Tháng Giêng 22, 2018, 06:03:20 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 5   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: DUY THỨC HỌC  (Đọc 9892 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười 19, 2010, 10:20:33 pm »

(tiếp theo)

C. TÂM SỞ THIỆN (Có 11 món)


Chữ "Thiện" là hiền lành. Bản tánh của 11 Tâm sở này, hiền lành và làm lợi ích cho chúng sanh.

1. Tín: Tin. Tánh của Tâm sở này, tin chịu những gì có thật (chơn thật), Đức (hình dung), Năng (nghiệp dụng) và làm cho Tâm được thanh tịnh. Nghiệp dụng của nó: đối trị Bất tín và ưa việc lành.

2. Tinh tấn: Tinh chuyên và tấn tới. Tánh của Tâm sở này, siêng năng đoạn các việc dữ, làm các việc lành. Nghiệp dụng của nó đối trị giải đãi và làm viên mãn việc lành.

3. Tàm: Tự xấu hổ. Tánh của Tâm sở này, mỗi khi làm điều gì quấy, tự mình xấu hổ; kính trọng người hiền và ưa việc phải. Ngiệp dụng của nó: đối trị "tâm không biết xấu hổ" và ngăn ngừa việc dữ.

4. Quý: Thẹn với người. Tánh của Tâm sở này, khi mình làm điều gì quấy, thấy người thẹn thùa; không chịu gần người ác, chẳng làm việc dữ. Nghiệp dụng của nó: đối trị "tâm không biết thẹn" và ngăn làm việc ác.

5. Vô tham: không tham lam. Tánh của Tâm sở này, không tham lam, cảnh dục lạc trong tam giới. Nghiệp dụng của nó: đối trị lòng "tham" và ưa làm việc lành.

6. Vô sân: Không sân hận. Tánh của Tâm sở này, khi đối với cảnh trái nghịch, không nóng giận. Nghiệp dụng của nó: đối trị "sân hận" và ưa làm việc lành.

7. Vô si: Không si mê. Tánh của Tâm sở này, khi đối với sự lý, hiểu biết rành rõ không mờ ám. Nghiệp dụng của nó: đối trị "si mê" và ưa làm việc lành.

8. Khinh an: Nhẹ nhàng, thư thới. Tánh của Tâm sở này, làm cho thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái, xa lìa những gì nặng nề bực bội. Nghiệp dụng của nó: đối trị "Hôn trầm".

9. Bất phóng dật:Không buông lung, phóng túng. Tánh của Tâm sở này là phòng ngừa việc ác, làm việc lành và không phóng túng. Nghiệp dụng của nó: làm viên mãn việc lành ở thế gian, xuất thế gian và đối trị "Buông lung".

10. Hành xả: Làm rồi không chấp trước. Tánh của Tâm sở này, khi làm các việc phước thiện, không chấp trước, khiến tâm an trụ nơi vô công dụng. Nghiệp dụng của nó: đối trị "Trạo cử" và làm cho tâm an trụ nơi yên tịnh.

11. Bất hại: Không làm tổn hại. Tánh của Tâm sở này không làm tổn hại tất cả chúng hữu tình. Nghiệp dụng của nó: Từ bi thương xót loài vật và đối trị "Tổn hại".




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, dailuc, chonhoadong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười 19, 2010, 10:23:21 pm »

(tiếp theo)

D.CĂN BẢN PHIỀN NÃO (Có 6 món)

Sáu món phiền não này thuộc về ác. Nó làm cội gốc sanh ra các phiền não chi mạc, nên gọi là "Căn bản".

1. Tham: Tham lam. Tánh của Tâm sở này tham lam đắm nhiễm những gì nó ưa thích; như tài sắc, danh vọng,...Nghiệp dụng của nó: làm chướng ngại "Vô tham" và sanh tội khổ.

2. Sân: Nổi nóng. Tánh của Tâm sở này, giận ghét những cảnh trái nghịch. Nghiệp dụng của nó: làm cho thân tâm không yên ổn, chướng ngại tánh "Vô sân" và sanh các tội lỗi.

3. Si: Ngu si, hoặc gọi là "Vô minh" (không sáng suốt). Tánh của Tâm sở này là mê muội, không biết hay dở,phải quấy. Nghiệp dụng của nó sanh ra các pháp tạp nhiễm và chướng ngại tánh "Vô si".

Ba món phiền não tâm sở (Tham, Sân, Si) này, làm chướng ngại ba món Vô lậu là Giới, Định và Huệ.

4.Mạn: Khinh mạn. Tánh của Tâm sở này, ỷ tài năng hoặc thế lực của mình, khinh dễ ngạo mạn người. Nghiệp dụng của nó làm nhơn sanh ra tội lỗi và chướng ngại tánh "không khinh mạn".

5. Nghi: Nghi ngờ, do dự. Tánh của Tâm sở này, nghi ngờ không tin những việc phải, chơn chánh. Nghiệp dụng của nó làm trở ngại việc lành và chướng ngại tánh "không nghi".

6.Ác kiến: Thấy biết thuộc về tội ác, nhiễm ô. Tánh của Tâm sở này, hiểu biết điên đảo, không đúng chánh lý. Nghiệp dụng của nó gây tạo tội khổ và chướng ngại những hiểu biết chơn chánh.

Ác kiến này có 5 món:

1. Thân kiến: Chấp Ta (Ngã).

2. Biên kiến: Chấp một bên, hoặc chấp Ta chết rồi mất hẳn (chấp đoạn), hoặc chấp Ta chết rồi còn hoài (chấp thường).

3. Tà kiến: Chấp tà, mê tín, dị đoan.

4. Kiến thủ: Chấp cứng chỗ hiểu biết của mình là đúng, mặc dù có người biết sai, chỉ bảo lại cũng không nghe.

5. Giới cấm thủ: Chấp giữ theo những giới cấm không chơn chánh của ngoại đạo. Nói rộng ra là chấp theo những tục lệ không hay.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, dailuc, chonhoadong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười 19, 2010, 10:27:48 pm »

(tiếp theo)

BÀI THỨ TÁM

E. TUỲ PHIỀN NÃO (Có 20 món)


Hai mươi món phiền não này, là tuỳ thuộc 6 món Căn bản phiền não trên mà sanh khởi. Vì phạm vi tương ưng của nó có rộng và hẹp không đồng, nên chia làm ba loại:

I. TIỂU TUỲ, có 10 món, mỗi món tự lực sanh khởi, phạm vi tương ưng nhỏ hẹp, nên gọi là "Tiểu".

1. Phẫn: Giận. Tánh của tâm sở này, khi gặp cảnh trái nghịch, nóng giận. Nghiệp dụng của nó là hay làm tổn hại người, vật và chướng ngại tánh không nóng giận.

2. Hận: Hờn. Khi gặp cảnh nghịch, trước nóng giận rồi sau mới hờn. Tánh của Tâm sở này là ôm ấp sự oán ghét không bỏ. Nghiệp dụng của nó là nóng nảy, buồn phiền và hay làm chướng ngại tánh không hờn.

3. Phú: Che giấu. Tánh của tâm sở này, vì sợ mất danh giá và tài lợi, nên che giấu tội lỗi của mình. Nghiệp dụng của nó là hay ăn năn, buồn và chướng ngạitánh không che giấu.

4. Não: Buồn buồn. Khi gặp cảnh nghịch, trước giận hờn rồi sau mới buồn. Tánh của Tâm sở này hay nhớ lại những cảnh trái nghịch đã qua, rồi sanh buồn phiền. Nghiệp dụng của nó là chướng ngại tánh không buồn.

5. Tật: tật đố, ganh ghét. Tánh của tâm sở này hay ganh ghét đố kî những gì mà người ta hơn mình. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại tánh không tật đố và sầu khổ lo buồn.

6. Xan: Bỏn xẻn. Tánh của tâm sở này, bỏn xẻn, rích rắm, không chịu ban bố tiền tài hay giáo pháp cho người. Nghiệp dụng của nó là làm bộ quê mùa, ăn mặt nghèo cực, để tích trử tài sản và làm chướng ngại không bỏn xẻn.

7. Cuống: Dối. Tánh của tâm sở này, dối gạt người để lợi mình. Nghiệp dụng của nó là làm việc không chơn chánh để nuôi sống và chướng ngại tánh không dối gạt.

8. Siểm: Bợ đở, nịnh hót. Tánh của tâm sở này, lựa thời thế nịnh hót, bợ đỡ người. Nghiệp dụng của nó là không nghe lời chỉ giáo chơn chánh của thầy, bạn và làm chướng ngại tánh không dua nịnh.

9. Hại: Tổn hại. Tánh của tâm sở này làm tổn hại các loài hữu tình. Nghiệp dụng của nó là làm bức não người, vật và chướng ngại tánh không tổn hại.

10. Kiêu: Kiêu căng. Tánh của tâm sở này, vì thấy mình giàu sang, quyền tước hoặc tài năng, rồi sanh ra kiêu cách và ngạo nghễ. Nghiệp dụng của nó là làm nhơn sanh ra nhiễm ô, tội lỗi và chướng ngại tánh không kiêu căng.

II. TRUNG TUỲ, có hia món là Vô tàm và Vô quý; vì hai món Tâm sở này, duyên các Tâm sở bất thiện, phạm vi tương ưng của nó trung bình, nên gọi là "trung tuỳ".

11. Vô tàm: Tự mình không biết, xấu hổ. Tánh của tâm sở này, khi làm việc quấy không biết tự hổ, khinh dễ những người hiền thiện. Nghiệp dụng của nó là làm tăng trưởng việc ác và chướng ngại tánh biết xấu hổ.

12. Vô quý: Không biết thẹn với người. Tánh và tâm sở này, khi làm việc quấy, không biết thẹn với người, ưa làm việc tội ác. Nghiệ dụng của nó là làm tăng trưởng việc ác và chướng ngại tánh biết thẹn.

III. ĐẠI TÙY, có 8 món sau đây. Tám món Tâm sở này biến khắp các Tâm sở bất thiện, phạm vi của nó rộng hơn hai món Trung tuỳ trước, nên gọi là "Đại tuỳ".

13. Trao cử: Lao chao. Tánh của Tâm sở này làm cho thân tâm chao động không yên tịnh. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại Định và Hành xả.

14. Hôn trầm: Mờ tối trầm trọng. Tánh của Tâm sở này, khiến cho tâm khi đối với quán cảnh mờ mịt không sáng suốt. Nghiệp dụng của nó là làm hướng ngại Huệ và khinh an.

15. Bất tín: Không tin. Tánh của Tâm sở này là không tin các pháp lành, làm cho tâm tánh ô nhiễm. Nghiệp dụng của nó hay sanh giải đãi và chướng ngại tâm thanh tịnh.

16. Giãi đãi: Biếng nhác trễ nãi, Tánh của Tâm sở này là biếng nhác, không lo đoạn ác và tu thiện. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại tinh tấn và tăng trưởng tánh nhiễm ô.

17. Phóng dật: Buông lung. Tánh của Tâm sở này phóng túng, buông lung, không thúc liễm thân tâm để đoạn ác tu thiện. Nghiệp dụng của nó là làm tăng ác tổn thiện, và chướng ngại tánh không buông lung.

18. Thất niệm: Mất chánh niệm. Tánh của Tâm sở này không nhớ cảnh đã duyên. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại chánh niệm và sanh tán loạn.

19. Tán loạn: Rối loạn. Tánh của Tâm sở này làm cho tâm rối loạn. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại chánh định và sanh ra ác huệ.

20. Bất chánh tri: Biết không chơn chánh. Tánh của Tâm sở này, khi đối với cảnh, hiểu biết sai lầm. Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại cái hiểu biết chơn chánh và sanh ra phạm giới.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, dailuc, chonhoadong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười 19, 2010, 10:31:21 pm »

(tiếp theo)

Giải đáp một số câu hỏi quan trọng

Hỏi:_ Ba món Tâm sở: Trạo cử, Tán loạn và phóng dật khác nhau thế nào?

Đáp:_ Trạo cử là lao chao; dụ như con ngựa đứng một chổ trong chuồng, nhưng đầu và mình vẫn lắc qua lắc lại không yên.

_Tán loạn là rối loạn; dụ như con ngựa chạy lăng xăng trong chuồng.

_Phóng dật là buông lung; dụ như con ngựa đã thoát ra khỏi chuồng, tuôn vào lúa mạ của người.



Hỏi:_ Bốn món Tâm sở: Sân, phẫn, Hận và Não, Hành tướng khác nhau thế nào?


Đáp:_ Sân là nổi nóng, dụ như lữa rơm. Phẫn là giận, dụ như lữa củi. Hận là hờn; dụ như lữa than. Não là buồn, dụ như tro nóng.



Hỏi:_ Siêng năng làm việc quấy, có phải là Tinh tấn Tâm sở không?


Đáp:_ Không phải. Siêng năng làm việc quấy là phóng dật Tâm sở.




(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, dailuc, chonhoadong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười 19, 2010, 10:35:35 pm »

(tiếp theo)

BÀI THỨ CHÍN

G. BẤT ĐỊNH TÂM SỞ (Có 4 món)

Bốn món Tâm sở này không nhất định thiện hay ác, nên gọi là "Bất định".

1. Hối: ăn năn. Chỗ khác gọi là "Ố tác": ghét việc làm đã qua; cũng là dị danh của "Hối".

Tánh của Tâm sở này, ăn năn việc làm đã qua.

Nghiệp dụng của nó làm chướng ngại Định.

Ăn năn có khi thiện mà cũng có lúc lại ác.

 Như ăn năn: Vừa rồi mình sân si đánh đập người thật bậy quá, như thế là thiện.

Ăn năn: Vừa rồi sao mình không trộm lấy đồ vật của người, như thế là ác.

2. Miên: Ngủ. Tánh của Tâm sở này  làm cho tâm mờ mịt, thân không tự tại.

Nghiệp dụng của nó làm chướng ngại quán tưởng.

Ngủ cũng có khi thiệm mà cũng có khi ác: Ngủ phải thời là thiện, còn ngủ trong khi nghe kinh hay niệm Phật là ác.

3. Tầm: Tìm cầu.

Tâm sở này thiện ác không nhứt định, chỉ tuỳ theo trường hợp.

Tánh của nó làm cho tâm đối với cảnh danh ngôn của ý thức (ý ngôn cảnh) sanh khởi thô động.

 Nghiệp dụng của nó là làm cho thân tâm chẳng yên.

4. Tư: Chính chắn xét Tâm sở này cũng có thiện và ác, tuỳ theo trường hợp.

Tánh của nó làm cho tâm đối với cảnh danh ngôn của ý thức, sanh khởi tế nhị.

Nghiệp dụng của nó làm cho thân tâm được yên.

Tóm lại, tất cả chúng sanh hằng ngày tạo nghiệp lành hay dữ, chịu quả báo khổ hay vui, không vượt ra ngoài phạm vi của 8 món Tâm Vương và 51 món Tâm sở này.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, anhlam, nguyenthuy, dailuc, chonhoadong
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Mười 20, 2010, 10:28:42 pm »

(tiếp theo)

III. SẮC PHÁP

(Có 11 món)


Sắc pháp là thuộc về sắc (những cái thuộc về sắc). Sắc có hai loại:

 1. Hình sắc, như dài, ngắn, vuông, tròn, ...

2. Màu sắc, như xanh, đỏ, trắng, vàng, ...

Sắc có 11 món là 5 căn: Nhãn căn, Nhỉ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn và 6 trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần, và Pháp trần.

Sắc pháp là tướng phần ảnh tượng của Tâm Vương và Tâm sở (nhị sở hiện ảnh cố).

1. Nhãn căn: Con mắt. Chữ "Căn" có nghĩa là làm chỗ nương cho thức và phát sanh ra thức. Năm căn, căn nào cũng có hai thứ: 1. Tinh tế và ở bên trong, gọi là "Thắng nghĩa căn", 2. Thô phù, ở bên ngoài, gọi là "Phù trần căn".

Hình tướng của con mắt như trái nho. Nghiệp dụng của nó chiếu soi các sắc.

2. Nhĩ căn: Lỗ tai. Hình tướng của tai như lá sen non. Nghiệp dụng của nó hay nghe các tiếng.

3. Tỷ căn: Lỗ mũi. Hình tướng của lỗ mũi như hai ngón tay xuổi xuống. Nghiệp dụng của nó hay ngửi các mùi thơm và hôi.

4. Thiệt căn: Cái lưỡi. Hình tướng của lưỡi như trăng lưỡi liềm. Nghiệp dụng của nó nếm các vị và nói năng kêu gọi.

5. Thân căn: Thân thể. Chữ "thân" có hai nghĩa: Tích tụ các bộ phận và làm chỗ nương cho các căn. Nghiệp dụng của nó là duyên xúc trần. Như nặng, nhẹ, trơn, nhám, ...

6. Sắc trần: cảnh bị thấy của con mắt. Chữ "trần" có nghĩa nhiễm ô và bụi bặm.

Sắc trần có 25 món:

1. Xanh, 2. Vàng, 3. Đỏ, 4. Trắng, 5. Dài, 6. Ngắn, 7. Vuông, 8. Tròn, 9. To, 10. Nhỏ, 11. Cao, 12. Thấp, 13. Ngay, 14. Xiên, 15. Ánh sáng, 16. Bóng, 17. Sáng, 18. Tối, 19. Khói, 20. Bụi, 21. Mây, 22. Mù, 23. Cực lược sắc (sắc rất nhỏ) và cực hành sắc (sắc rất xa), 24. Biểu sắc (sắc, có nêu ra được), 25. Sắc hư không.


7. Thinh trần: Tiếng, cảnh bị nghe của tai.

 Có 12 loại tiếng:

1. Tiếng: cái tướng bị nghe của tai (nói chung các tiếng), 2. Tiếng vừa ý, 3. Tiếng không vừa ý, 4. Tiếng bình thường (không ưa ghét), 5. Tiếng loài hữu tình (tiếng nói), 6. Tiếng loài vô tình (tiếng cây, ...), 7. Tiếng thuộc cả hữu tình và vô tình (như tiếng trống do tay người ta đánh), 8. Tiếng thuộc về thế tục nói, 9. Tiếng thuộc về của Thánh giả, 10. Tiếng của ngoại đạo nói (do Biến kế sở chấp), 11. Tiếng nói chánh (Thánh ngôn)(như thật có thấy, nghe, hay, biết thì nói có thấy nghe, hay và biết; không thấy nghe, hay, biết thì nói không thấy, nghe, hay, biết, như thế gọi là 8 lời nói chánh), 12. Tiếng vang.


8. Hương trần: Mùi, cảnh bị ngửi của mũi.

Có 6 thứ mùi:

1. Mùi thơm, 2. Mùi hôi, 3. Mùi không thơm hôi, 4. Mùi từ bản chất sanh (cu sanh hương), 5. Mùi do chế tạo mà có (hoà hiệp hương), 6. Mùi do sự biến đổi mà sanh.


9. Vị trần:Vị, cảnh bị nếm của lưỡi.

Có 12 thứ vị:

1. Vị đắng, 2. Vị chua, 3. Vị ngọt, 4. Vị cay, 5. Vị mặn, 6. Vịlạt, 7. Vị vừa ý, 8. Vị không vừa ý, 9. Vị bình thường, 10. Vị từ bản chất sanh, 11. Vị do hoà hiệp chế tạo mà có, 12. Vị do biến đổi mà sanh.


10. Xúc trần: Xúc, cảnh bị biết của thân.

 Xúc trần có 24 món:

1. Đất, 2. Nước, 3. Gió, 4. Lửa, 5. Nhẹ, 6. Nặng, 7. Nhám, 8. Trơn, 9. Hưởn, 10. Gấp, 11. Lạnh, 12. Nóng, 13. Cứng, 14. Mềm, 15. Đói, 16. Khát, 17. No, 18. Sức lực, 19. Yếu, 20. Buồn, 21. Ngứa, 22. Dính, 23. Già, 24. Bịnh, 25. Chết, 26. Ốm.

11. Pháp trần: Cái bóng dáng của năm trần còn lưu lai trong ý thức.

Nghĩa là khi mắt không còn thấy sắc, tai không còn nghe tiếng, cho đến thân không còn biết xúc, mà trong ý thức vẫn nhớ lại bóng dáng của 5 trần; cái bóng dáng đó là pháp trần. Trong Duy thức gọi là "lạc tạ ảnh tử" (cái bóng rớt lại). Đây là cảnh bị biết của ý thức.

Pháp trần có 5 loại:

1. Cực lược sắc: Sắc rất nhỏ như vi trần.

2. Cực hành sắc: Sắc rất xa, như thấy tăm tăm mù mù.

3. Định quả sắc: Những sắc tướng do tu định hiện ra. Như các vị Bồ Tát, khi nhập định hiện ra nước, lửa, thế giới, ...

4. Vô biểu sắc: Sắc không nêu bày ra được; như khi thọ giới, ý thức lãnh thọ mà có, nên cũng gọi là "thọ sở dẫn sắc" (sắc do thọ giới dẫn sanh).

5. Biến kế sở chấp sắc: Sắc do ý thức vọng tưởng phân biệt sanh, chẳng thật có.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Mười 20, 2010, 10:35:34 pm »

(tiếp theo)

BÀI THỨ MƯỜI

IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP (Có 24 món)


Tâm bất tương ưng hành pháp, gọi tắt là "Bất tương ưng hành". Chữ "Hành pháp" là những pháp thuộc về "Hành uẩn". Hành uẩn là một trong năm uẩn.


Chữ "Hành" là sanh diệt dời đổi; chữ "Uẩn" là chứa nhóm. Hành uẩn có 2 loại:

1. Tương ưng hành uẩn, tức là các tâm sở (51 món). Chữ "Tương ưng" là ưng thuận với Tâm Vương.

2. Bất Tương ưng hành uẩn, tức là 24 món "Bất tương ưng hành" sau đây; 24 món này không tương ưng với tâm, chúng chỉ y ba phần: Tâm Vương, tâm sở và sắc pháp mà giả thành lập.(Tam, phần vị sai biệt cố).

1. Đắc: Được, trái với mất. Thí như "Tôi được đồng xu", cố nhiên phải có đồng xu là "sắc pháp", và nhãn thức để thấy, ý thức để phân biệt là tâm pháp, cùng với các tâm sở chung khởilà tâm sở pháp; phải đủ cả ba phần như thế, mới thành nghĩa "được".

2. Mạng căn: Thân mạng. Do nghiệp đời trước kéo dẫn, làm cho thần thức thọ thân, sống trong một thời gian hoặc lâu hay mau, gọi là "mạng căn".

3. Chúng đồng phận:Cũng như chữ "đồng loại". Các loại chúng sanh hoặc hữu tình hay vô tình, loài nào đồng với loài nấy. Như loài người đồng với người; loài vật đồng với vật.

4. Di sanh tánh: Những loài sanh ra khác với Thánh nhơn, tức là phàm phu;chỗ khác gọi "Phi đắc": Chúng phàm phu không được Thánh quả. Bởi thế nên gọi "Di sanh tánh" hay "phi đắc" đều được cả.

5. Vô tưởng định: Định này diệt hết các tâm vương và tâm sở của 6 thức trước. Song đây chỉ gọi "Vô tưởng" là vì "tưởng" làm chủ động vậy.

6. Diệt tận định: Định này không những diệt hết các tâm vương và tâm sở của 6 thức trước, mà diệt luôn cả phần tạp nhiễm của tâm vương tâm sở về thức thứ Bảy.

Vô tưởng định là định của phàm phu; còn Diệt tận định là định của Thánh nhơn.

7. Vô tưởng báo: Người ở cõi Dục tu Vô tưởng định, sau khi mạng chung, đặng báo thân ở cõi trời Vô tưởng.

8. Danh thân: Tên hay danh từ. Có danh từ đơn và danh từ kép.

9. Cú thân: Câu. Do ráp nhiều tiếng thành câu; câu có ngắn và dài.

10. Văn thân: Chữ. Chữ là chỗ y chỉ của danh từ và câu.

11. Sanh: Sanh ra. Nghĩa là từ hồi nào đến giờ không có, nay mới có.

12. Trụ: Ở. Những vật đã sanh ra rồi, còn lưu lại trong một thời gian , chưa diệt.

13. Lão: Già, suy yếu gần chết.

14. Vô thường: Không thường, biệt danh của chết.

15. Lưu chuyển: Xoay vần, nhơn quả trước sau nối nhau không dứt.

16. Định vị: Nhơn quả lành, dữ kkhác nhau, không lộn lạo.

17. Tương ưng: Ưng thuận với nhau. Như nhơn nào quả nấy, cân xứng với nhau.

(Hỏi: Cả 24 món, đều gọi là "Bất tương ưng hành" tại sao món thứ 17 này lại gọi là "Tương ưng"?_Đáp: Nói "Bất tương ưng" là để phân biệt 24 món này, không phải là tương ưng tâm sở. Còn về món thứ 17 này mà gọi là "Tương ưng", là do Sắc, Tâm và Tâm sở hoà hợp mà nói, nên không đồng với "Tương ưng tâm sở" trước).


18. Thế tốc:Các pháp hữu vi xoay vần mau lẹ như chong chóng.

19. Thứ đệ:Thứ lớp, trật tự không có lộn lạo.

20. Thời: Thời gian: quá khứ, hiện tại và vị lai.

21. Phương: Không gian: Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy (bốp phương bàng), thượng hạ.

22. Số: Số lượng. Như: một, hai, ba, bốn cho đến trăm, ngàn ..

23. Hoà hợp tánh: Các duyên hoà hợp không có trái nhau.

24. Bất hoà hợp tánh: Những pháp chống trái, không hoà hợp với nhau.

Nói tóm lại, từ trước đến đây đã kể 94 pháp:

8 món Tâm vương, 51 món Tâm sở, 11 món Sắc pháp, 24 món Bất tương ưng hành, đều thuộc về pháp hữu vi có sanh diệt biến đổi.

Sáu pháp dưới đây thuộc về vô vi.

Chữ "hữu vi" là những gì có tạo tác, có sanh diệt, không thường còn.

 "Vô vi" là những gì không tạo tác, không sanh diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường còn.

***


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Mười 20, 2010, 10:38:21 pm »

(tiếp theo)

V. VÔ VI PHÁP

(có 6 món)

Pháp Vô vi không sanh diệt, không biến đổi, không phải như các pháp hữu vi là Tâm vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ưng hành có sanh diệt biến đổi. Do các pháp hữu vi (94 món) diệt rồi, thì pháp vô vi mới hiện bày (Tứ, sở hiển thị cố).

Thật ra, vô vi không phải có 6 pháp, song vì theo từng khía cạnh của nó để giải thích, nên đặt ra 6 tên.

1. Hư không vô vi: Chơn như hay Pháp tánh, không thể dùng ý thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn được. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm nên gọi là "Vô vi".

Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là "Hư không vô vi".Đây là theo thí dụ mà đặt tên.

2. Trạch diệt vô vi:Do dùng trí huệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên chơn như vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là "Trạch diệt vô vi".

3. Phi trạch diệt vô vi: Vô vi không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai nghĩa:

a) Tánh chơn như vốn thanh tịnh, không phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não nhiễm ô mới có, nên gọi là "Phi trạch diệt".

b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi được hiện. Bởi thế nên gọi "Phi trạch diệt".

4. Bất động diệt vô vi: Đệ tứ thiền đã lìa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thuỷ tai) không còn bị mừng, giận, thương, ghét ...làm chao động nơi tâm, nên gọi là "Bất động diệt".

5. Thọ tưởng diệt vô vi: Khi được Diệt tận định, diệt trừ hết "thọ" và "tưởng" tâm sở nên gọi là "Thọ tưởng diệt vô vi".

6. Chơn như vô vi: Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến kế sở chấp); không phải điên đảo gọi là Như (không y tha khởi), tức là thật tánh của các pháp (Viên thành thật).

Trong luận Đại thừa trăm pháp này, ngoại nhơn hỏi hai câu:

Tất cả pháp là gì?

Thế nào là không thật (vô ngã)?

Từ trước đến đây, Luận chủ lược nói 100 pháp, để trả lời câu hỏi thứ nhất rồi, sau đây trả lời về câu hỏi thứ hai.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Mười 20, 2010, 10:44:20 pm »

(tiếp theo)

PHẦN THỨ HAI

NÓI "KHÔNG THẬT" (VÔ NGÃ)

Chánh văn

Nói "không thật" (vô ngã), tóm có 2 loại:

Nhơn (người ) không thật.

Pháp (vật) không thật
.

Người đời chấp tất cả các pháp thật có, tức là chấp Ngã (Thật). Chấp Thật (Ngã) có hai:

1. Nhơn (người) thật.

2. Pháp (vật) thật.

Chấp thân này thật có, gọi là Nhơn thật. Chấp núi sông tất cả các cảnh vật bên ngòai thật có, gọi là Pháp thật.

Do chấp thật có (ngã) nên sanh ra tham, sân, si rồi tạo ra các nghiệp, sanh tử luân hồi trong lục đạo. Bởi thế nên Phật nói:

"Tất cả Pháp không thật".


Nói "Tất cả pháp" tức là bao trùm cả loài hữu tình và vô tình. Loài hữu tình không thật có là "Nhơn không thật". Loài vô tình như hoàn cảnh, sự vật không thật có, là "Pháp không thật".

KẾT LUẬN

Từ trước đến đây, lược nói 100 pháp thì đã bao trùm Nhơn và Pháp. Phàm phu chấp cả Nhơn và Pháp đều thật có. Tiểu thừa chỉ chấp Pháp là thật có.

Trong luận này nói:

-8 món Tâm vương là tự thể của thức và hơn tất cả (nhứt thế tối thắng cố).
-51 món tâm sở là phần sở hữu và tương ưng của thức (dữ thử tương ưng cố).
-11 món sắc pháp là phần hình bóng, do Tâm vương và Tâm sở hiện ra (nhị sở hiện ảnh cố).
-24 món Bất tương ưng hành là do ba phần: tâm vương, tâm sở và sắc pháp, phân chia ngôi thứ sai khác mà giả lập (tam, phận vị sai biệt cố).
-6 món vô vi là do 4 món hữu vi trên (tâm vương, tâm sở, sắc pháp và bất tương ưng hành) diệt hết mà hiện bày ra, tức là thật tánh của thức (tứ, sở hiển thị cố).


Bởi thế nên biết: Người đời chấp "Nhơn thật có" và "Pháp thật có" đều không ngoài thức. Do đó mà đức Thế Tôn nói:

"Tất cả Pháp không không thật" (Vô ngã).

Và "Muôn Pháp Duy thức".


Viết xong lại Phật Học Đường Nam Việt

Rằm tháng 6 năm Kỷ Hợi (1959)



(xin xem tiếp Tập II)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Mười 20, 2010, 10:51:02 pm »

(tiếp theo)

TẬP II

LUẬN  VỀ   A - ĐÀ - NA    THỨC

Ngài Thái Hư Pháp sư giảng

Sa môn Thích Thiện Hoa dịch nghĩa

 

Nội dung quyển A Đà Na thức này, chia làm 8 phần:

1. Nêu cái tên
2. Định giới nghĩa
3. Giải thích và chọn lựa
4. Nêu cái thể
5. Hội lại giải thích
6. Chỉ những chổ sai lầm
7. Lập Tôn chỉ
8. Chỉ cái dụng


I. NÊU CÁI TÊN

Tên A Đà Na thức, xuất xứ từ đâu?

Trong kinh Giải thâm mật có bài tụng rằng:

Nguyên văn chữ Hán

A Đà Na thức thậm thâm tế

Tập khí chủng tử như bộc lưu

Ngã ư phàm ngu bất khai diễn

Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã.

Nghĩa là:

Thức A Đà Na rất thậm thâm và tế nhị; các tập khí(1) chủng tử của nó sanh diệt như dòng nước thác. Ta (Phật) đối với chúng phàm phu và Nhị thừa, không giảng nói thức này; vì sợ chúng phân biệt chấp làm Ngã.

Trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ lăng nghiêm nói:

Nguyên văn chữ Hán:

Đà na vi tế thức

Tập khí thành bộc lưu

Chơn, phi chơn khủng mê

Ngã thường bất khai diễn.

Nghĩa là thức A Đà Na rất là vi tế; các tập khí như dòng nước thác. Vì sợ chúng phàm phu và nhị thừa chấp thức này là "chơn" hay "phi chơn", nên Ta (Phật) chẳng hề giảng nói thức này cho chúng nghe.

Thức này là "Căn bản" của chơn và vọng; Thánh, Phàm đều nương ở nơi đây. Bởi thế nên trong Duy thức tôn, rất đặc biệt chú trọng đến thức này.

Nay chúng ta căn cứ theo câu văn và nghĩa lý của bài tụng trên mà quan sát_Trong bài tụng nói chữ "Phàm" là chỉ cho loài dị sanh (chúng sanh); nói chữ "Ngu" là chỉ chung cả phàm phu và Nhị thừa(chữ ngu là mê lầm).

Đại ý hai bài tụng nói:


A Đà Na rất thâm sâu và tế nhị, tóm chứa các tập khí chủng tử từ vô thỉ đến nay. Nó làm chủ giữ gìn báo thân của chúng hữu tình sống trong một thời kỳ. Xem in tuồng như "chơn", song nó hư vọng sanh diệt rất là vi tế. Cũng như dòng nước thác, ở xa thấy như điềm tịnh, mà kỳ thật nó chảy rất mau.

Chẳng những chúng phàm phu (dị sanh) (1) không biết,  mà hàng tiểu thừa Thinh văn chấp pháp (ngu pháp) cũng mê lầm thức này.

 Phật đối với hai hạng này chẳng hề giảng nói đến thức A Đà Na, vì sợ họ mê lầm chấp làm "Ngã".


Chúng phàm phu mê lầm chấp ngã thì thêm khổ sanh tử; còn hàng nhị thừa tuy có thể lìa được khổ sanh tử, song nếu mê lầm chấp ngã thì lâu chứng đạo quả; chi bằng chẳng cho họ nghe đến thức này còn hơn.

Bài tụng của kinh Lăng Nghiêm và kinh Giải Thâm Mật, hai câu đầu đồng nghĩa nhau. Trong câu thứ hai nói chữ "tập khí" tức là "chủng tử". Đến câu thứ ba lại chia ra làm hai phương diện: Bên kinh Lăng Nghiêm đại ý nói: "Thức này rất rộng sâu và tế nhị, sanh diệt tương tục không gián đoạn. Bởi nó tương tục không gián đoạn cho nên in như "chơn"; vì nó sanh diệt nên "không phải chơn".

Nếu người mê lầm chấp thức này là "chơn" thì bị cái chấp "Tăng ích" (thêm), sẽ đoạ mãi trong sanh tử luân hồi. Còn người mê lầm chấp thức này là "phi chơn", thì bị cái chấp "Tổn giảm" (bớt); vì cho thức này là "vọng" rồi rời bỏ thức này để tìm cầu cái "chơn thật" thì không thể được, nên cũng đoạï mãi trong sanh tử luân hồi.

Câu tụng thứ tư trong kinh Giải Thâm Mật, đại ý nói: "Phân biệt chấp thức này làm ngã", tức đồng bên kinh Lăng Nghiêm nói: "Mê thức này chấp là chơn". Song mê lầm chấp thức này "phi chơn" cũng là chấp Ngã. Vì sợ cho chúng phàm phu và hàng Nhị thừa mê lầm chấp thức này là "chơn" hoặc "phi chơn", cho nên Phật chẳng hề giảng nói.

Trên bài tụng nói "chấp ngã", tức là cố chấp thức này làm thật ngã, thật pháp. Bởi phàm phu và Nhị thừa đối với thức này hay khởi tâm phân biệt chấp là "chơn" hoặc "phi chơn".

Đem hai bài tụng trên đây để đối chiếu mà quan sát; thì ý nghĩa đầy đủ. Song, bài tụng trong kinh Giải Thâm Mật có một nghĩa đặc biệt và rõ ràng hơn là: "chúng phàm phu và Nhị thừa dễ khởi tâm phân biệt chấp làm Ngã".

Trong Du Dà Sư Địa Luận, hoàn toàn căn cứ vào kinh Giải Thâm Mật mà giải nói về thức này. Ngoài ra còn có rất nhiều chỗ nói đến cái tên thức này, không thể kể hết như Nhiếp Đại thừa luận, Hiển dương Thánh giáo luận, Thành Duy thức luận, ...Vì trong các kinh luận đã có cái tên A Đà Na thức, nên nay y theo đó để làm căn cứ cho bổn Luận này.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, dailuc, nguyenthuy, anhlam
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Mười 21, 2010, 10:30:40 pm »

(tiếp theo)

II. ĐỊNH GIỚI NGHĨA

Chữ "Giới nghĩa" tức là định giới hạn về danh nghĩa. Thức A Đà Na, cái giới nghĩa như thế nào?

Tiếng Phạn gọi là A Đà Na, Tàu dịch là "Trì" (giữ gìn). Trong kinh không có giải thích nó như thế nào nhưng trong Nhiếp Đại thừa luận giải thích có hai nghĩa, và ở Thành Duy thức luận lại còn phân tích hoàn bị hơn.

Trong Thành Duy thức luận về quyển ba nói:

Nguyên văn chữ Hán

Dĩ năng chấp trì chư pháp chủng tử

Cập năng chấp thọ sắc căn y xứ

Diệc năng chấp thủ kiết sanh tương tục

Cố thuyết thử thức danh A Đà Na

Dịch nghĩa

Thức này có ba công năng, nên gọi là A Đà Na:

1. Giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp

2. Giữ chịu (chấp thọ) căn thân và thế giới

3. Giữ lấy (chấp thủ) việc kết nối đời sau.

Nay muốn cho độc giả dể hiểu, nên bắt từ cạn vào sâu, từ thô đến tế; nghĩa là ngược thứ lớp của ba nghĩa trên để giải thích như sau.

1. GIỮ LẤY (CHẤP THỦ) VIỆC KẾT NỐI ĐỜI SAU


Sở dĩ có việc "kết nối đời sau" (kiết sanh tương tục) là do ba pháp: Phiền não, Nghiệp và Sanh; theo thông thường gọi "Hoặc, Nghiệp và Khổ". Nghĩa là: do phiền não nên tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên mới tiếp nối đời sau để thọ khổ. Chữ "Kiết sanh" (Kết nối đời sau), nghĩa là thọ sanh, bắt đầu từ khi kết thai cho đến lúc sanh ra vậy.

Lại nữa, từ một đời này chết rồi sanh đến một đời khác. Nghĩa là: từ thân "bổn hữu" (1) (thân hiện sống) đến thân "tử hữu" (thân đang chết), từ thân "tử hữu" đến thân "trung hữu"(2) (thân sau khi chết chưa đầu thai), từ thân "trung hữu" đến thân "hậu hữu"(3)(thân đời sau). Sở dĩ được tương tục không gián đoạn như thế, cố nhiên phải có một cái gì thường lưu hành và gìn giữ (chấp thủ)_Cái đó là thức A Đà Na. Nếu không có thức này để nắm giữ việc "kết nối đời sau" (kiết sanh tương tục) thì người một khi chết rồi phải mất luôn, không còn tái sanh được nữa! Như thế thành ra bị rơi vào thuyết Đoạn diệt của ngoại đạo.

Trong kinh Lăng Nghiêm về quyển thứ hai chép, đại ý: "Trước kia vua Ba Tư Nặc theo ngoại đạo, chấp về "đoạn diệt" (người chết rồi mất luôn) nên Vua thường ôm lòng lo buồn !...Sau khi nghe Phật nói Pháp, Vua ngộ được cái lý "sanh tử tương tục"; nghĩa là: con người khi chết là bỏ thân này để thọ thân khác, từ giã đời này để đến nhận lãnh đời kia; cái gì có biến đổi thì phải bị hoại diệt, còn cái gì không biến đổi thì thường không hoại diệt, nên vua rất vui mừng !".

Nói "chấp đoạn diệt" tức là chấp một phen chết rồi mất luôn. Nếu thật vậy, thòi đời sống của con người không có một chút giá trị nào cả ! Bởi thế, nên biết có thức A Đà Na này hằng lưu hành không gián đoạn, nó nắm giữ việc "đầu thai tiếp nối" (kiết sanh tương tục).

Tóm lại, nếu người hiểu rõ được: "Có thức A Đà Na nắm giữ việc kiết sanh tương tục" (kết nối đầu thai) thì đối trị được cái chấp "đoạn diệt" của phàm phu và ngoại đạo.

(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, chonhoadong, anhlam, dailuc
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Mười 21, 2010, 10:37:24 pm »

(tiếp theo)

2. GIỮ CHỊU (CHẤP THỌ) SẮC CĂN VÀ THẾ GIỚI

Nguyên vằn chữ Hán trên, nói chữ "sắc căn y xứ"_Chữ "sắc căn" là chỉ cho năm căn tinh tế bên trong (năm tịnh sắc căn: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân); còn chữ "y xứ" là chỉ cho năm căn thô phù bên ngoài (phù trần căn) làm chỗ (xứ) y chỉ cho năm căn bên trong.

Tóm lại là chỉ chung cái Báo thân của chúng hữu tình đang sống trong một thời kỳ. Nói "cái Báo thân sống trong một thời kỳ" tức là gồm cả "các pháp hữu vi vô thường sát na sanh diệt"._Cái công năng gìn giữ Báo thân được tương tục tồn tại trong một thời kỳ không tan hoại đó, tức là thức "A Đà Na" này vậy.

Nguyên văn chữ Hán trên, nói hai chữ "chấp thọ", nghĩa là chấp thân này nên "tự thể" khiến sanh ra biết cảm giác và lãnh thọ.

Lại có một nghĩa thứ hai, trên nguyên văn nói chữ "sắc căn" là chỉ cho thân loài hữu tình (chánh báo); còn chữ "y xứ" là chỉ cho thế giới (y báo).

Trong thế giới, từ một vật nàyđối với các vật khác ngại nhau, từ một vi trần này đối với các vi trần khác ngại nhau, mà vẫn tồn tại, đều do thức này gìn giữ không mất; chỉ khác với loài hữu tình là không làm cho biết cảm giác và lãng thọ.

Trong luận Tề vật, Ông Chương Thái Diệm nói: "Loài khoáng vật và thực vật đều có thân thức". Nhưng xét những lời chứng minh của ông, thì không phải là thân thức; thật ra do công năng giữ gìn của thức A Đà Na; chẳng qua ông không hiểu, lần cho là thân thức. Thân thức chỉ biết cảm giác lãnh thọ các xúc trần, như đau, ngứa, ...mà thôi; còn cái công năng nắm giữ các vật ngại nhau làm tự thể, quyết định phải là thức A Đà Na này.

3. GIŨ GÌN (CHẤP TRÌ) CHỦNG TỬ CỦA CÁC PHÁP

Nói "các pháp" tức là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi. Có hai loại: 1. "Hữu lậu hữu vi", tức là các pháp tạp nhiễm, thuộc về loài Dị sanh (chúng sanh), 2. "Vô lậu hữu vi", tức là các pháp thanh tịnh, thuộc về Thánh Hiền.

"CHỦNG TỬ" cũng có hai loại:

1. "Nghiệp chủng" tức là Dị thục tập khí",

2. "Pháp chủng", tức là Đẳng lưu tập khí.


Mỗi mỗi các pháp, khi khởi hiện hành đều từ chủng tử của nó mà khởi hiện. Bởi đồng đẳng lưu xuất ra chủng loại đó, nên gọi là "Đẳng lưu chủng".

"NGHIỆP CHỦNG" (Dị thục chủng tử) tức là chủng tử Tư Tâm sở. Bởi vì Tư Tâm sở, Tâm vương và các Tâm sở thiện ác v.v...có tác dụng hoạt độngthành ra "nghiệp chủng". Nếu lấy hiện hành của nó, thì cũng đều gọi là "Đẳng lưu chủng". Song cái "nghiệp chủng" này, đồng thời lại có công dụng đặc biệtlà thống lãnh các pháp khác. Cũng như ông Thủ tướng, nếu nói về cá nhân thì ông là một người như bao nhiêu người trong nước nhưng đồng thời, ông cũng có cái trách nhiệm thống lãnh toàn quốc.

_Nghiệp chủng (Dị thục chủng tử) cũng thế, nó khác hơn "pháp chủng"(Đẳng lưu chủng) ở chỗ đó.

"Nghiệp chủng" cũng có hai loại: 1. Hữu lậu, 2. Vô lậu. Song về "chủng tử" thì chỉ có công năng tiềm tàng (ẩn núp) mà không khởi hiện. Nếu không có một cái gì để chứa giữ, thì chủng tử các pháp phải bị tản mất. Nếu chủng tử các pháp bị tản mất, thì các pháp hiện hành ở thế gian và xuất thế gian cũng phải không còn.

Bởi thế nên phải có thức A Đà Na để chứa giữ chủng tử (công năng tiềm tàng) của các pháp.

Có người nói: "Sắc pháp có công năng chứa giữ chủng tử". Nói như thế không hợp lý, vì "sắc pháp" tánh nó biến đổi và chướng ngại, nên không thể chứa giữ chủng tử được. Lại nữa, khi sanh lên cõi trời Vô sắc, cõi ấy không có "sắc pháp" thì lấy gì chứa giữ chủng tử.

Các "Tâm sở" cũng không thể chứa giữ chủng tử được, vì nó không tự tại vậy.

Sáu thức trước cũng không thể chứa giữ chủng tử, vì khi sanh lên cõi trời Vô tưởng và vào Diệt tận định v.v ...không có sáu thức trước vậy.

Thức thứ Bảy, tuy hằng thời lưu hành và không gián đoạn, song cũng không thể chứa giữ chủng tử các pháp được, vì tánh nó "hữu phú vô ký". Nếu thức thứ Bảy chứa giữ chủng tử, thì khi đến địa vị Bồ Tát, đã chuyển thức thành trí thanh tịnh rồi, về sau laại khởi sanh các pháp tập nhiễm nữa, thì phi lý.

Bởi thế nên, chỉ có thức A Đà Na, tánh vô phú vô ký, nhứt loại sanh diệt tương tục, mới có thể duy trì (chứa giữ) chủng tử của các pháp. Cảnh giới này duy có Phật mới biết được hoàn toàn rốt ráo, còn các vị Bồ Tát chỉ biết một phần nào thôi.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, nguyenthuy, chonhoadong, anhlam, dailuc
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Mười 21, 2010, 10:41:18 pm »

(tiếp theo)

III. GIẢI THÍCH VÀ CHỌN LỰA

Trong thành Duy thức luận, quyển ba chép: "Các hữu tình đều có thức thứ Tám, song tuỳ theo mỗi phương diện mà danh nghĩa có khác nhau, nên đặt ra rất nhiều tên:

1. Hoặc gọi là "Tâm":_Vì thức này là chỗ chứa nhóm (tích tập) để cho các pháp huân tập chủng tử vào.

2. Hoặc gọi là "A đà na": _Vì thức này giữ gìn chủng tử và thân thể của chúng hữu tình không mất.

3. Hoặc gọi là "Sở tri y":_ Vì thức này là chỗ y chỉ của các pháp bị biết(sở tri) nhiễm và tịnh.

4. Hoặc gọi là "Chủng tử thức": _ Vì thức này có công năng chứa giữ chủng tử của các pháp thế gian (hữu lậu) và xuất thế gian (vô lậu).

Bốn tên trên đây, thông cả các địa vị Phàm, Thánh.

5. Hoặc gọi là "A lại da": _ Tàu dịch là Tàng thức vì thức này tóm thâu chứa đựng các pháp tap nhiễm, giữ gìn không mất, nên có nghĩa Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng. (Thức thứ Bảy chấp thức này làm "Nội ngã").

Tên A lại da (tàng thức) này, chỉ ở chỗ Phàm phu và Thánh hữu học, còn Thánh vô học và bực Bất thối Bồ Tát, thì không có tên này (tàng thức), vì không còn chứa giữ chủng tử các pháp tạp nhiễm nữa.

6. Hoặc gọi là "Dị thục thức ":_ Vì thức này có công năng dẫn dắt đi trong sanh tử để lãnh thọ quả Dị thục (báo thân), do thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, đã tạo đời trước.

Tên Dị thục này, chỉ có ở hàng Phàm phu, Nhị thừa và các vị Bồ Tát, còn đến địa vị Phật thì không còn Dị thục thức.

7. Hoặc gọi là "Vô cấu thức": _ Vì thức này là chỗ chứa giữ các pháp hoàn toàn vô lậu thanh tịnh. Tên "Vô cấu thức", duy Phật mới có. Từ các vị Bồ Tát Đại thừa trở xuống, cho đến hàng Phàm phu, thì thức thứ Tám còn chứa các chủng tử hữu lậu, chưa đặng hoàn toàn thanh tịnh, nên không có tên "Vô cấu thức".


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, nguyenthuy, chonhoadong, anhlam, dailuc, buomhoa
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Mười 21, 2010, 10:50:22 pm »

(tiếp theo)

CHỌN LỰA


Ngoài các tên kể trên, thức này lại còn có những tên như: Sơ năng biến, Căn bản thức và Như Lai tạng ...Nay theo thứ lớp lược nêu các tên, để lựa chọn tên nào hoàn bị.

1. A lại da thức._Tàu dịch là "Tàng thức". Các luận giải chữ "Tàng" có ba nghĩa: Năng Tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.

Cái tên "Tàng thức" này, chỉ có ở địa vị phàm phu (Dị sanh) và Thánh hữu học. Khi đến hàng Nhị thừa vô học và bực Niệm bất thối Bồ Tát, thì thức này không còn chứa giữ (chấp tàng) các pháp tạp nhiễm, nên không gọi nó là "Tàng thức" (A lại da thức). Bởi tên "A lai da" này nghĩa rất hẹp, cho nên luận này chẳng dùng.

2. Sơ năng biến thức._Thức này chứa giữ chủng tử của các pháp, rồi biến hiện ra tướng phần là căn thân và thế giới. Chúng Phàm phu và Nhị thừa không hiểu, nên chấp là thật ngã và thật pháp. Vì phá chấp của Phàm phu và Nhị thừa, nên Luận nói: "Các ngã và pháp đều giả, do thức biến hiện". Các thức chung lại. Có ba loại Năng biến, mà thức này là năng biến thứ nhứt, nên gọi là "sơ năng biến".

Bởi nghĩa này rất hẹp, không nói hết được cái lượng của thức này, nên cũng không dùng.

3. Dị thục thức._ Dị thục có ba: Dị thời nhi thục (khác thời mà chín), Dị loại nhi thục (khác loại mà chín) và Biến dị nhi thục (biến khác mà chín). So với "A lại da" thì tên này có phần rộng hơn; song đến khi thành Phật thì bỏ cái tên Dị thục (Kim Cang đạo hậu Dị thục không)

Bởi tên này không phổ thông: khi đến quả Phật không còn và hàng Nhị thừa khi vào Diệt tận định, thân thể như tro nguội, tâm trí bặt dứt, lúc bấy giờ không còn thức Dị thục, nên luận này không dùng.

4. Yêm ma la thức._ Tàu dịch là "Vô cấu thức", nghĩa là thức thanh tịnh không cấu nhiễm. Cái tên này duy địa vị Phật mới có; từ Bồ Tát trở xuống cho đến Nhị thừa và Phàm phu đều không có "Vô cấu thức"; vì Bồ Tát còn vô minh hiện hành và còn chủng tử tạp nhiễm.

Bởi cái tên này chỉ có ở quả Phật, không thông cả Thánh, Phàm và tóm thâu hết cái thể nhiễm tịnh của thức này, nên cũng không dùng.

5. Tâm: _ Tên này thông cả Phàm phu, Nhị thừa, Bồ Tát và Phật. Trong các kinh luận, có chỗ gọi chung cả tám thức là:Tâm, Ý và Thức; có chỗ gọi riêng thức thứ Tám là "Tâm", thức thứ Bảy là "Ý" và 6 thức trước là "Thức"; có chỗ gọi "tâm vương", "Tâm sở" đều là "Tâm" hoặc gọi Sắc pháp (vật chất) cũng là "Tâm"; _ như trái tim thịt gọi là "Tâm tạng" ( một tạng trong ngũ tạng:Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận).

Bởi cái tên này quá rộng và lộn lạo, cho nên luận này cũng không dùng.

6. Căn bản thức: _ Bảy thức trước và các pháp nhiễm tịnh, đều y chỉ ở thức này, nên gọi là "Căn bản thức". Cái tên này cũng thông cả Thánh, Phàm.

Nhưng tên "Căn bản", không phải chỉ để gọi thức thứ Tám, mà "Chơn như trí" cũng gọi là "Căn bản trí"; bởi vì "Chơn như" là "Căn bản" của tất cả Pháp.

Vì danh từ này có lộn lạo, nên luận này chẳng dùng.

7. Đệ bát thức: _ Y theo thứ tự, số mục mà gọi, thì năm thức trước, thức thứ Sáu, thức thứ Bảy và đến thức này gọi là "Đệ bát thức".

Cái tên này tuy có thể thông cả Thánh Phàm và cũng không có lỗi lộn lạo với cái khác, song cái tên Đệ bát không thể nói lên được cái tướng và dụng của thức này; chẳng qua chỉ một danh từ có gồm số mục để kêu gọi mà thôi, nên luận này cũng chẳng dùng.

8. Sở tri y: _ Cái tên này xuất xứ từ Nhiếp đại thừa luận, nghĩa đã rộng rãi và thông cả Thánh, Phàm. _ Chữ "Sở tri" (bị biết) tức là chỉ cho các pháp nhiễm và tịnh. Bởi các pháp lấy thức này làm chỗ y chỉ, nên gọi là "Sở tri y".

Cái tên này tuy đủ sức nói lên tướng và dụng của thức này, nhưng cũng không dùng; vì y theo trong Nhiếp đại thừa luận, thì các pháp "Sở tri" chính là chỉ cho ba tánh: Biến kế sở chấp tánh, Y tha sở tánh, và Viên thành thật tánh.

Song kỳ thật các pháp sở tri (bị biết) chẳng những y thức thứ Tám (Y tha khởi) mà cũng y chơn như (viên thành thật) hoặc y ý thức (Biến kế sở chấp). Vậy thời cái nghĩa "Y"cũng thông đồng với pháp khác; chẳng bằng dùng nghĩa "A đà na" rất là tinh xác hơn. 

9. Nhứt thế chủng thức: _ Danh từ này ở trong Thành duy thức luận, chỉ về cái "Nhơn tướng" của A lại da. Tên này cũng thông tất cả địa vị Thánh, Phàm(ở địa vị Phật có thể nói "nhứt thế vô lậu chủng thức").

Danh từ này so với danh từ A đà na không rộng mà cũng không hẹp lắm, có phần đồng nhau. Song "nhứt thế chủng" là chỉ cho tướng phần bị duyên và vật sở tri của tướng này, chớ không phải cái bản thể hiện hành của thức này; cái thức "Năng trì nhứt thế chủng tử" đó, tức là A đà na.

Vả lại, cái nghĩa "Năng trì chủng tử" này chỉ là một trong ba nghĩa của thức A đà na. Bởi thế nên đây cũng không dùng.

10. Như Lai tàng: _ Danh từ này cùng với Đệ bát thức có liên quan nhau. Trong các kinh luận giải nghĩa rất rộng, nay chỉ nói sơ lược cái ý.

Chữ "Tàng" nghĩa là "che giấu". Tất cả chúng hữu tình đều sẵn có "trí huệ đức tướng, pháp thân thanh tịnh của Như Lai", song vì bị che giấu trong vô minh tạp nhiễm. "Như lai thanh tịnh pháp thân" là bị (sở) che giấu, còn "vô minh tạp nhiễm" là (năng) che giấu; hiệp cả Năng và Sở mà gọi là "Như Lai tàng".

Danh từ này tuy thông các địa vị, nhưng bản ý lập ra là chuyên chỉ về phần "công đức pháp thân thanh tịnh"bị che giấu trong vô minh tạp nhiễm mà gọi là "Như Lai tàng", chứ không phải chỉ chung cả các pháp tạp nhiễm.


Trái lại, gọi A lại da là riêng chỉ về "pháp tạp nhiễm", còn Như Lai tàng là riêng chỉ về "pháp thanh tịnh".

Danh từ này nghĩa rất hẹp, lại thuộc về "Chơn như vô vi". Và cá pháp thanh tịnh của bảy thức trước, cũng chung gọi là Như Lai tàng.

Tóm lại, họp các danh từ trên để so sánh và chọn lựa, thì danh từ "A đà na" là hoàn bị hơn cả.



(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, nguyenthuy, chonhoadong, anhlam, dailuc, buomhoa
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Mười 21, 2010, 10:58:01 pm »

(tiếp theo)

IV. CHỈ CÁI "THỂ" CỦA THỨC A ĐÀ NA

Y theo đoạn trên nghiêm khắc lựa chọn, quí vị đã biết đại khái thức này rồi, và thấy chỉ nên chọn lấy danh từ A đà na mà thôi. Đến đây mới là phần cốt yếu của bổn luận này.

Chúng ta đã thấy có cái danh nghĩa, thì cái danh nghĩa đó tất nhiên phải y trên một cái thể mà đặt ra. Vậy cái "Thể" của A đà na thức thế nào ?

_ Đáp: Tức là các pháp; không thể rời các pháp mà riêng tìm có thức A đà na được.


Phải biết trời, đất, nhơn, vật toàn là thức A đà na, song chúng ta không thấy được "thức A đà na" mà chỉ thấy trời, đất, nhơn, vật; đó là vì bị hai món chấp: Ngã, Pháp thường hiện hành. Cũng như người nhặm con mắt, thấy các hoa đốm ở hư không. Vì con mắt bị nhặm, nên chỉ thấy hoa đốm mà không thấy được hư không.

Chúng sanh vì bị hai chấp (Ngã, Pháp) và hai chướng (phiền não chướng và sơ tri chướng) ám ảnh, nên không thấy được thức A đà na mà chỉ thấy các vật tạp nhiễm. Cổ nhơn nói: "Nhược nhơn thức đắc tâm, tắc đại địa vô thốn thổ": Nếu người ngộ được chơn tâm rồi, thì quả đại địa không còn một tấc đất (Kinh Lăng nghiêm), tức là cái ý đây vậy.

1. Trí tự trụ hậu đắc của bực Đại thánh duyên cảnh A đà na thức: _ "Tiếng" là cái bị nghe của tai, "Sắc" là cái bị thấy của mắt. Do có cái tên "tiếng" và "sắc", nên có thể chỉ ra cái thể của tiếng và sắc.

Nay chúng ta đã nghe tên và biết nghĩa của thức A đà na, vậy phải chỉ cái thể (hình thể) của nó ra thử xem. _ Thức A đà na, mắt không thấy được nó và tai cũng không nghe được nó; như thế làm sao chỉ ra cái thể của nó cho được ! chúng ta chỉ y theo Kinh, Luận của Phật và do lý luận mà biết được thức A đà na.

Như đoạn văn trước, dẫn trong Thành Duy thức luận nói:
"Có cái công năng duy trì sự kết nối đời sau", do đó mà suy xét biết có thức A đà na này;

 hoặc "Có công năng giữ thọ thân thể và thế giới", do đó mà so sánh biết có thức A đà na này;

 hoặc "Có cái công năng giữ gìn chủng tử của các pháp", do đó mà khảo xét, biết có thức A đà na.

Những sự hiểu biết về thức A đà na đây, là do so lường suy luận mà biết, nên không thể chỉ bày rõ ràng cái thể của thức này. Cũng như các nhà Triết học, chỉ suy luận âm thầm, nghĩ ngợi một cách xa xăm mà thôi, không có chút gì cụ thể.

Thí như có người chưa từng đến Lô sơn, chỉ nghe người nói phong cảnh Lô sơn, hoặc thấy các hình chụp các cảnh, rồi phân biệt: chỗ kia là núi Đại lâm, chỗ nọ là núi Ngũ lão, chỗ đó là núi Cô lãnh ...chỉ do so lường suy tưởng mà biết, chớ chưa từng thân hành đến xem cảnh Lô sơn.

Biết thức A đà na này cũng thế, chẳng qua nghe kinh sách hoặc lý luận rồi so sánh mà biết. Muốn trực tiếp biệt thức A đà na, phải là bực Đại thánh dùng cái "Trí tự trụ hậu đắc" mới thấy biết được thức này.

Chữ "Đại thánh" nóichữ "Đại" là lựa riêng Tiểu thừa; nói chữ "Thánh" Là lựa riêng phàm phu, tức là chỉ có bực Bồ Tát từ Sơ địa sắp lên.

"Trí" có hai loại:

1. "Căn bản trí", tức là Như lý trí (cũng gọi là Vô phân biệt trí).

2. "Hậu đắc trí", tức là Như lượng trí (cũng gọi là Sai biệt trí).


"Hậu đắc trí lại có hai phần:

1. Tự trụ hậu đắc trí;

 2. Thiệp tha hậu đắc trí.

Thức A đà na này, chỉ có trí "Tự trụ hậu đắc" mới biết được. Quả vị Phật, về "Thân tự thọ dụng" thì dùng "Tự trụ hậu đắc trí" (còn Thân tha thọ dụng, thì dùng Thiệp tha Hậu đắc trí).

Trong bốn trí, mà ba trí trước, tức: Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tánh trí và Diệu quan sát trí, mỗi trí đều đủ cả hai trí là: Căn bản và Hậu đắc; duy chỉ có trí thứ tư là "Thành sở tác trí", thì chỉ có "Hậu đắc trí" mà không có "Căn bản trí", vì không thân chứng được "Chơn như".


Bồ Tát chỉ dùng cái trí "Tự trụ hậu đắc" của Bình đẳng tánh trí và Diệu quan sát trí mà chứng biết thức A đà na này.

Thức thứ Bảy, khi chưa chuyển thành trí, thì chỉ duyên kiến phần của Đệ bát thức; khi chuyển thành trí rồi, cũng có thể biết được tất cả pháp; song chỉ biết các pháp đều là thức A đà na.


(còn tiếp)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina, mavuong, nguyenthuy, chonhoadong, anhlam, dailuc, buomhoa
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.443 seconds với 25 câu truy vấn.