định lâu, cung Khảm và cung Ly đều giao nhau, tâm hỏa giáng xuống, thận thủy bay lên, tinh đầy khí tròn, lúc ấy trong nội thân như lửa, cuối giờ Hợi đầu giờ Tý khí động nơi vĩ lư, bèn dùng ý hút đưa vào trong giáp tích, thẳng qua ngọc chẩm, trên đến thiên cốc, trở lại hóa thành kim dịch, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi nơi huỳnh đình, gọi là “Càn khôn giao cấu” xong. Một điểm rơi vào huỳnh đình, từ đây điều hòa thông suốt, tứ chi khoan khoái, tất cả hơi thở đều chảy khắp, tươi nhuận tạng phủ, mặt trở lại tươi trẻ như bé thơ, tuổi thọ dài lâu. Cổ Tiên xưa có kệ rằng:

Pháp thủy năng triền hữu bi quan,
Tiêu diêu nhật dạ khiển luân hoàn,
Vu trung ủng trệ sanh chư bệnh,
Tài quyết thông lưu tiện trú nhan.

DỊCH:

Tự cửa màu nước pháp thường dâng,
Suốt ngày nhàn nhã khiến xoay vần,
Bên trong ngăn trệ muôn ngàn bệnh,
Vừa khơi chảy suốt mặt mày hàn.

Ngô Tiên lại nói:

Khi qui ngươn hải thọ vô cùng.
Thử thuật vi kim dịch luyện hình.

DỊCH:

Khi về ngươn hải thọ vô cùng,
Thuật này là kim dịch luyện hình.

Tập định là  “ngọc phù bảo thần”, hình và thần đều diệu thì với Đạo hợp lý chơn. Một mai công quả đầy đủ, tùy phước sâu cạn, nếu người hành rộng rãi thì tạm ở nơi Bồng đảo, hoặc trụ nơi động thiên, ở đó ba bốn trăm năm, hay hai ba ngàn năm, rồi sanh trở lại nhơn gian, tích chứa công hạnh, bồi dưỡng phước huệ, một ngày nào đó công quả sâu dày, Thượng đế đến gọi, tùy hàng sắp chỗ đứng, Tiên quan chẳng đồng. Nếu y đây mà tu thì đồng như trong Đạo Phật, đại khái như ở Trịnh châu vọng cầu cửa Tào, xa càng xa vậy.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, anhlam, chonhoadong, tadamina, mavuong, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 31, 2010, 08:43:31 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 07:52:15 AM »

(tiếp theo)

HỎI: Tâm tức tương y, Ngài nói đấy là pháp của Nhị thừa. Vậy do đâu mà ngài Đạt Ma từ Ấn sang lưu truyền kinh Thai Tức?

ĐÁP: Tổ sư từ Ấn sang truyền Tâm ấn, há lại đem “tâm tức tương y” làm nhất thừa tối thượng của Phật ư? Ngài Đạt Ma khi chưa đến Đông độ, phương này đều tu tập Chỉ Quán, nhọc gì từ xa đến lại truyền Thai tập? Ấy là trên đầu thêm đầu, hay có thể bảo là trên mỏ thêm cái mỏ nữa.

Bởi ở Trung Hoa này người sơ cơ học Đạo chẳng ngộ tâm tánh, chỉ tập tu chỉ quán, Tứ thiền bát định, chẳng chứng Phật Tâm. Cho nên sơ Tổ của ta vượt biển mà đến đây “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Chẳng biết người nào ngụy tạo Thai tức giả danh giáo ngoại biệt truyền của Đạt Ma, mê hoặc người sau, làm cho vàng thau không phân biện.

HỎI: Pháp thai tức là ngụy, chẳng phải là pháp thượng thừa của Phật. Ngài nghị luận như vậy có gì làm bằng cứ?

ĐÁP: Phương pháp thai tức, giống như trong thai mẹ, mờ mờ mịt mịt, thân tâm lặng yên. Định lâu được thành tựu thì thần cùng khí giao kết lại, luyện thành một hình huyễn, thức thần rong chơi bên ngoài, chớp mắt đi ngàn dặm, ngao du tự tại. Như vậy thì cùng với Đạo nhất thừa của Phật rõ không can hệ.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Những người tu học, hiện tại tuy được chín từng lớp thiền định, nhưng không được lậu tận thành A La Hán. Tất cả đều do những chấp vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chơn thật”. Đâu chẳng biết trong thân huyễn vốn không có tánh mạng. Chơn tánh mạng của ta không ở trong ngoài, mà bao trùm thái hư, vốn tự nó hiện thành cũng chẳng thêm tu chứng. Tánh thụ của kẻ lậu học ngộ được tánh mạng này, nên hay hiện vô lượng diệu thân, hay độ vô lượng chúng sanh, hay thành vô lượng trang nghiêm, hay làm vô lượng Phật sự. Vô cớ lại đem pháp Thai tức, lầm nhận là tôn chỉ giáo ngoại biệt truyền. Thật đáng buồn thay! Tự mắt mình chẳng sáng còn mê hoặc kẻ sơ học thiếu hiểu biết, rồi đi lấy nhỏ làm lớn, tội kia chẳng nhỏ.

Đạo sĩ hỏi: (Ngài nói) bên trong thân tâm vốn không có tánh mạng, nhưng hiện nay thần ở trong thân, khi hô hấp tới lui, đây chẳng phải là chơn tánh chơn mạng của ta? Nay đem cái thần khí này cộng với tướng ngưng hợp, rồi cho về khí huyệt kết thành đại đơn, tự nhiên thân nhẹ thần diệu, liền có thể “du hành bát cực”, trên trời cõi người đều được tự tại lớn. Đây gọi là tánh mạng song tu, là Đại Đạo chí nhơn của thần tiên.


Sư đáp: Thần trong thân là vọng, khí hô hấp là huyễn. Nếu cho huyễn vọng là chơn tánh mạng, gom lại tu tập thành công, thân hình mầu nhẹ, đi rong trên hư không, chớp mắt xa ngàn dặm, sống lâu mấy ngàn vạn năm, ở sâu nơi động trời đất phước cho là thành thánh. Nhưng mà chẳng ngộ chánh giác, quả báo hết trở lại tan vào các cõi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 07:57:26 AM »

(tiếp theo)

HỎI: Sự tu TÁNH của Phật giáo là thiên về âm mà không dương. Cho dù gom được tu thành kiến tánh cũng lại là sự trong sạch của ma quỷ.

ĐÁP: Âm dương quỷ thần là việc không kiếp trở về sau, còn diệu minh chơn tánh là lý của không kiếp trở về trước. Nếu đem lý trước không kiếp mà nhận là việc sau không kiếp, người này không những chẳng rõ về âm dương mà lại còn mê muội điên đảo nhiều vậy.

Đạo sĩ nói: Phật giáo thiên tu là âm, đạo tôi song tu là dương, trong  Đơn Kinh, Tử Thơ đều nói chớ chẳng phải tôi tự bày điều không căn cứ.

Sư đáp: Chủ trương song tu của Đạo gia là ngộ nhận lẽ chơn thật. Thức thần ở trong thân là âm trong dương. Tinh khí ở trong thân là dương trong âm. Gom khí hợp thần, thần ngưng khí trụ gọi là “Thủ khảm điền ly” (giữ quẻ khảm, lấp quẻ ly), điểm hoá âm trong dương thành thể khô cứng, luyện thành kim đơn, mười tháng kết thai, chín năm bảo dưỡng xuất ra đảnh môn ở trên gọi là Dương thần. Tan ra thì thành gió, hợp lại thì thành hình, ngao du thiên hạ, tiêu dao tự tại. Công phu nhiều thì bay lên Thiên cung, công phu ít thì ẩn cư nơi Bồng đảo. Nếu nương vào đây cho là phải mà chẳng cần tu Tam muội, đến khi quả báo cõi Tiên hết trở lại đoạ làm quỉ cõi dưới. Người xưa nói:

Học đạo chi nhơn bất thức chơn,
Chỉ vì tùng tiền nhận thức thần.
Vô lượng kiếp lại sanh tử bản,
Si nhơn hoán tác bổn lai nhơn.

DỊCH:

Người học đạo chẳng hiểu lẽ chơn,
Bởi do từ trước nhận thức thần.
Vô lượng kiếp nay gốc sanh tử,
Kẻ si nhận đó bản lai nhơn.

Phật giáo thượng thừa, kiến tánh vô vi, trạm như thái hư, thể đống pháp giới, chẳng phải âm dương, chẳng ra vào, dẫn nó không trước, dắt nó không sau, đưa nó không lên, đè nó không xuống từ xưa nó thường sáng, đến nay nó chẳng mê. Tuy không hình tướng mà hay khởi báo thân, hoá thân. Không những chỉ hiện một thân mà có thể hiện trăm ngàn ức thân. Độ thoát chúng sanh như hằng sa, thành tựu muôn đức trang nghiêm. Kẻ căn cơ thiển bạc ôm khối nghi ngờ nào thể tín thọ?

HỎI: Đạo tôi có nói rằng tu tánh chẳng tu mạng, muôn kiếp âm linh khó nhập thánh.


Sư đáp: Lý của mạng học, đại khái có sai khác, nếu chẳng tham cứu cho sâu, sợ e làm lầm người hậu học. Sơn Tăng chẳng tiếc lời cùng ông bàn luận chỗ vi tể của nó:

Hai chữ tu mạng có Lý mạng và Khí mạng. Lý mạng có hai nghĩa, khí mạng cũng có hai loại. Tôi trước nói rõ về khí mạng, sau trở lại bàn về lý mạng.

Khí mạng loại một là “Cổ bổn khai quan” (giữa chặt gốc mở cửa quan), thường nghiêng về tịnh toạ, phản chiếu lại huyệt khí hải, giữ cho chơn ý chẳng tán, trong lặng chẳng chấp trước, lâu ngày chầy tháng, tinh đầy khí tròn, nội thân như lửa, mau mau kích động, điều hòa cho quân bình hơi thở nơi mũi, mau đề lên cốc đạo, nên dùng ý dẫn nó, gọi là hái thuốc (thái dược).

Tiên nói: “Khi can quí sanh phải mau hái, mong xa thường chẳng nổi” (Quí sanh tu cấp thái, vọng viễn bất kham thường). Chỉ khoảng một thoáng, tinh khí xoay trở lên, từ trong vĩ lư có tiếng lụp bụp, ở giữa qua giáp cốt, thẳng thấu ngọc chẩm, ra sức vận lên xông đến đảnh môn, khí kia cuộn xuống, dùng mũi dẫn nó, tự nhiên biến thành cam lộ, mùi vị thơm ngọt, nuốt xuống trùng lâu, rơi vào huỳnh phòng.

Đấy gọi là “trữu hậu phi kim tinh”, lại còn gọi là “bế nhâm khai đốc mạch” (đóng mạch nhâm khai mạch đốc). Từ đây khí nơi đơn điền ấm, thần khí chan hoà, da thịt tươi nhuận, tứ chi sảng khoái, mặt tươi trở lại như trẻ thơ, tuổi thọ dài lâu.

Lấy đây mà xét, thuật kéo dài sanh mạng này dù cho sống lâu ngàn tuổi, rốt lại rồi cũng tan nát. Chẳng ngộ được tâm tánh trở lại đoạ vào các cõi. Nếu bảo thuật này có thể thành Thánh là mê hoặc người sau, thật là lời dối gạt to tát.

Khí mạng loại hai là “ngưng khí qui căn”. Người ở bụng mẹ theo sự hô hấp cửa mẹ cho đến lúc sanh ra, cắt đứt cuống rún, một điểm khí phàm nương ở đơn điền, giống như một bộ rùa, phun nuốt ngươn khí, một ngày đêm thở tới lui mười ba ngàn năm trăm hơi thở, đều từ miệng mũi tuôn ra ngoài, không thể về gốc mà qui về khí huyệt, nên tuổi thọ chẳng dài, sắc thân chẳng vững chắc.

Phải ở chỗ đi đứng, ngồi nằm chiếu soi trở lại và thường nạp vào khí hải.

Khí hải trụ thì hình sanh, thần ngưng thì khí trụ.

Thần khí kết thành gọi là dương thần.

Lâu ngày xuất hình, rong chơi khắp thiên hạ, tuỳ công phu sâu cạn mà ngôi vị chẳng đồng.

Quả báo hết trở lại thế gian làm người, nếu tạo nghiệp ác sẽ đoạ tam đồ.

Dối nói đạo này liễu thoát luân hồi, chẳng tu đạo này khó vào thánh vị, chưa khỏi người trí chê cười.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:06:45 AM »

(tiếp theo)

HỎI: Hai môn học về khí mạng Ngài phân biệt quá rõ ràng. Lý mạng có hai nghĩa xin ngài chỉ rõ luôn.

ĐÁP: Lý mạng có hai nghĩa là tại triền và xuất triền. Tại triền thì lấy tình làm mạng. Xuất triền khởi động là tán mạng, dứt tình là tu mạng. Xuất triền hợp với hư là chí mạng, lại gọi là phục mạng. Nhà Nho gọi là Phục mạng. Phật gọi là pháp giới. Đây là cái học của Đại thừa, có thể bảo là lý trung đạo. Nương vào đây mà tu chứng gọi đó là LÝ MẠNG. Nếu nương vào khí mạng, chẳng ngộ lý mạng rốt lại thành không, chẳng phải đạo lớn.

HỎI: Các bậc Thầy trong Đạo Tiên có nói: Người thấy tánh chẳng biết mệnh kia, nên khi cuối cùng về chỗ nào? Và chưa rõ, biết mệnh lý hay là khí?

ĐÁP: Người kiến tánh tự biết thiên mệnh, rốt sau rõ ràng cùng với hư hợp thể. Nho nói: “Cùng lý tận tánh là do tột ở mệnh”. Đạo Phật nói: “Tại triền gọi Như lai tạng, ra khỏi triền gọi phá giới tánh”. Nếu luyện khí mạng rời thần nương khí kết là chỗ về của ta, thì chưa khỏi báo hết trở lại rơi vào các cõi. Nên biết, thiên mệnh mới là lý gốc.

HỎI: Một âm một dương gọi là chánh đạo, âm dương có lẻ vạn vật chẳng sanh, do đâu lại nói không âm không dương. Nếu không âm dương có khác gì ngoan không?

ĐÁP: Động là dương, tịnh là âm, lưỡng nghi tứ tượng, ngũ hành là việc sau khi phân của thái cực. Tánh là lý trước vô cực. Trong thái cực âm dương còn chưa phân huống là vô cực lại có âm dương hay sao? Ngoan không gọi là vô linh, còn hữu linh thì chẳng phải ngoan.

Kẻ hậu học chẳng ngộ lầm sanh đoạn kiến.

 Đạo Phật nói: “Như như chẳng động rõ ràng thường biết”.

 Đạo Nho nói: “Tịch nhiên chẳng động, có cảm liền thông”.

 Đạo gia nói: “Thân tâm chẳng động về sau có vô cực chơn cơ”.

Tam giáo dạy học trò lý kia không hai. Nếu ngộ chơn không thì rỗng rang mầu nhiệm chẳng mê.


HỎI: Đạo tôi dạy song tu một đời bay bổng, Đạo Phật tu một bên chưa khỏi thân hình suy bại. Nếu như đạo thành thì khá, nếu không được như vậy thì trở lại chưa khỏi cái khổ đầu thai dời đổi?

ĐÁP: Ông chỉ thấy một đời bay bổng, chẳng biết bao kiếp khác gieo trồng bồi đắp. Ông Mã đơn Dương, Khưu trường Xuân của Đạo gia ba đời làm bè bạn, mười đời tu hành, một phen ra đời trở lại liền đốn ngộ chánh đạo. Nay thấy kẻ lợi căn một đời đã xong, ấy đều do những kiếp xa xưa tích chứa công hạnh, cho nên giới đây mới được hiện đời  thành Chơn, chớ chấp một bên mà quyết định nơi hiện đời.

HỎI: Cái học về khí mạng là ngụy không phải chơn thật. Theo lời nói này thì mạng thuật kia vô dụng sao?

ĐÁP: Luyện tinh hóa khí, khí ngưng tụ thì hình sanh, là thuật tu mạng kéo dài tuổi thọ. Nếu y đây để được liễu thoát thì lầm lẫn người sau chẳng nhỏ. Cần phải đốn ngộ tâm tánh mới hay siêu phàm nhập thánh.


HỎI: “Nê thủy kim đơn, hoàng bạch diệu thuật”, chưa biết lý kia là tà hay chánh?

ĐÁP: Tiền tài, sắc dục, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ là năm điều căn bản của địa ngục. Năm dục chẳng không sanh tử chẳng dứt. Người chơn thật học đạo phải cắt ân đoạn ái, trì giới minh tâm mới có thể chứng lý. Không biết, lại dùng “mỹ nữ thái chiến”, tổn người bổ mình, không chỉ đại tán lương tâm, mà ngày kia khó thoát khỏi hỏa ngục. Phật nói: “Tham dâm chúng sanh, ác nghiệp càng nhiều, báo nhỏ thì mắc nhiều bệnh hoạn, báo lớn thì nằm giường hỏa”.

Lại có một bọn mang nghiệp si quá lắm, tham tài thủ lợi “Thiêu mao luyện hống”. Có người hỏi tại sao vậy? Đáp là học đạo. Người xưa muốn bỏ lòng tham, còn đem tiền của bỏ xuống biển. Nay trở lại dùng chì thiết bảo đó là tu hành. Thật là quỉ quyệt lạ. Khá tiếc cho bọn tham tài hiếu sắc tự nhẩy vào con đường khổ của tam đồ!

HỎI: Ngài Đại thánh Lão Tử hóa làm người ẤN thành Phật. Há chẳng biết Thích ca đó là đồ đệ của Lão Tử ư?


ĐÁP: Phật đản sanh vào năm Giáp Dần đời Châu Chiêu Vương năm thứ mười bảy. Tịch vào năm Nhâm Thân vào đời Mục Vương năm thứ mười ba. Trải qua vua Cung, vua Ý, vua Hiếu, vua Di, vua Lệ, vua Tuyên, vua U, vua Bình, vua Hoàng, vua Trang, vua Hi, vua Huệ, vua Nhượng, vua Hạng, vua Khuôn, vua Định, cộng cả thảy mười sáu đời vua. Phật diệt độ sau ba trăm bốn mươi năm (340), nhằm đời vua Định Vương năm thứ mười ba mới sanh Lão Tử. Trải qua dòng cát thời gian, Phật pháp bao trùm khắp cõi xa, mở mang khắp năm xứ Ấn Độ và những nước lân cận. Thiên hạ nghe Phật pháp đã quá  hơn năm trăm năm (500), dối tạo ra Lão Tử hóa người Ấn thành Phật. Đấy là vào đời Tấn Huệ Đế, do Vương Phù ngụy tạo. Ấy là hành động khi dối thánh hiền, tự vào địa ngục rút lưỡi, tội kia làm sao cứu được?

Đạo sĩ nói: Đời vua Định Vương năm thứ mười ba là sanh Lão Tử hậu thiên. Còn Lão Tử tiên thiên thì hóa ra người Ấn thành Phật là có?


Sư đáp: Lúc hỗn độn chưa phân, nguyên khí tự nhiên mập mờ khó biết.
Tự nhiên nguyên khí này là tiên thiên.
Khi thái cực đã chia, thiên địa mới phân, muôn vật phát sinh gọi đó là hậu thiên.
Tiên thiên vốn không hình, hậu thiên mới có tượng.
Phật sanh vào đời vua Chiêu Vương cách sự khai mở của trời đất quá xa, thế nào cái vô hình của tiên thiên lại đi giáo hóa cái hữu tượng của hậu thiên?

Thật là lời nói không có lập trường vững, người nghe không khỏi bịt mũi.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:11:05 AM »

(tiếp theo)

HỎI: Ngài nói giáo lý của tôi môn khí mạng là ngoại thuật, Tâm thức tương y là Nhị thừa. Vậy còn có lý Đại thừa có thể tu không?

ĐÁP: Có lý nên tu.

HỎI: Xin chỉ bày lý nên tu kia.

ĐÁP: Y vào Đạo Đức kinh và Thanh Tịnh kinh mà tu thì không lỗi.

HỎI: Có mấy tên khác nhau, làm sao cho kẻ hậu học lầm hội. Xin thầy từ bi chỉ rõ cho kẻ chưa ngộ.

ĐÁP: Có nghi nên đến hỏi, ta tiếc gì mà chẳng chỉ bày cho ông.

HỎI: Xin thầy chỉ bày cái “Cốc thần bất tử” đó gọi là huyền tẩn như thế nào?

ĐÁP: Cốc là Hư, thần là Linh. Hư linh chẳng muội gõi là đó là bất tử. Huyền tẩn tức là linh cơ. Linh cơ tức là chơn tâm.

HỎI: Thế nào là “Huyền quang nhất khiếu”?

ĐÁP: Niệm chưa khởi, cửa tâm chưa nẩy mầm gọi là huyền quan. Mầu trong rỗng suốt, diệu trong lặng lẽ gọi là nhất khiếu.

HỎI: Thế nào là “thủ khảm điền ly”?

ĐÁP: Bỏ vọng là thủ khảm, trở về tâm là điền ly.

HỎI: Thế nào là “trừu công thiên hống”?

ĐÁP: Dứt tình là trừu công. Vô tâm tức là thiên hống.

HỎI: Thế nào là an lự?

ĐÁP: Chẳng ở trong chẳng ở ngoài.

HỎI: Thế nào là lập đảnh?

ĐÁP: Chẳng phải "Tức  Tâm" ,  chẳng phải "Lìa Tâm".

HỎI: Thế nào là kim đơn?

ĐÁP: Tròn hở hở, suốt xưa thường sáng, sáng suốt rỡ ràng, mà đến nay cũng chẳng mê.

HỎI: Thế nào là ngươn (nguyên)  tinh?

ĐÁP: Diệu minh chơn tinh, ứng hiện sáu công dụng.

HỎI: Thế nào là ngươn khí?

ĐÁP: Một tâm không vọng, hơi đức thấm nhuần nơi thân.

HỎI: Thế nào là ngươn thần?

ĐÁP: Ẩn hiện khó lường, ứng dụng không ngăn.

HỎI: Thế nào là hoả hầu?

ĐÁP: Muôn niệm muôn năm, muôn năm một niệm.

HỎI: Thế nào gọi là ôn dưỡng?

ĐÁP: Phản chiếu xét tâm chẳng hôn trầm chẳng tán loạn.

HỎI: Thế nào gọi là hàng long?

ĐÁP: Tâm sanh chẳng cho sanh tiếp, giả dụ là hàng long.

HỎI: Thế nào gọi là phục hổ?

ĐÁP: Dứt tình về tánh, tên khác gọi là phục hổ.

HỎI: Thế nào gọi động tịnh?

ĐÁP: Vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm.

HỎI: Thế nào gọi là thuỷ hoả?

ĐÁP: Định là thuỷ, huệ là hoả, bình đẳng không hai là thuỷ hoả.

HỎI: Thế nào gọi là chơn chủng?

ĐÁP: Ứng vật linh cơ là chơn chủng.

HỎI: Thế nào là thuần dương?

ĐÁP: Một niệm chẳng sanh muôn duyên lặng lẽ.

HỎI: Thế nào là thuần âm?

ĐÁP: Vọng tâm điên đảo sanh diệt không dừng.

HỎI: Thế nào là Mộc dục?

ĐÁP: Tâm trong sạch sảng khoái là mộc dục.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Một 01, 2011, 08:19:51 AM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:15:02 AM »

(tiếp theo)

HỎI: Thế nào là thoát thai?

ĐÁP: Linh quang độc diệu, quýnh thoát căn trần.

HỎI: Thế nào là hoàn hư?

ĐÁP: Người và pháp đều hết. Vật và ngã nhất như.

HỎI: Thế nào gọi liễu dương?

ĐÁP: Chân như ra khỏi triền, pháp giới thanh tịnh.

Đạo sĩ hỏi: Người mới nhập môn hạ thủ công phu như thế nào?

ĐÁP: Ngộ trước rồi tu sau.

HỎI: Thế nào là ngộ trước tu sau?

ĐÁP: Đem tất cả năng và sở hàng ngày, cùng tất cả những tri kiến thiện ác, đều để ngoài tâm, chẳng giữ một chỗ nào cả, rồi riêng tham cứu câu: “Cửa huyền ở chỗ nào?” (huyền quan tại hà xứ).

Suốt cả mười hai giờ cứu xét cho sâu cái nghi tham này, xem một cửu khiếu này là mặt mũi gì?

Khi chơn nghi hiện tiền thì thân tâm chỉ có một cái không (rỗng).

Duy chỉ có tham cứu nhứt niệm (tức chỉ còn lại cái nhứt niệm).

Trở lại đem nhứt niệm này phá nát ra. Lúc ấy chơn tánh sáng rỡ, huyền quan hiển hiện.

Về sau tuỳ duyên giữ gìn, trừ sạch tất cả dòng nhỏ nhiệm trôi chảy (vi tế lưu chú). Lúc bấy giờ tự đợi cùng hư thể nhập một, mới là trước sau rõ ràng ổn thoả (liễu đương).

HỎI: Bậc thượng căn đốn ngộ, liền đó rõ ràng. Người căn cơ bậc trung bậc hạ, tập nghiệp từ trước quá nặng, dù được đốn ngộ, nhưng mà không thể đốn chứng được. Vậy có phương tiện gì mượn để bảo dưỡng?

ĐÁP: Người ngộ lý nên tuỳ duyên giữ gìn. Suốt mười hai giờ trong lúc động tịnh, ngoài chẳng trụ có, trong chẳng giữ không, thì một tâm bình thản lặng lẽ tự hết. Nếu chợt có niệm sanh, niệm sau chẳng tiếp tục.

Bậc cổ tiên nói: “Thần một phen đi liền thu trở lại. Thần trở lại trong thân khí tự nhiên hồi về. Sớm sớm chiều chiều hành như vậy thì tự nhiên xích tử kết nơi thai mầu”.

Xích tử thai mầu ở đây chẳng phải thật có thai mà nói cái tâm thuần chơn như con đỏ (xích tử), lại cũng không có tưởng bên ngoài.

HỎI: Giữ tâm xích tử có thể gọi là đạo chăng?

ĐÁP: Tâm xích tử chẳng phải là đạo, nên tự giữ chẳng phân biệt. Tâm nếu chứng được tâm xích tử, cũng chớ giữ tâm xích tử. Lại phải chuyển vị mới là phương cách lớn.

HỎI: Thế nào là phương cách lớn?

ĐÁP: Tịnh như hang thần, động như mây bay, co duỗi không dấu vết, hiện ra hay lặng xuống cũng không tung tích. Chẳng mang áo quí quyền mặc áo nhơ, đi trong phi đạo để thành tựu chí đạo. Tuỳ loài dạy dỗ, cứu khắp hàm linh, tự đợi phúc và huệ đều đủ cả hai mới chứng Đại Giác Kim Tiên.
 
--------------------


(xem tiếp Chương IV)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:23:29 PM »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN CHƯƠNG  IV

萬法歸心錄    卷中

4.- 頓悟修證

  僧問。如何為宗。師曰。萬法歸宗。宗即是心。斯心虛靈。融通廣大。無住無為。無修無證。經云。佛語心為宗。無門為法門。西天東土。上古今時。佛佛手授。祖祖相傳。惟此一心。立為宗體。斯體清淨。本自圓明。隨流不染。返流不淨。居凡不減。在聖不增。處類雖殊。其心無二。智慧了之則光明顯。煩惱覆之則妙體隱。離此別修。終成魔外。

  問。如何為教。師曰。諸佛演法。權開三乘五性。菩薩造論。發明萬法一心。後學因詮得旨。斷惑歸真。初機獲兔忘罤。加修證理。

  問。宗教二門。其理為同為別。師曰。宗即無字教。教即有字宗。

  問。宗教二門。其理本一。因甚又言教外別傳。師曰。教因語言文字。方能妙解。宗離語言文字。頓悟一心。故曰教外別傳。又曰向上宗旨。

  僧云。恁麼言傳又有淺深。師曰。淺深由人。理本無二。問。如何是無二之理。師曰。聞教解理。須加修證。自合無為大道。宗門頓悟。必假圓修。方復寂照本心。

  問。經云。歸源性無二。方便有多門。未審何門直下了脫。師曰。內外二因。可能直了。僧云。請師直示。內外二因。師曰。外因須斷淫殺盜。內因要明心見性。問。何故外因斷淫殺盜。師曰。眾生因淫慾想。故纏生死。殺乃遞償命債。故有輪迴。盜要負還本利。故須再來。斯三種因若除。永斷殘質不續。問。如何內因明心見性。師曰。明心本淨。見性本空。問。如何謂明心本淨。師曰。斯心非是色身之內肉團血心。斯心亦非方寸之中生滅妄心。乃是周遍法界。洞徹十方。超出對待。絕諸戲論。不滅不生。非有非無。虛靈不昧。圓妙應物。卷舒無礙。出沒縱橫。隨緣而不變。常住之真心。故過去諸佛概證斯心。現在菩薩同學斯心。未來晚學咸明斯心。眾生在迷而迷斯心。行人發悟而悟斯心。一大藏教惟顯斯心。達摩西來直指斯心。古今知識開示斯心。斯心靈妙。難以盡述。略舉一二。後昆信悟。問。如何謂見性本空。師曰。真如自性。本來空寂。無形無相。湛若太虛。不動不搖。凝然常住。名曰本來面目。又云無位真人。一切山河大地。草木叢林。森羅萬象。染淨諸法。一一皆從斯中流出。

  問。真心本性。是一是二。師曰。非一非二。問。云何非一。云何非二。師曰。本性是體。真心是用。本性如鏡。真心如光。光不離鏡。鏡不離光。古德云。性則即明而妙。凝然湛然。如鏡之體。心則從妙起明。圓融照了。如鏡之光。光鏡分二故非一。光鏡本一故非二。

  問。既云佛與眾生心性體一。因甚佛居聖地。眾生處凡。師曰。佛與眾生。性體本空。心有染淨。故名聖凡。問。云何心有染淨。師曰。本性如鏡。圓明空寂。真心如光。照物不昧。諸聖無心應事。去來無染。謂之淨光。眾生有心應事。分別取捨。謂之染光。染淨雖殊。其體無二。問心性本體。可有限量否。師曰。有。問。體有多大。師曰。含裹十虛。彌綸萬有。僧云既是無邊廣大心性。因甚卻在肉身之內。師曰。一切眾生無始以來。囚系胎獄。桎梏肉身。堅固妄執。廣大心性。惑在身內。認賊為子。如陷大獄。何日能出。不但人天迷此。小乘尚且猶然。僧云。心性不在身內。我今能思者誰。師曰。爾疑所問身內幻識。能思能慮以為我心。斯是六塵緣影。惑汝真性。無故堅執在內。難脫胎獄。楞嚴經云。佛告阿難。此是前塵虛妄想相。惑汝真性。無始至於今生。認賊為子。失汝元常。故受輪轉。若向這裡明得。便知思慮之心。如鏡中影。似空中花。虛顯空輪。本無實質。

  僧云。身內思慮。六塵緣影。云何是吾妙明心性。師曰。眾生不悟廣大心性。不在內外。卻認塵影。妄以虛空包肉身。肉身包肉心。肉心包真性。重重拘縛。固執貪愛。殊不知虛空大地。萬物身心。儘是吾妙明心性。所現幻影。楞嚴經云。聚緣內搖。趣外奔逸。昏擾擾相。以為心性。一迷為心。決定惑為色身之內。不知色身外。洎山河虛空大地。咸是妙明真心中物。恐爾未悟。吾設一喻。本性如盡法界大底鏡子。真心靈照。如鏡中之光明。山河大地。萬象森羅。至於肉身識心。儘是鏡中之影。眾生認影。汩沒四生九有。如若認鏡。自然頓復真心。

  問。心性廣大。含育萬有。不在身內。想在身外。包裹肉身。斯理是否。師曰。非也。僧云在內不成。在外非是。其理甚疑。請師決之。師曰。本性空遍。非身內。非身外。真心無住。不即身。不離身。所以阿難執妄無據。七處茫然。二祖了真不生。一言契道。汝或愚鈍。再示一喻。本性如大海湛水。真心似湛水之光。因境風鼓。忽起浮漚。浮漚是色身。海水是法身。浮漚濕即識性。海水濕即本性。浮漚濕。海水濕。濕性本一。故非內外。海水濕。浮漚濕。濕性各一似有內外。凡夫迷執浮漚。反棄無邊大海。楞嚴經云。譬如澄清百千大海棄之。唯認一浮漚體。目為全潮。窮盡瀛浡。汝等即是迷中倍人。後學若悟漚水海水。濕性本一。何有內外一定之執。不獲本性。真可嘆耳。

  僧云。海水濕。喻法界性。浮漚濕。喻身內識。濕性無二。非內非外。既非內外。報盡命終。離此生彼。現有出入。只有出入。何言不內。師曰。如上開示不能了悟。反覓空花生滅。可謂愚昧之甚。皆因最初不守自性。一念妄動。故系胎獄。生生固執。定在身內。有出有入。有來有去。內外來去。如空中花。花雖生滅。空本不動。識似出入。性本不動。祇如空中花是幻。身內識是妄。今將空花幻。發明身識妄。其理無二。公須自審。汝或不悟再引經喻。楞嚴經云。譬如有人。取頻伽鳥瓶。塞其兩孔。滿中擎空。千里遠行。用餉他國。識陰當知亦復如是。阿難。是虛空。非彼方來。非此方入。如是阿難。若彼方來。則瓶中既貯空去。於本瓶地應少虛空。若此方入。開孔倒瓶。應見空出。是故當知。識陰虛妄。本非因緣。非自然性。釋曰。頻伽鳥瓶。是瓶之名。塞其兩孔。喻善惡業。瓶喻業力。能引識走。瓶中之空。喻隨業之識。此空在瓶。與瓶外空。似有內外。空無二體。內外本一。故非內外。瓶中之空。喻識本空。因善惡業牽引識走。猶如擎瓶千里遠行。用餉他國者。喻舍此受彼。經云阿難。是虛空。非彼方來。非此方入。斯喻捨身。如彼方來。而前身之識未嘗少。受身如此方入。而後身之識未嘗來。當知身死非去。未死之先。本不偏於此。生身非來。未生之先本亦遍於此。迷者不了。以謂在內而有出入。悟者明體本無彼此。豈有來去。

  僧云。悟者明體本無來去。現今死此生彼。卻有去來之相。師曰。緣會而生。緣盡而滅。雖現來去之相。圓明本然不動。凡夫病眼。妄認空花。有生有滅。隨緣流轉。佛經云。善男子。一切眾生。從無始來。種種顛倒。猶如迷人。四方易處。妄認四大為自身相。六塵緣影為自心相。譬彼病目。見空中花。乃至如眾空花。滅於虛空。不可說言有定滅處。何以故。無生處故。一切眾生於無生中。妄見生滅。是說名輪轉生死。後學頓悟。幻識生滅。而圓覺心體常住不動。祖師云。百骸雖潰散。一物鎮長靈。若了此心。有誰生死。

  僧云。開示甚明。無不瞭然。因甚最初而有我之身心。師曰。真源湛寂。覺海澄清。本無能所之端。豈有名相之跡。最初不覺。忽有動心。因明立照。隨照立塵。見分俄興。相名安布。如鏡現相。頓起根身。次則隨想而世界成差。後因憎愛而相續業果。從斯迷真。沉溺三界。虛受輪迴。無有休息。

  僧云。誠師所言。最初不覺。忽有動心。頓起根身。幻形報盡。大四分散。身內幻識如何投胎。師曰。凡夫日用。逐情結業。或善或惡。隨因感果。臨終之際。大地黑暗。有緣之處。一點明色。趨見父母。兩相交遘。生憎愛思。納想投入。赤白二渧。如磁吸鐵。剎那攪住。在胎五位。初七日內名曰雜穢。父精母血伏如薄酪。相和名雜。不淨名穢。二七日內名曰瘡。猶如豌豆。瘡之形。表裡如酪。未生血故。三七日內名曰凝結。稍凝結形。如就於血。四七日內名曰凝厚。漸次堅硬。五臟漸生。五七日內名曰形位。內風所吹。生諸根形。一身四支生差別故。五七日盡。五根皆足。六七日內。名發爪齒。七七日內。名曰具根。一切臟腑。五根圓滿。十月以足。出胎成人。在纏識精。分成六用。見聞知覺。隨境造業。生死死生。輪迴無息。

  問。投胎識神。可有形狀否。師曰。有。問。如何形狀。師曰。投胎識神。名為中有。云何名為中有。死有生有之間。以人類之中有身。如當生本形狀。其形狀不過三尺。如五六歲孩子大。畜生中有。形似畜生。余趣亦然。皆如當生。識形雖小。能作諸業。投胎於父母邊。生顛倒憎愛之想。世俗概呼名為鬼魂。

  僧云。世有不投胎而能奪舍者何也。師曰。世有學道之士。或是有福之人。不入胞胎。候有緣處。母產才出。㘞的一聲。一靈識光。直入囟門。胎識逼去。奪舍成人。斯是不可思議之境界。非有意造作之所能為。

  僧云。世間眾生。報盡命終。自投父母。或有奪舍。地獄受罪之事。想是未必實有。師曰。地獄非無。因心而有。一切眾生。十習結業。因以習成。循業受報。心現地獄。更無外境。華嚴偈云。應觀法界性。一切惟心造。是知地獄受苦。自心所現。楞嚴經云。阿難。是名地獄十因六果。皆是眾生迷妄所造。後學慎勿聞其地獄虛幻。遂至忽略而不絕其惡業。仍以玩習而循其業。自心地獄。忽然現前。欲要擺脫。豈不難哉。如人生在世。行善作惡大小不等。隨因受果。善大者自心感生天堂。惡深者自心感墮地獄。善惡均等。自投父母。罪福皆劣。未即受生。倏然有形。名中陰身。無而忽有。謂之化生。裸形三尺。六根皆利。去來迅疾。無所隔礙。他觀如影而已。七日死而復生。長壽者不過七七。短壽者一二三七。即受生矣。俗呼魂耳。

  問。本性廣大。體包太虛。真心無住。不在內外。身內識心。囚系胎獄。還是識心之內而有真心。還是離識心外別覓真心。師曰。礦中有金。波內有水。在纏藏識。隱覆真如。初學人須悟真妄。依真心則速證菩提。隨妄心則漂流生死。

  僧云。未審身內識心。何謂真。何謂妄。師曰。真心靈知。以寂照為心。妄心有知。以攀緣為心。問如何謂妄心有知。以攀緣為心。師曰。妄心本空。因能所有。隨境分別。憎愛取挽。唸唸攀緣。心心亂想。攬塵無休。住想無息。天堂地獄。輪迴諸趣。不生認生。不死認死。如猿戲樹。似馬放郊流蕩三界。無有休日。

  問。妄心有知。甚麼虛幻。師曰。妄心如水月。有知若空花。從能所生。因分別有。發浮根之識用。成對境之妄知。若離前塵。斯心無體。因境起照。境滅照亡。隨念生塵。念空塵謝。若將此影事。而為佛真體。可謂虛妄之因。亦成斷滅之果。如是虛幻。豈能真實。

  問。如何謂真心靈知。以寂照為心。師曰。真心湛然。照非從境。含虛任緣。未嘗作意。明明不昧。了了常知。舒之無蹤。卷之無跡。如澄潭瑩野。似明鏡懸空。萬象森羅。豁然虛鑑。不出不入。非有非無。斯則千聖冥歸。三世諸佛常住。亦名天真佛性。亦名清淨法身。離斯別修。終成魔外。

  問。真心靈知。恁麼真實。師曰。真心寂照。湛然無際。遍界不能見。魔外不能尋。利刃不能傷。劫火不能焚。鐵圍不能陷。輪迴不能沉。圓陀陀亙古常明。光爍爍至今不昧。悟斯真實心性。成佛不在劫數。

  僧云。如何能泯有知而成靈知。轉妄心而成真心。師曰。妄從根結。真從根解。問如何妄從根結。如何真從根解。師曰。圓明空寂。本無世界身心。忽爾俄興。隨有根塵相布。循塵憎愛。似蛾赴燈。逐情取捨。如蠶自縛。若能根塵不偶。靈光自然獨耀。若是物我一如。六根自然互用。楞嚴經云。汝但不循動靜合離。恬變通塞。生暗滅明。如是十二諸有為相。隨拔一根。脫黏內伏。伏歸元真。發本明耀。耀性發明。諸餘五黏應拔圓脫。不由前塵所起知見。明不循根。寄根明發。由是六根。互相為用。又云阿難。今汝諸根若圓拔已。內瑩發光。如是浮塵。及器世間。諸變化相。有湯消冰。應念化成。無上知覺。汝或未悟。吾再明示真心妄心。以知為體。妄心仗根塵有知而知。真心離根塵無知而知。初學慕道之人。須悟真妄分明。下手用功。自然頓證。

  僧云。如上開示。雖得了悟。無奈業重心浮。根機劣小。不能頓證。如之奈何。師曰。性本無悟。因迷而有悟。心本無修。因染而有修。所以煩惱有淺深。習氣有薄厚。故設方便。修有頓漸。使垢輕者而頓證圓通。令障重者而漸複本性。今假三根。隨機易入。問。云何三根。師曰上根者頓修。中根者漸修。下根者勉修。

  問。云何上根者頓修。師曰。上根利機。宿熏道種。一言之下。心地開通。隨緣保任。淨除流識。念動不續。念空不守。一種平懷。泯然自盡。觸目遇緣。無非妙用。溈山云。汝但心不附物。物豈能礙人。又云唸唸攀緣。心心永寂。圓融法界。頓證無生。如或根樹愚鈍。再設方便漸復。僧云。頓悟頓修之人。因何證道甚速。師曰。實有斯理。以非妄傳。果爾直下明心。一念圓修頓證。不假僧祇。何須劫數。大涅槃經云。譬如有人。在大海中乘船欲度。若得順風。須臾之間。則能得過無量由旬。若不得者。雖復久住。經無量歲不離本處。有時船壞沒水而死。眾生如是。楞嚴經云。如幻三摩提。彈指超無學。所以三乘罔知。十地心驚。一唸成佛。頓超祇劫。

  問。云何中根者漸修。師曰。上根頓修。如風吹云。朗月當天。中機漸修。似磨鏡垢。塵淨光現。如有後學。了悟本心。或是宿習濃厚。智劣心浮。可在二六時中。動靜之內。一切放下。善惡不思。念起即覺。覺之即無。古德云。不怕念起。只恐覺遲。如斯用心。久久無妄。自待人法雙亡。根塵頓脫。真心獨照。卷舒無礙。問。漸修功夫。可偏靜坐。還是動靜通亦修證。師曰。頓悟漸修。多靜易成。上士動靜皆禪。中機廢事偏理。果然坐習純熟。自然動靜無礙。

  問。云何下根者勉修。師曰。下根愚鈍。機思遲回。惛沉厚重。掉舉猛利。難以發。須憑開導。微細指示。助他發機。如斯之輩。須要信心。莫離叢林。常隨知識。誠聽開示。勿認魔境。日日受煉。時時自磨。佛前懺業。眾中低心。得悟之後。不可離師。大亡塵世。深培厚養。久久操履。方有相應。問。下機悟修。因甚費力。師曰。根機遲鈍。煩惱濃厚。惛掉心浮。愚昧障重。不得苦煉。靈機難發。古德云。下根之人。千譬萬喻。說不能會。縱得少解。以為徹悟。不受人教。我慢欺人。如此之流。須生慚愧。不然顛狂。便墮岐路。

  問。悟理之人。保養堅固。如何了知真心現前。師曰。悟理之人。習氣未盡。遇境失念。須要厚養。如牧牛牽拽。隨處鞭伏。待心調步穩。不傷苗稼。方可撒手。不用牧童。若念真心。可往熟處。將平生所憎所愛之事。尋在面前。見聞試之。依前起憎愛心。則知道心未熟。若遇逆順境界。不起憎愛之心。則知近道真心現矣。意欲再生所愛之心。想那所愛之樂。斯愛樂之心全然不起。而欲再生所憎之心。想那所憎之怒。斯憎怒之心全然不動。到此方能自在隨緣。應物無礙。問。真心未現之際。用功歇妄之時。兼行眾善。助道易成。如是之說。其理可否。師曰。歇妄心。為正修。作諸善。為助修。若有心行善著善。必落於人天福果。若無心相應眾善。可謂之正修助資。般若經云。須菩提。菩薩無住相佈施。其福德不可思量。今見學者。偏執不圓。少有悟理。便恃天真。不習眾善。福劣魔勝。問。萬善有為是福德。見性無為是功德。因甚兼修有無攪亂。師曰。有為著有。果報人天。有為無染。功顯性德。

  問。既是悟心證理。便有神通變化。今時悟理者甚多。而具神通者最少。何也。師曰。神通顯變是未。須達一心之本。本立而道生。通則自然現。若專取神通變化勝相而為道。天魔外道。妖魅神龍。皆悉成佛。欲得真實神通。須證一乘之法。斯一乘之法門。能發般若妙用。即塵勞而成正覺。現生死而證涅槃。剎那中而革凡作聖。須臾間而變有歸空。如是之神變。非幻法能為。古德云。通有五種。一曰道通。二曰神通。三曰依通。四曰報通。五曰妖通。何為妖通。狐狸老變。木石精化。神附傍人。聰慧奇異。此為妖通。何謂報通。鬼神逆知。諸天變化。中陰了生。神龍隱變。此為報通。何謂依通。約法而知。緣身而用。乘符往來。藥餌靈變。此為依通。何謂神通。靜心照物。宿命記持。種種分別。皆從定力。此謂神通。何謂道通。無心應物。緣化萬有。水月空花。影像無主。此為道通。斯道通則真。余通皆邪偽也。偽則不真。邪則不正。惑亂心生。迷於本性。所以真實學道之人。不取神通。恐違真理。輔行記云。修三昧者。忽發神通。須急棄之。有漏之法。虛妄故也。止觀有云。能障般若。下根妄求神通而為正道。智者觀身實相。觀佛亦然。祇如應化菩薩。證理聖賢。末後施顯神變。必不居世。若在世顯通化眾。斯非妖即魔魅耳。

  問。未悟之人。迷真逐妄。造善惡因。報苦樂果。隨業受生。其理不疑。而悟理之士。頓復真心。超諸因果。絕諸對待。一靈身後。何所依託。師曰。一切眾生。隨因受果。以緣生處。可謂依託。其悟心之士。證道之人。非同世間飄零蕩子。猶如鬼趣無主孤魂。蕩蕩游游。無依無處。若是契悟本理現前。四維上下悉是真心。斯是全身受用。別無依託之處。古德云。盡大地是沙門一隻眼。又云。盡大地是個伽藍。溫操尚書問圭峰曰。悟理之人。一期壽終。何所依託。圭峰曰。一切眾生。無不具有靈明覺性。與佛無殊。若能悟此性即是法身。本自無生。何有依託。靈明不昧。了了常知。無所從來。亦無所去。但以空寂為自體。勿認色身。以靈知為自心。勿認妄念。妄念若起。都不隨之。則臨命終時。自然業不能系。雖有中陰。所向自在。天上人間。隨意寄託。一切微細流注盡空。唯有圓覺大智朗照。隨機化度有緣眾生。悟心證理。同成佛道。

  問。古有高僧。全身坐化。長年不壞。發爪自長。未審斯道是何理也。師曰。斯是小乘身住滅定。但滅六識。八識持身。皆因厭有趣空。暫求止息。雖然入此定中。壽暖不滅。後時識起。如隔日瘧。須悟性定。方脫輪迴。問。大迦葉得滅盡定。與小乘滅定。為同為別。師曰。大乘理滅。小乘事滅。大乘滅盡。由具五蘊。七八二識。能引威儀。定散無礙。理事不廢。小乘雖有色行。前六識已伏滅。全缺威儀。定散不圓。廢事偏寂。故定不同。



(xem tiếp Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:29:21 PM »

(tiếp theo)

CHƯƠNG IV

ĐỐN NGỘ TU CHỨNG


Tăng hỏi: Thế nào là Tông?

Sư đáp: Muôn pháp đều qui về Tông. Tông tức là Tâm. Tâm nầy rỗng suốt mà mầu nhiệm, dung thông rộng lớn, vô trụ vô vị, không tu không chứng. Kinh nói: “Phật nói lấy tâm làm Tông, lấy cửa không làm cửa Pháp”. Từ Ấn Độ đến Trung Hoa, xưa nay chư Phật đã tao tay nhau, chư Tổ truyền thụ nhau chỉ một tâm nầy lập làm tông thể.

Thế nầy thanh tịnh vốn tự tròn sáng, theo dòng đời chẳng nhiễm ô, ngược dòng trở lại cũng chẳng tịnh, ở trong phàm chẳng giảm bớt, nơi thánh chẳng tăng thêm. Ở trong các loài tuy khác mà tâm kia chẳng hại. Trí huệ soi nó thì quang minh hiện. Phiền não che nó thì diệt thể ẩn. Nếu lìa tâm này mà tu cái gì khác, rốt lại chỉ thành tà ma ngoại đạo.

Tăng hỏi: Thế nào là giáo?


Sư đáp: Chư phật thuyết pháp, phương tiện mở ra ba thừa, năm tánh. Bồ tát tạo luận phát minh ra muôn pháp chỉ một Tâm. Người học đời sau nhơn giải bày mà được yếu chỉ, đoạn hoặc về chơn. Kẻ sơ cơ được thỏ quên dò, gia công tu tập để chứng lý.

HỎI: Hai môn Tông (thiền), Giáo (kinh điển) lý nó là đồng hay biệt?

ĐÁP: Tông tức là giáo không chữ (vô tự giáo). Giáo tức là tông có chữ (hữu tự tông).

HỎI: Hai môn Tông, Giáo lý kia vốn một. Vậy do đâu lại nói “giáo ngoại biệt truyền”?

ĐÁP: Giáo nhờ ngôn ngữ văn tự mới có thể hiểu lẽ màu. Tông (thiền) lìa ngôn ngữ văn tự, đốn ngộ nhứt tâm, nên nói “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo điển), lại gọi là  “Tông chỉ hướng thượng”.

HỎI: Vậy sao nói sự truyền thụ có sâu cạn?

ĐÁP: Sâu cạn là do người, lý vốn không hai.

HỎI: Thế nào là  lý không hai?

ĐÁP: Nghe giáo hiểu lý, phải gia công tu chứng, tự hiệp với đạo vô vi. Tông môn Đốn ngộ ắt phải mượn viên tu mới trở lại bổn tâm tịch chiếu.

Tăng hỏi: Kinh nói: “Phương tiện có nhiều cửa, trở lại nguồn tánh không hai”. Chưa biết cửa nào là cửa liễu thoát thẳng?

Sư đáp: Có hai nhơn trong ngoài có thể liễu thoát thẳng.

Tăng nói: Xin thầy chỉ thẳng hai nhơn trong ngoài ấy?


ĐÁP: Nhơn bên ngoài là phải đoạn tâm dục, sát sanh và trộm cắp. Nhơn bên trong cốt yếu là phải “Minh tâm kiến tánh”.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:34:42 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Cớ sao nhơn bên ngoài phải đoạn dâm dục, sát sanh và trộm cắp?

ĐÁP: Chúng sanh do ý tưởng dâm dục, nên bị cột trói trong sanh tử. Sát sanh thì phải lần lượt thường mạng đã vay, nên có luân hồi. Trộm cắp thì phải trả lại cái lợi xưa, nên phải tái lai. Ba thứ nhơn nầy nếu trừ thì dòng luân hồi vĩnh viễn cắt đứt, không tiếp tục nữa.

HỎI: Nhơn bên trong là “Minh tâm kiến tánh” như thế nào?


ĐÁP: Minh tâm là rõ tâm vốn tịnh. Kiến tánh là thấy tánh vốn không.


HỎI: Thế nào là rõ tâm vốn tịnh?


ĐÁP: Tâm ở đây chẳng phải là trái tim máu thịt trong sắc thân. Tâm nầy cũng chẳng phải là vọng tâm sanh diệt, vuông chừng gang tấc ở bên trong. Trái lại, tâm nầy biến khắp pháp giới, thấu suốt mười phương, vượt ra ngoài đối đãi, dứt các hí luận chẳng diệt chẳng sanh, chẳng có chẳng không, mà rỗng suốt màu nhiệm chẳng mê, ứng vật tròn đầy khéo léo, cuốn lại hay buông ra đều chẳng ngại, ra vào ngang dọc, tuỳ duyên mà chẳng biến đổi. Đấy là chơn tâm thường trụ. Cho nên chư Phật quá khứ đều chứng tâm nầy. Hiện tại chư Bồ tát đồng học tâm nầy. Người học vị lai đều sáng tâm nầy. Chúng sanh ở trong mê là mê tâm nầy. Hành nhơn phát ngộ là ngộ tâm nầy. Một đại tang giáo chỉ làm hiển bày tâm nầy. Tâm nầy quá linh diệu khó đem ra mà nói cho hết, chỉ lược nêu ra một hai để người sau tin ngộ.

HỎI: Thế nào là thấy tánh vốn không?


ĐÁP: Chơn như tự tánh xưa nay vốn là không tịch, không hình không tướng, lặng trong như thái hư, chẳng động chẳng lai, ngưng nhiên thường trụ, gọi là “Bổn lai diện mục”, lại gọi là “Vô vi chơn nhơn”. Tất cả sơn hà đại địa, có cây rừng bụi, sum la vạn tượng, các pháp nhiễm tịnh đều từ trong tánh nầy lưu xuất.

HỎI: Bản tánh và chơn tâm là một hay hai?

ĐÁP: Chẳng phải một, cũng chẳng phải hai.

HỎI: Thế nào chẳng phải một, chẳng phải hai?

ĐÁP: Bản tánh là thể, chơn tâm là dụng. Bản tánh như gương, chơn tâm như ánh sáng (của gương). Ánh sáng chẳng lìa gương, gương chẳng lìa ánh sáng. Cổ đức nói: “Tánh thì sáng mà mầu, ngưng đọng mà lặng trong, giống như thể của gương. Tâm thì từ mầu khởi sáng viên dung chiếu liễu, như ánh sáng của gương”. Ánh sáng và gương phân làm hai, nên chẳng phải một. Ánh sáng và gương vốn một nên chẳng phải hai.

HỎI: Ngài đã nói tâm tánh của Phật và chúng sanh thể chỉ có một. Do đâu Phật ở cõi thánh, còn chúng sanh nơi đất phàm?

ĐÁP: Phật và chúng sanh tánh thể vốn không. Bởi tâm có nhiễm tịnh nên gọi là thánh hay phàm.

HỎI: Tại sao tâm có nhiễm tịnh?

ĐÁP: Bổn tánh như gương tròn sáng không lặng. Các bậc thánh vô tâm ứng đối với sự vật, tới lui không nhiễm, gọi đó là ánh sáng tịnh (tịnh quang). Chúng sanh hữu tâm ứng đối với sự vật, phân biệt thủ xả, gọi đo là ánh sáng nhiễm (nhiễm quang). Nhiễm tịnh tuy khác nhau, nhưng thể nó không hai.

HỎI: Bản thể của tâm tánh có hạn lượng chăng?


ĐÁP: Có.

HỎI: Thể nó lớn lắm không?

ĐÁP: Gồm khắp thập hư, đầy khắp muôn cõi.

HỎI: Tâm tánh đã rộng lớn không ngần như vậy, do đâu lại ở trong nhục thân nầy?


ĐÁP: Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay bị cột trói, tù hãm trong thai ngục, bị cùm gông nơi nhục thân. Vọng chấp cứng ngắc, lầm cho cái tâm tánh rộng lớn ở trong thân, rồi đi nhận giặc làm con, như tù hãm trong ngục lớn, ngày nào mới được ra? Chẳng những người, trời mê lầm như vậy mà hàng tiểu thừa cũng còn như thế.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:40:44 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Tâm tánh không ở trong thân tôi này hay suy nghĩ đó là gì?

ĐÁP: Ông nghi hỏi cái huyễn thức trong thân, hay suy nghĩ cho là tâm ta. Đấy là bóng dáng duyên theo sáu trần, làm mê hoặc chơn tánh ông. Ông vô cớ chấp cứng ở bên trong, khó thoát khỏi thai ngục. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Phật bảo A-Nan! Đấy là tướng tiền trần vọng tưởng hư dối, làm mê hoặc chơn tánh ông. Từ vô thỉ đến nay, ông nhận giặc làm con, làm mất cái nguyên thường của ông, nên chịu luân chuyển”. Nếu hướng vào trong đây mà sáng tỏ được tâm suy nghĩ, như bóng trong gương, như hoa đốm trong hư không, như dối hiện vành xe trong không, vốn không có thực chất.

HỎI: Cái suy nghĩ, ở trong thân là do bóng dáng duyên theo sáu trần. Vậy thế nào là cái chơn tánh sáng suốt mầu nhiệm của tôi?

ĐÁP: Chúng sanh chẳng ngộ tâm tánh rộng lớn, không ở trong ngoài mà lại nhận bóng dáng của trần cảnh lầm cho là hư không bao nhục thân, nhục thân bao nhục tâm, nhục tâm bao chơn tánh, rồi bị nhiều lớp cột trói, và chấp cứng vào tham ái. Há chẳng biết, hư không đại địa, muôn vật thân tâm đều là những bóng dáng từ diệu minh chơn tánh của ta hiện ra. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Các duyên hội hợp lại dao động bên trong, rong ruổi bên ngoài, mờ mịt nhiễu loạn và tưởng nhiễu loạn. Tất cả cho là tâm tánh. Một khi lầm cho là tâm rồi thì nhất định cũng lầm cho bên trong sắc thân. Chẳng biết sự vật bên ngoài sắc thân cho đến núi sông, hư không, cõi đất… tất cả đều là vật trong diệu minh chơn tâm cả”.

Sợ e ông chưa ngộ, tôi xin nêu ra một thí dụ: Bản tánh như một chiếc gương lớn cùng tận pháp giới. chơn tâm mầu nhiệm chiếu soi như ánh sáng trong chiếc gương kia. Núi sông cõi đất, sum la vạn tượng, cho đến nhục thân cùng tâm thức, tất cả đều là bóng trong chiếc gương. Chúng sanh nhận bóng cho nên phải chìm đắm trong chín cõi, bốn loài. Nếu nhận gương thì trở về chơn tâm trong chớp mắt.

HỎI: Tâm tánh rộng lớn, nuôi khắp muôn loài, chẳng ở trong thân, tưởng ở ngoài thân và bao trùm nhục thân, lý nầy phải chăng?

ĐÁP: Chẳng phải!

HỎI: Bên trong chẳng thành, bên ngoài chẳng phải, lý nầy rất ngờ, xin thầy giải cho?

ĐÁP: Bản tánh là một cái không cùng khắp, không ở trong thân, không ở ngoài thân. Chơn tâm cô trụ chẳng tức là thân, cũng chẳng lìa thân. Cho nên ngài A Nan, trong Kinh Lăng Nghiêm, chấp cái vọng không bằng cứ, bảy nơi mờ mịt. Nhị Tổ Huệ Khả ngộ lẽ chơn vốn chẳng sanh, nên chỉ một lời khế hợp với Đạo. Ông nếu ngu độn tôi chỉ bày trở lại cho ông bằng một thí dụ:

Bản tánh như bể lớn, nước trong lặng. Chơn tâm như ánh sáng của nước trong ấy. Do gió khởi động bỗng thành bọt bể. Bọt bể là sắc thân, nước bể là pháp thân, chất ướt của bọt bể là thức tánh, chất ướt của nước bể là bổn tánh. Bọt bể ướt, nước biển ướt, tánh ướt vốn có một, cho nên chẳng phải trong ngoài. Nước biển ướt, bọt biển ướt, tánh ướt mỗi cái có một như có trong ngoài. Kẻ phàm phu mê chấp bọt biển, trở lại đi bỏ bể cả vô biên. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ví như trăm ngàn bể lớn trong lặng mà bỏ đi, rồi lại nhận một tí bọt bể cho là toàn cả nước thủy triều, đều gom trong hòn bọt ấy. Tất cả các ông là những người mê gấp bội hơn trong những người mê”.

Người học đời sau nếu ngộ được nước bể và nước của bọt bể, tánh ướt vốn  một thì làm gì có cái chấp nhất định rằng trong hay ngoài?


 Chẳng ngộ được bổn tánh thật đáng buồn vậy!


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Một 01, 2011, 08:49:37 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Chất ướt của nước biển dụ cho pháp giới tánh. Chất ướt của bọt biển dụ cho thức ở trong thân. Tánh ướt không hai chẳng trong ngoài. Đã chẳng trong ngoài khi báo hết mạng chung, lìa đây sanh nơi kia hiện có ra vào... đã có ra vào sao nói chẳng trong ngoài?

ĐÁP: Như sự khai thị ở trên của tôi, ông không thể liễu ngộ mà trở lại tìm sự sanh diệt của những bông hoa chập chờn trong hư không, có thể bảo là kẻ ngu muội thái quá.

Bởi do ngay lúc đầu chẳng giữ tự tánh, một niệm vọng động nên bị trói buộc trong thai ngục, đời đời chấp cứng, nhất quyết là ở trong thân có ra có vào, có đến có đi. Trong ngoài đến đi như hoa trong hư không. Hoa tuy có sanh diệt nhưng hư không vốn bất động. Thần thức giống như có ra vào, nhưng tánh nó vốn chẳng động. Chỉ như hoa giữa hư không là huyễn, thần thức trong thân là vọng. Nay đem hoa huyễn trong không, để phát minh vọng thức trong thân, lý kia không hai, ông nên tự xét. Ông nếu chẳng ngộ xin dẫn kinh ra để dụ:

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thí như có người mang chiếc bình Tần già điểu, đậy kín hai miệng lại, bên trong đầy cả hư không, mang bình ấy đi xa ngàn dặm rồi dùng bình ấy tặng cho một nước khác. Nên biết thức ấm cũng lại giống như vậy. A Nan, hư không nầy chẳng phải từ phương trời kia lại, cũng không từ phương nầy vào. Như vậy A Nan, nếu từ phương trời kia lại thì ở trong bình đã có chứa hư không mang đi, và ở nơi quê hương của chiếc bình, lý ưng đã thiếu một khoảng hư không. Nếu từ phương nầy vào thì khi mở nút trút bình ra lý ưng thấy hư không rớt ra. Thế cho nên biết, thức ấm hư vọng vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tự nhiên”.

Giải thích: Tần già điểu là tên của chiếc bình. Đậy hai miệng là dụ cho nghiệp thiện ác. Bình dụ cho nghiệp lực hay dẫn thức đi. Hư không trong bình là dụ cho thức theo nghiệp. Hư không ở bình và hư không ở ngoài, giống như có trong ngoài. Hư không không có hai thể, trong ngoài chỉ có một, nên chẳng phải trong ngoài. Hư không trong bình dụ cho thức vốn không, do nghiệp thiện ác mà dẫn thần thức đi, dụ như vác bình đi xa ngàn dặm. Dùng tặng nước khác dụ cho xả ở đây và thọ ở kia.

Kinh nói: “A Nan! Hư không ấy chẳng phải từ phương trời kia lại, mà cũng chẳng từ phương nầy vào”. Đấy là dụ cho sự xả thân, như từ phương trời kia lại, nhưng mà thần thức của thân trước chưa từng thiếu. Sự thọ thân như từ phương nầy vào, nhưng mà thần thức của thân sau chưa từng đến. Thế nên biết, thân chết chẳng phải đi, trước khi chưa chết cũng chẳng riêng ở nơi đây. Thân sống chẳng phải đến, trước khi chưa sanh vốn cũng khắp cả nơi đây. Kẻ mê chẳng rõ cho là ở bên trong và có ra vào. Người ngộ hiểu rõ ràng thể vốn không đây kia, há lại có đến đi ư?

HỎI: Người ngộ rõ biết được thể vốn không đi không lại. Hiện nay có người chết đây sanh kia, tức là có tướng đi tướng lại?

ĐÁP: Các duyên hội hợp thì sanh, các duyên chia lìa thì diệt. Tuy có hiện ra tướng đến đi, nhưng mà cái “Viên minh bản nhiên” chẳng động. Kẻ phàm phu do bệnh mắt, lần nhận hoa đốm giữa hư không, có sanh có diệt theo duyên mà lưu chuyển.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nầy thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, điên đảo nhiều lớp. Giống như người lầm bốn hướng đổi chỗ. Lầm nhận tứ đại làm tướng của tự thân. Sáu trần duyên bóng làm tướng của tự tâm. Ví như người bệnh mắt, thấy hoa đốm trong hư không. Cho đến những hoa ấy diệt trong hư không, cũng không thể nói rằng quyết có chỗ diệt. Tại sao thể? – Vì là không sanh vậy. Tất cả chúng sanh ở trong không sanh mà lầm thấy có sanh diệt. Ấy cho nên gọi là lưu chuyển sanh tử”.

 Người học đời sau chẳng đốn ngộ được sự sanh diệt của huyễn thức, và tâm thể viên giác thường trụ chẳng động. Tổ Sư nói: “Hài cốt tuy có hợp có tan, nhưng có một vật màu nhiệm còn mãi” (hài cốt tuy hội tán, nhứt vật trấu trường linh). Nếu liễu đạt được tâm nầy thì có gì là sanh tử?

HỎI: Ngài khai thị quá rõ ràng không thể chẳng hiểu. Nhưng chẳng biết do đâu ngay lúc ban đầu lại có thân tâm của ta?

ĐÁP: Nguồn chơn trạm tịnh, biển giác lặng trong. Vốn không có đầu mối của năng sở, thì làm sao có dấu tích của danh tướng?

Bởi ngay lúc ban đều chẳng giác ngộ, bỗng có động tâm, nhơn minh lập ra chiếu, theo chiếu lập ra trần.

Do đó nên kiến phần bỗng chốc hưng khởi, rồi danh tướng bày khắp. giống như gương hiện tướng, thoắt khởi ra căn thân.

Kế đó tuỳ theo tưởng mà thế giới thành sai khác.

Về sau do yêu ghét mà chìm đắm trong ba cõi, dối thọ luân hồi không lúc ngơi nghỉ.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, mavuong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 ... 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.238 seconds với 25 câu truy vấn.