Tháng Chín 27, 2020, 03:39:35 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: BÀI VÈ QUẢNG NAM HAY CÃI  (Đọc 4254 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
mavuong
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 171

Cảm Ơn
-Gửi: 13686
-Nhận: 1023


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Mười Hai 05, 2010, 12:40:26 AM »


ÐÃ TÌM THẤY… GIẤY KHAI SINH

CỦA BÀI VÈ QUẢNG NAM HAY CÃI

Trong vô vàn bài hò vè dân gian, bài có tầm phổ biến tương đối rộng rãi trong không gian lẫn thời gian có lẽ là bài:

Quảng Nam hay cãi,
Quảng Ngãi hay co,
Bình Ðịnh hay lo,
Thừa Thiên ních hết!

Tuy bài vè ấy có 4 câu nhưng trong sử dụng, người ta lại thường chỉ nhắc riêng một mình câu thứ nhất, còn ba câu kia gần như bỏ đứt, chẳng mấy khi được động đến.  Thế nhưng cả 4 câu đều thuộc cùng một "ca sinh tư" của bài vè nọ nên việc... tìm giấy khai sinh nhất thiết phải được tiến hành đồng bộ, liên đới nhau.
Trước hết, cần luận đoán xem vì sao có cuộc qui kết cho người dân 4 tỉnh ấy vào 4 tính cách tiêu biểu:  cãi, co, lo, ních, mà lại không quy kết các tỉnh khác của họ cũng như bất cứ tính cách nào khác ở các tỉnh khác nữa?
Xét ra, bốn tính cách ấy biểu hiện khá tập trung vào việc tuyển bổ quan lại từ thời Minh Mệnh trở đi (vì tên gọi tỉnh Thừa Thiên chỉ mới xuất hiện sau khi vua Minh Mệnh đổi tên mới vào năm 1822 từ tên cũ là doanh Quảng Ðức).
Nguyên trong việc chọn quan lại bấy giờ, người ta nhận ra khá rõ là những người gốc Quảng Nam thường bị phân biệt đối xử thiệt thòi nhất.  Tình trạng ấy có lẽ là vì lòng oán thù sâu đậm:  Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn từng được chúa Trịnh phong làm Quảng Nam trấn thủ Tuyên úy đại sứ Cung quốc công từ năm 1777 để đánh chúa Nguyễn.  Còn theo sử nhà Thanh thì trong giấy tờ bang giao buổi đầu, khi còn là Bắc Bình vương, Nguyễn Huệ đã xin vua Càn Long cho "nước Quảng Nam" của anh em mình được đối xử ngang hàng với nước Ðại Việt của Lê - Trịnh (còn chuyện va chạm nhau giữa hai... "nước sừng ốc" * chỉ nên coi là chuyện nhỏ nhặt xin Thanh triều đừng bận tâm!).  Tính ra, dân Quảng Nam đã hợp tác với "ngụy triều" ngót 25 năm (từ 1777 đến 1802).  Ðó là chưa kể từ nhiều năm trước nữa, Quảng Nam từng là địa bàn đi về khá quen thuộc của Nguyễn Nhạc, đưa đến việc Ðông cung Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt ở Ô Gia (Ðại Lộc, Quảng Nam) vào tháng 7 - 1775 rồi đưa về quản thúc tại bản doanh của Nguyễn Nhạc đóng ở Hội An.   (Ðến tháng 8 - 1777, Ðông cung Dương sau nhiều lần dời chỗ, cuối cùng bị Nguyễn Huệ giết ở Vĩnh Long).
Nước sừng ốc :  Nguyên văn "Oa giác quốc", nêu khái niệm về cái cực nhỏ.  Trong sách Nam hoa kinh, Trang Tử có đề cập một cuộc chiến tranh giữa hai "quốc gia" có lãnh thổ nằm trên hai sừng của ốc sên.
Tình hình ấy khiến cho các vua đầu đời Nguyễn quen coi người Quảng Nam là những kẻ phản trắc, quên ơn mở mang của các đời chúa, chẳng những đã không cưu mang che giấu nỗi Ðông cung mà có lẽ còn cố tình chỉ điểm làm hại Ðông cung nữa.  (Ðám tả hữu của vua nắm bắt tâm lý ấy nên coi việc hãm hại những kẻ thuộc quyền có gốc Quảng Nam là cách làm được "đức Kim thượng" đánh giá cao!).  Những lỵ sở ở vùng sâu, vùng xa, vùng nguy hiểm, thường dành cho những người Quảng Nam cứng đầu khó bảo.  Và ở những nơi heo hút ấy, các thuộc chức nọ rất dễ bị loại quan trên ham thăng tiến giở trò nén ép, vu vạ, đẩy họ vào cái thế phải chọn:  muốn khỏi chết, khỏi cách chức, phải cãi tới cùng, thà chịu tội "ngỗ phạm quyền quý" còn hơn là chịu chết oan bởi bè lũ tâng công xằng bậy.
Người Quảng Ngãi tuy không "kẹt" vào hoàn cảnh như người Quảng Nam nhưng dù gì thì miền ấy cũng từng là địa bàn một thời khá lâu dài của Tây Sơn, nếu chẳng may quan trên cảm thấy khó ưa một ai ở đấy thì chỉ cần ghép họ là kẻ thân tín, là bà con nội ngoại, là học trò v.v... của một viên chức Quảng Nam nào đó đang "có vấn đề" thì cho dù không phải là dân Quảng Nam đi nữa, họ cũng khó thể yên thân!  Ðấy là trò vè mà các quan to (nhưng tâm địa nhỏ) hay diễn.  Tất nhiên là người Quảng Ngãi nào bị dồn vào tình thế ấy, họ nhất quyết sẽ đôi co, sẽ co cượng đến cùng, không chịu để cho kẻ ác đạt được ý đồ đen tối dễ dàng.
Người Bình Ðịnh thì quả thật tình vô phương rũ sạch tội nợ!  Nếu không phải tại dân Bình Ðịnh cung cấp nhận lực, vất lực (và cả địa hình, địa thế nữa chứ!) thì phong trào Tây Sơn lấy gì để lớn mạnh nhanh chóng đến thế được?
Trong hoàn cảnh đó, người Bình Ðịnh nhất cử nhất động đều đặt trong lo lắng, nhất là khi Gia Long đã hằn học công khai tuyên bố "Trẫm sẽ vì chín đời mà trả thù!"  Vậy việc quật mồ làm nhục, cho voi giày để khủng bố, chắc gì được nhà vua coi là đã hả giận?  Và nếu chưa hả thì "người ta" còn biết trút vào đâu cho chệch khỏi những người dân Bình Ðịnh vốn đã bị tước mất khả năng phản ứng?  Người Bình Ðịnh khó lòng nguôi bớt lo âu lo lắng dù cho họ đã biết mọi đường lo liệu, lo lót thật ấm lòng những loại "cò" chạy chức, chạy tội!
Như thế, cư dân của cả ba tỉnh kể trên đều rơi vào tình cảnh chật vật, kém lợi thế trong cuộc cạnh tranh thăng tiến, thành ra mọi thuận lợi đều dồn cả về cho người Thừa Thiên.
Ngay từ khi Nguyễn Vương hãy còn ở tuổi 17, 18, đang còn phải bôn ba lưu lạc lắm nơi, đã bí mật nhận được tác phẩm trường thiên (670 câu) Hoài Nam Khúc (điệu nhớ phương Nam) của Hoàng Quang (người Hương Trà - Thừa Thiên) lời lẽ thiết tha ca ngợi công đức của các chúa Nguyễn.  Tác phẩm ấy làm Vương thật xúc động, trao cho các đoàn Du xuân bạn (tương đương Ðội văn công ngày nay) phổ diễn nhiều miền làm nức lòng phục quốc của quân dân Gia Ðịnh, còn bản thân Nguyễn Vương thì sẵn sàng dồn cho dân Thừa Thiên toàn bộ lòng tin cậy, cảm mến mà vua đã... thẳng tay thu hồi ở các suất của ba tỉnh kể trên.
Trong tình thế đó, người các nơi kia cho dù có đỗ đạt thành danh muốn tìm một chỗ đặt chân trên đất kinh kỳ, điều đầu tiên là phải nhờ cậy người Thừa Thiên, họ vừa chỉ cho đường đi nước bước đạt hiệu quả cao, vừa làm trung gian đắc lực trong giao tiếp với kẻ ưu thế.  Chuyện "tế nhị" ấy đã bị những kẻ xót của dung tục hóa bằng tiếng ních (nhồi nhét cho đầy, cho chặt - định nghĩa của từ điển Khai Trí Tiến Ðức).
Tuy nhiên, những luận giải trên chưa hẳn đủ sức thuyết phục mà còn phải nhờ thêm hai nhân vật lịch sử nữa.
Nhân vật thứ nhất là Doãn Văn Xuân.
Doãn Văn Xuân quê ở Lễ Dương (tên cũ của Thăng Bình, Quảng Nam) đỗ cử nhân cuối thời Gia Long, làm quan thời Minh Mệnh, nếm đủ mùi cay đắng, (có lúc bị cách chức rồi khởi phục ở chức thấp hơn).  Mãi đến cuối đời ông mới làm đến chức Án sát Gia Ðịnh rồi từ trần tại nhiệm.  Khi Thiệu Trị đăng quang (1840), nhân dịp đại khánh ấy,  Doãn mới được ban ân huệ truy tặng hàm Thị Lang.
Việc truy tặng của triều đình vốn thường tốn khá nhiều thời gian (với Nguyễn Công Trứ, mất đến 43 năm) nên ta rất khó đoán họ Doãn qua đời vào năm nào, tuy sự qua đời của ông có dính dáng niên đại xuất hiện câu vè trên.  Sự dính dáng đó sẽ được bàn kỹ ở phần sau.
Nhân vật thứ hai là Trương Ðăng Quế (1793 - 1865).
Trương Ðăng Quế người Bình Khê, Quảng Ngãi. Ông đỗ cử nhân cùng khóa 1819 với ông "hay cãi" họ Doãn, cùng giữ chức Bạn độc (dạy Hoàng tử) 8 năm như Doãn, chỉ khác là sau đó, ông "hay co" này thăng tiến vùn vụt, làm Phụ chính cả hai triều Thiệu Trị và Tự Ðức (vụ truy tặng chóng vánh chức Thị Lang cho họ Doãn liệu có... "dấu vân tay" của Phụ chính họ Trương?)
Khi họ Doãn rời nhiệm sở Tập thiện đường (nhà học các Hoàng tử) đi nhậm chức Hiệp trấn Cao Bằng, Trương Ðăng Quế làm thơ tiễn biệt có câu đầu rất đáng... nghiên cứu:
Bình sinh bất giải tác du từ...
(Cả đời không hiểu nổi cách nói hùa)
"Bất giải tác du từ" quả tình đã ám chỉ họ Doãn là dân "hay cãi" chứ dứt khoát không còn ám chỉ gì khác!  Bởi vì kẻ đã không hiểu rằng ở đời người ta thường nói hùa cho thuận với lòng kẻ khác, còn mình thì lại cho rằng đã nói thì dứt khoát là phải nêu ý kiến riêng, như vậy liệu còn biết tránh đường nào cho thoát khỏi... hay cãi?
"Bình sinh" của ông Doãn phải tính vào thời gian cả hai cùng làm chức Bạn độc 8 năm (1820 - 1827) là dịp họ hiểu kỹ tính nết "bình sinh" của nhau.
Do đó, người ta có thể xác định cụm từ "Quảng Nam hay cãi" ra đời sau năm 1822 và trước năm 1827 mà không e ngại có chuyện nhầm lẫn.
Nói cách khác, ta có thể hình dung rằng năm sinh "ghi" trên mảnh giấy khai sinh bài vè nọ đã bị... mối xông mọt gặm sao đó làm mất đi con số hàng đơn vị, người ta chỉ còn nhận ra được ba con số đầu (182) mà thôi.
Nội hàm của bốn câu vè tếu ấy bao quát tính cách nhân vật cả bốn địa phương (Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Ðịnh - Thừa Thiên), chứng tỏ tác giả phải là một hay nhiều người sống ở tầng cao trong xã hội mới có được tầm nhìn rộng như vậy.
Suy luận này hoàn toàn phù hợp với Trương Ðăng Quế (và Doãn Văn Xuân) vì họ cùng trải qua tám năm giữ chức Bạn độc ở Tập thiện đường (nơi dạy chung các hoàng tử của vua Minh Mệnh) và Tán thiện đường (nơi dạy riêng Ðông cung thái tử Miên Tông, tức vua Thiệu Trị sau này).  Và kể từ năm 1828, Trương Ðăng Quế giữ chức Quản văn thư phòng là nơi mà mỗi thuộc viên ở đấy đều hiểu rất cặn kẽ tình hình tuyển bổ quan lại, nhất là vào dịp cấc nhắc một số vị trí chủ chốt cho xứng tầm với Phủ Vâng - Mệnh - Trời (Thừa Thiên)
* * *
Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bài vè nọ ứng vào "ông lôgích" Phan Khôi khi ông ta tự phong làm Ngự sử trên văn đàn, viết báo Sông Hương cho Lê Tràng Kiều ở Huế.  Suy luận như thế không phải là kém thuyết phục, có điều người ta quên mất bài vè nọ thuộc "ca sinh tư" tức là không thể chỉ nghiên cứu một mình tính hay cãi và coi nó ra đời cùng thế hệ với báo Sông Hương là đã làm... thất thoát của nó hơn 100 tuổi.
------------------------------------

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ngodao, tadamina, dailuc, nguyenthuy, nhuocthuy
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười Hai 20, 2010, 05:49:29 AM »

Cảm ơn bài viết huynh MaVuong
8N có cách nhìn riêng nhưng kg phải đại diện về 4 câu này. Góp vui vài dòng nhưng kg phải đụng chạm đến dân 4 tỉnh này nhé

Theo 8N
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay la
Bình định nằm co
Thừa Thiên ních hết

Khi chúng ta làm việc cùng 1 người Quảng Nam, dù họ có sai rành rành thì thói quen của họ là cãi cọ nảy lửa xong mới nhận mình sai. Nói chung bất cứ vấn đề gì họ đều cãi và có thể kiện

Quảng Ngãi thì do cách nói chuyện và âm điệu của họ nên họ không nhỏ nhẹ được. Họ xổ ra tràng giang đại hải la lối om sòm

Tại Bình Định là đất võ, cái tư thế ngủ nằm co là 1 thế võ phòng thủ cực kỳ hiệu quả. Tôi không phân tích khía cạnh võ học ở đây nhưng ai quan tâm về võ thì tìm hiều và đúng là nằm ngủ co người lại là 1 thế võ phòng thủ khi đang ngủ bị tấn công bất ngờ

Còn Thừa Thiên thì liên quan gì? Trong 4 tỉnh ấy, dân tình bộc trực cãi la ỏm tỏi nhưng các bác Thừa Thiên ngọt như mía lùi, lòn cửa sau đớp hết...


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.057 seconds với 24 câu truy vấn.