Tháng Một 25, 2021, 10:49:15 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 2 [3] 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU-- 楊慈何茂 (Bản đầy đủ 3460 câu)  (Đọc 26683 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:47:36 PM »

(tiếp theo)

Nhang đèn, liền đốt bàn Ông,
Nay Già-Lam  Phật sao không đoái hoài ?"
Châu Thương nổi sặc cười dài,
Nói rằng : " Thần, Phật, khác loài nhau xa.
1405.- Quan Hầu vốn thật chúa ta,

Tấm lòng trung chánh ai mà dám đương!
Tiếng khen muôn nước đều nhường.
Trời phong làm chức Thành Hoàng Đại Vương.
Từ rằng : " Ông thật Thành Hoàng,
1410.- Sao trong chùa ấy thờ ông Quan nào ?

Đáp rằng : " "Vì thuở Hán trào,
Có ông Phổ Tịnh kết giao đồng làng.
Chúa ta hiển Thánh  Ngọc Hoàng,
Ông hòa thượng ấy lòng thương  bạn lành.
1415.- Già Lam hai chữ thêm danh,

Rước về chùa Phật, tụng kinh siêu hồn.
Khiến nên thiên hạ tiếng đồn,
Vẽ hình, tượng cốt theo  môn Phù đồ.
Chúa ta chẳng phải đi tu,
1420.-Trong mình giữ vẹn tóc râu tốt lành.

Nói cho sãi rõ sự tình,
Nhắm coi Thần  tướng , Phật hình khác nhau".

*
* *

Nói rồi cỡi  ngựa đi mau,
Dương Từ lơ láo, dàu dàu mày châu.
1425.- Than rằng : " Sự dĩ đáo đầu,

Biết khôn thôi đã tóc râu hết rồi!
Xiết bao chịu những  khúc nôi,
Đến nay mới biết,  lầm ôi là lầm!
Nhớ lời đạo sĩ Tây lâm,
1430.- Chua lè trong dạ, hổ thầm cùng  va.

*
* *
Chín trời nay đã trải qua,
Khắp nơi chẳng có, giờ ta trở về,
Huỳnh  Cân Lực Sĩ đề huề,
Dương Từ, Hà Mậu, ra về chưa xa.
1435.- Đi về khỏi bến Ngân hà,

Gặp ông Thái Ất tuần tra đón đường.
Làm hung bắt trói hai chàng,
Tuốt gươm linh kiếm phòng toan chém đầu.
Huỳnh  Cân Lực Sĩ quì tâu,
1440.-Tín bài  có chữ, xin cầu khoan dung.

Thiên thần coi tín bài   xong,
Cười rằng : " Lũ dại khéo mong lên trời.
Trời đâu cho sãi lên chơi,
Cho quân tả đạo tới nơi dòm hành!
1445.- Lão Nhan là vị Tiên  linh,

Há không rõ đặng sự tình Phong Đô ?
Phong Đô cõi ấy ra vô,
Nhóm nhau những đạo tăng đồ thiếu ai.
Tha bây về động Thiên Thai,
1450.-Thưa cùng Từ Thất vẽ bài  " Phong Đô".



*CHÚ THÍCH :-


1401.- Bàn ông :- Ông tức Quan Hầu, Quan Vũ, Quan Vân Trường; bàn thờ Quan Vũ.
1412.- Phổ Tịnh 普淨:- một nhà sư đồng hương với Quan Vũ. Tương truyền, sau khi Quan Vũ bị giết, linh hồn khôn tan, nhờ Phổ Tịnh tụng kinh mới được siêu thoát.
1418.- Phù-đồ:- xem c.t. 206.
1425.- Sự dĩ đáo đầu 事以到頭:- việc đã đến lúc kết thúc.
1427.- Khúc nôi :- (hay khúc nhôi) nỗi niềm, tình cảnh.
1435.- Ngân hà 銀河:- còn gọi là Thiên Hà, Thiên Hán, Thiên Giang; tên gọi dải sao dày đặc vắt ngang trời, trông mờ mờ như dòng sông bạc.
1444.- Tả đạo 左道:- đạo trái, đạo tà. Ở đây chỉ đạo Thiên Chúa.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Mười Một 26, 2010, 09:31:06 PM »

(tiếp theo)

Bày rồi hai chữ Phong Đô.
Kíp đi chẳng khứng nói phô rõ ràng.
Huỳnh  Cân Lực Sĩ vội vàng,
Kíp đem hai họ về đàng đài Dương.

*
* *

1455.- Thứ nầy đến thứ sư đường,

Lão Nhan ngồi chốn đài Dương đợi chờ.
Đánh tay đã đủ chín giờ,
Đốt bùa, niệm chú, như xưa hoàn hồn.
Dương Từ, Hà Mậu hoàn hồn,
1460.-Giựt mình thức dậy, thấy Tôn sư ngồi.

Hai người tỉnh lại hỡi ôi!
Vội vàng xuống lạy một hồi tạ ân.
Tôn sư đứng dậy lui chân,
Trở về hậu viện dưỡng thần thảnh thơi.
1465.- Hỏi rằng : " Hai gã lên trời,

Tầm đà thấy đạo ở nơi cửa nào ?
Thưa rằng : " Chẳng có âm hao,
Cũng không tông tích nơi nao đặng tường.
Cho hay chín cõi thiên đường,
1470.-Ngôi thần, ngôi Thánh , phô trương đã rành.

Hai tôi có gặp thần linh,
Rằng :"  Tôn sư rõ sự tình Phong Đô.
Vẽ rồi hai chữ Phong Đô,
Kíp đi không khứng nói phô rõ ràng.
1475.- Hai tôi nghe cũng chưa tường,

Xin  thầy chỉ vẽ mọi đường Phong Đô".

*
* *

Sư rằng : " Nơi chốn Phong Đô,
Cầm cân phước tội, trị đồ hung hoang.
Tục kêu rằng : " Chốn Diêm quan,
1480.-Ở miền âm phủ sửa sang việc đời.

Hai người trước đã lên trời,
Nay toan xuống đất mõi  hơi, nhọc mình".
Thưa rằng : " Rõ đặng sự tình,
Dầu cho nhắm mắt, vong linh cũng đành,
1485.- Xin thầy thương kẻ ngu sanh,

Mở đường chỉ ngõ, hết tình thời thôi".
Tôn sư nghe biết ý rồi,
Liền đem hai họ tới ngôi  Âm đài.
Trong đài có tấm bia bài .
1490.-Chạm  câu "Địa quật hữu giai" rõ ràng.

Dưới đài có một cái hang,
Dòm vào lạnh lẽo, thấy đàng tối tăm.
Dương Từ, Hà Mậu lo thầm,
Phen này xuống đất nguyện tầm cho ra.
1495.- Bên hang có tấm đá hoa,

Khảm vào bốn chữ "Nam Kha mộng sàng".
Hai người lên đá nằm an.
Tôn sư làm phép ròng ban như lời.
Tạo Y qủy sứ một người,
1500.- "Cấp như luật lịnh.."  tới nơi ứng hầu.


*CHÚ THÍCH:-


1464.- Dưỡng thần 養神:- tĩnh dưỡng tinh thần.

1490.- Địa quật khả giai 地窟可階 :- có hang đi xuống dưới lòng đất. (Đất ở đây chỉ địa ngục)

1496.- Nam Kha mộng sàng 南柯夢床 :- giường mộng Nam Kha. Thuần Vu Phần淳于棼 đời Đường 唐朝 ở đất Quảng Lăng廣夌, nằm mộng thấy đến nước Hòe An 槐安國, lấy công chúa, làm Thái Thú quận Nam Kha 南柯郡太守trong 20 năm rất vinh hiển. Sau đánh giặc bị thua, công chúa qua đời, bị vua nghi kỵ đuổi về làm dân. Vu Phần tỉnh mộng, thấy mình nằm dưới gốc cây hòe, cành phía Nam có một tổ kiến lớn. Thì ra, Hòe quốc chính là cây hòe, Nam Kha là cành phía Nam có tổ kiến. Giấc Nam Kha chỉ giấc mộng.

Người bi quan xưa cho cuộc đời là hư ảo như giấc mộng.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, mavuong, anhlam, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Mười Một 26, 2010, 09:35:01 PM »

(tiếp theo)

Dặn rằng : " Chớ khá ở lâu,
Mười giờ đi hết, đem nhau trở về.
Ban cho một cái thẻ đề,
Cầm giơ  các cửa đặng bề đi thông.
1505.- Tôn sư dặn bảo vừa xong,

Tạo Y qủy sứ ra công đem đàng.
Dương Từ, Hà Mậu hai chàng,
Hồn  theo tên ấy xuống đàng Âm ty.
Xuống vừa tới cõi Âm ty,
1510.- Mắt nhìn cảnh vật khác thì nhân gian.

Mờ mờ  một cõi quan san,
Mây sầu gió thảm chàng ràng trêu ngươi.
Tạo Y trước dặn hai người,
Đàng đi âm phủ nhiều loài yêu ma.
1515.- Tay chơn mình mẩy người ta,

Đầu trâu mặt ngựa, tên là Dạ Xoa
Dạ Xoa giữ việc gian tà,
Người nào mắc tội cho tra hành hình.
Có quân ngăn đón lộ trình,
1520.- Tên là Qủy Tốt cái mình lạ thay!

Lớn  đầu, vắn cẳng, dài tay,
Xủ tai, lồi mắt, mũi dài, răng to.
Cho hay nó thật hung đồ.
Thấy sao hay vậy, chó phô hỏi gì.
1525.- Có ta vâng lệnh đem đi,

Lòng nghi muốn hỏi việc gì, nói cho.

*
* *

Phút đâu đi đến bến đò,
Bến đò đưa rước chẳng lo tốn tiền,
Bia  đề hai chữ "Huỳnh Tuyền",
1530.-Người qua, kẻ lại, liên miên tối  ngày .

Người kêu "Chín Suối " gớm thay,
Chín kia số hết, suối nầy đưa qua.
Qua vừa khỏi bến đò ,
Thấy bầy chó dữ ngăn ngừa đường đi.
1535.- Xa xa vằn vện đen sì,   
           
Hằm hằm đứng sủa dị kỳ rất hung.
Bên đường thấy tấm bia  phong,
Chạm ba chữ vòng rằng  :  “Ác Cẩu Thôn”.
Có quân qủy tốt đương môn,
1540.-Người đi qua lại, ỷ khôn dám kề.

Tạo Y giơ cái thẻ đề,
Đem nhau mới đặng một bề đi xuôi.
Hòa đi  hòa  ghé mắt coi,
Thấy quân qủy tốt giơ roi đánh người.
1545.- Dẫn ra một lũ vài mươi,

Kêu là thầy pháp dối người thế gian.
Người đau chẳng dụng thuốc thang,
Lòng tham tiền bạc, bày đàng chữa chuyên,.
Khoe khoang nhiều phép linh thiêng,
1550.-Phỉnh treo trang khoán,  ăn tiền đứa ngu.


*CHÚ THÍCH :-


1512.- Chàng ràng :- xem c.t. 1038.
1516.- Dạ Xoa 夜叉:- tiếng Phạn là YAKCHAS, âm là "dược xoa 藥叉", tên một loài quỷ xấu xa, hung ác.
1518.- Va :- đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít. Nó, hắn, ông ta, y.

1529.- Huỳnh (hoàng) tuyền 黃泉 :- suối vàng, tức âm phủ.
1531.- Chín suối:- dịch chữ "cửu tuyền = 九泉", tức âm phủ.

1532.- Chín kia số hết :- theo Kinh Dịch, hào dương được gọi là "hào cửu" (9); hào âm được gọi là "hào lục" (6). Số chín (9) tượng trưng cho số dương. *Chín kia số hết ý nói số phần ở dương gian đã hết (chết).

1543.- Hòa  :- xem c.t. 503.

1550.- Trang, khoán:- *Trang là cái khám thờ; *khoán là hình thức chữa bệnh bằng phù phép, huyền bí (cầm nhang quơ xoay chỗ, người bệnh). Cả câu chỉ việc bọn thầy pháp lợi dụng mê tín ăn tiền những kẻ khờ dại, mê tín.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, mavuong, anhlam, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Mười Một 26, 2010, 09:38:26 PM »

(tiếp theo)

Bày đều đóng ấn vẽ phù,
Láo sai binh tướng,  bắt tù Long Vương.
Nhà dân cúng đất lẽ  thường,
Dám kêu tên "Đế Ngũ Phương" ngán ngầm.
1555.- Làm cho đời mắc lỗi lầm,

Ấy là loạn đạo,  tội dầm ngày sau.
Để bầy chó dữ đua nhau,
Xé thây lũ ấy nhai đầu ăn gan.
Hai người coi thấy càng thương,
1560.-Đi qua khỏi cửa hỏi chàng Tạo Y.

Hỏi rằng : " Thầy pháp tội chi?
Cho bầy chó dữ một khi hành hình ?
Đáp rằng : " “Thầy pháp nó khinh
Dối trong trời đất, chư linh chẳng vì.
1565.- Đời xưa pháp lục  ai bì,

Trừ ma ếm qủy, việc gì cũng hay.
Lão Quân từ mất sách  nay,
Đời sau bắt chước đặt  bày phép xiên”.
Nói rồi vội vã đi liền,
1570.-Khỏi nơi Ác Cẩu gần miền Đạo San.

*
* *

Đạo San Địa Phủ”  chữ vàng,
Bia  dựng bên đàng,  ai thấy cũng kinh.
Núi non đá mọc như binh,
Bày ra sắc lẻm những  hình gươm  đao,
1575.- Có quân qủy tốt lao xao,

Đón đường tra hỏi, ai nào dám qua,
Tạo Y giơ cái thẻ ra,
Đi qua cửa khác, liếc mà xem coi,
Thấy quân qủy tốt cầm roi,
1580.-Dẫn thầy địa lý hỏi đòi chứng tra.

Tra rồi dẫn các thầy ra,
Kể bao nhiêu tội cho va nghe cùng.
Nhà ai rủi mắc tai hung,
Phỉnh đi coi đất đặng mong ăn tiền.
1585.- Khoe khoang rằng : " Học phép Tiên ,

Tầm long điểm huyệt, chôn liền giàu sang.
Ai mà chẳng dụng địa bàn,
Chôn nhằm cuộc xấu, ắt mang tai trời.
Lấy câu phú quí gạt đời,
1590.-Bày nơi ngũ hoạn, chỉ nơi lục thần.

Khiến cho thói chuộng lăng nhăng,
Coi thân cha mẹ rẻ bằng cỏ tranh.
Người thời tham chữ công danh,
Thác không chôn cất, để dành thầy toan.
1595.-Người thời  ham việc giàu sang,

Theo thầy tìnm đất,  để quàn lâu năm.
Nghĩ điều hoặc thế mà câm,
Tội kia đã đáng vào đầm  Đao San.
Dạ Xoa đứng dưới Đao San,
1600.-Bắt thầy địa lý quăng ngang trên hình.


*CHÚ THÍCH :-

1552.- Long Vương  龍王:- Thần cai quản sông, biển, thần làm mưa.

1561.- Pháp lục 法錄  :sách ghi chép về bùa chú pháp thuật của thầy pháp (đạo sĩ); ở đây chỉ thầy pháp.
1566.- Ếm quỷ:- dùng pháp thuật để trừ quỷ (theo mê tín).

太上老君,生卒年不詳。字伯陽,謚曰聃,春秋時楚國苦縣人。曾任周朝守藏室之史。主無為之說,後世以為道家始祖。孔子嘗往問禮,著有《道德經》五千餘言。現今社會各行業中,如:鐵匠、煤窯匠、碗筷匠、磨刀匠、蹄鐵匠等,皆祭拜老子為祖師爺。亦稱 為伯陽、太上老君、老聃、老君、老子、老子道君、李伯陽、李老君。

1567.- Lão Quân 老君:- tức Lão Tử, được đệ tử tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân 太上老君. Họ Lý李, tên Nhĩ 耳, tự là Bá  Đương 伯當, tên thụy là Đam 聃, người ở huyện Khổ đời Xuân Thu , từng nhận chức quan Tàng Thất (giữ sách) của Nhà Chu .Đồng thời với Khổng Tử, Khổng Tử có đến hỏi về Lễ với Lão Tữ. Ngài có truyền lại quyển "Đạo Đức Kinh道德經" và được tôn là thủy tổ của Đạo Gia 道家. Thế gian thờ Ngài làm Tổ sư của nhiều ngành nghề.

1586.- Tầm long, điểm huyệt  尋龍點穴;- tầm long là tìm mạch đất tốt; điểm huyệt là tìm chỗ kết phát của mạch đất đó để chôn cất người chết, mong con cháu sẽ được phát đạt. Đây là thuật ngữ của môn phong thủy.
1588.- Cuộc xấu:- cuộc đất xấu, thoe quan niệm phong thủy.

1590.- Ngũ hoạn, lục thần 五患六神:- *Ngũ hoạn 五患(hay ngũ quỷ 五鬼) là tên các vị thần hung bạo, làm hại. Đó là : ( 荳仁 ) Đậu Nhân, ( 李凱 ) Lý Khải, ( 張五) Trương Ngũ, ( 十泰 ) Thập Thái, ( 褚銳 ) Trử Nhuệ.

*Lục thần六神 là tên sáu vị thần gồm: Thanh Long青龍 ( cổ đại gọi là Thương Long 蒼龍), Bạch Hổ白虎, Châu Tước朱雀, Huyền Võ玄武, Đằng Xà謄蛇, Câu Trận勾陳 (Trần).

*Ngũ hoạn, lục thần :- những vị thần do các thầy địa lý đặt ra.

1597.- Hoặc thế (惑世) :- lừa dối đời.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, mavuong, anhlam, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Mười Một 26, 2010, 09:42:22 PM »

(tiếp theo)

Núi non, đao kiếm gập ghình,
Quăng lên lăn xuống, thân hình còn chi ?
Hai người mắt thấy ai bi,
Buông lời mới hỏi Tạo Y  vội vàng:
1605.- “Chẳng hay phong thuỷ mấy chàng,

Tội chi mắc phải Đao San hành hình ?”
Đáp rằng : " “Trong số tử sanh,
Trời đà định trước, ai trành đặng đâu.
Từ xưa vua Vũ làm đầu,
1610.-Phép bày địa lý để âu trị đời.

Đến sau phong thuỷ các nơi,
Học đòi coi đất, đua bơi tài nghề,
Bày ra làm sách xằng xê,
Lập phương định hướng, làm bề võng khi.
1615.- Đua nhau cải số trời đi,

Khiến người mắc phải tai  nguy một dòng”.

*
* *

Nói rồi dời bước thẳng xông.
Dương Từ, Hà Mậu ra công hỏi tìm.
Đi vừa đến bến sông Diêm,
1620.-Thấy cái cầu nghiềm, không lót ván đi.

Bắc ngang qua một cái cây,
Dưới cầu những rắn hổ mây, mãng xà.
Giơ mồng, bày tích, như hoa,
Ngóc đầu đua  lội,  vô ra dập dìu.
1625.- Bia  đề là "Nại Hà Kiều",

Ai mà có phước, quỷ dìu dắt qua.
Ai mà có tội đem ra,
Qủy xô xuống đó, mảng xà cắn thây.
Có quân qủy tốt đông dầy,
1630.-Đón người qua lại cầu này hỏi tra.

Tạo Y giơ cái thẻ ra,
Qủy đều vâng lịnh dắt qua khỏi cầu.
Dạ Xoa chẳng biết ở đâu,
Dẫn ra một lũ trọc đầu đem đi.
1635.- Dương Từ trông thấy lòng nghi,

Khuyên theo chậm bước một khi xem tường.
Bốn mươi  thầy sãi rõ ràng,
Cổ gông, tay trói, lang thang áo quần.
Qủy đi cầm thẻ rao rân,
1640.-Nói rằng :"  thầy sãi trau  thân điếm đàng.

Kể từ sống ở dương gian,
Sợ xâu, trốn thuế, tìm đàng đi tu;
Vô chùa làm chước cạo đầu,
Trốn vua theo Phật, muốn cầu rảnh tay.
1645.- Ghe phen cúng vái làm chay,

Liền ngồi chẩn tế, việc bày đặt ra.
Cho đi phổ khuyến người ta,
Bán rao tiếng Phật khắp nhà chúng sanh.
Bày đường nói kệ, nói kinh,
1650.-Đúc chuông, tượng Phật, rập rình ra vô.



*CHÚ THÍCH :-


1609.- Vua Vũ 偊 tức  Hạ Vũ 夏禹( 2205 BC – 2198 BC) Tên khi sinh của ông là Tỉ Văn Mệnh ( 姒文命), thường được gọi là Đại Vũ (大禹).

Theo truyền thuyết, vua Vũ là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc, được coi là người sáng lập ra triều đại này. Ông được nhớ tới nhiều nhất với tư cách là người đã có công phát triển kỹ thuật trị thủy chinh phục các sông ngòi Trung Quốc.

Cha Vũ là Cổn (鯀) được vua Nghiêu (堯) sai đi trị thủy nhưng không thành công nên bị người kế tục vua Nghiêu là Thuấn (舜) xử tử. Tiếp tục công việc của cha, Vũ đã đào chín sông mới, khai thông 9 tuyến đường núi lớn, bỏ ra mười ba năm và khoảng 20.000 nhân công để hoàn thành nhiệm vụ.

Vũ cũng là người nổi tiếng về tính kiên trì và kiên quyết. Ông được kính trọng như một vị vua hoàn hảo. Các câu chuyện về công việc trị thủy của ông cho rằng trong thời gian làm việc, ông đã ba lần qua nhà mà không vào; có nghĩa là ông coi vấn đề trị thuỷ quan trọng hơn việc gia đình rất nhiều.
Vua Thuấn rất ấn tượng trước những nỗ lực của Vũ và đã đưa ông lên ngôi chứ không phải con trai mình là Thương Quân.

Lăng mộ được xây dựng ở Cối Kê để tưởng nhớ ông. Một số hoàng đế sau này đã đi tới đó thực hiện các nghi lễ tưởng niệm ông, đặc biệt có cả Tần Thuỷ Hoàng秦始皇. Lăng Đại Vũ (大禹陵), cũng đã được xây dựng trên di tích nơi các buổi lễ đó được thực hiện.

Trước thời vua Vũ, ngôi vua được kế tiếp cho người nào được cộng đồng coi là có đạo đức cao nhất, chứ không phải là truyền cho con. Ban đầu, Hạ Vũ đã chọn người hiền tài là Cao Dao 高瑤thay mình, nhưng Cao Dao mất sớm nên ông chọn con Cao Dao là Ích益.

Theo chính sử, con trai vua Vũ, Khải (啟), đã chứng minh được khả năng của mình, được nhiều người ủng hộ hơn Ích và trở thành người thừa kế ngôi báu của cha, đánh dấu sự khởi đầu của một triều đại mới là nhà Hạ (夏), triều đại đầu tiên của phong kiến Trung Quốc. Nó đã trở thành một hình mẫu cai trị dựa trên thừa kế ở Trung Quốc.

1614.- Võng khi :- *Võng 罔 : lừa dối ,càn dỡ, bậy bạ; *khi欺 : dối trá; *võng khi : dối trá, bậy bạ.
1619.- Sông Diêm 閻:- sông ở âm phủ.
1620.- Cầu nghiềm :- cái cầu để sẵn, để hờ.
1622.- Mãng xà蟒蛇:- loài rắn dài lớn (trăn).
1623.- Mồng, tích:- *Mồng : cái mào; *Tích :  hai miếng da lòng thòng bên dưới tai con vật.
1625.- Nại Hà Kiều (奈何橋) :- cầu bắc qua sông Nại Hà, một con sông ở địa ngục. "Nại hà 奈何" nghĩa là không biết làm sao được . Theo quan niệm mê tín, linh hồn  người bạc ác, khi chết bắt buộc phải đi qua cầu nầy.
Còn theo địa danh thì sách Thanh nhất thống chí ghi  : cầu Nại Hà ở trên Nại Hà, cách huyện Tôn Thái, tỉnh Sơn Đông một dặm về phía Tây.

1645.- Ghe phen:- xem c.t. 371.

1646.- Chẩn tế賑祭:- cứu giúp.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, mavuong, anhlam, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Mười Một 26, 2010, 09:47:26 PM »

(tiếp  theo)

Miệng thời niệm chữ Nam- mô,
Mắt xem gắm ghé mấy cô đi chùa.
Áo cơm khỏi tốn tiền mua,
No lòng ấm cật, lại đua thói xằng.
1655.- Tham câu sắc dục ai bằng,

Lòng lang dạ cáo, lăng nhăng trọn đời.
Khi buồn, cô vãi đỡ chơi,
Khi vui, vợ khách, cùng nơi thanh lầu.
Chẳng chừa  thịt chó, thịt trâu,
1660.-Trối thây giới cấm,  mặc dầu no say.

Ngoài am giả chước ăn chay,
Trong liêu rượu thịt liền  ngày vui chơi.
Ở đời lại quấy rối đời,
Trong mình chẳng đoái  lẽ trời là chi.
1665.- Phui pha hai chữ  "luân   di".

Một câu trung hiếu, bỏ đi chẳng màng.
Đến nay thác xuống suối vàng,
Án tào biên  chép tội chàng khó nhiêu.
Rao rồi đem lại Hà kiều,
1670.-Xô cho bầy rắn xúm nhiều ăn thây.

Tiếng nghe la khóc vang dầy,
Dưới cầu sóng dợn, máu đầy sông Diêm.

*
* *

Dương Từ khó nỗi mắt xem,
Rằng : " "Ta còn phải đi tìm làm chi.
1675.- Thấy vầy cũng biết thị phi,

Đã đành trót phận qui y lầm đàng.
Nỗi xưa   trong miễu họ Hàn.
Dẫn ra đi chém , lời bàn như đây!
Tiếc công tu luyện nhiều ngày,
1680.-Bỏ nhà, bỏ cửa,  đến nay  mới tường.

Thôi thôi từ giã hai chàng,
Ta xin trở lại tìm đàng cố nhân”.
Tạo Y nghe nói liền can,
Rằng : " Người muốn ở suối vàng ngẩn ngơ.
1685.-Thẻ cho  trọn đủ mười giờ,

Đây chưa đặng nửa, khó mơ trở về.
Họ Hà nghe  nói ủ ê,
Rằng : " “Xin gắn bó trọn bề thủy chung.
Gượng đi tìm khắp các cung,
1690.-Vậy sau mới biết đạo tùng mà theo.

Chuông kia chẳng đánh chẳng  kêu,
Đèn kia muốn tỏ, không khêu cũng lờ”.
Dương Từ nghe phải, làm ngơ,
Gắng đi theo dõi trọn giờ cùng nhau.
1695.- Xiết bao mặt ủ mày châu,

Nghĩ trong phận sãi ruột sầu xót xa.

*
* *

Đi vừa một đỗi xa xa,
Phút đâu bãi cát Hoàng Sa gần kề.
"Hoàng Sa" hai chữ bảng đề,
1700.-Mắt nhìn cảnh vật não nề, thở than!


*CHÚ THÍCH :-

1660.- Trối thây :- xem c.t. 990.

Giới cấm:- điều răn cấm của nhà Phật đối với người tu hành theo đạo Phật.

1662.- Liêu (寥) :- nơi nghỉ ngơi của các sư sãi trong mỗi chùa.

1665.- Luân di (綸夷):- *Luân 綸:- nhân luân; *Di 夷:- đạo thường; đạo thường của con người (luân thường) .

1667.- Suối vàng :- dịch chữ "huỳnh tuyền 黃泉", chỉ cõi âm phủ.

1668.- Án tào按曹 :- nơi xử án. *Nhiêu 饒:- khoan dung, tha thứ.

1675.- Thị phi 是非:- xem c.t. 203.

1676.- Quy Y 皈依:- xem c.t. 172.

1677.- Họ Hàn :- xem c.t. 604.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dailuc, mavuong, anhlam, tadamina, nguyenthuy, chonhoadong, byphuong, Ngoisaobiec
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:21:21 PM »

(tiếp theo)

Dàu dàu cỏ héo, hoa tàn,
Xơ rơ trên bãi cát vàng, buồn thay!
Gió âm hiu hắt lá cây,
Mưa tuôn bạc bạc, bóng mây mờ mờ.
1705.- Khắp xem bốn phía bụi bờ,

Ngỡ là cảnh vật bơ thờ  ở đây.
Nào hay làng xóm đông dầy,
Có nơi chợ quán nhóm vầy người ta.
Kêu tên rằng :"Chợ Âm La,
1710.-Người buôn, kẻ bán, cửa nhà rất đông".

Họ Hà chưa hản tấm lòng,
Hỏi: "Sao âm phủ thói đồng dương gian?"
Tạo Y tỏ hết  mọi đàng :
"Dương gian,  âm phủ, cơ quan cũng đồng.
1715.- Khác là khác việc hóa công,

Cõi chia  chữ "Hạ", chữ "Trung" rõ ràng.
Sống  thời ở cảnh dương gian,
Thác về âm phủ là đàng xưa nay".
Họ Hà nghe nói tỏ bày,
1720.-Hỏi thăm dòng họ chốn nầy chưa ra.

*
* *
Đi vừa khỏi bãi Hoàng Sa,
Tới nơi cửa ải thấy đà thất kinh.
Cho hay dưới cõi u minh,
Rất nhiều âm tướng, âm binh, nhộn nhàng.
1725.- Bia  đề chữ  "Quỉ Môn Quan",

Vô ra biết mấy mươi đoàn tội nhân.
Người thời mắc tội vô luân,
Kẻ thời vô đạo, rần rần dẫn ra.
Lũ kia con gái đàn bà,
1730.-Đoàn nầy trai tráng, ông già, xiết bao.

Chẳng hay dẫn tới ngục nào?
Nghe quân qủy tốt miệng rao thẻ rằng :
"Dương gian nhiều kẻ tham nhăng,
Trong nhà giàu có lòng hằng bất nhân.
1735.- Cho vay đặt nợ muôn phần,

Lợi trung gia lợi, khổ thân người nghèo.
Không tiền lại bắt về treo,
Khiến làm đầy tớ, ở theo việc nhà.
Gông cùm, trăng trói, dẫn ra,
1740.-Băng xăng lũ bảy, đoàn ba chật đàng.

Kia là thơ lại nhà quan,
Chuộng bề dối trá, khoe khoang hơn người.
Trau giồi  bút viết cho tươi,
Án sanh làm tử, cất mươi xàng xàng
1745.- Dắt người vào tội bắt ngang,

Ham ăn hối lộ cho sang cửa nhà.
Nầy là công, cổ, chư gia,
Đều tham chữ "lợi", lại hòa chữ "gian".
Lợi, gian, hai chữ dấy loàn,
1750.-Nhà buôn, nhà thợ, mắc nàn đã ưng.


*CHÚ  THÍCH :-


1711.- Hản :- chắc dạ, tin chắc, không còn ngờ vực.

1716.- Cõi chia chữ "Hạ 下" , chữ "Trung 中" rõ ràng :- *Thượng giới上界 là cõi trời; *Trung giới中界 là cõi người; *Hạ giới 下界là cõi âm.

Chữ "Hạ" chữ "Trung" đây chỉ âm phủ và dương gian.

1723.- Cõi u minh 幽冥:- cõi tối tăm, tức âm phủ.

1736.- Lợi trung gia lợi 利中加利:-tính lãi tính  thêm trên tiền lãi  ( lãi mẹ đẻ lãi con).

1739.- Trăng :- một loại cùm bằng gỗ để cùm chân.
1747.- Công cổ chư gia 工賈諸家:- *Công工 : người làm thợ; *Cổ賈 : người đi buôn; *các nhà làm thợ và các nhà buôn.
1749.- Dấy loàn :- xem c.t. 765.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, byphuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:25:01 PM »

(tiếp theo)

Thấy vầy nên dửng dừng dưng,
Ở đừng vô đạo, cũng đừng vô luân.
Đã sa vào tội bất nhân,
Dầu cho muôn kiếp, cái thân ra gì?

*
* *

1755.- Tạo Y giơ cái thẻ đi,

Qua rồi cửa qủy, kịp khi đến thành.
Bia  đề rằng : "Uổng Tử Thành",
Ở trong rực rỡ cung đình nghiêm trang.
Đền son, gác tía lầu vàng,
1760.-Hẳn hòi thật chỗ  Diêm vương trị vì.

Các nơi chúa ngục, âm trì,
Tới  nơi chầu chực, án từ phán ra.
Tội nào nghị lại cho tra,
Tội nào đoán quyết, cho ra hành hình.
1765.- Biết bao nhiêu kẻ tội tình,

Thác oan uổng tử, vong linh dật dờ.
Hồn thời mượn chúng đại thơ
Hồn thời đội trạng, đội tờ giấy không.
Đàn bà cho tới đàn ông,
1770.-Đem nhau quì chốn sân rồng thiếu chi.

Trâu, dê, heo chó đều đi,
Mồm thời ngậm  trạng vào quì Diêm quan.
Mới hay vật cũng chịu oan,
Thác không đáng thác, xương tan thịt lìa.
1775.- Hai người qủy sứ đứng rìa,

Kẻ thâu đơn trạng, người thì kêu rao.
Hai người chưa rõ lẽ nào,
Đem nhau tới chốn Án tào coi chơi.

*
* *

Thấy quân qủy sứ vài mươi,
1780.- Dẫn tới một người , về đạo Dương di.

Ở đời làm nghiệp thế y
Chú ruột Châu Kỳ, tên gọi Châu Phan.
Họ Hà nhìn mặt  rõ ràng,
Hỏi rằng :  "Sao chú lầm đàng nơi đây?"
1785.- Đáp rằng :  "Mang tội làm thầy,

Hốt lầm thang thuốc, hại lây mạng người.
Đạo ta , y có ba đời,
Hãy còn ở cửa thứ mười xin ăn.
Một người tên gọi Hà Năng,
1790.-Thật ngươi Hà Mậu kêu bằng ngôi ông".

Châu Phan đang nói chưa xong,
Qủy đà kéo cổ vào trong Án tào.

*
* *

Lại nghe qủy sứ lao xao,
Dẫn một người vào, đầu trọc mang gông.
1795.- Dương Từ xem thấy nghi lòng,

Lại gần vốn thật thầy trong chùa mình.
Hỏi rằng :"  : "Hòa thượng tu hành,
Cớ sao lại mắc tội tình chi đây?"
Đáp rằng : " "Từ thuở chơi mây,
1800.-Am vân hôm sớm hằng vầy kệ kinh.


*CHÚ  THÍCH :-


1757.- Uổng Tử Thành 枉死城:- thành ở âm phủ, nơi chứa những người chết oan.

1762.- Án từ 案辭 :- Hồ sơ văn kiện có dính dáng đến vụ án; lời phán xử vụ án.

1764.- Quyết  決 :- (xử quyết, hành quyết) giết tội nhân.

1767.- Đại thơ 代書:- (đại thư) người khác viết thư, đơn  thay mình.

1768.- Đơn tả 單寫 :- viết đơn.

1772.- Trạng 狀:- một tờ giấy, tờ đơn trình lên cấp trên để bày tỏ sự thực, hoặc kêu oan việc gì.

1780.- Đạo Dương di :- *Dương di 洋夷: quân mọi rợ từ ngoài biển tới.

Đạo Dương di ở đây chỉ đạo Thiên Chúa.

1781.- Nghiệp thế y (業世醫) :- nghề làm thuốc cha truyền con nối.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, byphuong, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:30:16 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:29:15 PM »

(tiếp  theo)

Chẳng may lâm bệnh xả sanh,
Chưa hay mắc với  âm linh tội gì?"
Nói rồi qủy sứ dẫn đi,
Vào trong  tào án  một khi tra tường.
1805.- Án tào qủy sứ phụng chương,

Đặng dâng bệ ngọc, Diêm Vương xử rằng :
"Châu Phan là đứa vô ân,
Đành lòng chẳng đoái  mộ phần tổ Tiên .
Mình sanh trong cõi Trung Nguyên,

(Đoạn bị  lược)


1810.-Nở theo đạo mọi, bỏ duyên luân thường.
Lẽ ưng về nước Tây Dương,
Cho con Thiên Cẩu ăn gan, xé hồn.
 Hiềm vì nghề thuốc đa  môn,
Chẳng coi sách vở, làm khôn hại người.
1815.- Phó cho ở cửa thứ mười,

Dẫn đi hành tội, cho người thấy ghê,
Hành rồi hóa kiếp làm dê,

(Hết đoạn lược)


Đủ năm mươi kiếp, đuổi về nước Tây.
Về Tây cho chó ăn mầy,
1820.- Hết đời thằng dại, làm thầy thuốc nhăng".

 Dạ Xoa vâng lịnh phăng phăng.
Ngục mười dẫn tới, giao thằng Châu Phan.

*
* *

Diêm Vương phán trước ngai vàng:
Rằng : " Ngươi Trần Kỷ sao chàng đi tu?
1825.-Tiếng xưa cững biết đạo  Nhu (Nho ),

Há không coi sách Xuân Thu dạy đời?
Ngoài Di, trong Hạ  khác trời,
Bỏ ta theo mọi,  chuộng lời nam mô,
Mấy năm ở chốn Phù đồ,
1830.-Xưng rằng :"  Hòa thượng, nói phô hoang đường.

Ruộng  thời tam bảo ăn thường,
Của thời sẵn của  thập phương cúng dường.
Vả xưa Phật ở Tây phương.
Sống không biết lẽ cang thường là chi.
1835.- Trau lòng hai chữ "từ bi",

Việc nhà việc nước, ích  gì tới ai.
Làm người sao chẳng theo loài?
Thảo cha ngay chúa, đoái hoài chi đâu!
Đành lòng cạo hết  tóc râu,
1840.-Đã toan bất hiếu, lại âu phản thần.

Tội kia kể đến muôn phần,
Khó dung cho đó làm thân con người.
Trước cho bầy rắn ăn tươi,
Rồi sau cho hóa kiếp người làm trâu.
1845.- Hành cho chín kiếp rất lâu,

Để ăn rơm cỏ, dãi dầu tấm thân.   
Dạ Xoa lãnh nạp họ Trần,
Đem giao chúa ngục ở phần sông Diêm.
Có quân qủy tốt liền đem,
1850.-Dẫn qua Tào Án còn giam nửa giờ.

*CHÚ  THÍCH :-

1801.- Xả sinh (捨生) :- bỏ cuộc sống, nghĩa là chết.
1810.- Đạo mọi :- ở đây chỉ đạo Thiên Chúa.
1826.- Sách Xuân Thu :- Kinh Xuân Thu, một bộ sử do Khổng Tử soạn.
1827.- Di……Hạ :- xem c.t. 1168.
1829.- Phù đồ (桴途)  :- xem c.t. 206.
1831.- Tam Bảo三寶 :- Phật, Pháp, tăng. *Ruộng Tam Bảo :- ruộng của nhà chùa.
1835.- Từ bi : Xem c.t.  174.
1840.- Phản thần 反臣:- bề tôi làm phản vua.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:35:23 PM »

(tiếp  theo)

Dương Từ theo khóc bơ vơ,
Rằng :  "Nay Hòa thượng biết nhờ cậy ai ?"
Kỷ rằng : " Ta hỏi Thiện Trai:
Cớ sao xuống chốn Diêm  đài, chuyện chi?"
1855.- Thưa rằng : " Tầm dấu Mâu –ni

Ngỏ xin khỏi tiếng thị phi trên đời".
Kỷ rằng : " Trốn lánh việc đời,
Đã đành lỗi đạo cùng trời đất kia.
Ngàn năm trong cõi thiền kia,
1860.-Lấy ta làm một tấm bia để đời.

Người về xin gởi vài lời,
Nói cùng tăng sãi các nơi chùa chiền.
Trở về theo đạo Thánh  Hiền,
Lo bề nhà, nước, chớ nguyền đi tu.
1865.- Tu chi mắc kiếp làm trâu,

Lại xô xuống cầu, cho rắn phân thây.

(Lược bỏ 18 câu, thuật lời Châu Phan)

Nói rồi quỷ sứ dẫn đi,
Dương Từ chi xiết sầu bi nỗi thầy.
Châu Phan nói :- "Họ Hà nầy,
1870.- Thấy vầy nên lại giã từ Du-di.

Ngươi về nhắn với Châu Kỳ,
Đem kinh tả đạo đốt đi cho rồi.
Ba đời công uổng thời thôi,
Thuận theo đường chánh, trau giồi đạo Nho .
1875.-Đạo Nho  là đạo trời cho,

Sử Hiền, kinh Thánh , mấy pho dạy đời.
Chớ tin theo đạo Chúa Trời,
Ngày sau lại hóa kiếp người làm dê.
Làm dê chẳng trọn một bề,
1880.- Hành rồi hết kiếp, cho về nước Tây.

Về Tây cho chó ăn thây,
Dứt trong căn số cái bầy Da-Tô.
Gởi cho hai chữ "cải đồ"
Để đời con cháu khỏi vô lạc đàng".

(hết đoạn lược)

1885.- Đương phô qủy sứ đánh ngang,

Dẫn tới ngục đàng,chịu phép khảo tra.
Châu Phan sùi sụt bước ra,
Họ Hà thấy vậy xót xa phận mình.
Tạo Y qủy sứ có tình,
1890.-Đem qua các chốn ngục hình xem coi.

Bia  đề hai chữ "Phong Lôi"
Ngục nầy để trị bầy tôi gian tà.
Hung hăng qủy tốt Dạ Xoa.
Bắt bầy tôi nịnh đem ra hành hình.
1895.- Tay chân đều có đóng đinh,

Nằm trên tấm thớt lõa hình trần phơi.
Người giăng nằm giữa ngó trời,
Kẻ  thời nằm sấp khắp nơi dàn rồi.
Phút đâu một tiếng âm lôi,
1900.-Nổ ra sấm sét đánh bồi trên thây.


*CHÚ  THÍCH :-


1855.- Mâu-ni (牟尼) :- (chữ Phạn là SAKYAMOUNI) tức Thích-Ca Mâu-Ni 釋伽牟尼, thủy tổ của đạo Phật, sinh năm 558 BC.

1883.- Cải đồ 改途:- đổi đường. Đây ý nói bỏ đạo cũ (tức đạo Thiên Chúa) theo đạo Nho.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:42:43 PM »

(tiếp theo)

Trước sân lai láng máu đầy,
Tan xương, nát thịt, cái bầy quân gian.
Coi tên  đều  thuở Hán Đàng (Đường).
Thập Thường Thị  với  hoạn quan bộn bề.
1905.- Hành rồi rưới phép hoàn mê,

Hoàn hồn phách lại, đem về chỗ giam.
Cũng vì một tấm lòng tham,
Sâu dân mọt nước, đều làm chẳng công.
Làm tôi mang chữ bất trung,
1910.-Phép trong trời đất chẳng dung người nào.

*
* *

Coi rồi cửa ấy tù lao,
Coi qua cửa khác những nào tội nhân.
Bia  đề hai chữ "Hỏa Quân"
Ngục này trị kẻ vô luân, loạn thần.
1915.- Mười cây đồng trụ  trước sân,

Chế dầu lửa đốt rần rần như giông.
Lửa xe đốt đỏ cột đồng,
Dạ Xoa dắt tới đàn ông một đoàn.
Tay cầm roi sắt đánh, phang,
1920.-Khiến xông vào đó ôm ngang cột đồng.

Thịt xương chói đỏ theo đồng,
Khói bay tanh khét, như xông a ngùy.
Coi vào trong thẻ án ghi,
Họ tên lũ ấy một khi mới tường,
1925.- Thảy đều mắc tội hòa gian,

Vợ người đã lấy, lại toan giết chồng.

*
* *

Coi rồi phía tả đàn ông,
Ngó qua phía hữu, rất đông đàn bà.
Trước sân bày vạc dầu ra,
1930.-Dầu sôi sục sục, lửa xa hừng hừng.

Một bầy phụ nữ truồng trần,
Buộc vào nọc đứng loã thân chịu hình.
Dạ Xoa cưa, kéo nên kinh,
Cưa đầu tới đít, rã mình làm hai.
1935.- Lòng hai người cũng chia hai,

Bỏ vô dầu vạc , nấu hoài cho tiêu.
Coi vào trong thẻ án nêu,
Họ tên lũ ấy thảy đều dâm bôn.
Thông gian mình nghĩ rằng :"  khôn,
1940.-Ở đời chẳng sợ tiếng đồn ô danh.

Coi chồng như đứa vô tình,
Ngày đêm những mảng rập rình cùng trai.
Chê cười cũng trối thây ai,
Kiếm lời che mắt, lắp tai thằng chồng.
1945.- Dầu cho dại cũng là chồng,

Lòng sao đành nghĩ  nó không biết gì?
Rõ ràng chứng có tứ tri,
Việc trong buồng kín, Âm Trì lại biên.
Giết chồng có phép nước chuyên,
1950.-Âm thầm có phép cửu tuyền cưa hai.


*CHÚ  THÍCH :-

1904.- Thập thường thị 十常侍:-

十常侍指中國古代東漢(公元25年—220年)靈帝時操縱政權的張讓、趙忠、夏惲、郭勝、孫璋、畢嵐、栗嵩、段珪、高望、張恭、韓悝、宋典等十二個宦官。他們都任職中常侍。

 Triều Đông Hán (25BC-220AC) thời vua Hán Linh Đế 漢靈帝(156年—189年)trong triều có 12 hoạn quan gọi là "Lang trung thường thị 郎中常侍".

Đó là :- Trương Nhượng 張讓、Triệu Trung 趙忠、Hạ Uẩn 夏惲 、Quách Thắng郭勝 、Tôn Chương孫璋、Tất Lam 畢嵐、Lật Tung栗嵩 、Đoạn Khuê 段珪 、Cao Vọng 高望、Trương Cung張恭、Hàn Khôi 韓悝、Tống Điển 宋典.

 Các vị quan nầy kết bè, kéo cánh, lũng đoạn triều đình, oai quyền rất lớn. Sử gọi là "Thập thường 十常"   hay   "Thập thường thị 十常侍".

1915.- Đồng trụ (銅柱) :- cột đồng.

1922.- A-ngùy (ngụy) 阿魏:- (RESINA FERULAE) tên một vị thuốc, lấy từ rễ cây, khi đốt cháy có mùi hôi rất khó chịu. Các vị Pháp sư hay đốt để "trừ tà" cho con nít.

 
1925.- Hòa gian 和奸 :- thông gian, trai gái, tư tình với nhau.

1932.- Nọc :- cọc cây vạt nhọn một đầu đóng sâu xuống đất, ở đây là cọc dùng buộc tội nhân vào để tra khảo.

1938.- Dâm bôn (淫奔) :- trai gái thông dâm với nhau, lấy nhau không chờ cưới hỏi.

1947.- Tứ tri (四知) :- bốn người biết. Hậu Hán Thư 後漢書chép : Dương Chấn 楊振làm Thái Thú Đông Lai, nhân qua huyện Xương Ấp. Quan huyện ở đây là Vương Mật 王密, bọc 10 cân vàng mật dâng Dương Chấn. Dương Chấn không nhận. Mật nói : "Đang đêm không ai biết, quan lớn hãy nhận cho". Chấn nói :- "thiên tri, thần tri, ngô tri, nhữ tri, hà vị vô tri =天知神知吾知汝知何謂無知 ? " (trời biết, thần biết, ta biết, anh biết, sao lại bảo là không ai biết ?)

Ở đây ý nói việc ám muội dù kín đáo đến mấy cũng  có người biết.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 27, 2010, 09:44:56 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:04:01 PM »

(tiếp theo)

Cho hay những tội lấy trai,
Thiên tru, địa lục, ai ai nên chừa.

*
* *

Tạo Y thấy vậy chẳng ưa,
Coi qua ngục khác, phép ngừa đứa gian,
1955.- Bia  đề hai chữ "Kim Cang" (Cương).

Ngục này để trị những đoàn bất nhân,
Mấy thằmg trộm cướp sát nhân.
Cối đồng chày giã, tấm thân nát nghiền.
Làm con chẳng thảo, chẳng hiền,
1960.-Mình treo cần sắt, cung liền bắn lên.

Bắn cho văng thịt theo tên,
Hỏi ơn cha mẹ đã đền đặng chưa?
Mấy người ăn nói thiếu thừa,
Bắt kìm kéo lưỡi ra đưa  khỏi hàm.
1965.- Kể sao xiết tội gian tham,

Dạ Xoa cứ phép đều đam hành hình.

*
* *

Kim Cương  cửa chính  đã rành,
Cửa mười cũng nối sẵn dành theo đây.
Bia  đề "Minh Lãnh" ngục nầy,
1970.-Để trị cái bầy bại lễ, loạn luân.

Loài người ăn ở bất phân,
Anh em lấy bậy, nhớp thân làm người.
Trẻ già chẳng luận mấy mươi,
Âm thầm chẳng biết hổ ngươi cùng trời.
1975.- Mây mưa quen thói nhớp đời,

Bà con nào kể, lẽ trời nào kiêng,
Dạ Xoa theo án xử liền,
Bắt đoàn trai gái cứ phiên  hành hình.
Kẻ thời đội chậu máu tanh,
1980.-Ngồi bàn chông sắt, nhóm đoanh ruồi lằng.

Kẻ thì bưng mẻ dòi ăn,
Người bưng máu uống, chưn trăng, cổ xiềng,
Giường đồng lạnh lẽo để liền,
Bao nhiêu tội ấy thay phiên bắt nằm.
1985.- Trên mình dội nước ướt dầm,

Sương sa, tuyết ủ, ruột tằm héo don.
Lạnh lùng xương thịt hao mòn,
Để chi nhơ nhuốc nước non trên đời.

*
* *

Trải qua xem thấy khắp nơi,
1990.-Dương Từ, Hà Mậu buông lời hỏi han.

Hỏi rằng : " Các tội ngục đàng,
Hành rồi một thứ, lại hoàn nguyên  thi (thây).
Chẳng hay hoàn lại làm chi?
Hoặc là hết tội, đợi kỳ tha chăng?
1995.- Tạo Y qủy sứ đáp rằng :

"Âm hình há dễ một lần mà xong!
Giết đi hoàn lại, lòng dòng,
Ngục này hết phép, còn vòng ngục kia.
Hành cho khắp các cửa bia,
2000.-Đem về Tào Án, lại chia kiếp đày :-

*CHÚ THÍCH :-


1952.- Thiên tru địa lục (天誅地戮) :- trời giết, đất giết ( Thành ngữ *trời tru đất diệt)

1970.- Bại lễ loạn luân (敗禮亂綸):- *Bại lễ : làm hư hỏng cà lễ nghĩa; *Loạn luân: làm rối loạn cả luân thường.

1975.-Mây mưa :- (tức vân vũ=雲雨 ) chỉ việc trai gái ăn nằm với nhau

典故:

  語出宋玉《高唐賦序》:「昔者先王嘗游高唐,怠而晝寢,夢見一婦人,曰:『妾巫山之女也。為高唐之客,聞君游高唐,願薦枕席。』王因幸之,去而辭曰:『妾在巫山之陽,高丘之阻。旦為朝雲,暮為行雨。朝朝暮暮,陽台之下。』」
  後人以此附會。

*Điển cố :- Từ "mây mưa" gốc trong bài tựa "Cao Đường Phú 高唐賦" của Tống Ngọc 宋玉.  Vua Sở Tương Vương 楚將王cùng Tống Ngọc đến chơi ở Cao Đường, Ngọc kể chuyện : "Trước kia, Tiên Vương đến đây chơi, nằm mộng thấy cùng với một Thần Nữ 神女chung chăn gối. Hỏi, thì nàng tự xưng là ở núi Vu Sơn 巫山, buổi sáng làm mây, buổi chiều làm mưa."

1980.- Nhóm đoanh ruồi lằng :- ruồi nhặng xúm xít bâu quanh.

1982.- Vùa :- vật đựng giống cái bát, thường bằng đất nung hay bằng sọ dừa. Vùa hương, vùa dầu.

1996.- Âm Hình (陰刑) :- hình phạt ở cõi âm ty.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, tadamina, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:07:14 PM »

(tiếp theo)

Đứa lên làm kiếp ăn mày,
Thằng kia kiếp chó, con này kiếp heo.
Dầu muôn kiếp ấy cũng  theo,
Làm thân súc vật  chịu đau  dao người,
*
* *
2005.- Tạo Y  nói chửa dứt lời,
Thấy quân qủy tốt tới nơi nhộn nhàng.
Dẫn đi một lũ bóng chàng,
Áo quân rách nát, đều mang gông xiềng.
Họ Hà buông tiếng hỏi liền :
2010.-"Chẳng hay lũ ấy sổ biên tội gì?"

Đáp rằng : " Tội chẳng nhẹ chi,
Ở trên dương thế hay khi Thánh  thần.
Miếu đường là chốn thanh tân,
Trống xây, giọng lý, tiếng rân cầu mời.
2015.- Bà Tiên , bà Thánh , đặt lời,
Chàng Năm ,chàng Bảy, lên chơi gái hiền.
Rập rình đàn, địch, trống, chiêng,
Cơm tiền đã tốn, nhang đèn lại hao.
Ai liền khấn vái, phước trao,
2020.-Ai quên cúng quảy, họa vào khi không.

Khuấy chơi  ợ  ngáp, lên đồng.
Dối người giàu ngốc  rằng :"Ông quở chàng.
Chè xôi gà vịt, đặt bàn,
Cho ta dâng lễ, mới an cửa nhà".
2025.- Tội kia khi hoặc người ta,

Phong Lôi ngục nọ, đem ra hành hình.
Họ Dương lại hỏi đinh ninh:
"Bóng chàng dường ấy đã đành tội kia.
Chẳng hay thầy thuốc tội chi,
2030.-Kìa quân qủy tốt dẫn đi đông đầy ?"
Đáp rằng : " Thầy thuốc chẳng hay,
Bịnh không biết mạch, để tay coi chừng.
Lòng quen cưu thói bất nhân,
 Nhà giàu thời hốt "bát trân", "thập toàn".
2035.-Nhà nghèo thời bốc  thuốc ngang,
Tử tô, kinh giới, ma hoàng, quế chi.
Mười hai kinh mạch kể gì,
Bốn mùa vận khí xây đi, mặc trời !
Đau trong tạng phủ , thây người !
2040.-Thấy tiền đem tới, miệng cười, lòng vui.

Chín trăm phương thuốc xa xui,
Đôi  ba mươi vị, phanh phui đủ làm.
Một pho Thọ Thế lam nham.
Coi đâu hốt đó, chẳng ham sách nào.
2045.- Làm hoàn, làm tễ, hỗn hào,

Thuốc sâu, cơm nguội,  trộn vào mật ong.
Mạng người coi nhẹ bằng lông,
Uống may: thời hết ; rủi: không chi thầy.
Khoe mình dao thuốc liền ngày,
2050.-Oan hồn theo khóc dầy dầy sau chơn.


*CHÚ  THÍCH :-

2007.- Bóng chàng :- những người làm nghề đồng bóng.

2014.- Trống xây giọng lý :- tiếng trống nhịp theo tiếng hát giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.

2034.- Bát trân, Thập toàn 八珍十全:-tên hai bài thuốc bổ trong Đông Y.

2037.- Mười hai kinh mạch  十二經脈:- theo  Đông Y thì thân thể người ta gồm có mười hai kinh mạch :-

12 KINH MẠCH : -

十二經脈主要根據臟腑、手足、陰陽而定名,包括 手三陰經(手太陰肺經、手厥陰心包經、手少陰心經)、手三陽經(手陽明大腸經、手少陽三焦經、手太陽小腸經)、足三陽經(足陽明胃經、足少陽膽經、足太陽膀胱經)、足三陰經(足太陰脾經、足厥陰肝經、足少陰腎經),是氣血運行的主要通道。

A.- ÂM  :

1.- Thủ Thái Âm Phế kinh. 手太陰肺經
2.-Thủ Thiếu Âm Tâm kinh. 手少陰心經
3.- Thủ Quyết Âm Tâm bào kinh. 手厥陰心包經.
4.- Túc  Thái Âm Tì  kinh. 足太陰脾經
5.-Túc Thiếu Âm Thận  kinh. 足少陰腎經
6.- Túc  Quyết Âm Can kinh. 足厥陰肝經

B. DƯƠNG  :-

7.- Thủ Dương minh Đại trường kinh.手陽明大腸經
8.- Thủ Thái Dương Tiểu trường kinh. 手太陽小腸經
9.-Thủ Thiếu Dương Tam tiêu kinh. 手少陽三焦經
10.- Túc Dương minh Vị kinh.  足陽明胃經
11.- Túc Thái Dương Bàng quang kinh. 足太陽膀胱經
12.- Túc Thiếu Dương Đởm kinh. 足少陽膽經


2038.- Bốn mùa vận khí xây đi :- quan niệm Đông Y cho rằng sự thay đổi thời tiết trong bốn mùa đều có ảnh hưởng đến thân thể con người, cho nên thầy thuốc khi xem mạch và chữa bệnh , phải chú ý đến những biên thiên của thời tiết.

2039.- Tạng phủ (臟腑) :- tức lục phủ ngũ tạng, những bộ phận trong cơ thể con người. *Lục phủ (六腑) : vị胃, đởm膽, tam tiêu三焦, bàng quang膀胱, đại tràng大腸, tiểu tràng小腸. *Ngũ tạng (五臟) : tâm心, can肝, tỳ脾, phế肺, thận腎. 

*Thây người  :- mặc kệ, mặc xác người khác.

2043.- Thọ Thế (壽世) :- (tức là Thọ Thế Bảo Nguyên壽世保元 tên một bộ sách thuốc trong Đông Y của Cung Đình Hiền.( 龔廷賢)

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, tadamina, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:10:46 PM »

(tiếp theo)

Tưởng là trộm cướp bất nhơn,
Ai hay thầy thuốc dữ hơn cọp đèo.
Tội kia đã đáng đem treo,
Kim Cương ngục nọ, xử theo án đồ.

*
* *

2055.- Họ Dương lại thấy dẫn tù,

Ổn Bà một lũ,  u xù đi ra.
Lặng nghe kể tội Ổn  Bà,
Qủy cầm thẻ án, trước đà rao rân.
Rao rằng : " Làm mụ bất nhân,
2060.-Khiến người sanh đẻ tấm thân mắc nàn.

Vả trời phú tánh đã an,
Có cho ai đẻ ngược ngang, bao giờ?
Thai bào đã định ngày giờ,
Mười trăng chưa đủ, phải chờ mới nên.
2065.- Vợ người chuyển bụng đau rên,

Ổn  Bà chẳng hỏi, nhớ quên tháng ngày.
Lên giường vội vã ra tay,
Rằng : " Ta sửa bụng cho quày đầu ra.
Vài giờ chưa thấy sổ ra,
2070.-Thọc tay lỗ đẻ, sờ mà thăm coi.

Thăm coi rồi chẳng thấy  mòi,
Lại xui hốt thuốc giục đòi cho mau,
Dối rằng : "Gần lú mào cau,
Bảo người rán rặn, làm nau đẻ đùa".
2075.- Hai tay bóp bụng đẩy xua,

Thấy lâu rồi lại thò vô cửa mình.
Chúc nguyền Bà Chúa Thai Sanh,
Đức Thầy, Đức Mụ, thần linh giúp cùng,
Làm tuồng chộn rộn sợ hung,
2080.-Chủ nhà van vái tứ tung binh tàng.

Khiến con trong bụng chẳng an,
Ngặt mình nên phải tìm đàng chun ra.
Chõi, quày, chưa kịp hạ sa,
Mụ bà tay chực , rước ra vội vàng,
2085.- Những tuồng  đi ngược đi ngang,

Cũng vì tay mụ, lòng toan sanh cầm.
Dân ngu đã mắc rầm rầm,
Đến người khôn cũng tin lầm nhiều nơi.
Vì ai khuấy rối lẽ trời
2090.-Khiến bầy yểu trát  ra đời chẳng lâu?

Người khôn cũng mắc rầm rầm nhiều nơi.
Tội oan trẻ nhỏ ráo  đầu,
Ổn Bà tội đáng  xuống cầu một cây.

*
* *

Mậu rằng : " Như cớ sự nầy,
Đẻ đừng kêu mụ, rước thầy nên chăng?
2095.- Tạo Y quỉ sứ đáp rằng :

"Coi trong sách thuốc có bằng luận minh.
Nhiếp sanh lại với thâu sanh,
Nhiếp, thâu, hai chữ, là danh mụ bà.
Chờ con trong bụng sổ ra,
2100.- Đỡ bồng, lau rửa, ấy là phần  va.


*CHÚ  THÍCH :-

2056.- Ổn bà (穩婆) :- bà mụ đở đẻ.

2071.- Mòi :- tăm, vết của cá lội dưới nước. Nghĩa bóng :- triệu chứng, hiện tượng, cớ.

2090.- Yểu trát (夭札) :- chết non. Chết yểu.

2097.- Nhiếp sinh 攝生, thâu sinh 收生 :- tiếng thường dùng để gọi bà mụ đỡ.

2100.- Va :- Xem c.t.  284.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, tadamina, dailuc, ngodao, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:17:09 PM »

(tiếp theo)

Xưa nay làm phận đàn bà,
Tới ngày sanh đẻ, như hoa trên rừng.
Bông hoa búp nở  có chừng,
Đàn bà chửa nghén thời đừng sợ chi,
2105.- Thú cầm là loại vô tri,

Tới chừng chuyển bụng, mụ gì sửa cho?
Làm người chẳng biết đắn đo,
Cứ tin theo mụ, chuốc lo  cho mình,
Gẫm câu : "Hóa hóa sinh sinh,
2110.-Máy trời có sẵn trong mình người ta.

No ngày, khẳm tháng đẻ ra,
Mẹ con mạnh khoẻ, thầy bà làm chi?
Miễn cho giữ nết đứng đi,
Theo bề ăn ở, đừng khi Thánh  thần,
2115.- Dầu cho đẻ mấy mươi lần,

Dễ hơn súc vật muôn phần, nào lo?"

*
* *

Đây đà dứt việc hỏi phô,
Đem nhau từ chốn Phong Đô tách vời.
Ra đi khỏi cửa thứ mười,
2120.- Lại gặp một  người, quân dẫn đi xin.

Họ Hà dừng bước đứng nhìn,
Một người vóc tích thật in ông mình.
Hà Năng chợt thấy hãi kinh,
Hòa  mừng hòa  khóc thình lình nói ra:
2125.- Hỏi rằng : " Hà Mậu cháu ta,

(Lược  7 câu )

Ngày nay xuống chốn Diêm La việc gì ?"
Thưa rằng : "Tìm đạo Du-di,
Xin cho rõ việc thị phi làm người".
Năng rằng : "Chớ nói hổ ngươi,
2130.- Một dòng kể đã năm đời tha bang.

Tin lầm hai chữ thiên đàng,
Bơ vơ đất mọi, lỡ làng công phu.


(Hết đoạn lược)

 Cho hay sự dĩ đáo đầu ;
Chưa về cõi thọ ai hầu biết khôn.

(Lược  10 câu )

2135.- Cao tằng tổ khảo các hồn,

Bị con Thiên Cẩu đều chôn vào lòng.
Nói ra nước mắt ròng ròng,
Nay còn thân cháu hãy mong tìm gì !
Nước Tây ông đã trốn đi,
2140.- Về đây lại mắc âm ty giam mình.

Chẳng hay cớ sự trọng khinh,
Một mình chịu khổ, sự tình xiết bao !
Đã không tiền gạo theo tao,
Cũng không dòng họ người nào ở đây"



(Hết đoạn lược)

*
* *

2145.- Gặp nhau chưa hết tình bày,

Tạo Y quỉ sứ kéo ngay ra về.
Rằng : " Mười giờ hết phải về,
Dùng dằng đây nữa khó bề hồi dương.
Nói thôi trở gót vội vàng,
2150.-Họ Hà, Ông, cháu, hai đàng phân ly.


*CHÚ  THÍCH :-

2109.- Hóa hóa, sinh sinh (化化生生) :- từ chữ "hóa sinh" trong Kinh Dịch. Ở đây chỉ sự sinh sản ra mãi mãi.

2111.- Khẳm tháng:- đầy tháng.

2130.- Tha bang (他邦) :- bang khác, xứ sở khác. Ở đây chỉ  sự lưu lạc nơi đất khách.

2131.- Thiên Đàng= Đường (天堂) :- theo quan niệm của đạo Thiên Chúa là thế giới đầy hạnh phúc, là nơi yên nghỉ của  linh hồn những người không có tội lỗi sau khi chết.

2131.- Về cõi thọ:- về cõi chết.

2135.- Cao, tằng, tổ, khảo (高曾祖考) :- tổ bốn đời, tổ ba đời, ông, cha đã mất.

2148.- Hồi dương 回陽:- trở về dương gian, cõi trần.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, tadamina, dailuc, ngodao, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 28, 2010, 09:21:34 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 2 [3] 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.134 seconds với 24 câu truy vấn.