Tháng Chín 24, 2018, 05:28:21 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DUY THỨC HỌC  (Đọc 10958 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Mười 29, 2010, 03:36:37 am »

(tiếp theo)

BÀI THỨ BẢY



CHÁNH VĂN

Hỏi:_ Như trên đã thành lập Duy thức tướng và Duy thức tánh rồi; Người nào mới có thể nhập được? Và làm sao để ngộ nhập?

Đáp:_ Phải là người có đủ hai giống tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này mới được ngộ nhập:

1. Vị Tư lương 
2. Vị Gia hạnh
3. Vị thông đạt 
4. Vị Tu tập
5. Vị Cứu tánh.

Hỏi:_ Hành tướng của vị Tư lương thế nào?

Đáp:_ (*Nguyên văn chữ Hán )

乃至未起識 
   
求住唯識性

於二取隨眠   
 
猶未能伏滅

Nãi chí vị khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Ư nhị thủ tuỳ miên
Du vị năng phục diệt

Dịch nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Từ khi chưa phát tâm, cho đến khi đã phát tâm cầu an trụ Duy thức tánh, trong thời gian đó hai món thủ (ngã chấp, pháp chấp) hãy còn miên phục; hành giả chưa có thể chinh phục hay diệt trừ được.

LƯỢC GIẢI

Từ trước đến đây đã nói rõ về Duy thức cảnh rồi, tức là Duy thức tướng và Duy thức tánh. Nay sẽ nói Duy thức hạnh và Duy thức quả, tức là dạy người sau khi học hiểu, phải phát tâm tu hành rồi mới chứng được Duy thức quả.

Vậy từ khi phát tâm tu Duy thức, cho đến chứng Duy thức quả, phải trải qua năm địa vị:

1. Vị Tư lương: Lương phạn, đồ hành lý. Thí như người đi đường. Trước phải sắm sửa lương phạn tiền bạc v.v...để lên đường.

Địa vị này bắt đầu từ khi chưa phát tâm tu Duy thức quán, cho đến khi phát Bồ Đề tâm, cầu an trụ Duy thức tánh (chơn như tâm).

Thí như chúng ta nghe trong kinh dạy: "vạn pháp Duy thức"; rồi chúng ta bắt đầu ngày đêm tu Duy thức quán. Bất luận thời giờ nào, khi thấy nghe hay biết, chúng ta đều quán "Tất cả pháp là giả tướng, Duy thức biến hiện". Chúng ta luôn luôn ở trong Duy thức quán. Cũng như người ở trong cảnh Tịnh độ bảy báu trang nghiêm. Được như thế thì tất cả phiền não không thể xâm nhập.

Song, khi mới cầu an trụ Duy thức, công tu chưa thâm, năng lực còn kém, nên chưa có thể an trụ Duy thức tánh được. Lúc bấy giờ hai món phiền não (năng thủ, sở thủ) còn miên phục, chưa trổi dậy; cũng như cỏ bị đá đè. Đến khi áp lực được nhẹ đi, thì hai món chủng tử này sẽ sanh khởi trở lại.

Duy thức tánh như ông chủ nhà, phiền não như kẻ trộm. Kẻ trộm không bao giờ ưa chủ nhà; chủ nhà lúc nào cũng ghét kẻ trộm.

Duy thức tánh và phiền não cũng thế. Nếu không diệt trừ phiền não thì không thể an trụ Duy thức tánh được. Bởi thế nên muốn an trụ Duy thức tánh thì quyết định phải diệt trừ hai món thủ (ngã, pháp).



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, byphuong, mavuong, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Mười 29, 2010, 03:40:00 am »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN

Hỏi:_ Hành tướng của vị Gia hạnh thế nào?

Đáp:_ (*Nguyên văn chữ Hán )

現前立少物 
   
謂是唯識性
 
以有所得故 
   
非實住唯識


Tụng viết:

Hiện tiền lập tiểu vật
Vị thị Duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ Duy thức

Dịch nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Nếu hiện tiền còn một tí thấy mình an trụ Duy thức tánh, thì chưa phải thật an trụ Duy thức tánh, vì còn có chỗ sở đắc vậy.

LƯỢC GIẢI

2. Vị Gia hạnh: Gia công tấn hạnh. Vị Gia hạnh này giống như người đi đường, trước phải dự bị đồ hành lý, rồi sắp sửa khởi hành.

Hành giả, khi tu Duy thức quán, thấy cảnh giới Duy thức hiện tiền, nếu chấp mình chức được Duy thức tánh, như thế là còn có chỗ sở đắc, nên chưa phải thật chứng Duy thức. Cũng như ông Nhan Hồi học Đạo với đức Khổng tử, sau khi thể hội được Đạo, ông nói rằng: "Như có một vật gì đứng đồ sộ vậy(1)". Đó cũng là cảnh giới Duy thức biến, chẳng qua thức biến không đồng.

Vì chơn tánh của Duy thức, chẳng phài có, chẳng phải không, tuy chứng mà không có gì là chứng, thế mới thật là chứng Duy thức.

Người an trụ được chơn tánh của Duy thức, cũng như cái tay nghười biết viết chữ: Không thấy có gì khác cả. Bởi thế nên nói "đặng mà không có gì là đặng".

Nay người tu Duy thức, do hiện tiền còn một tí thấy mình chứng Duy thức, nên không phải thật an trụ nơi Duy thức tánh.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, byphuong, mavuong, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Mười 29, 2010, 03:42:48 am »

(tiếp theo)

Hỏi:_ Hành tướng của vị Thông đạt thế nào?

Đáp:_ Nguyên văn chữ Hán

若時於所緣
     
智都無所得

爾時住唯識
   
離二取相故

Tụng viết:

Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy thức
Ly nhị thủ tướng cố
Dịch nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: bao giờ cảnh sở quán và trí năng quán đều không, khi đó mới an trụ nơi Duy thức tánh, vì đã xa lìa được hai món thủ vậy.

LƯỢC GIẢI

3. Vị Thông đạt: Rõ ràng thông suốt. Vị Thông đạt này cũng như người đi đường, đã thông suốt con đường sẽ đi, bắt đầu khởi hành, không còn lo ngại.

Hành tướng của vị nầy,là khi hành giả đối với cảnh sở quán và trí năng quán, đều xem như huyễn như hoá, không có sở đắc 

Vị Gia hạnh trước, chưa xa lìa hai món thủ (Ngã chấp, Pháp chấp), vì còn có sở đắc 

Vị Gia hạnh trước, chưa xa lìa hai món thủ (Ngã chấp, Pháp, chấp), vì còn có sở đắc, nên chưa có thể an trụ nơi Duy thức. Đến vị Thông đạt này, thì đã xa lìa hai món thủ, không có sở đắc, nên mới thật an trụ nơi Duy thức.

Đoạn văn này, đòng một nghĩa với câu: "Vô trí diệc vô đắc" (không có trí năng đắc và cảnh sở đắc) trong Bát Nhã Tâm kinh.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, byphuong, mavuong, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Mười 29, 2010, 03:47:43 am »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN

HỎI:_Hành tướng của vị Tu tập thế nào?

Đáp: _(*Nguyên văn chữ Hán )

無得不思議
     
是出世間智

捨二麤重故 
   
便證得轉依


Tụng viết:

Vô đắc bất tư nghị
Thị xuất thế gian trí
Xả nhị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y.
Dịch nghĩa

Luận chữ nói bài tụng để trả lời rằng: Cảnh giới: Vô đắc này không thể nghĩ bàn; đây là "Trí xuất thế gian" (vô phân biệt trí). Do đã xa lìa được hai món thô trọng (Phiền não chướng và Sở tri chướng) và chứng được hai món chuyển y (Bồ Đề,Niết bàn).

LƯỢC GIẢI

4. Vị Tu tập:Tu hành tập luyện. Địa vị Thông đạt trên, là chỉ thông suốt giáo lý, song chưa tu tập. Đến địa vị này mới tu tập Lục độ muôn hạnh, để chứng ngộ chơn lý.

Ở địa vị Thông đạt mới vừa chứng cái "Thể" của trí vô đắc. Đến địa vị Tu tập này mới đặng "Diệu dụng"của trí vô đắc. Diệu dụng của trí này này không thể nghĩ bàn. Nhưng, nếu trí còn có sở đắc là trí của thế gian; cái trí không có sở đắc, mới phải là trí của xuất thế gian.

Trí Vô đắc

-Vị thông đạt mới vừa chứng cái thể "trí vô đắc.

- Vị Tu tập mới được "Diệu dụng" của trí vô đắc

Vị Tu tập này đã xả bỏ được chủng tử của hai chướng là phiền não chướng và Sở tri chướng và chứng được hai quả Bồ Đề và Niết bàn.

Bài tụng trên nói chữ "thô trọng" là chỉ cho hai món chủng tử của hai món chướng: Phiền não và Sở tri: còn nói chữ "chuyển y" ,nghĩa là y cứ trên y tha khởi tánh, mà chuyển nhiễm trở lại tịnh: chuyển phiền não chướng thành Đại giải thoát (Niết bàn), chuyển sở tri chướng thành Đại Bồ Đề
   

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, byphuong, mavuong, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Mười 29, 2010, 03:53:36 am »

(tiếp theo)

CHÁNH VĂN

Hỏi:_ Hành tướng của vị Cứu cánh thế nào?

Đáp:_ (*Nguyên văn chữ Hán )

此即無漏界
     
不思議善常

安樂解脫身
     
大牟尼名法

Tụng viết:

Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghị, thiện, thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni danh pháp

Dich nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Đây là cảnh giới vô lậu, cũng gọi là: 1. Bất tư nghi, 2. Thiện, 3. Thường, 4. An lạc, 5. Giải thoát thân, 6. Đại Mâu ni, cũng gọi là Pháp thân.

LƯỢC GIẢI

5. Vị Cứu cánh: Quả vị rốt ráo; trong các quả vị tu hành, đến đây đã cùng tột rồi, không còn quả vị nào hơn nữa. Hành giả chứng được quả vị Bồ Đề, Niết bàn là cảnh giới vô lậu rốt ráo thanh tịnh.

Nói "Cảnh giới thanh tịnh" tức là chỉ cái Tổng tướng của vị Cứu cánh; nếu chỉ Biệt tướng của vị này thì có 6 món:

1. Bất tư nghi: cảnh giới này không thể dùng trí suy nghĩ hay lời nói luận bàn được.

2. Thiện: Cảnh giới này đã xa lìa hết các pháp nhiễm ô, bất thiện.

3. Thường: cảnh giới này thường còn, tột đến đời vị lai, không có cùng tận vậy.

4. An lạc: Cảnh giới này rất thanh tịnh vui vẻ, không có các điều khổ não bức bách vậy.

5. Giải thoát thân: Do xa lìa các phiền não triền phược, nên được thân Giải thoát (Cảnh giới của Nhị thừa).

6. Đại Mâu Ni hay gọi là Pháp thân. Do xa lìa được sở tri chướng, nên chứng đặng quả vô thượng Bồ Đề: vì quả vị này bản tánh rất thanh tịnh, nên gọi là Đại Mâu ni (tịnh mặc) cũng gọi là Pháp thân vậy.
 

Dịch xong tại chùa Phật Quang (Trà Ôn)
Ngày trừ tịch năm Canh Tý (14 2 1961)
Sa-môn Thích Thiện Hoa




(xin xem tiếp Chánh văn chữ Hán và dịch nghĩa của

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, byphuong, mavuong, dailuc, Ngoisaobiec
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Mười 30, 2010, 03:22:48 am »


DUY THỨC TAM THẬP LUẬN  TỤNG

CHÁNH VĂN
唯識三十論頌
世親菩薩  造

大唐三藏法師玄奘奉  詔譯
 
    護法等菩薩約此三十頌造《成唯識》,今略標所以。謂此三十頌中,初二十四行頌明唯識相;次一行頌明唯識性;後五行頌明唯識行位。就二十四行頌中。初一行半略辯唯識相。次二十二行半廣辯唯識相。謂外問言:「若唯有識,雲何世間及諸聖教說有我法?」舉頌詶答,頌曰:

    1由假說我法      有種種相轉
      彼依識所變      此能變唯三
    2謂異熟思量      及了別境識
 
次二十二行半廣辯唯識相者,由前頌文略標三能變,今廣明三變相。且初能變其相雲何?頌曰:
      初阿賴耶識      異熟一切種
    3不可知執受      處了常與觸
      作意受想思      相應唯捨受
    4是無覆無記      觸等亦如是
      恆轉如瀑流      阿羅漢位捨
 
已說初能變,第二能變其相雲何?頌曰:
    5次第二能變      是識名末那
      依彼轉緣彼      思量為性相
    6四煩惱常俱      謂我痴我見
      並我慢我愛      及餘觸等俱
    7有覆無記攝      隨所生所繫
      阿羅漢滅定      出世道無有
 
如是已說第二能變,第三能變其相雲何?頌曰:
    8次第三能變      差別有六種
      了境為性相      善不善俱非
    9此心所遍行      別境善煩惱
      隨煩惱不定      皆三受相應
  10初遍行觸等      次別境謂欲
      勝解念定慧      所緣事不同
  11善謂信慚愧      無貪等三根
      勤安不放逸      行捨及不害
  12煩惱謂貪瞋      痴慢疑惡見
      隨煩惱謂忿      恨覆惱嫉慳
  13誑諂與害憍      無慚及無愧
      掉舉與惛沈      不信並懈怠
  14放逸及失念      散亂不正知
      不定謂悔眠      尋伺二各二
 
(còn  tiếp )

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #66 vào lúc: Tháng Mười 30, 2010, 03:23:53 am »

(chánh văn tiếp theo)

已說六識心所相應,雲何應知現起分位?頌曰:

  15依止根本識      五識隨緣現
      或俱或不俱      如濤波依水
  16意識常現起      除生無想天
      及無心二定      睡眠與悶絕
 
已廣分別三能變相為自所變二分所依,雲何應知依識所變假說我、法非別實有,由斯一切唯有識耶?頌曰:
  17是諸識轉變      分別所分別
      由此彼皆無      故一切唯識
 
若唯有識,都無外緣,由何而生種種分別?頌曰:
  18由一切種識      如是如是變
      以展轉力故      彼彼分別生
 
雖有內識而無外緣,由何有情生死相續?頌曰:
  19由諸業習氣      二取習氣俱
      前異熟既盡      復生餘異熟
 
若唯有識,何故世尊處處經中說有三性?應知三性亦不離識,所以者何?頌曰:
  20由彼彼遍計      遍計種種物
      此遍計所執      自性無所有
  21依他起自性      分別緣所生
      圓成實於彼      常遠離前性
  22故此與依他      非異非不異
      如無常等性      非不見此彼
 
若有三性,如何世尊說一切法皆無自性?頌曰:
  23即依此三性      立彼三無性
      故佛密意說      一切法無性
  24初即相無性      次無自然性
      後由遠離前      所執我法性
  25此諸法勝義      亦即是真如
      常如其性故      即唯識實性
 
後五行頌明唯識行位者,論曰:「如是所成唯識性、相,誰依幾位?如何悟入?」謂具大乘二種種性。一本性種性:謂無始來依附本識,法爾所得無漏法因;二謂習所成種性,謂聞法界等流法已,聞所成等熏習所成。具此二性方能悟入。
何謂五位?
一、資糧位:謂修大乘順解脫分,依識性、相能深信解。其相雲何?頌曰:
  26乃至未起識      求住唯識性
      於二取隨眠      猶未能伏滅
 
二、加行位:謂修大乘順抉擇分,在加行位能漸伏除所取、能取。其相雲何?
  27現前立少物      謂是唯識性
      以有所得故      非實住唯識
 
三、通達位:謂諸菩薩所住見道,在通達位如實通達。其相雲何?
   28若時於所緣      智都無所得
      爾時住唯識      離二取相故
 
四、修習位:謂諸菩薩所住修道,修習位中如實見理,數數修習。其相雲何?
   29無得不思議      是出世間智
      捨二麤重故      便證得轉依
 
五、究竟位。謂住無上正等菩提,出障圓明,能盡未來化有情類。其相雲何?
   30此即無漏界      不思議善常
      安樂解脫身      大牟尼名法


(xem tiếp phần dịch)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #67 vào lúc: Tháng Mười 30, 2010, 03:26:49 am »

(tiếp theo)

BA MƯƠI BÀI TỤNG VỀ DUY THỨC

Ngài Bồ Tát THIÊN THÂN tạo luận
Ngài HUYỀN TRANG dịch ra chữ Hán
Sa môn T.THIỆN HOA dịch ra chữ Việt

(*Nguyên văn chữ Hán )

Nhược Duy thức, vân hà thế gian cập chư Thánh giáo thuyết hữu Ngã, Pháp?

Tụng viết:
由假說我法     
有種種相轉
 彼依識所變     
此能變唯三
謂異熟思量     
及了別境識


Do giả thuyết Ngã Pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam
Vị: Dị thục, Tư lương
Cập liễu biệt cảnh thức.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngã và Pháp?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Do giả nói Ngã, Pháp:
Các tướng Ngã, Pháp kia,
Nương nơi thức sanh ra.
Thức năng biến có ba:
Dị thục và Tư lương
Cùng thức Liễu biệt cảnh.

(*Nguyên văn chữ Hán )

Tuy dĩ lược thuyết tam năng biến danh, nhi vị quảng biện tam năng biến tướng; thả sơ năng biến kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:
初阿賴耶識     
異熟一切種
不可知執受     
處了常與觸
作意受想思     
相應唯捨受
是無覆無記     
觸等亦如是
恆轉如瀑流     
阿羅漢位捨


Sơ A lại da thức
Dị thục, Nhứt thế chủng
Bất khả tri chấp thọ
Xứ liễu thường dữ xúc
Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư
Tương ưng duy Xả thọ
Thị vô phú vô ký
Xúc đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A- la- hán vị xả.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã được nói cái "tên" của ba thức Năng biến, song chưa nói rõ cái "tướng"; vậy cái "tướng" của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Trước là A lại da,
Dị thục, Nhứt thế chủng.
Không thể biết: giữ, chịu (chấp thọ)
Thế giới (xứ) và phân biệt (liễu).
Tương ưng năm Biến hành,
Năm thọ chỉ Xả thọ
Thức này và Tâm sở
Hằng chuyển như nước thác
A la hán mới xả.
(*Nguyên văn chữ Hán )
Như thị dĩ thuyết sơ năng biến tướng, đệ nhị năng biến kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
次第二能變     
是識名末那
依彼轉緣彼     
思量為性相
四煩惱常俱     
謂我痴我見
並我慢我愛     
及餘觸等俱
有覆無記攝     
隨所生所繫
阿羅漢滅定     
出世道無有

Thứ đệ nhị năng biến
Thị thức danh Mạt ma
Y bỉ chuyển duyên bỉ
Tư lương vi tánh tướng
Tứ phiền não thường câu
Vị: Ngã si, Ngã kiến
Tinh Ngã mạm, Ngã ái
Cặp dư Xúc đẳng câu
Hữu phú vô ký nhiếp
Tuỳ sở sanh sở hệ
A la hán, Diệt định,
Xuất thế đạo vô hữu.

Dịch nghiã :-

Hỏi:_Trên đã nói thức Năng biến thứ nhứt; còn thui71c năng biến thứ hai thế nào?
Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Thức năng biến thứ hai,
Tên là thức Mạt ma.
Nương kia lại duyên kia (A lại da)
Tánh tướng đều lo nghĩ;
Thường cùng bốn phiền não;
Ngã si và Ngã kiến
Ngã mạn với Ngã ái;
Cùng với Xúc vân vân.
Hữu phú vô ký tánh
Sanh đâu chấp ngã đó.
La hán và Diệt định
Đạo Xuất thế không có.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #68 vào lúc: Tháng Mười 30, 2010, 03:28:13 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

Như thị dĩ thuyết đệ nhị Năng biến, đệ tam Năng biến kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:

次第三能變     
差別有六種
了境為性相     
善不善俱非
此心所遍行     
別境善煩惱
隨煩惱不定     
皆三受相應


Thứ đệ tam Năng biến
Sai biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện, bất thiện, câu phi
Thử tâm sở Biến hành
Biệtcảnh, Thiện, Phiền não
Tuỳ phiền não, Bất định
Giai tam thọ tương ưng

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Như vậy đã nói thức Năng biến thứ hai, còn thức Năng biến thứ ba thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Thức Năng biến thứ ba
Có sáu món sai biệt
Tánh, tướng đều biết (liễu) cảnh.
Thiện, Bất thiện, Vô ký
Đây tâm sở: Biến hành
Biệt cảnh, Thiện, Phiền não
Tuỳ Phiền não, Bất định,
Tương ưng với ba thọ.

(*Nguyên văn chữ Hán )

Tiền dĩ lược phiêu lục vị tâm sở tương ưng, kiêm ưng quảng biện bỉ sai biệt tướng; thả sơ nhị vị kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:
初遍行觸等     
次別境謂欲
勝解念定慧     
所緣事不同

Sơ Biến hành: Xúc đẳng
Thứ Biệt cảnh vị: Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ.
Sở duyên sự bất đồng

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã lược nêu 6 vị tâm sở tương ưng; nay xin nói rõ hành tướng sai khác của các loại tâm sở. Vậy hai vị tâm sở đầu thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Trước Biến hành là Xúc;
Sau biệt cảnh là Dục,
Thắng giải, Niệm, Định, Huệ
Cảnh bị duyên không đồng.

(*Nguyên văn chữ Hán )
Dĩ thuyết Biến hành, Biệt cảnh nhị vị,
Thiện vị tâm sở kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:
善謂信慚愧     
無貪等三根
勤安不放逸     
行捨及不害

Thiện,vị: Tín, Tàm, Quí
Vô tham đẳng tam căn
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả cập Bất hại.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã nói hai loại Biến hành và Biệt cảnh, còn hành tướng của Thiện tâm sở thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Thiện là: Tín, Tàm,Quí
Vô tham, Sân và Si
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả và Bất hại

(*Nguyên văn chữ Hán )

Như thị dĩ thuyết Thiện vị tâm sở,
Phiền não tâm sở kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:
煩惱謂貪瞋     
痴慢疑惡見

Phiền não vị: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Như trên đã nói Thiện tâm sở rồi, còn hành tướng của căn bản phiền não thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Phiền não là: Tham, Sân

Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.

(*Nguyên văn chữ Hán )
Dĩ thuyết căn bản lục phiền não tướng, chư Tuỳ phiền não kỳ tướng vân hà?
Tụng viết:

隨煩惱謂忿     
恨覆惱嫉慳
誑諂與害憍     
無慚及無愧
掉舉與惛沈     
不信並懈怠
 放逸及失念     
散亂不正知


Tuỳ phiền não vị: Phẫn
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
Cuống, Siễm dữ Hại, Kiêu
Vô tàm cập Vô quí
Trạo cử dữ Hôn trầm
Bất tín tinh Giải đãi
Phóng dật cập Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã nói 6 món căn bản phiền não còn hành tướng của Tuỳ phiền não thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Tuỳ phiền não là: Phẫn,
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
Cuống, Siểm, và Hại, Kiêu
Vô tàm với Vô quí
Trạo cử cùng Giải đãi
Phóng dật và Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #69 vào lúc: Tháng Mười 30, 2010, 03:29:16 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

Dĩ thuyết nhị thập Tuỳ phiền não tướng,

Bất định hữu tứ kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:

不定謂悔眠     
尋伺二各二


Bất định vị Hối, Miên

Tầm, Tư nhị các nhị.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã nói hai mươi món Tuỳ phiền não, còn hành tướng của bốn món Bất định thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Bất định là Hối, Miên

Tầm, Tư lại chia hai

(*Nguyên văn chữ Hán )

Dĩ thuyết lục vị tâm sở tương ưng
Vân hà ưng tri hiện khởi phận vị?

Tụng viết:
依止根本識     
五識隨緣現
或俱或不俱     
如濤波依水
意識常現起     
 除生無想天
及無心二定     
 睡眠與悶絕

Y chỉ căn bản thức
Ngũ thức tuỳ duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như đào ba y thuỷ
Ý thức thường hiện khởi
Trừ sanh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhị định
Thuỳ miên dữ muộn tuyệt.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã nói 6 loại tâm sở tương ưng rồi, bây giờ làm sao biết được phận vị hiện khởi của 6 thức?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Nương nới thức căn bản (A lại da)
Năm thức tuỳ duyên hiện,
Hoặc chung hoặc chẳng chung,
Như sóng nương với nước.
Ý thức thường hiện khởi,
Trừ sanh trời vô tưởng
Và hai định vô tâm,
Ngủ mê hay chết giả.

(*Nguyên văn chữ Hán )

Dĩ quảng phân biệt tam Năng biến tướng, vi tự sở biến nhị phần sở y; vân hà ưng tri y thức sở biến, giả thuyết ngã pháp, phi biệt thật hữu, do thị nhứt thế duy hữu thức da?

Tụng viết:
是諸識轉變     
分別所分別
由此彼皆無     
故一切唯識


Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt sở Phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Cố nhứt thế Duy thức.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Trên đã nói ba thức Năng biến, đều do hai phần (Tự chứng và Chứng tự chứng) làm sở y, rồi tự nó biến ra hai phần (Kiến phần và Tướng phần); bây giờ làm sao lại biết "Tất cả đều Duy thức biến ra" rồi giả nói ngã pháp, chứ không phải thật có?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Các thức này chuyển biến:
Phân biệt, bị phân biệt.
Do bỉ, thử đều không
Nên tất cả Duy thức



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #70 vào lúc: Tháng Mười 31, 2010, 03:19:59 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

Nhược duy hữu thức, đô vô ngoại duyên, do hà nhi sanh chủng phân biệt?

Tụng viết:
由一切種識     
如是如是變
以展轉力故     

彼彼分別生

Do nhứt thế chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Nếu chỉ có nội thức không có ngoại cảnh để làm duyên, thí làm sao sanh ra các món phân biệt.

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Do tất cả chủng thức,
Biến như vậy như vậy;
Vì sức biến chuyển đó,
Sanh các món phân biệt.

(*Nguyên văn chữ Hán )

Tuy hữu nội thức, nhi vô ngoại duyên,do hà hữu tình sanh tử tương tục?

Tụng viết:
由諸業習氣     
二取習氣俱
前異熟既盡     
復生餘異熟

Do chư nghiệp tập khí
Nhị thủ tập khí câu
Tiền Dị thục ký tận
Phục sanh dư Dị thục

Dich nghĩa

Hỏi:_ Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh để làm trợ duyên, thì tại làm sao chúng hữu tình lại sanh tử tương tục?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Do chủng tử các nghiệp
Và chủng tử hai thủ (năng thủ, sở thủ)
Nên Dị thục trước chết
Lại sanh Dị thục sau



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #71 vào lúc: Tháng Mười 31, 2010, 03:21:18 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

Nhược duy hữu thức, hà cố Thế Tôn xứ xứ kinh trung, thuyết hữu tam tánh?

Ưng tri tam tánh, diệc bất ly thức.

Sở dĩ giả hà?

Tụng viết
由彼彼遍計     
遍計種種物
此遍計所執     
自性無所有
 依他起自性     
分別緣所生
 圓成實於彼     
常遠離前性
故此與依他     
非異非不異
如無常等性     

非不見此彼

Do bỉ bỉ Biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử Biến kế sở chấp
Tự tánh vô sở hữu
Y tha khởi tự tánh
Phân biệt duyên sở sanh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tánh
Cố thử dữ Y tha
Phi dị phi bất dị
Như vô thường đẳng tánh
Phi bất kiến thử bỉ.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Nếu chỉ có thức, tại sao trong các kinh đức Thế Tôn nói có ba tánh?

Đáp:_ Phải biết ba tánh đó cũng không rời thức.

Hỏi:_ Tại sao thế?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Do các tánh biến kế,
Chấp hết tất cả vật.
Tánh Biến kế sở chấp,
Tự nó không thật có.
Còn tánh Y tha khởi
Do các duyên mà sanh.
Viên thành thật với kia (Y tha)
Xa lìa Biến kế trước.
Thành thật với Y tha,
Cũng khác cũng không khác;
Như vô thường vân vân
Chẳng thấy đây (Viên thành) và kia (Y tha)


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #72 vào lúc: Tháng Mười 31, 2010, 03:22:26 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

Nhược hữu tam tánh, như hà Thế Tôn thuyết nhứt thế pháp, giai vô tự tánh?

Tụng viết

即依此三性     
立彼三無性
故佛密意說     
一切法無性
 初即相無性     
次無自然性
後由遠離前     
所執我法性
 此諸法勝義     
亦即是真如
常如其性故     
 即唯識實性

Tức y thử tam tánh,
Lập bỉ tam vô tánh.
Cố Phật mật ý thuyết:
Nhứt thế pháp vô tánh.
Sơ tức tướng vô tánh,
Thứ vô tự nhiên tánh,
Hậu do viễn ly tiền:
Sở chấp ngã pháp tánh.
Thử chư pháp thắng nghĩa,
Diệc tức thị Chơn như:
Thường như kỳ tánh cố;
Tức Duy thức thật tánh.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ nếu có ba tánh, tại sao đức Thế Tôn nói: "tất cả pháp đều không có tự tánh"?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Y theo ba tánh này,
Lập ra ba vô tánh.
Nên Phật mật ý nói:
Tất cả pháp vô tánh.
Trước là "tướng" vô tánh,
Kế, không tự nhiện tánh,
Sau, do xa lìa trước:
Tánh chấp Ngã và Pháp.
Đây Thắng nghĩa các Pháp,
Cũng tức là Chơn như,
Vì tánh thường như vậy,
Tức thật tánh Duy thức.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #73 vào lúc: Tháng Mười 31, 2010, 03:24:00 am »

(tiếp theo )

(*Nguyên văn chữ Hán )

Như thị sở thành Duy thức tướng tánh, thuỳ y kỷ vị, như hà ngộ nhập? Vị cụ Đại thừa nhị chủng tánh giả, lược hữu ngũ vị, phương năng ngộ nhập. Nhứt Tư lương vị, nhị Gia hành vị, tam Thông đạt vị, tứ Tu tập vị, ngũ Cứu cánh vị.

1. Sơ Tư lương vị, kỳ tướng vân hà?

Tụng viết
乃至未起識     
求住唯識性
於二取隨眠     
猶未能伏滅

Nãi chí vị khởi thức
Cầu trụ Duy thức tánh
Ư nhị thủ tuỳ miên
Du vị năng phục diệt

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Như thế là đã thành lập tướng và tánh của Duy thức. Vậy người nào, có mấy vị, và làm sao ngộ nhập được Duy thức ?

Đáp:_ Phải người có đủ hai món tánh Đại thừa và tu hành trải qua năm địa vị sau này, mới ngộ nhập được Duy thức tánh.

1. Vị Tư lương, 2. Vị Gia hạnh,

3. Vị Thông đạt, 4. Vị Tu tập,

5. Vị Cứu cánh.

Hỏi:_ Hành tướng của vị Tư lương thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Cho đến chưa khởi thức

Cầu trụ Duy thức tánh

Hai thủ còn miên phục

Chưa có thể diệt trừ.

(*Nguyên văn chữ Hán )

2. Thức Gia hạnh vị, kỳ tướng vân hà ?

Tụng viết:
現前立少物     
謂是唯識性
以有所得故     
非實住唯識
 

Hiện tiền lập thiểu vật
Vị thị Duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ Duy thức

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Hành tướng của vị Gia hạnh thế nào?

Đáp: _ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Hiện tiền còn một tí
Gọi là Duy thức tánh;
Vì còn sở đắc vậy,
Chẳng thật trụ Duy thức.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #74 vào lúc: Tháng Mười 31, 2010, 03:28:24 am »

(tiếp theo)

(*Nguyên văn chữ Hán )

3. Thứ Thông đạt vị, kỳ tướng vân hà ?

Tụng viết
若時於所緣     
智都無所得
爾時住唯識     
離二取相故

Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhĩ thời trụ Duy thức
Ly nhị thủ tướng cố.

Dịch nghĩa

Hỏi: _Hành tướng của vị Thông đạt thế nào?

Đáp: _ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Khi nào "cảnh" bị duyên
Và "trí" đều không có 
Khi đó trụ Duy thức
Đã lìa hai món thủ.

(*Nguyên văn chữ Hán )

4. Thứ Tu tập vị, kỳ tướng vân hà?

Tụng viết:
無得不思議     
是出世間智
捨二麤重故     
便證得轉依


Vô đắc bất tư nghị
Thị xuất thế gian trí
Xả thị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y.

Dịch nghiã

Hỏi:_ Hành tướng của vị Tu tập thế nào?

Đáp: _ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

"Không đặng", chẳng nghĩ bàn;
Đây là "Trí xuất thế" (vô phân biệt trí)
Vì bỏ hai Thô trọng
Nên chứng đặng "chuyển y"

(*Nguyên văn chữ Hán )

5. Hậu Cứu cánh vị, kỳ tướng vân hà ?

Tụng viết
此即無漏界     
不思議善常
安樂解脫身     

大牟尼名法

Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghị, Thiện, Thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni danh Pháp.

Dịch nghĩa

Hỏi:_ Hành tướng của vị Cứu cánh thế nào?

Đáp:_ Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng:

Đây là cõi Vô lậu
Bất tự nghị, Thiện, Thường
An lạc, Giải thoát thân
Đại Mâu ni Pháp thân 

BIỂU 1

 
BIỂU  2


CHÚ THÍCH :-

(1)    Nguyên văn như vầy: “Chiêm chi tại tiền, hốt diên tại hậu; như hữu sở trác lập, cảnh tróc mô vị trúng” : Xem đó ở trước, thọat vậy ở sau; như có đứng đồ sộ, rờ nắm không trúng.

(2)    Hai cái biểu này trích trong “Duy Thức tam Thập Tụng Kỷ Văn” do ngài Thái Hư giảng.



HẾT

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, anhlam, nguyenthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.008 seconds với 25 câu truy vấn.