Tháng Tư 07, 2020, 09:12:59 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 6   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC-- 萬 法 歸 心 錄  (Đọc 17473 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 06:37:52 AM »

VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC

萬 法 歸 心 錄

*清燕京小楊山沙門祖源 超溟 著

*釋得法 毘丘  譯

Thiền Sư Tổ Nguyên

Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp

******

萬法歸心錄

目次
捲上

1.-警省俗迷
2.-儒釋論理
3.-釋道辨偽

卷中

4.-頓悟修證
5-教乘差別
6.-惟心淨土

卷下

7.-禪分五宗
8.-十魔亂正
9.-經語引證
七佛偈
佛經已明
祖語述後
10.-勸善印施

大乘開心顯性頓悟真宗論


MỤC LỤC

Lời người dịch
Lời giới thiệu của cư sĩ Thể Như
Lời nói đầu của tác giả
CHƯƠNG I Cảnh Tỉnh Tục Mê
CHƯƠNG II Phật Nho Luận Lý
CHƯƠNG III Thích, Đạo Biện Luận
CHƯƠNG IV Đốn Ngộ Tu Chứng
CHƯƠNG V Giáo Thừa Sai Biệt
CHƯƠNG VI Duy Tâm Tịnh Độ
CHƯƠNG VII Năm Tông Phái Thiền
CHƯƠNG VIII Mười Loại Ma Sự
CHƯƠNG IX Dẫn Chứng Lời Kinh
CHƯƠNG X Khuyên In Bố Thí
Lời bạt của Cư Sĩ Thể Như
Lời sau sách của Đổng Hư Tử

*Phụ lục:-

1- Vô tâm luận của Tổ Bồ Đề Đạt Ma
2- Bồ Đề Đạt Ma Thiền Sư Quán Môn
3-Luận Đại Thừa Khai Tâm Hiển Tánh Đốn Ngộ Chơn Tông của Thiền Sư Đại Chiếu

***

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC này do Thiền Sư Tổ Nguyên người Trung Quốc trước tác vào đời vua Khang Hi năm thứ 15 (1676 T.L) nhà Thanh.

Ngài Tổ Nguyên là một vị thiền sư đắc đạo nổi tiếng của Trung Quốc thời bấy giờ. Ngài nối pháp dòng Lâm Tế đời thứ 33, là đệ tử của Thượng Lam Thiên Phong Hòa Thượng ở Giang Tây, ngài trụ núi Tiểu Dương ở Yên Kinh, thủ đô nhà Thanh, ngày nay thuộc Bắc Bình.

Quyển Lục này chẳng những là một tài liệu vô giá cho những vị đang nghiên cứu và tu theo Thiền Tông, mà lại còn là tài liệu qúi cho những vị đang tu theo đạo Tiên, đạo Nho, tất cả đều được ngài Tổ Nguyên phân tích một cách rõ ràng về chỗ sổ trường và sở đoản của mỗi nhà, và đưa ra một phương pháp dẫn đạo rất thích đáng.

Chúng tôi dịch quyển Lục này với chủ đích: thứ nhất là làm tài liệu tu học cho Tu viện; thứ hai là giúp tài liệu cho những vị đang nghiên cứu và tu theo Thiền Tông; thứ ba là để minh định đường lối tu tập của Tu Viện Chơn Không.

Hiện tại khi nói đến tu thiền, người ta thường nghĩ đến hoặc là tu theo thiền Minh Sát của Nguyên thủy, hoặc là tu theo những phương pháp của ngoại đạo như YOGA, như phương pháp “Chuyển pháp luân” (cho tư tưởng chạy vòng theo châu thân), phương pháp Thai Tức của Tiên gia (luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần...)... Họ đinh ninh Thiền Tông đã chết ở Việt Nam và nhường chỗ cho Tịnh Độ Tông và ngoại đạo. Quyển Lục này và những quyển sách do Tu Viện Chơn Không xuất bản là để trả lời rằng Thiền Tông vẫn còn sống ở Việt Nam và hiện có người đang tu.

Quyển Lục này chúng tôi dịch theo bản của thầy Tỳ kheo Thừa giới và Định Huệ khắc bảng in vào năm Quang Tự thứ 34 (1908 T.L). Chúng tôi có lượng bớt lời tựa của Tiến sĩ Kim Hoằng, tiến sĩ Trịnh Tế Thái cả hai đều giữ chức vụ quan trọng trong Hàn Lâm Viện triều Khang Hi, ông Kỳ Huân Mộc làm chức cao Mật Nhiệm ở bộ Hồng Chương, lời bạt của nhóm người tái bản, lời bạt của ông Thông Tế Tổ Quán. Theo lời tựa của tác giả có nói đến phần phụ lục gồm mười hai bài kệ tuyệt cú tựa là “Độn Thế Sơn Cư”, nhưng ở bản này chúng tôi không thấy.

Chúng tôi dịch quyển lục này là do sự khuyến khích của bổn sư chúng tôi là Thượng Tọa Thích Thanh Từ, và sau khi dịch xong chúng tôi có trình cho người giảo chính lại. Tuy thế, nhưng chắc thế nào cũng có điều sơ sót, xin độc giả lượng thứ cho.

Tu Viện Chơn Không Trung Thu năm Quý Sửu (1973)

Tỳ kheo THÍCH ĐẮC PHÁP

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, byphuong, lly
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:37:17 PM gửi bởi chanhnguyen » Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 06:40:16 AM »

(tiếp theo)


  心是萬法體。萬法是心用。法不離心。即波是水。體能發用。水動成波。是知一切法是心耳。心本空寂。因法立名。淨法者。人。天。聲聞。緣覺。菩薩。如來。染法者。修羅。旁生。地獄。鬼趣。染淨雖殊。總是心影。若悟真心本空。萬法自然消殞。今小楊山祖源禪師。乃是庉村浮石老人之孫。江西上藍天峰和尚之子。洞究教典。深達禪宗。了第一義。證最上乘。辯才無礙。真法幢耳。禪師悲心提誘後學。拈一卷歸心錄。直指妙源。實際錄中言言見性。句句明心。可能蕩滌邪執。掃除異見。直證菩提。頓成佛道。真是苦海之慈航。岐路之善導。愚宿生慶幸。而得遇斯文。頓絕狐疑。瞭然心地。予才拙陋。知見機淺。無足發明深奧。略序以表師恩。

  
康熙歲次丁巳上元日

  古燕體如居士劉芳沐手敬序

LỜI GIỚI THIỆU

Tâm là thể của muôn pháp, muôn pháp là dụng của tâm. Pháp chẳng lìa tâm, ngay sóng là nước. Thể hay phát dụng, như nước động thành sóng. Thế nên biết, tất cả pháp là tâm vậy.


Tâm vốn không – lặng, nhơn pháp mà lập danh. Tịnh pháp là người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bố tát và Phật. Nhiễm pháp là A tu la, bàng sanh, địa ngục, quỉ thú. Nhiễm tịnh tuy sai khác, nhưng tóm lại là bóng dáng của tâm. Nếu ngộ chơn tâm vốn không (rỗng), muôn pháp tự nhiên tiêu mất.

Nay thiền sư Tổ Nguyên ở núi Tiểu Dương, là cháu trong đạo của Đổn Thôn Phù Thạch Lão Nhơn, là đệ tử của Thượng Lam Thiên Phong Hòa Thượng ở Giang Tây. Ngài nghiên cứu thông suốt giáo điển, thâm đạt Thiền Tông, liễu đệ nhất nghĩa chứng tối thượng thừa, biện tài vô ngại, thật là cây phướn pháp vậy. Thiền sư vì lòng thương muốn dẫn dụ người hậu học, nên trao quyển “Qui Tâm Lục” để chỉ thẳng cái diệu nguyên. Trong lục này, thật tế là mỗi lời đều kiến tánh, mỗi câu đều minh tâm, có thể hay rửa sạch tà chấp, quét trừ dị kiến, chứng thẳng Bồ Đề, thoắt thành Phật đạo. Thật là thuyền từ nơi biển khổ, người dẫn đường nơi lối rẽ.

Tôi nhờ khánh hạnh đời trước mà gặp được sách này, liền dứt hết hồ nghi, thấu rõ tâm địa. Tôi tài năng quá vụng về, tri kiến lại cạn cợt, không đủ để phát minh lẽ thâm áo. Nên lược viết lời tựa để tỏ lòng biết ơn thầy.

Ngày rằm tháng riêng, năm Đinh Tỵ, đời vua Khang Hi.

Cổ Yến Thể Như Cư Sĩ Lưu Phương Mộc

Kính đề
-------------------- 


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 06:42:19 AM »

(tiếp theo)

萬法歸心錄自敘

  空劫以前。威音那畔。佛與眾生無名。各具一圓明鏡。眾生無故。淨白光中。瞥起動心。昧卻本明。變生世界眾生業果。生死死生。相續不斷。沉迷三界。匍匐九有。從迷至今。無有悟日。若不斷流返源。何時方能頓脫。須悟萬法歸於一心。為轉世智而成佛智。可謂會百川為一濕。搏眾塵為一丸。融鐶釧為一金。變酥酪為一味。斯一心法。理事圓備。十方諸佛。一切眾生。皆同此心。無欠無餘。諸佛已覺。眾生不知。故有凡聖迷悟之名。愚不肯袖手旁觀。指一條歸心正路。古云妙高頂上。從來不許商量。第二峰頭。諸祖略容話會。故假申問答。說十條名相。證明一心。普施含靈。一者警省俗迷。返惡歸善。二者同儒論理。掃除異謗。三者與道辯偽。不向外求。四者頓悟修證。直超佛域。五者教乘差別。細示一心。六者惟心淨土。佛非外來。七者禪分五宗。理無二致。八者十魔亂正。養道預防。九者經語引證。斷疑憑信。十者勸善印施。答報佛恩。外附遁世山居絕句二十偈。愚少乘善根。偶窺至道。故僭伸管見。請正大方。實非億見。惟順佛乘。如有後昆。閱錄有訛。求哀懺悔。誤法之過。設合聖心。依教奉行。他日同赴龍華。授記成佛有分。

  
大清康熙十五年十二月佛成道日

  傳臨濟正宗三十三代嗣祖沙門祖源超溟道人題



LỜI NÓI ĐẦU CỦA TÁC GIẢ

 Trước không kiếp, trước Phật Oai Âm Vương, Phật và chúng sanh đều không có tên gọi, nhưng mỗi mỗi đều có đủ một Viên Minh Cảnh.

Chúng sanh vô cớ, từ trong tịnh bạch sáng suốt, biến sanh thế giới chúng sanh nghiệp quả, sanh tử, tử sanh nối không dừng, mê chìm trong ba cõi, mò mẫm trong chín loài, từ ấy đến nay mê mờ không một ngày ngộ. Nếu chẳng chặt đứt dòng lưu lãng mà trở về nguồn, thì lúc nào mới có thể giải thoát?

Phải ngộ muôn pháp trở về nhất tâm, là chuyển thế trí để thành Phật trí. Có thể gọi là gom trăm dòng làm một tánh ướt, nhồi bụi bặm lại làm một khối, nấu chảy vòng xuyến làm một chất vàng. Biến tô lạc làm thành một vị. Pháp nhất tâm này lý sự đều tròn đủ. Mười phương chư phật, tất cả chúng sanh đều đồng tâm này, không thiếu mà cũng không thừa. Chư phật đã giác ngộ, chúng sanh chẳng nên biết, nên có tên phàm thánh mê ngộ.

Tôi chẳng chịu rũ tay đứng nhìn, nên chỉ ra một con đường chánh trở về tâm. Người xưa nói: “Trên đỉnh núi Diệu Cao từ xưa đến nay chẳng cho bàn bạc, đầu non thứ hai chư Tổ tóm lược dung hoà nói cho hiểu ”. Cho nên tôi mượn văn vấn đáp để nói mười điều danh tướng hầu chứng minh nhứt tâm, và cũng để bố thí cho tất cả hàm linh.

Mười điều danh tướng gồm có: một là cảnh tỉnh kẻ thế tục, để bỏ ác về thiện. Hai là cùng nhà Nho nghị luận để quét trừ sự bài báng khác lạ. Ba là cùng Đạo gia biện biệt chổn tà nguỵ, để chẳng hướng ngoài tìm cầu. Bốn là Đốn ngộ tu chứng, vượt thẳng cảnh Phật. Năm là nói sự sai biệt của Giáo và Thừa; nhỏ nhiệm chỉ bày nhất tâm. Sáu là “Duy tâm tịnh độ”, để nói Phật chẳng từ ngoài lại. Bảy là thiền phân năm tông mà lý không hai. Tám là mười loại ma sự làm loạn chánh định, để dự phòng và nuôi dưỡng đạo nghiệp. Chín là dẫn chứng lời kinh, hầu đoạn trừ nghi ngờ, và nương vào đó mà sanh lòng tin. Mười là khuyên nên in mà bố thí, hầu báo đáp ân Phật.

Tôi thừa hưởng căn lành rất ít, chợt thấy được một góc chỗ chí đạo, cho nên trình bày cái thấy hẹp hòi của tôi. Xin các bậc cao minh phủ chính cho, thật tôi chẳng phải ức kiến mà chỉ thuận theo Phật thừa. Nếu như có người học đời sau, xem quyển lục này có sai, tôi xin tha thiết sám hối những lỗi lầm về pháp của tôi. Nếu hợp với thành tâm, trên y lời dạy mà vâng làm, ngày kia sẽ đồng đến hội Long Hoa thọ ký thành Phật có phần.

Ngày Phật thành đạo, tháng 12, đời vua Khang Hi năm thứ 15, nhà Đại Thanh (T.L 1676)

Tổ Nguyên Siêu Minh Thiền Sư
 

----------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 06:45:59 AM »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN  CHƯƠNG 1

萬法歸心錄

***

(卍新纂續藏經第 65 冊 No. 1288 萬法歸心錄)


1.-警省俗迷

  俗問某。欲常素。可有功德否。師曰。鱗甲羽毛。諸類體殊。知覺痛癢。與人無二。皆因生前念差。今世形骸故異。如若誠信斷腥戒殺。真是大德君子。可謂仁慈善人。果爾齋戒終身弗倦。不但增崇福壽。而亦種菩提正因。可嘆世迷無慧。貪味恣腹屠殺。造作百端。自美三寸舌頭。一日改頭換面。展轉吞食。那時痛苦恨悔。無人能釋。

  俗云。世人咸言豬羊雞鵝鱗甲羽毛等等禽畜。天生斯物。與人為菜。若不屠食。留他何用。師曰。世人食肉咸為當然。恣意屠殺。美口悅腹。殊不知水陸空行一切眾生。不過是業力所報。各受軀殼。世人雖仗一時之福。欺殺肥己。柰他力劣難敵之恨。報冤有日。果若豬羊等物。天生與人為菜者。世間豺狼虎豹蚊蠓蚤蝨。無限惡獸凶禽。皆能食人。莫非天生。假使男女與歹物為菜。可乎。世人不明殺業互償。無端反生應當。愚昧之甚。

  俗云。常聞世人有言。心好強如吃齋。其理如何。師曰。仁德君子。慈心善人。利生濟物。積德累功。至於動用之間。任運作為之所。見一切生靈投於死地。便無不惻隱救於生處。如斯慈悲。方謂好心。無故殺彼。充己口腹。或持利刀剖肚。或拈尖刃刺心。剝皮刮鱗。斷喉劈殼。活烹生煎。鑊煮爐炙。百般造作。美口快肚。慈憫之心全無。好心卻在何處。反說昧心之言。其過如何能懺。愚今苦口。應須諦聽。果爾一生戒殺。終身茹素不退。縱心不好墮在異生。也不落屠人之手。鑊湯爐火之中耳。

  俗云。吾雖清貧不作竊盜。師曰。竊盜財物。不單作賊。貪污良善。邪術詐騙。捏唆詞訟。誘哄嫖賭。陷人刑獄。迫人顛沛。害人於險。致人於危。耗人貨財。換人美物。欠債不還。侵愚奪弱。一切不良。皆為賊盜。若有智慧。見人富貴。當起追慕之心。恨無前生修福。今世窮苦應當自受。再發信心。修福積德。諸惡不作。眾善奉行。自然不負累功行善之人。

  俗云。公平取財。不去貪聚。隨分營求。如斯若何。師曰。公平貨財。取之應當。雖云世寶。聚久成禍。來而莫聚。聚而莫久。如要貪索無厭。若是橫取無恥。雖然一時得富。不免暗折明算。佛經云。人生現在財產。為五家所共。何謂五家。一曰國王官長。二曰水火。三曰盜賊。四曰刀兵。五曰不肖子孫。世間痴人。辛苦一生。多聚財物。指望永富。豈知五家有分。他日未免敗散。如是公平取財。尚且不久。何況橫奪騙哄。豈能常遠。

  俗云。吾素寡慾。唯守一妻。邪淫之事。斷不肯行。師曰。色慾二字。生死之根。邪淫私奸。諸惡之首。喪道敗德。取禍殺身。古往今時。難以盡述。即如好酒好財。猶且易制。唯有色慾一關。更加酷烈。何故如斯。皆因眾生本從淫慾而正性命。相續生死。宿習太熟。若不慧照。欲業何了。在家難斷。須要色正。非我之妻。必定不可。有般俗子。見人婦女。稍有可觀。便起邪心。思之慕之。貪之求之。天理已昧。人心已喪。佛經云。奸人妻者。得絕嗣報。奸人室女者。得子孫淫泆報。公可概觀。好淫行穢之家。源流踵弊。往往著人耳目。古人曰。我不淫人婦。人不淫我妻。又有一類痴業眾生。見他婦女本不如妻。以為彼美。設法奸騙。還有棄室不顧。狎近頑童。或有私通僕妻。及俾欺上。等等淫業。舉不能盡。又有讀書才子。稱他一時聰明。描寫閨門婦女私情。編入歌謠。作成書籍。惑人為實。勾引邪念。其惡如山。無所能禱。若有智慧男女。須當自愧自悔。頓斷邪淫。人天有分。愚非苦口勸君。只因淫業惡甚。

  俗云。淫惡如斯。口業何如。師曰。十惡造業。唯口有四。妄言。綺語。兩舌。惡口。殺人無血。其過甚惡。敗人之善。說人之短。論人之非。談人之過。騙人之財。哄人之物。至於敗道敗德。喪人喪己。皆因肆口無禁。取禍不一。經云。佛告阿難。人生世間。禍從口出。當護於口。甚於猛火。猛火熾然。燒世間財。惡口熾然。燒七寶財。一切眾生。禍從口出。鑿身之斧。滅身之禍。今有陰德之人。須惡隱惡揚善。吐語真實。談論無妄。有問有答。簡言和色。自然佛天祐之。世人愛而敬之。

  俗云。愚性好飲。如之柰何。師曰。迷心喪志。敗家亡身。多起於酒。取禍不一。世人嗜飲無厭。遂至形骸毀傷。顛倒禮法。臥衢罵街。犯上敗名。亂淫失德。等等過逆。貪飲最甚。古人云。戒爾勿崇飲。狂藥非佳味。能使謹厚性。化作凶頑輩。四分律曰。飲酒過失。三十六種。不但世人飲酒有失。羅漢貪飲。而失神通。初學凡夫。在迷眾生。豈不戒之忌之。

  俗云。請示過失三十六種。師曰。飲酒過失三十六種。不孝父母。輕慢師長。不敬三寶。不信經法。誹謗沙門。訐露人罪。恆說妄語。誣人惡事。傳言兩舌。惡口傷人。生病之根。斗諍之本。惡名流布。人所憎嫌。排斥聖賢。怨黷天地。廢亡事業。破散家財。恆無慚愧。不知羞恥。無故打奴。橫殺眾生。姦淫他妻。偷人財物。疏遠善人。狎近惡友。常懷恚怒。日夜憂愁。牽東引西。持南著北。倒溝臥路。墮車墜馬。逢河落水。持燈失火。暑月熱亡。寒天凍死。飲酒之人。如是之過。養德君子。須自戒之。

  俗云。某有好處。受辱不怒。縱有少忿。一忍便了。師曰。怒為萬障之根。忍為百福之首。世人言忍。忍字最難。非大智慧。斷然不能。除非佛祖如如不動。初學之人。豪傑之士。多由此敗。陷於非地。佛經云。忍辱第一。俗語有言。吃得三斗釅醋。方才做得宰相。居世凡夫。尚且如是。何況學道。豈不寬忍。

  俗云。世人多貪。廣聚財產。自謂子孫後來巨富得否。師曰。世間痴人倚權仗勢。昧心喪德。百般巧取。縱得暴富。豈能常久。如有智慧男子。須要積功養德。隨分營求。任從天命。自然聖祐。暗增福祿。世人自知為子孫求富。不知為子孫作善造福。何謂造福。敬三寶。積陰德。謹家規。訓耕讀。斯造福也。何謂求富。不誠信。昧天理。用心機。聚橫財。斯求富也。求富者不昌。造福者後顯。豈不見世有巨富。子孫不肖。恣意嫖賭。一旦破家。遂至亡身。往往有之。胡不慧鑑。俗曰。來得不明。去得正好。智人觀此。未免心冷。

  俗云。如上開示。一切看空。時時檢點。要作好人。師曰。要作好人。須自照察。一日之間。從朝至暮。自照其心。自審其理。舉心動念。與天心合乎。任運所為。與人事類乎。時時惺惺。不漏私心。久久心正。人欲自空。如若放逸。恣情縱意。不畏天刑。不懼報應。非禮而行。非禮而作。日久月深。積惡太重。一朝福謝。眾業臨身。現有顯禍。死墮三途。佛經云。假使百千劫。所作業不忘。因緣會遇時。果報還自受。是知因果不昧。後昆須要誠信。

  俗云。因果之事。多有人而不信。師曰。因果不昧。報應無差。如影隨形。纖毫不錯。先聖言之甚詳。後愚昧之不信。須當細觀一切世人。有富貴。有貧賤。有命夭。有壽長。有榮寵。有悴辱。有困苦。有安閒。有少年而登科。有終身而不第。有財谷而無子。有艱難而多嗣。有前中後苦樂不等。有一生窮富而至命終。等等不一。皆因業感。古德云。春種一粒粟。秋收萬顆子。人生為善惡。果報還如此。是知三界苦樂。六道升沉。皆是自造自受。非從外與。

  俗云。吾見忠正良善之家而無擔粟。世有刁頑兇殘之徒。良田萬頃。因果之說。豈不錯乎。師曰。善惡不等。果報不一。有報本身。有報子孫。有報現在。有報來生。餐如粗餐玉食。錦袍鶉衣。又有席門金屋。千駟一瓢。皆是生前自作善惡。今報苦樂。絲毫匪濫。只見兇殘受富。豈知他前世修福。或有慈善貧夭。自因過去結業。莊子云。盜跖從卒九千。橫行天下。侵暴諸侯。而其壽長。論語疏曰。項橐七歲。為孔子之師而少夭。故有清正身窮。或是貪污家富。莫執現世有差。而謗前因有錯。

  俗云。善惡報應。其理不錯。有等愚人。不信因果。反言良心不能作米。若能入鍋成飯。亦可遵而行之。師曰。可笑愚痴。顛倒之甚。汝果良心明暗無欺。默符天心。神慶人喜。和氣感召。自然佳慶。詩曰。樂只君子。福祿申之。若以喪德有財。虧心得富。反謗良心無用。不能入鍋。豈知天理已昧。暗中神嗔鬼怒。減福奪壽。貧耗凶患。乃至子孫不肖。怪事無所不有。文昌書云。修身勵行者。天必降之百祥。反道敗德者。神亦奪其五福。是知福善禍淫。必然一定之理。如肯改惡行善。不自欺蔽。自然佛天暗祐。福壽增之。

  俗云。有過能改。還可許否。師曰。誰人無過。何者Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 06:49:23 AM »

(tiếp theo)

Chương I


CẢNH TỈNH KẺ TỤC MÊ

Người thế tục hỏi: Tôi muốn thường ăn chay, có công đức chăng?


Thiền sư đáp: Các loài có vẩy, có mai, có lông mao, lông vũ, thể chất nó tuy khác với người, nhưng sự hiểu biết và sự đau khổ đâu khác chi người. Bởi đời trước nghĩ sai, nên đời này hình hài có khác. Nếu như một lòng tín thành dứt ăn thịt, giữ giới sát, thật là bậc “Đại đức quân tử”. Có thể bảo là người nhân từ, người thiện. Nếu quả ông ăn chay, giữ giới suốt đời không sờn lòng, chẳng những thêm nhiều phúc và thọ mà còn gieo được chánh nhơn giác ngộ. Khá thương cho người đời không trí huệ, tham đắm vị ngon mặc tình đồn chứa, ra tay sát hạt, tạo tác muôn ngàn. Chỉ ngon qua ba tấc lưỡi, một ngày kia cải đầu đổi mặt, lần lượt nuốt ăn. Lúc ấy đau khổ hối hận không người giúp cho.

HỎI: Người đời đều cho heo, dê, gà, ngỗng, các loài có vẩy, có mai, có lông mao, lông vũ v.v. trời sanh ra các loài này để làm đồ ăn cho người. Nếu không giết để ăn, dùng chúng làm việc gì?

ĐÁP: Người đời ăn thịt đương nhiên, buông lung tâm ý mổ giết để thích khẩu, khoái bụng. Đâu chẳng biết, tất cả chúng sanh dưới nước, trong đất, trên không, trên bộ, chẳng quan là do nghiệp lực quả báo mà có thân xác khác nhau. Người đời tuy nhờ phước nhứt thời mà khinh thường sát hại quá nhiều rồi. Tha lực yếu kém làm sao chống chỏi nổi hận oán kia? Có ngày sẽ báo đền oan trái. Quả thật nếu heo, dê v.v. trời sanh ra làm đồ ăn cho người, còn ở thế gian những loài sài lang, hổ báo, muỗi mòng, chí rận v.v. vô hạn ác thú hung cầm đều hay ăn người, đâu không phải trời sanh? Giả sử người nam kể nữ đều làm đồ ăn cho loài vật có nên không? Người đời không rõ tạo nghiệp sẽ có thường mạng lẫn nhau. Không biết cớ sao lại cho việc sát sanh là việc đáng nên làm, thật quá ngu muội.

HỎI: Tôi thường nghe người đời có nói: “Người nhiều lòng tốt cũng như ăn chay rồi”. Lý này thế nào?


ĐÁP: Bậc nhân đức quân từ, người hiền có lòng nhơn từ, làm lợi ích cho người, cứu tế loài vật, nhóm công chứa đức, cho đến những chỗ động dụng hay chỗ làm việc, thấy sanh linh rơi vào chỗ chết, lúc ấy đâu không khởi lòng trắc ẩn cứu cho được sống, có lòng từ bi như thế mới bảo là người tốt. Vô cớ giết nó cho vào miệng ta, hoặc cầm dao bén mổ bụng, hoặc nắm dao nhỏ đâm vào tim, lóc da, đánh vẩy, cắt cổ, bổ vỏ hay vào lò nướng, trăm cách tạo tác làm cho ngon miệng, khoái bụng, lòng thương xót hoàn toàn không, như vậy lòng tốt ở chỗ nào? mà lại nói lời mê như thế? Tội lỗi kia làm sao có thể sám hối? Tôi nay nói rõ ông hãy lắng nghe: Quả như ông một đời giữ giới sát, ăn chay suốt đời chẳng chán, dù tâm ông chẳng tốt, phải đoạ vào tay người giết, hoặc trong vạc sôi lò lửa.

HỎI: Tôi tuy nghèo mà trong sạch, chẳng bao giờ trộm cắp. Vậy thế nào?

ĐÁP: Không riêng gì lấy tài vật mới gọi trộm cắp, mà tham ô kẻ lương thiện, dùng tà thuật lừa đảo, xúi người kiện tụng, rủ rê dụ dỗ người cờ bạc, hại người tù tội, làm cho người nghiêng ngửa, hại người nơi hiểm nguy, làm cho hao tài tốn của, tráo đổi vật tốt của người, thiếu nợ chẳng trả, xâm lấn người ngu, chiếm đoạt kẻ yếu. Tất cả việc bất lương đều là trộm cướp cả. Nếu là người có trí huệ, thấy người giàu sang nên khởi lòng kính mến, mà hận mình đời trước không tu phước, đời này nghèo khổ phải cam chịu. Lại phát khởi tín tâm, tu phước lành, chứa công đức, những việc ác chớ làm, nên làm các việc lành. Tự nhiên không có phụ người chứa nhóm công đức lành vậy.

HỎI: Giữ tài sản một cách công bằng, nhưng chẳng bỏ hẳn lòng tham tích chứa, tùy sức mình mà kinh doanh. Vậy như thế nào?


ĐÁP: Giữ tài sản một cách công bằng thì nên. Tuy nhiên vật báu trên đời chứa lâu thành họa. Nếu vật báu có đến chớ nên chứa, nếu chứa chớ chứa lâu. Còn như tham cầu không chán, nhận ngang không thẹn, tuy một lúc được giàu có, nhưng chẳng khỏi tối lo sáng tính.

Kinh Phật nói: “Tài sản hiện tại của người đời là của chung của năm nhà. Năm nhà là nhà vua quan, nhà nước lửa, nhà trộm cướp, nhà giặc giã, con cháu tiêu phá. Người đời dại dột, đắng cay suốt cả một đời, tạo cho nhiều tiền của, mong được vĩnh viễn giàu có. Đâu biết đấy là phần của năm nhà một ngày kia sẽ tan nát. Như vậy giữ của một cách công bằng mà còn chẳng lâu thay, huống là giựt ngang hay lừa đảo mà có thề thường còn ư?


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:40:49 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Tôi thường ít ham muốn về sắc dục, chỉ có một vợ, việc tà dâm tôi đoạn hẳn chẳng phạm. Vậy thế nào?

ĐÁP: Hai chữ sắc dục là căn bản của việc sanh tử. Trong các điều ác việc tà dâm tư tình gian dối là bậc nhất. Từ xưa tới nay nó là việc mất đạo tan đức, lại chuốc họa vào thân, không thể kể cho hết. Ngay nơi việc thích rượu chè, ham tiền của còn có thể chế, chỉ có một cửa ải sắc dục còn khốc liệt hơn gấp bội. Bởi chúng sanh gốc từ dâm dục mà tánh niệm phải tiếp nối sanh tử. Tập quán từ trước quá thuần thục, nếu không dùng trí huệ quán chiếu thì dục nghiệp làm sao rõ? Kẻ tại gia khó đoạn hẳn sắc dục, nhưng cần yếu là phải giữ cho chơn chánh: chẳng phải vợ nhà nhất định không thể làm hạnh tà. Có một bọn tục tử thấy vợ con người, dáng dễ coi liền khởi tà tâm, rồi nghĩ mộ tham cầu. Như vậy thì lý trời đã mê, lòng người đã mất.

Kinh Phật nói: “Gian dâm vợ người bị quả báo tuyệt tự. Gian dâm con gái người bị quả báo con cháu dâm dật, phóng túng”. Ông có thể đại khái nhìn những nhà người hiểu dâm hạnh xấu, bởi tiếp nối dòng tệ hại nên lần lần tiếng nhơ lan đến mọi người. Cổ nhơn nói: “Ta chẳng dâm vợ người, người chẳng dâm vợ ta”. Lại có một hạng chúng sanh mang nghiệp si, thấy người đàn bà khác vốn không phải vợ mình, cho người ấy đẹp, rồi bày điều gian dâm lừa đảo, trở lại bỏ bê vợ nhà chẳng đoái hoài. Hoặc thích gần gũi bỡn cợt trẻ ngoan. Hoặc tư thông với vợ người làm công, và khiến kẻ dưới lừa đảo người trên…muôn ngàn dâm nghiệp kể ra không xiết.

Lại có kẻ đọc sách tài tử, cũng cho học là người thông minh. Sách ấy miêu tả chuyện tư tình của phụ nữ nơi khuê môn, biên vào ca dao, làm thành sách vở, làm mê hoặc người thật thà, dẫn học vào tà niệm. Tội ác của kẻ ấy thật như núi cao, không thế nào cầu đảo mà hết được. Nếu  là người có trí huệ phải nên tự hổ thẹn và tự ăn năn, mà đoạn tuyệt ngay nết tà dâm, thì cõi người cõi trời đâu đó có phần. Kẻ ngu ngày đắng miệng mà khuyên các ông: “Chỉ nhơn nghiệp dâm mà tội ác tạo ra nhiều lắm!

HỎI: Dâm dục tội ác như vậy, khẩu nghiệp như thế nào?

ĐÁP: Trong mười nghiệp ác, chỉ có miệng là đã chiếm hết bốn rồi. Nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác là giết người không máu. Kẻ ấy còn hơn người làm ác nhiều. Làm bại hoạt việc lành của người, nói chỗ yếu của người. Bàn biệc quấy của người, luận việc lỗi của người, lừa đảo tiền của của người, cho đến việc bại hoại đạo đức, chôn vùi người mà cũng chôn vùi mình, đều do không ngăn được cái bệnh lắm mồm của mình. Cho nên tự chuốc họa rất nhiều.

Kinh nói: “Phật bảo ngài A-nan rằng người đời tai họa từ nơi miệng mà lưu xuất phải nên giữ gìn cái miệng còn hơn giữ lửa. Lửa dữ thiêu đốt tài sản ở thế gian, lửa ác khẩu thiêu đốt tài sản bảy báu của mình”. Tất cả chúng sanh tai họa từ nơi miệng mình mà ra, nó là chiếc búa chém mình, là cái họa tai tiêu diệt mình. Nay có người muốn nuôi dưỡng đức hạnh, phải ẩn ác dương thiện, phát ngôn nên nói lời chơn thật, đàm luận không nên nói bậy, có hỏi có đáp, lời nói giản dị, khí sắc ôn hòa, thì chư Phật chư thiên gia hộ và cũng được người thương yêu và kính trọng.

HỎI: Tánh tôi thích uống rượu, như vậy thế nào?

ĐÁP: Tâm tánh mê mờ, chí khí bị chôn vùi, nhà cửa tan nát, lại còn mất mạng, phần nhiều do uống rượu mà ra, và chuốc họa tai không ít. Người đời mê rượu không chán, cho đến hình hài bị hủy thương, điên đảo cả lễ pháp, nằm lăn nơi phố chợ, la ó om sòm, phạm lỗi người trên mất hết danh dự, loạn dâm mất đức, muôn ngàn việc lỗi lầm nghịch ngợm là do tham uống rượu.

Người xưa nói: “Ngăn ông chớ uống rượu, nó là thuốc làm điên loạn chớ chẳng phải vị ngon. Nó hay khiến người tánh tình thuần hậu thành kẻ hung dữ dối láo”. Trong luật tứ phần nói: “Uống rượu có ba mươi sáu lỗi. Chẳng những người đời uống rượu phạm lỗi, cho đến la hán tham uống rượu cũng mất hết thần thông”. Chúng sanh mê muội, kẻ phàm phu sơ học phải giữ gìn và kiêng cữ uống rượu.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:45:15 PM »

(tiếp theo)


HỎI: Xin nói ba mươi sáu lỗi gồm những gì?


ĐÁP: Uống rượu có ba mươi sáu lỗi là:-
- bất hiếu với cha mẹ,
-khinh mạn thầy dạy,
-chẳng kính trọng Tam bảo,
-bài báng hàng Sa-môn,
-bươi móc tội người,
-thường nói lời vọng,
-vu người làm ác,
-đem lời thâm thọc hai đầu,
-nói lời hung ác hại người,
-là gốc của bịnh hoạn,
-là rễ của đấu tranh,
-tiếng ác đồn khắp,
-người hiền đều chán,
-bài xích thánh hiền,
-khinh lờn trời đất,
-hư mất sự nghiệp,
- phá nát gia tài,
-thường không biết hổ thẹn,
-chẳng biết sỉ nhục,
-vô cớ đánh người ở,
-giết hại chúng sanh,
-gian dâm vợ người,
-trộm tài vật của người,
- lơ là với người hiền,
-gần gũi bạn ác,
-thường ôm lòng sân hận,
-ngày đêm lo rầu.
-Lấy đông đưa tây,
-giữ nam mắc bắc,
-nằm đường té rãnh,
-rơi xe té ngựa,
-gặp sông rơi xuống nước,
-cầm đèn bị cháy,
-tháng nắng nóng chết,
-ngày lạnh rét chết.


Người uống rượu có những lỗi như vậy. Người quân tử nuôi đức, phải tự răn mình đừng uống rượu.


HỎI: Tôi có chỗ tốt là khi bị người ta điểm nhục mà không giận dữ, nếu có chút phiền, nhưng khi biết rồi cũng hết. Vậy thế nào?

ĐÁP: Giận dữ là gốc của muôn điều chướng ngại, nhẫn nhục là đứng đầu của trăm phước. Người đời nói nhẫn nhưng mà chữ nhẫn rất khó, không phải là người trí huệ quyết không thể nhẫn được. Trừ ngoài Phật Tổ được như như chẳng động. Kẻ hào kiệt, người sơ học phần nhiều do không nhẫn mà bị thất bại, và bị hãm vào chỗ bất như ý. Kinh Phật nói: “Nhẫn nhục là bậc nhất”. Tục ngữ có câu: “Ăn được ba đấu tương chua, giấm đặc mới làm được tể tướng”. Kẻ phàm phu ở đời còn như vậy, huống là người học đạo không rộng lòng nhẫn nhục ư?

HỎI: Người đời nhiều lòng tham, gom góp tài sản cho thật nhiều. Tự bảo là để lại cho con cháu sau này được giàu có, được hay chăng?

ĐÁP: Kẻ ngu si ở thế gian ý cậy quyền thế, mê tâm chôn đức, có trăm cách khéo léo để lấy, dù được giàu có bất ngờ, nhưng có bao giờ được lâu dài. Nếu là người trí huệ nên phải chứa công nuôi đức, tuỳ khả năng mình mà kinh doanh, theo đúng mệnh trời, tự nhiên chư thánh phò hộ, âm thầm tăng trưởng phước lộc. Người đời chỉ biết vì con cháu lo làm giàu, chớ chẳng biết vì con cháu làm lành tạo phúc. Thế nào gọi là phúc? Kính trọng Tam bảo, chứa nhóm âm đức, cẩn trọng qui tắc của gia đình, dạy người cố gắng làm việc và học hành, đấy là tạo phúc.

Thế nào là cầu làm giàu? Không thành tín mê mờ thiên lý, dùng tâm máy móc, gom góp tiền của không hợp lý, đấy là cầu giàu có. Kẻ cầu giàu chẳng thạnh người tạo phúc sẽ hiển vinh. Há chẳng thấy kẻ giàu to ở đời, con cháu hư hèn, cờ bạc phóng túng, một ngày kia sẽ phá cửa nhà, cho đến mất thân mạng. Chuyện này thường có xảy ra, sao không lấy đó làm gương? Tục ngữ nói: “Được của không chánh đáng, bỏ được là tốt”. Người trí xem biệc này chưa khỏi lạnh lòng!

HỎI: Như đã mở bày, muốn làm người tốt phải xem tất cả như không, và thường thường kiểm điểm, phải vậy chăng?


ĐÁP: Muốn làm người tốt phải tự soi xét: suốt một ngày từ sáng đến chiều phải soi tâm mình và tự xét lý kia. Khi khởi tâm động niệm có cùng tâm trời hợp không? Hành động hàng ngày có cùng với người hợp không? Hằng thường tỉnh táo, không rơi vào tư riêng lâu ngày tâm được chánh, nhơn dục tự nhiên hết.

Nếu là người buông lung tâm ý, chẳng sợ trời phạt, chẳng sợ báo ứng, phi lễ mà hành động, mà tạo tá, lâu ngày chầy tháng, tích chứa nghiệp ác quá nặng, một mai phúc hết, các nghiệp đến bên thân, hiện đời gặp tai họa, khi chết đoạ ba đường ác. Kinh Phật nói: “Nghiệp đã tạo, giả sử trải qua trăm ngàn kiếp cũng không mất, khi nhơn duyên hội ngộ, mình phải trở lại chịu quả báo”. Thế nên biết, nhơn quả chẳng sai, người đời sau hãy tin chắc thật.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:49:26 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Việc nhơn quả có nhiều người không tin. Vậy thế nào?


ĐÁP: Việc nhơn quả báo ứng chẳng sai chẳng lầm, giống như bóng theo hình, một mảy may không lộn lạo. Các bậc tiên thánh đã nói việc này rất rành rõ. Người sau ngu mê chẳng tin, phải nên tế nhị mà xét: Người đời có kẻ giàu sang, người bần tiện, có kẻ chết yểu, người trường thọ, có kẻ được vinh dự sủng ái, có người gian nan nhục nhã, có người khổn khổ, kẻ an nhàn, có người trẻ mà được đăng khoa, có người suốt đời thi chẳng đậu, có người rất giàu có mà không con, kẻ nghèo xơ xác mà nhiều người kế hậu, có người ấu niên, trung niên, lão niên khổ vui chẳng đồng, có người nghèo hay giàu sang suốt một đời, còn muôn ngàn việc sai khác nhau chẳng nhất định, ấy tất cả đều do nghiệp cảm nên. Người xưa nói: “Mùa xuân gieo một hạt thóc, mùa thu được muôn vạn hạt. Người đời làm thịện ác quả báo cũng như vậy” (xuân chủng nhất lạp túc, thu thu vận khoả tử, nhơn sanh vi thiện ác, quả báo hoàn như thể). Thế nên biết, sự vui buồn trong ba cõi, sự thăng trầm trong sáu nẻo, đều do tự mình tạo và tự mình chịu lấy, không phải từ bên ngoài đem đến cho mình.

HỎI: Tôi thấy người trung chánh lương thiện lại nghèo không một gánh lúc. Lại có bọn điêu ngoa hung ác mà ruộng đất cò bay thẳng cánh. Như vậy nhơn qủa há chẳng lầm ư?


ĐÁP: Tạo thiện ác chẳng đồng nhau, nên quả báo cũng chẳng nhất định: Có lúc báo ngay nơi thân mình, có khi báo nơi thân con cháu, có khi báo đời này, có lúc báo đời sau. Như có người ăn cơm hẩm, kẻ ăn cao lương. Người mặc áo gấm, kẻ áo lông. Lại có kẻ lầu son gác tía, lên xe xuống ngựa. Tất cả đều do đời trước tự làm điều thiện hay điều ác, mà nay chịu quả báo khổ hay vui, một mảy may chẳng sai chạy. Chỉ thấy kẻ hung ác mà được giàu sang, đâu biết được người ấy đời trước đã tu phước? Hoặc thấy người rất từ thiện mà nghèo khó lại mạng yểu, ấy là do đời quá khứ tạo nghiệp ác mà ra.

Trang Tử nói: “Tên đạo chích theo đoàn quân chín ngàn người, hoành hành thiên hạ, xâm bạo các nước chư hầu mà tên ấy vẫn trường thọ”. Trong Luận ngữ sớ nói: “Hạng Thác bảy mươi tuổi làm thầy Đức Khổng Tử mà chết yểu”. Cho nên có người trong sạch chân chánh mà thân bần cùng. Hoặc có người tham ô mà giàu có. Chớ chấp hiện đời này có sai khác mà bài báng nhơn đời trước thì sai lầm vậy.

HỎI: Sự báo ứng của thiện ác, lý kia không sai. Có một bọn ngu si chẳng tin nhân quả, trở lại nói: “Lương tâm chẳng thể làm ra gạo. Nếu lương tâm hay vào nồi thành cơm thì cũng có thể nên làm”.


ĐÁP: Khá tức cười, thật là quá ngu si điên đảo. Ông, nếu lương tâm từ sáng đến tới không dối, thì phù hợp với lòng trời, lúc ấy thần cũng vui vẻ, người cũng hân hoan. Niềm hòa khí được cảm triệu, thì tự nhiên tươi vui. Kinh thi nói: “Niềm vui chỉ đến với người quân tử, và phước lộc sẽ đến với họ”. Nếu do chôn vùi đức hạnh mà được tiền của, bỏ tấm lòng mà được giàu có, thì mới trở lại bài báng lương tâm vô dụng, không thể vào nồi thành cơm. Đâu biết hạng người này đã mê mồ lý trời, trong bóng tối thần giận qủi hờn, giảm phúc tổn thọ, nghèo thiếu nạn tai, cho đến con cháu hư hèn, việc lạ đâu chẳng có.

Sách Văn Xương nói: “Người tu thân sửa hạnh, trời nhất định giáng cho trăm điều lành. Trái lại kẻ phản đạo bại đức, thần cũng đoạt năm phước”(1). Thế nên, phước thiện hay hoạ tai, lý  nó tất nhiên nhất định như vậy. Nếu chịu cải ác làm lành, chẳng khinh lờn, tự nhiên Phật trời ngầm phò hộ, phước thọ được tăng trưởng.

HỎI: Người có lỗi biết ăn năn có thể được chăng?

ĐÁP: Đã là người ai chẳng có lỗi lầm, biết lỗi lầm mà ăn năn chừa cải, thì điều lành nào chẳng lớn? Sự lỗi lầm ác hại chẳng phải có một. Nên nơi thân miệng ý phải luôn tỉnh táo, nhất định giờ phút nào cũng phải soi xét xem hành động mình có thích đáng hay không. Nếu là thiện nên làm, còn ác thì mau cải đổi. Sự đổi ác theo thiện như con bệnh ra mồ hôi, tự nhiên sẽ được may mắn, vui vẻ, chư thánh sẽ phò hộ cho.

HỎI: Giả sử chiếu xét chẳng đến, một lúc sanh tâm động niệm, chưa biết phải háng phục tâm ấy như thế nào?

ĐÁP: Người xưa trị tâm rất khít khao, cho nên gặt hái được nhiều kết quả to lớn. Tất cả những tâm thiện ác của con người đều do NIỆM. Khi niệm dấy động nên mau mau tỉnh giác. Tỉnh giác nó liền thành không. Thu nhiếp như vậy lâu ngày chầy tháng tự nhiên tâm chánh. Kinh Thư nói: “Buông lung niệm là người điên, chế phục được niệm là bậc thánh”. Lời nói này rất chi lý và nên theo đó mà hành.

HỎI: Người tại gia năm dục (2) cột trói, không thể thoát liền được, chưa biết có phương tiện gì để tu lần hay không?

ĐÁP: Người tại gia tu hành việc ấy rất khó, phải dũng mãnh kiên chí và thường lâu mới được. Nên trong lúc động tịnh hàng ngày, trong lúc rảnh rang hay lúc bận rộn, chỉ riêng đề khởi một câu A Di Đà Phật, rồi hồi quang phản chiếu, chỉ giữ một niệm. Giả như có nhiều vòng lửa xoay trên đầu nhất định cũng không bỏ một niệm này, mặc tình cho tám gió (3) đến xung kích ta, chẳng cho mất một niệm này, lâu ngày chầy tháng một niệm được thuần chơn. Trở lại đem một niệm này phá nát ra, lúc ấy tự tánh Di Đà mới hiện. Giả sử hành như vậy, suốt một đời chẳng ngộ, khi báo tận mạng chung (chết), tự giữ một niệm, thẳng đến đường chánh. Trở lại làm người một nghe ngàn ngộ, thấy tánh thành Phật đã có phần. Đây là yếu chỉ của việc trở về tâm (qui tâm). Trái lại chớ hướng bên ngoài mà dong ruổi tìm cầu. Tự mình phải lời nói và hành động không trái, thì mới gọi là chơn chánh thọ dụng.
 
---------------


(xem tiếp  Chương 2)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:53:03 PM »

(tiếp theo)

CHÁNH  VĂN   CHƯƠNG II

2.-儒釋論理

  儒云。佛氏之道。無父無君。先儒評論。同於揚墨。以吾細究。果然不錯。師曰。佛在因地。無量劫中。割目救親。捨身代父。廣行忠孝。不能達報。唯有出家。學無上道。成等正覺。方能報盡。佛經云。若人孝事父母。天主帝釋在汝家中。孝養父母。大梵尊天在汝家中。又能孝敬父母。諸佛在汝家中。佛律有云。孝名為戒。又曰不先供養父母而佈施者。是名惡人。彌勒偈云。堂上有佛二尊。懊惱世人不識。不用金彩裝成。非是旃檀雕刻。即今現在二親。就是釋迦彌勒。若能誠心敬他。何用別求功德。佛教雖無治國之語言。能導民善世。化邪歸正。使愚者眾善奉行。令智者悟理修心。可謂明揚佛道。真是暗報 皇恩。豈不見佛教釋子。天下叢林。早晚課誦。四恩總報。三有齊資。佛果虧心。不忠不孝。十方菩薩。漏盡羅漢。天龍八部。各路鬼神。豈肯歸依。欽心輔佐。吾豈妄談。公自詳之。

  儒云。父母在。不遠遊。遠遊尚且不許。何況毀形離親。師曰。只知世間小孝。不悟出世之大孝。在世之孝。不可遠離。生事之以禮。死葬之以禮。後祭之以禮。始終孝道。俱備盡已。儒教但知事親行孝。不知過世父母。至於現在雙親。造業受報墮落三途。若得親子出家。頓證無上菩提。乃能救拔出苦。可謂真報親恩。古德云。一子出家。九祖升天。僧雖毀形。是謂遠離世俗。學道易成。不畜妻子。可謂割斷恩愛。速成正覺。汝自知世間之五倫。而不知救親之大孝。

  儒云。不孝有三。無後為大。師曰。世間倫理。絕嗣不孝。出世之道。不在斯列。眾生相續。貪愛為因。結愛不休。如膠似漆。生生會聚。世世牽連。父母子孫。來往不斷。若有真慧。剛烈決斷。發大勇猛。割斷愛慾。頓悟心性。直超覺地。雖然絕嗣。不為罪過。自有出世大孝。真報祖父之恩。

  儒云。僧家開口便言出世。若果有出世之法。除非不在世上行。今現在世上行走。何言出世間之外。師曰。學道之人。不染世緣。處處解脫。謂之出世。非離世間。別有可出。譬如儒家及第。謂之登龍折桂。豈真有龍可乘。有桂可握。可笑迷執。反生異論。

  儒云。吾見僧家貪名逐利。純行世法。何曾無染。師曰。末法時節。離聖太遠。龍蛇混雜。凡聖交參。總有智人。不外世法。行於非道。成就佛道。肉眼難識。莫生概論。

  儒云。孔聖攻乎異端之說。豈不是佛老二教乎。師曰。孔子若以老子為異端。又有問禮於老聃之嘆。若以佛為異端。當時佛法未至。孔子因見春秋之時。賢者太過。愚者不及。俱失中道。故曰異端。後儒借謗佛老二教。其說支離。大不通耳。

  儒云。佛氏寂滅謂之異端。先儒檢點。其說不錯。師曰。所言寂者。非對動之寂。從無始來。本自不動之寂。所言滅者。非對生之滅。從無始來。本無生滅之滅。斯是本性全體。萬用從此而發。後儒不悟性體。妄生斷滅異見。

  儒云。吾儒窮理盡性。非同佛教偏空。師曰。佛云寂滅現前。六根互用。儒曰。寂然不動。感而遂通。佛云如如不動。儒曰空空如也。釋子轉識成智。顏回學聖屢空。若以寂滅謂之異端。孔子空空與佛無二。後儒不明性體。無端妄論偏空。若悟未發已前。方知儒釋無二。儒云。佛氏常以因果。驚恐愚俗之流。言人善定生天堂。如人惡必下地獄。六道輪迴。三途業報。如斯虛誕。惑人之甚。佛徒豈知人命終後。氣化清風。肉身化泥。一生已休。有誰再來。師曰。無因無果。天堂地獄。儘是虛偽。人生一世。死了歸無。氣化清風。肉化為泥。如君之說。既無因果。易經有云。積善之家。必有餘慶。積不善之家。必有餘殃。又書云。作善降之百祥。作不善降之百殃。既無地獄。因何傳曰。為不善於幽冥之中。鬼神得而誅之。既無輪迴。何故又言死於此者。則生於彼。萬物皆出於機。皆入於機。如無因果報應。人生一世而已。正好放蕩。縱意行非。死後不過化陣清風。自如化風且置。然則清風無情。本無知覺。程顥云。孝子祭祖考。祖考來格者。是至誠有感必通。如斯之說。祖考來格。還是清風來格。還是靈性來格。若是靈性來。靈性成風。若是清風來。清風無情。莫是祖考死後。性化無情之風。子孫祭他。複變靈性。受祭之後。還化清風。如是往來變化。真是奇怪之風。程子又云。鬼是往而不反之義。既是往而不反。子孫至誠感格。又是有反。真可笑耳。伊川曰。鬼神是二氣之良能。陽氣生天為神。陰氣下地為鬼。既言因果是假。天堂地獄非實。陽氣生天為神。陰氣下地為鬼。又墮因果感應之內。可嘆俗儒。不悟妙性。非有非無。不生不滅。妄生斷滅。自昧本真。應須早生智慧。急急訪尋明師。肯求一言半句。發明一貫之道。定不落於斷常二見。了悟孔門中和之理。

  儒云。既是因果不昧。善惡報應無差。因甚武帝奉佛。又有侯景亡國之釁。師曰。國祚之短長。世數之治亂。皆有定數。故不能移。梁武小乘。專修有為。過信泥跡。執中無權。侯景兵至。不設方便。集眾沙門。搖鈴擊磬。念摩訶般若波羅密。如後漢向詡有張角作亂。不欲國家興兵。但追將兵河上。向北讀孝經。賊聞當自消。用斯不善之法。豈是孝經之過。梁武執中。又且定業亡國。非由作善損之。武帝壽高九十。定業以疾而卒。不至大惡。何故借此。誹謗聖教。自取過耳。

  儒云。師言定業難逃。感應之事誠偽。師曰。前世作業。今生受報。現身修福。再來受樂。斯理以定。非自能移。武帝生前結冤。今世宿仇相遇。雖逢冤難。修善因在來生。樂果定不能昧。

  儒云。因果不昧。定見而無可移。師曰。此是定法。還有不定。儒云。如何不定。師曰。前生造業。今世貧夭。或行陰騭。罪滅福生。或在往劫。因結命債。今生會遇。因行大德。感動天地。化凶為吉。古德云。若行陰德。能解宿業。雖有定法。又有不定。

  儒云。武帝捨身。修寺建塔。印經造像。奉佛度僧。如是之善。豈無陰德。感動天地。解冤釋難。師曰。斯是有為福田。再來自受樂果。若是無心陰德。能與天心合一。所以化凶為吉。可能轉禍成祥。

  儒云。佛法若正與儒理同者。因甚歐陽修曰。佛為中國大患。師曰。若是佛法非正。乃是中國大患者。因甚上古。至於今時。聖帝賢王。宰官大儒。長者居士。道婆奴女。奉佛者如水潮渤。歸依者似星拱極。難道其中無有一人。識破是邪而滅除之。況佛遠方親身未至。不過言教而傳此土。若是害人之法。豈容流傳日久。奚不人厭。天可誅之。

  儒云。歐陽修曰。佛者。善施無驗不實之事。師曰。佛施妄事。必有所圖。若謂名利。佛本至貴。若謂飢寒。佛本至富。因甚舍富貴之王位。反施無驗不實惑人。斯亦顛倒奇怪之甚。若佛但有纖毫詐妄之心。十方聖賢。豈肯相隨弘化。經云。如來是真語者。實語者。如語者。不誑語者。不異語者。斯是歐陽昧心言耳。

  儒云。韓愈曰。佛者。西域之一法耳。自後漢時。流入中國。上古未曾有也。自黃帝已下。文武已上。皆不下百歲。後世事佛漸謹。年代猶促。陋哉。師曰。大聖降世。不拘方所。不拘壽數。中國帝王。舜帝生於諸馮。卒於鳴條。東地人也。文王生於岐周。卒於畢郢。西地人也。舜與文王皆是聖人。法於天下。後世尊之。亦皆隨其地而得其壽耳。若謂上古壽長。後世事佛及促。何故外丙仲壬之年甚短。何故孔鯉顏淵之壽無多。信善因謂事佛促命。韓愈謗佛合當永壽。如斯掩耳竊鈴之論。未免智者笑也。

  儒云。佛教明心見性。見性成佛。吾儒竟無如斯不實之語。師曰。佛教示人。明心見性。見性成佛。孟子曰。盡其心知其性。知其性則知其天。又云誦堯之言。行堯之行。是堯而已矣。吾教悟佛之言。行佛之行。是佛而已矣。儒釋何異。而言不實。

  儒云。既是悟佛之言。定要行佛之行。吾見僧家。還有許多不遵佛律。是何故也。師曰。法門廣大。龍蛇混雜。當時佛在之日。尚有六群比丘。何況末法。去聖逾遠。今時釋子千百之中。求一彷彿古人足矣。譬猶披沙揀金。十斛之沙。得粒今而為世寶。又如裒石攻玉。一山之石。得寸玉亦作佳珍。古德云。眾角雖多。一麟足矣。非但末法時節。佛教難得其人。孔子當時。已有君子儒。小人儒。祇如現今服儒服者。安能保具皆如孔孟。所以像法之教。不單僧有不律。儒教亦然。未能免也。

  儒云。既是三教一理。云何妄分等級。釋教治骨髓。道教治血脈。吾儒治皮膚。如斯不公之言。未免令人生怒。師曰。儒門以窮理盡性為道。三綱五常為德。故求人為君子。所以治皮膚。道家以修真養性為道。弱志退己為德。可為清虛道人。故曰治血脈。佛教以明心見性為道。十度萬行為德。成正覺三界師。真能治骨髓。非是三教道體有異。因為各門功行有殊。

  儒云。如何謂三教體一。師曰。若門體一。釋教見性。道家養性。儒門盡性。入門雖殊。歸源無二。

  儒云。釋教與儒。還有不同。師曰。何處不同。儒云。吾教先讀後講。博覽群書。以盡性情之理。佛門先教靜坐參究話頭。以悟心性之道。所以與儒大有不同。師曰。從外入者。不是家珍。從內發者。方謂真慧。當時孔子門下。唯有顏回得悟。餘者多學多見。皆從外來助發。所以學與悟。如隔霄壤耳。如程明道受學於茂叔。茂叔每令尋究仲尼顏子樂處。此仲顏樂處。豈不是話頭。又有豫章羅仲素。只教人靜坐參究。四端未發作何氣象。不唯進學有力。兼亦養心之要。斯二公儒門之高賢。何異禪家參究悟入。

  儒云。頓悟之理。吾信不及。師曰。不但今時初學儒者信不及。子貢子張。孔門諸賢更信不及。當時唯有顏子信得。所以孔子稱其好學。

  儒云。吾教從事入。動中契理。佛家從理入。靜坐悟理。所以動中契理者氣力大。總然靜坐悟理者氣力弱。師曰。如君所言。其理甚是。無柰熟處太熟。生處太生。學人若在動中。熟處證理。不隨事乖。萬中無一。初機偏靜。生處煉成。若到動中。自然得力。伊川見人靜坐。歡喜斯人善學。朱熹云。明道教人靜坐。李先生亦教人靜坐。蓋精神不定。則道無湊泊處。若靜坐養得來。便條暢。如上諸儒。善愛靜究。可笑今時。世俗之儒。妄心生滅。無暫停息。對境逢緣。無分主宰。如何從事入。動契一貫之道。

  儒云。禪曰至理一言。轉凡成聖。如斯奇特。使儒難信。師曰。當時曾參。究理心切。忽聞孔子一以貫之。唯然領悟心性之理。又周茂叔。示眾徒云。堂前草不除。有問其意者。答云。自家意思一般。張子厚觀驢鳴領會。斯不是至理一言。轉凡成聖之樣乎。

  儒云。禪宗以機緣印證。吾儒定無如此事。師曰。昔程伊川。見邵康節。程指食桌。而問邵曰。此桌安在地上。不知天地安在何處。康節先生。極論其理。斯問。即是機緣印證。

  儒云。吾教諸子。咸論無極太極。不能明爽。後學一時難入。師明三教一理。何不出隻手眼撥轉未悟。信佛最上。師曰。道儒二教。大科理同。以無極生太極。太極動而生陽。動極而靜。靜而生陰。一陰一陽。兩儀互交。四象五行。而生萬物。總然高推理至極。終不識是心所現。吾若示之清淨本然。云何忽生山河大地。猶恐難入。權借儒教無極太極。二理差別。使汝易悟。再究佛乘。本性空寂即無極。真心靈照即太極。寂照不二。如鏡照物。善惡能辨不生分別。心幾才萌。善惡紛然。如太極動而生陰陽。陰陽互交而生萬物。真心應物。不生分別。一念才生。萬法齊現。假指心性而明易道。若到禪門下。再參三十年。

  儒云。吾教學庸謂之聖經。如師不吝求一釋乎。師曰。大學之道。在明明德。在親民。在止於至善。釋曰。孔門大學之道。非是禮樂射書。不墮太過不及。常住中道之理。在明明德。分作二釋。上明即悟。下明即心。真心虛靈。照而常寂。德者心用。純善無惡。三綱五常。禮樂刑政。總出妙明一心德用。又因眾生。無始以來。逐境隨情。染污於久。故反德用。顛倒錯亂。遮障本明。漂流生死。一朝悟明本心。方知賢愚無二。自悟已後。須要新民。使人人發明妙明真心。實踐此止於至善之地。如上是頓悟。以下是修證。知止而後有定。定而後能靜。靜而後能安。安而後能慮。慮而後能得。釋曰。自知止於至善之地。至善者是中道之理。若是止於中道。自然善惡無惑。可謂知止而後有定。定者心不動。事物不能移。若到事物不能移。本心如光明鏡子。清淨應物而無染。謂之定而後能靜。靜者是本心靜。非是止動之靜。真靜向前。處處無礙。若至處處無礙。自然動搖不亂。若搖不亂。謂之真安。故所以謂之靜而後能安。安者安閒。內外一如。任運穩貼。處事真實。以上總是定。以下可謂慧。果若定靜安久。真慧自然發現。故所以謂之安而後能慮。慮者是真慧。事事無礙矣。若到於事事無礙。可謂慮而後能得。得者。得無所得。是定慧等等耳。物有本末。事有終始。知所先後。則近道矣。釋曰。明明德者。是謂之本。新民明理。謂之是末。知止至善。可謂之始。後複本心。謂之始終。本末始終。次序不差。自然近於大學之道。古之慾明明德於天下者。先治其國。欲治其國者。先齊其家。欲齊其家者。先修其身。欲修其身者。先正其心。欲正其心者。先誠其意。欲誠其意者。先致其知。致知在格物。釋曰。古之人君。悟本治末。末治天下之人。先要治於一國。欲治一國。先齊其家。欲要齊一家人學理。必先修吾身之德用。若修吾身德。唯先正其心。心本無邪。因意發動。意念顛倒。涉於欺妄。所謂欲正其心。必先要誠其意。誠者真實。應物不偏。欲要應物無偏。須先致其良知。良知者。是心之靈明。如鏡照物。不生分別。今因分別憎愛。是情識之妄能。故曰致知須在格物。物者是情識。非是外物也。佛云。若能轉物。即同如來。後儒不悟。物本情識。誤認格物。謂窮事物。欲其極處。無不到者。可嘆外求。反被物惑。物格而後致知。致知而後意誠意誠而後心正。心正而後身修。身修而後家齊。家齊而後國治。國治而後天下平。釋曰。這一節文。復上本意。若能轉識。良知自至。良知若現。如鏡照物。善惡分明。不生憎愛。憎愛不生。意誠無偏。意誠無偏。心生無妄。心正身端。自然之理。任運所為。皆合至道。所以感化一家。都學我行。感化一國。都聽我誨自然天下人民。都做良善之人。自天子以至於庶人。壹是皆以修身為本。其本亂而末治者否矣。其所厚者薄。而其所薄者厚。未之有也。釋曰。上至天子。下至庶人。皆是一心為之根本。不但心是一身之本。可為出世治世之本。其本若亂。修身齊家。治國與平天下否矣。未之有也。

  儒云。大學已聞。請示中庸。師曰。天命之謂性。率性之謂道。修道之謂教。釋曰。孔門心法。中庸之理。不偏不倚。不邪不住。朱熹註解。性猶天命。令與人物。各賦其理。未知本性是何物件。猶天命令。來付人物。卻將孔聖之理。注成心外有法。豈知本性。體若太虛。無內無外。非來非去。皆因最初不守自性。忽起動心。故受胎獄。本一精明。分成六用。隨境逐情。流蕩生死。眾生不能返源。先聖指條徑路。拈出天命。即是性體。天命。天心。天道。天理。名異體同。總是性理。古德云。在天謂命。在人謂性。故所以示云。天命之謂性。自人人本具一靈妙明真性。任運應酬。理本當然。體中用和。不落偏倚。日用中事理無礙。故曰率性之謂道。皆因受生以來。塵染遮障本理。顛倒亂想。不悟性體。聖賢設教。化人復性。悟理修證。返妄歸真。以複本來天命之理。所以為修道之謂教。教者修乎道。道者本乎性。性體源乎天。聖人樂天知命。乃中庸之道也。道也者不可須臾離也。可離非道也。是故君子。戒慎乎其所不睹恐懼乎其所不聞。莫見乎隱。莫顯乎微。故君子必慎其獨也。釋曰。若悟性理。不可須臾有離。須臾不在。習氣則復現矣。所以戒慎恐懼。如臨水淵。保任本性。不落邪僻。慎獨之道。須防隱微。幾才似萌。微動未發。善惡似生未生。正好一掏放下。復還本理。其功甚大。若待善惡念生。憎愛取捨齊發。再去降伏。豈不太遠。所以慎獨功夫。最為緊要。故曰君子養道。慎其獨也。喜怒哀樂之未發謂之中。發而皆中節謂之和。中也者天下之大本也。和也者天下之達道也。致中和。天地位焉。萬物育焉。釋曰。未發之中。即是真智。寂照無二。應物無心。又名良知。可謂道本。已發之和。即是妙慧。能分諸法。無住無染。謂之良能。名曰達道。良知良能。本乎性體。體包大虛。含育萬有。故云致中和。天地位焉。萬物育焉。

  儒云。再請明示。良知良能。師曰。良知與識知。其用大不同。良知無心而知。識知有念而知。良知知善知惡。不住善惡。識知知善知惡。而住善惡。良知如鏡照物。黑白妍媸自分。無纖毫影子留於鏡體中。識知在鏡影上妄起分別。取捨障自本明。合塵背覺。良知識知。須當自辨。毫釐有差。千里遠已。良能是慧。能分諸法。善治世道。不隨事染。應用自在。事事無礙。

  問。孔子空空。顏回屢空。未審二空。其理是同是別。師曰。孔子空空。以空空空。以空空空。空空即如。斯如即真如。真如即本性。顏子學聖。未證真如。不免有念。雖有念動。覺之即無。為不遠復。孔聖故稱顏子。回也庶乎屢空。

  問。子曰吾道一以貫之。未審如何是一。師曰。一者即性。性者即理。理者即道。道者即一。

  問。克己復禮。天下歸仁焉。師曰。克己情識。復還天理。禮者理之節文。仁者心之德用。人能克妄復真。天下歸仁體一。

  問。書云人心惟危。道心惟微。惟精惟一。允執厥中。師曰。人心生滅不停。故危殆而不安。道心虛靈寂照。故微妙而難見。精為虛中靈。一為靈中虛。執是定辭。中是性體。三教聖賢。本乎一理。若離心性。儘是魔說。

  問。如何學顏子道。不遷怒不二過。師曰。怒者動也。非是恚怒。顏子心學念動即釋。不續二念。故云不遷。心常在一。應事無偏。有過即改。名曰不二。

  問。聖人以易洗心。退藏於密。師曰。洗心者淨妄。退藏者復真。真妄雙泯。故謂之密。

  問。不識不知。順帝之則。師曰。真性如鏡。照物無心。才有知識。便落意識。孔子曰。吾有知乎哉。無知也。禪云不知不識。佛道骨髓。

  問。夫子飯疏食飲水。曲肱而枕之。樂亦在其中矣。未審所樂何事。師曰。樂者真樂。非世歡樂。所樂者天理。所知者天命。樂天知命。無喜無憂。妙性朗然。其樂難述。

  問。顏子簞瓢之樂。與孔聖樂同否。師曰。顏回得孔子道。無喜無憂之樂。其理本同。顏多保任。

  問。上天之載。無聲無臭。師曰。空本無聲。虛本無臭。雖無聲臭。天道不掩。

  問。子路問死。夫子答曰。未知生。焉知死。斯答未審是何意也。師曰。知晝則知夜。知始則知終。汝若先悟未生已前面目。便知末後安身立命之處。生從何來。死歸何處。原始要終。其本一也。

  問。如何謂赤子心。師曰。赤子之心。純一無妄。赤子非是大道。只取無分別心。如大人通達。知一切法。不失赤子心。方可謂道。

  問。顏淵如愚。濂溪守拙。明道端坐。仲素愛靜。如斯行履。是何故耳。師曰。斯是悟理修道。超凡入聖之徑。後儒不貴悟門。唯務多學多聞。皆從外來湊補助發。不能心地用功。發明真實智慧。汝問諸子可謂真學。

  問。吾雖多學。不能頓悟。未知看何文書。可謂入理之門。師曰。真參實悟。不在文字。總有多學。博極群書。理路太多。解路太過。反障本心。與識作伴。如人數他寶。自無半錢分。直須放下一切外學。單參四端。未發已前。是何面目。動靜之中。刻刻追究。是何道理。唯守一念。更無二心。不用摶量。不用知解。不用待悟。不用會理。不用墮在寂滅處。不用掉在無事裡。唯要深究。未發已前。日久月深。純一無二。心思不及。意識不行。時節若至。其理自彰。見色聞聲。觸破鼻孔。㘞的一聲。冷灰豆爆。心地開通。發明本性。然後誨學導民。至於齊家治國。無不是汝心性妙用。

  問。上根頓悟。直下瞭然。中下習重。如何保養。師曰。悟理之後。隨緣保任。兢畏齊栗。如臨君父。至誠真敬。本性不失。如是保養。日久自然。

  問。設或失念。如之柰何。師曰。顏子之學。而不遠復。一頓之間。自還本理。


(xem tiếp  Phần Dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2010, 08:58:13 PM »

(tiếp theo)

CHƯƠNG II

PHẬT NHO LUẬN LÝ

Nho sĩ hỏi: Đạo lý của Phật chủ trương không cha con, không vua tôi. Các bậc tiên Nho đã bình luận đạo lý của Phật đồng với học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch (4). Tôi nghiên cứu thấy lời nói ấy quả nhiên chẳng sai.


Sư đáp: Khi đức Phật còn tu nhơn, trong vô lượng kiếp đã từng móc mắt cứu song thân, hoặc xả bỏ thân thể chết thay cho cha, hành vô vàn đạo trung đạo hiếu, nhưng mà cũng không thành đạt được sự báo đáp. Chỉ có xuất gia học đạo vô thượng, thành bậc Đẳng chánh giác, thì sự báo đáp mới trả xong Kinh Phật nói: “Nếu người con hiếu phụng sự cha mẹ, trời Đế Thích ở tại nhà. Người con hiếu dưỡng cha mẹ, trời Đại phạm thiên ở tại nhà. Người con hiếu kính cha mẹ chư Phật ở tại nhà”. Trong Luật nói: Hiếu gọi là Giới. Người trước chẳng nuôi cha mẹ mà làm việc bố thí, đấy gọi là người ác. Trong Di Lặc kệ nói:

“Nhà trên có hai tượng Phật,
Xót thương người đời chẳng biết
Chẳng dùng vàng tốt làm thành,
Cũng chẳng chiên đàn tạc nên.
Tức là cha mẹ hiện tại.
Đấy là Thích Ca Di Lặc,
Người thường thành tâm cung kính.
Nào câu công đức chi xa”.

Giáo lý Đạo Phật tuy không bàn về việc trị quốc, nhưng mà hay dẫn đạo người dân làm lành, cải hoá tà mê trở về đường chánh. Dạy người ngu vâng làm những điều lành, khiến kẻ trí ngộ lý tu tâm. Đấy có thể bảo là làm sáng tỏ Phật đạo và ngầm báo đáp ân vua. Há chẳng thấy hàng họ Thích trong đạo Phật và những Tòng Lâm trong thiên hạ, sớm tối hai thời khoá tụng, hầu báo đáp bốn ân ba cõi được nhờ. Đối với người lơ là Phật quả, bất trung, bất hiếu, mười phương bồ tát, hàng lậu tận A la hán, hàng thiên long bát bộ, các loại qủi thần, há chịu qui y và dốc lòng phụ tá? Tôi chẳng nói dối, ông tự rõ.

HỎI: Cha mẹ còn sanh tiền chẳng đi được xa, đi xa còn chẳng cho, huống cạo tóc mặc áo thâm, xa lìa cha mẹ?

ĐÁP: Ông chỉ biết cái hiếu nhỏ ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu to lớn xuất thế gian. Hiếu ở thế gian là chẳng thể xa lìa cha mẹ, còn sống thì lấy lẽ mà phụng sự, khi chết thì dùng lễ mà mai táng, cuối cùng là lấy lễ mà cúng tế. Đạo hiếu trước sau đấy đủ chỉ có thế.

Nho giáo chỉ biết phụng sự cha mẹ hành đạo hiếu, mà chẳng biết cha mẹ đời quá khứ chi đến hiện tại đã tạo nghiệp thọ báo, đoạ lạc vào ba đường. Nếu được người con xuất gia, chóng chứng đạo giác ngộ vô thượng, thì mới có thể cứu bạt cha mẹ thoát khỏi cảnh khổ. Đấy mới có thể gọi là báo đáp ân cha mẹ một cách chân thật. Cổ đức nói: “Một người con xuất gia chín đời ông bà được thăng thiên”. Xuất gia làm Tăng, tuy cạo tóc mặc áo thâm, đó nghĩa là xa lìa thế tục, học đạo mới dễ thành công. Chẳng có vợ con, nên gọi là cắt đoạn ân ái, mới mau thành chánh giác. Ông chỉ biết ngũ luân (5) ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu lớn cứu cha mẹ.

HỎI: Tội bất hiếu có ba, không con nối dòng là lớn hơn cả. Vậy thế nào?


ĐÁP: Luân lý ở thế gian không con nối dòng là bất hiếu. Trái lại đạo xuất thế không cuộc hạn trong lệ này. Bởi do tham ái nên chúng sanh tiếp nối nhau mà sanh, cột trói trong lưới ái chẳng thôi, như keo như hồ. Đời đời hội hiệp, kiếp kiếp liên chuyền cha mẹ con cháu tới lui chẳng dứt. Nếu thật là người có trí huệ phải cương quyết đoạn trừ, phát tâm dũng mãnh chặt dứt ái dục, đốn ngộ tâm tánh, vượt thẳng đến mảnh đất giác ngộ tuy là tuyệt tự không con nối dòng cũng không phải tội lỗi. Bởi tự mình có cái hiếu lớn xuất thế, báo đáp ân của ông bà cha mẹ một cách chơn thật.

HỎI: Tăng sĩ xuất gia, mở miệng ra là nói việc xuất thế. Nếu quả thật có pháp xuất thế, thì pháp ấy chẳng phải hành trên thế gian. Nay thấy lưu hành trên thế gian sao nói ra ngoài thế gian?

ĐÁP: Người học đạo chẳng nhiễm duyên đời, giải thoát tất cả chỗ, gọi là người xuất thế. Chẳng phải lìa thế gian mà riêng có cái có thế xuất. Thí như Nho sĩ thi đậu gọi là “cỡi rồng bẻ quế”. Há thật có rồng để cỡi, có quế để bẻ ư? Đáng tức cười những kể mê chấp mà anh nghị luận dị kỳ.

HỎI: Tôi thấy Tăng sĩ ham mê danh lợi, ròng làm chuyện thế gian, làm sao chẳng nhiễm?

ĐÁP: Thời kỳ mạt pháp lìa Phật quá xa, cho nên rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh giao xen. Có những người trí chẳng lìa ngoài pháp thế gian, hành động phi đạo mà thành tựu được Phật đạo, người phàm mắt thịt không thể biết được, chớ nên nghị luận hàm hồ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, dailuc, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười Hai 30, 2010, 08:23:02 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Đức Thánh Khổng công kích học thuyết dị đoan, đâu chẳng phải là Phật giáo và Lão giáo sao?

ĐÁP: Ngài Khổng Tử cho Lão Tử là dị đoan, sao lại đi hỏi lễ và khen tặng Lão Đam? Nếu cho Phật là dị đoan, lúc ấy Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc sao nói dị đoan được? Ấy chẳng qua ngài Khổng Tử ngó thấy thời Xuân Thu, bậc hiền giả thì thái quá, còn kẻ ngu thì bất cập. Tất cả đều mất Trung đạo, cho nên nói rằng dị đoan. Kẻ Nho sĩ đời sau nương vào đó mà bài báng Phật Giáo và Lão Giáo. Lời nói rời rạc kia chẳng thông vậy.

HỎI: Phật giáo chủ trương tịch diệt gọi là dị đoan. Các bậc tiên Nho đã kiểm điểm, lời kia chẳng sai.

ĐÁP: Gọi tịch ấy chẳng phải đối với động mà gọi rằng tịch. Từ vô thỉ đến nay vốn tự chẳng động, nên gọi rằng tịch. Gọi diệt ấy chẳng phải đối với sanh mà gọi rằng diệt. Từ vô thỉ đến nay vốn tự không sanh không diệt nên gọi  rằng diệt. Đây là bản tánh của toàn thể, muôn nghìn tác dụng từ đây mà phát sanh. Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng ngộ được tánh thể, lầm lẫn sanh ra dị kiến đoạn diệt.

HỎI: Đạo Nho tôi chủ trương “Cùng lý tận tánh” chẳng giống như thiên không của Phật giáo?


ĐÁP: Phật nói: “Tịch diệt hiện tiền, lục căn hỗ dụng”. Nhà Nho gọi là “Tịch nhiên bất động, có cảm liền thông”. Phật nói: “Như như bất động”. Nho nói: “Không không” giống nhau vậy. Kẻ Thích Từ chuyển thức thành trí. Thầy Nhan Hồi học đạo thành “thường không”! Nếu cho tịch diệt là dị đoan, thì Khổng Tử nói “Không không” cùng Phật không hai (vậy cũng dị đoan sao). Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng rõ tánh thể, đã vô cớ sai lầm nghị luận thiên không. Nếu ngộ được “chỗ chưa phát khởi trở về trước” mới biết đạo Nho, đạo Thích không hai.

HỎI: Đạo Phật dùng lý nhơn quả để doạ sợ hạng tục tử ngu muội, nói người làm thiện nhất định sanh thiên đường, kẻ làm ác đoạ xuống địa ngục. Nói lục đạo luân hồi tam đồ nghiệp báo, như thế là dối láo mê hoặc người thái quá. Tín đồ đạo Phật đâu biết mạng người sau khi chết khí hoá thành gió, thân thịt hoá thành bùn đất, một đời đã hết có ai mà trở lại?

ĐÁP: Như ông đã nói: không nhơn không quả, thiên đường địa ngục là dối láo, con người một đời chết rồi về không, khí hoá thành gió, thịt hoá làm bùn đất. Nếu không nhơn quả sao kinh Dịch nói: “Nhà chứa những điều thiện ắt có thừa những niềm vui khánh hạnh; nhà chứa điều ác ắt có thừa những hoạ tai”. Lại Kinh Thư nói: “Người làm lành được đáp cho trăm điều may mắn; người làm điều chẳng lành được đáp cho trăm tai họa”. Nếu không có địa ngục do đâu trong Truyện nói: “Nếu làm điều chẳng lành sẽ bị quỷ thần hành phạt nơi cõi u minh”. Nếu không có luân hồi, cớ sao lại nói: “Người chết nơi đây thì sanh nơi kia. Vạn vật lưu xuất từ cơ tạo hoá, thì cũng đều vào cơ tạo hoá”. Nếu không nhơn quả báo ứng con người chỉ sống một đời mà thôi, thì tự do lêu lổng, buông lung tâm ý, hành vi trái đạo, đến sau khi chết chẳng qua hoá một trận gió trong (thanh phong). Nếu tự như hoá thành gió sao lại an trí thờ phụng? Hơn nữa gió là vật vô tình vốn không tri giác. Trinh Hao nói: “Con hiếu cúng tế ông bà, ông bà chứng cho lòng tưởng nhớ ấy. Đấy là do lòng chí thành hễ có cảm liền ứng”. Cứ theo lời nói này: Ông bà đến để chứng cho lòng tưởng nhớ của con cháu. Nhưng mà luồng gió trong đến chứng hay là linh tánh thành gió. Nếu là gió trong đến thì gió trong là vật vô tình.Vậy thì ông bà sau khi chết TÁNH hoá làm vật vô tình ư? Con cháu cúng tế ông bà, lại biến thành linh tánh, sau khi nhận sự cúng tế rồi, trở lại hoá thành gió trong. Như vậy sự biến hoá, qua lại thật là luồng gió kỳ quái. Trình Hạo lại nói: “Quỷ nghĩa là có đi mà không có lại”. Đã có đi mà không có trở lại, nhưng khi con cháu chí thành nên ông bà cảm mà về chứng. Vậy là có trở lại! Thật nực cười vậy.

Y Xuyên nói: “Quỷ thần là lương năng của hai loại khí: khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm rơi xuống đất làm quỷ”. Đã nói nhơn quả là giả, thiên đường địa ngục chẳng thật. Như vậy chủ trương khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm dưới đất làm quỷ là đã rơi trong nhơn quả cảm ứng rồi.

Rất tiếc kẻ tục Nho chẳng ngộ được diệu tánh, chẳng có chẳng không, chẳng sanh chẳng diệt, lầm lẫn sanh tâm chấp đoạn diệt, tự mờ mịt bản chơn. Kẻ ấy phải sớm sanh trí huệ, mau tìm bậc minh minh ra đạo lý nhất quán, thì nhất định không rơi vào hai kiến chấp đoạn thường, liễu ngộ được lý trung hoà của cửa Khổng.

HỎI: Đã chẳng lầm nhơn quả, thiện ác báo ứng chẳng sai. Cớ sao vua Lương Võ Đế phụng thờ Đạo Phật mà bị mất nước vào tay Hầu Cảnh?

ĐÁP: Vận nước có dài có ngắn, đời có thạnh trị hay loạn lạc đều do định nghiệp, không thể dời đổi được. Lương Võ Đế theo tiểu thừa, chuyên tu vào hữu vi. Quá tin vào lề thói cũ, cố chấp lý Trung, không có quyền biến. Binh của Hầu Cảnh đến chẳng bày phương tiện, mà lại hợp các thầy Sa Môn lại rung chuông gõ khánh, mà niệm MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT. Giống như Hướng Hủ nhà Hậu Hán, có Trương Giác làm loạn, không muốn quốc gia hưng binh, chỉ xua binh tướng ra bờ sông, hướng về phương bắc đọc Hiếu Kinh cho quân giặc nghe sẽ tự tan rã. Dùng pháp chánh chẳng khéo như vậy, đâu phải lỗi tại Hiếu Kinh? Lương Võ Đế chấp vào lý Trung, lại cũng do định nghiệp mất nước chớ chẳng phải làm thiện mà tổn hại. Vua Lương Võ Đế tuổi thọ đến chín mươi, định nghiệp của vua là do bệnh mà chết, chẳng phải đến đỗi tàn ác. Cớ sao lại nhơn vào việc này mà bài báng Thánh Giáo, ấy tự mình chuốc lỗi vậy.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười Hai 30, 2010, 08:28:00 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Thầy nói định nghiệp khó trốn thoát. Vậy sự cảm ứng thật là trò dối gạt?

ĐÁP: Đời trước tạo nghiệp, đời này thọ quả báo. Thân hiện đời này tu phước, trở lại kiếp sau hưởng quả vui. Lý ấy nhất định như vậy, không thể dời đổi được. Vua Lương Võ Đế đời trước kết những oan nghiệp, đời này gặp lại những thù oán xưa. Tuy gặp những oán nạn, nhưng nhờ đời này tu thiện, nhất định quả của đời sau thế lầm được.

HỎI: Nhơn quả chẳng lầm, nó là cái định kiến không thể dời đổi chăng?

ĐÁP: Đấy là pháp nhất định mà cũng có bất định.

HỎI: Bất định như thế nào?

ĐÁP: Đời trước tạo nghiệp, đời này nghèo khó lại mạng yểu; hoặc làm phúc đức nên tội diệt phúc sanh; hoặc ở những kiếp trước vay nợ sanh mạng với nhau, nay oan trái hội ngộ. Do làm công đức lớn cảm động đến trời đất nên hoá hung làm kiết. Cổ đức nói: “Làm âm đức hay giải trừ được túc nghiệp”. Cho nên, tuy có định pháp mà cũng có bất định pháp.

HỎI: Vua Lương Võ Đế một đời xả thân sửa chùa xây tháp. In kinh tạo tượng, phụng thờ Phật, độ Tăng Ni, làm lành như vậy, há không âm đức cảm động đến trời đất, để được cởi oan mở nạn sao?

ĐÁP: Việc của Lương Võ Đế là phước hữu vi, sanh trở lại sẽ thọ qủa vui. Nếu là âm đức vô lậu thì hợp làm một với lòng trời, mới hay đổi hung làm kiết, đổi tai hoạ thành an lành.

HỎI: Phật pháp nếu đồng với giáo lý của đạo Nho, tại sao Âu Dương Tu nói: “Phật là đại hoạn cho Trung Quốc”.

ĐÁP: Phật pháp nếu chẳng phải là giáo lý chơn chánh mới là đại hoạn. Do đâu mà từ xưa cho đến nay trên từ thánh đế hiền vương, dưới cho đến tể quan, đại Nho, trưởng giả, cư sĩ, Đạo sĩ, bà già, con gái, con ở… đều phụng thờ Phật như thuỷ triều lên. Kẻ quy y như nền trời đầy sao. Trong số người đông đảo như vậy, khó thấy một người khám phá ra Đạo Phật là người từ phương xa, ngài cũng chưa đến đây bao giờ. Chẳng qua là lời dạy của ngài truyền đến đây mà thôi. Nếu là giáo pháp hại người, há lại cho lưu truyền từ lâu, sao không bị trời tru người chán?


HỎI: Âu Dương Tu nói: “Phật khéo bày đặt việc không căn cứ, chẳng chơn thực”.


ĐÁP: Phật bày ra điều dối láo ắt có mưu đồ. Nếu nói về danh lời Phật là người rất tôn quí; nếu nói về đói lạnh Phật là người rất giàu sang. Vì sao lại xả bỏ giàu sang vương vị đi bày đặt chuyện không căn cứ, chẳng chơn thật để mê hoặc người? Đây cũng là việc tất điên đảo và kỳ quái vậy. Nếu Phật lòng chỉ có mảy may trá vọng, thì mười phương các bậc thánh hiền há lại chịu cùng theo hoằng hoá? Kinh nói: “Lời nói của Như Lai là lời chơn, lời thật, lời đúng, lời chẳng dối, lời chẳng khác” (Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả). Lời trên ấy là do Âu Dương Tu muội tâm mà nói ra vậy.

HỎI: Hàn Dũ nói: “Phật giáo là nền đạo giáo từ bên Tây Vức (Ấn Độ), đến thời Hậu Hán mới truyền bá vào Trung Quốc. Đời thượng cổ nào có đạo Phật, từ đời Hoàng Đế trở xuống, đời vua Văn, vua Vũ trở lên, con người đều chẳng dưới trăm tuổi. Đời sau theo Đạo Phật càng ngày càng nhiều nên tuổi thọ bị giảm. Nguy thay!”


ĐÁP: Bậc Đại Thánh ra đời không cuộc hạn trong chỗ nơi và tuổi tác. Bậc Đế Vương của Trung Quốc như vua Thuấn sanh ra ở Chư Bằng, khi chết ở Ô Điều, và quê ở phần đất phương Đông. Văn Vương sanh ra ở Kỳ Châu, chết ở Tất Dĩnh, và quê ở phần đất phía Tây. Vua Thuấn và Văn Vương đều là bậc thánh nhơn, giáo pháp các ngài bủa khắp thiên hạ, đời sau rất tôn kính các ngài, ấy chẳng qua là tùy phong thổ mà được tuổi thọ như vậy. Nếu nói người thượng cổ thì trường thọ, còn kẻ hậu thế thờ Phật mà bị giảm thọ, vậy cớ sao khoảng giữa năm Bính đến năm Nhâm rất ngắn? Tại sao Khổng Lý (là con Đức Khổng Tử) và Nhan Hồi là bậc thông minh xuất chúng lại chết non? Khéo tin, bảo nguyên nhơn do thờ Phật mà mạng số rút giảm, vậy Hàn Dũ bài báng Phật lý đáng phải sống vĩnh viễn? Đấy là lối lý luận “bịt tai nghe linh” chưa khỏi làm trò cười cho bậc trí.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười Hai 30, 2010, 08:34:02 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Phật dạy “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Đạo Nho tôi không có lời nói chẳng thật như vậy.


ĐÁP: Phật dạy người minh tâm kiến tánh, và khi kiến tánh là thành Phật. Mạnh Tử nói: “Dùng hết tâm để biết tánh, biết tánh tứ là biết trời” (Tận kỳ tâm tri kỳ tánh, tri kỳ tánh tắc tri kỳ thiên). Lại nói: “Đọc lời dạy của vua Nghiêu rồi” (Tụng Nghiêu chi ngôn, hành Nghiêu chi hạnh, thị Nghiêu nhi dĩ hỉ). Giáo lý của ta dạy: “Ngộ lời của Phật, hành hạnh Phật, đó là Phật rồi”. (Ngộ Phật chi ngôn, hành Phật chi hạnh, thị Phật nhi dĩ hỉ). Như vậy đạo Nho đạo Thích có gì sai khác mà  nói không thật?

HỎI: Khi ngộ lời Phật, quyết định cần phải hành hạnh của Phật, tôi đã thấy trong giói Tăng sĩ, có nhiều người không tuân theo luật của Phật. Tại sao thế?

ĐÁP: Cửa pháp quá rộng rãi cho nên rồng rắn lẫn lộn. Ngay lúc đức Phật còn tại thế mà còn có “Lục quần Tỳ Kheo”(6). Huống là thời mạt pháp, cách Phật càng ngày càng xa. Thời nay chỉ cầu một người hơi giống người xưa, trong số trăm ngàn Tăng sĩ cũng đủ rồi. Thí dụ đãi cát tìm vàng, mười đấu cát được một hạt vàng cũng là vật quí ở trên đời. Lại như chẻ đá tìm ngọc, một núi đá chỉ được một tấc ngọc cũng làm được vật quí. Người xưa nói: “Loài có sừng tuy nhiều, một con lân cũng đủ rồi”. Chẳng những thời mạt pháp, trong Phật giáo khó tìm được người hơi giống người xưa, ngay lúc đương thời Đức Khổng Tử cũng có quân tử Nho và tiểu nhơn Nho. Hiện nay tuy mặc áo Nho sĩ, làm sao bảo đảm họ đều giống Khổng Mạnh? Cho nên tông giáo thời thượng pháp chẳng riêng gì Tăng sĩ có người không giữ luật mà Nho giáo cũng vậy, chưa khỏi lệ này.

HỎI: Tam giáo chỉ có một lý, tại sao lầm phân ra đẳng cấp: Phật giáo trị ở xương tuỷ, Đạo giáo trị ở huyết mạch, Đạo Nho tôi trị ở ngoài da? Như vậy là lời nói bất công, chưa khỏi khiến người phiền trách.

ĐÁP: Nho gia lấy “cùng lý tận tánh” làm đạo, tam cang, ngũ thường (7) làm đức, chỉ mong người làm quân tử, cho nên gọi là trị ngoài da. Đạo gia lấy “tu chơn dưỡng tánh làm Đạo”, “nhược chi thoái kỹ làm Đức”, mong làm đến bậc Thanh Hư đạo nhơn, cho nên gọi là trị trong huyết mạch. Phật giáo lấy minh tâm kiến tánh làm Đạo, thập độ vạn hạnh (8) làm đức, thành bậc chánh giác tam giới sư. Thật là hay trị ở cốt tuỷ. Chẳng phải là đạo thể của tam giáo có khác nhau, bởi mỗi môn công hạnh có sai biệt.

HỎI: Thế nào bảo rằng Tam giáo thể chỉ có một?

ĐÁP: Thể chỉ có một. Phật giáo chủ trương kiến tánh, Đạo giáo chủ trương dưỡng tánh, Nho giáo chủ trương tận tánh. Vào cửa tuy có sai khác, nhưng trở về nguồn thì không hai.

HỎI: Phật giáo Nho giáo có chỗ bất đồng?

- Bất đồng chỗ nào?

- Đạo nho tôi, trước học hỏi sau mới giảng dạy, phải xem khắp cả sách vở để nhận ra chỗ cùng tận của tánh tình, của lý. Đạo Phật trước dạy ngồi tịnh tham cứu thoại đầu, để ngộ tâm tánh của Đạo, cho nên Phật giáo, Nho giáo đại khái có điểm chẳng đồng.

- Sư nói: Từ bên ngoài vào chẳng phải của quí ở nhà, từ trong phát khởi mới là huệ chơn thật. Môn đệ của Khổng Tử lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được ngộ, ngoài ra là những bậc học nhiều thấy rộng, tất cả đều từ bên ngoài trợ phát, cho nên học và ngộ cách nhau trời vực. Như Trình Minh Đạo tham học nơi ngài Mậu Thúc, Mậu Thúc khiến tầm cứu “chỗ vui” (lạc xứ) của Nhan Hồi đâu không phải là câu thoại đầu? Lại Dự Chương, La Trọng Tồ chỉ dạy người tịnh toạ tham cứu câu: “Bốn đầu chưa phát khởi làm khí tượng gì?”. Việc nên chẳng những có sức tiến bộ trên sự học, mà cũng gồm cả chỉ yếu của sự dưỡng tâm. Hai vị cao hiền nơi của Khổng này có khác gì nhà Thiền tham cứu ngộ nhập?

HỎI: Lý đốn ngộ tôi tin chẳng nổi?

ĐÁP: Chẳng những kẻ mới học Nho hiện thời tin chẳng nổi, mà cho đến Tử Cống, Tử Phương các bậc hiền trong cửa Khổng cũng tin chẳng nổi. Lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được niềm tin thôi. Cho nên Đức Khổng Tử gọi Nhan Hồi là bậc hảo học.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười Hai 30, 2010, 08:38:43 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Giáo lý của tôi từ sự mà vào, trong động khế hợp với lý. Nhà Phật trái lại từ lý mà vào, tịnh toạ để ngộ lý. Cho nên người trong động khế hợp với lý khi lực lớn. Người tịnh toạ ngộ lý khi lực yếu.

ĐÁP: Chỗ ông nói lý kia rất đúng, nhưng không làm sao được vì chỗ quen thuộc lại quen thuộc hơn, chỗ sanh khởi lại sanh khởi hơn. Người học nếu ở trong động, chỗ quen thuộc mà chứng lý, không theo việc ấy làm chống trái, đó chỉ có muôn người không được một. Hạng sơ cơ nghiêng về chỗ tịnh, nơi sanh khởi (của tâm ý) luyện tập cho thành thục. Lúc ấy dù đến chỗ động tự nhiên cũng được lực dụng.

Ngài Y Xuyên mỗi khi thấy người tịnh toạ  đều vui vẻ khen rằng người này khéo học. Châu Hi nói: “Ngài Minh Đạo dạy người  tịnh tọa, Lý tiên sinh cũng dạy người tịnh tọa. Bởi vì nếu tinh thần bất định thì đạo không bến đỗ, nếu tịnh tọa đều dưỡng được kết qủa, thì Đạo liền thông suốt”. Như vậy chư Nho ở trên đều thích tịnh tọa nghiên cứu. Tức cười cho nhà Nho thế tục ngày nay, vọng tâm sanh diệt không một chút dừng nghỉ, đối cảnh gặp duyên không phân biệt chủ tể. Như vậy vì sao nói từ sự nhập, trong cái động khế hợp đạo nhất quán?

HỎI: Tột lý chỉ một lời chuyển phàm thánh. Việc này rất kỳ đặc, khiến nhà Nho khó tin.

ĐÁP: Đương thời ngài Tăng Sâm tham cứu lý tâm rất chuyên cần, bỗng nghe câu “Nhứt dĩ quán chi” của Đức Khổng Tử, thì nghiễm nhiên lãnh ngộ được cái lý của tâm tánh.

Lại, Châu Mậu Thúc dạy đồ chúng rằng “Cỏ trước nhà chẳng nhổ”. Nếu có người hỏi ý kia, nên đáp rằng “Ý nghĩ chung của tự nhà mình”.

Trương Tử Hậu nghe lừa kêu mà lãnh hội. Đấy há chẳng giống “Tột lý chỉ một lời, chuyển phàm thành thánh ư?”

HỎI: THIỀN lấy cơ duyên mà ấn chứng. Đạo Nho tôi quyết không có việc này.

ĐÁP: Xưa Trình Y Xuyên thấy Thiệu Khương Tiết, Trình chỉ cái bàn ăn mà hỏi Thiệu rằng “Bàn này để trên mặt đất, chẳng biết trời đất tại chỗ nào?” Tiên sinh Thiệu Khương Tiết nghị luận cùng tận về lý kia. Lời hỏi ấy tứ là cơ duyên ấn chứng vậy.

HỎI: Chư tử trong đạo Nho tôi, đều có nghị luận về lý vô cực, thái cực nhưng mà không thông suốt, làm sao kẻ hậu học một lúc được vào? Thầy đã nói rõ về Tam giáo chỉ một lý, sao không ra tay chuyển xoay để cho người chưa ngộ tin rằng Phật pháp là cao tột?

ĐÁP: Đạo giáo và Nho giáo đại khái về môn lý thì đồng: do vô cực sinh ra thái cực. Thái cực động sanh ra dương, động cùng cực rồi tịnh. Tịnh lại sanh ra âm. Một âm một dương ấy là lưỡng nghi giao nhau, sanh ra tứ tượng ngũ hành, rồi sanh ra vạn vật. Tóm lại nếu suy về lý cùng cực, rốt lại chẳng biết là do TÂM hiện ra, tôi nếu chỉ bày chỗ thanh tịnh bản nhiên, sao lại sanh sơn hà đại địa còn e khó vào. Nay phương tiện mượn hai lý vô cực thái cực sai khác của Nho giáo để khiến ông dễ ngộ.

Bây giờ trở lại nghiên cứu Phật thừa: Bản tánh không tịch tức là vô cực. Chơn tâm linh chiếu tức là thái cực.Tịch chiếu không hai như gương chiếu vật, hay biện biệt lẽ thiện ác mà không sanh phân biệt, tâm vừa nảy sanh lẽ thiện ác liền hiện. Như thái cực động mà sanh ra âm dương, âm dương giao nhau mà sanh ra vạn vật. Chơn tâm đối vật chẳng sanh phân biệt. Một niệm vừa sanh, muôn vạn pháp đều hiện. Nay mượn chỉ tâm tánh để làm sáng đạo Dịch, nên vào cửa thiền tham cứu trở lại phải mất ba mươi năm.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Hai 30, 2010, 08:45:24 PM »

(tiếp theo)

HỎI: Giáo học của đạo Nho tôi, cho bộ TỨ THƯ là thánh kinh, nếu thấy không tiếc công xin giải thích một phen.

ĐÁP: “Đạo Đại học, ở chỗ minh minh đức, ở chỗ tân dân, ở chỗ dừng lại nơi chí thiện”.

Giải thích: Đạo đại học của cửa Khổng, chẳng phải là lễ nhạc, hay tìm tòi trong sách vở, cũng chẳng rơi vào thái quá và bất cập, mà thường dừng nơi lý Trung đạo.

“Tại minh minh đức” nên phân làm hai để giải thích. Chữ minh trên tức là Ngộ, chữ minh dưới tức là Tâm. Chơn tâm rỗng rang mà mầu nhiệm, hay chiếu soi mà thường tịch. ĐỨC là diệu dụng của tâm, nó thuần thiện không ác. Tất cả những tam cang, ngũ thường, lễ nhạc, luật pháp, chính trị… đều phát xuất  từ đức dụng của diệu minh nhất tâm. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, bởi do chạy theo cảnh, đuổi theo tình, ô nhiễm quá lâu, cho nên trái lại với đức dụng, điên đảo thác loạn, che đậy cái bản minh, do đó nên trôi nổi trong sanh tử. Một mai ngộ sáng được bản tâm, mới biết người hiền kẻ ngu không hai. Từ khi ngộ về sau phải làm “mới dân” (tân dân), khiến mọi người đều phát minh ra cái “diệu minh nhất tâm”. Hành động thực tiễn này là chỗ “dừng lại chỗ chí thiện” (chỉ ư chí thiện). Như đã nói trên là đốn ngộ.

Từ đây trở xuống là “Tu chứng”. “Biết dừng lại rồi sau mới định. Có định rồi sau mới có thể tịnh. Có tịnh rồi sau mới được an. Có an rồi sau mới lự. Có lự rồi sau mới đắc”.

Giải thích: Tự biết dừng lại chỗ chí thiện (chỉ ư chí thiện). Chí thiện là trung đạo. Nếu là dừng lại ở trung đạo thì tự nhiên lẽ thiện ác không lừa dối mình. Như vậy mới có thể bảo là người “biết dừng lại rồi sau mới định”. Định là tâm chẳng động, sự vật chẳng thể đổi dời. Nếu đến chỗ sự vật  không đổi dời, thì bản tâm như chiếc gương sáng suốt thanh tịnh, đối vối vật mà không nhiễm. Cho nên gọi việc này là “có định rồi sau mới tịnh”.

Tịnh là cái tịnh của bản tâm, chớ chẳng phải là cái tịnh của sự dừng cái động. Chơn tịnh hiện tiền thì nơi nơi đều vô ngại. Nếu đến chỗ nơi đều lai chẳng loạn gọi là chơn an. Cho nên nói: “Có tịnh rồi sau mới an”. An là an nhàn, trong ngoài nhứt như, hồn nhiên yên ổn, xử sự chơn thật. Tóm lại những điều trên là định.

Từ đây sắp xuống có thể gọi là huệ: thật vậy nếu định, tịnh, an được lâu thì chơn huệ tự nhiên phát hiện. Cho nên nói “an rồi sau mới hay lự”. Lự là chơn huệ, sự sự đều vô ngại. Nếu đến chỗ sự sự đều vô ngại thì mới có thể gọi là “lự rồi sau mới đắc”. Đắc là không chỗ đắc, tứ là định huệ đồng nhau.

Vật có gốc ngọn, sự có thỉ chung. Biết được lẽ trước sau thì gần với Đạo”.

Giải thích: Minh minh đức là gốc, làm sáng lý đổi mới dân (tân dân) là ngọn. biết dừng lại nnới chí thiện là thỉ. Sau trở về bản tâm là chung. Gốc, ngọn, thỉ, chung, thứ lớp chẳng sai tự nhiên gần với đạo Đại học.

“Người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng (minh minh đức)” nơi thiên hạ. Trước phải cai trị quốc gia. Muốn cai trị quốc gia, trước hết phải tề gia. Muốn tề gia trước phải tu thân. Muốn tu thân trước phải chánh cái tâm. Muốn chánh cái tâm trước cái ý phải thành thật (thành ý). Muốn cái ý thành thật, trước phải có cái biết thấu đáo (trí tri). Muốn có cái biết thấu đáo phải tìm cho ra cái nguyên lý của sự vật (cách vật)
.

Giải thích: Xưa bậc vua chúa ngộ cái gốc mà trị cái ngọn. Người trong thiên hạ nếu trị bằng ngọn (mạt trị), trước cần phải trị nước. Muốn trị nước trước phải tề gia. Người học lý nếu muốn tề một nhà, nhất định trước phải tu cái đức dụng của thân ta, muốn tu cái đức dụng của thân, trước tiên chỉ cần cái tâm cho chơn chánh. Tâm vốn không vây, nhơn ý mà phát động. Ý niệm điên đảo mắc nơi dối láo. Cho nên nói: “muốn cái tâm chơn chánh, nhất định cái ý trước phải thành thật”.

Thành là thành thật, thích ứng với sự vật không thiên lệch, muốn thích ứng với sự vật mà không thiên lệch trước phải có lương tri. Lương tri là tâm mầu sáng (linh minh). Như gương soi vật chẳng sanh phân biệt. Nay sự yêu ghét phân biệt là cái sức hư vọng của tình thức. Cho nên nói “trí, tri phải ở nơi cách vật”! Vật là tình thức, chẳng phải là vật bên ngoài. Phật nói: “Nếu hay chuyển được vật liền đồng Như Lai”. Kẻ Nho đời sau chẳng ngộ vật vốn là tình thức, lầm nhận cách vật là xét cùng lý của sự vật. Muốn đến cỗ cùng cực kia không thể đến được. Khá thương vì tìm cầu bên ngoài nên trở lại bị vật làm mê hoặc.

“Cách vật rồi sau mới trí tri. Trí tri rồi sau mới thành ý. Ý thành rồi tâm mới chánh. Tâm chánh rồi sau mớu tu thân. Tu thân rồi sau mới tề gia. Tề gia rồi sau mới trị quốc. Trị quốc rồi sau mới bình thiên hạ”.

Giải thích: Đoạn văn này trở lại bản ý ở trên. Nếu hay chuyển thức thì lương tri tự đến. Lương tri nếu hiện, giống như gương chiếu sự vật thiện ác rõ ràng, chẳng sanh yêu ghét. Tâm yêu ghét chẳng sanh, ý thành thực không lệch. Ý thân đoan trang, tâm chơn chính, lý tự nhiên mặc thân đoan trang, tâm chơn chính, lý tự nhiên mặc tình tạo tác mà đều hợp với đạo cùng cực. Cho nên cảm hóa một gia đình đều học hạnh ta, thì tự nhiên người dân trong thiên hạ đều làm người lương thiện. Từ vua chúa cho đến hạng dân đen mỗi mỗi đều lấy việc tu thân làm gốc.

Cái gốc kia để cho loạn rồi trị cái ngọn, chẳng phải vậy. Chỗ dầy (hậu) mà xem mỏng (bạc), chỗ mỏng mà xem dầy chưa từng có vậy”. (Sách Đại Học).

Giải thích: Trên từ vua chúa, dưới cho đến thứ dân, đều lấy nhứt tâm làm căn bản. Chẳng những tâm là gốc của thân mà cũng là căn bản của việc xuất thế và trị thế. Cái gốc kia nếu loạn của việc xuất thế và trị thế. Cái gốc kia nếu loạn thì tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ không thể có vậy.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam, byphuong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.202 seconds với 25 câu truy vấn.