Tháng Một 18, 2021, 02:25:44 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 ... 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU-- 楊慈何茂 (Bản đầy đủ 3460 câu)  (Đọc 26564 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Mười Một 20, 2010, 09:03:11 PM »

DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU

楊 慈   何 茂


LGT:- Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Đình Chiểu, thì tác phẩm Dương Từ—Hà Mậu rất ít người biết đến.
Có nhiều lý do, trong đó "có vấn đề đụng chạm tôn giáo khác" có lẽ là chính.

Trên tinh thần bảo lưu vốn văn học cổ, chúng tôi cố gắng đưa giới thiệu một tác phẩm DTHM có tính cách đầy đủ

(3460 câu và 37 bài thơ phụ).


Đây chỉ là việc làm mang tính "bảo tồn" tài liệu của người xưa, ngoài ra, chúng tôi không dám "có ý kiến hay phê phán" gì cả ! Đó là phần việc của lịch sử hiện nay và sau nầy.

Kính mong tất cả quí vị thông cảm và "tha thứ" cho việc đưa quyển DTHM đủ câu, đủ chữ nầy lên mạng.

Nội dung nầy là ở quyển Dương Từ—Hà Mậu do Nhà xuất bản tổng hợp Long An ấn hành và phổ biến vào năm 1982, chúng tôi chỉ chép lại mà thôi.

Trân trọng giới thiệu cùng quí huynh đệ.

Nhược Thủy

(Mùa Đông năm Canh Dần—2010)
--------------------------
*Ý kiến của vi.wikisource :


Thông tin về ấn bản này

Ấn bản gốc : Dương Từ - Hà Mậu
Nguồn: http://www.thivien.net
 Tham gia đóng góp :Tranminh360
 Mức độ phát triển: Văn kiện chưa hoàn thành 
Ghi chú :Văn bản còn thiếu rất nhiều đoạn
Thỉnh cầu: bổ sung và hiệu đính tác phẩm này

Vì không có bản in nên tôi tạm dùng nguồn trên mạng và không biết nên chia phần thế nào vì tác phẩm quá dài. Văn bản có quá nhiều đoạn bị lược bỏ, vì vậy nếu ai có bản in đầy đủ cuốn Dương Từ - Hà Mậu của Nguyễn Đình Chiểu xin vui lòng giúp bổ sung và hiệu đính tác phẩm này. Tranminh360 (thảo luận) 15:00, ngày 17 tháng 2 năm 2010 (UTC)

(*Source :- http://vi.wikisource.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:D%C6%B0%C6%A1ng_T%E1%BB%AB_-_H%C3%A0_M%E1%BA%ADu )


----------------------

TIỂU SỬ CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

***



Chân dung Nguyễn Đình Chiểu tại đền thờ (Ba Tri, Bến Tre)


Nguyễn Đình Chiểu  阮廷沼 ( 1822 - 1888) là một nhà thơ, nhà văn hóa trung đại của Việt Nam.


I.- Tiểu sử

Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai. Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822, tại làng Tân Khánh [1] , phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, TT-Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định.

Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã khiến cha ông bỏ trốn ra Huế rồi bị cách chức. Năm 1833 cha ông trở vào Nam, đem ông ra gửi cho một người bạn ở Huế để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 12 đến 19 tuổi.

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi. Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.

Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút... ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, ông mới mở trường dạy học và làm thuốc.

Năm 1854, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phục và mến thương ông, nên đã xin gia đình gả cô em gái thứ năm của mình tên là Lê Thị Điền (1835 - 1886), người Cần Giuộc (Long An), cho thầy...

Kể từ đó, gần chục năm sau, ngoài đôi việc trên ông còn sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu, để gửi gắm tình ý cùng hoài bão của mình.

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, được nhiều người đánh giá cao.

Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối trước mọi cám dỗ của đối phương [2].

Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất.

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre. Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những người mến mộ ông[3].

II.- Văn và Người
 


Tượng Nguyễn Đình Chiểu trong đền thờ ở Ba Tri, Bến Tre

Mô tả về nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Văn Châu đã viết [4]:

    "Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam."

       
Dù đui mà giữ đạo nhà
        Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
        Dù đui mà khỏi danh nhơ
        Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình...


        Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
        Lòng đạo xin tròn một tấm gương.


        Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
        Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Phạm Thế Ngũ nhận xét [5]:

    "So với các trước tác của các nhà văn cùng thời, Nguyễn Đình Chiểu đã có một thái độ tích cực hơn, vì dân vì nước hơn. Tuy không đứng vào hàng ngũ cầm khí giới, nhưng ông rất có cảm tình với họ, chia sẻ với họ cái hờn mất nước, lòng căm ghét quân địch và bọn hợp tác..."

Ghi nhận những thành tựu trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của ông, trên trang web của tỉnh Bến Tre có bài viết [6]:

    "Truyện Lục Vân Tiên dài 2.083 câu thơ mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung."

    "Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu dài 3.460câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiên Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước."

    "Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc..."

    "Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là:Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch', Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điếu Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp..."

    "Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch:"

       
Nói ra thì nước mắt trào,
        Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi...

    "Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta (Phạm Văn Đồng)

Tóm lại, sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

III.- Tác phẩm chính

 


Mộ Nguyễn Đình Chiểu (trái), mộ vợ ông (phải), phía xa là mộ Sương Nguyệt Anh và đền thờ của ông

    * Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính chất tự truyện.
    * Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)
    * Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm sáng tác)
    * Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)
    * Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864)
    * Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868)
    * Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)
    * Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)
    * Hịch đánh chuột (chưa xác định thời điểm sáng tác).

*Thông tin thêm

    * Con gái thứ năm của ông là Nguyễn Thị Ngọc Khuê tức nữ sĩ Sương Nguyệt Anh và con thứ bảy tên Nguyễn Đình Chiêm, đều là người nổi tiếng trong giới văn chương.
    * Toàn thể khu đền mộ của Nguyễn Đình Chiểu tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích Lịch sử Văn hóa ngày 16 tháng 3 năm 1993.
    * Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam đã lập ra Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu công bố năm 1965 dành tặng cho các tác giả, tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở miền Nam.
    * Một trong những trường trung học đầu tiên của Nam Bộ là Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho, thành lập năm 1879 và mang tên "Nguyễn Đình Chiểu" từ năm 1953 đến nay.[7]
    * Ngôi trường chuyên đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp, tại thị xã Sa Đéc, được đặt theo tên ông, tức Trường THPT chuyên Nguyễn Đình Chiểu.

--------------------

(xin  tiếp tác phẩm DTHM)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, Simon C., voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 25, 2010, 11:44:22 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười Một 20, 2010, 09:11:00 PM »

(tiếp theo)

DƯƠNG TỪ—HÀ MẬU

楊 慈  何茂

(nhà xuất bản tổng hợp Long An—1982. Lời giới thiệu của Giáo sư Trần Văn Giàu)




Trang bìa sách DTHM




Nguyên văn Lời nói đầu

LỜI DẪN

Quyển sách  Dương Từ Hà Mậu nầy được biên soạn trên cơ sở của ba văn bản sau đây:-

1.- Bản Nôm chép tay của gia đình Ông Lê Minh Chi, xã Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

2.- Bản Nôm chụp từ bản chép  tay của Quách Đăng Vân, mang tựa đề "Dương Từ Hà Mậu cổ thư", chép vào tháng bảy năm Giáp Thân (?).Bản nầy có mấy đặc điểm mà các bản khác không có.

Đó là bài Tựa bằng chữ Hán gồm 332 chữ và hai câu thơ mở đầu:-

"Cõi Nam rày đã thăng bình,
Thường xem các sách gia đình chép ra …".

Ngoài ra, còn có 4 bài thơ Nôm vịnh các tà đạo (các trang 244—245 —246 )

3.- Bản quốc ngữ do Phan Văn Hùm sao lục và hiệu đính, Nxb Tân Việt, 1964. Bản nầy chỉ có 3348 câu (đã lược bỏ 164 câu do  bị kiểm duyệt)

*Ghi chú:- (NT)

Phần chú thích (tôi xin  kèm thêm chữ Hán, để giúp các bạn muốn tham khảo rộng nghĩa ) .
---------------------


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, Simon C., voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười Một 20, 2010, 09:15:14 PM »

(tiếp theo)

VĂN BẢN DƯƠNG TỪ   HÀ MẬU

1.- Coi rồi truyện cũ chư gia,
Lòng vì  đạo học, soạn ra để đời.
Dị đoan xưa đã bời bời,
Lại thêm đạo Phật, đạo Trời  băng xăng,

5.-Thói đời nhiều việc lăng nhăng,
Mấy ai giữ  đặng đạo hằng người ta.
Đua nhau kỉnh chuộng đạo tà,
Một câu "quả báo", muôn nhà đều tin.
Nói rằng : " Trời, Phật, sách in,

10.-Tội về địa ngục, phước lên thiên-đàng.
Có người về đạo Hoa-Lan,
Năm đời truyền thói khoe khoang cầu hồn.
Họ Hà, tên Mậu, người khôn,
Ở đời Hậu Tấn, Long Môn quê nhà.

15.-Sáu mươi tuổi tác hầu già,
Tuy là giàu có, trong nhà không con.
Rạng giồi một tấm lòng son,
Của tiền bố thí, không còn so đo.
Vợ chồng giữ đạo bo bo,

20.-Ơn trời ngỏ đặng chút cho phước lành.
Hôm mai luống những đọc kinh,
“Amen ! đức Chúa” có linh chăng là.
Liễu Thơ là vợ họ Hà,
Chiêm bao nằm thấy nguyệt sa trên mình.

25.-Phút đâu  có nghén thình lình,
Khiến ngươi Hà Mậu thấy tình sanh nghi.
Nói rằng : " Khí huyết già suy,
Hay đâu chửa nghén, e khi bịnh gì ?
Sai người tìm rước danh y,

30.-Anh em đồng đạo, tên Kỳ họ Châu.
Châu Kỳ coi mạch hồi lâu,
Nói rằng : "    Chị mắc qủy đầu thai đây ! .
Mậu rằng : " Nhờ lượng ơn thầy,
Mạch kia đã hẳn, thuốc nầy ắt hay.

35.-Kỳ rằng : " Để hốt thang này,
Qủy thai bịnh ấy từ đây trừ rồi.
Thuốc thang mấy tháng uống bồi,
Càng thêm lớn bụng, gần hồi sanh thai.
Họ Hà thấy vậy than dài:

40.-“Tuổi già còn hãy mang tai thế nầy !”
Kỳ rằng : "  “Há chẳng biết đây,
Trải ba đời cũng làm thầy vừa ba.
Châu Phan xưa thật chú ta,
Trị thai có phép truyền gia rất mầu.

45.-Liễu Nương  quỷ bịnh đã lâu,
Xin cầu thầy ngoại, ngõ hầu thay tay.
Ta nghe đồn phía Sơn Tây,
Rằng :"  non Tùng lãnh có thầy địa Tiên .
Tên người là Lý Tri Niên,

50.-Thường ngày luyện thuốc thần Tiên  Đan Kỳ.

CHÚ THÍCH

(Theo số của câu)

1.- Chư gia 諸家:- các nhà, ở đây chỉ các nhà biên soạn sách truyện đời trước.
3.- Dị đoan 異端:- mối lạ, điều khác lạ. Quan niệm nhà Nho cho rằng đạo mình mới là "chính đạo" , còn các đạo khác như Lão, Phật, Thiên Chúa…. đều là "dị đoan". Ngày nay, "dị đoan" thường được gắn với "mê tín".
4.- Đạo Trời:- tức đạo Thiên Chúa, còn gọi là Đạo Cơ-Đốc (Christ).
Băng xăng:- lăng xăng, bận rộn nhiều việc.
6.- Đạo hằng:- đạo thường, đạo lý tự nhiên, phổ biến. Ở đây chỉ đạo Nho.
7.- Đạo tà:- tà là xiêu vạy, không ngay thẳng; đạo trái với đạo thường.
8.- Quả báo:- kết quả  báo ứng do việc làm lành hay làm ác (theo quan niệm nhà Phật)
10.- Địa ngục 地獄:- theo quan niệm mê tín là nơi giam người có tội ở âm phủ sau khi chết.

11.- Đạo Hoa-Lan:- tức đạo Thiên Chúa.

*Có nhiều thuyết khác nhau khi giải thích chữ "Hoa-Lan" :-

a/- Đầu thế kỷ XVII, thương gia Bồ-đào-nha đến Đàng Trong bán một thứ vải có in hoa giống như hoa lan, do đó người ta gọi họ là "Hoa Lan".
b/-Theo I.A. Poncet , vào thế kỷ XVII, người Hòa Lan (Hollande) thay thế người Bồ-đào-nha ở Viễn Đông, nên người Việt gọi đạo Thiên Chúa là đạo Hoa-Lan.
c/- Theo L. Cadière từ "Hoa Lan" do chữ "France" đọc thành Phú-Lang-Sa, Pha- Lang, Ba –Lang, Hoa-Lan…

14.- Hậu Tấn 後晉:- Vào thời Ngũ Đại, Thạch Kỉnh Đường là Tiết Độ Sứ ở Hà Đông, mượn quân Khiết Đan diệt nhà Hậu Đường, cắt đất 16 châu ở vùng U Kế dâng cho Khiết Đan, được Khiết Đan đưa lên làm vua, lấy quốc hiệu là Tấn, lập nên triều đại người đời sau gọi là Hậu Tấn (936—946) (để phân biệt với nhà Tấn thời Tam Quốc của Tư Mã Ý)
17.- Rạng giồi:- trau chuốt cho trong sáng, rực rỡ hơn.
Lòng son:- dịch chữ "đan tâm = 丹心), có nghĩa là lòng trung thành.
18.- So đo:- suy hơn tính thiệt, chỉ bụng dạ tính toán hẹp hòi.
22.- A-men:- từ dùng trong kinh của đạo Thiên Chúa, có nghĩa là "xin được như nguyện".
24.- Chiêm bao nằm thấy nguyệt sa trên mình:- sách "Sưu Thần Ký" chép : Vợ Tôn Kiên là Ngô Phu Nhân mơ thấy mặt trăng sa vào lòng mà có thai sinh ra Tôn Sách.
Cả câu ý nói:- điềm sinh con quí.

35.- Trảm quỷ:- chém quỷ
44.- Phép truyền gia:- tức phép gia truyền, phép do ông cha truyền lại cho con cháu.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, anhlam, mavuong, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, Simon C., voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:20:00 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười Một 20, 2010, 09:17:40 PM »

(tiếp theo)

Ta xin ra sức đem đi,
Tới nơi cầu thuốc diệu y rõ ràng.
Mậu rằng : "    Ta đạo Hoa-Lan,
Tiên  là đạo khác, có màng chi nhau.

55.- Kỳ rằng : " Sách đặt có câu:
"Tế sanh hoạt mạng" sách đầu đạo y.
Làm thầy đâu có hẹp suy,
Bịnh đau thời cứu, đạo gì mà  sao ,
Ai ai cũng vốn đồng bào,

60.-Sanh trong trời đất lẽ nào ghét nhau ?
Họ Hà thấy vậy cũng sầu,
Gượng đi cùng bạn, lên cầu thầy Tiên .
Trải qua mấy dặm sơn xuyên,
Phút đâu lố thấy gần miền Tùng san.

65.- Đường đi đá mọc nghinh ngang,
Bụi cây rậm rạp, thạch bàn nhiều nơi.
Ngó lên trên đỉnh rạng ngời,
Mặt nhìn cảnh vật khác nơi phàm trần.
Mây bay, nước chảy, mấy từng,

70.-Bóng tùng che núi, như vừng lọng xây.
Chim kêu, vượn hú, vang dầy,
Hiu hiu gió thổi, lá cây reo mừng.
Hai người đứng lại trông chừng,
Thấy tên đồng tử trong rừng bước ra.

75.- Chào rằng : " Hai gã đường xa,
Ai là tên Mậu, họ Hà, nói minh ?
Họ Hà nghe nói thất kinh,
Rằng : " Sao sớm biết tánh danh ta rày ?
Đồng rằng : " Thầy mỗ đánh tay

80.-Dạy rằng :"  : Có khách ngày nay tới  nhà.
Ta vâng lời dạy thầy ta,
Ra đây đón rước, đem qua Thạch bàn.
Hôm nay là bữa thanh nhàn,
Thầy ta lên chốn Thạch bàn chầu Tiên .

85.- Hai người nghe nói đi liền,
Theo ngươi đồng tử vào miền Tùng san.
Ngó lên đỉnh núi Thạch bàn,
Thấy hai ông lão dựa ngang đánh cờ.
Tóc râu đều bạc phơ phơ,

90.- Hình dung, cốt cách nhởn nhơ ai bì.
Có hai quyển sách chi chi,
Cùng hai chim hạc tương tuỳ một bên.
Tri Niên hầu đứng trên nền,
Thấy hai người khách leo  lên Ngọc Hồ.

95.-Chào  rằng :"  :- “Hai gã Da-tô,
Tới  đây lòng muốn hỏi phô  việc gì ?
Họ Hà đặt gối liền quì,
Thưa rằng : " Cầu thuốc cứu nguy người  nhà.
Tri Niên chưa kịp nói ra,

100.-Hai ông trên đỉnh liền xoa cuộc cờ.

Chú thích :-

56.- Tế sinh hoạt mệnh(濟生活命):- cứu sống sinh mệnh con người.
66.- Cây gie:- cây mọc chìa ra, nhô ra.
Thạch bàn (石磐) :-tảng đá lớn mặt phẳng.
79.- Đánh tay:- lần tính ở đốt ngón tay để biết ngày giờ, tuổi tác hoặc đoán vận mệnh, quá khứ, tương lai.
86.- Thâm san (sơn) (深山):- núi sâu.
92.- Tương tùy (相随) :- cùng đi theo nhau.

95.- Da-tô:- phiên âm tên của Chúa Jésus-Christ người chấn hưng đạo Thiên Chúa.

Hai gã Da-tô:- hai người theo đạo Thiên Chúa.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, anhlam, mavuong, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, Simon C., voicoibebong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:21:06 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười Một 20, 2010, 09:20:10 PM »

(tiếp theo)

Cười rằng : " Hà Mậu rất khờ.
Khéo nghe thầy tục tầm phơ nói quàng !
Liễu Nương  nghén đủ mười trăng,
Song sanh hai gái, Tuyết, Băng, trên đời.

105.- Vinh hoa có số ở trời,
Số ngươi sau cũng đổi dời mới nên.
Mấy lời ta nói chớ quên,
Đừng mong sau thác đặng lên Thiên đàng.
Ông cha trước đã lầm đàng,

110.- Thời sau con cháu tính toan lẽ gì ?
Nói rồi cỡi hạc bay đi,
Họ Hà chưa hỏi việc chi đành rành.
Hai người là khách hữu tình,
Tri Niên mời lại gia đình cùng nhau.

115.- Mậu rằng : " Cầu thuốc vợ đau,
Tiên  ông lại nói việc sau cũng kỳ !
Chẳng hay người học phép chi,
Cho nên sớm  biết thạnh suy việc người ?
Niên rằng :"  chẳng dấu chi ngươi,

120.- Hai ông lão ấy thật người thiên công.
Phép hay biến hóa, thần thông,
Một ông Bắc Đẩu, một ông Nam Tào.
Hai ông giữ sổ Thiên tào,
Mạng dân sanh tử đều vào trong tay.

125.-Hai người về kíp ngày nay,
Tới nhà mới thấy lời hai ông truyền.
Họ Hà nghe nói về liền,
Tới nhà thấy vợ đến miền khai hoa,
Đẻ ra hai gái nõn nà,

130.- Mùi hương thơm ngát, trong nhà đều kinh.
Mậu rằng : " Tiên  đạo chí linh,
Thinh không mà biết sự tình khắp nơi.
Kỳ rằng : " Ta học đạo trời,
Xưa nay linh nghiệm có lời phương nao ?

135.- Muốn cho tỏ đặng  âm hao,
Ngày sau ta phải trở vào Tùng san.

*
* *
Thứ nầy đến thứ họ Dương,
Làm người chút biết văn chương gọi là.
Nam Khang vốn thật quê nhà,

140.-Sánh cùng họ Đỗ, ở Trà Thạch khê.
Nương  theo dân dã thú quê,
Lập vườn, làm ruộng, chuyên nghề làm ăn.
Họ Dương cùng vợ nguyện rằng :" : "
Trăm năm xin giữ đạo hằng cùng nhau.

145.- Đã năm mươi mấy tuổi đầu,
Không con nối nghiệp, nhữ sầu thon von.
Bao nhiêu chùa miễu cũng lòn,
Ngõ nguyền cầu đặng chút con nối đời,
Liền ngày vái Phật, vái Trời,

150.-Tấm lòng tin, cúng khắp nơi miễu chùa.


*Chú thích :-

103.- Mười trăng:- mười tháng âm lịch.
121.- Thần thông 神通:- phép mầu nhiệm, biến hóa khôn lường.
122.- Bắc Đẩu, Nam Tào (北斗南曹):- tên hai vị thần giữ sổ sinh và sổ tử của loài người (theo quan niệm xưa)
123.- Thiên tào(天曹) (hay Thiên đình=天庭 ):- Thiên: trời; Tào: bộ phận của một công sở, một cơ quan. Thiên Tào chỉ triều đình ơ trên trời.
132.- Thinh không:- bỗng dưng, khi không, tình cờ.
135.- Âm hao:- tin tức.
146.- Thon von:- cheo leo, nguy hiểm; ở đây có nghĩa lẻ loi, cô quạnh, đơn chiếc.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, mavuong, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, Simon C., voicoibebong, byphuong, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:21:59 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười Một 21, 2010, 08:57:07 PM »

(tiếp theo)

Của nhà có việc bán mua,
Ra ơn làm phước, hơn thua chẳng nài.
Phút đâu họ Đỗ thọ thai,
Tới kỳ sanh đặng hai trai một lần.

155.-Nay đà đặng  nối gót lân,
Phận mình bằng  có  thanh bần, cũng ưng.
Người trong làng xóm đều mừng,
Ai hay lão bạng, có chừng sanh châu.
Nhớ câu “thiện ác đáo đầu"

160.-Làm lành gặp phước, thế đâu có lầm.
Dương Từ lòng hỡi mừng thầm,
Hai trai tướng mạo khác tầm thường nhân.
Vẻ vang cốt cách tinh thần,
So trong trẻ nhỏ phàm dân ít bằng,

165.-Họ Dương mới đặt tên rằng :"
Dương Trân, Dương Bửu, hai thằng anh em.
Hai con đều đẹp mắt xem,
Việc trong gia đạo lại thêm bần hàn.
Dương từ khi ấy liệu toan,

170.-Xuất gia đầu Phật, giữ an phận mình.
Nói rằng :"  :-  “Một tấm lòng thành,
Cầu con nối nghiệp, mới đành qui y
Nay đà sinh đặng nam nhi,
Nam mô hai chữ "từ bi" thân già.

175.-Bao nhiêu thế tục gần xa,
Nhân tình ấm lạnh, trải qua đã rồi.
Trong vòng danh lợi...thôi thôi !
Hoàng lương nửa gối, mấy hồi chiêm bao.
Sang giàu lòng chẳng ước ao,

180.-Hoa tàn, mây nổi, nước xao, trăng lờ.
Hai con tuổi hãy còn thơ,
Hôm, mai, ấm, lạnh, cậy nhờ hiền thê.
Trong tay một chuỗi bồ đề,
Trăm năm xin cổi lời thề nước non.

185.-Trả rồi nợ vợ nợ con,
Từ đây giữ vẹn lòng son tu hành.
Nói thôi quày quả đăng trình,
Nhắm nơi am tự một mình ra đi.
Thương thay hai gã hài nhi,

190.- Cùng nàng Đỗ thị sầu bi muôn phần.
Than rằng : " Chàng hỡi! Lương nhân!
Am mây đường cách cõi trần bao  xa.
Hai con tuổi mới lên ba,
Có cha giống đứa không cha cũng kỳ !

195.-Bao đành bỏ vợ con đi ?
Cửa nhà bần bạc, cậy gì ngày sau ?
May nhờ tấc cỏ ngọn rau,
Mẹ con lần lựa nuôi nhau tháng ngày.
Dương từ ở chốn am mây,
200.-Cải tên, đặt hiệu rằng :"   thầy Thiện Trai.

CHÚ THÍCH:-

155.- Gót lân:- gót con kỳ lân. Do chữ "Lân chỉ= 麟趾" trong thiên"Lân chi chỉ" thuộc phần thơ Chu Nam trong Kinh Thi nói về con cháu của vua Văn Vương đều được giáo hóa tốt.
Nối gót lân :- ở đây ý nói con quí nối dòng.

156.- Thanh bần (清貧) :- nghèo mà trong sạch.
158.- Lão bạng sinh châu (老螃生珠) :- loài trai già sinh ngọc, ý nói tuổi già sinh con quí.
159.- Thiện ác đáo đầu :- từ câu "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo= 善惡到頭終有報), có nghĩa ở lành và ở ác rốt cuộc đều có báo ứng.
164.- Phàm dân(凡民):- dân thường.
172.- Quy  y (皈依):- theo về  Phật, nương theo Phật, học tập và thực hành theo giáo pháp của Phật.

174.- Nam-mô (南無):- phiên âm chữ Phạn NAMAH , có nghĩa là "cung kính, thỉnh nguyện"
Từ bi (慈悲) :- BI:- thương xót chúng sanh phải chịu việc khổ; TỪ: giúp chúng sanh làm được việc lành. Phật, Bồ-Tát lấy "từ tâm" giúp chúng sanh được sung sướng; lầy "bi tâm" giúp chúng sanh khỏi khổ não, tai nạn.
178.- Cõi hoàng lương:- Hoàng (黃) :- màu vàng. Lương (粱) :- hạt kê.
Lư Sinh trọ ở Hàm Đan vào một khách quán (nay gọi khách sạn) nghỉ. Có vị đạo sĩ cho mượn cái gối để nằm. Lư chiêm bao, thấy mình thi đỗ Tiến sĩ, làm quan, vợ đẹp, con ngoan. Lúc tỉnh dậy, mới hay đó là giấc mộng. Trong khi đó, chủ quán nấu nồi kê chưa chín. Nghĩa bóng:- công danh phú quí chỉ là giấc mộng.

183.- Bồ-đề (菩提) :- phiên âm chữ Phạn BODDHI nghĩa là chính giác, đắc đạo thành Phật. Chuỗi bồ-đề là tràng hạt của các tăng ni, phật tử đeo, dùng để lần chuỗi khi niệm Phật.

187.-Đăng trình (登呈) :- lên đường.
188.- Am tự (庵寺) :- Am (庵) :- nhà nhỏ thờ Phật. Tự (寺) :-chùa. Am tự:- chỗ thờ Phật.
191.- Lương nhân (良人) :- Lương là lành; Nhân là người; tiếng vợ gọi chồng.
192.- Am mây:- dịch chữ "Vân am=雲庵 "; am thờ Phật ở chỗ núi cao, có mây che chở.
196.-Bần bạc (貧泊) :- Bần là nghèo, bạc là mỏng; Bần bạc:- nghèo túng, thiếu thốn.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười Một 21, 2010, 08:59:51 PM »

(tiếp theo)

Dốc lòng tầm dấu Như Lai,
Đã đành trốn cõi trần ai, không về.
Thị phi  mặc thế khen chê,
Tương, rau cũng đã an bề đi tu.

205.-Sớm hôm chuông mõ, công phu,
Tụng kinh niệm kệ ở Phù-đồ-sa.
*
* *
Bây giờ đến lúc họ Hà,
Vợ là Liễu thị đẻ ra con lành.
Quả nhiên hai gái song sanh,

210.-Tiên  ông có dạy đành rằng :"  chẳng ngoa,
Nay đà giáp tháng bồng ra,
Mời anh em đến, nhắm  mà đặt tên.
Bà con nội ngoại hai bên,
Một ông trưởng tộc: ngồi trên, dạy rằng :

215.- Hài nhi gương mặt như trăng,
Đặt tên Xuân Tuyết, Thu Băng cho rành.
Họ Hà nghe nói giật mình,
Nhớ lời Tiên  dạy sự tình khăng khăng:
Bảo rằng : " Nghén đủ mười trăng,

220.-Song sanh hai gái Tuyết, Băng  trên đời.
Tiên  ông nói chẳng sai lời,
Lại rằng : " Thói tục đổi dời, lẽ chi ?
Xui nên tấc dạ hồ nghi,
Gẫm trong mình lại muốn đi non Tùng.

225.- Hỏi cho biết lẽ cát hung,
Trăm năm đặng rõ thủy chung việc mình.
Xảy vừa tối buổi du minh,
Châu Kỳ, bạn cũ, có tình viếng thăm.
Hỏi rằng : " Hai trẻ giáp năm,

230.-Gẫm lời Tiên  dạy có nhằm cùng chăng ?
Mậu rằng : " Xuân Tuyết, Thu Băng,
Tiên  dạy hai chữ, khăng khăng nhớ lời.
Kỳ rằng : " Ta trọn ba đời,
Trong nhà thờ đức Chúa Trời lâu nay.

235.-Mấy đường họa, phước, rủi, may,
May nhờ, rủi chịu, thấy bày chi đâu.
Mậu rằng : " Ta cũng thêm sầu,
Ông cha thưở trước tha cầu vụng toan.
Sách ghi chữ đạo là đàng,

240.-Đàng đi nào phải một phang hẹp hòi.
Người đời há dễ không coi,
Đàng nào đi dễ, mà noi cho nhằm.
Ví dầu lỡ bước lỗi lầm,
Một đời cũng biết, huống năm ba đời?

245.-Kỳ rằng : " Đàng ở dưới trời,
Có nơi chánh bộ có nơi tha kỳ.
Đã đành hai chữ "tiền phi",
Chẳng đi đàng chánh, lại đi đàng tà.
Phải đời con cháu vinh hoa,

250.-Ai còn dám nói ông cha lầm đàng.


*CHÚ THÍCH :-


201.-Như Lai (如來) :- (tiếng Phạn  TATHÂGATA) một trong mười danh hiệu của Phật. Kinh Kim Cang nói : "Phật vốn không đâu lại (vô sở tùng lai = 無所從來) , mà cũng không đi đâu (diệc vô sở khứ = 亦無所去) nên gọi là "Như Lai".Theo sách Đại Viện Tập thì Như : điều vốn biết, Lai : điều hiện biết.

203.- Thị phi (是非) :- phải và trái, cũng có nghĩa là lời bàn tán, chê bai.
206.- Phù-đồ (桴途) :- (tiếng Phạn STUPA) tháp thờ Phật. Cõi phù-đồ:- chỗ chỉ chung nơi thờ Phật, về sau dùng để chỉ đạo Phật.
225.- Cát hung (吉兇) :- hay kiết hung, lành và dữ, tốt và xấu.
227.- Du-minh:- tên một vị Thánh trong đạo Thiên Chúa. Bữa Du-minh: bữa lễ Thánh Du-minh (DOMINICAIN)
237.- Ưu nghi (憂疑) :-lo nghĩ và ngờ vực.
246.-Chính lộ, tha kỳ (正路蹉崎) :- Chính lộ: đường ngay, đường chính. Tha kỳ: đường rẽ. Ở đây chỉ đạo chính, đạo gốc và các đạo nhánh, đạo ngọn.
247.- Tiền phi (前非) :- điều sai lầm trước đây.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:06:11 PM »

(tiếp theo)

Muốn cho rõ máy hành tàng,
Phải tìm dấu trước, hỏi han sự tình.
Thị phi chẳng những việc mình,
Việc mình còn hãy bất bình nhiều nơi.

255.-Bao nhiêu đạo ở dưới trời,
Thảy đều xưng Thánh , khoe lời rằng   hay.
Ví dầu một lũ chim bay,
Con nào trống mái, mấy tay biết rành.
Đạo ta dầu có hiển linh,

260.-Trải xưa nay cũng một mình Gia-tô.
Đạo Tiên , đạo Phật, đạo Nho ,
Cớ sao chẳng mộ, bo bo đạo trời ?
Đã kêu rằng : "Đức Chúa Trời"
Trời đâu nỡ để các nơi chê đành ?

265.-Cây cao biết mấy mươi ngành,
Còn noi một gốc, huống sanh làm người.
Mậu rằng : " Tiên  đạo tốt tươi,
Phen này ta nguyện theo ngươi đi tìm.
Làm người há chẳng bằng chim,

270.-Chim còn biết chọn cây êm gởi mình.
Vén mây mới thấy trời xanh,
Tìm đàng phải dọn ngọn ngành gai chông.
Kỳ rằng :"  ta muốn thẳng xông,
E đi rồi lại thẹn thùng nước non.

275.- Học y đã mấy năm tròn,
Qủy thai một bịnh, mạch còn nói sai.
Tiên  ông mấy nắm tay ai ?
Thinh không mà biết song thai mới kỳ
Trách chi mang tiếng tục y,

280.- Khoe tài coi mạch, thật khi người đời,
Ta đi thời mắc Tiên  cười,
Chi bằng ở lại khỏi người chê khen.
Anh nên tìm Lý tri Niên,
Theo người ắt đặng gặp Tiên  non Bồng.

285.-Sau dầu rõ nỗi đục trong,
Đó sao đây vậy, một lòng mà thôi.
Dặn rồi vội vã chơn lui,
Nhắm chừng tử lý về xuôi một bề.
Họ Hà trở lại hương quê,

290.-Đai cơm, bầu nước, đề huề ra đi.
Đi vừa gặp lúc xuân kỳ,
Đoái nhìn cảnh vật một khi vui lòng.
Hữu tình thay ngọn gió đông,
Cành mai nở nhụy, lá tùng reo vang.

295.-Cỏ thơm hớn hở bên đàng,
Như tuồng mừng khách Đông hoàng đến đây.
Líu lo chim nói trên cây,
Như tuồng chào hỏi khách này về đâu ?
Hai bên cây mọc giao đầu,

300.-Như tuồng đón rước, dàn hầu người sang.

*CHÚ THÍCH :-


251.- Máy hành tàng:- hành(行): làm, dùng; tàng(藏): cất giấu. Chữ trong sách Luận Ngữ "dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng = 用之則行舍之則藏" (dùng thì đem ra làm, bỏ thì đem đi cất giấu), ý nói lẽ xuất xử, tiến thoái ở đời. Máy hành tàng:- ở đây chỉ động lực chi phối mọi việc xảy ra ở đời.
264.- Chê đành:- đành: ưng chịu. Cả câu ý nói trời sao lại chịu để người chê bai.
279.- Tuc  y (俗醫) :- Tục: thô vụng, tầm thường, kém cỏi. Tục y: thầy thuốc tầm thường, lang vườn.
280.- Khi (欺) :- lừa dối.
284.- Va:- ông ta, người ấy, hắn.
288.- Tử lý (梓里) :- Tử: cây thị; Lý: làng. Tử lý: chỗ quê hương có trồng cây thị, tức cố hương.
290.- Đai cơm, bầu nước:- giỏ đựng cơm, bầu đựng nước.
291.- Xuân kỳ (春期) :- thời kỳ mùa Xuân.
296.- Đông hoàng (東皇) :- còn gọi là Đông quân (東君) , thần Thái Dương, chủ về mùa Xuân.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:08:15 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:13:02 PM »

(tiếp theo)

Dưới khe nước chảy tợ đàn,
Như tuồng mừng bạn hương quan tách vời.
Trăm hoa đua nở, miệng cười,
Như tuồng mừng rỡ gặp người cố tri.

305.-Mảng xem phong cảnh dị kỳ
Hay đâu lỡ bước, lại đi lầm đàng.
Xa xem hình dạng khác thường,
Cỡi lừa chầm chậm bỗng dường ngâm thơ.
Họ Hà dừng buớc đứng chờ,

310.-Lắng nghe người ấy lời thơ ngâm rằng :

I.- Thi rằng :

Tam Hoàng, Ngũ Đế, dấu vừa qua,
Mối đạo, trời trao đức Thánh  ta.
Hai chữ "tín, thành" an các nước,
Một câu "trung hiếu" dựng muôn nhà,
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà
.
Căm bấy ! Loài ngu theo thói mọi !
Trời gần chẳng kính, kính trời xa.

Họ Hà nghe tiếng ngâm rồi,
Trong dạ bồi hồi, bước tới hỏi thăm.
Vó lừa đi tới xăm xăm,
May đâu lại nhằm ông Lý tri Niên.

315.-Mậu rằng : " Tôi thật hữu duyên,
Tìm Tiên , mà lại gặp Tiên  giữa đàng,
Niên rằng : " Chẳng ở nhân gian,
Việc chi lên chốn thâm san một mình ?
Độc trùng, ác thú, không kinh,

320.-Đàng chim, dấu thỏ, lộ trình xiết bao !
Mậu rằng : " Xưa nhớ lời trao,
Phải lên nói lại âm hao cho tường.
Xin thầy chỉ vẽ mọi đàng,
Đem tôi lên chốn Thạch bàn ngày xưa.

325.-Niên rằng : " Trong cõi mây mưa,
Khôn mời Bắc Đẩu, khó thưa Nam Tào,
Hai ông vốn thật vì sao,
Người con mắt tục thấy sao đặng hoài ?
Gần đây có núi Thiên thai,

330.-Có chùa Linh Diệu, có đài Âm dương
Trong chùa lại có hai hang,
Một đàng Bích lạc, một đàng Diêm la.
Có ông Tiên  trưởng, Thầy ta,
Hiệu là Tứ Thất, tên là lão Nhan.

335.-Thường ngày luyện thuốc kim đan,
Một mình gồm đủ ba ngàn xuân thu.
Đẳng nhàn một cõi thanh u,
Nay chơi sông Thánh , mai du non thần.
Phép hay: trời đất thâu gần,

340.-Sai đồng, đánh thiếp, có phần linh thông,
Theo ta lên đó thời xong,
Hỏi điều căn số, rõ trong sự tình.
Bao nhiêu những việc tiền trình.
Lòng Tiên , một tấm, gương minh soi rồi.

345.-Họ Hà nghe nói lòng vui,
Mang gói lần hồi, lên núi Thiên thai.
*
* *
Họ Hà chuyện vãn còn dài,
Để nối đầu bài , nói chuyện họ Dương.
Từ chàng cách biệt gia hương,

350.-Đã ba năm trường, ở chốn am mây.

*CHÚ THÍCH :-

302.- Hương quan (鄉關) :- cổng làng, chỉ quê nhà. Bạn hương quan: bạn cùng xứ sở.
304.- Cố tri  (故知) :-  quen biết cũ.

*Giải thích bài thơ số I :-

*Ba vương năm đế:- dịch chữ "Tam vương  ngũ đế =三王五帝".

-Tam vương:- Đại Vũ nhà Hạ, Thành Thang nhà Thương, Văn Vương nhà Châu.

-Ngũ đế:- có hai thuyết:-

1/-Gồm có:- Thái Hiệu, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc.
2/-Gồm có:- Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế,Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

*Đức Thánh:- chỉ Khổng Tử. Ông tên Khâu, tự Trọng Ni, người nước Lỗ đời  Xuân Thu (551—479 BC) , một triết gia nổi tiếng ở Trung Quốc có rất đông học trò. Nhà Nho coi Khổng Tử là ông tổ và tôn là Thánh.

*Cương thường (=cang thường =綱常) :- do chữ "tam cương ngũ thường= 三綱五常". Tam cương :- Ba giềng mối, gồm có vua tôi, cha con, chồng vợ.Ngũ thường :- năm đức "thường" gồm: nhân, nghĩa,  lễ, trí, tín. ( theo Đạo Nho)

*Khẳm: đầy (từ địa phương) . Thuyền khẳm: thuyền chở nặng, nước mấp mé be thuyền.
320.- Đường chim dấu thỏ:- ý nói đường sá hẻo lánh hiểm trở, không người qua lại, ở trên chỉ có đường cho chim bay lọt, dưới chỉ có dâu chân thỏ.
325.- Cõi mây mưa:- ở đây ý nói cõi đời, cõi trần tục.
332.- Bích Lạc (碧樂):- từ của Đạo Gia, ở đây chỉ khoảng trời xanh biếc, cõi trời.
Diêm La:- (phiên âm chữ Phạn: YAMA- KAJA) vua nơi địa ngục, còn gọi là Diêm La Vương, Diêm Vương.
335.- Kim đan (金丹) :- thuốc trường sinh, thuốc tiên.
336.- Xuân thu (春秋) :- mùa xuân và mùa thu.

Tám nghìn xuân thu:- ý nói sống mãi. Chữ trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử :-
"Thượng cổ hữu đại xuân giả, dĩ bát thiên tuế vi xuân, bát thiên tuế vi thu" (上古有大椿者以八千歲為春八千歲為秋) [đời thượng cổ có giống cây tên là đại xuân, lấy tám ngàn năm làm một mùa xuân, tám ngàn năm làm một  mùa thu]
337.- Đẳng nhàn 等閒: thảy đều. Cả câu ý nói tất cả thảy đều thanh vắng, u nhã.
338.-Sông Nhược 若, non Bồng 蓬:- tên một con sông và một ngọn núi ở Trung Quốc. Theo truyền thuyết. thì đây là nơi Tiên ở, chỉ cảnh  Tiên.
339.- Phép sai đồng:- *đồng:- theo mê tín là người ngồi thiếp để thánh thần, hồn người chết nhập vào mà phán đoán việc đã qua hay sắp tời.
Phép sai đồng:- pháp thuật điều khiển con đồng.
343.- Việc tiền trình:- *tiền trình 前程 : con đường trước mặt. chỉ việc tương lai.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, tadamina, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:17:45 PM »

(tiếp theo)

Hôm mai chuông mõ vang dầy,
Chúng tăng đều gọi có thầy Thiện Trai.
Bao nhiêu thế tục gác ngoài,
Một xâu chuỗi hột mang vai, gìn lòng.

355.-Quì hương ba thứ đã xong,
Mười điều  giới cấm, cũng không phạm gì.
Ban sơ làm phận tu trì,
Năm nay lên chức Thái Sư một chùa.
Vô ra trong cõi Phù đồ,

360.-Thấy người tài, sắc: Nam mô Di Đà !
Ngày ngày kinh kệ ngâm nga,
Lăng Nghiêm, Viên Giác, cùng là Kim Cang
Phút lòng buồn bực chẳng an,
Dạo chơi ra chốn tam quan một hồi.

365.-Am vân cảnh vắng nào vui,
Coi bao nhiêu lại ngậm ngùi bấy nhiêu.
Vội vàng trở lại hậu liêu,
Bạch cùng Hoà thượng xin điều vân du.
Hòa thượng cũng người học Nhu, (Nho)

370.-Tên là Trần Kỷ, ở Phù -đồ -sa.
Lắm phen ứng cử, đăng khoa,
Thi văn chẳng đỗ, lòn ra cửa thiền.
Giận đời nhiều việc đảo điên,
Làm thi khuyến thế, ngày liền ngâm chơi.

II .-Thi rằng :-

Người xưa cầm đuốc dạo đêm chơi,
Nào có cưu chi cái việc đời,
Phụng Thuấn, lân Nghiêu, tuồng trước nát,
Hươu Tần, rắn Hán, thói sau dời.
Thánh  hiền để dấu vài pho sách,
Tạo hóa theo mình mấy tấc hơi ?
Trong cuộc phù sanh ai cũng thế,
Dầu hay, dầu dở, chẳng qua trời.

375.-Họ Dương sắm sửa hành trang,
Lạy thày Hòa thượng, lên đàng vân du.
Kìa non, nọ nước, mặc dầu,
Non nhân nước trí, nhiệm mầu thảnh thơi.
Người sanh ở dưới bầu trời,

380.-Xưa qua, nay lại, mấy đời trọn lâu.
Trong vòng danh lợi như nhau,
Hết vinh, đến nhục, sang giàu chi ai ?
Có câu "xuân bất tái lai",
Bóng già theo gót, biết nài chi đây.

385.-Đã đành thiền trượng một cây,
Giới đao một lưỡi, từ rày thế gian.
Xưa nay trong cuộc gian nan.
Vật đều có chủ, ai toan chia giành ?
Kìa kìa gió mát trăng thanh,

390.-Tai nghe, mắt thấy, mới đành của ta.
Nguồn đào, cụm liễu, trải qua,
Tin xuân đưa: bướm, ong, hoa, dầy dầy.
*
* *
Đi vừa xa chốn am mây,
Tới nơi Hà lãnh trời tây hầu chiều.

395.-Ven gành một nhắm hắt hiu,
Tiếng ngư trong núi, bóng chiều ngoài khơi.
Bên non hầu khuất mặt trời,
Dương Từ thơ thẩn tìm nơi gởi mình.
May đâu gặp một tiểu sanh,

400.-Cho trâu uống nước dưới gành Hà Tây.

*CHÚ THÍCH :-

355.- Quì hương ba thứ:- *quì hương :- lễ đốt hương theo nghi thức đạo Phật mà tu sĩ phải theo. *Ba thứ là:- giới hương, định hương và tuệ hương.
356.- Giới cấm (戒禁) :- răn  cấm.

*Mười điều giới cấm là :- 1/.- chẳng giết mạng sống. 2/chẳng trộm cắp. 3/chẳng dâm dục. 4/chẳng nói bậy.5/chẳng uống rượu (+ chất gây nghiện). 6/chẳng sửa tóc đẹp, chẳng dùng nước hoa. 7/chẳng làm trò múa hát, cũng chẳng đến nghe, xem. 8/chẳng ngồi trên giường cao, rộng. 9/chẳng ăn trái bữa (quá ngọ). 10/chẳng cất giữ tiền bạc và đồ quí báu.

360.- Nam-mô Di-Đà:- *Nam-mô (南無): hay na-mô (tiếng Phạn NAMAH) có nghĩa là cung kính, thỉnh nguyện. *Di-Đà :- nói tắt chữ A-Di-Đà (阿彌陀) (tiếng Phạn AMITABHA), tên một vị Phật ở Tây Phương.
362.- Lăng Nghiêm (楞嚴), Viên Giác (圓覺), Kim Cang (金鋼):- tên ba bộ kinh Phật.
364.- Tam quan (三關):- cổng chùa, có ba lối ra vào; cửa lớn ở giữa, hai cửa nhỏ ở hai bên, trên có mái che.
367.- Hậu liêu (後寮) :- buồng ngủ phía sau, trong chùa.
368.-Hòa Thượng (和尚) :  (dịch âm chữ Phạn UPADHYAYA) tiếng tôn xưng nhà sư, ông thầy cả trong đạo Phật (đủ 40 tuổi hạ trở lên).
370.- Phù-đồ-sa:- xem c.t. 206.
371.- Ghe phen:- nhiều phen.
*Chế khoa (制科):- khoa thi dặc biệt ở thời phong kiến, do vua đặt định ra.

*GT bài thơ số II :-

"Cầm đuốc chơi đêm :- do chữ "bỉnh chúc dạ du =秉燭夜遊 " trong câu thơ cổ "Trú đoản khổ dạ trường; hà bất bỉnh chúc du = 晝短苦夜長何不秉燭遊" [ngày ngắn khổ nổi đêm dài, sao chặng chịu cầm đuốc mà đi chơi ?] . Tiếc thời gian đi quá mau, đêm choán hết phần lớn, chỉ có cách đốt đuốc đi chơi đêm cho đỡ phí thời gian.

*Cưu  鬮:- mang lấy, ôm lấy.

*Phụng Thuấn, lân Nghiêu :- [ phụng =鳳 , lân = 麟] hai con vật quí hiếm đời xưa, ít được thấy, biểu trưng cho người hiền, khi xuất hiện thì thiên hạ được thái bình.

*Nghiêu, Thuấn = 堯舜 :- hai ông vua trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, được các nhà Nho trước đây coi như mẫu mực của những bậc vua tài giỏi, hiền đức của một thời đại lý tưởng.

*"Hươu Tần, rắn Hán" :- *Hươu Tần: con hươu của nhà Tần. Hán Thư có câu : "Tần thất kỳ lộc, thiên hạ công trục chi = 秦失其鹿天下公逐之(nhà Tần mất con hươu, thiên hạ cùng đuổi bắt). Hươu Tần hay "đuổi hươu" chỉ ngôi vua hoặc chỉ thiên hạ.

*Rắn Hán:- con rắn của nhà Hán. Trong Hán Thư có chép chuyện Bái Công (Lưu Bang) say rượu, đêm đi ngang qua đầm, có con rắn to chặn đường. Bái Công rút gươm chém chết. Con rắn đó chính là con của Bạch Đế. Sau khi chém được rắn, Bái Công lấy được giang sơn, lên ngôi vua (Hán Cao Tổ). *Rắn Hán hay "chém rắn" chỉ việc được ngôi vua.

Cả hai câu ý nói:-
Theo đúng như lề lối của vua Nghiêu, vua Thuấn đời trước. Đổi bỏ thói tục Tần, Hán đời sau.

376.- Vân du (雲遊) :- chơi mây. Ở đây ý nói các nhà sư đi chơi rày đây mai đó không nhất định.
383.- Xuân bất tái lai = 春不再來:- thời son trẻ qua rồi không trở lại nữa.
385.- Thiền trượng = 禪杖:- gậy của nhà sư, tức là "gậy thiền".
386.- Giới đao = 戒刀:- con dao nhỏ của nhà sư thường  mang theo.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, anhlam, dailuc, tadamina, Ngoisaobiec, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 21, 2010, 09:26:26 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười Một 22, 2010, 09:30:34 PM »

(tiếp theo)

Ngồi cầm ống quyển trong tay,
Thổi rồi lại hát, hát hay lại cười.
Dương Từ bước tới xem chơi,
Gẫm ba câu hát, thật lời thạch kim.

III.- Hát rằng :-

Chẳng phải  trời Nghiêu, bóng chiều ngao ngán,
Trời đã  tối rồi, chờ sáng cũng lâu.
Tiếng chim anh đổ trên cành mé bắc,
Biết ai day đòng kéo lại trời tây.
Trong cõi nhân gian nhiều đàng lầm lỗi,
Gặp buổi trời chiều, khó nỗi đi xa.

405.-Hát rồi lại thổi quyển  chơi,
Gẫm trong thú vị, thảnh thơi hơn thiền.
Dương Từ bước tới hỏi liền:
Ba câu hát ấy, ai truyền cho ngươi ?
Tiểu sanh nghe hỏi mỉm  cười,

410.- Đáp rằng : " Vốn thật có người dạy ta.
Gần đây vài dặm chẳng xa,
Có thầy đạo sĩ tu đà nhiều năm,
Lập am ở chốn Tây Lâm,
Tháng ngày thong thả, đờn cầm, ca thi.

415.- Thuốc thang, phù chú, ai bì,
Người đau tới đó, bịnh chi cũng lành.
*
* *
Dương Từ nghe nói đành rành,
Xăm xăm bước tới đầu gành Tây Lâm.
Đến nơi trời đã tối thầm,

420.-Đứng gần  ngoài cửa , nghe ngâm thi rằng :

IV.- Thi rằng :

Biết ân phụ tử, nghĩa quân thần,
Nhờ có Trời sanh đức Thánh  nhân.
Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn,
Dấu xe hành đạo rạch trong trần.
Trăm đời còn cám lời than phụng,
Muôn thuở đều thương tiếng khóc lân.
Phải đặng bút Châu biên sách Hán,
Mọi nào dám tới cạo đầu dân !

Thơ rồi lại khảy đàn cầm,
Như tuồng mừng bạn tri âm tới nhà,
Tử Kỳ xưa gặp Bá Nha,
Khúc đờn "Lưu Thuỷ" nay mà còn đây.

425.- Dương Từ gõ cửa kêu thầy,
Rằng :"  đi lỡ tối, đêm nầy  độ ta.
Có ông đạo sĩ bước ra,
Chào rằng : " Thiền khách đâu mà đến đây ?
Lều tranh, giường đá, chiếu mây,

430.-Khô nai, cơm bắp, rượu chay, tạm dùng !
Từ rằng : " Lời dám hỏi ông:
Ở trong am tự sao không Phật (佛)thờ ?
Sĩ rằng : " Lòng chẳng ước mơ,
Bởi vì chữ phất (弗) lấn bờ  chữ nhân (人),

435.-Đường qua Tây Vức chẳng gần,
Cõi Di, cõi Hạ trời phân rõ ràng .
Ta từng coi sách nhà Đàng (Đường),
Thấy lời "Phật biểu" họ Hàn hết tin.
“ Phất nhân” (弗+人 =佛), sống cũng chẳng nhìn,

440.-Huống chi hình đúc, tượng in thờ gì ?
Từ rằng : " Phật vốn từ bi ! ...
Sĩ rằng : " Lại  có ích gì dân phong.

(Đoạn đã bị lược:-)

Thấy câu ngôn ngữ bất thông,
Dầu cho linh nghiệm, cũng dòng man di.

445.-Từ rằng : " Thầy học đạo chi?
Sĩ rằng : " Thiên hạ thiếu gì đàng xưa.
Lẽ đời như chiếc thuyền đưa,
Mặc ai đi sớm về trưa, chẳng màng !
Kìa như  họ Lão, họ Trang,

450.- Họ Dương, họ Mặc, họ Hoàng, họ Thân.

*CHÚ THÍCH :-

401.- Ống quyển (quản: 管) :- ống sáo thổi.
404.- Lời thạch kim:- do câu "kim thạch chi ngôn= 金石之言:- lời bền vững như vàng và đá.


*Chú thích bài hát sau câu 404:-

*Day đòng:- * Đòng: món đồ binh khí ngày xưa, hình lưỡi mác, cán dài hơn một sải, còn gọi là "mác thông".
*Day:- xây hướng.
*Day đòng kéo lại trời tây:- xoay ngọn đòng kéo mặt trời sắp lặn ở phía tây lùi trở lại. Ý nói kéo ngày dài thêm ra.
Lấy nghĩa từ câu "Huy qua phản nhật = 揮戈反日" trong sách Hoài Nam Tử :- Lỗ Dương Công thời Chiến Quốc  đánh nhau với quân nước Hàn. Chiến đấu đang hăng thì trời đã chiều, ông liền lấy ngọn giáo vẫy xoay mặt trời trở lại ba "xá" (mỗi xá 30 dặm) tức chín mươi dặm.
*Phụ tử--Quân thần = 父子君臣     :- *Phụ tử:- cha con--*Quân thần:- vua tôi.
*Thánh nhân 聖人:- Ở đây chỉ Khổng Tử.
*Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn:- Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu là muốn xoay chuyển đời loạn thành đời trị.
"Xuân Thu Công dương truyện" :- "bát loạn thế phản chư chính, mạc cận như Xuân Thu =撥亂世反諸正莫近如春秋"  (xoay chuyển đời loạn khôi phục lại đạo chính, không gì bằng kinh Xuân Thu)
*Dấu xe hành đạo rạch trong trần:- chỉ việc Khổng Tử đi chu du khắp các nước để quảng bá việc thực hành đạo của mình.
*Lời than phụng:- chữ trong sách Luận Ngữ , Khổng Tử than: "Phụng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ, ngô dĩ hỉ phù = 鳳鳥不至河不出圖吾已矣夫" (chim phụng không đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện Hà Đồ, đời ta hết rồi chăng ?)
*Tiếng khóc lân:- từ câu "thán phụng khấp lân=嘆鳳泣麟 ". Tương truyền khi Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu thì có người bắt được con kỳ lân què. Khổng Tử than rằng : "Đạo ta cùng rồi !", bèn gác bút không soạn tiếp nữa. Cả câu ý nói : Than cho đạo của mình đã cùng .

-------------
422.- Tri âm 知音=  :- hiểu được tiếng đàn. Sách Liệt Tử chép:-
Bá Nha 伯牙là người giỏi đàn, Chung Tử Kỳ鐘子期là người  sành nghe đàn. Bá Nha đánh đàn, nghĩ tới núi cao. Tử Kỳ khen :- 「峨峨兮若泰山」Nga nga hề nhược Thái Sơn (Cao vòi vọi như núi Thái Sơn). Bá Nha nghĩ tới sông nước chảy, Tử Kỳ liền khen : 「洋洋兮若江河」Dương dương hề nhược giang hà (Cuồn cuộn như Trường Giang, Hoàng Hà). Khi Tử Kỳ chết, Bá Nha dứt dây đàn vì cho rằng không còn ai hiểu được tiếng đàn của mình nữa. Ở đây chỉ sự hiểu nhau sâu sắc.

423.- Tử Kỳ, Bá Nha :- xem c.t. 422.
424.-Khúc đàn Lưu thủy(流水的曲調 ):- xem c.t. 422.
434.- Chữ  "phất" lấn bờ chữ "nhân" :- Trong chữ Hán, chữ PHẬT (佛) gồm có chữ PHẤT= 弗(chẳng phải) và chữ NHÂN= 人(người). Ở đây tác giả mượn lối chiết tự (chơi chữ)  của chữ Hán để nói Phật không phải là người, nhằm chê bai đạo Phật.
435.- Tây vức = Tây vực (西域):-  nước phía Tây, ở đây chỉ Ấn Độ (Tây Trúc) nơi ngày xưa Phật đắc đạo.
436.- Cõi Di, cõi Hạ:- xưa người Trung Quốc gọi nước họ là Hạ hay Hoa Hạ (華夏), nước có văn hiến, văn minh; còn gọi các nước láng giềng là Di (夷), có nghĩa là man di, mọi rợ.
438.- Phật biểu họ Hàn:- tức bài "Phật cốt biểu=佛骨表" của Hàn Dũ 韓愈. Vua Hiến Tông nhà Đường mê say đạo Phật, cho rước xương Phật vào cung cấm, Hàn Dũ dâng biểu cực lực can ngăn. Vua không nghe và đày ông ra làm Thứ sứ đất Triều Châu.
439.- Phất nhân 弗人:- không phải là người, xem c.t.434.
442.- Dân phong 民風:- phong tục trong dân gian.
449.- Họ Lão 老, họ Trang 莊:- họ lão, tức Lão Tử, người thời Xuân Thu, tác giả sách "Đạo Đức Kinh 道德經", chủ trương thuyết "vô vi".
Họ Trang, tức Trang Tử, người thời Chiến Quốc, tác giả sách "Nam Hoa Kinh 南華經" ,phát triển học thuyết của Lão Tử.
450.- Họ Dương, họ Mặc, họ Hàn, họ Thân:- Họ Dương tức Dương Chu 楊朱, người nước Vệ đời Chiến Quốc, chủ trương thuyết "vị ngã 為我=vì mình".
Họ Mặc tức Mặc Địch 默迪, người nước Lỗ thời Chiến Quốc, chủ trương thuyết "kiêm ái 兼愛= yêu mọi người như nhau".
Họ Hàn tức Hàn Phi Tử 寒非子, người nước Hàn thời Chiến Quốc, chủ trương "pháp trị 法治".
Họ Thân tức Thân Bất Hại 申不害, người nước Hàn thời Chiến Quốc, chủ trương thuyết "hình danh 形名".


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, anhlam, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười Một 22, 2010, 09:33:48 PM »

(tiếp theo)

Các nhà ấy cũng cổ nhân,
Khai đường mở ngõ, trong trần nhiều nơi.
Có nghe các họ đua bơi,
Không nghe họ Phật ở đời Trung Nguyên.

455.-Từ rằng : " Biết đạo nào chuyên ?
Sĩ rằng : " Xưa có đạo hiền chép câu:
Một bầu trời đất như châu
Mặt người kim cổ, chèo đâu thời chèo.
Từ rằng :"  :- « Khó nỗi phăn  theo… »

460.- Sĩ rằng : " Lựa phải xuống đèo, lên non.
Vua tôi, chồng vợ, cha con,
Anh em, bầu bạn, vuông tròn mới xong.
Chẳng tin, coi một ngày ròng:
Đi đâu cho khỏi đạo trong cương thường ?

465.-Ta xưa cũng khách thư đường,
Mày xanh có chí hiển dương trên đời,
Ghét đời Thúc Quí đua bơi,
Sợ trời nên phải tìm nơi ẩn mình,
Vốn không học thói Lan Đình,

470.-Đem nhau giụm miệng  phẩm bình cổ câm.(kim)
Cũng không học thói Trúc Lâm,
Rủ nhau uống rượu hôn trầm ngày đêm.
Gió, trăng, bầu bạn anh em,
Sớm nghe tiếng dế, tối xem bóng thiềm.

475.-Mộ riêng một cảnh thanh điềm,
Sẵn hoa dưới hố, sẵn chim trên cành.
Hươu, nai, khỉ, dộc đua tranh,
Vật trong trời đất mặc tình xem chơi.
An, nguy có phận ở trời,

480.-Người đời đừng mắc nhơ đời thì thôi.
Dương Từ nghe tiếng biếm rồi,
Một đêm chẳng ngủ, luống ngồi lo âu.
Nghĩ rằng :"  mình đã đi tu,
Hẳn như lời ấy: công phu lỡ làng !

485.-Cương thường để mặc người  toan,
Đạo ta giữ vẹn, nào can phạm gì ?
Xảy vừa trời rạng, hầu đi,
Hỏi rằng : " Húy tự, tên gì dạy tôi ?
Sĩ rằng : " Trọn đạo thời thôi,

490.-Người đời lựa phải trau dồi tánh danh ?
Trời cao đất rộng, thinh thinh,
Non xanh, nước biếc, đã đành phôi pha.
Hỏi thời ta phải nói ra:
Ba ngàn thế giới, cũng  là vô danh.

495.-Từ rằng : " Đâu thật có danh ?
Sĩ rằng : " Linh Diệu đã đành chùa Tiên .
Dương Từ vội vã đi liền,
Ngồi lâu lại sợ cửa thiền mắc chê.
Trải qua mấy dặm lâm, khê,

500.-Hiu hiu gió thổi, phê phê nhành tòng.


*CHÚ THÍCH :-

451.- Cổ nhân (古人) :- người xưa.
454.- Trung nguyên (中原):- chỉ Trung Quốc. Các vua Trung Quốc thường đóng đô ở hạ lưu sông Hoàng Hà, tự coi là Trung nguyên, nơi văn minh nhất và gọi các nước làng giềng là man di, di địch.
457.- Châu = chu (舟) :- chiếc thuyền. Hai câu 457-458:- ý nói người ở đời, xưa nay, như trên chiếc thuyền, tùy chí hướng mỗi người, muốn chèo theo ngã nào tùy ý.
459.- Phăn theo:- lần theo, dõi theo, tìm cho ra manh mối.
465.- Thư đường (書堂):- hay thư phòng (書房), là phòng học, phòng đọc sách.
466.- Hiển dương (顯揚):- vẻ vang, rạng rỡ.Ở đây có nghĩa là làm nên danh giá để tiếng tốt cho cha mẹ.
467.- Thúc Quý(叔季) :- tức thúc thế và quý thế. Chữ trong sách Tả Truyện, có nghĩa đời suy loạn, sắp sửa diệt vong. Giai đoạn từ năm 722 TCN đến năm 468 TCN.

Sau khi kinh đô (Cảo) bị các bộ tộc rợ phía tây cướp bóc, Chu Bình Vương (Cơ Nghi Cữu) chạy sang phía Đông. Trong khi rút chạy từ thủ đô phía tây về phía đông, vị vua Chu nhờ các vị vương hầu ở gần đó là Tần (秦), Trịnh (鄭) và Tấn (晉) bảo vệ khỏi các rợ và các vị vương hầu phản loạn. Ông dời đô thành của Chu từ Cảo Kinh (nay thuộc Thiểm Tây) đến Lạc Ấp (nay thuộc Lạc Dương) ở châu thổ sông Hoàng Hà.

Vị vua trốn chạy nhà Chu không có được vị trí chắc chắn trên vùng lãnh thổ phía đông; thậm chí cả lễ lên ngôi của thế tử cũng phải nhờ sự trợ giúp của các vị vương hầu trên mới diễn ra được. Với sự sút giảm lớn về đất đai, chỉ còn giới hạn ở Lạc Dương và các vùng xung quanh, triều đình Chu không còn có thể duy trì sáu đội quân thường trực (lục quân). Các vị vua nhà Chu tiếp sau cần sự trợ giúp của các chư hầu hùng mạnh xung quanh để bảo vệ họ khỏi các cuộc cướp bóc và để giải quyết các cuộc tranh giành quyền lực bên trong. Triều đình nhà Chu không bao giờ còn lấy lại được quyền lực trước đó của họ; họ chỉ còn đơn thuần là một triều đình bù nhìn của các chư hầu phong kiến. Mặc dù nhà Chu trên danh nghĩa vẫn đang nắm Thiên Mệnh, danh hiệu không hề có quyền lực.

469.- Lan đình (蘭亭):- tên cái đình trên bến Lan Chữ, huyện Thiệu Hương, tỉnh Triết Giang. Vương Hi Chi王羲之 (321-379) cùng một số bạn hữu họp nhau ở đây vui chơi, có để lại tác phẩm Lan Đình Tập Tự  nổi tiếng, chữ ông viết  rất tốt, đời sau truyền là "thiếp Lan Đình".

471.- Trúc lâm (竹林):- rừng trúc. Ở đây muốn nói đến "Trúc lâm thất hiền竹林七賢" tức bảy học giả ở ẩn đời Tấn là :- Kê Khang (223 - 263), Nguyễn Tịch (210 - 263),Nguyễn Hàm (?), Sơn Đào (205 - 283), Hướng Tú (221 - 300), Vương Nhung (234 - 305), Lưu Linh (220 - 300), cùng nhau uống rượu, đàm luận cổ kim, vui chơi ở rừng trúc.

472.-Hôn trầm 惛沈:- mê man, chìm đắm.
474.-Tiếng lại, bóng thiềm:-*Tiếng lại là tiếng giữa trời như tiếng gió. *Bóng thiềm là bóng trăng. Tương  truyền , Hằng Nga sau khi uống trộm thuốc tiên của chồng là Hậu Nghệ, trốn lên mặt trăng hóa làm con cóc, nên người ta còn gọi mặt trăng là "cung thiềm" (thiềm cung蟾宮), ở đây chỉ nơi người đẹp ngụ.
475.- Cảnh thanh điềm 清恬:- cảnh trong sạch và yên tĩnh.
481.- Biếm 貶:- chê bai.
499.- Lâm khê 林溪:- rừng và khe suối.
500.- Phê phê:- vẻ tươi tốt, đẹp đẽ.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, anhlam, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười Một 22, 2010, 09:37:50 PM »

(tiếp theo)

Nguồn đào , bờ liễu,  song song,
Một vầng mây bạc bóng lồng phau tuôn.
Hòa đi, hòa lại, hòa buồn
Giận lời đạo sĩ xua duồng Phật gia.

505.-Đi vừa tới  suối Kim Ba,
Thấy một ông già xuống tắm mà chơi.
Tắm rồi mát mẻ thảnh thơi,
Hát một vài lời, nghe rất êm tai.

V.- Hát rằng :-

Tắm nước trong, rửa lòng đã sạch,
Cám thương người làm khách trần ai !
Gió xuân qua, mình ta đã mát,
Cám thương người phiêu lạc tha hương !
Gẫm rừng nhu, công phu ngơ ngáo,
Tuổi già rồi, thế đạo còn xa !


Hát rồi tay chống gậy lê,

510.-Vai mang bầu rượu, lần về cõi tây..
Dương Từ đứng dưới bóng cây,
Hỏi rằng : " Lão trượng làm thầy chi chăng?
Lão rằng :"  theo thói làm ăn,
Người con mắt tục, ai rằng :"  thầy ai?

515.-Từ rằng : " Tán, kiệu, mão, đai,
Ngôi cao, quyền trọng, đố ai không thầy?
Lão rằng : " Ta ở chốn nầy,
Sáu mươi mấy tuổi, biết thầy nào đâu.
Thánh  nhơn dấu trước  khôn cầu !

520.-May còn người đạo ở đầu Tây Lâm.
Dương Từ nghe chữ "Tây Lâm".
Hỏi rằng : " Phải kẻ đờn cầm, ca thi?
Chẳng hay người ấy tên chi?
Chẳng phen Sào Phủ, cũng bì Hứa Do.

525.-Lão rằng : " Khắp chốn giang hồ,
Ai ai chẳng biết Huyền Hồ Tiên  sinh?
Thấy ngươi ta cũng bất bình:
Cớ sao cạo tóc, làm hình thầy tu ?
Từ rằng :"  :-  cám Phật ân sâu,

530.-Không con mà lại cho cầu đặng con.
Lão rằng : " Cầu Phật đặng con,
Xưa ngươi Bá Đạo sao còn lo sau?
Cầu con mà phải cạo đầu,
Xưa ngươi Tử Hạ còn cầu làm chi?

535.-Từ rằng : " Trót đã qui y,
Việc ta, ta biết, can gì tới ai?
Dốc lòng tìm dấu Như Lai,
Trước sau giữ một lòng trai chẳng sờn.
Gặp đây xin hỏi trượng nhơn,

540.- Cảnh chùa nào tốt, chỉ bần tăng đi?
Lão rằng : " Chùa chẳng thiếu chi,
Hàn Sơn, Lâm Thủy ít bì Thiên Thai.
Thiên Thai xa chốn trần ai,
Có chùa Linh Diệu, có đài Âm Dương.

545.-Thiên sư rày muốn du phương,
Đông nam phía ấy là đường đi lên.
Dương Từ khăng khắng  chẳng quên,
Giã ơn  lão trượng, lòng bền ra đi.

* *
Ngày xuân con bóng  trì trì,

550.-Tưởng câu "thuỷ tú, sơn kỳ" thêm vui.

*CHÚ THÍCH :-

503.- Hòa:- vừa, cùng, với … Hòa….hòa :- vừa …  vừa … (từ cổ)

*CT bài hát số V :-

*Trần ai 塵埃:- bụi bặm, chỉ cõi đời. Khách trần ai:- người ở đời.

509.- Gậy lê 梨:- gậy bằng gỗ cây lê.

524.- Sào Phủ 巢父 & Hứa Do許由:- hai cao sĩ đời Đường Nghiêu. Vua Nghiêu nghe danh tiếng muốn nhường ngôi, Hứa Do từ chối, lui về ở ẩn tại Cơ  Sơn. Về sau, vua Nghiêu lại sai  người đến mời.  Hứa Do cho rằng lời thuyết danh lợi ấy làm bẩn tai mình, ra bờ sông Dĩnh Thủy rửa tai. Lúc đó, Sào Phủ đang cho trâu uống nước, hỏi tại sao rửa tai. Hứa Do kể lại duyên cớ. Sào Phủ vội cho trâu lên quảng sông trên uống nước , vì sợ bẩn miệng trâu.

532.- Bá Đạo 霸道:- tên tự của Đặng Du, người đời Tấn. Sách Thông Chí chép, khi Đặng Du giữ chức Thái Thú đất Hà Đông, gặp năm có biến, vợ con và cháu (con người em) chạy trốn. Giữa đường gặp cướp phải chạy sang sông, ông liệu không thể bảo toàn cả con lẫn cháu, mới nói với vợ : em ta chỉ có một con, không thể để cho nó tuyệt giống, còn chúng ta có thể sinh con khác, vậy ta phải bỏ con lại và đem đứa cháu đi. Về sau, ông được cử làm Thái Thú đất Ngô Quận, nổi tiếng thanh liêm, rất được lòng dân,nhưng vợ ông bất hạnh không sinh đẻ được nữa.

534.- Tử Hạ 子賀:- người nước Vệ thời Xuân Thu, họ Bốc, tên Thương, là học trò giỏi về văn học của Khổng Tử. Tử Hạ chỉ có một đứa con trai. Khi con mất, ông khóc lòa cả đôi mắt.

537.- Bồ Tát 菩薩, Như Lai 如來:- *Bồ-Tát:- tiếng Phạn BODHISATHA, chỉ người tu hành gần đến bậc Phật. (xem thêm c.t. 201)

539.- Trượng nhân 仗人:- người già cả, tiếng tôn xưng người  lớn tuổi.
542.- Hàn Sơn 寒山 & Lâm Thủy 淋水:- *Hàn Sơn:- tên ngôi chùa ở huyện Ngô, tỉnh Giang Tô (TQ) . Tương truyền hai nhà sư người đời Đường tên là Hàn Sơn và Thập Đắc có tu và nổi tiếng ở đó, nên sau đặt tên chùa là Hàn Sơn.
*Lâm Thủy:- tên con sông bắt nguồn từ tỉnh Thiểm Tây (TQ) chảy qua Lam Điền rồi đổ vào sông Bá.
545.- Du phương 遊方:- đi chơi đó đây.
547.- Khăng  khắng :- đau đáu, nghĩ đến luôn.
548.- Con bóng trì trì:- bóng mặt trời đi chầm chậm, ý nói ngày xuân dài.
550.- Thủy tú sơn kỳ  水秀山奇:- cảnh sông núi đẹp , lạ.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, anhlam, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười Một 22, 2010, 09:51:26 PM »

(tiếp theo)

Khói tan, ngút sạch, như chùi,
Miệng hang, khe đá, nức mùi chi lan.
Rỡ ràng chín chục thiều quang,
Gió thanh, mây lặng, vẻn vang một trời.

555.- Mảng coi phong cảnh nơi nơi,
Ác vàng chênh  núi, khó dời đường chim.
Trong non nhà cửa khôn tìm,
Dương Từ vào miễu, một đêm ngủ nhờ.

* *
Miếu môn vắng vẻ như tờ,

560.-Tối tăm, chưa rõ trong thờ thần chi.
Họ Dương vừa giấc ngủ đi,
Chiêm bao lại thấy quân tùy bắt ngang.
Quân rằng :"  :- Vưng lịnh Phán quan,
Chữ phê trong thẻ, đòi chàng hầu  tra.

565.-Họ Dương hồn gượng theo ra,
Vào nơi công phủ: một toà nghiêm trang.
Ngồi trên thấy một ông quan,
Trước bàn hương án bày hàng bút nghiên.
Có người thơ lại ngồi biên,

570.-Hai bên treo trống, treo chiêng, rỡ ràng.
Trước sân lỗ bộ hai hàng,
Tả ban, hữu vệ, đứng giàn hầu xa.
Quân tùy dẫn họ Dương ra,
Trước sân cẩm thạch quì mà nghe tra.

575.-Quan rằng : " Thằng sãi xông pha,
Tối nằm cửa miếu vậy mà hỏi ai?
Dám xưng rằng :" Hiệu Thiện Trai,
Người trong Hoa Hạ, hay ngoài  man di?
Tóc râu là dạng nam nhi,

580.-Của cha mẹ đúc, can gì cạo đi?
Tổ Tiên  chút đã đền chi,
Vùa hương bát nước, nào khi phụng thờ?
Áo cơm còn nợ sờ sờ,
Lá rau con cá, cũng  nhờ đất vua.

585.-Trốn xâu, lậu thuế, vô chùa,
Trong đời những sãi: thời vua nhờ gì?
Vợ chồng sao nở bỏ  đi?
Lời thề dường ấy, sao khi Thánh   Thần ?
Ba giềng chẳng đặng một phần,

590.-Như vầy cũng tiếng làm thân con người.
Để bây sống cũng nhơ đời,
Truyền quân đao phủ dẫn nơi pháp đình.
Họ Dương phách khiếp , hồn kinh,
“Lạy xin khoan thứ, chút tình bần tăng”

595.-Phán quan cất bút phê rằng :"  :
“Tha về phải giữ đạo hằng cổ kim”
Dương Từ thức dậy nửa đêm,
Nghĩ thôi mới biết một điềm chiêm bao.
Gẫm trong cớ sự ngặt ngào,

600.-Cát, hung, chưa rõ lẽ nào thân sau.

*CHÚ THÍCH :-

553.- Thiều quang 韶光 :- ánh sáng đẹp, tức ánh sáng ngày xuân. *Chín chục thiều quang:- ba tháng xuân.
556.- Ác vàng:- dịch chữ "kim ô = 金烏" (quạ vàng) tức mặt trời. Tương truyền trên mặt trời có con quạ vàng ba chân.
569.- Thư lại 書吏:- người giữ việc sổ sách, văn thư ở các cửa quan thời xưa.
571.- Lỗ bộ 虜部:- những đồ binh khí cắm vào giá để trần thiết ở cung vua, phủ quan hay các đền chùa, miếu.
572.- Tả đao 左刀, hữu vệ 右衛:- bên trái có quân cầm đao, bên phải có quân hộ vệ.
578.- Hoa Hạ & Man Di:- (xem c.t. 436,454)
595.- Phán quan 判官:- quan tòa, quan xét án.
596.- Đạo hằng:- xem c.t. 6.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, anhlam, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Một 22, 2010, 09:56:35 PM »

(tiếp theo)

Vầng ô vừa lố bóng đầu,
Dương Từ vào miễu coi câu chữ đề,
Ngó lên trên biển ngạch đề,
Rằng :  “Đường Hàn Tử Xương Lê chi thần”.

605.-Than rằng : " Đã hiển thành thần,
Ngay vua, nào nại tấm thân mất còn.
Lại xem đôi liễn sơn son,
Có câu liễn  đối, treo còn tới nay.

VI.- Liễn rằng :-

Một sách "Đạo Nguyên" lòa mắt Thánh

Ba tờ "Phật Biểu" chát tai vua.


Dương Từ than thở, khen hay,

610.-Người ngay lại có liễn ngay để đời.
Lòng son một tấm thấu trời,
Những đoàn gian nịnh đổi dời sao xong.
Cho hay  đặng chữ "hiếu trung",
Dầu muôn năm cũng sắc phong, miễu thờ.

615.-Vái rằng : " Bần sãi ngẩn ngơ,
Lỡ đàng nên tới giẫm nhơ miễu thần.
Tạ ơn, bốn lạy kính dâng,
Chấp chi bần sãi, lạc chừng vân du.
Từ nay khỏi cửa công hầu,

620.-Chim trời cá nước, mặc dầu nghênh ngang.
Đi rồi nghĩ lại thở than,
Rằng :"  đêm trong miễu mắc nàn  chiêm bao.
Ghi lòng vàng đá, chớ nao,
Những điều mộng huyễn, nghĩ nào mà tin.

625.-Đi hơn mười dặm đứng nhìn,
Đường về tây bắc cảnh in quê nhà.
Nghĩ mình từ thuở xuất gia,
Tới nay kể đã hơn  ba năm trường.
Người: Thời chê lỗi cương thường,

630.-Thần: Thời bắt tội, lỗi đường hiếu trung,
Biết tu mấy kiếp cho xong !
Làm người nghĩ  thẹn đứng trong cõi người !
Tu chi trời đất hổ ngươi,
Thần hờn, qủi  giận, dân cười, sĩ chê.

635.-Tưởng đi, rồi lại tưởng về,
Về thời  hổ với bồ-đề trong tay.
Tương, dưa, rau, muối, cơm chay,
Công phu uổng phí xưa nay cúng dường.
Đi thời  lại sợ lầm đường.

640.-Thế gian đàm tiếu mọi đường thị phi.
Dùng dằng: lỡ ở, lỡ đi,
Bàn lui, bàn tới, lẽ gì chưa xong.

* *
Xảy vừa tới chốn tang trung,
Thấy tam kỳ lộ trong lòng sanh nghi.

645.- Một mình đứng giữa tam kỳ,
Ngó nam, ngó bắc, đường đi chưa rành,
May đâu thấy một cổ đình,
Ở bên đường cái, hiệu "Thanh Phong Đình".
Trong đình không phụng  thần linh,

650.-Để cho hành  khách lộ trình nghỉ ngơi.

*CHÚ THÍCH :-

601.- Vừng ô:- (hay kim ô 金烏) chỉ mặt trời (xem thêm 556).
604.- Đường Hàn Tử Xương Lê chi thần 唐韓子昌黎之臣 :- vị thần Hàn Tử hiệu Xương Lê đời Đường.

Hàn Dũ (韓愈, 768 - 25/12/824) tự Thoái Chi 退之, sinh tại đất Hà Dương, Hà Nam, Trung Quốc (nay thuộc Mạnh Châu, tỉnh Hà Nam); tổ phụ người đất Xương Lê (nay thuộc Hà Bắc, có thuyết nói thuộc huyện Nghĩa, Liêu Ninh) nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê (韓昌黎), làm quan về đời vua Đường Hiến Tông (806 - 820) tới Binh bộ thị lang, Lại bộ thị lang.

Hàn Dũ sinh ra trong một gia đình có học. Khi còn bé thì mẹ đã mất. Năm ông lên 2 tuổi thì cha cũng mất. Ông sống cùng anh trai là Hàn Hội (tức Hàn Lão Thành). Khi anh ông đi làm quan thì ông cũng được đi theo tới kinh đô và Thiều Châu. Năm 781, Hàn Hội mắc bệnh mà chết nên ông cùng chị dâu họ Trịnh quay trở về quê nhà tại Hà Dương, sau chuyển tới Tuyên Thành. Ông cùng cháu của Hàn Hội đều do một tay Trịnh thị nuôi dưỡng lên người, tình nghĩa giữa ông và cháu của Hàn Hội như chân với tay.

Năm lên 6 ông bắt đầu đọc sách, đến năm 12 tuổi đã có khả năng sáng tác văn chương. Năm Trinh Nguyên thứ 2 (786) ông tới Trường An dự thi nhưng ba lần đều không đỗ. Cuối cùng, vào kỳ thi năm Trinh Nguyên thứ 8 (792), ông đỗ tiến sĩ và ứng thi vào Lại bộ nhưng cũng không trúng ba lần. Đến năm Trinh Nguyên thứ 11 (795) mới được tiến cử.

Năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), tại Biện Châu có loạn. Ông theo tiết độ sứ Đổng Tấn tới đây đảm nhận chức quan quan sát thôi quan. Sau khi Đổng Tấn chết, ông được chuyển sang Vũ Ninh làm tiết độ thôi quan dưới trướng tiết độ sứ Trương Kiến Phong. Sau khi Trương Kiến Phong chết, ông chuyển về Lạc Dương.

Năm Trinh Nguyên thứ 17 (801), ông đảm nhận chức tứ môn bác sĩ tại Quốc tử giám. Hai năm sau, ông nhận chức giám sát ngự sử. Nhân Quan Trung bị hạn hán kéo dài, ông đã dâng biểu "Ngự sử đài thượng luận thiên hạn nhân cơ trạng". Do ông hặc tội quốc thích là kinh triệu doãn Lý Thực nên bị biếm làm huyện lệnh Dương Sơn. Cùng năm đó, cháu của Hàn Hội chết, ông viết Tế thập nhị lang văn. Năm Nguyên Hòa thứ 6 (811), ông nhận chức Quốc tử bác sĩ, có sáng tác Tiến học giải đưa cho Bùi Độ thưởng thức và được cất nhắc lên làm lang trung Lễ bộ. Năm 815 cùng Bùi Độ chinh phạt Hoài Tây, nhờ có công lao được cất nhắc làm thị lang Hình bộ, viết bia Bình Hoài Tây.

Năm Nguyên Hòa thứ 14 (819), nhân việc Đường Hiến Tông cho rước xương Phật vào cung để thờ, Hàn dâng biểu can gián. Vua Hiến Tông cả giận hạ lệnh đem Hàn Dũ ra xử tử. May nhờ có các quan như Bùi Độ và Thôi Quần hết sức kêu xin, Hàn mới thoát khỏi tội chết, bị giáng chức xuống làm thứ sử ở Triều Châu, một nơi xa xôi hẻo lánh, khổ sở.

Sau khi Đường Mục Tông lên ngôi, ông được triệu hồi về kinh, lần lượt đảm nhận các chức vụ như Quốc tử giám tế tửu, thị lang Binh bộ, thị lang Lại bộ, kinh triệu doãn kiêm ngự sử đại phu. Vì thế người ta gọi ông là Hàn Lại bộ. Năm 824, ông bị bệnh mà chết. Đến năm Nguyên Phong thời nhà Tống, ông được truy phong là Xương Lê bá. Hiện tại, ở trấn Tây Quắc, huyện cấp thị Mạnh Châu còn mộ của ông tại Hàn trang.

Ông chủ trương bài xích đạo Lão, đạo Phật, chỉ tôn trọng Đạo Nho mà thôi.

606.- Ngay vua nào nại tấm thân mất còn:- ngay vua do chữ "chính quân = 正君" (làm cho vua  trở nên ngay thẳng, đúng đắn); can ngăn làm cho vua trở nên đúng đắn thì có ngại gì tấm thân còn hay mất.

*CT câu liễn sau câu 608:-


*Đạo nguyên:- tức thiên  Nguyên đạo 元道(của Hàn Dũ) trong "Hàn Xương Lê toàn tập".

*Phật biểu:- tức bài "Phật cốt biểu 佛骨表" của Hàn Dũ (xem c.t. 604).

618.- Bần đạo  貧道:- (hay bần tăng 貧僧) tiếng tự xưng khiêm tốn của nhà sư.
623.- Nao:- bối rối, e sợ, chột dạ.
*Vàng đá:- do chữ "thạch kim 石金", chỉ lời nói có sức  bền vững như vàng và đá.
627.- Xuất gia出家: rời nhà đi tu theo đạo Phật.
638.- Cúng dường ( = cúng dàng = cung dưỡng  供養):- cúng tiền bạc, tài sản … cho thần, Phật, tổ tiên.
640.- Đàm tiếu 談笑:- nói và cười, chế nhạo, chê bai.
643.- Tang trung 桑中 :- trong ruộng dâu.
644.- Tam kỳ lộ 三歧路 :- đường rẽ ngã ba. (xem thêm 652/1)
647.- Cổ đình 古亭 :- đình xưa.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, anhlam, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, voicoibebong, byphuong, ngodao, Thiên Vương
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 22, 2010, 10:00:51 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
Trang: [1] 2 3 ... 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.206 seconds với 24 câu truy vấn.