Tháng Một 25, 2021, 11:11:27 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 3 [4] 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU-- 楊慈何茂 (Bản đầy đủ 3460 câu)  (Đọc 26684 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #45 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:28:51 PM »

(tiếp  theo)

 Năng rằng : " Cháu hãy về đi!

(Lược 5 câu )


Nói cùng các họ  một khi cho tường.
Thôi thôi bỏ đạo Hoa Lan,
Sau dầu khỏi chó Tây Dương ăn hồn.
2155.- Khá mua vàng bạc đốt dồn,
Cho ông ra khỏi cái phồn ăn xin".


(Hết đoạn lược)

Nói thôi hối cháu trở lên,
Cám thương Hà Mậu chẳng quên mọi lời.

*
* *

Thứ nầy tới thứ  trên đời,
2160.-Dương Từ, Hà Mậu, về nơi Tiên  đài.

Lão Nhan ở núi Thiên Thai,
Ngồi chùa Linh Diệu, trọn  mai đợi chờ.
 Đánh tay đã đủ mười giờ,
Đốt phù làm phép, như xưa hoàn hồn.

(Lược 6 câu )

2165.- Dương Từ, Hà Mâu hai hồn,

Thinh không tỉnh dậy,lạy tôn sư rồi,
Họ Hà thưa việc luân hồi,
Rằng : "Nay mới rõ đạo tôi Tây tà,
Ngàn năm trong cõi người ta,
2170.- Đã đành một nỗi ông cha lầm đàng"


(Hết đoạn lược)


Sư rằng : " Đã thấy rõ ràng.
Ta phân gốc ngọn hai chàng đặng hay.

(Lược  36 câu )


Dương di ở nước phía Tây,

Ham đàng giàu có, chuộng bày khéo khôn.

2175.- Dùng câu "cơ trá đa môn",

Dầu muôn việc cũng máy khôn đua làm.

Lòng trời ghét thói gian tham,

Sai con Thiên Cẩu xuống phàm làm ương.

Liền năm theo nước Tây dương,

2180.- Ăn hồn cái lũ bội thường nghịch thiên.

Lòng vua lo sợ khấn nguyền,

Chiêm bao nằm thấy linh thiêng điềm thần.

Rõ ràng một kẻ phụ nhân,

Một người nam tử khỏa thân chịu hình.

2185.- Nói ra mới biết tính danh :

"Chúa Trời, Đức Mẹ"  tỏ tình khắp nơi.

Nói rằng : "Chúa ở trên trời,

Vì dân chịu tội, muôn đời nhờ an.

Nương  theo điểm ấy bày đàng,

2190.- Mới kêu rằng :"  đạo Hoa Lan phụng thờ.

Từ theo đạo ấy đến giờ,

Họa con Thiên Cẩu cũng nhờ ít ăn.

Một năm cho nạp một lần,

Trăm năm khỏi thác, làm phần nhương tai.

2195.- Vua Tây lo việc lâu dài,

Hồn đâu cho đủ nạp hoài liền năm.

Cùng nhau toan chước nhóm ngầm,

Khiến người các nước đều lầm nghe va.

Đặt lên các chức nhà cha,

2200.- Cho đi dạy đạo gần xa phỉnh người.

Bùa mê thuốc lú dối đời,

Lòng người đều mắc vào nơi Tây tà.

Sống thời kêu nó bằng cha,

Thác thời lại bắt hồn ma đem về.

2205.- Có hồn thuế nạp rất xuê,

Nước Tây mới đặng khỏi bề tai ương.

Chước khôn chẳng những một phương,

Muốn gồm muôn nước theo đường làm tôi.

DÂN NGƯỜI VỀ ĐẠO TÂY RỒI,

2210.- NƯỚC NGƯỜI TÂY LẤY, MẤY HỒI NHỌC LO !

Khôn dầu tránh khỏi bẫy dò,

Lại đem nha phiến bán cho hút ghiền.

Nằm co, ôm ống nồi liền,

Nào rồi toan chước đánh Phiên, dẹp loàn"


(Hết đoạn lược)

2215.- Họ Hà nghe nói rõ ràng, 


CHÚ THÍCH :-

2153.- Đạo Hoa-Lan :- Xem c.t.  11.

2154.- Tây dương 西洋 :- bọn giặc từ biển phía Tây  tời, ở đây chỉ giặc Pháp.

2167.- Luân hồi (輪迴) :- theo quan niệm của nhà Phật, sinh vật lần lượt chết đi rồi sống lại qua kiếp khác, xoay vần mãi mãi như bánh xe quay.

2168.- Tây tà 西邪 :- đạo tà vạy không ngay thẳng của người Tây, ở đây chỉ đạo Thiên Chúa.

2173.- Dương di 洋夷:- Xem c.t.  2154.

2175.- Cơ trá đa mưu (基詐多謀):- cơ mưu, dối trá nhiều cách.

2180.- Bội thường nghịch thiên (倍常逆天) :- làm trái đạo thường, ngược lẽ trời.

2194.- Nhương tai (禳災) :- dẹp trừ tai họa.


2211.- Bẫy, dò :- bẫy và dò, hai dụng cụ để bắt thú và chim.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dailuc, ngodao, anhlam, byphuong, Ngoisaobiec
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:32:56 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #46 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2010, 09:19:16 PM »

(tiếp theo)

Chạnh thương đời trước, hai hàng luỵ rơi.
 Họ Dương quì lạy buông lời,
Hỏi rằng : " Đạo Phật ở đời tin chăng?
Tôn sư chúm chím cười rằng :
2220.-Thói đời những tưởng  đạo xằng đua bơi,

Từ xưa Phật chửa  ra đời,
Ba Vua, năm Đế, nối đời rất lâu.
Từ ngày có Phật đến sau,
Sáu Triều, Năm Quý  hại nhau bời bời.
2225.-Nên hư , gương ở các đời,

Soi vào thời thấy, phải lời bàn chi?

*
* *

 Dương , Hà, hai gã liền quì,
Hỏi rằng : " Nho  đạo dám bì Tiên  chăng?
Tôn sư thong thả đáp rằng :
2230.-"Đạo Tiên  cũng ở trong hằng đạo Nho .

Đạo Tiên  theo việc nhàn du,
Dạo chơi non nước, chẳng cầu công danh.
Đạo Nho  lo việc kinh doanh,
Giúp trong nhà nước cho minh cương thường
2235.-Tiên  xưa ở chốn thơ đường,

Một câu Nho  giáo, lòng thường  chẳng quên,
 Muốn theo Tiên  đạo cho bền,
Phải tòng Nho  đạo mới nên phận mình,
Hai người tua khá hồi trình,
2240.-Đạo nào làm phải mặc tình chọn  theo".

*
* *

Thưa rằng :   "Chút phận cheo leo,
Non xanh, nước biếc, xin theo đạo thầy".
Sư rằng :"  Một cõi Tiên  nầy,
Trần duyên chưa dứt, ở đây khó bề.
2245.-Sao sao cũng phải trở về,

Sửa sang giúp nước, trọn bề sẽ hay".
Hai người đồng tiếng thưa ngay,
Rằng  : " Xin ở lại vài ngày cảnh Tiên" .
Tôn sư hối Lý Tri Niên,
2250.-Dạy đem hai gã dạo miền Thiên Thai.


*CHÚ  THÍCH :-

2222.- Ba Vua, Năm Đế :- Xem c.t.  310/1.

2224.- Sáu Triều, Năm Quý :- từ chữ "lục triều 六朝"  và "ngũ quý五季".

六朝稱六代。東晉、東吳、宋、齊、梁、陳六個朝代先後建都於建康(吳稱建業,今江蘇南京),史稱六朝。
*Lục Triều gồm : -Đông Ngô 東吳(229年-280年), Đông Tấn 東晉(317年-420年), Tống 宋(420年-479年), Tề 齊(479年-502年), Lương 梁(502年-557年), Trần 陳(557年-589年).

Sáu triều đại nầy trước sau đóng đô ở Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh tỉnh Giang Tô)

*Ngũ Quý (hay Ngũ đại 五代)gồm :- Hậu Lương 後樑(907-923), Hậu Đường 後唐(923-936), Hậu Tấn後晉(936-947), Hậu Hán後漢(947-950), Hậu Chu後周(951-960). Năm triều đại nầy đóng đô ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà.

五代之外,南吳、南唐、前蜀、後蜀、南漢、閩、北漢等國也稱帝.
Ngoài Ngũ đại, còn có các nước khác cũng xưng đế như :- Nam Ngô, Nam Đường,Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Mân, Bắc Hán .

Đây là thời các  chư  hầu ở Trung Quốc tranh giành, thôn tính nhau, vô cùng loạn lạc, chết chóc.

2234.- Cương thường 綱常 :- Xem c.t.  330/3.

2239.- Tua :- nên, phải.

*Hồi trình 回程 :- lên đường trở về.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, nguyenthuy, dailuc, mavuong, anhlam, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #47 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2010, 09:25:46 PM »

(tiếp theo)

Trải qua mấy chốn lâu đài,
Coi thơ Tiên  vịnh  tám bài  thú xưa.

I.- Vịnh Sĩ Thú

Lòng gồm kinh sử mấy mươi pho,
Vàng ngọc nào hơn báu học trò ?
Cây trái rừng Nho  ra sức hái,
Lố gành biển Thánh  ráng công mò.
Cẩm văn thêu dệt đời đời chuộng,
Đạo vị trau giồi bữa bữa no.
Gặp thuở mày xanh siêng đọc sách,
Một nhà đều hưởng lộc trời cho.

II.-Vịnh Nông Thú

Trải khi nắng hạ, lúc mưa thu,
Cày cấy ghe phen sức dãi dầu,
Cúi ngửa Nương  theo vài đám ruộng,
Làm ăn giữ vốn mấy con trâu.
Theo nghề Hậu Tắc nhà không đói,
Chuyên việc Bân Phong nước chẳng sầu.
Nhờ gặp mùa màng trời đất thuận,
Năm trăm giống thóc một tay thâu.

III.-Vịnh Y thú

Một túi linh đan chẳng ráo hơi,
Trong tay thường cứu mạng người đời.
Năm mùi tánh dược ngày xem xét,
Trăm chứng thang danh bữa đổi dời.
Bịnh tới, chẳng câu người đói khó ,
Mạch coi, liền ngán kẻ ăn chơi.
Xưa rằng  quốc thủ khen lời  phải,
Giúp sống dân ta trọn lẽ trời.

IV.-Vịnh Bốc Thú

Trải đời thường chuộng báu thi qui,
Phưởng phất mùi hương chúa Phục Hy.
Tám quẻ mở ra đường bí yếu,
Sáu hào xây để máy u vi.
Cát, hung, muôn việc vài lời đoán,
Thời vận ngàn năm một lẽ suy.
Bày vẽ góc trời, hang đất đó,
Nào  con mắt tục mấy người tri ?


*CHÚ  THÍCH :-

*CT  8  bài thơ sau câu 2252 :-

*1/-Bài Sĩ vịnh :-

- Lố gành biển Thánh rán công dò :- *Lố:  chỗ nhô cao *Gành :vực sâu, nước xoáy mạnh*biển Thánh : chỉ đạo Nho rộng như biển.
Cả câu ý nói sự kiên trì, chịu đựng gian khổ để học hỏi đạo Nho.
-   Cẩm văn (錦文) :- văn gấm, ở đây chỉ lời văn đẹp như gấm.
-   Mày xanh:- chỉ tuổi trẻ.
-   Ghe phen :- Xem c.t.  371.

*2/-Bài Nông vịnh :-

-   Cúi ngữa :- Xem c.t.  795.

* Hậu Tắc后稷 : Hậu Tắc là con Đế Cốc 帝嚳, mẹ là con gái họ Hữu Thai有邰, tên là Khương Nguyên姜原- vợ cả Đế Cốc.
Truyền thuyết cho rằng Khương Nguyên vào rừng thấy vết chân người khổng lồ bèn dẫm vào rồi mang thai. Cho rằng đó là điềm không lành, khi sinh nở, Khương Nguyên bỏ đứa trẻ ra ngõ hẹp. Nhưng trâu ngựa đi qua đều tránh không dẫm vào đứa trẻ. Khương Nguyên bèn mang bỏ vào rừng, nhưng đúng lúc rừng lại đông người, nên bỏ vào lạch. Đứa trẻ được loài chim lấy cánh ủ cho.
Khương Nguyên thấy lạ bèn mang con về nuôi và đặt tên là Khí 棄  (nghĩa là bỏ).

Từ nhỏ, Khí đã tỏ ra là người có chí khí như người lớn. Ông thích trồng cây vừng, các loại đậu và đay. Lớn lên, Khí thích việc canh nông, xem xét các chất đất, tìm ngũ cốc五穀 thích hợp với từng loại đất, vì vậy mọi người học theo ông.

Vua Nghiêu 堯nghe tiếng ông tài giỏi, bèn cử ông làm Nông sư農師. Nhờ vậy trong nước được mùa.
Đến thời vua Thuấn 舜, ông tiếp tục đảm nhiệm việc trồng lúa đậu. Ông được vua Thuấn đặt hiệu là Hậu Tắc后稷, phong cho đất Thai 台và ban cho họ Cơ姬, nên gọi tên là Cơ Khí 姬棄.

Hậu Tắc sống qua đời vua Thuấn đến đời nhà Hạ thì qua đời. Tiếng tăm của ông được nhiều người biết đến. Con Hậu Tắc là Bất Khuất lên nối nghiệp. Dòng họ của ông truyền đến đời thứ 16 là Cơ Phát姬發 thì lật đổ nhà Thương 商朝 lập ra nhà Chu周朝. Do đó, Hậu Tắc coi là thủy tổ nhà Chu.

-   Bân phong :- *Bân 邠:- tên đất nay thuộc tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) . *Bân phong :- phần thơ Quốc phong trong Kinh Thi , ca tụng công nghiệp của Hậu Tắc.


*3/-Bài Y vịnh :-

-   Năm mùi tính dược ngày xem xét :- *Năm mùi ( ngũ vị 五味) : ngọt, chua, đắng, cay, mặn. *Tính dược 性藥 : tính chất của vị thuốc (nóng, lạnh, ấm, mát, vừa). Cả câu ý nói, ngày ngày nghiên cứu đặc điểm, tính chất các vị thuốc
-   Trăm chứng thang danh bữa đổi dời :- *thang danh 湯名: tên thang thuốc. Cả câu ý nói tùy theo chứng bệnh mà thay đổi thang thuốc theo từng bữa.
-   Quốc thủ 國首:- thầy thuốc giỏi nổi tiếng trong nước.

*4/-Bài Bốc vịnh :-

-   Bốc vịnh 卜詠:- bài thơ vịnh về nghề bói toán.

-   Phục Hy 伏羲:- (còn gọi  Mật Hy 、Bào Hy 、Bao Hy 、Hy Hoàng  、Hoàng  Hy 、Thái Hạo …又稱宓羲、庖犧、包犧、犧皇、皇羲、太昊等)

Theo truyền thuyết Trung Hoa, ông sinh ra tại Thành Kỷ (成紀, nay có lẽ là Thiên Thủy, Cam Túc) sau dời tới Trần Thương (陳倉). Đóng đô tại đất Trần Uyển Khâu (nay là Hoài Dương, Hà Nam).
Kinh Dịch được cho là do ông đọc Hà Đồ (bản đồ sông Hoàng Hà ???). Theo truyền thuyết, một cách sắp xếp của Bát quái (八卦) của Kinh Dịch đã hiện lên trước ông một cách thần bí. Cách sắp xếp này có trước biên soạn Kinh Dịch trong thời nhà Chu. Phục Hy được cho là đã phát hiện cấu trúc Bát quái từ các dấu trên lưng một con long mã (có sách viết là một con rùa) nổi tên từ dưới sông Lạc Hà, một sông nhánh của Hoàng Hà. Phát kiến này còn được cho là nguồn gốc của thư pháp.

Phục Hy dạy dân nấu ăn, dùng lưới đánh cá, và săn bắn bằng vũ khí sắt. Ông thể chế hóa hôn nhân và thực hiện buổi tế trời đầu tiên. Một bia đá, niên đại khoảng năm 160, vẽ hình Phục Hy với Nữ Oa女媧- người vừa là vợ vừa là chị em gái của ông.

Cùng với Thần Nông神農và Hoàng Đế黄帝, Phục Hy còn được cho là người phát minh ra đàn cổ cầm.

-   Tám quẻ :- Càn (Kiền), Khảm, Cấn, Chấn, Tốn Ly, Khôn, Đoài ☰ ☵ ☶ ☳ ☴ ☲ ☷ ☱
theo Kinh Dịch.

-   Sáu hào xây để máy u  vi :-*hào爻 :- số vạch của một quẻ trong Kinh Dịch. *Sáu hào là sáu đường vạch cho một quẻ *Máy u vi幽微 :- bộ máy huyền vi玄微. *Cả câu :- theo phái Âm Dương Gia陰陽家 thì sáu hào (trong một quẻ) làm thành như một cái máy sâu kín, tinh vi, có thể dự đoán, tính toán được mọi việc ở đời.

-   Cát hung 吉兇:- Xem c.t.  225.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, nguyenthuy, dailuc, mavuong, anhlam, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #48 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2010, 09:32:08 PM »

(tiếp theo)

V.-Vịnh Công Thú

Hóa công máy móc ở đâu nà ?
Trăm thợ nhân gian  nảy ngóc ra.
Sáu phủ đua làm nghề khéo léo,
Năm hành sắm đủ của xây xa.
Màu tuồng đơn kép theo hình vật,
Mối việc lâu mau mặc ý ta.
Máy tạo trong tay nào có vụng,
Chí lăm nên dựng nước cùng nhà.

VI.-Vịnh Thương Thú

Một câu thế lợi mở muôn nguồn,
Giàu khó đua theo  việc bán buôn.
Các chợ sanh tài trăm họ nhóm,
Mấy ghe   thực hóa  bốn phương luồng.
Trái cân Yến Tử không lơi dấu,
Cuốn sách Đào Châu chẳng hết tuồng.
Chờ giá một mai may gập vận,
Ra vào biết mấy của ngàn muôn.

VII.-Vịnh Ngư Thú

Ai nói rằng   nghề hạ bạc hư ?
Chớ chê chài lưới thói bần xừ,
Biếng theo ông Lữ câu danh lợi,
Siêng  tới thầy Viên bói thuỷ ngư.
Gánh cá giang hồ trăm chợ đủ,
Chiếc ghe phong nguyệt bốn mùa dư.
Trọn nhờ lộc nước vui ngày tháng,
Giềng mối trong tay giữ chặt khư.

VIII.-Vịnh Tiều Thú

Thánh  nhân còn hỏi kẻ sô nhiêu,
Người chớ nên khinh thói lão tiều.
Ngày tháng nghinh ngang vài gánh củi,
Núi non dọn vén một tay rìu.
Lộc rừng cũng đủ bề hôm sớm,
Nghề rú nào lo vốn ít nhiều.
Theo phận vui trời, cầm cán búa,
Mặc đời Kiệt, Trụ, mặc đời Nghiêu.


Coi rồi tám thú thơ hay,
Họ Hà ngẫm nghĩ bèn day hỏi liền.
2255.-Hỏi rằng : " Đây vốn cảnh Tiên ,


*CHÚ  THÍCH :-

*5/-Bài Công vịnh :-

-   Công vịnh 工詠:- vịnh nghề thợ.

-   Sáu phủ :- dịch chữ "Lục phủ = 六府" là sáu nơi tàng trử của cải : thủy水, hỏa火, mộc木, kim 金, thổ 土và cốc谷. Sách Lễ Điển thì ghi sáu phủ là sáu chức : thổ 土, mộc木, thủy水, thảo 草, khí 器và hóa 貨Quan官. (khí器 là đồ dùng; hóa貨 là của cải)

-   "Năm hành sắm đủ của xây xa" :- *Năm hành (ngũ hành) : thủy水, hỏa火, mộc木, kim 金, thổ 土

-   *Xây xa :- đầy đủ. Cả câu ý nói : chứa cất rất đầy đủ ngũ hành.
-   Máy tạo :- chỉ trời. Người xưa coi trời như một cái máy tinh vi có thể xoay chuyển hoặc tạo nên thế giới, vạn vật.
-   Lăm :- rắp, toan.

6/- Bài Thương vịnh :-

-   Sinh tài 生財:- làm nẩy nở ra của cải. Cả câu ý nói : thiên hạ nhóm họp ở chợ để buôn bán kiếm lời.
-   "Mấy ghe thực hóa , bốn phương luồng" :- *Thực hóa 殖貨là hàng hóa sinh lợi . Ở đây ý nói người buôn bán chở hàng đi luồn sâu khắp mọi nơi.

-   "Trái cân Yến Tử" :-  *Yến Tử 晏子(?-500BC) , tức Yến Anh 晏嬰 (Án Anh), tự Bình Trọng 平仲, người nước Tề thời Xuân Thu Chiến Quốc, làm quan nổi tiếng thanh liêm, đi sứ đối đáp giỏi, chư hầu đều trọng.

-   晏嬰(?-前500年),字仲,諡平,習慣上多稱平仲,又稱晏子。齊國萊地夷維人(今山東萊州市平裡店)。春秋後期政治家、思想家、外交家。

-   Sách "Đông Chu Liệt Quốc = 東周列國" ghi :- Yến Anh đi sứ nước Sở, người Sở chê ông nhỏ con, ông đáp : "quả cân dầu nhỏ nhưng có thể cân được ngàn cân, cái bánh lái dẫu dài, bao giờ cũng ngâm dưới nước, Trương Địch người cao lớn mà bị giết ở Lỗ, Nam Cung Trường Vạn người khỏe địch muôn người mà bị giết ở Tống, thế thì cái cao lớn, khỏe mạnh chưa hẵn hơn người". ( Đông Chu Liệt Quốc Hồi 69 p. 748).

-   對曰:「吾聞秤錘雖小,能壓千斤;舟漿空長,終為水役。僑如身長而戮於魯,南宮萬絕力而戮於宋,足下身長力大,得無近之?嬰自知無能,但有問則對,又何敢自逞其口舌耶?」(第六十九回        楚靈王挾詐滅陳蔡 晏平仲巧辯服荊蠻)

出使諸國

有一次,晏嬰出使楚國。楚人因他身材矮小,看不起他,就在大門旁另開一道小門,請他從小門進去。晏嬰不肯進去,說:「使狗國者,從狗門入,今臣使楚,不當從此門入。」接待的官員聽了,只好請他從大門進去。晏嬰見到楚靈王。楚王問:「齊無人耶?使子為使?」晏嬰答道:「齊之臨淄三百閭,張袂成陰,揮汗成雨,比肩繼踵而在,何為無人?」楚王又問:「然則何為使子?」 晏嬰回答:「齊命使,各有所主。其賢者使使賢主;不肖者使使不肖主,嬰最不肖,故宜使楚矣。」

-   Tham khảo thêm :- Yến Tử tức Yến Anh, làm quan đại phu  nước Tề. Tề Cảnh Công ban nghìn vàng, Yến Anh từ chối. Câu nầy ý nói, thấy của không ham muốn.

-   "Cuốn sách Đào Chu" :- *Đào Chu (陶朱公): hiệu của Phạm Lãi 范蠡. Sau khi giúp vua Việt Câu Tiễn 越王句踐; khôi phục đất nước, Phạm Lãi rong thuyền chơi ở Ngũ Hồ, rồi đến ở đất Đào, tự hiệu là Đào Chu Công陶朱公. Nhờ tài kinh doanh, buôn bán, cho vay lãi, ông trở nên giàu có. Tương truyền ông có viết cuốn "Đào Công trí phú陶朱致富" và được người đời tôn xưng là "Văn Tài Thần 文財神".

*7/-Bài Ngư vịnh :-

-   "Nghề hạ bạc 下泊" :- nghề chài lưới ở sông nước.
-   "Thói bần xừ" :- nghèo khổ, rách rưới, khó coi (từ địa phương).

-   "Ông Lữ (Lã) :- tức Lữ Vọng  呂望, tên hiệu của Khương Thượng姜尚, tự Tử Nha子牙. Tổ tiên ông có công, được phong ở nước Lữ nên lấy làm họ Lữ. Là người tài năng lỗi lạc, nhưng chưa gặp thời, năm 70 tuổi, Lữ Vọng còn ngồi câu cá ở phía Bắc sông Vị. Chu Văn Vương周文王 đi qua, hỏi chuyện rất hợp ý, bèn rước ông về, phong làm thầy. Ông đã giúp Văn Vương và con là Võ Thành Vương武成王 diệt vua Trụ, lập nên cơ nghiệp nhà Chu (800 năm).
-   "Thầy Viên" :- tức Viên Thủ Thành , một người thầy bói giỏi, thời nhà Đường (Trung Quốc) .

*8/-Bài Tiều vịnh :-

-   "Sô nhiêu" :- *Sô (芻) : người cắt cỏ, cỏ khô; *Nhiêu (蕘) : người hái củi. Ở đây có ý chỉ người làm công việc tầm thường thấp kém.
-   "Nghề rú" :- *Rú :- rừng có cây rậm; *Nghề rú :- nghề thợ rừng.
-   "Theo phận vui trời" :- *Vui trời :- từ câu "lạc thiên tri mệnh 樂天知命" (vui với đạo trời mà biết phận mình). Ở đây ý nói tự an vui với mọi hoàn cảnh, thì dù nghèo cũng không thấy khổ.

-   "Kiệt, Trụ" :- *Kiệt 桀 : vua nhà Hạ; *Trụ紂: vua nhà Thương; là hai vua vô đạo, hoang dâm nhất của lịch sử vua chúa Trung Hoa.

*Kiệt :- Vua Kiệt  桀(trị vì: 1818 TCN – 1767 TCN) hay Hạ Kiệt (夏桀) là vua cuối cùng nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc.

Hạ Kiệt là con của Hạ Phát, vốn có tên là Lý Quý (履癸). Vì Lý Quý là người tàn ác nên bị gọi là Kiệt, nghĩa là kẻ độc ác ưa giết chóc.
Lý Quý được sử sách ghi lại là ông vua hoang dâm và tàn bạo, thích gây việc chiến tranh.
Lý Quý mang quân đi đánh nước Hữu Thi, nước Hữu Thi không chống nổi bèn dâng mỹ nữ là nàng Muội Hỷ và xin Lý Quý lui quân. Lý Quý được nàng Muội Hỷ bèn tha cho nước Hữu Thi.
Lý Quý sủng ái nàng Muội Hỷ, tăng cường bóc lột nhân dân để hưởng lạc. Sự tàn bạo của ông khiến nhiều bộ tộc nổi dậy chống lại.
Trúc thư kỉ niên của nước Ngụy thời Chiến Quốc bổ sung thêm thông tin về sự diệt vong của nhà Hạ: Lý Quý vẫn tiếp tục việc chinh phạt, mang quân đi đánh đất Manh Sơn. Manh Sơn bèn theo nước Hữu Thi, dâng 2 người con gái đẹp là Uyển và Viêm để xin Hạ lui quân. Lý Quý cũng bằng lòng lui quân về và rất sủng ái hai người con gái đất Manh Sơn, lạnh nhạt với nàng Muội Hỷ.

Trong khi đó Thành Thang nước Thương ngày càng lớn mạnh. Thương Thang sai Y Doãn đến kinh đô nhà Hạ trá hàng. Muội Hỷ bị Lý Quý lạnh nhạt đâm ra oán vọng. Y Doãn đã lợi dụng sự oán vọng của Muội Hỷ đã liên hệ với nàng để nắm được nhiều tin tức về nội tình triều đình nhà Hạ. Sau khi nắm được nội tình nhà Hạ, Y Doãn trở về với Thành Thang.

Trong khi Lý Quý say đắm tửu sắc thì Thương Thang tìm cách liên minh với các bộ tộc để tạo vây cánh và mang quân đánh diệt các nước chư hầu thân với Hạ như Cát, Bình Chướng Vi, Côn Ngô.

Theo kế sách của Y Doãn, Thương Thang khiêu chiến với nhà Hạ, bỏ không nộp cống cho Hạ Kiệt. Lý Quý nổi giận điều động binh mã 9 bộ tộc phía đông trước sau đánh vào bộ lạc Thương. Thang sai người đến nộp cống. Thấy Thang thuần phục, ông lại bằng lòng cho lui quân.

Thang tranh thủ thời gian tìm cách liên minh và chia rẽ 9 bộ tộc giúp quân cho Hạ Kiệt. Sang năm sau, Thang lại bỏ cống nạp. Lý Quý lại tổ chức hội các bộ lạc phụ thuộc ở Hữu Nhung đánh Thương, nhưng lần này các bộ lạc không nghe theo. Bộ lạc Mân phản đối việc đánh Thương của Lý Quý. Ông nổi giận bèn mang quân đánh Mân trước. Nhân dân phải phục dịch cho cuộc chiến nặng nề càng oán hận ông hơn.

Thấy ông bị sa lầy vào cuộc chiến với tộc Mân, Thang quyết định ra quân diệt Hạ. Năm 1767 TCN, Thương Thang đánh thắng Lý Quý trong trận quyết định ở Minh Điều (鸣条). Hạ Kiệt thua trận, bị mất ngôi và bị đày ra Nam Sào (南巢). Ông nói với thủ hạ: " Ta hối hận không giết Thang ở Hạ Đài nên mới ra nông nỗi này "
Nhà Hạ mất. Hạ Kiệt ở ngôi 52 năm, bị đày ra Nam Sào 3 năm thì qua đời tại núi Đình Sơn năm 1764 TCN không rõ bao nhiêu tuổi. Thành Thang lập ra nhà Thương.

*Trụ :- Đế Tân (帝辛), Trụ (紂), Trụ Tân (紂辛) hay Trụ Vương (紂王) - cũng có thể thêm "Thương" (商) ở trước các tên gọi này - là vị vua cuối cùng đời nhà Thương của lịch sử Trung Quốc, ở ngôi từ 1154 TCN - 1123 TCN hoặc 1075 TCN - 1046 TCN.

Trụ Vương là con của Đế Ất, tên gọi là Ân Thọ, nổi tiếng là một ông vua dâm đãng. Ông mê Đát Kỷ đến quên việc triều chính. Ông và Đát Kỷ là một cặp được nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc với sự phẫn nộ của nhiều người. Tuy vậy, Trụ Vương có sức khỏe hơn người và là một vị vua văn võ song toàn, vì sự tàn bạo đã dẫn đến mất nước về tay nhà Chu.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, nguyenthuy, dailuc, mavuong, anhlam, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #49 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2010, 09:37:15 PM »

(tiếp theo)

Cớ sao chuộng thú ở miền phàm dân?"
 Niên rằng : " Một gốc sinh dân,
Người Tiên  không khác người  trần bao xa.
Từ trong tám thú trở ra,
2260.- Việc đời rỗi rảnh ấy là Thần Tiên".

*
* *

 Hai người theo Lý Tri Niên
Ở  nơi Vân động kết nguyền đồng tâm,
Ngày ngày thong thả ca ngâm,
Cùng nhau vui thú Quỳnh Lâm, Dao Trì.

*
* *

2265.-Lối nầy tới lối Châu Kỳ,

Chạnh lòng nhớ bạn cố tri họ Hà,
 Liền năm liền tháng tới nhà,
Hỏi thăm tin tức, lâu đà thon von.
Liễu Nương  ở với hai con,
2270.-Mượn người tìm khắp nước non mọi đàng.

Long Môn từ vắng mặt chàng,
Tình nhà man mác, lòng nàng héo don.
Lìa nhau đã tám năm tròn,
Trông chồng đã mỏi, thấy con thêm sầu,
2275.-Tuổi già mà lại hay đau,

Tấc  hơi khó nỗi cầm  lâu chờ chồng,
 Châu Kỳ thang thuốc giúp công,
Số trời khôn cải, hết lòng thời thôi.

*
* *

Liễu Nương  từ thuở thác rồi,
2280.-Hai con tám tuổi, mồ côi nhà nghèo.


Cậu, cô, ép uổng khiến theo,
Đọc kinh, xem lễ, giữ lèo lái xưa.
Tuyết, Băng, lòng vốn chẳng ưa,
Chị em giữ phận đẩy đưa nghe người,
2285.-Nói rằng : " Theo đạo năm đời,

Trong khi nào thấy có lời chi hay.
Cha già đi mất lâu nay,

(Lược  ba câu)

Đức Bà, đức Chúa thấy bày vẽ chi ?
Đọc kinh xem lễ làm gì?
2290.-Ơn cha chẳng đoái, còn ghi đạo nào?


(Hết đoạn lược)

*
* *

Cậu, cô, ghét tiếng cầu cao,
Bỏ điều đói rách, lẽ nào trối thây!
Chị em hẩm hút qua ngày,
Trời sanh trời dưỡng, xày xày cũng xong.
2295.-Châu Kỳ thấy cũng động lòng,

Liền cho tiền gạo để phòng nuôi nhau.
 Chị em bàn luận cùng nhau,
Việc cha thuở trước, họ Châu nói liền.
Rằng : " Cha theo Lý Tri Niên,
2300.-Đem đi hỏi  đạo cùng Tiên  non Tùng.


*CHÚ  THÍCH :-

2253.- "Tám thú" (hay tám bài thú) ở đây chỉ tám bài thơ vịnh về các nghề : Sĩ 士, Nông 農, Y 醫, Bốc  卜(bói), Công 工(thợ), Thương商 (mua bán). Ngư 漁, Tiều 樵.

2264.- "Quỳnh lâm, Dao (Diêu) trì" :- *Quỳnh lâm (瓊林) :- rừng quỳnh, tên cái vườn phía Tây phủ Khai Phong, nơi vua nhà Tống thường đãi yến các vị Tiến Sĩ tân khoa. *Dao (Diêu) trì (瑤池) :- ao ngọc, nằm bên cung điện của Tây Vương Mẫu trong dãy núi Côn Lôn. Quỳnh lâm Dao trì :- văn học cổ thường dùng để chỉ nơi cảnh trí đẹp, cõi tiên.

2268.- Thon von  :- Xem c.t.  767.
2276.- Tấc hơi :- hơi thở, sự sống do câu " Tam thốn khí tồn thiên ban dụng, Nhất đán vô thường vạn sự hưu 三寸氣存千班用, 一旦無常萬事休" (ba tấc hơi  mà còn thì mình còn dùng làm ngàn chuyện. Một sớm không thường thì muôn việc phải thôi nghỉ).
2278.- Khôn cải :- khó đổi.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, nguyenthuy, dailuc, mavuong, anhlam, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #50 vào lúc: Tháng Mười Một 29, 2010, 09:41:43 PM »

(tiếp theo)

Vả đây lên chốn non Tùng,
Đường đi rằng cách, ngó mong cũng gần.
Muốn cho đặng chữ "hiếu thân",
Phải đi lên đó một lần sẽ hay.
2305.-Tìm cha, trước  phải hỏi thầy.

Mất còn cho biết, lòng nầy mới an,

*
* *

Chị em cơm nước sửa sang,
Nhằm chừng Tùng Lãnh băng ngàn phăng phăng.
Cám thương Xuân Tuyết, Thu Băng,
2310.-Tuổi còn thơ ấu, nhọc nhằn xiết bao!

Tìm cha lên chốn non cao,
Kể nào thú dữ, lẽ nào ai hay.
Chị em đi quá nửa ngày,
Hỏi thăm chẳng đặng, trở quày lộn ra.
2315.-Hai bên cây đá giao hoà,

Trong non nào có cửa nhà ai  đâu.
 Đường chim dấu thỏ, lộn nhau,
Chị em ngơ ngẩn khôn cầu đường ra.
Non đoài bóng ác hầu tà,
2320.-Cùng nhau lần bước đi qua Thạch bàn.

Thạch bàn lại có khe ngang,
Mở cơm ăn uống, rồi toan hỏi người.
Dưới chân đau mỏi khôn dời,
Cùng nhau lẩn quẩn, vừa trời hoàng hôn.
2325.-Khóc than tiếng dậy như cồn,

Kêu rằng : " Cha hỡi! Linh hồn ở đâu?
 Chứa chan muôn thảm ngàn sầu,
Hai con sống thác, ai hầu biết cho?
Dắt nhau lên đá nằm co,
2330.-Khóc rồi lại ngủ, biết lo phương gì.

*
* *

Non cao cây cối rậm rì,
Nằm queo lại ngủ, gặp kỳ đêm đông.
Thương thay! Sương tuyết lạnh lùng,
Năm canh đá gối, sương mùng, xiết bao!
2335.-Bóng trăng vừa thấy lên cao,

Một bầy thỏ bạch nhảy vào mừng vui.
 Nằm khoanh trên đá nối đuôi,
Bao nhiêu sương tuyết, lông chùi sạch trơn.
Nằm chung hơi ấm như đờn,
2340.-Chị em giấc ngủ nhờ ơn đặng bền.

Vầng đông  vừa lố bóng lên,
Giựt mình chợt thấy, thỏ bên nhảy liền.
Ngày sau việc ấy sách biên:
"Tướng tinh mộng nguyệt" rõ duyên họ  Hà.
2345.-Mặt trời đến lúc rạng  ra,

Chị em lòng đói, xót xa phận mình.
 Chim đâu bay tới thình lình,
Xanh mào, đỏ mỏ chưn hình thoa  son.
Đậu trên đầu đá hai con,
2350.-Trái đào, mỏ gắp quăng lòn xuống cho.


*CHÚ  THÍCH :-


2319.- Bóng ác :- Xem c.t.  556.
2320.- Thạch bàn :- Xem c.t.  66.
2334.- Đá nệm, cây mùng :- lấy đá làm nệm, lấy cây làm mùng; chỉ sự nằm sương , gối đất.
2339.- Hơi ấm như đờn (đàn) :- ấm như tiếng đàn, bản đàn.

2344.- "Tướng tinh mộng nguyệt" :-

*Tướng tinh (相星) :- quan niệm về khoa tướng số xưa thì tính khí con người ta ứng chiếu với 28 vì sao (nhị thập bát tú 二十八宿) tương ứng với 28 con vật.

Đông phương Thanh long (青龍): Giác (角) • Cang (亢) • Đê (氐) • Phòng (房) • Tâm (心) • Vĩ (尾) • Cơ (箕)
 
Nam phương Chu tước (朱雀): Tỉnh (井) • Quỷ (鬼) • Liễu (柳) • Tinh (星) • Trương (張) • Dực (翼) • Chẩn (軫)

Tây phương Bạch hổ (白虎): Khuê (奎) • Lâu (婁) • Vị (胃) • Mão (昴) • Tất (畢) • Chủy/Tuy (觜) • Sâm (參)

Bắc phương Huyền vũ (玄武): Đẩu (斗) • Ngưu (牛) • Nữ (女) • Hư (虛) • Nguy (危) • Thất (室) • Bích (壁)

*Mộng nguyệt (夢月) :- sách Hán Thư : Ngô phu nhân, vợ Tôn Kiên có thai, mơ thấy mặt trăng sa vào lòng, về sau sinh ra Tôn Sách. Cả câu chỉ điềm sinh ra con quí.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, nguyenthuy, dailuc, mavuong, anhlam, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #51 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2010, 09:10:37 PM »

(tiếp theo)

Chị em cầm ngửi thơm tho,
Nhờ ăn đào ấy, đặng no tấm lòng.
Chưa hay đi đặng cùng không,
Đoạn sau mới biết cùng, thông, mọi đường.

*
* *

2355.-Thứ này tới chuyện Tấn vương,

Sửa sang nhà nước, bốn phương vững vàng.
Buổi chầu đủ mặt bá quan,
Hai bên văn võ đều  bàn việc dân.
Có quan Bảo giá họ Tần,
2360.-Quì dâng lời sớ ở phần Dự châu.

Tấn vương xem sớ ngoài tâu,
Mới hay một trấn Dự châu mất mùa.
Phán rằng : " Nghiêu, Thuấn, làm vua,
Chín năm nước lụt, mà mùa chẳng hư.
2365.- Bởi  lòng lo sợ có dư,

Phải toan chữ "đức" đặng trừ chữ "tai".
Ngày nay châu Dự cõi ngoài,
Muôn dân đói khó, nào ai đỡ đầu  ?
Tần Khanh trước bệ liền tâu:
2370.-Xin đi kinh lược Dự châu một lần.

Trước là chẩn thải muôn dân,
Sau răn quan lại, khỏi phần nhũng  tham.
Tấn vương y tấu cho làm,
Phê rằng :  "Thay trẫm, đông nam tuần hành".

*
* *

2375.-Tần Khanh phụng chỉ triều đình,

Lui chầu  sắm sửa, dàn binh mã rồi,
 Về dinh tạm nghỉ một hồi,
Phu nhân liền đặt lễ bồi xin đưa.
Thưa rằng : " Cám nỗi dây dưa,
2380.-Đoái câu "lân chỉ", nhà chưa phỉ nguyền.

Nay ông vưng lịnh tuần biên,
Ra ơn, làm phước, cầu duyên nối mình.
Hoặc may trời thấy thương tình,
Sớm cho hai chữ "minh linh" nối dòng.
2385.-Miễn là nối nghiệp cho ông,

Tôi, phần liễu yếu dám trông lẽ gì!

*
* *

 Tần Khanh từ giã ra đi,
Rần rần xe ngựa một khi đăng trình.
Ngửa xem cờ, trống nghiêm minh:
2390.-Trải qua các trấn, sanh linh đều mừng.

Đua nhau rượu thịt đem dưng,
Đốt hương, đội trạng, tưng bừng xã thôn.

*
* *

Mười ngày tới huyện Long Môn,
Xảy vừa gặp lúc hoàng hôn bóng vầy.
2395.- Huyện đường xin rước vào đây,

Đóng quân tạm nghỉ sáng ngày sẽ đi.
Đêm đông tiếng trống trì trì
Bóng trăng thấp thoáng trúc ly soi vào
Tần Khanh nằm thấy chiêm bao,
2400.-Hai con thỏ bạch nhảy vào trong tay.


*CHÚ  THÍCH :-

2354.- "Cùng thông " :- *Cùng 窮: khốn khổ, cùng quẫn; *Thông 通: thông suốt. *Cùng thông : chỉ có lúc cực khổ, có lúc sung sướng.

2359.- Quan bảo giá (bảo giá quan = 保駕官):- quan lo việc hộ vệ xe nhà vua.

2360.- Dự Châu 豫州:- một trong chín châu của Trung Quốc  ngày xưa, thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ.
-Châu Dự, nay thuộc vào cõi đất phía tây tỉnh Hà Nam, tỉnh Sơn Đông, và phía bắc Hồ Bắc nước Tàu, vì thế nên mới gọi tỉnh Hà Nam là tỉnh "Dự = 豫".

2363.- Nghiêu Thuấn 堯舜:- Xem c.t.  374/3.
2370.- Kinh lược 經略 :- đi xem xét, trù tính để sắp đặt việc cai trị.
2371.- Chẩn thải賑貸:- cứu giúp và cho mượn (vay) lúc dân bị tai họa, mất mùa.

2379.- Dây dưa :- do chữ "qua điệt 瓜瓞  " ở  kinh Thi, trong thiên "Miên 綿" có nói dây dưa trước nhỏ sau lớn mọc lan ra mãi không dứt. Ở đây ý nói con cháu, dòng  dõi phát triển ngày một đông.

2380.- Lân chỉ 麟趾 :- ngón chân con lân. Theo quan niệm xưa, kỳ lân là con vật nhân hậu, không giẫm lên loài vật nhỏ và cỏ non. Kinh Thi, thiên "Lân chỉ" : khen ngợi con cháu Chu Văn Vương hiền đức. Về sau, người ta dùng Lân Chỉ hay "gót lân" để chỉ con nhà dòng dõi. (Xem thêm 155).

2381.- Hành biên 行邊:- tuần hành nơi biên giới.

2384.- Minh linh螟蛉:- một thứ sâu, lớn lên hóa bướm. Người xưa cho rằng con tò vò bắt con sâu (minh linh) bỏ vào trong tổ là nuôi "con của con minh linh" làm con mình, nên về sau, chữ "minh linh" dùng để chỉ con nuôi. Kinh Thi : "Minh linh hữu tử, quả lỏa phụ chi =螟蛉有子,蜾蠃附之" (minh linh có con, tò vò nuôi dưỡng). Thực ra, khoa học ngày nay đã chứng minh là con sâu (minh linh) chính là một thứ thức ăn để nuôi con của tò vò khi nở ra còn ở trong tổ.

2398.- Trước ly (竹籬) :- (trúc ly) hàng rào trúc.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #52 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2010, 09:13:59 PM »

(tiếp theo)

Giựt mình bèn thức dậy ngay,
Ngồi bàn chưa rõ điềm nầy cát, hung.
Phút đâu trời đã hừng đông,
Đòi quan Tri Huyện, hỏi trong dân tình.
2405.-Chỗ nào oan khúc cho minh,

Chỗ nào non nước anh linh cho tường,
 Huyện quan bày vẽ mọi đường,
Rằng : " Non Tùng có nhiều phương, thú cầm.
Nhớ trong điềm mộng trầm ngâm,
2410.-Dạy rằng quan huyện sửa phần việc săn.

Đem đi lên chốn sơn lăng,
Xem chơi non núi sơn lăng giải buồn.
Truyền quân vác lưới, chiêu muông,
Nhắm chừng Tùng Lãnh, đi ruồng vào săn.
2415.-Non xanh cây mọc giăng giăng,

Hươu nai nối dấu, đá ngăn chật đàng.
Trải qua vừa tới Thạch bàn,
Hai con thỏ bạch bên đàng nhảy đi,
Tần Khanh nhìn thấy lòng nghi,
2420.-Truyền quân bủa dấu, lưới vi bốn  bề.

Tìm theo tới chốn Hoàng Khê,
Thấy hai gái nhỏ nằm kề,  ngủ trưa.
Quân hầu chưa kịp lời thưa,
Tần Khanh bước tới, thấy vừa lòng thương.
2425.-Nói rằng : " Điềm mộng mơ màng,

Thật trời cho lão gặp đàng minh linh.
 Giã ơn non nước thần linh,
Chưa săn đặng thú, đã đành gặp con".
Bèn kêu thức dậy hỏi đon,
2430.- "Việc chi dám tới núi non chốn này?"

Tuyết, Băng thức dậy mới hay,
Cúi đầu bèn lạy, tỏ bày đầu đuôi.
Thưa rằng :"Lỡ bước khôn  lui,
Đói lòng nhờ có chim nuôi ba ngày".
2435.-Tần Khanh nghe nói mừng thay,

Con ai khéo đẻ, mặt mày tốt tươi.
 Lịnh truyền bãi việc săn chơi,
Đem hai gái ấy về nơi huyện đường.

*
* *

Tần Khanh ngồi giữa huyện đường,
2440.-Đòi ra han hỏi họ đương việc nhà.

Hỏi rằng :" Hai trẻ tìm cha,
Bày đường vẽ ngõ, ai mà chỉ  đi ?"
Thưa rằng : "Có  kẻ danh y,
Bạn cùng thân phụ, Châu Kỳ là tên".
2445.-Tần Khanh đòi họ Châu liền,

Cùng là cô bác ở bên họ Hà.
 Tần Khanh hỏi việc họ Hà,
Châu Kỳ gốc ngọn thưa qua rõ ràng.
Tần Khanh mới tỏ lòng vàng,
2450.-Khen rằng : " Bỏ đạo Hoa Lan phải rồi.



*CHÚ  THÍCH :-


2411.- Sơn lăng (山陵) :- phần mộ của các bậc đế vương.

2413.- Chiêu muông :- gọi chó săn, ra hiệu cho chó săn.

2420.- Bủa dấu :- giăng, vây theo dấu vết.

2440.- Họ đương :- họ hàng.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #53 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2010, 09:17:31 PM »

(tiếp theo)

Cho hay gà, hạc, khác loài,
Cây hèn, lá báu biết người  mấy ai?
Bà con nội ngoại hòa hai,
 Chớ rằng ta dạy trái tai khác lời !
2455.-Tuyết, Băng là gái của trời,

Ta xin nuôi lấy, cải đời cho ta"
 Châu Kỳ cúi lạy trở ra,
Họ Hà nghe nói, trẻ già đều ưng.

*
* *

Tuyết, Băng, thay áo, đổi quần.
2460.-Phận làm dưỡng nữ, lễ dâng lạy rồi.

Tần Khanh sai kẻ tống hồi,
Phu nhân mừng đặng con nuôi trong nhà,
Ấp yêu như ngọc, như ngà,
Dạy bề đức hạnh, nết na thêm nhuần,
2465.-Xuê xang cốt cách mười phần,

Họ Hà cải lại họ Tần, rất vinh.
 Tuyết, Băng nay đã yên mình,
Ở nơi công phủ, theo tình phu nhân.
Tần Khanh xe ngựa rần rần,
2470.-Từ nơi huyện ấy, tới phần Dự châu.

Các quan Mục, Thú đến hầu,
Tờ chương, tờ biểu, quỳ tâu nhộn nhàng.
Tần Khanh khiến mở kho tàng,
Đặng cho lúa gạo, cứu hoang muôn nhà.
2475.-Nhớ ơn chẩn thải làm ra,

Một châu trăm họ, trẻ, già, đều vui.

*
* *

 Sửa sang sáu tháng yên rồi,
Giã từ châu Dự, phản hồi Tấn Kinh.
Tần Khanh bái yết triều đình,
2480.-Tấn Vương phán hỏi dân tình khắp nơi.

Phán rằng : " Ta nối ngôi trời,
Gẫm mình ít đức, trị đời chẳng an.
Dự Châu trời xuống tai nàn.
Cứu dân một cõi, nhờ chàng Tần Khanh.
2485.- Công cao quyền trọng, đã đành.

Chức quan Tổng Trấn , nay dành  phong ngươi.
 Hà Đông là cõi tốt tươi,
Bảy châu, chín quận, nhiều người ăn chơi.
Nầy ngươi thay mặt, đổi lời,
2490.- Ra ngồi trấn ấy, trị đời chăn dân.

*
* *

Tấn vương lòng rất ân cần,
Yến diên thết đãi, quân thần đưa nhau,
Tần Khanh trước  bệ cúi đầu,
Tạ ơn , lãnh chỉ, lui chầu sửa sang.
2495.-Về dinh sắm sửa hành trang,

Đều đem gia thuộc  lên đàng Hà đông.

*
* *

 Mười ngày  đi tới  Hà Đông,
Các quan Tri Phủ , hội đồng tiếp nghinh.
Rước ông Tổng Trấn vào thành,
2500.-Muôn dân nườm nượp đua  tranh lễ mừng.



*CHÚ THÍCH :-


2456.- Cải đời cho ta :- thay đổi đời cho ta. Người xưa hiếm con, thường nuôi con nuôi để thay đổi "cái không may" của mình. Ở đây, Tần Khanh chưa có con nối dõi, nên tin rằng nuôi con nuôi sẽ thay đổi số phận của mình, về sau sẽ có con.

2460.- Dưỡng tử (養子) :- con nuôi.

2465.- Xuê xang cốt cách mười phần :- Dáng vẻ xinh đẹp vẹn toàn.

2471.- Mục, Thú 牧戍 :- hai chức quan cai trị ở cấp Châu, Quận ngày xưa.

2474.- Cứu hoang 救巟 :- cứu đói.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #54 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2010, 09:21:59 PM »

(tiếp theo)

Long Môn huyện ấy ở gần,
Nam Khương huyện cũng về phần  Hà Đông.
Tần Khanh trấn nhậm đã xong,
Chánh lành  bủa khắp, ngoài trong vững vàng.
2505.-Mấy câu gia huấn rõ ràng  ,

Nuôi hai con gái , dung nhan khác thường.
 Phu nhân lòng rất yêu đương,
Lại cho học chữ đặng  tường xưa nay.
Tuyết, Băng hai gái xinh thay!
2510.-Mùi thơm  kinh sử liền ngày giồi ra.

Tiếng hay, lâu cũng đồn xa,
Chúng đều khen ngợi họ Hà phước to,
Tuy là hoa có thơm tho,
Vườn xuân còn đóng, chưa lò gió đông.

*
* *

2515.- Nói rồi việc ở cửa công,

Đây bèn kể chuyện vợ chồng họ Dương.
 Họ  Dương  từ thuở ly hương,
Một mình Đỗ Thị náu Nương  quê nhà.
Nuôi hai con thuở lên ba,
2520.-Đến khi năm tuổi, trong nhà nghèo thêm.

Đỗ Nương  canh cửi nghề êm.
Bữa đi dệt mướn còn hiềm thiếu ăn.
Dương Trân, Dương Bửu hai thằng,
Tuổi còn thơ ấu, nhọc nhằn xiết bao.
2525.- Bà con  bên nội  lãng xao,

Quan tiền, thưng gạo, người nào giúp đâu ?
 Anh em nay vũng, mai bàu,
Hái rau ,bắt ốc, nuôi nhau năm dài.
Đỗ Nương  có một em trai,
2530.-Tên là Đỗ Khoái, tuổi ngoài năm mươi.

Cũng trang tiểu phú trong đời,
Nhà nuôi lục súc chuộng lời, bán buôn,
Một ngày  rảnh việc ngồi buồn,
Chạnh lòng nhớ chị, bỗng tuôn lệ dầm
2535.- Nói rằng :   "Nghĩ lại tủi thầm,

Chị ta nào khác đàn cầm đứt dây.
Cám thương hai cháu thơ ngây,
Trong nhà bần bạc buổi nầy nhờ ai?
Anh đà theo Phật Như Lai,
2540.-Gia đinh ấm, lạnh, đoái hoài chi đâu !
".

Nói thôi chẳng xiết dạ sầu,
Đi qua nhà chị ngõ hầu viếng thăm.
Đỗ Nương  mừng thấy em thăm.
Mừng rồi lại khóc đầm đầm lệ sa.
2545.- Nói rằng : "Đoái tấm thân ta,

Ruộng hoang, vườn rậm, cửa nhà quạnh hiu.
 Ruột gan khô héo mấy chiều,
Nỗi duyên, nỗi phận, gẫm  nhiều bề đau,
Vợ chồng tưởng  kết tóc  nhau,
2550.-Trăm năm một gối, nghèo giàu trọn theo.

*CHÚ  THÍCH :-

2532.- Lục súc 六畜 :- sáu loài vật nuôi trong nhà gồm : trâu (bò)牛, ngựa馬, dê 羊, chó 犬, gà 雞, lợn 豕 (heo).

2538.- Bần bạc 貧薄:- Xem c.t.  196.

2549.- Kết tóc :- do chữ "kết phát = 結髮". Theo tục lệ xưa, lúc thành hôn, hôm hợp cẩn, người ta "kết tóc" cho đôi vợ chồng. Ở đây chỉ vợ chồng kết duyên với nhau.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #55 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2010, 09:27:12 PM »

(tiếp  theo)

Hay đâu tủi phận bọt bèo,
Lại mang lấy tiếng ở đèo vọng phu.
Quản bao một chiếc bách châu,(chu)
Linh đinh giữa vực, mặc dầu gió mưa.
2555.-Cám thương hai trẻ dây dưa,

Tháng ngày ngơ ngẩn, vóc chưa nên người.
Cứ quen theo thói ăn chơi,
Những điều khôn dại ở đời cậy ai ?"

*
* *

Nghe thôi Đỗ Khoái than dài,
2560.-Nói rằng : " Chị chớ trông hoài uổng công.

Chị thời mang tiếng có chồng,
Gặp khi mưa nắng cậy cùng người ta.
Cháu thời mang tiếng có cha,
Hôm mai lơ láo như gà mồ côi.
2565.-Oan gia, anh trốn nợ rồi,

Chị già, cháu dại, còn ngồi trông chi?
 Ở đây ít kẻ yêu vì,
Hãy theo bên ngoại đỡ khi nghiêng nghèo".

*
* *

Đỗ Nương  lo việc nghiêng nghèo,
2570.- Nghe lời Đỗ Khoái, về theo ở  nhờ.

Hai thằng Trân, Bửu còn khờ,
Ăn rồi, tìm chốn bụi bờ đi chơi.
Ở vừa đặng nửa tháng  trời,
Đỗ Nương  thấy vậy, buông lời mắng  ra.
2575.- Bảo rằng : "Coi việc  trong nhà,

Heo, dê, ngỗng, vịt thả ra đông bầy.
Hai con đã ở theo đây,
Oi giùm cho cậu, hơn vầy chơi không".
 Khoái rằng : " Chị đã có lòng,
2580.-Dạy con biết việc để phòng đỡ thân.

Xưa nay người ở trong trần,
Nhỏ phần việc nhẹ, lớn phần việc to.
Làm ăn lớn nhỏ đều lo,
Trước ra sức nhọc, sau no bụng mình.

*
* *

2585.-Đỗ Nương  phận khó đã đành,

Hai con no đói, rách lành có em.
Một bề ăn ở đặng êm,
Trong nhà dê, ngỗng, càng thêm đẻ lời.
 Anh em Trân, Bửu hết chơi,
2590.-Em thời chăn ngỗng, anh thời chăn dê.

Sớm đi thời tối lại về,
Bầy nào theo nấy,chưa  hề lộn nhau.         
Đỗ Nương  ngó thấy thêm sầu,
Chạnh lòng nhớ bạn, dòng châu đượm nhuần.
2595.-Than rằng : " Chàng hỡi Dương quân!

Muốn tu còn nối gót lân làm gì?
Dầu cho nên Phật từ bi,
Nỡ nào ngồi ngó hài nhi nỗi nầy!
 Phải chi con có cha đây,
2600.-Sắm cho ăn học, theo thầy văn chương !".


*CHÚ  THÍCH :-


2553.- Bá chu 柏舟(bách chu) :- chiếc thuyền đóng bằng gỗ bách. Thơ Bá Chu ở phần Dung Phong trong Kinh Thi ví người đàn bà góa chồng như chiếc thuyền gỗ bách chơi vơi trên dòng sông. Thơ Bá Chu ở phần Bội Phong trong Kinh Thi nói về người đàn bà bị chồng bỏ rơi.

2565.- Oan gia 冤家 : mối oan trái lâu đời gây cho một gia đình.

2596.- Nối gót lân :- Xem c.t.  155.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #56 vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:17:43 PM »

(tiếp theo)

Người nhà nghe nói liền thương,
Thưa cùng Đỗ Khoái đặng tường cơ quan.
Khoái rằng : " Chị chớ thở than,
Lòng em cũng đã thầm toan việc đời.
2605.-Ngỗng, dê, đặng mấy đồng  lời?

Một cây hoa bút ở đời vinh hơn.
Chí nguyền nuôi cháu làm ơn,
Giúp nên cho chị, chẳng sờn lòng đâu,
 Cháu nay mới sáu tuổi đầu,
2610.-Chờ lên tám tuổi sẽ âu học hành.

Từ đây hai gã tiểu sanh,
Nuôi bầy  dê, ngỗng, đã đành phận  chăn,
Ngày lo  tìm chỗ cho ăn,
Rủ con nít lại nhiều thằng, xúm chơi.
2615.- Đan  Khê  cảnh tốt trong đời,

Ở  non nước có  nhiều nơi linh thần,
Thuở xưa lập miễu Hà Phần,
Thờ ông giáo thọ ở gần  Đan Khê.
 Trời chiều hai đứa chăn  về,
2620.-Nghe ai đọc sách, tiếng kề miếu môn.

Hai thằng tuy nhỏ mà khôn.
Tìm vào trong miễu thấy tôn sư ngồi.
Vội vàng quì gối lạy rồi,
Thưa rằng : " Xin dạy hai tôi học hành".
2625.-Tôn Thần khi ấy hiện hình,

Trao cho quyển sách Văn Minh mở lòng
Dạy rằng : "Hai đứa coi chung,
Việc trong kim cổ sẵn dùng nhiều nơi,
Thánh  xưa hiền trước để lời,
2630.-Phò vua, giúp nước, sửa đời, dạy dân.

Học cho biết lẽ vi thần,
Biết niềm vi  tử, giữ phần hiếu trung.
Trước sau  tua khá thìn lòng,
Chớ tham của hoạnh, đừng mong thói tà.
2635.-Nhiều người học đạo Nho  ta,

Tiếng đồn hay chữ, vậy mà làm nhăng.
Bởi vì chẳng xét lòng hằng,
Bỏ quên gốc cội, theo phăn ngọn ngành,
Giàu nghèo có số trời sanh,
2640.-Trau mình ngay  thẳng làm lành mới nên.

Hai con chử dạ cho bền,
Một câu "minh đức" chớ quên thơ nầy.

XXI.- Minh Đức Thi:

Trên là quan trưởng dưới là dân,
Hư tấm lòng rồi, khổ tấm thân.
Đi học phải toan ngăn gốc dục,
Đặng thời  khá kíp mở nguồn ân,
Bốn mùa lạnh ấm  đều theo số,
Trăm họ nghèo giàu  đã có phần.
Xin giữ lòng hằng cho vẹn vẻ,
Một câu "Họa, Phúc"  , để trời cân.

 Dương Trân, Dương Bửu từ đây,
Chịu thầy cho sách, liền xây trở về.
2645.-Bữa đi chăn ngỗng chăn dê,

Sách đem theo học, chẳng hề chơi hoang.
Thường ra trũng cát  bên đàng,
Bẻ cây tập viết giống dàng  chữ xưa.
Ngày liền vào miễu hỏi thưa,
2650.-Mấy câu chữ mắc, lý chưa đặng rành.


*CHÚ  THÍCH :-


2606.- Hoa bút :- tức "bút sinh hoa = 筆生花" . Tương truyền, Lý Bạch, lúc trẻ chiêm bao thấy đầu cây bút của mình trổ hoa. Về sau, ông trở thành một thi hào lớn của Trung Quốc. Hoa bút chỉ tài văn thơ.
2618.- Giáo thọ (thụ) 教授  :- thầy dạy học.
2631.- Vi thần 為臣 :- làm kẻ bề tôi.
2632.- Vi tử 為子:- làm con.
2634.- Của hoạnh :- tức "hoạnh tài 橫財 ", của được bằng cách không chính đáng như của đánh bạc, ăn trộm hay hối lộ.
2642.- Minh đức明德 :- cái đức sáng, chữ trong sách Đại Học dạy người ta phải tu thân làm sáng đức của mình.

*CT Thơ sau câu 2642/7 :- *Vẹn vẻ :- trọn vẹn,vẹn toàn, hoàn toàn tốt đẹp.

2648.- Giống dàng (dường) :- giống như, dường như.
2650.- Mấy câu sách mắc :- mấy câu khó hiểu trong sách.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #57 vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:29:20 PM »

(tiếp theo)

Học hành mình biết cho mình,
Mẹ nhà cùng cậu sự tình nào hay.

*
* *

Xày đà  hơn một năm chầy,
Tôn sư đến ấy hết bày vẽ chi.
2655.-Lần hồi ngày tháng qua đi,

Vừa nên tám tuổi, gặp kỳ Trùng Dương.
Người xưa gặp tiết Trùng Dương,
Đều lên chơi núi, lánh đường họa tai.
Có thày dạy học cao tài,
2660.-Tên là Trình Kiệt ở ngoài Hạc Lâu.

Làm người ở ẩn khôn cầu,
Gió trăng vui thú, công hầu mặc ai.
Thường đi non nước chơi hoài,
Uống ba chén rượu, ngâm vài câu thi.

XXII.- Ngâm rằng :-

Cảnh xuân trả, mượn,  mấy mươi điều.
Gấm nhiễu văn người phải rán thêu.
Trông  tháng ngày Châu, tin phụng vắng,
Buồn non nước Tống, tiếng quyên kêu.
Nhà Nho  leo lét, công đèn sách,
Cửa  Thánh  lờ đờ, phận bọt rêu.
Ôm đạo một lòng, trời đất thấy,
Luống vì bầy trẻ dựng làm nêu.


2665.-Than rằng : " Sanh chẳng gặp thì,

Phải cam ở dưới cán kỳ tư văn.
Một lòng giữ mối đạo hằng.
Trau lời thế giáo, cằm dằn nhân luân.
Phút đâu gặp bữa thanh thần,
2670.-Thật ngày trùng cửu, là phần Quý  Thu.

Đem bầy trò nhỏ ngao du,
Tới non Cẩm Thạch, ở đầu   Đan Khê.
Nghĩ xem phong cảnh ra đề,
Thấy hai ông lão ngồi kề trên non.
2675.- Lại xem bên mé  suối Son,

Thấy bầy hươu chạy như tuồng binh đi.
Ra hai câu đối nên kỳ,
Các trò ngơ ngáo, đáp chi xong lời.
Dòm nhau tự nghĩ đối chơi,
2680.-Phút đâu Trân, Bửu, tới nơi xem tường.

Trân rằng : " Câu đối cũng thường,
Tôi xin đáp lại coi dường sức nao".

XXIII.- Tôn Sư Xuất Đối Đề:

[ Chữ "mạo ", chữ "điệt ", hai ông Lão  tử ngồi trên.]

*Dương Trân Đáp Đối Đề:

[Đàn "sắt ", đàn "cầm ", bốn kẻ Vương tôn đứng trước]

Dương Trân đối một câu rồi,
Lại thêm Dương Bửu đối bồi một câu.

XXIV.- Tôn Sư Xuất Đối Đề:

["Hùng hổ tỳ hưu ", nhà tướng sao kêu   muôn đội.]

*Dương Bửu Đáp Đối Đề:

["Long lân qui phụng " , nước vua sao  gọi bốn linh.]

2685.- Thầy Trình xem thấy  nên kinh,
Khen cho hai gã tiểu sinh thần đồng.
Thầy bèn gạn hỏi thủy chung,
Liền theo hai gã thẳng xông về nhà.

*
* *

Anh em Trân, Bửu về nhà,
2690.-Thưa cùng cậu, mẹ, đều ra mừng thầy,

 Cùng nhau chuyện vãn tỏ bày,
Rượu cơm thiết đãi, trọn ngày vầy vui.
Người trong làng xóm tới lui,
Mới hay họ Đỗ có nuôi thần đồng,
2695.-Thầy rằng : " Nay dám bày lòng,

Xin nuôi hai trẻ theo dòng Nho  gia,
Hạc lầu về ở cùng ta,
Học cho biết đạo ngỏ ra giúp đời".
Đỗ Nương , Đỗ Khoái vâng lời,
2700.-Đành cho hai trẻ theo nơi Hạc lầu.


*CHÚ  THÍCH :-

2656.- Trùng dương  重陽:- hay "trùng cửu 重九" ngày mùng chín tháng chín âm lịch.
2662.- Công hầu :- hai tước đầu trong năm tước của  triều đình (công, hầu, bá, tử, nam五爵
 = 公﹑侯﹑伯﹑子﹑男。).


*Thơ sau câu 2664/3:-


*Trông tháng ngày Chu, tin phụng vắng :- *ngày Chu :- ngày tháng thanh bình của thời Chu Vũ Vương; *Phụng 鳳:- (phượng) chim phụng hoàng 鳳凰, khi xuất hiện thường mang theo điềm lành.

*Buồn non nước Tống, tiếng quyên kêu :-

 *Buồn non nước Tống :- nước Tống thời Cung Đế 恭帝, bị Mông Cổ  tiêu diệt;

Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông (廣東) trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế (宋恭帝) lại phía sau. Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế. Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị (趙昰), mới 9 tuổi, và được phong làm hoàng đế Đoan Tông (端宗); vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan (銀礦灣 hay Mai Oa, 梅窩) ở Đại Tự Sơn (大嶼山) và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông (xem thêm Tống Vương Đài). Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính (趙昺), mới 7 tuổi, lên kế vị. Ngày 19 tháng 3, 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng, Nhai Sơn hải chiến (崖山海戰), chống lại người Mông Cổ ở đồng bằng sông Châu Giang (珠江三角洲). Một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn. (Xem: Tống Vương Đài). người sau đời đời nhớ ơn

 *Quyên 鵑:- tức chim đỗ quyên杜鵑 鳥, còn gọi là "từ quy" hay "đỗ vũ 杜宇".

Đỗ Quyên là một loại chim còn gọi là Tử Quy hay nôm na là chim Cuốc. Đầu mỏ chim hơi cong,miệng to,đuôi dài,lông lưng màu tro,bụng trắng có một đường đen thẳng ngang.Thường lủi trong bụi rậm,dưới ao sâu hoặc hồ rộng.Cuối Xuân sang Hè thì bắt đầu kêu vào đêm trăng mờ tịch mịch ở nông thôn.Giọng kêu buồn thảm,gợi lòng khách lữ thứ nhớ nhà ,nhớ quê hương.Truyền thuyết,Thục Đế孰帝,vua nước Thục tên Đỗ Vũ杜宇 (hiệu là Vọng Đế 望帝) thông dâm với vợ của bầy tôi là Biết Linh 鱉靈.Tức giận ,Biết Linh dấy loạn ,đem quân đánh phá kinh thành ,Thục Đế thất bại,mất ngôi chạy trốn vô rừng.Nhục nhã,buồn tủi,nhớ ngai vàng,nhớ nước,Thục Đế chết hóa thành chim Đỗ Quyên ngày đêm kêu “cuốc,cuốc” hay “quốc,quốc”. Quốc,quốc do mượn âm "cuốc,cuốc".

 

Chim cuốc

Cả câu ý nói : buồn cảnh đất nước bị họa xâm lăng.

2666.- Tư văn 資文:- chỉ nhà Nho. *Cầm cờ tư văn :- ở đây chỉ người dạy học trò (theo đạo Nho).
2668.- Thế giáo世教 :- Lời dạy đời nầy qua đời khác, ở đây chỉ đạo Nho.
2669.- Thanh thần 清晨 :- trời vừa sáng, chỉ ban mai.
2670.- Quý thu 季秋 :- cuối thu.

*CT  câu đối sau câu 2682:-

* [ Chữ "mạo =耄", chữ "điệt = 耋".=, hai ông lão = 老 tử ngồi trên.]

*Ghi chú:- Chữ mạo =耄" và  chữ "điệt = 耋 đều có chữ Lão老  ở trên.

*Dương Trân Đáp Đối Đề:

[Đàn "sắt = 瑟", đàn "cầm = 琴", bốn kẻ vương王 tôn đứng trước]

*Ghi chú:- Chữ sắt = 瑟" và chữ  "cầm = 琴 mỗi chữ có hai chữ Vương王

Đây là hai câu đối dựa theo lối "chiết tự" (chơi chữ của chữ Hán.

["Hùng hổ tỳ hưu = 熊虎貔貅", nhà tướng sao kêu   muôn đội.]

*Dương Bửu Đáp Đối Đề:

["Long lân qui phụng 龍麟龜鳳" , nước vua sao  gọi bốn linh.]

*Hùng :- con gấu; *Hổ :- con cọp; *Tỳ và Hưu là hai loại thú dữ. Ở đây chỉ các tướng dũng mãnh.
*Long龍 :- con rồng,*Lân麟 :- con kỳ lân; *Qui 龜:- con rùa; *Phụng鳳 :- chim phụng. Bốn con vật quí, thiêng (tứ linh).

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:32:10 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #58 vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:39:22 PM »

(tiếp theo)

 Hạc lầu là chốn Nho  lưu,
Ra công mài ngọc, trọn  cầu vẻ văn.
Anh em Trân, Bửu hai thằng,
Nay đà khỏi việc nhọc nhằn ngỗng, dê.

2705.-Theo thầy Trình Kiệt ra về,
Đua nhau gắng sức học nghề văn chương,
Hôm mai ở chốn thơ đường,
Bao nhiêu sĩ tử đều nhường ngôi trên.
Nói ra thơ phú liền nên,
2710.- Sách coi qua mắt, chẳng quên câu nào.

Cho hay tuổi nhỏ tài cao,
Thông minh hẳn có trời trao tánh tình,
Đến khi đọc sách Thi Kinh,
"Lục Nga" thơ ấy động tình xiết bao !
2715.-Gẫm trong chín chữ cù lao,

Cảm  ơn cha mẹ,  no nao đặng đền.
Chạnh lòng buông tiếng khóc lên.
Giòng châu lai láng thấm trên sách dày.

*
* *

Anh em lạy  tạ ơn thầy,
2720.-Trở về viếng mẹ,  chầy ngày cách xa.

Nương  rằng : " Mừng thấy con ta,
Bấy lâu thương nhớ, mình già thêm suy,
Kể từ hai trẻ ra đi,
Ba năm học đạo, biết gì cùng không?
2725.-Mẹ đà mòn mỏi lòng trông,

Nương  lều, dựa cửa, bỏ công tháng ngày".
Thưa rằng : " Đạo Thánh  kể bày :
Làm con thảo thuận, tiếng hay xa đồn.
Thường xem trong sách Thánh  môn,
2730.-Hai mươi bốn thảo, mới tròn người hay.

 Ngưỡng trông trời rộng đất dày,
Ơn cha, nghĩa mẹ, sánh tày lưỡng nghi.
Ấu thơ còn chửa biết gì,
Lớn khôn lòng rất yêu vì hai thân,
2735.-Ngày xưa trong miễu Hà Phần,

Hai con hỏi việc phụ thân đã rồi.
Hiềm vì non nước xa xôi,
Phận nhà khó đói , ngùi ngùi khôn đi.
Bây giờ nhờ có cậu đây,
2740.- Con xin lên chốn am mây hỏi tìm".

 Đỗ Nương  nghe mấy lời êm,
Mày châu, mặt ủ, lại thêm buồn lòng.
Than rằng : "Mình những luống trông,
Thấy con  lại chẳng thấy chồng ở đâu !
2745.-Am mây  tách đã  xa  lâu,

Mất còn hai lẽ, ai hầu thông tin!
Hai con dạ thảo  lăm đền,
Biết bao giờ đặng mặt nhìn thấy cha ?"
Nói thôi nước mắt nhỏ sa,
2750.-Anh em Trân, Bửu, đều hoà khóc than!


*CHÚ  THÍCH :-


2701.- Nho lưu儒流 :- phái nhà Nho.

2713.- Thi Kinh 詩經:- ( tức kinh Thi) tên một bộ sách ghi những câu ca dao, bài hát cổ ở Trung Quốc. Gồm 3000 thiên, sau Khổng Tử sanh định lại còn 305 thiên, chia làm bốn thể :- quốc phong 國風, tiểu nhã小雅, đại nhã大雅và tụng頌.

2714.- Lục Nga蓼莪:- Thiên Lục Nga thuộc phần Tiểu Nhã小雅 trong Kinh Thi , gồm 6 chương nói về công ơn cha mẹ và phận làm con.

《詩經•小雅•蓼莪》:「蓼蓼者莪,匪莪伊蒿,哀哀父母,生我劬勞。」

《Thi Kinh •Tiểu Nhã •Lục Nga 》:「lục lục giả nga , phỉ nga y hao  , ai ai phụ mẫu , sinh ngã cù lao .」(dài lớn là cỏ nga, cũng gọi là cỏ hao, thương thay cha mẹ, nuôi ta biết bao)

2715.- Chín chữ cù lao (劬勞九字) :-chín chữ gồm :-

1.- SINH 生(đẻ)  2.- CÚC 鞠  (nuôi) 3.- PHỦ 拊(vỗ về) 4.- SÚC 蓄(nuôi dưỡng) 5.- TRƯỞNG 長(nuôi cho lớn)  6.- DỤC  育(ấp ủ) 7.- CỐ 顧 (ngoái lại)   8.- PHỤC 復 (trở lại)    9.- PHÚC 腹 (ẳm vào lòng).

*Chín chữ cù lao chỉ công lao cực khổ của cha mẹ nuôi dạy con cái.

2730.- Hai mươi bốn thảo :- hai mươi bốn gương hiếu thảo trong sách "Nhị thập từ hiếu =二十四孝 " của Quách Cư Kính 郭居敬, đời Nguyên soạn.

*Hai mươi bốn gương :-

1.   Ngu Thuấn (虞舜): hiếu cảm động trời
2.   Lưu Hằng (劉恆, tức Hán Văn Đế): người con nếm thuốc
3.   Tăng Sâm (曾參): mẹ cắn ngón tay, tim con đau xót
4.   Mẫn Tổn (閔損): nghe lời mẹ với quần áo đơn giản
5.   Trọng Do (仲由): vác gạo nuôi cha mẹ
6.   Đổng Vĩnh (董永): bán thân chôn cha
7.   Đàm Tử (郯子): cho cha mẹ bú sữa hươu
8.   Giang Cách (江革): làm thuê nuôi mẹ
9.   Lục Tích (陸績): giấu quýt cho mẹ
10.   Đường phu nhân: (唐夫人) cho mẹ chồng bú sữa
11.   Ngô Mãnh (吳猛): cho muỗi hút máu
12.   Vương Tường (王祥): nằm trên băng chờ cá chép
13.   Quách Cự (郭巨): chôn con cho mẹ
14.   Dương Hương (楊香): giết hổ cứu cha
15.   Châu Thọ Xương (朱壽昌): bỏ chức quan tìm mẹ
16.   Dữu Kiềm Lâu (庾黔婁): nếm phân lo âu
17.   Lão Lai tử (老萊子): đùa giỡn làm vui cha mẹ
18.   Thái Thuận (蔡順): nhặt dâu cho mẹ
19.   Hoàng Hương (黃香): quạt gối ấm chăn
20.   Khương Thi (姜詩): suối chảy cá nhảy
21.   Vương Bầu (王裒): nghe sấm, khóc mộ
22.   Đinh Lan (丁蘭): khắc gỗ thờ cha mẹ
23.   Mạnh Tông (孟宗): khóc đến khi măng mọc
24.   Hoàng Đình Kiên (黃庭堅): rửa sạch cái bô đi tiểu của mẹ

2732.- Hai nghi :- dịch chữ "lưỡng nghi =兩儀 " gồm âm và dương, chỉ đất và trời.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:44:59 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #59 vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:43:32 PM »

(tiếp theo)

Thưa rằng : " Mẹ hãy tạm an,
Hai con mai sẽ lên đàng am mây".
Đỗ Nương  lòng cũng ưng vầy,
Sắm ăn cho trẻ, phen nầy tầm cha.

*
* *

2755.- Vân Am  đường sá đi  xa,
Cảnh chùa  xài xạc, có  ba Sãi mầm.
Anh em Trân, Bửu tới tầm,
Hỏi thăm tên họ, Sãi mầm nói  ngay :
Nói rằng : "Hơn tám năm nay,
2760.- Thiện Trai thầy ấy chơi mây không  về.

 Thuở đi có chuỗi bồ đề
Lâu nay chẳng biết cầm về tay ai".
Hỏi rằng : " Hòa Thượng là ai?"
Đáp rằng : " Cũng đã chơi ngoài phương Tây".
2765.-Hỏi rằng : "Thầy Cả ở đây…?"

Đáp rằng : " Vốn thật Sãi nầy chớ ai
Bây là con nít nhà ai,
Khéo đem chuyện cũ hỏi hoài chẳng thôi  ?".
Chùa nầy không chuối không xôi,
2770.-Không nhang dầu cúng, nào rồi nói chi!"

 Anh em khôn xiết sầu bi,
Dạo coi bàn Phật một khi khuây lòng.
Thấy chùa thờ bức tượng Ông,
Nhện giăng, bụi đóng, kệ không hương đèn.
2775.-Anh em thấy tượng liền khen,

Khen rồi lại cảm, hiệp bèn làm thơ,
Cùng nhau xướng hoạ một giờ,
Tặng ông Quan Đế bài   thơ ngâm rằng :

XXV.- Ngâm rằng :

Tấm lòng ngay chúa thấu trời cao,
Năm ải khôn ngừa một lưỡi đao.
Núi Đất ba lời gìn nghĩa Hán,
Sông Vàng hai trận trả ơn Tào.
Quyển kinh bát loạn tay không mỏi,
Ngọn đuốc phò nguy gió chẳng xao.
Phải thuở Kinh châu ngồi giữ chặt,
Nguỵ, Ngô hai nước há nài sao?

Ngâm rồi bèn lấy cục than,
2780.- Viết vào tấm vách rõ ràng tám câu.

 Anh em trước án khấu đầu,
Lạy ông Quan Hầu, lui gót trở ra.
Đem nhau vội vã về nhà,
Thưa với mẹ già, đặng tỏ nguồn cơn
2785.-Nương rằng : " Tấc dạ keo sơn,

Thấy con lại nhớ công ơn của chồng.
Tưởng là tách dặm non sông,
Vân Am  hôm sớm ra công tu hành.
Hay đâu còn nỗi lưu linh.
2790.-Trời dài đất rộng, một mình bơ vơ.

 Xiết bao khe suối, bụi bờ,
Nắm xương già rụi, biết nhờ ai chôn ?"
Khóc rồi dùng lễ tang môn,
Mẹ con chịu phục, thờ hồn họ Dương.

*
* *

2795.- Lần hồi ở chốn quê hương,

Anh em Trân, Bửu theo phương học hành.
Tiếng hay đâu cũng biết danh,
Tuổi vừa hai tám, tài danh khác thường.
Xảy nghe trên huyện Nam Khương,
2800.-Tờ đòi sĩ tử tựu trường hạch thi.


*CHÚ  THÍCH :-


*CT   bài thơ sau câu 2778 :-

*Năm ải khôn ngừa một lưỡi đao :- Năm cửa ải của Tào Tháo khó ngăn nổi một lưỡi đao  mở đường của Quan Vũ để đi tìm Lưu Bị.

*Núi Đất ba lời :- ba điều giao ước ở núi Đất (Thổ Sơn 土山). Bị Tào Tháo vây ở núi Đất, Quan Vũ đưa ra ba điều giao ước để đầu hàng :-

1/- Đầu vua Hán chứ không đầu Tào Tháo.
2/- Hai chị dâu (vợ của Lưu Bị) phải được cấp dưỡng theo bổng lộc của Lưu Bị, tuyệt đối người ngoài không được đến cửa.
3/-Hễ nghe Lưu Bị ở đâu thì được phép đi theo.

*Sông vàng hai trận:- chỉ việc Quan Vân Trường hai lần xuất trận chém Nhan Lương và Văn Xú ở sông Hoàng Hà (sông vàng) để tạ ơn Tào Tháo trước khi về với Lưu Bị.

*Kinh bát loạn :- chỉ Kinh Xuân Thu (Xem c.t.  420/3).

*Ngọn đuốc phò nguy :- *Phò nguy (扶危): giúp đỡ khi nguy khốn. Quan Vũ bị thất thủ ở Hạ Bì, phải đầu hàng Tào Tháo. Trên đường về Hứa Đô, khi tạm nghỉ nơi quán dịch, Tào Tháo cố ý sắp đặt cho Quan Vũ và hai chị dâu ở chung một phòng. Đêm đó, Quan Vũ cầm đuốc đứng ngoài cửa canh cho hai chị ngủ đến sáng. Cả câu ý ca ngợi lòng dạ nhất mực thẳng ngay của Quan Vũ.

*Kinh Châu (京州) :- nơi Quan Vũ trấn giữ, bị Tôn Quyền dùng mưu đánh úp và ông bị chết ở đây.
*Ngụy, Ngô 魏 吳 :- hai trong ba nước thời Tam Quốc 三國( Thục Hán, Tào Ngụy, Tôn Ngô). (蜀漢 曹魏 孫吳 )


2794.- Chịu phục :- chịu tang.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, dailuc, tadamina, mavuong, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 01, 2010, 09:46:23 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 3 [4] 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.172 seconds với 24 câu truy vấn.