Tháng Một 18, 2021, 11:55:03 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU-- 楊慈何茂 (Bản đầy đủ 3460 câu)  (Đọc 26559 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:22:39 PM »

(tiếp theo)

Dương Từ vào đó xem chơi,
Thấy câu liễn đối, thật lời khéo thôi.

VII.- Liễn rằng :

Đường đi ba ngã người Chu khóc;
Tơ trắng hai màu họ  Địch than.

Dương Từ coi liễn đối rồi,
Trong lòng ngẫm nghĩ một hồi giải ra.

655.- Giải rằng : " đường có ngã ba,

Một qua bắc khứ, một qua nam hành.
Giải rằng : " Tơ trắng phơi  mình,
Màu vàng cũng đặng, màu xanh không  từ.
Làm người: nay thật, mai hư,
660.-Lòng không quyết một, cũng như liễn nầy.

Hỡi ôi ! chí dốc chơi mây,
Mùi thiền đã nếm bấy chầy cũng nên.
Giữ lòng kim thạch cho bền,
Chớ nghe lời tục, mà quên đạo mình.
665.-Giã ơn câu liễn trong đình,

Khiến cho quyết một lòng thành đi tu.
Từ đây mới dứt dạ sầu,
Dốc lòn cửa Phật, chẳng âu tiếng người,

* *
Thiên Thai chùa hãy gần vời,
670.-Dương Từ đón khách hỏi nơi chưa rành.

Phút đâu bên đám dâu xanh,
Gió đưa tiếng hát, như hình có ai.

VIII.- Hát rằng :

Bụi dâu im, con  chim cưu đậu,
Thuở nghiêng nghèo có bậu với  qua.
Cành dâu khum, cây chùm gởi đóng,
Buổi sang giàu, dù võng thiếu chi
Ngọn gió day một ngày một khác,
Ta nhớ người câu hát thái tân
Bến đò xưa bạn đưa đã trống,
Ta chờ  người thổi ống phụng sanh.


Dương Từ nghe tiếng thanh thao,
Mau chơn bước vào, trong đám  dâu coi.
675.-Thấy hai con gái mang gùi,

Hái dâu đã rồi, sắm sửa hồi trang,
Dương Từ nhắm vóc hai nàng,
Chừng vài mươi tuổi, dung nhan tầm thường.
Hỏi rằng : " Kỳ lộ nhiều phương,
680.-Lên chùa Linh Diệu biết đường nào đi ?

Đáp rằng : " Hòa thượng hỏi chi ,
Ta là phận gái, biết gì chùa đâu !
Để tằm, lo việc hái dâu,
Kéo tơ, dệt lụa, phận đầu nữ công,
685.-Thầy tu muốn hỏi đường thông,

Phải tầm bà vãi, tây đông mới tường.

(4 câu bị lược) :-

Ta nghe con gái nhà Khương,
Trẻ toan đĩ điếm, già đương tu trì
Có câu :- "Lão kỹ vi ni,
690.- Mấy đường chay, mặn, cũng đi nếm rồi"


Nói thôi mang giỏ về xuôi,
Dương Từ còn đứng ngùi  ngùi thở than.
Làm  bà vãi cũng gian nan,
Đã ra thân  trọc, còn mang tiếng đời.

* *
695.-Gái kia chẳng  khứng chỉ  nơi,

Đánh liều, phương nhắm phía trời đông nam.
Đi vừa tới Bạch Vân Nham,
Trời vừa tròn bóng, tìm am nghỉ mình.
Dưới nham có đám dâu xanh,
700.-Có tòa cổ miếu , mây đoanh bốn bề.


*CHÚ THÍCH :-


*CT  câu liễn VII :-

*Đường đi ba ngã , người Chu khóc:- *Chu tức Dương Chu, một triết gia đời Chiến Quốc, chủ trương thuyết "vị ngã". Sách Liệt Tử chép : Người láng giềng của Dương Tử bị mất dê, phải nhờ nhiều người đi tìm. Dương Tử hỏi: chỉ mất một con dê sao lại phải cần nhiều người đi tìm thế ?.Đáp: vì có nhiều đường rẽ. Khi họ trở về, Dương Tử hỏi; Tìm được dê chưa ? Đáp: mất rồi ! Hỏi: Sao lại mất ? Đáp: Trong đường lớn có nhiều đường rẽ, trong đường rẽ lại có nhiều đường rẽ khác, không biết dê đi ngã nào. Dương Tử tự nhiên thay đổi sắc mặt, cả ngày không nói, không cười.
Câu chuyện ngụ ngôn nầy muốn nói:- gốc thì đồng, mà ngọn lại khác, vì vậy người đời cần thận trọng để khỏi nhầm.

*Tơ trắng hai màu, họ Địch than:- *Họ Địch tức Mặc Địch 默迪, triết gia Trung Quốc thời cổ đại, người chủ trương thuyết "kiêm ái".

*Tơ trắng hai màu:- Sách Trung Văn đại từ điển, mục "Tố ty 素絲" chép :- "Mặc Tử kiến luyện ty nhi khấp chi, vị kỳ khả dĩ hoàng, khả dĩ hắc" (Mặc Tử thấy tơ luyện trắng mà khóc, vì nó có thể nhuộm thành màu vàng hay màu đen). Cả câu ý than cho con người có thể bị thay đổi, biến hóa kông còn giữ được bản chất nguyên thủy của nó.

661.- Chơi mây:- xem c.t. 376.
668.- Âu ( = ưu憂  đọc chệch) :- lo lắng, lo buồn.

*CT  bài hát sau 672 :-

*Bậu, qua:- tiếng xưng hô thân thiết của người trên với người dưới hoặc chồng với vợ…
*Bậu : chỉ ngôi thứ hai (em, mày…); *Qua:- chỉ ngôi thứ nhất (ta, tôi, tao …)
 
*Thái tân 採薪: hái, nhặt củi; do chữ "thái tân chi ưu採薪 之憂:" (nỗi lo về việc nhặt củi) trong sách Mạnh Tử. Ở đây chỉ lời từ chối nhún nhường của kẻ sĩ khi được bề trên vời mà không đến.

*Ống phụng sanh 鳳笙 :- ống tiêu, ống sáo. Theo "Liệt Tiên Truyện" , Lộng Ngọc là con gái út của Tần Mục Công rất xinh đẹp. Nàng mê Tiêu Sử, người có tài thổi sáo khiến chim phượng hoàng kéo tới múa lượn. Sau, hai người lấy nhau và cùng cưỡi phụng lên Tiên.

676.- Hồi trang 迴莊:- Trở về trang trại, trở về nhà.
689.- Lão kỹ vi ni  老妓為妮:- đĩ già đi tu.
694.- Thân trọc:- *trọc là đầu cạo hết tóc; thân trọc đây ý nói dứt bỏ việc đời, đi tu.
695.- Chẳng khứng:- chẳng chịu.
700.- Đoanh:- quấn, bao phủ chung quanh (từ địa phương)

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, dailuc, Ngoisaobiec, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:27:28 PM »

(tiếp theo)

Ngó lên biển  cửa chữ đề:
"Hiếu Từ" hai chữ, son phê chói lòa.
Có câu  liễn đối treo ra,
Dương Từ dòm thấy, lòng đà sanh nghi.

IX.- Liễn rằng :

Đói rách lòng không hờn mẹ ghẻ;
Lạnh đau dạ chẳng trách cha lành .

705.-Thấy câu liễn đối mà thương,

Cho hay: con thảo nhiều đường gian nguy.
Muốn vô coi tượng thờ chi,
Lại e linh ứng, như kỳ chiêm bao.
Trở ra, lại muốn trở vào,
710.-Thấy câu liễn đối, đi sao cho đành !

* *
Xảy nghe bên cụm dâu  xanh,
Có người đốn củi loanh đoanh  hát rằng :

X.- Hát rằng :

Núi non đây nhiều cây nghinh ngáng.
Dọn trống đường nhờ cán búa ta.
Búa trong tay, liền ngày đốn củi,
Vui rừng trời tránh buổi loạn ly.
Cội cây yêm phải tìm núp bóng,
Mặc người đời dù lọng nghinh ngang.

Dương Từ nghe hát mấy lời,
Xăm xăm bước tới, thấy người tiều phu.
715.- Hỏi rằng : " Nhà cửa ở đâu,

Biết trong miễu ấy, công hầu  bậc chi ?
Tiều rằng : " trong miễu Hiếu Từ,
Thờ ông Mẫn Tử  ở kỳ Xuân Thu.
Học theo đạo Thánh  ngày lâu,
720.-Hiếu từ đức hạnh ở đầu tứ khoa.

Hết lòng thảo với mẹ cha,
Người ngoài cho đến trong nhà đều khen.
Thuở xưa đương lúc khó hèn,
Ấu thơ mẹ mất, cha bèn thú thê.
725.- Từ ngày có mẹ ghẻ về,

Đẻ hai con nhỏ, cha kề ấp yêu.
Mẹ thương con ruột phần nhiều,
Tấm thân con ghẻ bỏ liều như không.
Đói cơm,   rách áo, mặc lòng.
730.-Ăn theo đày tớ, nằm cùng chăn trâu.

Tử Khiên không dạ oán sầu,
Phải sao hay vậy, trọn câu hiếu hòa.
Gặp khi cha khiến đẩy xa,
Thấy con áo rách, giận bà hậu thê.
735.-Cha bèn vội vã trở về,

Trách bà mẹ ghẻ, toan bề để ra.
Tử Khiên than khóc, lạy cha.
Xin dung một mẹ, mới hòa ba con.
Rách, lành, chi sá một con,
740.-Hai em  thơ ấu, mẹ còn mới nên.

Thảo thân một tấm lòng bền,
Cảm tình, mẹ ghẻ chẳng quên con chồng.
Nhớ câu "hiếu đễ thành phong".
Người trong nước Lỗ đều mong học đòi.
745.-Sắc phong một thuở hẳn hòi,

"Hiếu Từ" hai chữ, dấu soi muôn đời.
Ta đây một họ cùng người,
Kêu bằng ông tổ ba mươi bốn đời,

* *
Từ rằng : " Xin hỏi vài lời,

750.- Lão Tiều  vốn cũng là  người trâm anh.

CHÚ  THÍCH :-


718.- Mẫn Tử:- tên là Mẫn Tổn 閔損, tự là Tử Khiên 子騫, người nước Lỗ, kém hơn Đức Khổng Tử 50 tuổi, tánh rất liêm khiết và hiếu thảo. Ông nổi danh về hiếu hạnh nên được dự vào khoa Đức Hạnh trong cửa Khổng. Mẫn Tử Khiên được liệt vào trong Nhị thập tứ Hiếu.

Khi còn nhỏ, ông bị bà mẹ ghẻ ngược đãi, cho con đẻ mặc áo bông vải vào mùa Đông, cho ông mặc áo bông lau không đủ ấm. Trời quá lạnh, tay run không đẩy xe cho cha đi được. Người cha ngẫm nghĩ mới biết rõ tình trạng, toan đuổi dì ghẻ đi. Tử Khiên liền thưa với cha: - Nếu cha để dì ghẻ ở lại thì chỉ có một mình con chịu rét, còn nếu cha đuổi dì ghẻ đi thì chẳng những con mà cả hai em con cũng sẽ chịu rét nữa.

Người cha suy nghĩ lại, đúng như lời Tử Khiên nói, nên không đuổi dì ghẻ đi, mà thuật lại lời nói của Tử Khiên cho dì ghẻ nghe. Bà cảm động, hồi tâm, thương mến trở lại Tử Khiên, đối xử như con ruột của mình.

Họ Quí làm quan Đại Phu chấp chánh nước Lỗ, nghe Tử Khiên là người hiền, nên mời Tử Khiên ra làm quan Tể ở ấp Phí, là ấp ăn lộc của họ Quí. Nhưng họ Quí làm quan lấn quyền vua, nên Tử Khiên từ chối và bảo sứ giả của họ Quí đến mời là: Xin sứ giả khéo léo thay tôi từ chối việc nầy, nếu đến mời tôi lần nữa thì tôi sẽ trốn lên ở trên sông Vân.
Sông Vân là con sông phân ranh giữa nước Lỗ và nước Tề. Ý Tử Khiên muốn nói là nếu ép ông quá thì ông sẽ trốn qua nước Tề.

Mẫn Tử Khiên được đời sau phong là Lang Gia Công.

720.- Tứ khoa 四科:- bốn khoa, bốn ngành, chữ trong Luận Ngữ . Tứ khoa gồm : đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học.

724.- Thú thê 娶妻 :- cưới vợ. (trái với Giá phu 嫁夫: lấy chồng)
736.- Để:- bỏ, ly dị (từ xưa)

743.- Hiếu đễ thành phong 孝悌成風:- hiếu thảo với cha mẹ, kính nhường anh em, đã thành phong tục tốt.
744.- LỖ 魯 :- tên một nước chư hầu đời nhà Chu ở Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử.

745.- Sắc phong 敕封:- sắc mệnh của vua phong cho bề tôi.
750.- Trâm anh 簪纓:- *Trâm là kim cài tóc; *Anh là dải mũ. *Trâm anh ở đây có nghĩa là nhà quyền quí.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, dailuc, Ngoisaobiec, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:31:22 PM »

(tiếp theo)

Sao không ra lập công danh,
Noi theo nghiệp tổ, hiển vinh mà nhờ?
Tiều rằng :"  trước mắt sờ sờ,
Dễ ai chẳng thấy, đợi chờ việc  chi?
755.-Đua theo hai chữ "tương khi",

Trên quyền, dưới trá, đoái gì thiên luân !
Nước thời chia bốn năm phần,
Can qua  biết mấy mươi lần đánh nhau.
Trong thời gian nịnh giụm đầu,
760.-Ngoài thời ô lại , đua cầu tham quan.

Chính ra dữ quá cọp vàng,
Lòng dùng độc quá hổ mang, thuồng luồng.
Bốn phương mọi rợ luông tuồng,
Nay tranh ải hổ, mai ruồng ải lang.
765.-Nơi nơi trộm cướp dấy loàn,

Trong dân sức hết, của tan chẳng còn !
Trong trời đất cũng  thon von,
Khói mây đen nghịt, nước non đau sầu.
Biết đời Tam Đại là đâu,
770.- Gặp đời Thúc Quý phải âu lánh mình.

Từ rằng :"  bờ cõi chưa  thanh,
Chẳng tham danh lợi, lánh mình cũng cho.
Ở trong tạo hóa một lò,
Thiếu chi nghề nghiệp, mà  bo theo tiều?
775.-Tiều rằng : " Cửa Thánh  gương treo,

Dùng đời chẳng đặng, chớ  theo đời dùng !
Nghề như các bực thương nông,
Nghiệp như y lý cũng không ra gì !
Bao nhiêu nghề nghiệp đều khi,
780.-Chẳng khi nào khéo, biết chi đời dùng .

Khéo khôn ắt có mảy lông,
Mảy lông  rồi lại mắc vòng hỏa tai.
Thử coi con thú vật ngoài,
Như voi như cọp, mấy ai dám bì?
785.-Voi kia cao lớn đen sì,

Cặp ngà không  dụng: can chi cháy  mình !
Cọp kia nanh vuốt như binh,
Tấm da không  dụng: ai rình đâm chi?
Lấy trong việc ấy mà suy,
790.-Những nghề đời dụng, ra gì xưa nay !

Ta nhờ cán búa trong tay,
Theo nơi rừng núi, tháng ngày thảnh thơi.
Bữa dùng một gánh củi trời:
Cá, cơm, rượu , thịt, ở đời  cũng no.
795.- Giữ câu  " ngưỡng  phủ" bo bo,

Thờ trên nuôi dưới, miễn cho xong mình.
Xin đừng hổ với thần linh,
Cũng đừng hổ với người sanh trong đời.
Xin đừng ngược trá  lẽ trời,

800.-Cũng đừng trốn lánh việc đời thời xong.


*CHÚ  THÍCH :-


755.- Tương khi 相欺 :- lừa dối lẫn nhau.
756.- Trên quyền, dưới trá,  đoái gì thiên luân:-  *quyền權: quyền lực, quyền thế. *Trá 詐:- dối trá, lừa bịp. *Thiên luân 天綸:- trật tự, phep tắc hợp với lẽ trời. Cả câu ý nói kẻ trên thì cậy quyền cậy thế, kẻ dưới thì dối trá, không đoái hoài đến lẽ phải.
758.- Can qua :- *Can 干:- cái mộc. *Qua 戈:- cái giáo, là những món vũ khí đời xưa. Nghĩa rộng là chiến tranh, loạn lạc.

761.- Chính ra dữ quá cọp vàng :- *Chính ra :- chính sách ban ra; lấy ý câu "hà chính mãnh ư hổ 苛政猛於虎 ". Sách Lễ Ký chép :- "Khổng Tử qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà  đang khóc bên một ngôi mộ. Khổng Tử bảo Tử Lộ đến hỏi… Đáp: trước kia bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi rồi đến con tôi cũng chết vì hổ. Khổng Tử bảo sao không dời đi chỗ khác ở ? Đáp: vì ở đây, chính sách của quan trên không hà khắc như ở nơi khác. Khổng Tử quay lại nói với học trò: Các ngươi biết đấy, chính sách  hà khắc còn dữ hơn hổ.

762.- Lòng dùng độc, quá hổ mang thuồng luồng :- chỉ cái dụng tâm , mưu toan độc ác.
764.- Ải hổ, ải lang:- chỉ các cửa ải nơi biên giới. Theo "Đậu dương tạp trở" thì phân chó sói đem đốt, khói bốc lên thẳng, nên thời xưa dọc biên giới người ta đặt những đài Phong hỏa, dùng phân chó sói đốt để báo tin khi có giặc xâm phạm.
765.- Dấy loàn:- nổi loạn, làm loạn.
767.- Thon von:- cheo leo, gian nan, nguy hiểm. Ở đây có nghĩa buồn bã, tang tóc (xem thêm c.t. 46)
769.- Tam đại :- ba đời, ba triều đại của Trung Quốc xưa :- Hạ (2205-1766 BC), Thương (1783-1122 BC), Chu (1134-249 BC).

770.- Thúc Quý :- (xem c.t. 467)
778.- Y, Lý :- thầy thuốc và thần địa lý (phong thủy).
781.- Máy lòng:- dịch chữ "cơ tâm" hay "tâm cơ" : lòng xảo trá.

795.- Ngưỡng phủ :- (hay phủ ngưỡng). Sách Mạnh Tử, thiên Lương Huệ Vương có câu : "…phủ túc dĩ súc thê tử, ngưỡng túc dĩ sự phụ mẫu" (cúi xuống đủ để nuôi vợ con, ngẫng lên đủ để thờ cha mẹ). Ở đây chỉ bổn phận đối với cha mẹ, vợ con.

797.- Chư linh :- các vị thần linh.
799.- Ngược trá :- *ngược: trái với. *trá: dối trá. Ý câu nầy nói : đừng dối nghịch với lẽ trời.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, dailuc, Ngoisaobiec, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:35:23 PM »

(tiếp theo)

Dương Từ nghe nói hổ lòng,
Khen rằng : " Tiều Lão  thật dòng hiền xưa.
Ta đà lánh cõi mây mưa,
Cứ trau tấc dạ, lại ưa mùi thiền.
805.-Thiên Thai dốc kiếm chùa Tiên ,

Chưa thông đường sá, dám phiền vẽ  ta.
Tiều rằng : " Có chỉ nam xa,
Chớ lo đạo lỗi, lo ta lầm đàng.
Đây đi xuống bến Châu giang,
810.- Ngang qua sông ấy, lên đàng Thiên Thai.

* *
Dương Từ vội vã trở hài,
Từ biệt non đoài, Nương  gậy thiền đi.
Dưới trời nhiều việc  trứu mi,
Nghĩ ra nhiều thói dị kỳ mà kinh.
815.- Những người ngay thẳng đều vinh,

Thân tuy đã mất mà danh hãy còn.
Bảng vàng, thẻ bạc, chữ son,
Bao nhiêu vinh hiển, là con nhà hiền.
Tiều phu là đứa không tiền,
820.- Gẫm trong lời nói có duyên hơn vàng.

Hỡi ôi ! mấy kẻ giàu sang,
Mảng tham vui sướng, quên màng thân sau.

* *
Dương Từ đi tới  sông Châu,
Ngẩn ngơ nào biết đò đâu đưa mình.
825.-Ngó lên trên khúc sông quanh,

Thấy bên vực thẳm có manh cô bồng.
Một người đứng giữa khoang lòng,
Khua chèo miệng hát, gió lồng tiếng vang.

XI.- Hát rằng :

Bến sông Châu, vực sâu, cá ở,
Thương người hiền gặp thuở loạn ly.
Nước vần quanh, bãi gành nghiêng  cạn,
Kẻ anh hùng hoạn nạn khá thương !
Chiếc đò câu, đậu đâu nên đó,
Nước ly loàn, giàu có màng chi?

Dương Từ nghe tiếng ngư ca
830.-Bước lên trên bực, coi va thể nào.

Mình hơn tám thước rất cao,
Mặt đen, râu quắn, khác nào võ phu.
Dương Từ bước xuống ngư chu,
Xin đưa qua bến, sẽ âu hoàn tiền.
835.- Ngư rằng : " Người ở chùa chiền,

Đi đâu sông suối , mà phiền ta đưa?
Nhắm hình chẳng phải người xưa;
Lánh nơi hoạn nạn, tới trưa lỡ làng.
Ta nghe trong bến  Lư Giang,
840.-Có ông ngư phủ đưa chàng Ngũ Viên.

Lại nghe Đình trưởng dừng thuyền,
Giúp người  Hạng Võ qua miền Ô giang.
Hai người vì bởi lánh nàn,
Một lo rửa oán, một  toan trả  thù.
845.- Sợ đời bắt kẻ tóc râu,

Nào ai bắt đứa trọc đầu làm chi?
Nói cho  ra lẽ thị phi,
Dễ đưa qua đó, tiếc gì công ta.
* *
Cầm chèo thong thả đưa qua,

850.-Dương Từ tới  bến, xỉa ra tiền đò.


*CHÚ THÍCH :-


803.- Cõi mây mưa :- xem c.t. 325.
807.- Chỉ nam xa  指南車:- xe có gắn nam châm để chỉ phương hướng. Thời xưa, Hoàng Đế đánh nhau với Xuy Vưu ở Trác Lộc. Xuy Vưu hóa phép làm sương mù dày đặc, quân lính không còn biết phương hướng nữa, Hoàng Đế mới chế ra xe chỉ nam. Đến đời Chu Thành Vương, họ Việt Thường đem đồ cống, phải hai lần dịch tiếng khi nói chuyện . Lúc trở về, sứ giả quên mất đường, Chu Công lấy xe chỉ nam đưa cho sứ giả về.

811.- Chuốc hài :- đi giày.
813.- Trứu mi (皺眉):- nhăn mày, để tỏ ý không bằng lòng.
826.- Cô bồng :- *Cô 孤: lẻ loi một mình; *Bồng篷 :- mui thuyền, hoặc chiếc thuyền. Ở đây ý nói con thuyền lẻ loi.
827.- Khoang lòng :- khoang giữa của thuyền.
833.- Ngư châu (漁舟) :- thuyền chài.
839.- Lư Giang 瀘江 :- tên sông. Ngũ Viên trên đường chạy trốn vua Sở, được người lái đò cho cơm  ăn và chèo thuyền đưa ông qua.

840.- Ngũ Viên  五圓:- Ngũ Viên tự là Tử Tư 子思, người nước Sở thời Xuân Thu. Cả gia đình ông đều là công thần của vua Sở, sau cha và anh bị Sở Bình Vương giết. Ông trốn sang nước Tống, rồi đến Trịnh và Ngô, ngày đêm lo việc báo thù. Cuối cùng, ông đã giúp Ngô  đánh thắng Sở, trả được thù nhà.

841.- Đình trưởng :- *Đình 亭:- nhà nhỏ, hay trạm đặt cách nhau mười dặm một, trên đường lớn (dưới thời Hán). *Đình trưởng 亭長:- người trông nom, đề phòng giặc cướp trong khu vực nói trên.

842.- Hạng Võ…..Ô Giang :- *Hạng Võ 項武 tên Tịch, người đất Cối Kê, sức mạnh hơn người. Lúc trẻ theo chú là Hạng Lương chiêu mộ binh lính. Sau cùng Bái Công (Lưu Bang) chung sức đánh Tần. Diệt xong Tần, Tịch xưng là Sở Bá Vương. Về sau, Hạng Võ và Lưu Bang đánh lẫn nhau  để tranh giành ngôi vua. Hạng Võ bị bại, tự tử ở Ô Giang.

847.- Thị phi:- xem c.t. 203.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, dailuc, Ngoisaobiec, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:40:28 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười Một 23, 2010, 09:44:37 PM »

(tiếp theo)

Ngư rằng : " Ta chẳng đưa đò,
Phỏng tham tiền bạc so đo với người.
Trước  đà làm phải trên đời,
Ngàn vàng chẳng báu, một lời mà sang.
855.-Từ rằng : " Ta tiếc cho chàng,

Chẳng phen lương đống, cũng trang anh hùng.
Nay nghe  nước Tấn chinh đông,
Cầu người  võ sĩ ra công can thành.
Cớ sao chẳng xuống Tây kinh,
860.-Phò vua giúp nước, lập danh để đời?

Cá tôm đặng mấy mươi lời,
Theo nghề chài lưới, quên nơi sang giàu ?
Ngư rằng :"  :-  Người  khéo phỉnh nhau,
Ai từng khát nước đứng  đầu bờ ao?
865.- Đời  nay có khác xưa nào,

Đất dày thăm thẳm, trời cao mù mù.
Bốn mùa thành quách làm xâu,
Dân gầy, nước ốm, mỡ, dầu, cũng khô,
Thấy đời danh lợi biến phô,
870.-Khác nào con chấu nhảy vô thếp dầu.

Từ rằng : " Xưa sách có câu
Công thành danh toại, ai hầu  chi ai?
Ngư rằng : " Xưa bực  hiền tài,
Lập thân sao chẳng biết bia  bảo thân.
875.-Dầu vinh cũng tiếng nhân thần,

Trâu cày ngựa cỡi, cái thân ra gì?

Chớ tham ăn lộc  đời suy,
Bẫy chim, lưới cá, e khi mắc nhằng.
Trối ai ra sức muông săn,
880.-Một mai hết thỏ, chúng ăn tới mình.

Sao bằng một cõi an sanh,
Sông sâu vực thẳm, ai giành chi đây?
Sẵn dòng chèo quế một cây,
Ghe thông  một chiếc, đỡ ngày hôm mai.
885.-Theo sông khúc vắn khúc dài,

Năm ba sợi nhợ, một vài cần tre.
Đêm trăng ngày gió, bạn bè,
Vui câu hát xướng, buồn ve rượu đào.
Thả trôi gành hạc, bãi ngao,
890.-Thú vui non nước, mặc dầu nghinh ngang.
   
Cá tôm sẵn lộc trời ban,
Phận đà no đủ, còn màng của chi?

* *

Nói rồi thong thả chèo đi,
Dương Từ khen đó tính ky lâu dài.
895.-Than rằng : " Thương đứng anh tài,

Sanh không gặp thuở, khó nài thân sau:
Hỡi ai lộc trọng quyền cao !
Thú hèn cũng có anh hào, chớ khinh.

* *
Họ Dương từ thuở đăng trình,
900.-Trải chơi non nước sự tình biết bao.


*CHÚ THÍCH :-

856.- Lương đống 梁棟:- rường nóc, bộ phận chính của ngôi nhà; ở đây chỉ người tài giỏi, giữ những nhiệm vụ quan trọng then chốt của nước nhà.
858.- Can thành:- *Can干 là cái mộc dùng để đở binh khí; *Thành城 là thành quách để ngăn giữ quân địch. Can thành có nghĩa là chống giữ. Kinh Thi có câu :- "củ củ vũ phu công hầu can thành" (kẻ dũng sĩ uy vũ, làm cái mộc cái thành cho bậc công hầu). Ở đây chỉ người có tài chống giặc, giữ nước.

864.- Ai từng khát nước đứng đầu bờ ao :- có ai đứng ngay đầu bờ ao mà lại chịu khát bao giờ.
867.- Bốn mùa thành lũy làm xâu :- Quanh năm nhân dân phải đi làm xâu (sưu) xây đắp thành lũy cho bọn phong kiến.
872.- Công thành danh toại :- việc làm đã xong, tiếng tăm đ4 thỏa, ý nói công danh đều đạt.
879.- Trối ai ra sức muông săn :- *Trối: dặn bảo lại. Ở đây ý   nhắn bảo kẻ nào ra sức làm chó săn cho giặc thì hãy coi chừng !

880.- Một mai thỏ hết, chúng ăn tới mình :-  chữ trong Sử Ký :  "giảo thố tử, tẩu cẩu phanh" (thỏ nhanh chết rồi thì chó săn giỏi bị nấu).
881.- Cõi an sinh :- nơi sống yên ổn.
888.- Hát chặp :- lối hát tài tử do một người hát, hay có đối đáp. Lời và giọng hát được chọn trong một lớp ngắn của một tuồng hát bội.

889.- Gành hạc bãi âu :- gành có chim hạc đậu, bãi có chim âu đậu. Ở đây chỉ chỗ thanh vắng.
898.- Kẻ hào :- kẻ có tài trí hơn người.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, dailuc, byphuong, Ngoisaobiec, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Mười Một 24, 2010, 09:17:17 PM »

(tiếp theo)

Đi hơn nửa tháng lao đao,
Đến nay mới thấy đường vào Thiên thai,
Thiên thai một cảnh an bia ,
Dương Từ mới tới, ở ngoài động môn.

* *
905.-Lúc nầy người ở Long  Môn,

Tên là Hà Mậu, trí khôn, người hiền.
Theo cùng ông Lý tri Niên,
Từ non Tùng lãnh vào miền Thiên thai
Đi đà hơn nửa tháng dài,
910.-Phút đâu lố thấy gần ngoài động môn.

Tri Niên, lừa thả bên non,
Cùng ngươi Hà Mậu đều lòn cửa hang,
Hai người ra khỏi cửa hang,
Đến nơi động khẩu gặp chàng họ Dương.
* *
915.-Họ Hà, họ Lý, họ Dương,

Ba người gặp hỏi, mới tường tánh danh.
 Niên rằng : " Tiên  cảnh rất linh,
Họ Dương ngươi hãy ở đành lại đây.
Chờ ta tới trước am mây,
920.- Lên chùa Linh Diệu thăm thầy Lão Nhan.

Dương Từ nghe nói vội vàng,
Thưa rằng :" Xin đó đem đàng ta đi.
Niên rằng : " Ngươi vốn thiền sư,
Tới nơi Tiên  cảnh cầu chi chăng là?
925.-Từ rằng : " Nghe tiếng đồn xa,

Rằng :" Chùa Linh Diệu một toà ở đây.
Niên rằng : " Linh Diệu chùa này,
Vốn không thờ Phật mà lây tới thiền.
Từ rằng :" Không Phật, có Tiên ,
930.- Xin cho đặng thấy, phỉ nguyền chơi mây.

Niên rằng : " Hai gã ở đây,
Để ta tới trước Động Mây một giờ.
Lâu, mau, sao vậy cũng chờ,
Cho tin xuống rước kịp giờ sẽ lên
935.- Tri Niên vịn đá leo lên,

Tới nơi vân động gần trên mây lừng.
* *
Dương Từ Hà Mậu đều mừng
Ngồi trong cửa động trách lần cùng nhau.
Mậu rằng :"  : Tiếc đó đi tu,
940.-E khi cửa Phật công phu lỡ làng.

Ta nghe Phật ở Tây phang,
Vốn người mọi rợ, luân thường chẳng ưa.


Lại nghe Tam Đại đời xưa,
Dân an, nước trị, Phật chưa bày hình,
945.- Đến năm đời Hán Vĩnh Bình,

Sứ qua Thiên Trúc thỉnh  kinh Phật về,
Tới sau Lương Vũ rất mê,
Lập chùa, tượng cốt, chuyên nghề tu trai.
Ngụy, Trần,Tề, Tống đến nay,
950.-Đời đời nào cũng trọng thầy sa môn.


*CHÚ THÍCH :-

908.- Thiên Thai 天台:- tên một ngọn núi cao ở huyện Thiên Thai tỉnh Chiết (Triết) Giang (Trung Quốc) , tương truyền có Tiên ở. Đời Hán, Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc, gặp tiên nữ và lưu lại nửa năm mới trở về. Khi về đến nhà, thấy con cháu đã trải qua bảy đời.

945.- Vĩnh Bình 永平 :- niên hiệu vua Hán Minh Đế (58-75).
946.- Thiên Trúc天竺 :- tên gọi nước Ấn Độ thời xưa, chỉ nơi đức Phật ở.

947.- Lương Vũ Đế梁武帝 (464年-549年) :- vua nước Lương, họ Tiêu蕭tên Diễn 衍, làm quan nước Tề, sau được vua Tề齊 nhường ngôi, đặt quốc hiệu là Lương 梁(502) . Lương Vũ Đế sùng đạo Phật , nhiều lần đến tu ở chùa Đồng Thái 同泰寺, quần thần đến rước về. Sau bị Hầu Cảnh 侯景 làm phản, công hãm Đài Thành 台城, Vũ Đế chết đói. Ở ngôi được 48 năm. (502-549)

949.- Ngụy, Trần 陳, Tề 齊, Tống 宋 :- tên các triều đại phong kiến (Trung Quốc) xưa.
950.- Sa-môn沙門 :- nhà sư, người xuất gia tu đạo Phật.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Mười Một 24, 2010, 09:20:50 PM »

(tiếp theo)

Trên vua đến dưới dân thôn,
Đua nhau kính trọng một môn phù đồ,
Quì hương, chẩn tế, nam mô.
Tới lui tăng đạo, ni cô chật đường.
955.-Bao nhiêu theo đạo Tây phương.

Phước lành chưa thấy, tai ương tới mình,
Trên thời nghiêng nước nghiêng thành,
Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao !
Phật linh mấy cứu ai nào,
960.- Ngươi nay sao hãy lòn vào Thích gia?

Từ rằng :"  : Ngươi chớ giấu ta,
Đạo nào nên trọng, nói mà nghe chơi?
Mậu rằng :" ; Ta trọng đạo Trời,
Tới nay đã đặng năm đời Da -tô.

(Đoạn bị lược)

965.- Từ rằng : “Theo đạo Da-tô,

Chuyện không sách vở, nói phô miệng tày.
Chúa Trời đã có đức hay,
Sao giăng thập ác, chân tay đinh xiềng ?
Chúa Bà đã có đức hiền,
970.- Sao đầu đội máu, đít liền ngồi chông ?”

Họ Hà nghe nói động lòng,
Nước mắt ròng ròng, rằng chớ nói chơi.
Cám ơn đức Chúa trên trời,
Thương dân dưới đời, chịu tội cho dân.
975.- Cám thương nước Thánh  muôn phần,

Có tội mấy lần, đều rửa sạch trơn.
Từ rằng :"  : “Trời một Ngọc Hoàng,
Ở trên thiên hạ, sửa sang muôn đời.
Ngươi xưng rằng :"  đức Chúa Trời,
980.- Trời sao lại mắc vào nơi cực hình ?

Chẳng hay ai bắt tội tình,
Có trời nào nữa, hay mình Du-di,
Ngươi rằng :"  nước Thánh  rửa đi,
Sao không rửa trước để chi khổ mình ?
985.- Du-di đã mắc cực hình

Còn ai làm Thánh  luyện bình nước cho ?
Tội dân Trời đã chịu cho,
Làm vua trong nước nào lo trị đời”.
Mậu rằng :"  : “Trời cứu con Trời,
990.- Ai không về đạo, tội thời trối thây”.

Từ rằng :"  : “Nghe nói tiếng nầy,
Chúa Trời hẵn ở nước Tây rõ ràng.
Dân đều về đạo Hoa Lan,
Đời còn phải sắm khám đàng nhốt ai ?

995.- Ta nghe bên huyện Tôn Nhai
Có người đạo trưởng mang tai ngồi tù.
Nào bình nước Thánh  để đâu,
Không đem rửa tội, để cầu người lo ?
Lấy trong việc ấy mà so,

1000.- Trời đông, nam, bắc, khác đò trời tây”.

(hết đoạn lược)


*CHÚ THÍCH :-

953.- Quỳ hương, chẩn tế, nam-mô :- *Quỳ hương :- lễ đốt hương theo nghi thức Phật giáo mà tu sĩ phải theo; *Chẩn tế 鬒濟:- phát tiền, gạo để cứu người nghèo. Cả câu chỉ những nghi lễ của đạo Phật ( Xem thêm c.t. 355).
955.- Đạo Tây phương :- Tây phương : chỉ Thiên Trúc, ở về phía Tây của Trung Quốc. *Đạo Tây phương : ở đây chỉ Đạo Phật.
968.- Thập ác :- cái giá hình chữ thập (十), còn gọi là "thánh giá".
 Ông Jesus bị đóng đinh vào giá ấy. Ngày nay, tín đồ Thiên Chúa Giáo lấy đó làm biểu tượng cho đạo mình.
982.- Du-di :- phiên âm chữ JESUS , tức đức Chúa Jesus.
990.- Trối thây :- trối kệ, mặc kệ, thây kệ.
993.- Đạo Hoa-Lan :- xem c.t. 11.
994.- Khám đàng (đường) :- nhà tù, ngục  thất.
996.- Đạo trưởng:- chỉ chức vụ của đạo sĩ hay tiếng tôn xưng những người theo Đạo Giáo (Lão) . Ở đây chỉ Linh Mục, cha cố đạo Thiên Chúa.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Mười Một 24, 2010, 09:29:16 PM »

(tiếp theo)

Họ Hà đương gẫm lời hay,
Phút đâu chim hạc lại bay xuống liền.
Hóa ra đồng tử có duyên,
Tay cầm hai trái đào Tiên , miệng cười.
1005.-Bảo rằng : " Hai trái, hai người,

Ăn rồi mới biết là người dại khôn.
Ngày nay đã tới hoàng hôn,
Hai người đi khỏi động môn hành trình.
Theo ta tới Bích Phong Đình,
1010.- Ở trong hang đá nghỉ mình một đêm.

Rạng mai có kẻ xuống tìm,
Đem lên Vân động, mựa hiềm đợi trông.
Tiểu đồng dạy bảo vừa xong,
Hóa ra chim hạc, thinh không bay về.
1015.- Hai người mắt thấy lòng ghê,

Khen rằng : " Tiên  đạo nhiều  bề anh  linh.

*
* *

Vừa  chừng đương lúc sơ canh,
Ngó ra thấy bóng trăng thanh bên trời.
Băng luân một tấm treo khơi,
1020.-Non sông muôn nước ,bóng ngời lòng soi.

Hai người lẳng lặng ngồi coi,
Ngó ra trước cửa trăng  soi như ngày.
Vẳng nghe có tiếng vang dầy,
Rần rần ngựa gió, xe mây chật đàng,
1025.-Trước đi kiệu bạc, tán vàng,

Trong che phủ phất, ngoài giàn quạt tiêu.
Đèn ngân, đuốc ngọc, rất nhiều,
Loà nơi cửa động, hương thiêu thêm nồng.
Ngỡ là Thiên tử ngự phong,
1030.-Gẫm trong nghi vệ, cũng dòng thần Tiên .

Họ Hà coi thấy sợ liền,
Than rằng : " Mấy kẻ  linh thiêng như vầy!
Anh tu cũng tiếng ông thầy,
Theo làm tôi Phật, bấy chầy thấy không ?
1035.-Từ rằng : " Cốt mộc, cốt đồng,

Tạc hình, đúc tượng, ngồi không trên bàn.
Ta thường sớm tối đèn nhang,
Thấy ma, thấy qủy, chàng ràng trêu ngươi.
Phật không thấy nói thấy cười,
1040.- Cũng  không đi đứng cùng người thế gian.

Chạnh lòng ta mới hỏi chàng:
Lâu nay về đạo Hoa Lan thấy gì ?
Mậu rằng : "  “Thấy bức ảnh ghi...

(Đoạn bị  lược)

Thấy cây thập ác, thấy kỳ đọc kinh.
1045.- Bảy ngày thấy bửa Du –minh,

Thấy nhà chung nhóm, thấy hình cha Tây.
Thường thường thấy phát bánh mì,
Thấy ban nước Thánh , thấy khi dọn người.



(hết đoạn bị lược)

Trời đà bị chúng nhân cười,

1050.- Vậy nên phải tới hỏi người Tiên  tri”.


*CHÚ THÍCH :-


1012.- Mựa hiềm :- *Mựa : đừng, chớ *Hiềm : lo lắng, nghi ngại . *Mựa hiềm : chớ lo, chớ ngại.
1014.- Thinh không :- bỗng dưng, khi không, tình cờ. (xem c.t. 132).
1017.- Sơ canh 初更 :- canh đầu tiên (canh một) . Theo cách phân chia thời gian cổ, đêm chia ra làm năm canh.
1019.- Băng luân 冰輪 :- bánh xe băng giá, chỉ mặt trăng.

1024.- Ngựa gió xe mây :- do câu : "Vân vi xa hề phong vi mã 雲為車兮風為馬" (mây làm xe, gió làm ngựa) trong bài Ngô Sở Ca của Phó Huyền. Gió và mây ở Đây được coi là phương tiện di chuyển của Thần Tiên.
1026.- *Phủ phất 黼韍:- ở đây là tấm diềm bằng vải, nửa đen nửa trắng, hoặc nửa xanh nửa đen, trên có thêu hình, dùng để che quanh xe.

*Quạt tiêu :- tức quạt ba tiêu 芭瀟, hình dáng giống cái đuôi tàu là chuối, thường kết bằng lông vũ, những nhà quyền quí, sang trọng xưa thường dùng.
1027.- Đèn ngân, đuốc ngọc :- đèn đuốc nói chung. Ngân và ngọc ở đây là những "mỹ từ".
1029.-Thiên tử ngự phong 天子御封:- chỉ xa giá của vua đi xem xét nơi phong cương (bờ cõi).
1030.- Nghi vệ :- "nghi"  do chữ "nghi phục 儀服" là các vật dùng để bày ở dinh quan, ở triều đình, hay đem theo để hầu vua quan; "Vệ" do chữ "thị vệ 侍衛" là những người đi theo để chầu hầu.

1035.- Mác, đòng :- *Mác : thứ binh khí lưỡi dài và sắc; *Đòng : lưỡi giáo nhọn giống như cái đòng đòng lúa.
1038.- Chàng ràng:- cà rà, quanh quẩn, làm cản trở công việc người khác.
1045.- Du minh :- xem c.t. 227.
1048.- Dọn người :- dọn mình để rước đức Chúa vào lòng. Còn gọi là "chịu lễ" hay "chịu ơn trọng", một nghi thức hành đạo của tín đồ đạo Thiên Chúa.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Mười Một 24, 2010, 09:38:59 PM »

(tiếp theo)

Từ rằng :“Gặp kẻ Tiên  tri,
Ta xin hỏi đạo từ bi cho tường”.
Hai người những mảng ngồi  bàn,
Nghe chùa Linh Diệu chuông vàng sớm rung.
1055.-Xảy vừa tới lúc hừng đông,

Tri Niên đã xuống Bích Phong Đình rồi.
Nói rằng : “ Gặp tiết giao bôi,
Chư Tiên  hội yến vào hồi canh ba”.
Mậu rằng : “Chiều bữa hôm qua,
1060.- Có người đồng tử cho ta ăn đào.

Chẳng hay duyên cớ làm sao,
Khiến ta ăn đào, tránh khỏi  động môn ?”.
Niên rằng : “Nầy  cửa động môn,
Ngày lành, tháng tốt, để phồn Tiên  đi.
1065.-Hai người lòng dục chưa ly,

E con mắt tục, dòm vì Tiên   linh.
Có ăn hai trái đào xanh,
Rửa lòng nhân dục, trong mình mới an.
Chư Tiên  nay đã hồi loan,
1070.-Ta xin dẫn lộ hai chàng đi lên”.

*
* *
Dương Từ Hà Mậu theo lên,
Tới nên Vân động nửa trên lưng trời,
Thấy ngươi đồng tử truyền lời,
Rằng : “Ba người hãy tạm nơi động này.
1075.- Tôn sư giấc mộng đương say,

Chờ khi thức dậy, sẽ  hay lẽ nào”.
Ba  người ở động mây cao,
Nhắm  xem cảnh vật biết bao nhiêu tình.
Kỳ hoa, thoại thảo, xinh xinh,
1080.-Trân cầm, dị thú, rập rình vui thay !

Nền chùa cao quá vầng mây,
Bên thềm đá gấm, bóng cây im lìm.
Ngó vô mấy bức sơ liêm,
Mấy vầng họa đống tôn  nghiêm muôn phần.
1085.-Ngó ra non núi mấy từng,

Hình long dạng phụng, bên chưn đứng chầu,
Đông, tây, son đỏ hai lầu,
Chuông vàng, mõ ngọc chầu hầu rất xuê.
Ngắm xem bờ cõi bốn bề,
1090.- Một bầu trời đất nhỏ tề  nửa châu.

Từ rằng : "Có chí vân du,
Đến đây mới đặng ngồi đầu mây xanh".
Mậu rằng :  " Tìm chỗ cao minh,
Đến nay mới đặng khỏi mình bụi nhơ"
1095.-Niên rằng : "Ta thuở bé thơ

Có lòng tầm đạo đến giờ thảnh thơi"
*
* *
Phút đâu đồng tử ra mời,
Rằng : " Tôn sư dậy, ngồi nơi hiên đào.
Ba người khép nép bước vào,

1100.-Tới nơi hiên đào, nghe tiếng ngâm thi.

XII.-  Ngâm rằng :-

Đạo trời phơi phới ở đâu xa ?
Gẫm tấm  lòng người, khá thấy ra,
Theo nghĩa,  ai đành làm phản nước ?
Có nhân,  đâu nỡ phụ tình nhà ?

Xưa nay đều chuộng đường trung hiếu,
Sách vở còn ghi lẽ chánh tà.
Năm phẩm rừng Nho  săn sóc lấy,
Ấy là đạo vị ở lòng ta.


*CHÚ THÍCH :-


1052.- Từ bi:- xem c.t. 174.
1053.- Mảng :- mãi ham về một việc.
1057.- Giao bôi 交杯:- trao chén rượu mời nhau (thường là vợ chồng mới cưới).
1059.- Hồi loan :- quay xe loan trở về. Xa loan tức "loan xa" , một loại xe của vua đi có gắn nhạc hay chuông.
1068.- Nhân dục (人慾) :- lòng ham muốn của con người.
1079.- Kỳ hoa, thụy (thoại) thảo (奇花瑞草) :- hoa lạ, cỏ lành.
1080.- Trân cầm, dị thú (珍禽異獸) :- chim quí, thú lạ.
1083.- Sơ liêm (初簾):- rèm thưa.
1084.- Họa đống (畫棟) :- cái nóc nhà  có chạm trổ.
1088.- Xuê :- xinh đẹp, rực rỡ (từ cổ).
1099.- Bồ bặc :- nghĩa là bỏ . Ở đây chỉ sự khúm núm, vội vã.

*CT  bài thơ sau câu 1100 :-

*Năm phẩm rừng nho :- do chữ "ngũ phẩm 五品" là năm đạo thường của nhà Nho, có thể hiểu theo hai nghĩa :-

1/-ngũ thường 五常:- nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. 仁義禮智信

2/-ngũ luân 五綸:- trật tự của vua tôi,  cha con, anh em, vợ chồng, bằng hữu.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Mười Một 24, 2010, 09:44:18 PM »

(tiếp theo)

1101.-Ba người nghe tiếng ngâm rồi,
Vào trước chỗ ngồi, quì xuống vòng tay.
Tri Niên lạy trước, lời bày,
Thưa rằng : " Ngây dại xin thầy dạy phô.
1105.-Lão Nhan biết lũ mê đồ,

Dạy rằng : " Hà Mậu hỏi phô việc gì ?
Mậu rằng : " Tôi thật ngu si,
Chẳng hay đời trước cớ chi lầm đàng ?
Sư rằng : " Về  đạo Hoa- Lan,
1110.-Trong tấm lòng chàng, tưởng việc chi  nên ?

Mậu rằng : " Lòng chẳng dám quên,
Một nguyền  sau thác đặng lên Thiên đàng.
Lão Nhan dẹp chuyện Hoa Lan,
Hỏi rằng : " Kìa gã họ Dương sao quì ?
1115.-Mấy năm học đạo từ bi,

Vân du đã chán, việc gì tới đây ?
Từ rằng : " Vì việc chơi mây,
Mang lời chê biếm sầy sầy trong tai.
Kiếp sau là kiếp lâu dài,
1120.-Biết theo đạo Phật trọn bài  cùng chăng ?

Sư rằng : " Kinh Phật, trọng tăng ,
Tấc dạ nằng nằng tin tưởng điều  chi ?
Từ rằng : " Theo đạo từ bi,
Nhờ ngày sau thác, đặng kỳ siêu thăng.
*
* *
1125.-Lão Nhan ngồi ngẫm nghĩ rằng :

Hai đường đều muốn chữ "thăng lên trời".
Ta nay nói cũng uổng lời,
Chi bằng cho thấy lẽ trời mới tin.
Dặn rằng : " Hai gã lòng in,
1130.-Đều mong sau thác đặng lên nhà trời.

Chùa đây có ngõ lên trời.
Chi bằng bước tới xem chơi một hồi.
*
* *
Hai người nghe nói mừng vui,
Phút quên mình sống, còn ngồi dương gian,
1135.-Thưa rằng : " Đây có Thiên đàng,

Hai tôi xin tới du quan vài giờ.
Sư rằng : " Phách sạch hồn nhơ,
Xác phàm còn sống, khó mơ lên trời.
Ta nghe trong phép chúa Trời,
1140.-Cầu hồn về đạo lên nơi Thiên đàng.

Lại nghe  phép Địa Tạng Vương,
Siêu hồn vãi vãi về phương tây trời.
Hai ngươi nay muốn lên trời,
Xác phàm ở lại, hồn dời mới xong.
1145.-Ta đây có phép thần thông,

Xuất hồn rồi lại ra công hoàn hồn.
Hai ngươi lại trước đài môn,
Giờ lành ta sẽ xuất hồn cho thăng.

*
* *
Lại kêu ông Lý dặn rằng :

1150.- Rừng y gắn bó cho bằng Tiên  nhân,

*CHÚ THÍCH :-

1105.- Mê đồ  迷途:- con đường lầm lạc, sai trái; *lũ mê đồ:- bọn người theo con đường lầm lạc.
1109.- Sư 師:- ở đây chỉ thầy dạy học.
1124.- Siêu thăng 超陞 : - siêu thoát linh hồn lên cõi Cực Lạc, Niết-Bàn. (theo quan niệm nhà Phật).

1141.- Địa Tạng Vương (地藏王) :-tên một vị Bồ-Tát hiện thân trong khoảng trời và đất, để cứu khổ nạn cho chúng sinh, theo quan niệm nhà Phật. *Phép Địa Tạng Vương :- phép Phật để cứu vớt chúng sinh.

1145.- Phép thần thông 神通:- phép biến hóa vô thượng.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, nguyenthuy, anhlam, dailuc, mavuong, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:27:53 PM »

(tiếp theo)

Hôm nay là bữa lương thần,
Sửa sang vị thuốc, lo phần luyện đan,
Tri Niên học thuốc đã an,
Ở chùa Linh Diệu thanh nhàn coi chơi.   

*
* *

1155.-Dương Từ, Hà Mậu vâng lời,

Theo người đồng tử tới nơi Dương Đài.
Dương Đài có tấm bia bài ,
Chạm  câu "Thiên thượng khả giai”  rõ ràng.
Hai chàng bước tới xem tường,
1160.-Từng từng mây dợn,  rõ phương lên trời.

Mậu rằng : " “Theo đạo chúa Trời,
Thiên đàng đành dể trọn đời mới lên.
Phen này hồn sống đặng lên,
Tìm ông cha trước, cầu xin đem về.
1165.-Về rồi chúng thấy hết chê,

Còn chi người ngoại  nói nghề phải chăng”.
Từ rằng : " Giận tiếng lăng nhăng,
Nó chê ông Phật là thằng man di.
Lên trời dầu thác cũng đi,
1170.-Tìm cho thấy Phật xin trì phép linh.

Phép chi  phá miễu thần linh,
Bắt người đạo sĩ mới đành bụng  ta.
Phút đâu đồng tử bưng ra,
Mâm đào lại với bình trà ban  cho.
1175.-Bảo rằng :"  ăn uống cho no,

Xuống khe tắm gội, rồi cho lên trời.
Hai người đều phải nghe lời,
Ăn no tắm mát, ngồi chơi nửa giờ.
Tôn sư coi đã gần giờ,
1180.-Tới đài, cầm viết vẽ tờ bùa linh.

Dạy rằng : " Giờ tý, chữ canh,
Mộng sàng hai gã đem mình nằm an,
Kim đan cho uống hai hoàn,
Linh phù hai đạo, kíp mang theo mình.
1185.-Tôn sư đốt lá bùa linh,

Huỳnh Cân Lực sĩ hiện hình chờ sai.
Lại biên một cái tín bia ,
Đề rồi tên họ của hai người phàm.
Dạy rằng : " Chờ hết canh tam,
1190.-Chín trời đi khắp, rồi đam trở về.

Tín bài   đã có ấn phê,
Cầm đưa các cửa đặng bề đi thông.

*
* *

Lãnh  lời thầy khiến  vừa xong,
Hai chàng Lực sĩ thinh không tàng hình,
1195.-Tôn sư lại niệm chú linh,

Cấp như luật lịnh…”  âm binh đứng hầu.
Mây đen, khói mịt, ngút mù,
Gió, mưa, sấm, chớp , giây lâu mới tàn.
Hai người nằm xuống mộng sàng,

1200.-Thiu thiu nhắm mắt nằm an một phồn.


*CHÚ THÍCH :-

1151.- Lương thần (良晨) :- buổi sáng tốt, đây chỉ ngày lành  tháng tốt.
1158.- Thiên thượng khả giai (天上可階) :- có lối  lên trời.
1181.- Giờ ngọ chữ canh :- tức giờ Canh Ngọ庚午 (âm lịch) từ 11g đến 13 giờ.
1184.- Linh phù (靈符) :- bùa thiêng.
1187.- Tín bài (信牌) :- cái thẻ để làm tin.
1189.- Giờ trọn tam tam :- *Tam : ba; *tam tam tức là 3 x 3 = 9, tức trong vòng 9 giờ. (xem thêm c.t. 1457)

1190.- Chín trời = cửu thiên 九天:- chín phương trời.

《呂氏春秋•有始》曰:天有九野,謂中央與四正四隅:中央曰鈞天,東方曰蒼天,東北方曰變天,北方曰玄天,西北方曰幽天,西方曰顥天,西南方曰朱天,南方曰炎天,東南方曰陽天。

* Theo "Lã Thị Xuân Thu- Chương Hữu Thủy"   trời gồm có chín khu vực , tức Trung Ương và tám phương : Trung  ương là  Quân Thiên鈞天, Đông Phương là Thương Thiên蒼天, Đông Bắc Phương là Biến Thiên變天, Bắc Phương là Huyền Thiên玄天, Tây Bắc Phương là U Thiên幽天, Tây Phương là Hạo Thiên顥天, Tây Nam Phương là Chu Thiên朱天 , Nam Phương là Viêm Thiên 炎天, Đông Nam Phương là Dương Thiên 陽天.

《楚辭•天問》「九天,東方曰皞天,東南方陽天,南方赤天,西南方朱天,西方成天,西北方幽天,北方玄天,東北方變天,中央鈞天。皞一作昊;變一作欒,一作鸞。」

*Theo "Sở Từ-Chương Thiên Vấn" thì :-「cửu thiên , đông phương là Hạo Thiên 皞天, đông nam phương Dương Thiên陽天 , nam phương Xích Thiên 赤天 , tây nam phương Chu Thiên 朱天, tây phương Thành Thiên成天, tây bắc phương U Thiên 幽天, bắc phương Huyền Thiên 玄天, đông bắc phương Biến Thiên變天 , trung  ương Quân Thiên 鈞天 . Hạo 皞 còn gọi  Hạo 昊;Biến 變còn gọi  Loan 欒 , hoặc Loan 鸞 . 」

*Trong Dương Từ Hà Mậu, chín trời gồm: Thanh Thiên 青天, Xích Thiên赤天, Bạch Thiên白天, Hắc Thiên黑天, Trung Thiên中天, Hạo Thiên昊天, Khung Thiên穹天, Thương Thiên蒼天, Huyền Thiên 玄天.

1194.- Tàng hình (藏形) :- giấu hình thể để người khác không nhìn thấy (phép thuật của các đạo sĩ ngày trước).
1196.- Âm binh (陰兵) :- quân lính ở cõi âm phủ, quân lính vô hình của thầy pháp (đạo sĩ).
*Cấp (cấp)  như luật lịnh 急急如律令 :- làm gấp theo lịnh. Câu ở cuối bài thần chú của các đạo sĩ sai khiến âm binh.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:31:18 PM »

(tiếp theo)

Tôn sư đã đốt phù dồn,
Huỳnh Cân Lực Sĩ dắt  hồn ra đi.

*
* *

Hai người đều xuất hồn đi,
Đều theo Lực sĩ một khi lên trời.
1205.-Hai ngươi hồn đến cõi trời,

Thấy trong cảnh vật khác nơi cõi người.
*
* *
Trời đông một cửa xanh ngời,
Có tấm biển trời, hai chữ "Thanh Thiên".
Hai cung Chấn, Tốn, đoàn viên,
1210.-Mộc Tinh, các phủ  nóc liền  giăng giăng.

Đường  đi Giáp, Ất, thẳng băng,
Có thần gìn giữ, tên rằng " Thanh Long".

*
* *

Hai chàng trình tín bài   xong,
Đem nhau tìm kiếm, hỏi dòng họ xưa.
1215.-Áo xanh quân đóng sớm trưa,

Cầm cờ Xuân Lịnh rước đưa Thần Hoàng.
Mới hay thứ nhất Thiên đàng,
Thật vua Thanh đế, ngôi vàng chánh đông.
Giữ gìn muôn việc rất công,
1220.- Nhờ ơn gây dựng, vun trồng mùa xuân.

Hai chàng vội vã dời chân,
Trời đông chẳng thấy, qua tầng trời nam.

*
* *

Trời nam một cõi ly tam,
"Xích Thiên" hai chữ, bảng đam rõ ràng.
1225.-Cung Ly rực rỡ nghiêm trang,

Hỏa tinh các phủ sửa sang chói lòa.
Bính, Đinh, hai ngã vào ra,
Có thần Châu Tước hỏi tra ngăn ngừa.
Hai chàng đem tín bài   thưa,
1230.-Hỏi thăm tin tức, cũng chưa thấy gì.

Quân hầu áo đỏ giàn đi,
Cầm cờ Hạ Lịnh oai nghi rõ ràng.
Mới hay thứ nhị Thiên đàng,
Phần vua Xích Đế sửa sang mùa hè.
1235.-Trời nam tìm dấu vắng hoe,

Đem nhau một bè, qua chốn trời tây.

*
* *

Trời tây một cửa dầy dầy,
"Bạch Thiên" hai chữ, bảng vầy treo ra.
Kiền  Đoài, hai cửa chói lòa,
1240.-Kim Tinh các phủ vô ra rần rần.

Tới lui trong cửa Canh, Tân,
Có thần Bạch Hổ giữ phần cấm ngăn.
Hai chàng đi tới trình bằng.
Cứ theo việc trước, hỏi phăng đi tìm.
1245.-Thấy quân trắng áo, trắng xiêm,

Cầm cờ Thu Lịnh bài  nghiêm các tòa.
Mới hay là cõi thứ ba,
Phần vua Bạch Đế, ở tòa Tây Thiên.
Đem nhau vội vã đi liền,
1250.-Trời tây khỏi miền, trời bắc lại đi.

*CHÚ  THÍCH :-


1209.- Chấn, Tốn (☳ ☴) :- tên hai quẻ trong tám quẻ theo Kinh Dịch. Chấn, Tốn chỉ hướng Đông và Đông nam.

1218.- Thanh Đế (青帝):- vua ở trời phương Đông.

1225.- Cung Ly (☲) :- một quẻ  trong bát quái, thuộc hành Hỏa, chỉ phương Nam.

1234.- Xích Đế (赤帝) :- vua ở trời phương Nam.

1239.- Càn, Đoài (☰ ☱) :- hai trong tám quẻ, Càn chỉ hướng Tây bắc; Đoài chỉ hướng Tây.

1248.- Bạch Đế (白帝) :- vua ở trời phương Tây.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:34:51 PM »

(tiếp theo)

Ngữa trông  một cửa đen sì,
"Hắc Thiên" hai chữ, bảng ghi chẳng lầm.
Một tòa cung Khảm tăm  tăm,
Thủy tinh các phủ ở sâm si cùng.
1255.-Phương đi Nhâm, Quí, nhiều sông,

Có thần Huyền Võ  tuần phòng đứa gian.
Hai chàng thưa gởi đã an,
Đi qua khỏi cửa tìm đàng người quen.
Thấy quân mặc áo màu đen,
1260.-Cầm cờ  Đông  Lịnh đua chen đầy đường.

Thứ tư đây cũng  Thiên đường,
Phần vua Hắc Đế sửa sang việc trời.
Trót đà tìm hỏi  khắp  nơi,
Ông cha chẳng thấy, lại dời trung thiên.

*
* *

1265.-"Trung Thiên" hai chữ bảng vàng,

Chói lòa một cửa, bốn phang đều hầu.
Hai cung Khôn, Cấn, làu làu,
Thổ Tinh các phủ liền nhau một vầng.
Đằng Xà, Câu Trận, hai thần,
1270.-Giữ phương  Mồ, Kỷ, là phần tuần tra.

Hai chàng trình tín bài  qua,
Cứ theo việc trước vậy mà hỏi han.
Thấy quân mặc áo màu vàng,
Cầm cờ Tứ Quý  đóng dàn khắp nơi.
1275.-Thứ năm đây giữa  cõi trời,
Phần vua Huỳnh  Đế sửa vời trung ương.

*
* *

Dương Từ, Hà mậu, hai chàng,
Hỏi ngươi Lực sĩ mọi đàng cơ quan.
Rằng : " “Đi năm cửa Thiên đàng,
1280.-Cớ sao chẳng thấy Hoa Lan người nào ?

Cũng không Phật tử ra vào,
Hoặc là còn ở trời nào nữa chăng ?
Huỳnh Cân Lực sĩ đáp rằng :
Một trời thật có chín tầng âm dương.
1285.-Tới đây mới đặng năm phương,

Hãy còn bốn cửa Thiên đường ở cao,
Hai người muốn rõ âm hao,
Phải tìm cho khắp, lẽ nào mới hay.
Nói rồi vội vã đem đi,
1290.-Hạo Thiên chốn ấy   cấp kỳ lại qua.

"HạoThiên" hai chữ bảng ra,
Sáng trong một cửa chói loà muôn phương.
Thái Dương  sánh với Thiếu  Dương.
Hai cung dành sẵn hào quang mặt trời
1295.-Kim ô một bóng chói ngời,

Theo đường Hoàng Đạo khắp trời xưa nay.
Máy xây làm việc ban ngày,
Có thần giữ cửa hiệu rày Thiên Xung.
Hai chàng trình tín bài   xong,
1300.-Cứ theo đường trước tìm dòng cố nhân.


*CHÚ THÍCH :-


1253.- Khảm (☵) :- một cung trong tám quẻ, chỉ hướng Bắc theo Kinh Dịch.

1254.- Sâm si :- cao thấp, dài ngắn không đều nhau.

1262.- Hắc Đế (黑帝) :- vua ở trời phương Bắc.

1267.- Khôn, Cấn (☷ ☶) :- hai trong tám quẻ thuộc hành Thổ, chỉ trung ương.

1276.- Hoàng Đế :- chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế 玉皇上帝.
1280.- Đạo Hoa-Lan :- xem c.t. 11.
1287.- Âm hao :- xem c.t. 135.

1290.- Cấp kỳ (急期) :- *Cấp là gấp vội; *Kỳ là thời hạn; *Cấp kỳ :- nhanh chóng, kịp thời.
1293.- Thái Dương, Thiếu Dương 太陽少陽 :- thuật ngữ trong Kinh Dịch, ở đây chỉ mặt trời.
1296.- Hoàng đạo (黃道) :- quỹ đạo của mặt trời, gồm 12 cung (theo thiên văn cổ).


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:40:42 PM »

(tiếp theo)

Tìm thôi thấy những Thánh  thần,
Thiên đường đây thật về phần Dương Quân.
Xiết bao trong dạ bâng khuâng,
Khung Thiên lố thấy, lại gần đường qua.

*
* *

1305.-"Khung Thiên" hai chữ chói loà,
Quế hương một cửa, hơi ra đầm đầm.
Thái Âm sánh với Thiếu Âm.
Hai cung đồ sộ sáng dầm mặt  trăng.
Một vầng Bạch Thố bóng giăng.
1310.-Non sông bóng giợn, soi bằng lòng gương.

Có quan tuần giữ một phương,
Thiên Anh chữ đặt, đón đường hỏi tra.
Hai chàng trình tín bài   ra,
Cứ theo việc trước, hỏi bà con thân.
1315.-Hỏi ra thấy những Thánh  thần,

Thiên đường đây thật về phần Âm Quân.
Trong lòng chi xiết bâng khuâng,
Thương Thiên chốn ấy phải lần đường qua.

*
* *

 "Thương Thiên" hai chữ chói lòa,
1320.-Băng xăng một cửa ra vô rập rình.

Quyết Âm sánh với Dương Minh,
Hai cung lồng lộng, ngôi tinh, ngôi thần
Bao nhiêu sấm sấm sét nổ rân,
Mây đen, sương trắng, băng xăng cõi này.
1325.-Có thần Thiên Trụ ở đây,

Hôm mai giữ cửa ngăn rày hỏi tra.
Hai người trình tín bài  ra,
Cứ theo việc trước, hỏi qua việc mình.
Tìm thôi gặp những thần linh,
1330.-Thiên đường đây thật cõi Tinh Quân vì.

Ngẩn ngơ, ngao ngán, lòng nghi,
Huyền Thiên lố thấy, kíp đi tìm đàng.

*
* *

"Huyền Thiên" hai chữ sơn vàng,
Các phương chầu chực, nhộn nhàng vào ra.
1335.-Tử Vi rực rỡ một tòa,

Ngọc Hòang Thượng Đế  thật là ở đây.
Đền, đài, lầu các, đoanh xây,
Dấu lân phụng lạy, vẻ mây rồng chầu
Thiên Bồng, Thiên Tuế ứng hầu,
1340.- Hai ông thần ấy đều âu  tuần phòng.
*
* *
Hai chàng xem thấy nớp lòng,
Trên trời thật nhóm  những  dòng thần linh.
Khắp nơi han hỏi sự tình,
Thảy đều chẳng gặp quen mình là ai.
1345.-Cùng nhau than vắn, thở dài,

Còn nơi nào nữa, toan bài   hỏi han!
Thương thay hai gã gian nan,
Chín trời đã khắp, phải toan lẽ gì ?

(Đoạn bị lược 14 câu)


Đã không thấy Phật từ bi,
1350.-Lại không thấy Chúa Du-di trên trời.

Họ Hà khi ấy buông lời,
Nói rằng : “Tiếc bấy năm đời công phu !
Đọc kinh, xem lễ bấy lâu,
Tưởng ông cha đã  lên chầu trời cao.
1355.- Đến nay lên chốn Thiên tào

Hai ông Tiên  ấy lời trao rất bền.
Khiến ta chử dạ chưa quên ,
Đừng mong sau thác , đặng lên Thiên đàng.
Đến nay mới biết rõ ràng,
1360.- Trung nguyên sánh với Hoa-Lan khác trời”.

Dương Từ vừa mới buông lời,
Nói rằng :"  : “Cho đáng cái đời Thầy Tu !”


(hết đoạn lược)

Phút đâu bên chốn tây lầu,
Nổ ba tiếng sấm, nhóm hầu các cung.
1365.- Áo, xiêm, đai, mão, lạnh lùng!


*CHÚ THÍCH :-


1307.- Thái Âm, Thiếu Âm 太陰少陰 :- thuật ngữ trong Kinh Dịch, ở đây chỉ mặt trăng.

1309.- Bạch thố (白兔) :- thỏ trắng, chỉ mặt  trăng.Tương truyền trong mặt trăng có con thỏ trắng đang giả thuốc tiên.

1321.- Quyết Âm厥陰sánh với Dương Minh陽明:- tên hai kinh (mạch) 經脈trên thân thể trong khoa châm cứu. Ở đây chỉ hai ngôi sao.

1349.- Từ bi :- xem c.t.174.

1355.- Thiên Tào :- xem c.t.123.
1357.- Chử dạ :- gìn giữ trong lòng (từ cổ).

1360.- Trung Nguyên 中原:- vùng đồng bằng sông Hoàng Hà (Trung Quốc) , nơi phát sinh của đạo Nho. (xem thêm c.t.454) .
1365.- Lạnh lùng :- xưa dùng với nghĩa "lạ lùng". VD :- đẹp lạ lùng, tốt lạ lùng.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Mười Một 25, 2010, 09:44:17 PM »

(tiếp theo)

Tinh Quân các vị rùng rùng tới nơi,
Hai người đứng núp coi chơi,
Những người chầu chực nhà trời là ai ?
Thấy đi có tấm thẻ bài ,
1370.-Đề rằng :"  "Khổng Tử Đại Tài Thánh  Vương".

Ngồi trong kiệu ngọc, tàn vàng,
Một ông Khổng Tử dung nhan tốt lành.
Theo sau biết mấy thần linh,
Coi trong thẻ bạc, đều danh Đại Hiền,
1375.-Dương Từ buông tiếng  khen liền:

“Hèn chi vua chúa chính chuyên miếu thờ.
Cho hay muôn nước đều nhờ,
Đạo ông Khổng Tử làm bờ chăn dân.
Trong đời biết chữ nhân luân,
1380.-Biết đường trị loạn, muôn phần nhờ ai ?

Nhớ câu "kế vãng khai lai",
Thật ông Khổng Tử đại tài Thánh  vương.
Đâu đâu cũng kính, cũng nhường,
Môn đồ cũng đặng hiển dương muôn đời.
1385.- Như vầy mới gọi đạo trời,

Trời sanh đức Thánh  thay lời dạy dân.

*
* *

Dương Từ vừa dứt tiếng phân,
Phút đâu lại thấy vị thần đi sau.
Một người cỡi ngựa, tốt râu,
1390.-Tới  gần nhìn thật Quan Hầu thuở xưa.

Vội vàng quì lạy, liền thưa:
“Mừng nay gặp Phật, khác xưa cõi phàm.
Nam mô hai chữ Già Lam,
Xin thương bần sãi ở am chầy ngày »
1395.- Quan Hầu cỡi ngựa đi ngay,

Châu Thương dừng lại , tỏ bày căn duyên.
Hỏi rằng : " Người ở cửa thiền,
Việc chi tới chốn Huyền Thiên làm gì?
Từ rằng : " Ông vội quên đi,
1400.- Am mây bần sãi tu trì nhiều công.


*CHÚ THÍCH :-


1370.- Khổng Tử :- xem c.t. 310/2.
1376.- Chính chuyên (正專) :- *chính là ngay thẳng; *chuyên là chuyên tâm vào một việc; *chính chuyên :- một lòng một dạ.
1378.- Chăn dân :- dịch chự "mục dân 牧民" là coi sóc dân, cai trị dân.
1379.- Nhân luân (人綸):- luân thường thứ bậc của con người.
1380.- Trị, loạn :- *trị 治: đời yên ổn; *loạn 亂: đời giặc giã.
1381.- Kế vãng khai lai 繼往開來 :- nối tiếp cái đã qua, mở đường cho cái sắp tới.
1384.- Hiển dương :- xem c.t. 466.

1390.- Quan Hầu :- tức Quan Vũ 關羽(?-220年), tự là Trường Sinh 長生, sau đổi  là Vân Trường 雲長, người đời Tam Quốc 三國; cùng với Lưu Bị劉備 , Trương Phi 張飛 kết nghĩa anh em, mưu việc trung hưng nhà Hán. Khi Lưu Bị lấy được Ích Châu 益州, cử Quan Vũ làm Tiền Tướng Quân giữ Kinh Châu荊州. Sau Tôn Quyền 孫權dùng kế của Lã Mông呂蒙 phá được Kinh Châu, bắt được Quan Vũ, Vũ không hàng, bị giết chết.

1393.- Già-lam 伽藍:- 1/- DT riêng chỉ một vị Bồ Tát trong đạo Phật. 2/- DT chung chỉ cho ngôi chùa. Tương truyền, sau khi Quan Vũ chết, tu theo Phật và thành Phật  Già –Lam.

1396.- Châu Thương周倉 (dân gian quen gọi là Châu Xương) :- gia tướng của Quan Vũ 關羽, nguyên là dư đảng của Trương Giốc 張角. Khi Quan Vũ rời Tào Tháo  曹操 sang Viên Thiệu  袁紹 tìm Lưu Bị劉備, dọc đường gặp Châu Thương. Thương xin theo. Khi Quan Vũ bị Đông Ngô giết, Châu Thương tự tử . (Nhân vật nầy chỉ có trong  tiểu thuyết "Tam Quốc Chí 三國志" , không phải là "nhân vật thật" trong lịch sử-NT)

1400.- Bần đạo:- xem c.t. 618.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, mavuong, dailuc, ngodao
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.311 seconds với 24 câu truy vấn.