Tháng Một 25, 2021, 09:29:09 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU-- 楊慈何茂 (Bản đầy đủ 3460 câu)  (Đọc 26681 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:52:01 PM »

(tiếp theo)

 Bao nhiêu chúng bạn đều đi,
Anh em giành thứ nhất, nhì đậu cao.
Về nhà sắm sửa níp, bao,
Lên Hà Đông trấn đặng vào thu vi.
2805.-Hai chàng cất gánh ra đi,

Nửa đường xảy gặp trò thi trở về.
Nói rằng : " Có bảng treo đề,
Rao cho sĩ tử trở về khoa sau
Ngày nay có giặc Tây Châu,
2810.-Lịnh sai quan Trấn, lo âu dẹp loàn.

 Học trò ai nấy đều than:
Ba năm một hội, lỡ làng công phu !

*
* *

Xây về đương lúc sơ thu,
Đi đường thấy cảnh dạ sầu nào nguôi!
2815.-Khắp nơi bờ cõi ngậm ngùi,

Gió tây thổi dập,  mấy mùi thơm  hoa.
Lá cây vàng rụng giơ chà,
Chim kêu réo rắt, người xa thêm sầu,
Hai chàng nghĩ việc trước sau,
2820.-Về đường phân nói cùng nhau mấy lời.

 Trân rằng : " Hổ đứng dưới trời,
Phận làm nhân tử ở đời chẳng may.
Cha thời sống thác nào hay,
Mẹ thời già yếu, liền ngày ngồi trông.
2825.-Tưởng là đèn sách nên công,

Sớm cho gặp hội mây rồng hiển vang.
Hay đâu gặp buổi ly loàn,
Lỡ bề báo hiếu, lỡ đàng lập thân.
Luận theo trong cõi phong trần,
2830.-Ngọc lành chờ giá, đợi phần ai mua?

 Sau dầu đặng lộc nhà vua,
Xuân huyên chếch mác, se sua ai nhờ ?"
Bửu rằng : " Danh lợi phỉnh phờ,
Ví như bánh vẽ, khó mơ no  lòng .
2835.-Trời tây khó nỗi day đòng

Ngày xuân nhặt thúc như vòng thoi mau.
Thương thay mẹ đã bạc đầu!
Chưa hay bóng xế nhành dâu buổi nào!
Không nhà, không cửa, nài sao ?
2840.- Chịu ơn nghĩa cậu biết bao đền rồi.

 Tình người ở bạc như vôi,
Mấy ai biết đạo tài bồi lấy nhau.
Ta dầu tốt báu như châu,
Về nơi đáy biển, ai hầu biết cho ?"

*
* *

2845.-Anh em tỏ tấm lòng lo,

Xảy đà gần đến bến đò sông Tương.
Thấy toà cổ miếu bên đường,
Cây cao, bóng mát, vách tường phấn tô.
Cùng nhau tránh nắng bước vô,
2850.-Trước sân thấy có một hồ hoa sen.


*CHÚ  THÍCH :-


2803.- Níp bao :- rương, tráp đựng sách và bao đựng đồ vật.
2804.- Thu vi 秋闈:- khoa thi mở vào mùa Thu (thi Hương) .
2826.- Hội mây rồng 龍雲會 :- chữ trong Kinh Dịch : "Vân tòng long, phong tòng hổ = 雲從龍風從虎" (mây theo rồng, gió theo hổ); ý nói vua thánh gặp tôi hiền, hoặc nói khi đỗ đạt, lập được công danh.
2829.- Cõi phong trần :- *Phong風  :- gió; *Trần 塵: bụi . Ở đây chỉ cuộc đời bụi bặm.

2830.- Ngọc lành chờ giá :- ngọc tốt chờ được giá cao mới bán. Thiên "Tử Hãn" sách "Luận Ngữ" : Tử Cống nói với Khổng Tử "có viên ngọc tốt ở đây, để vào hộp, tráp mà cất đi hay chờ giá xứng đáng mà bán ?". Khổng Tử đáp "Ta bán chứ !  Ta bán chứ ! Ta chờ giá cao đấy !". Ở đây ý nói kẻ sĩ có tài  chờ vua giỏi biết đúng giá trị của mình, mới chịu ra làm quan.

2832.- *Xuân huyên chếch  mác , se sua ai nhờ" :- * Xuân huyên 椿萱 : cây Xuân và cỏ Huyên , chỉ cha mẹ;

*Chếch mác (hay chếch mếch) nói về cái thế nghiêng lệch; *Se sua : chưng diện khoe đẹp. Cả câu ý nói, cha mẹ đã không còn đầy đủ, thì dù mình có chưng diện, khoe đẹp, cha mẹ còn ai được nhờ ?

2835.- Day đòng :- Xem c.t.  404.
2836.- Nhặt thúc :- gấp ngặt, dồn dập.
2838.- Bóng xế nhành dâu :- ánh nắng chiếu chiếu trên cành dâu, ý nói cảnh về già của cha mẹ.
2842.- Tài bồi (栽培) :- vun trồng, nghĩa bóng là nuôi dạy, gây dựng thành tài

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:09:31 PM »

(tiếp theo)

 Một hồ sen nở loã  bèn,
Đóa đua nở nhụy, đóa chen ngậm cười.
Trân rằng : " Cảnh khéo trêu ngươi,
Gẫm hoa sen nọ giống người tài hoa.
2855.-Ta nghe sen trổ bông ra,

Sớm thời  mùa hạ , muộn  là mùa thu,
Hỡi ôi! Sớm chẳng gặp chầu
Muộn dầu trổ tốt, ai hầu khen chi ?"
Hai chàng làm một bài  thi,
2860.-Vịnh hoa sen muộn, ngụ suy việc mình,

XXVI.- Vịnh Thu Liên:

Sen hỡi là sen! Tiếng chẳng hèn
Thấy sen lỡ vận,  tiếc cho sen !
Ngậm cười trước hạ: thơm nhiều  thưởng,
Đua nở mùa thu: tốt mấy khen?
Gương mặt bất phàm đâu  đặng biết,
Bèo tai vô dụng gọi là  quen.
Phải cho sanh gặp nơi Tiên  cảnh,
Lá lọng cao che khắp các bèn.

Anh em họa xướng thơ rồi,
Mực đề  vào vách tô vôi rõ ràng.
Sau thơ, lạc khoản hai hàng,
Một hàng niên quán, một hàng tánh danh.
2865.- Đem nhau trở lại gia đình,

Nhờ cậu nuôi mình, chờ hội khoa sau.

*
* *

Lối nầy tới chuyện Tây châu,
Có người Vương Báo lòng âu phản thần.
Riêng cầu cùng  nước Nữ Chân,
2870.- Đem quân mọi rợ đánh phần Hà Đông.


Tần Khanh làm chức Nguyên nhung.
Ra ngăn Vương Báo ấy  cùng Nữ Chân.
Giặc hung, oai thế lẫy lừng,
Nguyên nhung đánh dẹp đã gần hai năm,
2875.-Quét rồi ong, kiến chỗ nằm,

Tây châu một cõi êm đầm như xưa,
Ải lang vắng khói ban trưa,
Nguyên nhung binh mã về  vừa gần châu.
Quân đi tới rừng Tương Châu,
2880.-Tới toà cổ miếu gặp chầu mưa giông.

Đóng quân vào nghỉ miếu trung,
Chờ trời tạnh ráo, sẽ mong kéo về.

*
* *

Tần Khanh ngồi ngó tư bề,
Thấy trên vách phấn có đề "Thơ Sen".
2885.- Xem qua thơ ấy liền khen,

Khiến đem bút mực, đọc bèn sao qua.
Nói rằng : " Trời đất khiến ta,
Gặp trang tài sĩ, sớm hoà nghĩa thân.
Nhớ nay Băng, Tuyết thanh xuân,
2890.-Tuổi đà hai bảy, vừa chừng đào yêu.

1445.- Đà nên lót  bắc  Thước Kiều,
Dựng bình  xạ tước, sớm chiêu anh tài.
Sao cho xứng gái, xứng trai,
Chữ tài, chữ sắc, sánh hai đôi lành.

*
* *

2895.-  Mưa rồi, lịnh dạy kéo binh,

Xếp thơ  để tráp , về thành Hà đông.
Đãi đằng tướng sĩ đã xong,
Về dinh lại thấy mừng trong việc nhà.
Tây Châu từ thuở kéo ra,
2900.-Phu nhân có nghén đặng ba tháng rồi.


*CHÚ THÍCH :-


2851.- Sen nở rã bèn :- hoa sen nở, cánh đã rả.
2857.- Chầu :- dịp, cơ hội , lúc.
2868.- Phản thần (反臣) :- Xem c.t.  1840.

2869.- Nữ Chân 女真:- tên một chủng tộc. Nữ Chân chia làm hai : Sinh Nữ Chân生女真và Thục Nữ Chân熟女真. Sinh Nữ Chân nay ở vùng tỉnh Cát Lâm, phía đông nam Tùng Hoa Giang---Thục Nữ Chân ở tỉnh Hắc Long Giang, phía tây bắc Tùng Hoa Giang. Thời Tống Huy Tông, Nữ Chân tự lập dựng thành nước KIM, diệt nước Liêu, đánh nhà Tống, về sau bị Mông Cổ diệt.

2871.- Nguyên nhung(元戎) :- tướng đứng đầu coi giữ việc quân.
2877.- Ải Lang vắng khói ban trưa :- ở đây chỉ sự yên ổn, không có giặc giã. (Xem c.t.  764).
2890.- Đào yêu (桃夭) :- cây đào tơ xinh tươi, kinh Thi, thiên "Đào Yêu" nói người con gái về nhà chồng lúc đào non, lá xanh mướt. *Vừa chừng đào yêu :- vừa tuổi lấy chồng.

2891.- Thước kiều (鵲橋) :- (hay Ô kiều =烏橋 ) cầu Ô Thước. Sách "Phong  tục ký 風俗記" chép : ngày mùng bảy tháng bảy, Chức Nữ sang sông Ngân Hà gặp Ngưu Lang, có bầy quạ đội cầu. *Thước (鵲) nguyên là chim khách, nhưng tục vẫn truyền là quạ.

2892.- Dựng bình xạ tước射雀 :- dựng bình phong, bắn con chim công, chỉ việc kén vợ. Đậu Nghị 竇融có người con gái yêu, muốn kén rể, bèn vẽ hai con công (khổng tước =孔雀) vào bức bình phong, rồi bảo rằng; Ai bắn trúng mắt công, thì gả con gái cho. Nhiều người đến thử tài đều bắn trượt, duy có Lý Uyên 李淵 [566-635] (sau nầy là Đường Cao Tổ ) bắn trúng, cưới được con gái Đậu Nghị.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 04, 2010, 12:19:22 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:13:49 PM »

(tiếp theo)

Nay về con đã biết ngồi,
Thật trời xuống  phước nối ngôi  họ Tần.
Tần Khanh đặng nối gót lân,
Tấm lòng yêu mến phu nhân khôn cùng.
2905.-Bèn đem chuyện ở miếu thần,

Cùng "Thơ Sen" nọ,  tỏ cùng  Phu nhân,
Nói rằng : " Hai gái đang xuân ,
Đã thông chữ nghĩa, lại thuần nết na.
Ngày  nay  muốn tính việc nhà,
2910.- Kén người văn vật, mới là xứng đôi.

Bấy lâu giặc giã chưa rồi,
Những lo sĩ tử bỏ ngôi học trường
 Ai dè bên huyện Nam Khương,
Có hai chàng ấy họ Dương tài tình.
2915.- Muốn cho nên việc con mình,

Phải đòi quan  Huyện, hỏi minh mới tường".

*
* *

May đâu có huyện Nam Khương,
Tên Trần Đoan tới, dâng chương mừng hầu.
Mừng cho chín huyện, bảy châu,
2920.-Ở an lạc nghiệp, ngợi  câu thăng bình.

Tần Khanh ngồi chốn hậu dinh,
Đòi vào han hỏi sự tình họ Dương.
Trần Đoan thưa chuyện họ Dương,
Mẹ con, nhà cửa, tỏ tường đầu đuôi.
2925.- Tần Khanh nghe rất mừng vui,

Cười rằng : " Máy tạo khéo xui hiệp hòa.
Họ Dương sánh với họ Hà,
Song sanh điềm ấy, đôi đà xứng hai.
Nấy cho quan Huyện làm mai,
2930.-Xe dây Nguyệt Lão, kháng  hài lương duyên".

*
* *

Trần Đoan vâng lịnh về liền,
Tới nha phút thấy, tờ liền theo sau,
 Rằng : " Nay yên giặc Tây châu,
Tấn vương dụ xuống  mở chầu ân khoa.
2935.-Huyện quan viết bảng treo ra,

Rao cho sĩ tử gần xa đặng tường.
Anh em Trân, Bửu hai chàng,
Đem nhau tới chốn huyện đàng ứng thi.
Anh em cùng đậu nhất nhì,
2940.-Trở về sắm sửa cùng đi tựu trường.

Trần Đoan ngồi chốn hậu đường,
Đòi lại hai chàng, nói chuyện cầu hôn.
 Dạy về thưa với gia tôn,
Đều dùng sáu lễ nghinh hôn một lần.
2945.-Trước lo kết nghĩa Châu Trần,

Sau nhờ một nỗi lập thân khoa này,
Hai chàng ngẫm nghĩ một giây,
Thưa rằng : " Công học bấy chầy ra chi!
Ân vua đã mở khoa thi,
2950.-Xin  cho thử sức một kỳ sẽ hay.


*CHÚ  THÍCH :-

2930.- Xe dây Nguyệt Lão :- tác thành cho đôi trai gái nên vợ chồng. Theo "Tục U quái lục 續幽怪錄" : Vi Cố 韋固đời Đường nằm mộng gặp một ông già ngồi dưới trăng (Nguyệt Hạ lão nhân =月下老人 ) xem sổ sách, bên cạnh có một túi đựng chỉ đỏ. Vi Cố hỏi. Ông già đáp đó là những dây chỉ  dùng để buộc chân những đôi trai gái thành vợ chồng.

*Kháng hài (伉諧) :- *Kháng 伉 : phối hợp thành đôi lứa; *Hài 諧 : thỏa, vừa ý. *Kháng hài lương duyên伉諧良緣: hòa hợp mối duyên lành.

2934.- Ân khoa (恩科) :- *Ân恩 : ơn; *Khoa科 : kỳ thi. *Ân khoa: khoa thi mở nhân dịp triều đình có vui mừng lớn, như lên ngôi vua, lễ thượng thọ v.v…

2943.- Gia tôn (家尊) :- bậc tôn trưởng trong nhà.

2945.- Kết nghĩa Châu Trần :- *Châu, Trần 朱陳 : tên hai họ đời xưa ở Trung Quốc, nhiều đời kết hôn với nhau. *Kết nghĩa Châu Trần : kết hôn đôi lứa, thông gia với nhau.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:19:20 PM »

(tiếp theo)

May mà cánh nhạn cao bay,
Trấn quan khỏi tiếng bằng nay tư tình.
 Chẳng may bảng hổ vô danh,
Huyện quan cũng khỏi Nho  sanh chê cười.
2955.-Trần Đoan nghe thấm mấy lời,

Dạy về lo liệu tới nơi thi  trường,
Hai chàng về lạy gia nương ,
Cùng nhau bàn bạc mọi đường gần xa.
Nương rằng : " Chút phận không nhà,
2960.-Mặc con toan liệu, mẹ già cũng ưng.

Chớ lo dây đỏ vấn chưn,
Lo công nghiệp buổi thanh xuân cho tròn.
 Sau dầu danh tạc bia son,
Trời dành trong sách có con gái hiền".
2965.-Hai chàng thâm tạ nhà huyên,

Mang đồ tứ bửu , lên miền Hà Đông.

*
* *

Mười ngày lên tới Hà Đông,
Tìm nơi lánh ở, mình không dạo đường,
Cùng nhau vô đủ ba trường,
2970.-Còn chờ treo bảng, chưa tường đỗ không.

Trần Đoàn lãnh việc mai dong,
Phải đi lên trấn, theo cùng họ Dương.
 Mắc di chuyển vãn dọc đường,
Tới nơi  chúng sĩ vào trường mới xong.
2975.-Hỏi tìm khắp hết tây đông,

Anh em Trân,  Bửu, đều không gặp rồi.
Bảy ngày kiếm ngược, kiếm xuôi,
Tới lui hai lẽ, thẳng dùi khôn toan.
Muốn về ra mắt Trấn quan,
2980.-Sợ e người hỏi hai chàng huyện ta.

May vừa cửa bảng xướng ra :
Dương Trân tên họ, Thủ khoa chánh vì.
 Cử nhân, Dương Bửu thứ nhì,
Ba ngàn sĩ tử một khi khen giồi.

*
* *

2985.-Yến diên, áo mão, ban rồi,

Trần Đoan đón cửa thỉnh xuôi  hai chàng,
Đem ngay vào chốn công đàng,
Lễ dâng bốn lạy, rỡ ràng nam nhi,
Tần Khanh khiến  lấy quyển thi,
2990.-Dâng lên trước bệ, một khi khen liền.

Dạy rằng : " Hai gã thiếu niên,
Chữ danh đã toại, chữ duyên thêm nồng.
Bạc, vàng  ta cũng chẳng dùng,
Muốn cho ngọc nhuận, sánh cùng băng thanh.
2995.- Đẹp đôi có chữ  " thiên thành",

Chờ khi tháng tốt, ngày lành sẽ toan".
Nói rồi vào chốn hậu đàng,
Khiến đem hai chàng, ra mắt phu nhân.

*
* *

Phu nhân xem thấy rất mừng,
3000.-Rằng : " Ơn trời khéo nhắm chừng định đôi.

*CHÚ  THÍCH :-

2951.- Tháp nhạn :- tức nhạn tháp = 雁塔, tên một cái tháp do sư Huyền Trang đời Đường lập. Ở gần tháp có dựng bia khắc tên các Tiến sĩ thời bấy giờ. *Tháp nhạn dùng để chỉ sự đỗ đạt, công danh.

2953.- Hổ bảng (虎榜) :-bảng ghi tên người thi đỗ Tiến sĩ.

2961.- Dây đỏ vấn chân:- do chữ "xích thằng hệ túc = 赤繩繫足"; sợi chỉ đỏ của Nguyệt Lão dùng để buộc chân đôi trai gái thành vợ thành chồng (xem thêm 2930) .

2964.- Trong sách có con gái hiền:- "Liêu trai chí dị 聊齋志異" : Lang Ngọc Trụ (郎玉柱) là một thư sinh rất mê sách. Cha anh có viết một bài "Khuyến dụ 勸諭"  dán ở chỗ ngồi có câu "… thư trung hữu nữ nhan như ngọc = 書中有女顏如玉 " (trong sách có người con gái mặt đẹp như ngọc). Ngọc Trụ thường ngâm đọc. Một đêm, đang mãi mê đọc bộ "Hán Thư" , chợt thấy hình mỹ nhân nhỏ nhắn nằm ép trong sách. Mỹ nhân từ từ bước ra khỏi sách và lớn dần bằng người thật, rồi tự xưng họ Nhan, tên Như Ngọc, vốn biết Ngọc Trụ lâu… Về sau, hai bên kết thành vợ chồng.

*Lại có sách "Thuyết văn giải tự 說文解字" thì cho rằng câu trên là trong bài "Khuyến học thiên 勵學篇" của vua Tống Chân Tông (997-1022) " Thú thê mạc hận vô lương duyên, Thư trung hữu nữ nhan như ngọc =娶妻莫恨無良媒 書中自有顏如玉" (Cưới vợ đừng sợ không gặp chỗ tốt, Trong sách sẵn có gái đẹp như nọc)

*Ghi chú thêm :- *Liêu trai chí dị ( 聊齋志異), với ý nghĩa là những chuyện quái dị chép ở căn nhà tạm, là tập truyện ngắn gồm 431 thiên, ra đời vào đầu đời nhà Thanh (cuối thế kỷ 17) của nhà văn Trung Quốc Bồ Tùng Linh. Bộ truyện này được coi là một kì thư và được đánh giá là đỉnh cao của tiểu thuyết văn ngôn thời cổ đại. Dựa trên cơ sở tập Liêu Trai chí dị - Hội hiệu hội chú hội bình do Trung Hoa thư cục Thượng Hải biên tập và ấn hành năm 1962 gồm 12 quyển, 496 bài và 8 đoạn phụ lục, các dịch giả như Nguyễn Huệ Chi, Cao Xuân Huy, Phạm Tú Châu, Đỗ Ngọc Toại, Nguyễn Đức Lân, Trần Thị Băng Thanh v.v. đã dịch nhiều truyện sang tiếng Việt và lưu truyền rộng rãi tại Việt Nam.

2965.- Nhà huyên :- dịch chữ "huyên đường =萱堂.  " , chỉ người mẹ. Người xưa cho rằng ăn cỏ huyên thì khỏi buồn cho nên trồng cỏ huyên ở chái nhà phía bắc nơi mẹ ở.[ "yên đắc huyên thảo, ngôn thụ chi bối" 焉得諼草言樹之背 (Thi Kinh 詩經) sao được cỏ huyên, trồng ở sau nhà.]

2966.- Tứ bảo (bửu) :- tức "văn phòng tứ bảo= 文房四寶" , bốn vật quí trong văn phòng gồm : giấy, bút, mực và nghiên.
2971.- Mai dong :- người làm mối trong việc hôn nhân.
2978.- Thẳng dùi : (hay dùi thẳng dùn thẳng) là do dự không quyết (từ cổ).

2994.- Ngọc nhuận băng thanh :- *Ngọc nhuận 玉潤:ngọc lành không có vết; *Băng thanh 冰清: trong như băng giá. Cả câu ý nói trai tài gái sắc sánh duyên với nhau.

2995.- Thiên thành (天成) :- trời định cho thành vợ thành chồng.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:22:49 PM »

(tiếp theo)

Hai tài, hai sắc xứng đôi,
Một nhà  loan  phụng, sánh đôi vui vầy.
 Sai người rước mẹ qua đây ,
Chủ hôn cho trẻ kết dây sắt cầm".
3005.-Dương Trân, Dương Bửu đồng tâm.

Thưa rằng :"Còn nợ thanh khâm chưa rồi.
Trên đà thương cảm hai tôi,
Xin cho thỏa dạ rạng giồi công danh.
Đại khoa trước đặng nên mình
3010.- Tiểu khoa, sau lại mặn tình trăm năm".

Công rằng : " Lời nói ý nhằm,
Việc nhà nào muộn, mấy năm mà phiền.
Thi Hương sớm đã gặp duyên,
Chờ cho thi Hội phỉ nguyền mới nên.
3015.-Nay đà làm lễ hỏi tên

Keo sơn chử dạ cho bền ngày sau.
Hai con qua chốn thơ lầu,
Ở chơi vài bữa sẽ âu về làng".
Tần Khanh lại khiến Trần Đoan
3020.-Khá tua bậu bạn hai chàng rể chơi.

Trần Đoan trước án vâng lời,
Phải theo Trân, Bửu, ở nơi thơ lầu.

*
* *

 Tuyết, Băng hai gái riêng sầu,
Ngồi nơi hoa viện lo âu việc mình.
3025.-Tuyết, Băng cám chữ minh linh,

Vò vò nuôi nhện, công trình biết bao.
Riêng than chút phận má đào,
Gặp xuân chưa biết ngày nào đền ân.
Băng rằng : "Ngay việc hòa thân,
3030.- Gẫm trong mình lại muôn phần xót xa.

Có cha mẹ, mới có ta,
Có ta, mới có cửa nhà giàu sang.
Mẹ kia đã xuống suối vàng,
Cha xưa non nước khôn toan mất còn.
3035.-Hai bên nội ngoại bà con,

Đều người về đạo, chẳng  lòn cửa quan.
Từ ta nương  dựa cửa quan,
Nào ai lui tới, hỏi han thăm tình.
Dầu không gặp nghĩa minh linh,
3040.- Cội cây nguồn nước ở mình còn chi !

Mai sau đặng chữ vu qui,
Đã đành phận gái phải đi theo chồng.
 Trăm năm sống thác nhờ chồng,
Một môn dòng họ đều không nhìn rồi.
3045.-May còn chút tiếng con nuôi,

Ví như trà dở ướp mùi thơm  hoa.
Nay nghe hai gã tân khoa,
Cha đi tu mất, mẹ già khó khăn.
Vốn không nhà cửa nghiệp hằng,
3050.- Nhờ theo họ ngoại ở ăn học hành".

*CHÚ  THÍCH :-


3002.- Loan phụng (鸞鳳) :-  chim loan và chim phụng là  loại chim quí. Chim phụng và chim loan hay sánh đôi với nhau. Văn học cổ thường dùng để chỉ vợ chồng đẹp đôi.

3004.- Sắt , cầm (瑟琴) :- đàn sắt và đàn cầm, hai loại nhạc cụ thường dùng để hòa âm. Kinh Thi : "yểu điệu thục nữ, cầm sắt vĩ chi = 夭調淑女琴瑟緯之" (người thục nữ yểu điệu, làm bạn sắt cầm) chỉ cảnh vợ chồng hòa hợp.

3006.- Thanh khâm :- *Thanh青 : xanh; *Khâm 襟: cổ áo. Ngày xưa học trò thường mặc áo sắc xanh, cho nên gọi là thanh  khâm. *Nợ thanh khâm : ý nói nợ sách đèn mà người đi học phải lo đền đáp. 

3009.- Đại khoa :- tức "đại đăng khoa 大登科" chỉ việc thi đỗ.

3010.- Tiểu khoa:- tức "tiểu đăng khoa 小登科" chỉ việc cưới vợ.

3025.- Minh linh螟蛉 :- Xem c.t.  2384.

3027.- Má đào :- do chữ "đào kiểm = 桃臉", chỉ người con gái đẹp.

3041.- Vu quy (于歸) :- con gái về nhà chồng.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:28:29 PM »

(tiếp theo)

Tuyết  rằng :"Trời đất thình lình,
Khéo xe duyên phận cho mình quá ngang!
 Cha xưa về đạo Hoa Lan,
Chẳng ưa đạo Phật, không màng đạo Nho.
3055.-Cha nuôi nay chuộng đạo Nho ,

Gả chồng cũng lựa học trò bậc cao.
Cho hay duyên nợ buổi nào,
Con Trời, con Phật, đều vào theo nhu (Nho )
Băng rằng : " Ta học đạo Nhu,
3060.-Đến nay mới biết công phu Thánh  hiền.

Sửa sang năm  mối, ba giềng,
Dạy người thiên hạ vẹn tuyền tánh xưa,
 Đặt làm sáu bản đờn xưa,
Có thi vận để tiếng đưa tơ đồng,
3065.-Ta nay rảnh việc nữ công,

Hòa đờn một tiệc giãi lòng buồn ngâm".
Chị đờn sắt ,em đờn cầm,
Tay đờn, miệng đọc, thâm trầm nghe hay.

XXVII.- Xuân Tuyết Đàn Ngâm:

Trời che, đất chở, nghĩa cao dày,
Cha mẹ sanh con cũng ví  tày.
Vậy có người xưa lo báo bổ,
Hai mươi bốn thảo dấu còn nay.

XXVIII.- Thu Băng Đàn Ngâm:

Cha phải  đạo cha, con phải  con,
Rằng   lành, rằng   thảo, tiếng hay còn.
Cây kiều, cây tử, đời thường ví,
Chẳng trái lòng nhau,  mới đặng tròn.

XXIX.- Xuân Tuyết Đàn Ngâm:

Vua phải  đạo vua, tôi phải  tôi,
Sửa sang giềng mối , mới nên ngôi
Minh lương hai chữ vầy trên dưới,
Nước trị nhà an, bốn biển vui.

XXX.- Thu Băng Đàn Ngâm:

Vợ phải  đạo vợ, chồng phải  chồng,
Vợ chồng là đạo, đất trời thông.
Khó nghèo đều chịu, giàu đều hưởng,
Kết tóc trăm năm trọn một lòng.
XXXI.- Xuân Tuyết Đàn Ngâm:

Anh phải đạo anh, em phải  em,
Huân trì hai ống, tiếng nghe êm
Sanh đồng một cội, là xương thịt,
Sống thác nương  nhau ở dịu mềm.

XXXII.- Thu Băng Đàn Ngâm:

Làm người bậu bạn muốn nên danh,
Lời thẳng khuyên nhau ở lấy lành,
Giao mặt xưa rằng  vàng ngọc báu,
Giúp tình nhân nghĩa mới thêm xinh.
*
* *
Anh em Trân, Bửu, ngồi buồn,
3070.- Dạo qua hoa viện, đi luồng xem chơi.

Anh em vừa bước tới nơi,
Phút nghe trong viện có lời đờn ngâm.
Vần theo dây sắt, dây cầm,
Tiếng đờn điệp với tiếng ngâm một bài.
3075.- Hai chàng rình đứng  vách ngoài.

Rõ ràng nghe đặng sáu bài đờn  xưa.
Trời thu đương lúc nắng trưa,
Chị em ngồi nực, vừa ưa buông đờn.
Hai chàng ngoài vách mau chơn,
3080.-Bước vào trong viện, xem tường  những ai.

Hay đâu giáp  mặt gái trai,
Mày qua mắt lại, hoà hai ngỡ ngàng.
Tuyết, Băng mắc cỡ vội vàng,
Cúi đầu che quạt, hậu đàng chạy vô.
3085.- Hai con thị nữ hầu cô,

Cất đờn, bưng tráp , nói phô đều cười.
Bửu, Trân, thấy cũng nực cười,
Mau ra khỏi viện, tìm người  hỏi qua.
Cho hay mối Tạo vấn qua,
3090.- Coi hoa cây, lại thấy ra hoa người.

*
* *

Trần Đoan bạn với hai người,
Thư lầu đã ở đặng  mươi ngày rồi,
Thưa cùng quan Trấn phản hồi,
Tần Công  liền dụng lễ bồi đưa ra,
3095.-Ban cho năm vóc sô, sa.

Một cân sâm, quế khỏe già hộ thân.
Lại cho vàng bạc hai cân,
Riêng đưa chàng rể sắm phần  đi xa.
Hai chàng từ tạ nhạc gia,
3100.- Theo quan Huyện Tể trở ra đi về.   


*CHÚ  THÍCH :-

3053.- Đạo Hoa Lan :- Xem c.t.  11.
3061.- Năm mối ba giềng :- Xem c.t.  310/3.
3064.- Tơ đồng :- dây bằng tơ, đàn bằng gỗ "ngô đồng 梧桐" *Tiếng tơ đồng : tiếng dàn.

*CT bài đàn sau câu 3068 :-
*Hai mươi bốn thảo :- Xem c.t.  2730.

*Cây kiều, cây tử :- *Kiều橋 : tên một loại cây cao, cành mọc ngưỡng lên; *Tử梓 : loại cây thấp, cành cụp xuống. *Kiều tượng trưng cho "đạo làm cha". *Tử tượng trưng cho "đạo làm con". Ở đây chỉ đạo cha con.

3095.- Ban cho năm vóc sô, sa :- *Vóc :- 1/ là loại bằng tơ, có hoa nổi (gấm, vóc) 2/- là xấp hàng vừa đủ may một bộ quần áo. *Sô:- loại vải dệt thưa, mình cát. *Sa :- loại hàng tơ dệt thưa và mỏng. *Vóc ở đây chỉ nghĩa thứ hai.

3099.- Nhạc gia (岳家) :- cha vợ.
3100.- Huyện Tể (縣宰) :- chức quan cầm đầu một huyện.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #66 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:32:16 PM »

(tiếp theo)

Mười ngày về tới Đan Khê,
Người làng đón rước bộn bề lễ nghi.
Tiếng hay, đâu cũng yêu vì,
Hai thầy cử nhỏ đậu thi mới về.
3105.- Ai dè chăn ngỗng, chăn dê,

Vận trời ngó lại, ra bề người sang.
Bà con họ nội xa đàng,
Võng dù xin rước về làng thuở xưa.
Đỗ Nương , Đỗ Khoái đãi, đưa,
3110.- Tiệc bồi năm bữa, mới vừa rảnh rang.

*
* *

Dương Trân, Dương bửu, hai chàng,
Thưa cùng cậu, mẹ, hiệp bàn việc hôn.
Nương rằng : " Nhờ của công môn,
Ban cho vật quí, mình khôn chối từ.
3115.- Chưa hay hai gái phương tư,

Đứng trang đào liễu, đua cười mấy xuân ?"
Hai chàng đem việc họ Tần
Đờn nơi hoa viện đều phân tỏ tường,
Nương rằng : " Nhờ phước tổ đường.
3120.-Cho con gặp thuở khoa trường nên danh.

Nhờ trời trước đặng chữ vinh,
Sau rồi sẽ liệu gia tình mới xong.
Hai con theo chốn thơ phòng,
Ôn nhuần kinh sử, lo vòng thi xuân".

*
* *

3125.- Lần hồi hầu đến tháng xuân,
Đem nhau cất gánh, trông chừng Tràng An.
Hai tuần đi tới kinh bang,
Vào trường thi Hội, bảng vàng đỗ cao.
Trước đền đặng đứng  đầu ngao,
3130.-Dương Trân Bảng Nhỡn, Bửu vào Thám Hoa.

Tuy không dành Trạng nguyên khoa,
Cung thiềm, tháp nhạn cũng là Á khôi.
Hốt hoa, bào gấm lãnh rồi,
Quỳnh lâm mở tiệc, chúa tôi phỉ lòng.
3135.- Tờ truyền tới trấn Hà Đông,

Tần Khanh văn tín,  vợ chồng đều vui.
Sai người lập tức đi rồi,
Tới Nam Khương huyện dọn ngôi công đàng.
Cứ theo Trà Thạch gốc  làng,
3140.-Cất làm nhà cửa nghiêm trang một tòa.

Dấy  lên  rường cột nguy nga,
Nam Khương một huyện, ít nhà dám phen.
Cho hay son đỏ, mực đen,
Mực son khuyên điểm, dầu hèn cũng sang.
3145.- Dựng rồi nơi chỗ sẵn sàng,

Xảy vừa tới lúc hai chàng vinh qui.

*
* *

 Bảng vàng , cờ đỏ,  dàn đi,
Che tàn, ngồi kiệu,  oai nghi chói lòa
Lại thêm áo mão giồi ra,
3150.-Lịnh ban gấm nhiễu ngọc ngà thiếu chi.

*CHÚ THÍCH :-

3115.- Phương tư (芳資) :- tư chất đẹp đẽ.
3116.- Trang đào liễu (桃柳):- người con gái đẹp.
3124.- Thi Xuân :- (hay Xuân thí = ) khoa thi Hội, thi Đình, mở vào mùa Xuân.
3126.- Trường An (長安) :- Kinh đô của Trung Quốc bắt đầu từ đời Hán, đặt ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây. Về sau, dùng từ Trường An để gọi chung kinh đô của một nước.

3129.- Đầu ngao :- *Ngao (鼇) :- loại rùa to ở biển. *Đầu ngao :- đầu của con rùa to. Ngày xưa, người ta gọi người đỗ Trạng Nguyên là "độc chiếm ngao đầu  =獨占 鼇頭" . Theo lệ khoa cử xưa, sau lễ xướng danh, những người đỗ cao được vào điện, Trạng Nguyên được mời đứng vào đúng chỗ có khắc hình rồng và ngao. Về sau, "đầu ngao" được dùng để chỉ người đỗ cao nhất.

3130.- Bảng Nhãn (榜眼) :- người đỗ thứ hai trong khoa thi Đình. (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa) .
*Thám Hoa  (琛花) :- người đỗ thứ ba trong khoa thi Đình, sau Trạng Nguyên, Bảng Nhãn.

3131.- *Trạng Nguyên (狀元) :- người đỗ đầu trong khoa thi Đình.

3132.- Cung thiềm, tháp nhạn, cũng là Á-khôi :- *Á-khôi (亞魁):- người đỗ thứ nhì trong một khoa thi. Hai câu 3131-3132, ý nói anh em Dương Trân, Dương Bửu tuy không đỗ đầu, nhưng cũng đỗ thứ nhì, ba.

3134.- Quỳnh Lâm tiệc mở :- vườn Quỳnh Lâm 琼林, nơi vua đãi yến các vị tân khoa Tiến Sĩ ( xem thêm c.t. 2264).
3141.- Lương đống (梁棟) :- rường và nóc nhà. *Lương đống nguy nga :- chỉ nhà cửa cao đẹp.

3142.- Dám phen:- dám sánh, chẳng bì được, dễ gì bì được.
3146.- Vinh Quy (榮歸) :- vẻ vang trở về làng. Thời khoa cử xưa, ai đậu Tiến Sĩ thì được vua ban cờ, biển để về quê nhà.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #67 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:39:09 PM »

(tiếp theo)

Khắp nơi châu huyện đều vì,
Thổi kèn, gióng trống, ra đi rước mừng.
Cho hay đỏ tía sắc xuân,
Để dành trong sách giồi thân học trò.
3155.-Thật nhờ họ Đỗ ơn to,

Đến nay  mới đặng trời cho sang giàu.
Đan Khê đùm đậu bấy lâu,
Đền ơn nhờ cậu, trước sau phỉ tình.
Hạc Lầu là chỗ dương danh,
3160.-Anh em trả nghĩa sư sanh cũng tròn.

Nay đà đẹp mặt mẹ con,
Ở nơi Trà Thạch ăn ngon, mặc lành.
 Nhờ vua hai chữ hiển vinh,
Một môn dòng họ, có tình tới lui.

*
* *

3165.-Anh em Trân, Bửu chẳng vui,

Nhớ cha đi mất, ngùi ngùi thở than.
 Dọn ra trước chốn tiền đàng,
Đặt làm hương án, một bàn vọng thiên.
Họ tên bài  vị rõ biên,
3170.-Ăn chay, nằm đấ,t chúc nguyền vong linh.

Theo Nho  dùng lễ tam sanh,
Đọc bài   văn tế phỉ tình cha con.   
                   
XXXIII.- Văn Tế Rằng :-   

       
Hỡi ôi!

1.- Trăng xế bóng xuân;
Mây giăng lầu Hạc.
2.- Thấy chữ "bình lôi" thơ cũ, chi xiết não nùng;
Nghĩ câu ""phong mộc" ngày xưa, càng thêm bát ngát.
Nhớ linh xưa !
3.- Kinh sử đều thông,
Vận thời chẳng đạt.
4.- Công  danh  hai chữ, mơ màng bên gối hoàng lương;
Sự nghiệp một câu, lấp lóang trong gương bạch phát.
5.- Khắp chùa miễu cây hương cầu nối giống, nghĩa cha con thời đã đặng tuyền;
Trùm núi sông lời nói để ghi lòng, tình chồng vợ ai ngờ  ở bạc!
6.- Xảy ưu  cặp một gậy thiền,
Bỗng chốc  rẽ hai gương nhạc,
7.- Xiết bao đường sá xa xôi,
Thêm nỗi cửa nhà man mác!
8.- Đau đớn thay! một cụm tàn huyên,
Ủ ê bấy! hai cành hoa ngạc.
9.- Ngoài bảy chục xuân thu, còn mấy nữa: vó câu qua cửa, khôn tỏ nỗi  gần xa,
Trong ba ngàn thế giới, biết bao nhiêu dấu thỏ lên đèo, khó tìm  nơi sống thác.
Vả lại,
10.- Tu gặp chùa nghèo;
Chơi  nhằm cảnh khác.
11.- Hôm mai chuông mõ, xưa am mây  trót đã nhọc nhằn;
Ngày tháng tương dưa, nay rừng bụi  phận đành  mặn lạt.
12.- Làng Trà Thạch, đá buông lời nói khống, biết đâu tìm dấu Như Lai;
Đất  Đan Khê, hoa rơi nước mắt thầm, khó nỗi hỏi tin Bồ Tát.
13.- Phải gặp thuở qua miền Đông độ, rước cha trở lại, trong nhà cũng có Thích Ca,
Phải biết ai tới cõi tây phương,  xin cha trở về, ở nước há không Di Lặc ?
14.- Hỗ  là cậy, mất cha nào cậy, muốn hỏi han mà cửa Phật vắng hiu;
Ai  là thương, thấy mẹ thêm thương, luống trông nhớ, mà tuổi trời nặng vác.
Ôi!
15.- Sang giàu một thuở , mây nổi hoa tàn;
Bè bạn  trăm năm, nước xao  bèo dạt!
16.- Đã biết: cha nghề nào, con nghề nấy, mới phải nhân tình;
Há hay : cha đường nọ, con đường nầy, cũng vì thiên các...
17.- Vái Phật mở câu giới cấm, rày cô nhi mấy tiệc cỗ bàn,
Nhờ vua đặng chữ hiễn vang, nguyện  hiển khảo dùng mâm vàng bạc.
Hỡi ôi ! Thương thay ! Có linh xin hưởng !

Đọc rồi văn tế linh cha,
Một môn già trẻ, đều hoà khóc than.
3175.-Vô ra dù, võng, nhộn nhàng,

Đãi đằng trên dưới,  cỗ bàn no say.
 Tiệc mừng vừa trọn  mười ngày,
Tần Khanh sai kẻ lễ bày hạ diên.
Mừng cho hai rể đăng tiên
3180.-Ngàn năm tiếng rạng, danh biên thẻ ngà.

Hai chàng Bảng Nhãn, Thám Hoa,
Khiến người lên tạ nhạc gia ơn rồi.
Lương duyên hai chữ thêm giồi,
Trần Đoan vừa tới lo bồi việc hôn.
3185.-Đỗ Nương  vưng lịnh công môn,

Chờ ngày giờ tốt, nghinh hôn đem về.
 Sắm trang sáu lễ  đương xuê,
Họ hàng mời nhóm, toan bề phụng chiêm.

*
* *

Hay đâu trăng tỏ mây êm,
3190.-Hằng  Nga núp bóng cung Thiềm chưa lâu.

Đôi  lành, chén ngọc chưa trao,
Dương Trân nhuốm bịnh liền đau thương hàn.
Trong nhà lo việc thuốc thang,
Rước thầy hay trị, ngày càng ốm hư.
3195.-Tần Khanh  có dạ ưu tư,

Ra tờ khắp chốn, cầu sư tới liền.

*
* *

Lối này tới lối người Tiên ,
Lên chùa Linh Diệu ở miền Thiên thai.
Dương Từ, Hà Mậu hoà hai,
3200.-Bấy lâu ở chốn Quỳnh đài dạo chơi.



*CHÚ  THÍCH :-


3153.- Đỏ, tía :- từ chữ "Chu 朱  , Tử  紫", chỉ sắc áo chầu của các quan to màu đỏ, màu tía. Cả hai câu 3153-3154 ý nói : Sự vinh quang của  người học trò đã có sẵn, từ những kiến thức trong sách, chỉ cần họ cố công trau giồi là được.
3160.- Sư  sanh 師生 (sinh) :- thầy và trò.
3168.- Bàn vọng thiên 望天:- bàn cúng đặt ngoài trời ở trước nhà.
3171.- Tam sinh (三牲) :- ba vật hy sinh để cúng tế gồm có :- trâu (bò) 牛, lợn豕 và dê 羊.

*CT văn tế sau câu 3172 :-

*Lầu hạc :- *Hạc鶴 : loài chim tương truyền sống đến nghìn năm, nên người ta thường dùng chữ "tuổi hạc" để chỉ "sự sống lâu".
Câu "Trăng xế nhà xuân, mây giăng lầu hạc" ý nói niềm thương tiếc người cha đã mất.

*Bình lôi (瓶 罍):- bình và chén. Thiên Lục Nga trong Kinh Thi có câu "Bình chi khánh hĩ, duy lôi chi sỉ = 瓶之罄矣惟罍恥" nghĩa là, cái bình mà cạn là nỗi nhục của cái chén. Ở đây ý nói cha mẹ và con cái nhờ cậy lẫn nhau, san qua sẻ lại cho nhau, có trách nhiệm cùng nhau.

*Phong mộc (hay phong thụ) :- "Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ, tử dục dưỡng nhi thân bất đãi = 樹欲靜而風不止子欲養而親不逮"(cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn). Ở đây ý nói người con than tiếc cha mẹ đã mất, không kịp phụng dưỡng.

*Hoàng lương :- Xem c.t.  178.

*Gương bạch phát :- soi gương thấy tóc bạc. Bài thơ "Tương tiến tửu 將薦酒" của Lý Bạch có câu : "Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát, triêu như thanh ty, mộ như tuyết
 = 君不見高堂明鏡悲白髮,朝如青絲,暮如雪" (Anh chẳng thấy nơi nhà cao, soi gương buồn thấy tóc mình đã bạc, sớm như tơ xanh, chiều thành tuyết). Cả câu ý nói công danh sự nghiệp ở đời chỉ là chuyện phút chốc.

*Khắp chùa miễu, cây hương cầu nối giống" :- ý nói đi khắp các chùa miễu đốt hương để cầu mong có con nối dõi.
*Gậy thiền :- cây gậy của nhà sư, thiền trượng (禪杖)
*Tàn huyên :- chỉ mẹ già (xem thêm c.t 2965).

*Hai cành hoa ngạc :- *Ngạc 萼 : phần xanh lục bọc ở ngoài búp hoa (đài hoa). Thiên "Đường Đệ" phần "Tiểu Nhã" trong Kinh Thi có câu : "Đường đệ chi hoa, ngạc bất vĩ vĩ = 棠棣之花 萼不韡韡 ? " (hoa cây đường đệ, trông bề ngoài không chói lọi hay sao ?). Ở đây, ca tụng tình anh em.

*Vó câu qua cửa :- từ câu "bạch câu quá khích = 白駒過隙" (ngựa trắng chạy qua khe cửa), ý nói thời gian qua rất nhanh.

*Đá buông lời nói khống :- đá cũng phải lên tiếng khống cáo nỗi nhọc nhằn cùng cực của nhân dân, Sách "Tả Truyện左傳" : năm Chiêu Công thứ 8, "đá" lên tiếng nói với Ngụy Du nước Tấn. Ngụy Du đem chuyện ấy kể lại với Tấn Hầu. Tấn Hầu bèn hỏi Sư Khoáng : "Đá sao lại nói được ?" . Sư Khoáng đáp :- "Làm việc không hợp thời, oán hận động lòng dân, thì vật không nói được như đá cũng phải lên tiếng".

Tả truyện ( 左傳) hay Tả thị Xuân Thu《左氏春秋》gọi đủ là "Xuân Thu Tả Thị Truyện" 春秋左氏傳là tác phẩm sớm nhất của Trung Quốc viết về lịch sử phản ánh giai đoạn từ năm 722 TCN đến năm 468 TCN.

*Đông độ (tức Đông thổ = 東土) :- cõi đất phương Đông, chỉ Trung Quốc, vùng chịu ảnh hưởng Phật Giáo (*Chữ Thổ 土 đọc hai âm : hoặc Độ hoặc Thổ). Trong văn chương Phật Giáo, "Đông Độ" được dùng để đối với "Tây Phương".
*Hỗ là cậy :- Thiên Lục Nga trong Kinh Thi có câu : "Vô phụ hà hỗ ? = 無父何怙" (không có cha thì nhờ cậy vào đâu ?) . Cả câu là lời than của người mồ côi cha.
*Hiển khảo (顯考) :- cha đã mất.

3178.- Hạ diên (賀筵) :- tiệc mừng.
3179.- Đăng tiên (登仙) :- lên cõi tiên, ở đây ngụ ý thi đỗ.
3187.- Sáu lễ :- sáu lễ trong hôn nhân xưa (hôn sự lục lễ = 惛事六禮), gồm:-

1/- Nạp thái 納采 :- đưa lễ vật dạm hỏi.

2/-Vấn danh問名 :- hỏi tên tuổi.

3/-Nạp cát 納吉 :- báo hai tuổi của trai gái có hợp nhau  không.

4/- Nạp trưng 納徵 :- trao sính lễ.

5/- Thỉnh kỳ 請期 :- hẹn ngày cưới.

6/- Thân nghênh 親迎 :- (hoặc Nghênh thân 迎親 ) rước dâu..

六禮

「六禮」是結婚過程的六個禮法,分別指:

•   納采:當兒女婚嫁時,由男家家長請媒人向物色好的女家提親。男家在納采時,需將大約達三十種有像徵吉祥意義的禮物送給女家;女家亦在此時向媒人打聽男家的情況。
•   問名:即在女方家長接納提親後,女家將女兒的年庚八字帶返男家,以使男女門當戶對和後卜吉凶。
•   納吉(又稱過文定):當接收庚帖後,便會將庚帖置於神前或祖先案上請示吉凶,以肯定雙方年庚八字沒有相沖相剋。當得知雙方並沒有相沖相剋之徵象後,婚事已初步議定。
•   納徵(又稱過大禮):即男家把聘書和禮書送到女家。在大婚前一個月至兩週,男家會請兩位或四位女性親戚(須是全福之人)約同媒人,帶備聘金、禮金及聘禮到女方家中;此時,女家需回禮。
•   請期(又稱乞日):即男家擇定合婚的良辰吉日,並徵求女家的同意。
•   親迎(或迎親):在結婚吉日,穿著禮服的新郎會偕同媒人、親友親自往女家迎娶新娘。新郎在到女家前需到女家的祖廟行拜見禮,之後才用花轎將新娘接到男家。在男家完成拜天、地、祖先的儀式後,便送入洞房。

3188.- Phụng chiêm (奉詹) :- kính dâng lễ lên tổ tiên

3194.- Hư :- suy; *Ốm hư :- ốm yếu, suy mòn.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #68 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 09:43:33 PM »

(tiếp theo)

Theo Tiên  hơn nửa tháng trời,
Tấm lòng rửa sạch, việc đời lãng xao.
Lão Nhan coi số Thiên tào,
Đòi hai người vào, nói chuyện trần duyên.
3205.-Rằng : " Hai họ có căn nguyên,

Trời đà trước định, kết nguyền thân gia.
 Rày nên sum hiệp một nhà,
Con trai, con gái, thảy đà thành thân".
Họ Hà nghe lạ hỏi lần,
3210.-Rằng :"Tôi đi khỏi mới gần nửa trăng.

Trong nhà hai gái còn măng,
Tuổi trời chưa mấy, sao rằng   thành thân ?".
Đáp rằng :  " Trên dưới có phần,
Non Tiên  một bữa, cõi trần một năm.
3215.-Toán theo Giáp Tý thời nhằm,

Tuyết, Băng nay đã mười lăm tuổi rồi.
Đạo trời đã biết thời thôi,
Hai người khá kíp phản hồi cố hương."
Lão Nhan làm phép thâu đường,
3220.-Cho hai hoàn thuốc cứu chàng Dương Trân.

"….Hai người về chốn hồng trần,
Giàu sang chung hưởng, nhờ phần lộc con,
Lộc con là lộc trời còn,
Nhân luân hai chữ vuông tròn mới an."

*
* *

3225.-Hai người từ biệt Lão Nhan,

Ra nơi Vân động, theo đàng ngày xưa.
 Tri Niên họ Lý theo đưa,
Dùng dằng cửa động, còn chưa chỉ đường.
Rót ra hai chén quỳnh tương,
3230.-Rằng :" Xin gượng uống về đường cho an.

Từ đây xuống chốn nhân gian,
Non Tiên  xa cách, khó màng  trở lên."
Gặp nhau biết lấy chi đền,
Chút duyên bèo nước, nào quên tình nầy.
3235.-Ngàn năm trăng  gió ở đây,

Riêng thương chiếc  nhạn rẽ bầy kêu xa.
Vội vàng chẳng  kịp hái hoa,
Dương quan bẻ liễu,  gọi là đưa nhau,
Đưa nhau, của báu màng đâu,
3240.- Chi bằng mùi đạo tám câu năm vần.

Ta nay  bắt chước tao nhân,
Ngâm thơ đưa bạn dương trần ngày nay.

XXXIV.- Thơ Đưa Hà Mậu

Long Môn quê cũ lại bôn ba,
Non nước bâng khuâng cám họ Hà.
Nước Thánh  năm đời lòa mắt tục,
Rượu Tiên  một thuở rửa lòng tà.
Đào nguyên khó hẹn tin bèo nhóm,
Vân động riêng buồn tiếng nhạn xa.
Khôn, dại, sự đời ngươi đã thấy,
Nên mình, rồi phải dắt  người ta.

XXXV.- Thơ Đưa Dương Từ

Thiên thai xa cách cõi Nam Khương,
Hoa cỏ ngùi ngùi cám họ Dương,
Chùa Phật khôn cầm cây  lão mại,
Động Tiên  xin chuốc chén quỳnh tương.
Chút tình trăng  gió riêng cưu bạn,
Mấy dặm quan sơn vội tách đường.
Lưu, Nguyễn  dấu xưa ai cũng biết,
Ngươi về, nhà, nước, hiếm người thương.


Dương Từ, Hà Mậu nghe thơ,
Than rằng : " Nào biết bao giờ gặp nhau ?
3245.-Cuộc đời là cuộc bể dâu,

Nước về sông dưới, khôn cầu nguồn xưa !"
 Nói thôi nước mắt như mưa,
Tri Niên chỉ nẻo quê xưa đành rành,

*
* *

Thâu đàng nhờ có phép linh
3250.- Một người một ngõ, hồi trình chẳngxa


*CHÚ  THÍCH :-

3219.- Phép thâu đường :- pháp thuật rút ngắn đường đi.
3229.- Quỳnh tương (瓊漿) :- (hay Ngọc tương 玉漿) thứ nước Tiên uống.
3234.- Duyên bèo nước :-  tử chữ "bình thủy tương phùng =萍水相逢 " ; duyên gặp nhau bất ngờ; nơi đất khách gặp nhau.

3238.- Dương quan bẻ liễu :- *Dương quan : tên một cửa ải thuộc tỉnh Cam Túc phía Bắc Trung Quốc . Thơ Vương Duy  có câu :- "Tây xuất Dương quan vô cố nhân = 西出楊關無故人" (đi ra phía Tây khỏi ải Dương quan, không còn bạn cũ nữa) . Ý nói cảnh chia ly, tiễn biệt. *Bẻ liễu : do chữ "chiết liễu=折柳 ". Xưa kia ở Trung Quốc khi bạn bè tiễn đưa nhau, thường đến cầu Bá ở phía Đông Trường An bẻ một cành liễu tặng nhau. Cả câu ý nói cảnh chia ly tiễn biệt.

3240.- Tám câu năm vần :- bài thơ Đường luật "thất ngôn bát cú" gồm có 8 câu và 5 vần. Vần gieo ở các câu : 1,2,4,6,8.

*CT bài thơ sau câu 3242 :-

*Đào Nguyên (桃源) :- nguồn hoa đào. Bài "Đào hoa nguyên ký桃花源記" của Đào Tiềm 桃潛chép : Đời Tấn 晉, tại huyện Vũ Lăng có ông chài lạc vào nguồn hoa đào, gặp những người lánh nạn nhà Tần đã sống ở đây mấy đời và ở đó rất sung sướng, hạnh phúc. Ông về thuật chuyện với mọi người, nhưng sau trở lại, không tìm được chốn cũ. Người ta ngờ ông chài đã lạc vào cảnh Tiên.
*Đào nguyên khó hẹn, tin bèo nhóm :- nói cảnh tiên khó hẹn ngày gặp gỡ bất ngờ của những người phiêu bạt.

*Gầy lão mại (老邁) :- cây gậy của người già yếu. *Khôn cầm gầy lão mại : ở đây ý nói không giữ nổi Dương Từ ở lại.

*Lưu Nguyễn (劉阮) :-  tức Lưu Thần và Nguyễn Triệu du Thiên Thai 劉晨阮肇遊天台

. Theo "Sưu Thần Ký 搜神記" hai người vào núi Thiên Thai 天台hái thuốc, bị lạc đường , gặp hai nàng tiên rồi kết duyên với nhau. Ở Thiên Thai được nửa năm, hai chàng nhớ nhà về thăm, thì con cháu đã đến đời thứ bảy.

*Hiếm :- tức hiếm gì, là nhiều lắm, không thiếu gì. *Người về, nhà nước hiếm người thương :- người về, nhà nước không thiếu gì người thương mến.
*Biển dâu :- biển và ruộng dâu, do chữ "Thương hải biến vi tang điền 蒼海變為桑田= " (biển xanh hóa thành ruộng dâu) chỉ việc đời biến đổi.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #69 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 11:12:17 PM »

(tiếp theo)

Dương Từ về đến quê nhà,
Đoái nhìn cảnh vật thấy ra lạ lùng.
Ngẩn ngơ đứng trước bình phong,
Minh nghi chưa dám vào trong công đường.
3255.-May đâu lại gặp Đỗ Nương ,

Dạo chơi ra cửa nhìn tường phu quân.
 Hai hàng nước mắt rưng rưng,
Nửa thương việc trước, nửa mừng ngày nay.
Dương Từ lấy thuốc Tiên  rày,
3260.-Cho Dương Trân uống, kịp ngày lành mau.

Cha con chồng vợ gặp nhau,
Hỏi phô, chuyện vãn, trước sau tỏ tình.
Gần xa đều tới thăm mình,
Coi đi tu đã nên hình Phật chi ?
3265.-Mười lăm năm bỏ nhà đi,

Nợ oan gia lại kéo ghì về đây.
 Nương rằng :" Từ ấy những nay,
Nghĩ trong phận thiếp liền ngày lụy tuôn.
Xiết bao gió chớp, mưa luồng,
3270.- Chất sầu làm gối, nấu buồn làm cơm.

May nhờ hai trẻ danh thơm,
Bề nhà cửa mới đặng nờm nở ra,
Phải con cạo trọc theo cha,
Ôi thôi ! Thân mẹ cũng ra ăn mày !
3275.-Cho hay một trả, một vay,

Am mây đã trốn , lại  đày đi xa,
Đói thời phổ khuyến người ta,
Tương chua, cơm hẩm, gọi là ăn chay,
Coi chim quành quạch thời hay,
3280.-Theo cây trái chín, ăn chay già  đời.

Bay đâu cho khỏi dưới trời,
Tiếng kêu quành quạch già đời ra chi !"
Trân rằng : " Vận có thạnh suy,
Người đời sao khỏi hiệp ly lẽ thường.
3285.-Bằng nay sum hiệp nhất đường,

Hai con dâng lễ thọ trường cho vui."
Họ Dương, họ Đỗ đều vui,
Trong nhà quan khách tới lui bộn bề.

* * *
 Đoạn này Hà Mậu ra về,
3390.- Long Môn đất ấy, thật quê xưa rồi.

Trạc nhìn nhà cửa hỡi ôi !
Ngói chài, nóc sập, vách vôi gạch nhào.
Ổ vò, lưới nhện lao xao,
Trước sân cỏ loạn, hàng  rào ngả xiêu.
3295.-Vợ con  vắng vẻ  quạnh hiu,

Bếp còn ốc đẻ, thềm nhiều dế ngâm,
Họ Hà thấy vậy động tâm.
Hai hàng nước mắt, lệ dầm chéo khăn.
Chưa hay duyên cớ sao rằng ,
3300.-Tới nhà em gái hỏi phăn sự tình.

*CHÚ THÍCH :-

3277.- Phổ khuyến (普勸) :- đi xin của bố thí rộng khắp.

3292.- Ngói chài :- ngói bị tuột trụt xuống.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, ngodao, Thiên Vương, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #70 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 11:15:12 PM »

(tiếp theo)

Mới hay là  sự bất bình,
Liễu Thư trước đã bỏ mình về quê.
Tuyết, Băng, hai gái đương xuê,
Ở cùng quan Trấn, bỏ nghề Da- tô.
3305.-Mậu rằng :" Hai trẻ cải đồ,

Thật trời xui khiến còn mồ mả sau.
Cám thương họ Liễu thác mau,
Vợ chồng chẳng kịp  gặp  nhau buổi nầy,
Phải chi đặng sống lại đây,

(lược 1 câu)

3310.- Theo ta tránh khỏi chó Tây ăn hồn"

 Bà con dòng họ một phồn,
Nghe lời nói lạ, tới dồn hỏi xăng.
Mậu  liền nói việc Hà Năng,
Cho con cháu biết, kẻo rằng   đạo hay.
3315.-Đốt nhiều vàng bạc thời may,

Vái ông khỏi mắc ăn mày âm cung,
Ai ai nghe cũng não nùng,
Đều lau nước mắt, khôn cùng thở than.

* * *   

Tiếng đồn xa khắp các làng,
3320.- Châu Kỳ tới viếng, hỏi han việc đời.

Họ Hà phân nói khắp nơi,
Việc trong trời đất, chín trời tỏ tang.
Lại phô một chuyện Châu Phan,
Nhắn về đốt sách Hoa Lan lầm đời.
3325.-Kỳ rằng : " Muốn tỏ đạo trời,

Mười lăm năm trọn, nối hơi trông chờ,
Đã đành dấu trước bơ vơ,
Đuốc xao vì gió, trăng lờ bởi mây.
Vì ai ra cớ sự nầy,
(Lược 1 câu) 

3330.- Còn mang thập ác một cây cầu gì !

Đội ơn anh có công đi,
Phải chăng  đã thấy, còn nghi lẽ nào.
Ví như một tấc a- giao,
Mấy nguồn nước đục, lóng vào cũng  trong.
3335.- Mậu rằng : "Nói lại động lòng,

(Lược 1 câu) 

 Một môn tả đạo cũng dòng dõi nhăng. 
           
Nay đà cứ gốc mà phăn,
Theo đường nhân nghĩa, gì bằng đạo Nho .
Trời sanh có một đạo Nho ,
3340.-Ngàn nghề, muôn nghiệp cũng  lò ấy ra.

Cứ theo đơm quải ông bà,
Quỉ thần chẳng giận, mồ ma không hờn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Dạy đời con cháu đội ơn Thánh  Hiền."
3345.-Từ đây hai họ lời truyền :

Bao nhiêu tả đạo đều nguyền đốt kinh.

* * *     
           
Phút đâu quan Trấn hay tình,
Đòi Hà Mậu tới, hỏi minh mọi lời.
Tuyết, Băng, hai gái nhờ trời,
3350.-Cha con vầy hiệp, một  nơi vuông tròn.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Thiên Vương, ngodao, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #71 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 11:18:30 PM »

(tiếp theo)

Cho hay người cách nước non,
Thác thời mất dấu, sống còn gặp nhau.
Tần Khanh gạn hỏi đuôi đầu,
Họ Hà thưa việc trước sau tỏ tường.
3355.- Liền sai quan huyện Nam Khương,

Dạy Trần Đoan rước họ Dương đem về.
Yến diên thết đãi phủ phê,
Cùng nhau bàn luận các bề phải chăng.
Việc trong trời đất, mấy tầng,
3360.- Thấy đâu nói đó, nào hằng sót quên.

Dương Từ, Hà Mậu hai tên,
Tần Khanh dâng sớ tâu lên cửu trùng.
Tấn vương xem sớ lạ lùng,
Chỉ đòi nội vụ thảy đồng lai kinh.
3365.-Tần Khanh vâng chỉ lai kinh,

Cha con hai họ thảy mình đều đi.
Tấn vương ngự trước  đan trì,
Cho vào ra mắt một khi xem tường.
Tả biên quì tấu họ Dương,
3370.-Anh em Trân, Bửu hai chàng tân khoa.

Hữu biên qùi tấu họ Hà,
Chị em Băng, Tuyết nết na dịu dàng.
Tấn vương phán trước ngai vàng:
"Dương Từ, Hà Mậu  hai chàng có công.
3375.-Chín Trời, mười Đất, đi thông,

Tìm ra mối đạo, trong lòng mới an.
Bấy lâu chuộng thói dị đoan,
Đến nay mới biết lầm đàng đi xa.
Có lòng theo chánh, bỏ tà,
3380.- Trời liền cho phước, sanh ra con hiền.


Thêm giồi hai chữ lương duyên,
Song sanh đôi tốt, phỉ nguyền giàu sang,
Việc này giao lại Trấn quan,
Chủ hôn hai họ, kết đàng sui gia.
3385.-  Người  hiền là báu nước nhà,

Đáng biên vào sử, để ra khuyên đời.
Tấn vương dụ xuống khắp nơi,
Cấm theo đạo Phật, đạo Trời  chẳng nên.
Dụ rằng : "Đất dưới, trời trên,
3390.- Giữa là kẻ thế, bốn bên Mọi, Lào.

Xưa nay chẳng đặng hỗn hào,
Cõi ai nấy ở, loài nào nấy theo.
Coi câu : "Lưỡng quốc tương triều",
Đường đi cách trở, hãy nhiều non sông.
3395.- Cớ sao mình ở nước Trung,

Lòng theo nước ngoại, còn mong đạo  gì ?
Ông bà mồ mả bỏ đi,
Gốc mình chẳng kỉnh, kính gì gốc ai ?
Cửa nhà, làng xóm gác  ngoài,
3400.- Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa.


*CHÚ  THÍCH :-


3362.- Cửu trùng (九重) :- *Cửu 九: chín; *Trùng 重 : lớp; nơi vua ở, có chín lớp cửa mới vào đến nơi được. Ở đây chỉ vua.

3367.- Đan trì (丹墀) :- *Đan 丹: đỏ; *Trì 墀: thềm; thềm các cung điện vua thường sơn màu đỏ.

3377.- Dị đoan 異端:- Xem c.t.  3.

3393.- Lưỡng quốc tương triều (兩國相朝) :- hai nước gặp nhau, giao hảo với nhau.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Thiên Vương, ngodao, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #72 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2010, 11:25:09 PM »

(tiếp và hết)

(Lược 8 câu) 
 
Quan dân đều nói tiếng ta,
Chẳng hơn chim, chuột tới nhà líu lo.
Đàn bà giữ tiết thơm tho,
Chẳng hơn dê, chó chung lò tanh hôi.
3405.- Người khôn thấy cũng biết rồi,

Có đâu vượt phép, đổi ngôi xô bồ.
Ai còn về đạo Da-tô,
Cùng là đạo Phật, tội đồ chẳng tha.   


Cứ theo một đạo Nho  ta,
3410.- Giữ câu lễ nghĩa, muôn nhà an vui."

* * *     
                                       
Tấn vương dụ xuống vừa  rồi,
Tần Khanh dâng sớ,  xin hồi Hà Đông.
Tấn vương ngự tới đền rồng,
Bạc, vàng, gấm, nhiễu, thưởng công Dương, Hà.
3415.- Làm thơ ngự chế ban ra,

Tặng cho hai họ vinh hoa một đời.

XXXVI.- Thơ tặng Dương Từ :-


Chùa sãi đâu hơn gã họ Dương,
Đi tu lại biết lẽ du phương,
Gậy thiền dầu tránh nơi Tiên  động,
Rượu lão đâu say chỗ Phật đường.
Thế tục lắm người con mắt thịt,
Phong trần mấy kẻ tấm lòng gương.
Việc trong trời đất  nên, hư  thấy,
Nào để dân ngu phải lỗi đường.


XXXVII.- Thơ tặng Hà Mậu :-


Qua bếp nên khen gã họ Hà,
Năm đời còn biết lẽ trung tà.
Ra đi chẳng nại đường trời đất,
Chữa lỗi  nào câu việc mẹ cha.
Đổi thói man di vì nỗi trẻ,
Nghĩ ơn thuỷ thổ cám cho già.
Một người tìm đạo, muôn nhà thấy,
Bia để ngàn năm, rõ tiếng  nhà.


Khiến nêu chỗ ở  hai người,
Có con giúp nước, để đời xem trông.
Hai người  biểu lãnh ơn  rồng,
3420.- Đem nhau ra Trấn Hà Đông một đoàn.

Tần Khanh về kíp sai quan,
Ra Long Môn huyện sửa sang cửa nhà,
Dựng nên lương đống một tòa,
Ơn vua cho dựng, nêu ra cột cờ.
3425.-Tần Khanh liền chọn ngày giờ,

Dương, Hà hai họ viết thơ đính kỳ.
Phu nhân lòng cũng  yêu vì,
Sắm cho hai gái vinh qui về làng.
Trong mình đã đủ nữ trang,
3430.- Lại thêm của báu vua ban thiếu gì.

Cửa nhà rực rỡ ai bì,
Hai con vầy ở, đợi kỳ tống hôn.
Xui nên một huyện Long môn,
Bà con nội, ngoại khen đồn tiếng xa.
3435.-Ngày đêm  trong cửa họ Hà,

Người sang, khách trọng vô ra dập dìu.
Cho hay những kẻ biết điều,
Trời trao lộc tốt, làm nêu để đời.
Tới ngày tháng sáu, hai mươi.
3440.-Họ Dương sắm lễ, nhóm người nghinh hôn.

* * *                   
Nam Khương qua đến Long Môn,
Đường đi mười bữa, cầu hôn xa vời.
Tần Khanh trước đã ban lời,
Kiệu tân rần rộ tới nơi họ Hà,
3445.- Họ Dương lễ cưới họ Hà,

Hai trai hai gái một nhà thành thân.
Sánh đôi : Xuân Tuyết, Dương Trân,
Thu Băng, Dương Bửu, cân phân vợ chồng.
Đuốc hoa chén ngọc song song,
3450.- Trướng loan gối phụng, động phòng thêm xuân.

Ba ngày liền mở tiệc mừng,
Khắp nơi châu huyện đều dưng liễn đầy.
Người lui kẻ tới dẩy đầy,
Da- tô, thầy sãi cũng vầy coi chơi.
3455.- Cùng nhau bàn bạc việc đời,

Đã ưng bỏ đạo Phật, Trời, theo Nho .
Theo Nho  mới đặng  phước to,
Cho hay công ở đạo Nho trải đời.
Di ngôn một quyển  truyền lời,
3460.- Các phương đạo vị, muôn đời xét soi.

*CHÚ  THÍCH :-


3408.- Tội đồ (罪徒) :- tội  bị đày đi xa.

3415.- Ngự chế (御制) :- thơ, văn do vua làm ra.

*CT bài thơ sau câu 3416 :-

Trung tà (忠邪) :- trung chính và tà vạy.

3426.- Định kỳ (定期) :- ước hẹn ngày.

3432.- Tống hôn (送婚) :- đưa dâu về nhà chồng.

3440.- Nghênh hôn (迎婚) :- rước dâu.

3446.- Thành thân (成親) :- thành vợ chồng.

3450.- Động phòng (洞房) :- *Động 洞: nơi sâu kín; *Phòng房 : cái  phòng; phòng của vợ chồng mới cưới.

3459.- Di ngôn  (遺言) :- lời nói truyền lại cho đời sau.


= HẾT=

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Thiên Vương, ngodao, Phambanglinh, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
Thiên Vương
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 993

Cảm Ơn
-Gửi: 7983
-Nhận: 13332


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #73 vào lúc: Tháng Mười Hai 04, 2010, 06:42:11 PM »

DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU

楊 慈   何 茂


LGT:- Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Đình Chiểu, thì tác phẩm Dương Từ—Hà Mậu rất ít người biết đến.
Có nhiều lý do, trong đó "có vấn đề đụng chạm tôn giáo khác" có lẽ là chính.

Trên tinh thần bảo lưu vốn văn học cổ, chúng tôi cố gắng đưa giới thiệu một tác phẩm DTHM có tính cách đầy đủ

(3460 câu và 37 bài thơ phụ).


Đây chỉ là việc làm mang tính "bảo tồn" tài liệu của người xưa, ngoài ra, chúng tôi không dám "có ý kiến hay phê phán" gì cả ! Đó là phần việc của lịch sử hiện nay và sau nầy.

Kính mong tất cả quí vị thông cảm và "tha thứ" cho việc đưa quyển DTHM đủ câu, đủ chữ nầy lên mạng.

Nội dung nầy là ở quyển Dương Từ—Hà Mậu do Nhà xuất bản tổng hợp Long An ấn hành và phổ biến vào năm 1982, chúng tôi chỉ chép lại mà thôi.

Trân trọng giới thiệu cùng quí huynh đệ.

Nhược Thủy

(Mùa Đông năm Canh Dần—2010)



   



Xem tác phẩm này mới thấy sức làm việc của Bác NT thật là hơn người!  Một bài có tới hơn 3000 câu mà Bác đã hoàn thành trong một thời gian có vài ngày.  Chưa kể còn chú giải khá tường tận cho từng đoạn trong bài.  Thật là công sức vô biên!...

   Để cho công trình này của Bác không bị "chôn vùi", TV xin phép được gợi lại để nhiều người có cơ hội xem qua 1 tác phẩm hiếm hoi và khá "tai tiếng" này của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. 


   Về truyện Dương Từ - Hà Mậu ông giáo Nguyễn Văn Nghĩa có viết trong báo Việt Nam, xuất bản ở Sài gòn, ngày 14 tháng 11, 1936 :

 "Khi cụ đồ Chiểu mù, ở lại Tân Thuận Đông, tổng Dương Hòa Hạ trong hai ba năm, nhà người bạn là ông nhiêu Lê Quang Thịnh ( thường gọi là Nhiêu Cơ ); ở đấy muốn vui lòng ông bạn, luôn tiện để bênh vực đạo Nho, cụ đồ đọc quyển Dương Từ - Hà Mậu cho ông Nhiêu Cơ chép."


  Cũng như lời đầu bài Bác NT có ghi, tài liệu Bác chép lại được in vào năm 1982 này dựa vào bản chữ Nôm và bản chữ quốc ngữ của Phan Văn Hùm.  Do vậy, TV xin ghi lại dựa vào sự đối chiếu giữa bản 1982 của Bác NT và bản 1964 của Phan Văn Hùm.  Đồng thời cũng dựa theo ý riêng mà chỉnh sửa vài chỗ cho hoàn thiện hơn được chút nào, hay chút ấy.

  Lẽ dĩ nhiên tác giả là người mù, nên dù sáng tác ra tác phẩm này, vẫn chưa hề nhìn thấy nó thật sự "tròn, méo" thế nào.  Do vậy, tròn hay méo là nhờ vào người khác viết giùm mà thôi.  Ngày xưa ông Nhiêu Cơ viết theo văn xưa, nên phù hợp với độc giả thời ấy mà không đáng nói gì.  Nay thiết nghĩ ta cũng ráng giúp cho cụ đồ Chiểu mà viết lại cho phần nào phù hợp với phong cách mới, thời đại mới, thì nhờ vậy đại chúng mới dễ tiếp thu.  Chính vì lẽ đó mà TV xin làm cái việc mà nhiều người không dám làm vì sợ thiên hạ dị nghị.


  Ngoài ra, mỗi bài viết TV chỉ trích ghi chừng chục câu, để lấy chỗ mà đào sâu vào ý nghĩa cho bạn đọc giải khuây và học hỏi thêm được nhiều điều bổ ích khác.  Nhất là phần tiếng Việt thường dùng, có sự đối chiếu với nguyên bản chữ Hán để mọi người thấy được cái hay và cái gốc, từ đó mà hạn chế được ảnh hưởng của tiếng Việt thời internet này.  Vì vậy, xem bài thì tự nhiên mọi người cũng sẽ góp phần vào việc bảo tồn tiếng nói của dân tộc.


  Có câu:"Ẩm thủy tư nguyên!", nghĩa là ..."Uống nước, nhớ nguồn!"....nên xem tác phẩm của người thì ta cũng cần xem sơ lược về tiểu sử của người viết nên tác phẩm ấy.  Phần tiểu sử của cụ NĐC thì Bác NT đã ghi rõ, nên TV mời mọi người xem thêm về phần tiểu sử của cụ Phan Văn Hùm.  Người có công cho ra đời bản quốc ngữ "Dương Từ - Hà Mậu" đầu tiên này:






PHAN VĂN HÙM (1902 - 1946)




Nhà nghiên cứu, nhà hoạt động, bút danh Phù Dao, Huỳnh U Mai, quê làng Búng, huyện Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay thuộc Bình Dương).
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân. Thuở nhỏ, học trường Chasseloup Laubat - Sài Gòn. Sau khi đỗ Trung học, ra Hà Nội học ngành Công chánh. Tốt nghiệp, ông trở về Nam, không đi làm việc cho thực dân mà lui về quê đọc sách, liên lạc với các nhà yêu nước thời bấy giờ như: Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Mai Bạch Ngọc, Nguyễn Văn Bá…

Năm 1929, ông bị thực dân bắt vì bị vu là “Đánh lính kín”. Trong tù, ông viết quyển "Ngồi Tù Khám Lớn" vạch tội thực dân Pháp cố tình vu khống và gài bẫy bắt nhà yêu nước Nguyễn An Ninh; đồng thời lên án chế độ cai trị tàn nhẫn và nhà tù hà khắc của thực dân ở Đông Dương.

Năm 1930, ra tù, ông sang Pháp du học, chuyên về triết học tại trường Đại học Sorbonne.

Năm 1933, tốt nghiệp ông về nước hợp tác với Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thứ… xuất bản báo La Lutte, Đồng Nai làm cơ quan đấu tranh chống thực dân và tay chân Pháp công khai tại Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, ông không làm công chức, vừa viết báo vừa dạy học tại các trường tư thục, cùng Phan Văn Chánh, Nguyễn Phi Oanh, Tạ Thu Thâu… tại các trường Nguyễn Trọng Hy, Huỳnh Khương Ninh… Ông là tác giả có bài liên tục trên các báo: Mai, Phụ Nữ Tân Văn, Việt Thanh, Dân Quyền, Thần Chung, Văn Lang…

Năm 1936, ông cùng Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn.

Từ khi đắc cử, có tiếng nói công khai trong Hội Đồng Thành Phố, nhóm ông đã gây nên một tiếng vang lớn nên thực dân rất căm ghét, luôn tìm cách cách chức ông và các đồng viên cùng lập trường, quan điểm.

Năm 1939, ông ứng cử vào Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, đắc cử, nhưng bị thực dân gian lận nhân một số bài báo đăng trên các báo, nhất là báo La Lutte, ông bị thực dân bắt giam và kết án đày đi Côn Đảo.

Năm 1942, được trả tự do, nhưng vẫn bị quản thúc tại Tân Uyên (Biên Hòa).

Cách Mạng Tháng Tám thành công, ông hăng hái tham gia các công tác ở Sài Gòn. Ông mất vào đầu năm 1946 tại miền Đông Nam bộ.

Ngoài một nhà hoạt động chính trị, Phan Văn Hùm còn là một nhà nghiên cứu nghiêm túc. Thuở sinh thời, ông đã xuất bản các sách:

- Ngồi Tù Khám Lớn.
- Biện Chứng Pháp.
- Nỗi Lòng Đồ Chiểu.
- Phật Giáo Triết Học.
- Vương Dương Minh.
- Luận Tùng.
- Dương Từ Hà Mậu (chú thích phiên âm).
- Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật (chú thích phiên âm).

Và rất nhiều bài đăng trên các báo: Tri Tân, Văn Lang, Đồng Nai, Phụ nữ Tân Văn…

................................................................................

  Làm việc này, trước là để phần nào tiếp tay với Bác NT trong phần giới thiệu, chỉnh lý, và chú giải.  Sau là muốn mọi người có dịp xem thêm mà hiểu thêm về văn xưa, người xưa, và tư tưởng xưa.  Dĩ nhiên cái gì cũ thì phải hư đi, và sẽ được thay bằng cái mới tốt hơn, đẹp hơn.  Tuy nhiên trong những cái cũ, đôi khi người ta phát hiện được "kho tàng vô giá" mà không gọi là cũ nữa, mà gọi là ...đồ cổ.  Cũng vậy, trong hơn 3 ngàn câu của tác phẩm này, TV tin rằng nếu chịu khó để tâm tìm tòi, chắc chắn ai cũng sẽ tìm được một thứ gì đó quý giá cho riêng mình!...


  Và TV nghĩ rằng, Bác NT bỏ bao công sức bấy lâu cũng là với ý như vậy.  Xin thay mặt tất cả, TV chân thành cảm ơn tấm lòng của Bác!  Và cũng xin Bác xem thêm 1 lần tác phẩm này và chỉ thêm những chỗ còn khiếm khuyết.  Nhờ đó mà mọi người cùng được lợi lạc qua sự hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm này.  Có những chỗ TV cần nói rõ hơn, thậm chí còn sửa lại cho đúng hơn theo quan điểm của mình, mong Bác không buồn nhé!


....Thân ái,
-Thiên Vương-

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, chonhoadong, nguyenthuy, tadamina, ngodao, Phambanglinh, anhlam, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 05, 2010, 06:52:36 PM gửi bởi Thiên Vương » Logged
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.555 seconds với 24 câu truy vấn.