Bộ Phương Pháp Thờ THẦN TÀI MẬT TÔNG.

(1/10) > >>

buomhoa:

Với nhân duyên được thỉnh bộ sách PHƯƠNG PHÁP THỜ THẦN TÀI MẬT TÔNG của thầy Đại Đức Thích Minh Tông(dịch).Nay tôi xin chia sẻ đến quý vị về pháp môn thờ thần tài.

Lời Giới Thiệu.
CẦU TÀI VÀ BỐ TRÍ
     Cuộc sống đời thường là không thể thoát ly khỏi tiền tài vật chất. Sự khao khác của người đời đối với tiền tài và sự giàu có là một tâm lý phổ biến. Tiền tài vật chất đem lại cho con người cuộc sống dễ chịu và tốt đẹp hơn,thỏa mãn những nhu cầu vật chất,đồng thời đem lại cho họ sự mãn nguyện về tinh thần ở mức độ nhất định. Trên một chừng mực nào đó, tiền tài chính là sự tượng trưng cho thân thế và địa vị,bởi vậy có thể nói rằng ham làm giàu là tâm lý chung của hầu hết mọi người.
     Vậy Phật Giáo với tư cách là một tôn giáo siêu việt xuất thế sẽ nhìn nhận thế nào về tiền tài vật chất? Xét về bản chất,Phật giáo là một tôn giáo hài hòa và cởi mở nên cũng giữ một thái độ bình hòa trung dung đối với tiền của, chủ trương"lấy có đạo, dùng có đạo".Thuận ứng với tâm lý ham làm giàu của số đông quần chúng, và cũng là để làm lợi cho chúng sinh, Phật Giáo đặc biệt là Mật Tông Tây Tạng đã đặt ra rất nhiều vị thần tài cùng những pháp môn tu luyện tương ứng,nhằm thỏa mãn nguyện vọng tìm kiếm phúc đức và tiền tài của những tín dồ trung thành.
     Mật Tông Tây Tạng tổng hợp những tinh hoa trong giáo nghĩa của ba thừa là Tiểu thừa,Đại thừa và Mật thừa,xử lý một cách khéo léo hai vấn đề cứu cánh của Phật Giáo là giải thoát và thành Phật, có tầm ảnh hưởng quan trọng trên phạm vi thế giới. Đó chính là lý luận "tức thân thành Phật" yêu cầu người tu hành thức dậy tính Phật trong chính bản thân mình, tu hành trong kiếp này,chứng quả cũng trong kiếp này,lý luận này có sức hấp dẫn rất lớn đối với người tu hành hiện đại. Mật Tông Tây Tạng ngoài việc sở hữu một hệ thống pháp môn tu trì nghiêm mật,còn có rất nhiều pháp môn phượng tiện nhằm giải quyết những khó khăn trở ngại của chúng sinh,phương pháp thờ cúng thần tài chính là một trong những pháp môn phương tiện đó.
     Các pháp môn tu trì của Mật Tông Tây Tạng có thể chia thành bốn loại lớn, gồm phép tức diệt,phép tăng ích,phép kính ái và phép hàng phục. Pháp môn thần tài thuộc về phép tăng ích. Là một pháp môn phương tiện của Phật giáo,pháp môn thần tài dùng để hóa độ chúng sinh,thể hiện rõ tôn chỉ giáo hóa của Phật"trước dẫn dụ bằng dục,sau cho nhập Phật trí". Để khiến con người từ bỏ dục vọng,phải áp dụng phương pháp"muốn bắt phải thả",áp dụng pháp môn thần tài để giúp chúng sinh có đủ tiền tài và phúc đức, sau đó dẫn dắt họ làm việc thiện, tu theo đạo Phật. Bởi vậy, pháp môn thần tài chính là con đường tốt đẹp nhằm dẫn dắt chúng sinh đến với Phật pháp. Với những người theo đạo Phật, pháp môn thần tài cũng là một dạng thức tu hành. Khi có được một cơ sở vật chất nhất định, tự nhiên có nhiều điều kiện tốt hơn để tiến hành bố thí, cúng dường, hành thiện tích đức, trợ giúp người khác. Trong xả hội vật chất hiện nay, điều kiện đó càng trở nên quan trọng.
     Các vị thần tài  trong Mật Tông Tây Tạng thường kiêm nhiệm nhiều chức trách khác nhau, ngoài chức trách bảo vệ Phật pháp, họ còn có nhiệu vụ quản lý, phù hộ cho sự nghiệp, danh lợi của chúng sinh.Thần Tàu Bản Môn và thần tài hộ pháp dều nhận được sự thờ phụng sùng kính của cả tăng nhân và dân chúng. Đ là diều  không thấy có ở Phật Giáo Trung Hoa.
     Và như vậy trang bị cho mọi người những tri thức toàn diện và hệ thống về pháp môn thần tài. về trí tuệ cầu tài và bố trí của Mật Tông Tây Tạng, đây chính là mục tiêu của cuốn sách này.
     Cuốn sách có thể coi là bộ tổng hợp về thần tài Mật Tông và là kim chỉ nam cho phép tu thần tài. Chúng tôi dành một dung lượng khá lớn để giới thiệu một cách toàn diện về các vị thần tài của Mật Tông Tây Tạng, bao gồm xuất xứ, hình tượng, đặc điểm, nghi quỹ tu hành tương ứng và châm ngôn mật chú. Ngoài ra để đem lại nhận thức đúng đắn  cho người mới học, chúng tôi sẽ cung cấp những quan niệm cần thiết trong phép tu thần tài, những lý luận cơ bản và các bước tu hành căn bản của Mật Tông Tây Tạng, như vậy sẽ giúp độc giả hiểu được những ý nghĩa và tông chỉ chính xác của pháp môn thần tài. Mặt khác,cuốn sách cũng trình bài khái quát về duyên khởi của thần tài Mật Tông, tiến hành  so sánh các hình tượng thần tài tại hai khu vực Tây Tạng và Trung Hoa,giúp độc giả hiểu dược ngữ cảnh và nguồn gốc của tục lệ và phương thức thờ thần tài.
     Về cách viết, chúng tôi sử dụng thủ pháp biên tập mới mẻ với một hệ thống tranh minh họa hết sức sinh động và tinh xảo,các bảng biểu, sơ đồ diễn giải, phân tích trực quan và sáng rõ, với phong văn giản dị dễ hiểu, đồng thời  kết hợp nội dung trình bày với các nhân tố thị giác như tranh vẽ, sơ đồ, bảng biểu để tạo thành một thể hữu cơ gắn bó, giúp độc giả dễ dàng nhận thức và nắm bắt dược phương pháp thờ thần tài từ nhiều góc độ.
     Ở đây có một điều cần thiết phải nhấn mạnh rằng, mục đích của cuốn sách này là giới thiệu về phương pháp thờ thần tài, chứ không phải truyền giáo. Nếu muốn học cách tụng niệm chân ngôn mật chú Mật Tông, nhất định phải quy y để trở thành tín đồ Phật giáo, tiếp nhận nghi lễ quán đảnh, được Thượng Sư đích thân hướng dẫn,  khi đó việc tụng niệm mới đem lại sức mạnh gia trì.
     Đương nhiên do khả năng có hạn, cộng thêm sự khó khăn trong công tác tổng hợp tư liệu, lại thêm rất nhiều pháp môn thần tài của Mật Tông không được truyền thụ công khai, có nhiều khác biệt ở mỗi dòng truyền thừa, nên không tránh khỏi sai sót,khiếm khuyết, Chúng tôi rất hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp sữa sai của tất cả bạn đọc,xin chân thành cảm ơn.

buomhoa:
Chương 1

Tìm hiểu về Thần Tài SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA PHẬT GIÁO TRUNG HOA VÀ MỘT TÔNG

     Thần Tài là vị phần chưởng quản về của cải và sự giàu có của nhân gian, bởi vậy cũng là một trong những vị thần tài được nhân gian ưa chuộng nhất.
     Căn cứ vào khác nhau về truyền thống tôn giáo, văn hóa và địa lý,Thần Tài của Trung Hoa về cơ bản có thể chia làm hai loại hình, đó là thần tài dân gian bản địa  và Thần Tài Mật Tông Tây Tạng. Trong đó, thần tài bản địa phát triển từ đời Tống, thịnh hành dưới đời Minh, Thanh, phản ánh được khát vọng giàu sang của người Trung Quốc. Các thần tài bản địa thường gặp gồm Triệu Công Minh, Quan Vũ. Thần tài Mật Tông xuất hiện khi Phật Giáo được du nhập vào Tây Tạng, và đều hóa thân của chu Phật, Bồ Tát, nhằm ban phát tiền tài, phúc đức cho chúng sinh, dựa vào cơ sở đó để khu trừ tham niệm, tin theo Phật pháp. Tuy mục đích sau cùng của hai nhóm có khác nhau, nhưng đều nhằm mãn nguyện những khát vọng, mong ước của con người về tiền của và sự giàu sang. Và cả hai nhóm thần tài đều đã trở thành  một thành tố tổ thành quan trọng của cả văn hóa Hán và Tạng.
Cầu trong sạch, dùng hợp lý, không tham niệm
QUAN NIỆM VỀ TIỀN TÀI CỦA PHẬT GIÁO
     Về tiền tài của cải, Phật giáo quan niệm rằng” lấy có đạo,dùng có đạo”tức không phủ định bản thân tiền tài và sự giàu có, mà chỉ phản đối các hành động làm giàu,kiếm tiền bằng thủ đoạn phi nghĩa, sử dụng tiền không hộp lý,thái độ chấp trước đối với tiền tài gây hại cho bản thân. Phật giáo ủng hộ và khuyến khích những tiền của trong sạch, được sử dụng hợp lý để bố thí.
     Trước khi trình bày về các vị thần tài của Mật Tông, chúng ta cần phải có nhận thức đúng thề thái độ của Phật giáo đối với tiền của vật chất.
     Phật giáo nhận định rằng,"tài, sắc, danh, thực, thụy" là các dục vọng lớn nhất của loài người, và gọi chúng là năm căn địa ngục, mà "tài" được đặt ở vị trí đầu tiên trong danh sách đó, chứng tỏ niềm khát vọng của con người dối với tiền của là mãnh liệt đến nhường nào. Bởi vậy chúng ta dễ nhầm tưởng rằng, Phật giáo vốn luôn chủ trương xuất thế ắt hẳn phải phản ứng quyết liệt tiền của,làm giàu. Thực tế này không khỏi khiến nhiều người nghi hoặc, rốt cục, lập trường của Phật giáo đối với tiền của ra sao?
     Vấn đề này đã được trình bày rất rõ trong kinh điển của Phật giáo, qua thuyết"rắn độc" và thuyết"tiền của trong sạch".
     TIỀN TÀI ĐÔI LÚC LÀ RẮN ĐỘC
     Trong kinh Phật có ghi lại một câu chuyện như sau: Một hôm, đức Phật dẫn theo đệ tử A NAN ra ngoài khất thực, chợt thấy bên đường có một nén vàng, đức Phật liền nói với A NAN rằng: "Trò nhìn xem,kia là rắng độc!" A NAN lập tức đáp lời:"Quả nhiên là rắn độc!" Có hai cha con người nông dân đứng gần đó nghe được mẩu đối thoại này, hiếu kỳ mà đến xem. Nhìn thấy nén vàng họ vui mừng khôn xiết, vội vã nhặt lấy mang về nhà, chắc mẩm sẻ nhờ đó mà được đổi đời. Thế nhưng khi người con trai đem vàng ra chợ bán,  thì bị người ta tố giác lên quan phủ, Thì ra trước đó quốc khố bị đánh cắp. bọn cướp đánh rơi trên đường bỏ chạy đã đánh rơi nén vàng này. Giờ đây nhân chứng  vật chứng rành rành, cha con bị khép tội mà không có cách nào biện giải. Lúc này, họ mới nhận ra được hàm nghĩa sâu xa trong lời nói của đức Phật, vàng bạc chính là rắn độc.
    TIỀN TÀI:LẤY CÓ ĐẠO,DÙNG CÓ ĐẠO
     Tiền tài trở thành rắn độc trong ba trường hợp: thứ nhất, khi chúng có nguồn gốc bất chính hoặc có được bằng những thủ đoạn xấu xa bất nghĩa: Thú hai, khi chúng sử dụng thiếu hợp lý, xa hoa lãng phí; Thứ ba, khi chúng ta quá chấp trước đối với tiền của mà tự làm hại bản thân. Thế nhưng trong đời sống hàng ngày, những trường hợp  phạm ba sai lầm trên là vô số kể.
     Trong kinh Phật cũng có nhắc đến"tiền của trong sạch"(tịnh tài). Tiền của trong sạch không những là điều kiện tất yếu để duy trì cuộc sống, mà còn có thể làm lợi cho xã hội, tạo phúc cho nhân loại. Tiền của trong sạch là những tiền của không phạm phải ba sai lầm kể trên, tức: có nguồn gốc chính đáng, có được nhờ sức lao động và trí tuệ của bản thân, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, đồng thời bản thân không tham chấp trước tiền tài, nhận thức được bản chất thực sự của tiền tài, sẽ không bị tiền tài làm hư hại.
...còn tiếp...

buomhoa:
...tiết...
CÁCH CẦU TÀI HỢP LÝ THEO PHẬT GIÁO
       Quan niệm của Phật giáo đối với tiền tài là” phi thiện phi ác”. Phật giáo không phủ định hoàn toàn tiền của, tuy nhận định”tiền vàng là rắn độc”, nhưng cũng thừa nhận tiền của chính là nguồn vốn để tu đạo, hoằng pháp. Tín đồ Phật giáo nếu có muốn có tiền của, trở nên giàu có, trước hết phải hiểu rõ về nhân quả, để mở rộng phúc điền, bố thí chúng sinh, có được năng lực sinh tồn, đồng thời cũng phải tuân thủ pháp luật của Phật giáo. Trong kinh Phật có chỉ ra mười trường hợp cầu tài phi pháp, để cảnh tỉnh người tu hành.


     Tiền tài bất chính là rắn độc.

Những  tiền của phi pháp, bất nghĩa, ngoài luồng đều không nên tham luyến, vì chúng chẳng khác gì rắn độc, sẽ làm hại chúng mình.
Trước dẫn dụ bằng dục,sau cho nhập Phật trí
PHẬT GIÁO VÀ PHÁP MÔN THẦN TÀI
      Trong “ Kinh Pháp Hoa” có viết: “Trước dẫn dụ bằng dục, sau cho nhập Phật trí” nhằm giúp chúng sinh trừ bỏ phiền não, theo Phật làm việc thiện, Phật giáo đã sáng tạo nên những pháp môn phương tiện để hóa độ chúng sinh, đó chính là pháp môn thần tài. Đối với chúng sinh thời Mạt pháp thì pháp môn thần tài hiển nhiên chính là một con đường thuận lợi để đưa chúng sinh tiếp xức với Phật giáo.
      Đối với vấn đề tiền tài, Phật giáo luôn giữ thái độ trung dung khoan hòa,có cái nhìn bao dung khoan hậu với tâm lý ham giàu, ham của cải phổ biến của người đời. Nhằm lợi ích chúng sinh, giúp chúng sinh khu trừ dục vọng, biết bố thí, Phật giáo đã áp dụng phương cách “muốn bắt phải thả”, đưa ra hệ thống thần tài và pháp môn thờ thần tài để giúp chúng sinh có đủ tiền tài,phúc đức, từ đó khiến họ chuyển niệm sang tu Phật hành thiện. Đó chính là mục đích sau cùng của pháp môn thần tài Mật Tông.
DUYÊN KHỞI CỦA THẦN TÀI MẬT TÔNG:GIÚP CHÚNG SINH CÓ ĐỦ TIỀN TÀI PHÚC ĐỨC
      Mật Tông Tây Tạng nhận định rằng, mọi người đều có tâm lý ham giàu, ham của, nhằm mãn nguyện các mong ước của chúng sinh, pháp giáo Phật giáo để hướng dẫn pháp môn thần tài để chúng sinh có được cuộc sống sung túc.  Chư Phật Bồ Tát của Mật Tông Tây Tạng mang lòng từ bi quảng đại, hiểu được niềm khao khát làm giàu của chúng sinh, nên đã tìm cách giúp chúng sinh thoát nghèo khổ, vận dụng phương pháp “trước dẫn dụ bằng dục,sau cho nhập Phật trí”, đặt ra các vị Bản tôn tài bảo và thần tài cũng là nhằm mục đích đưa chúng sinh thoát khỏi bể khổ, có được nguồn của cải dồi dào để theo đuổi nghiệp tu hành, hoằng pháp, tiếp tục cứu độ chúng sinh hữu tình. Trong Mật Tông có rất nhiều vị Bản tôn chuyên ban tiền tài phúc đức, như Phật Bảo Sinh, Bồ Tát Hư Không Tạng,Tài Bảo Thiên Mẫu, cùng các thần tài hộ pháp như Tứ Đại Thiên Vương, năm lộ thần tài…
     Đối với người theo học Phật pháp, pháp môn thần tài cũng là một dạng thức tu hành. Bởi vì trong xã hội vật chất thời nay, nếu như muốn mở rộng sự nghiệp Bồ Tát, thì việc phải có một cơ sở vật chất cố định là hết sức cần thiết. Mặt khác, những vị thần tài và Bản tôn tài bảo này cũng góp phần thu hẹp khoảng cách giữa Phật giáo và chúng sinh bình thường.
PHÁP MÔN THẦN TÀI MẬT TÔNG: PHÁP MÔN PHƯƠNG TIỆN ĐỂ HÓA ĐỘ CHÚNG SINH
      Vì người tu hành có thể gặp phải rất nhiều khó khăn và phiền não trong sinh hoạt đời thường, nên Mật Tông Tây Tạng đã sáng tạo nên hệ thống pháp môn phương tiện thực dụng nhằm tiêu trừ những trở ngại thường nhật đó, pháp môn thần tài chính là một trong những pháp môn phương tiện này. Mục đích của việc truyền dạy pháp môn thần tài chính là khu trừ tham niệm, bồi đắp cho phúc đức và vốn trí tuệ của tu hành. Còn thời điểm có được những thứ đó, còn phải tỳ theo cơ duyên của từng người. Ví dụ, khi bạn bố thí chút tiền cảu cho người ăn xin, là đã làm được một việc thiện nhỏ, nhưng cũng có thể tích lũy được nhiều phúc đức. Nhưng nếu như trong lúc bố trí , bạn quán tưởng người nhận bố thí chính là Bản tôn thần tài, hành vi bố thí chính là để cúng dường cho thần tài, thì lượng phúc đức tích lũy được sẽ còn nhiều hơn nữa. Trong Phật pháp, mục đích của việc kiếm tiền làm giàu chính là để bố thí.

......

buomhoa:
.....
MỤC ĐÍCH CỦA PHÁP MÔN THẦN TÀI MẬT TÔNG CÙNG PHƯƠNG THỨC CỨU ĐỘ CHÚNG SINH
   Ham làm, ưu thích tiền của là tâm lý chung của tất cả mọi người. Nhằm làm lợi cho chúng sinh, giúo chúng sinh trừ bỏ được dục vọng, biết cách bố thí, chư Phật Bồ Tát của Mật Tông  đã sáng tạo ra hệ thống thần tài và pháp môn thần tài để đem lại cho chúng sinh nguồn tiền tài, phúc đức dồi dào, sau đó sẽ chuyển niệm sang tu Phật, hành thiện.


.....

buomhoa:
 
Mãn nguyện cho ước vọng của người đời để trừ bỏ tham niệm
NGUỒN GỐC CỦA THẦN TÀI MẬT TÔNG
     Cầu  tài, cầu phúc là việc thường thấy trong xã hội con người, bởi vậy thần tài với tư cách là người quản lý tiền của tại nhân gian đương nhiên sẽ nhận được sự sùng bái tín phụng của người đời. Và như vậy, sự xuất hiện của thần tài Mật Tông chính là nhằm mãn nguyện những ước vọng của người đời về tiền tài và trí tuệ, giúp họ trừ bỏ tham niệm, biết cách bố trí, từ đó tin theo và tu hành Phật pháp. Về nguồn gốc của thần tài Tây Tạng, có giả thuyết cho rằng, đó là một trong những “phục tạng” của Phật Bồ Tát trong quá khứ.

BIỄN BIẾN CỦA MẬT TÔNG TÂY TẠNG
     Vào khoảng thế kỷ 5 sau Công Nguyên, Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng từ hai con đường là Trung Hoa và Ấn Độ. Vào năm 774, nhận lời mời của Tạng Vương Xích Tùng Đức Tán(Trisong Detsen) Đại sư Mật Tông Ấn Độ Liên Hoa Sinh(Padmasambhava) đã đến Tây Tạng truyền bá Phật pháp. Thế nhưng đến năm 837,xảy ra sự kiện Tạng Vương Lãng Đạt Ma(Lang Darma) diệt Phật, Phật giáo Tây Tạng gặp phải sự tàn phá nặng nề, khiến Hiển Tông  gần như tuyệt  diệt. Mật Tông vì theo cơ chế truyền bí mật vẫn còn có thể ngấm ngầm duy trì cho dến tận năm 978,  Phật giáo Tây Tạng mới được chấn hưng. Do Phật giáo Tây Tạng sùng chuộng Mật Tông, nên cũng được gọi là Mật Tông Tây Tạng hay gọi tắc là Tạng Mật.

NGUỒN GỐC CỦA THẦN TÀI MẬT TÔNG
     Khác với hệ thống thần tài Trung Hoa chủ yếu bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian, thần tài Mật Tông hầu hết đều là háo thân của chư Phật bồ Tát, nhằm đem lại tiền tài, phúc đức cho chúng sinh, khiến họ tiêu trừ tham niệm, sùng tín Phật pháp. Hệ thống thần tài Mật Tông có số lượng đông đảo, phần lớn trong số họ có nguồn gốc từ đạo Bà La Môn của Ấn Độ cổ đại,  đến Tây Tạng cùng với sự du nhập của Phật giáo. Một phần trong số đó chính là các thần linh của Bôn giáo bản địa.
    Các thần tài Mật Tông thường kiêm nhiệm nhiều chức trách, ngoài việc bảo vệ Phật giáo, còn chưởng quản, phù trì cho tất cả các sự nghiệp danh lợi của chúng sinh. Thần tài cùng thần hộ pháp, thần trí tuệ đều được thờ phụng rộng rãi trong cả giới xuất gia và tục gia. Tình hình rất hiếm gặp trong Phật giáo Trung Hoa.
    Dẫu rằng các chư Phật bồ Tát có được phúc đức vô lượng, là đối tượng cầu phúc của các tín đồ, nhưng xét về duyên khởi,có một số vị Phật, Bồ Tát sở hữu quá trình, pháp môn và quả đức tu chứng có mối nhân duyên đặc biệt có thể thành tựu được phúc đức và tiền tài. Khi được người tu hành và tín đồ cung phụng tế bái, nhũng nhân duyên công đức đặc biệt đó của các vị Phật, Bồ Tát này càng hiển hiện nổi bật hơn. Những vị Phật, Bồ Tát như vậy  vốn dĩ cũng xuất hiện trong Hiển Tông. Nhưng trong Mật Tông, do nhu cầu tu luyện, số lượng các vị Phật, Bồ Tát dạng này càng đông đảo hơn, và trở thành các vị bản tôn phúc đức rất được quần chúng ưa chuộng.

CÁC NHÓM THẦN TÀI MẬT TÔNG
     Nếu phân chia về mặt loại hình, thì thần tài Mật Tông có thể chia làm hai nhóm: các vị Phật,Bồ Tát có khả năng ban phát phúc lành, tiền tài, tức Bản tôn tài bảo, và các thần tài hộ pháp, hay con gọi là thần hộ pháp nhân gian. Theo quan điểm của Phật giáo, các vị thần tài hộ pháp thuộc hệ thống các thần thế tục, vì bản thân họ vẫn chưa siêu việt khỏi ba giới dục, sắc, vô sắc, nên vẫn thuộc về phạm trù “chúng sinh”. Phật giáo Đại Thừa thường coi họ là hóa thân của các vị Phật, Bồ tát để hóa độ chúng sinh, bởi vậy cũng sở hữu được bốn công đức tế độ là trừ tai, tăng ích kinh ái, giáng phúc, do đó, họ vẫn được tín đồ thờ phụng, tế bái.
     Những vị bản tôn tài bảo thường gặp trong Mật Tông Tây Tạng gồm có Phật Bảo Sinh(Ratnasambhava), Bồ Tát Hư Không Tạng(Akasagarbha), Lục Độ Mẫu(Drojang), Tài Bảo Thiên Mẫu(Vasudhara), Đại sư Liên Hoa Sinh: các vị thần tài hộ pháp thường gặp gồm Tài Bảo Thiên Vương(Vaisravana), Tứ Đại Thiên Vương, Hắc Đại Thiên(Mahakala), thần tài Đầu Voi(Ganapati), Cát Tường Thiên Mẫu(Palden Lhamo) và năm lộ thần tài.
     Ngoài ra, vị anh hùng cổ đại của dân tộc Tạng là vua Gesar cũng được gọi là một trong những đại hộ pháp, hóa thân của đại sư Liên Hoa Sinh nên cũng được thờ cúng rộng rãi như một bản tôn thần tài.

NGUỒN GỐC CỦA PHÁP MÔN THẦN TÀI MẬT TÔNG.
     Cầu cúng môn bái là phương thức thể hiện sự sùng kính của cả tín đồ thờ phụng thần tài Trung Hoa và thần tài Mật Tông, thế nhưng điểm đặc sắc trong việc thờ cúng thần tài Mật Tông là ở chổ tín đồ cần phải tu luyện pháp môn thần tài.
     Trong Mật Tông Tây Tạng, dù là bản tôn tài bảo hay là thần tài hộ pháp, đều đi kèm với các pháp môn tu luyện nhất định, được gọi chung là pháp môn thần tài. Chúng sinh có duyên tu luyện theo pháp môn này sẽ có được tiền tài, của cải, phúc đức của thế gian và xuất thế, chuẩn bị đủ điều kiện để tu hành.
     Về nguồn gốc của pháp môn thần tài, có thuyết cho rằng, đây là một loại phục tạng của chư Phật, Bồ Tát trong quá khứ. Phục tạng là một phương thức bảo tồn kinh điển, nhằm lưu lại chúng sinh đời sau những pháp môn tu luyện hữu ích. Các bậc thánh tăng xưa kia đem chôn giấu những pháp môn tu luyện phù hợp với chúng sinh trong tương lai tại những nơi ít người lui tới như hang núi, đá tảng hoặc thân cây, giao cho thần hộ pháp bảo quản, đồng thời chỉ định đợi đến thời Mạt pháp vài trăm năm sau sẽ có người tu hành đến lấy, khi đó sẽ giao phục tạng cho họ mang về truyền bá, làm lợi chúng sinh, tương truyền năm xưa, Bồ Tát Long Phụ(Nagarjuna) cùng đại sư Liên Hoa Sinh đều để lại phục tạng. Pháp môn thần tài chính là một trong những bộ phục tạng do chư Phật, Bồ tát để lại, đến thời Mạt pháp hiện nay mới được đưa ra truyền thụ. Trong đó Pháp môn của hai mươi mốt thần tài là thiên pháp, pháp môn năm lộ thần tài là pháp môn cơ sở chung, thích hợp với đại đa số người tu hành.
     Pháp môn thần tài cũng chính là một phương thức tu hành Phật pháp, bởi vậy khi tu luyện phép thần tài cần phải lưu ý rằng, trước hết cần phải quy y làm đệ tử Phật môn, tiếp nhận nghi lễ quán đỉnh của Thượng sư, được Thượng sư đích thân truyền thụ mật chú, khi đó việc tu luyện, tụng niệm mới đạt hiệu quả cao.
     Bản tôn tài bảo, thần hộ pháp cùng những pháp môn tu hành tương ứng về sau được tập hợp trong pháp môn tăng ích của Mật Tông Tây Tạng, trở thành một trong bốn pháp môn lớn của Tạng Mật.


Navigation

[0] Message Index

[#] Next page