Tháng Tư 14, 2021, 07:05:37 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: HỘI HÈ MIỀN BẮC  (Đọc 5363 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Chín 12, 2010, 02:40:50 AM »

HỘI CHEN NGA HOÀNG
(Toan Ánh, Trích Hội hè đình đám, Sài Gòn, 1974, quyển Hạ)

Làng Nga Hoàng, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, tục gọi là làng Ngà có tục Chen (...) Hội làng được tổ chức từ mồng 6 tới 15 tháng giêng (...) chia làm 4 giai đoạn.

Ðầu tiên, vào ngày mồng 6, tế lễ cử hành tại miếu làng (...) Giữa cuộc tế trai làng và cả các ông già nữa, chạy xô đến chen lấn các gái làng và các bà già, trẻ chen với trẻ, già dong với già. Xô chen nhau, rồi giằng co nhau. Nhiều chàng trai trong lúc chen lấn đã có những cử chỉ mạnh bạo khác như bóp nhũ hoa hoặc đưa tay sờ soạng cô gái. Cô gái chống cự chen lại, và cuộc chen lấn diễn ra hỗn độn một lúc, rất là phóng túng tự do và rất ngang nhiên không kiêng nể gì đạo đức.

Chen lấn xong (...) đám rước đi quanh làng được cử hành, bắt đầu từ miếu. Trong đám rước này, đến lượt con gái và cả bà già nữa tấn công lại chen lấn con trai và đàn ông, xô đẩy nhau cho đến khi đám rước kết thúc.

Ðám rước hết nhưng sự chen lấn chưa hết, có điều lúc này, trai gái trong làng không chen nhau, gái làng đi kiếm các chàng trai thiên hạ tới xem hội mà chen, thiếu những chàng trai thì họ tìm chen những đàn ông lớn tuổi và cả các ông lão. Chính kẻ viết những dòng này, cách đây hơn 30 năm đã từng bị chen đến nẩy lửa vào một ngày mồng 6 tháng giêng. Gặp khách xem hội là gái làng rủ nhau chen. Họ thả sức chen có khi xô cả khách xuống ao bùn, xuống ruộng, và khách muốn tránh khỏi bị chen phải leo lên cây hay đi tìm vào ẩn trong buồng kín của một nhà nào trong làng.

Một nhà nào trong làng hôm đó có khách đàn ông tới xem hội ư? Mà đã là ngày hội làng lại có tục kỳ khôi như tục chen ấy, mấy mà làng không có khách! Trong lúc chủ nhà đang tiếp khách, bỗng lừng lững từ ngoài cổng đi vào một đoàn độ bốn năm cô gái quê. Các cô xin phép chủ nhà:

“Thưa cụ, nhất niên nhất lệ, hôm nay chúng cháu được phép chen, xin cụ cho phép chúng cháu được chen với quý khách.”

Thế rồi không đợi chủ nhà trả lời, các cô vào trong nhà kéo khách ra, khách đang uống nước trên phản hay ngồi ở tràng kỷ, các cô cũng kéo xuống, rồi các cô xúm nhau vào, đưa vai mà chen khách, khách từ chối hoặc chủ nhà từ chối cũng không được! Lệ làng mà! Phép vua còn thua lệ làng nữa là chủ nhà với khách. Khách có sức, xin mời khách cứ chen lại, nhưng khách phải coi chừng vì các cô sẽ có viện binh! Các cô khác sẽ tới, sẽ ùa nhau vào chen khách, chen bằng cho khách ngã giúi ngã giụi. Khách cố lóp ngóp bò dậy, các cô lại xô nhau chen nữa, khách lại ngã (...)

Ngày mồng 6 qua, trong làng vẫn còn hội, nhưng chỉ để dân làng lễ bái.

Rồi tới ngày 11 tháng giêng, làng lại có tế lễ tại đình (...) Sau buổi tế (...) trai gái lại chen lấn nhau và tự do cùng nhau đùa nghịch ở ngay trong đình. Những cặp trai gái thích thú nhau, họ dắt nhau ra khỏi đình tìm những nơi thanh vắng trong làng để cùng nhau tình tự hoặc tính chuyện đỉnh Giáp non Vu.

Ngày rằm tháng giêng, làng lại làm lễ tại miếu trên núi (...) Giữa cuộc lễ nam nữ lại xô đẩy cùng nhau chen (...) Sau lễ là đám rước từ núi về đình và dọc đường nam nữ lại tự do chen lấn và đùa nghịch với nhau. Có những cặp chen nhau rời khỏi đám rước rồi ngã vào bụi cây đám cỏ ở ven đường chân núi...

Ngày hôm nay cũng như ngày mồng 6, gái làng lại có lệ tìm khách lạ tới làng để chen.

Sau hết, buổi tối hôm rằm này, ở đình có cử hành một lễ rất là trọng thể. Giữa cuộc lễ đèn đóm tắt hết, trai gái (...) được tự do chòng ghẹo hoặc làm gì nhau cũng được!

Ðèn tắt một lúc lâu lại được thắp lên, và cuộc lễ trọng thể được tiếp tục (...)

Trong kỳ hội hàng năm, trai gái đã có dịp đụng chạm và có cặp đã ân ái với nhau (...) Những cô gái thụ thai trong dịp hội làng, dù không chồng cũng không bị làng bắt vạ và cũng không bị coi là đĩ thõa (...) Những cặp trai gái thành hôn với nhau sau kỳ hội được làng bớt cho một nửa tiền cheo.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nhuocthuy, allfriend, Diệu 8, chanhnguyen, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, Duy Thuc, ngodao
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 16, 2010, 12:53:25 PM gửi bởi 8N » Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Chín 12, 2010, 02:48:14 AM »

   



Chen Nga Hoàng
   Len chèn nguyệt tận
   Phụt nửa đêm đèn nến lặn
   Ba hồi trống giãi dầm dề
   Lim dim bao dong ba nghìn mắt Phật
   Tóc tung tình bờ xôi ruộng mật
   Quanh co toả bốn hướng đình
   Từng ngôi sao mắt người lung linh
   Ai gọi... im lìm
   Í ới... sao chìm
   Đôi đôi ú tim... tìm
   Oà ập... cánh chim... e ấp
   Hỗn mang mê vô cùng
   Địa đàng say tới tấp
   Không giờ không
   Thăm thẳm nguyện cầu hơi em nồng
   Nhẩn nha thôi
   Ôi dùi nhẹ buông tênh... tang vờ câm
   Ai nện xin thương ngầm
   Gõ hờ đôi ba tiếng cuối buồn vang âm
   Vì tay ải tay ai
   Chưa nguôi tê mê thầm
   Chợt bừng nghìn cây nến đỏ
   Như sững sờ nghìn tội
   Biết lội về đâu
   Cho qua cơn thịnh nộ sầu
   Cụ Tiên chỉ già tuổi tình cạn kiệt
   Tóc héo bưng đầu
   Lùi lũi tiếc thời xa
   Khua gậy cùn rập mấy thời sau
   Tơ xanh ngây ngây đêm sông Cầu
   Em anh giờ lẩn trốn bụi bờ đâu
   Thì trói cả đôi
   Xin trói cả đời
   Cột lim ư gãy rồi
   Giường nhung ừ sóng đôi
   Sân đình
   Lại Thị Mầu í a tung tình
   Rung rinh
   Chờ


Huyền Cầm

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nhuocthuy, Diệu 8, chanhnguyen, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, Duy Thuc, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Chín 12, 2010, 02:53:58 AM »





HỘI CHEN
(Nguyễn Văn Chương)

Cất ở nhà cái máu ghen

Rủ nhau ta đến Hội chen Nga Hoàng

Đêm nay tháo khoán cả làng

Cái Nường cái Nõn rộn ràng xôn xao

Lư trầm, hương án thì cao

Nẻo tình thì thực khát khao thì gần

Tối như bưng cả mắt Thần

Còn ai bắc cái đồng cân làm gì!

Trống tùng, chiêng cũng bi ky

Cái bao lỏng trước yếm thì tuột sau

Tay dài, chân cũng rướn mau

Xổ đâu khăn lượt, rơi đâu mất hài

Chen nhau thích cánh nghiêng vai

Mặc ai hổn hển, mặc ai thì thào

Sáo làm sương - sướng làm sao

Hẳn rồi đồng trũng bãi cao được mùa

Hẳn rồi hồ lắm tôm cua

Hẳn rồi... đến Bụt trên chùa cũng say

Nhà gianh nhà ngói gì đây

Cả năm có một đêm nay... Tắt đèn!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nhuocthuy, chanhnguyen, byphuong, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Chín 16, 2010, 12:58:16 PM »


ĐỨC THÁNH TĂNG

Các hội hè bao giờ cũng mải mê cho những lứa tuổi đương độ. Hội Lim, các đám quan họ dưới ruộng, trên đồi, người đi xem người đông gấp bao nhiêu các quan họ liền anh liền chị đương lí nhí đứng hát. Lều hàng cơm rượu dựng san sát từ dưới đường lên lưng đồi. Ðầu năm, còn đương du xuân mà. Khói quạt chả chó đã thơm lựng. Hội chùa Thầy đầm ấm nhất vào ban đêm trên núi. Thôi thì, mặc sức. Ðàn ông đất Thày, đất Lim được tiếng có tính đáng quý, vợ đưa bạn trai gặp ngày hội về nhà vẫn được tiếp đón và khoản đãi vui vẻ.

Hội rước đức thánh Tăng cũng rất lạ và thú vị. Nhưng ít người biết, không nô nức bằng các hội kia.

Mặt trăng trắng bạch từ chập tối rằm tháng tám năm ấy. Ðất trời tự nhiên mát mẻ, trong óng. Tiếng trống sư tử tong tong đằng xa.

Bọn anh Lập vào rủ tôi.

-- Này, đi xem rước đức thánh Tăng.

Tôi vui chân theo các bạn. Chúng tôi cuốc bộ tắt đồng Cáo, rồi lên đê sông Cái. Không nhớ đấy vào quãng nào, vùng Dày Kẻ hay xa hơn nữa, chỉ thấy đê cao thăm thẳm. Ðã quá khuya rồi, trăng trong leo lẻo đỉnh đầu.

Bỗng nghe dưới kia tiếng cười nói lao xao, tiếng reo à à. Nhưng vẫn chỉ thấy ánh trăng chứa chan. Chúng tôi tạt vào cánh đồng. Rồi trông thấy trên các khoảng ruộng trống đông nghịt, càng đi càng chen chân, người đi dòng dòng về một phía đám rước.

Mà chẳng thấy cờ, long đình, kiệu đâu. Cũng không tiếng trống, tiếng nạo bạt, thanh la như mọi đám rước. Trong sáng trăng, cả một cánh đồng lầm lụi, kỳ quái, ai ai cũng hí hởn lạ thường. Toàn trai gái cứ xông vào nhau cật lực, như đánh vật, lại như đập lúa.

Vào tận nơi, cũng không có đèn đóm gì hết. Người ta xúm xít đẩy nhau khiêng cái kiệu gỗ. Cũng không phải kiệu. Chỉ là cỗ đòn tám vai. Mà cả chục, cả chục vai ghé vào huých nhau, va nhau, chen nhau huỳnh huỵch. Có những người không xô vào được, cứ đứng khuỳnh tay vòng ngoài làm như đương khiêng kiệu. Trên mặt đòn, nổi lù lù một pho tượng gỗ, tối trông đen thẫm, cao bằng đầu người.

Giữa đêm thu mát mẻ mà đám đông cứ tranh nhau, đùn nhau lên, người khiêng người. Mùi mồ hôi, hơi trầu cau, hơi người nồng nàn. Bọn con gái cũng gay go táo tợn chẳng kém con trai. Cái kiệu lùi lên lùi xuống, gầm gừ không dứt ra đi về phía nào. Suốt nửa đêm cái kiệu vẫn lắc lư vòng vèo loanh quanh một chỗ trong cánh đồng mỗi lúc một đông hơn.

Tiếng cười rú, tiếng hí, tiếng hú, tiếng rít rầm rầm.

Không phải hò hát. Không ra thế nào. Những tiếng hô, câu hò thật lạ tai.

Ðức thánh Tăng... Ðức thánh Tăng...
Ðứa nào không nhung nha nhung nhăng, đức thánh Tăng bóp vú mẹ nó.
Ðức thánh Tăng... Ðức thánh Tăng...

Xung quanh reo à à, ầm ầm. Lại gọi nữa, hò nữa, hí lên, réo nữa: "Ðức thánh Tăng... Ðứa nào không nhung nha nhung nhăng..." Ðám rước sôi sục, người quấn lấy người đi vần quanh cánh đồng. Ðến tảng sáng thì tan hết người.

Ít lâu sau có hôm, ban ngày tôi đi qua quãng ấy trên đê sông Hồng. Tôi tìm đến cái điếm mà người ta bảo thờ pho tượng đức thánh Tăng ở đấy. Pho tượng chỉ là một khúc gỗ nằm còng queo trên gác điếm. Khác nào cái bùa của thày phù thủy không phải lúc ốp đồng chẳng có vẻ thiêng liêng gì cả. Ở dưới, một bọn trẻ trâu đương đốt lửa nướng thịt chuột, khói um lên. Không thể nghĩ lại có đêm rước khúc gỗ này chơi bời tưng bừng nhung nhăng suốt đêm thế.

Người làng kể sự tích đức thánh Tăng: một năm nước to, ngoài xóm bãi vớt được khúc gỗ này. Ðưa tượng vào chùa, đức thánh không chịu. Ðể ngồi thẳng, hôm sau thấy kềnh ra. Ðặt bát hương, chân hương bốc cháy, bát vỡ. Ðến khi không biết làm thế nào, người ta cứ gác tượng nằm còng queo trên nóc điếm, thế thì lại yên.

Mỗi năm, đêm rằm tháng tám, làng nước đem đức thánh Tăng đi rước "nhung nha nhung nhăng" trên cánh đồng. Khi trời sáng, quang cảnh náo nhiệt suốt đêm biến mất.

TÔ HOÀI


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Diệu 8, admin, chanhnguyen, nhuocthuy, byphuong, Ngoisaobiec, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Chín 23, 2010, 01:55:19 AM »

Xưa có lễ hội là vì con người có đời sống tâm linh. Dần dần thần thánh theo nhau về chầu Trời, dần dần chỉ có vũ hội, nhạc hội, dạ hội...

Lễ mất hội còn là tất yếu lịch sử.

(Thu Tứ)


Lễ và Hội
Lược trích từ : Lê Văn Kỳ, “Cơ cấu và việc tổ chức lễ hội”, tức chương IV trong sách Lễ hội cổ truyền (Viện Văn hóa Dân gian, nhiều tác giả), nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, VN, 1992)




Khái niệm lễ mà chúng ta đang bàn đến ở đây không phải là chữ lễ của đạo Khổng.

Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thành hoàng nói riêng. Ðồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo.

(...) lễ là một hệ thống tĩnh có tính quy phạm nghiêm ngặt được cử hành tại chốn đình trung (...) hội là một sinh hoạt dân dã phóng khoáng diễn ra trên bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơi (...)

Hội là một hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng. Có thể kể các loại trò sau đây theo đặc trưng tương đối của nó:

- Trò chơi thượng võ, bao gồm: đấu vật, đua thuyền, đánh đu, tung cầu, hất phết, kéo co v.v.

- Trò chơi thi tài, bao gồm: thổi cơm, đồ xôi, làm bánh, dệt vải, bện thừng v.v.

- Trò chơi nghề nghiệp, bao gồm: trình nghề, cướp kén, săn cuốc, đánh cá, đốn củi, đốt pháo v.v.

- Trò chơi luyến ái, bao gồm: bắt chạch, múa mo, chen nhau, hát nõ nường v.v.

- Trò chơi giải trí, bao gồm: cờ người, tổ tôm, đáo cọc, đáo đĩa, thi thơ, ca hát v.v.

- Trò chơi chiến đấu, như: diễn trận, ném đá, múa cờ lau v.v.

- Trò chơi phong tục, như: ôm cột, chạy hồi loan, chém chữ v.v.

Trong thực tế, một trò chơi không thuần túy mang một ý nghĩa (...) có sự đan xen, thâm nhập khá phức tạp (của) nhiều ý nghĩa và chúng tùy theo hoàn cảnh, môi trường mà có thể xuất hiện hoặc không.

Hội là để vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái. Nó không bị ràng buộc bởi lễ nghi, tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác (...)

(...) tuy ồn ào, náo nhiệt, tuy giẫm đạp, chen chúc nhưng hội không hề hỗn độn, sa đà... Phải chăng vì trong hội có lễ (...)

(...) có sự kết hợp uyển chuyển giữa lễ và hội, giữa đóng và mở, giữa tĩnh và động để tạo nên một hệ thống hành động phức hợp nhưng vẫn hài hòa (...)

Bên linh thiêng / bên trần tục
Bên cung đình / bên dân dã
Bên thờ cúng / bên vui chơi
Bên thầm lặng / bên ồn ào
Bên chức sắc / bên dân thường
Bên già / bên trẻ
Bên nam thanh / bên nữ tú (và cả nam thanh nữa chứ! - TT)

(...)

Cũng cần phải nói thêm về quan hệ giữa lễ và hội (...) trong nhiều trường hợp (...) không đơn giản (...) Trong quá trình vận động, hai yếu tố lễ và hội đã thâm nhập vào nhau khá chặt chẽ, thiết tưởng rằng gọi là lễ cũng đúng mà gọi là hội thì cũng không sai. Có thể lấy đám rước làm ví dụ. Ở đấy phần nghi lễ rất nhiều mà phần tham gia biểu diễn của đám đông cũng không phải là ít. Rước bát kiệu trong hội đền Ðình Bảng (Tiên Sơn, Hà Bắc) là một đám rước khổng lồ, hoành tráng do dân hàng tổng tham gia. Có thể nói đó là một cuộc diễn hành để biểu dương sức mạnh cộng đồng (...) Nếu nhìn vào phía sau của đám rước ấy thì ai cũng có cảm tưởng là một ngày hội.

Rồi những lễ đặc biệt trong hội vật võ Liễu Ðôi (...) hội (...) nhưng nó lại là lễ với đầy đủ nghi thức và tính trang nghiêm (...) Như vậy (...) có lúc (...) ngay trong lễ đã có hội và ngay trong hội đã có lễ.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, nhuocthuy, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, Duy Thuc, chanhnguyen, Ngoisaobiec, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Chín 23, 2010, 06:09:18 AM »

Sau thời gian dài bị bài bác là tục tĩu, dâm dật, cần xóa bỏ, năm 2000, lễ hội Trò Trám được Nhà nước phục hồi với quy mô quốc gia. Năm 2010, miếu Trò long trọng đón bằng công nhận di tích cấp tỉnh.

Đêm tháng Giêng năm Canh Dần 2010, thời khắc 0h, đèn điện tắt phụp, ngót một nghìn người nín thở, chỉ một ngón nến le lói trong Miếu Trò...


Nõ Nường: Phồn thực và "linh tinh tình phộc"

Nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành công...

Vịnh miếu Trò

 

Xưa bà ẵm cháu, mẹ bồng con

Xem tích Trò Trám nay vẫn còn

Tiên tổ truyền kỳ di vật báu

Miếu Trò linh nghiệm dấu vàng son


Ai vãng Đền Hùng thăm đồ trận

Nhớ về miếu Trò nẻo sườn non

Nén hương vọng dâng vật kỳ tích

Ngàn thu đá tạc mãi trường tồn


“Trò Trám’’ là tên gọi của địa phương, giới nghiên cứu gọi lễ hội “phồn thực’’, còn chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’- tức lễ hội “vòng đời” -  là loại hình sinh hoạt cộng đồng cổ xưa nhất còn truyền kỳ lại đến ngày nay; nơi tập trung các hình thái hoạt động “ hèm tục’’ hàm chứa bản sắc văn hoá cộng đồng - rõ nét cá biệt của từng địa phương.

Đặc điểm của lễ hội “vòng đời’’- Trò Trám là “lễ mật’’, “tắt đèn” xướng diễn trò “linh tinh tình phộc” vào giờ “lành” nửa đêm (giờ tý). Hôm sau tiến hành lễ rước lúa “thần’’ và mở hội trình trò Tứ dân: “Sĩ, Nông, Công, Thương’’ để minh giải diễn trình tư tưởng của lễ hội trên các “kênh” khác nhau: phạm trù tâm linh và hiện thực. Ở đây, động thái “linh tinh tình phộc” và “chày cối” là hiện tượng “tục hèm” trừ đuổi tà ma triệt tiêu hiểm hoạ, cho vật thịnh dân an xóm làng trù phú “khuyển kệ minh kê”. Về tính hiện thực, động thái “linh tinh tình phộc’’ đó là phút “ khởi nguyên’’ sự sống cho một vòng đời, nên gọi là lễ “cầu đinh”.

1. Miếu trò xóm Trám
(Ngôi miếu thờ linh vật)  Một ngôi miếu cổ ẩn mình bên ngòi nước trong khu rừng Trám, ở đây (cứ 2 hoặc 4 năm 1 lần – năm chẵn ) vào đầu xuân, nhân dân mở lễ hội diễn nhiều tích trò, nên gọi là miếu Trò, còn vì miếu Trò nằm trong rừng Trám nên gọi là miếu Trò Trám (nay rừng Trám không còn). Và xóm ở cạnh cũng gọi xóm Trám, hay Phường Trám, tên chữ xóm Cổ Lãm, thuộc làng có tên tục là Kẻ Gáp, tên chữ là Thạch Cáp, nay là xã Tứ Xã (có 32 xóm trong đó xóm Trám và xóm Bùi có đầu tiên) nằm trong vùng di tích đồ đá cũ của người Việt cổ như Gò Mun, Đồng Đậu con ,v.v… ở huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Cách Đền Hùng khoảng 5km về phía đông nam và nằm bên bờ tả ngạn sông Thao, trước đây chưa có con đê thì Tứ Xã là vùng đồng trũng ngập nước, thỉnh thoảng nổi nên những đồi gò (chỗ ở của người Việt cổ), lúa chỉ làm một vụ, quanh năm sinh sống bằng nghề vó bè, cá mú nên chuyện tát hôi hay được nhắc đến trong hát Trò Trám:
Không đâu vui bằng phường ta

Đàn ông đi tát đàn bà đi hôiTứ Xã xưa là vùng quê nghèo, nhưng có truyền thống hiếu học, có người đỗ đạt cao như Nguyễn Quang Thành - đỗ tiến sĩ lúc 24 tuổi (1680 đời vua Lê Hy Tông ) làm quan đến chức Thiểm đô ngự sử, hoặc quan võ Chử Đức Cương trấn ải biên thuỳ - được phong tứơc Quận công và còn có nhiều ông Cử, ông Cống khác như Nhất nguyên Nguyễn Tất An người soạn bài Văn tế miếu Trò... Ngoài ra còn có Chánh tổng Nguyễn Quang Hoà (cháu chắt của quan Nghè Nguyễn QuanThành) biệt danh “Tổng Cóc’’ một văn nhân hào hoa, giàu có trong “tình sử’’ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, con gái cụ Đồ Nghệ theo cha ra dậy học ở vùng đó. Phải chăng nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhờ gắn bó với lời ca Nõ Nường của lễ hội Trò Trám, nên mới có được những bài thơ kiệt tác để lại cho đời.
 

Nói điều này, để thấy lễ hội Trò Trám là sản phẩm “lấp lánh’’ nền học vấn uyên thâm kia: “địa linh, nhân kiệt". Ngày nay Tứ Xã là nơi giàu có phù trú - có chợ trung tâm của cả vùng: đường lớn, ôtô khách ghé Đền Hùng xuôi Việt Trì, về Hà Nội.


Hiện tại Sở văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đang tiến hành lập hồ sơ đưa Tứ Xã vào danh mục Cụm du lịch gồm ba điểm: Lễ hội Trò Trám, Di chỉ khảo cổ Gò Mun và nhà tưởng niệm Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc, với tình sử lãng mạn đầy chất thơ, lung linh huyền ảo.

Lễ mật giờ lành

Miếu Trò thờ vật linh - sinh thực, tên tục gọi là bà “ Đụ Đị’’ (Dụ Dị) tên nôm Nõ Nường (hình 2) làm vật “hèm’’ để trừ tà, đuổi ma, triệt tiêu hiểm họa tai ương, cầu yên cầu phúc, cầu lộc cầu tài. Văn tế của miếu có đoạn viết:

Cảm tất thông

Cầu tất ứng

Bảo vật hộ dân

ức niên trường tại

Vạn cổ như tân


Bài Văn tế có 21 câu, nội dung ngợi ca vật “hèm’’ Nõ Nường: Anh linh tuấn kiệt, Băng sương cốt cách, Kim ngọc tinh thần ...

Tiến trình của lễ:
Lễ mật tắt đèn, xướng diễn trò “linh tinh tình phộc’’


Đặc điểm của lễ: Trò -vè - hí tiếu - trêu - ghẹo - múa vui
.

Nghĩa là toàn bộ trò diễn ở đây đều phải tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “ linh tinh tình phộc’’ - tức là “Đụ Đị’’. “Đụ Đị’’ là ngôn từ thuộc tầng ngôn ngữ cổ, ngữ nghĩa của nó hiện nay ở miền Trung đang còn hiểu: “Đụ’’ vừa là hành động, vừa là hình vật - cái Nõ, còn “đị’’ là hình ba góc - cái Nường.

Dân ca Miền Nam có câu:

Bông xanh bông trắng

Rồi lại vàng bông

Ơ “Nường’’ ơi !


Chữ “Nường’’ ở đây là tên gọi theo đặc điểm của giới tính cái (Nõ Nường), do đó giới nghiên cứu gọi lễ hội này là lễ hội “Phồn thực’’- nghĩa hẹp, chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’( vòng đời) - nghĩa rộng - Nõ Nường là biểu tượng CON NGƯỜI.

Lễ hội kéo dài một đêm và một ngày: bắt đầu vào tối ngày 11 và kết thúc vào chiều ngày 12 tháng giêng âm lịch. Các trò diễn ra trong lễ ngoài hội, theo tuần tự. Đầu hôm ngày 11 gọi là cáo tế, dâng sớ.

Sau lễ cáo tế dâng sớ có lễ hát cúng đệm “đàn giằng xay’’ do cụ Từ thể hiện, đồng thời có lễ chầu chực .

Lễ chầu chực là ngồi ngóng đợi giờ lành gồm các bô lão và do chức sắc phân làm hai nhóm: nhóm chức sắc cao thì ngồi cùng cụ Từ hát thờ ở miếu, nhóm chức sắc thấp thì ngồi ở điếm Trám - cách miếu trò khoảng 200m (có cả đôi trò đã hoá trang , đến giờ thì một bô lão dẫn vào miếu ). Nghe tiếng gà gáy là nửa đêm, đến giờ lành (giờ tý) bước vào giờ chính lễ “Lễ mật’’.

Trước linh vị thần miếu - thần Nõ Nường, “ đôi trò’’ nam thanh, nữ tú đứng sau chủ tế, hướng mặt vào nhau, sẵn sàng đợi lệnh diễn trò. Chủ tế, sau khi khấn xong lời thần chú - cầu xin, gieo quẻ âm dương và lạy xong ba lạy thì bước lên cạnh bàn thờ, mở hòm lấy vật “hèm’’ (ngày trước vật hèm là cái mo nang và dùi gỗ vông, xong việc thì thả xuống hồ ngâm lấy nước tưới ruộng, để diệt trừ sâu rầy cho mùa màng cây trái xum xuê (thời chưa có thuốc trừ sâu); nay làm bằng gỗ, sơn đỏ, xong việc là cất vào hòm đặt trong tủ, để trên gác xép sau bàn thờ, còn gọi là bàn thờ thượng, có cầu thang, đến giờ chủ tế lên bê xuống lấy Nõ trao cho nam, lấy Nường trao cho nữ, rồi bước ngang sang phải (bàn thờ) ba bước, quay lại, chếch hướng về đôi trò, miệng hô: “linh tinh tình phộc’’ đồng thời hai tay khoát lên tạo thanh hình chữ “V’’ trước trán - đèn tắt, tuần tự hô ba lần.

Theo lệnh tuần tự của mỗi lần hô, đôi trò vừa múa (đứng tại chỗ, hai tay cầm vật “hèm’’ đưa sang đưa về) miệng hát:

Bên kia có nứng cùng chăng.

Bên này lủng lẳng như giằng cối xay

Hát xong hai câu này thì nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành công. Sau đó chủ tế dẫn đầu “đám trò’’ chạy quanh miếu ba vòng theo ngược chiều kim đồng hồ, theo sau là dân làng: vừa chạy vừa la hét và gõ dùi vào mẹt để đuổi ma quỷ trừ hiểm họa cả năm cho dân làng, cùng mùa màng cây trái và gia súc...

Khi nghe hiệu chiêng trống “dập’’ và tiếng la hét ở ngoài miếu thì số người ở nhà trong phường cũng đồng loạt “gõ’’ dùi vào mẹt hoặc dùng chày “giã’’ vào cối và la hét theo để đuổi ma quỷ. Sau đó những đôi vợ chồng cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ và những đôi nam nữ cùng dân làng đang ở quanh rừng Trám ngoài miếu, cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ bổ sung “bồi’’ thêm, và ngày mai trong hội hát trình nghề Tứ dân chi nghiệp, cái nọ “phộc’’ vào cái kia và lời ca ẩn ngữ Nõ Nường lại “bồi’’ thêm lần nữa “quá tam ba bận’’. Tức là “tôi luyện’’ cho vật “hèm’’ đầy đủ linh nghiệm, thần hộ mệnh của toàn phường.

Tình phộc ngoài rừng Trám

Theo phong tục ngoài rừng trám các đôi trai gái và dân làng, cũng thực hiện lễ thức “ tình phộc’’ và nữ phải giữ một vật của nam để làm tin như khăn đội đầu.

Cô nào có chửa trong dịp đó là lễ “hèm’’ của làng thành công, đem lại điều may mắn cả năm cho gia đình và toàn phường. Phường sẽ đứng ra lo liệu tổ chức lễ cưới cho họ và không phải nộp khoản tiền “cheo’’. Đứa con sinh ra trong dịp “lễ mật’’ này là của quí, vật cưng của gia đình và toàn phường. Ngoài ra, cô gái có chửa ấy, nếu từ chối lấy anh gặp tối qua, mà muốn lấy một anh khác thì dân làng cũng vận động người con trai đó và anh ta cũng rất vui vẻ tự nguyện. Đồng thời những bà mà có chửa trong đêm đó thì gia đình càng phấn khởi với câu châm ngôn: Cá ao ai về ao ta, ta được.

 Lời ca ẩn ngữ Nõ Nường

Lễ hội Trò Trám là “Lễ hội Nõ Nường’’ do đó toàn bộ tích trò diễn ra ở đây đều tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “linh tinh tình phộc’’. Vì thế, nếu lễ hội tại miếu thờ cụ Tổ nghề mộc, thì việc cưa, đục, đó là công việc của nghề thợ mộc. Trái lại, ở lễ hội Nõ Nường thì cái cưa “xẻ’’ gỗ, cái đục “ đục’’ gỗ là tượng trưng cho Nõ “ phộc’’ vào Nường; hoặc Sĩ chiếc bút “quyệt’’ vào nghiên mực, Nông cái cày “cắm’’ xuống đất, cần câu lưỡi “móc’’ vào mồm cá... và lời ca của nhóm “tứ dân chi nghiệp’’ (Sĩ, Nông, Công, Thương) cũng đều ám chỉ việc Nõ “ phộc’’ vào Nường. Lời ca có trên 350 câu thơ Lục bát không kể lời ứng tác tức thì. Xin trích lời ca của một số vai diễn sau đây:

Lời ca của cây đàn “Giằng xay’’. Đàn “Giằng xay’’ biểu tượng Nõ Nường, nhân vật trung tâm, giữ vai trò lĩnh xướng trong các vai diễn ở đây.

Đàn ông tậu ruộng ba bờ

Chớ để kẻ khác mang lờ đến đơm


Ruộng ba bờ là hình ba góc - cái “Nường’’ và “Lờ’’ là cái Nõ

Hoặc lời ca của người thợ cày:

Nhà ta vui cấy, vui cầy

Làm ăn vất vả tối ngày không thôi

Mong sao như đũa có đôi

Tháng năm năm việc, tháng mười mười công

Ý phiếm chỉ ở đây là chữ “cấy” và chữ “cày” khi hát được nhấn mạnh.

Hoặc lời ca của người thợ cấy:

Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy lấy ông chủ nhà

Đi cấy thì gốc chổng lên

Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng


Trong đoạn hát của người thợ cấy có những từ “gốc” và “ngọn” đều là ẩn ngữ, phiếm chỉ về sự hoạt động của Nõ Nường: ngọn cỏ “cắm xuống” mới nên mùa màng, hoặc “lấy ông chủ nhà” là chồng mình - nghĩa là chị ta đi cấy ruộng nhà. Nếu rạch ròi ra thì cả đoạn này đều mang tính ẩn ngữ. Hoặc lời ca của cô mua bán “xuân”:

Còn xuân thì mua xuân đi,

Nay lần mai lữa còn gì là xuân


“Bán” và “mua” đều ở một chữ “xuân”.

Hoặc lời ca của anh đi câu:

Cành câu trúc anh đúc lưỡi câu vàng

Anh tra mồi nguộc anh sang câu hồ

Người ta câu diếc câu rô

Anh đây câu lấy một cô không chồng

Có chồng thì nhả mồi ra

Không chồng thì cắn, thì nuốt, thì tha lấy mồi


Hoặc lời hát của anh cung bông:

Mặc ai căng lưới ngọn bè

Anh người phường Trám làm nghề cung bông

Cô nào bông cán đã xong

Muốn đi kịp chợ đón cung anh vào


Lời của chị kéo sợi:

Xin đừng quản thấp lo cao

Bông em đã nỏ anh vào mà cung

Sợi lôi ra bằng cổ chày

Phường chài đón hỏi mua dây kéo thuyền.


Trong đoạn này, chữ “cung anh” và “bông em” hoặc sợi bằng “cổ chày”... đều là ẩn ngữ.

Hoặc lời ca của anh thợ xẻ:

Người ta xẻ gỗ trên ngàn

Anh đây cưa lấy một nàng đương tơ

Em tài bắt chệch sớm trưa

Anh thì giỏi xẻ khéo cưa cùng phường


Ở đây các chữ “cưa”, “xẻ”, “bắt chệch” đều là ẩn ngữ.

Hoặc lời ca của thầy đồ và học trò:

Học trò đi học sách kinh

Tay cầm quản bút “quyệt” tình nghiên đây

Học trò đi học chữ thầy

Học nhồi học nhét bụng đầy văn chương.


Lễ hội Nõ Nường là lễ hội ngợi ca về sự cường tráng và hoạt động “linh tinh tình phộc” của Nõ Nường “vật hèm”: Nõ to và dài như “giằng cối xay” còn Nường thì rộng và sâu như “cối xay lúa’’đó là biểu tượng. Ở đây không còn quan niệm “dâm” và “tục” nữa.

Lời ca của nhóm hề pha trò:

- Gặp đây anh mới hỏi nàng

Cái gì lủng lẳng một gang trong quần


- Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng

Cái đeo lủng lẳng là “giằng cối xay”.


- Ước gì em hoá ra trâu

Anh hoá ra chạc xỏ nhau cả ngày.


- Ước gì em hoá lưỡi cày

Anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ


- Bà già như ruộng đỉnh gò
Đang hạng con gái như kho ruộng mềm.


Lễ hội Nõ Nường Trò Trám thuộc dòng lễ hội tục hèm, mang đậm đà bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Nó được ra đời rất sớm, từ thời dân tộc ta mới hình thành tư tưởng. Đến thời đại văn minh Đông Sơn, dòng lễ hội vòng đời này được hoàn thiện về ý nghiã và nghệ thuật, được ghi lại thành hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và lan toả, truyền kỳ trong văn hoá đân tộc. Ngày nay việc tìm hiểu và bảo tồn dòng lễ hội này đó là điều cần thiết trong hội nhập quốc tế của đất nước ta.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ynguoiloitoi, nhuocthuy, chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, anhlam, Yahoo, Duy Thuc, chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Chín 25, 2010, 11:19:01 PM »

Khát vọng sinh sôi trong trò bắt chạch trong chum

Bắt chạch trong chum thường tổ chức trong hội làng ở nhiều địa phương tại đồng bằng Bắc Bộ xưa. Đây là một tục cổ sôi nổi, vui vẻ và chứa đựng cả triết lý, quan niệm về sự hòa hợp âm dương trong đời sống của cư dân nông nghiệp.
Theo quan niệm của cư dân các nước nông nghiệp, để duy trì sự sống cần mùa màng tươi tốt; để phát triển sự sống, con người cần sinh sôi. Chính từ đó đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực với những biểu hiện đa dạng như: thờ cúng, trò chơi như múa tùng dí, cướp cầu, ném còn… trong đó có trò bắt chạch trong chum.

Bắt chạch trong chum được Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam (NXB Thế giới, 2003), giới thiệu là một tục thi vui, mang tính phồn thực giữa trai gái trong hội làng. Để tham gia, mỗi cặp nam nữ đứng bên chum đựng nước, thò một tay vào trong để bắt, tay còn lại choàng vai, ôm lưng người cùng chơi đến khi nào bắt được chạch mới buông nhau ra.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Khánh,  cho biết: “Tục bắt chạch trong chum có trong lễ hội ở nhiều tỉnh thành miền Bắc như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Nội... Tuy cùng ý nghĩa gắn bó nam nữ, mang đậm tính phồn thực nhưng thời gian diễn ra, cách tổ chức có những điểm khác nhau”.

Tại hội làng Hồ Khẩu (thuộc phường Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội) bắt chạch trong chum được thực hiện vào ngày chính hội 13/2 âm lịch. Ở sân đình, đứng trước mỗi chum nước là một cô gái trẻ, khi có tiếng trống lệnh, những chàng trai dự thi phải chạy ngay đến, một tay thò vào chum bắt chạch còn tay kia nắm lấy cổ tay cô gái giữ lại không cho chạy. Sau hồi trống giục, người nào bắt được cả ba con, quăng ra sân sẽ được thưởng.

Vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, làng Văn Trưng (huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) lại mở hội, trong các tiết mục, hào hứng nhất vẫn là cuộc thi bắt chạch trong chum. Điểm thú vị là các đôi trai gái phải vừa ôm nhau vừa bắt. Trong khi chơi, cô gái dùng tay phải ôm ngang lưng bạn trai, tay trái khoắng vào chum nước. Người con trai, tay phải thò vào chum, tay trái khoác ngang qua người cô gái nắm lấy nhũ hoa của cô. Cứ như vậy, hai người vừa ôm nhau vừa bắt chạch cho đến khi được mới thôi. 

Còn ở trong hội làng Bạch Trữ (xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, Hà Nội)  mở vào ngày 15/8 âm lịch, trò này được tổ chức tại sân đình nhưng chỉ có một chum nước. Từng đôi trai gái lần lượt theo thứ tự quàng vai tiến lên đứng đối diện qua miệng chum, tay phải nắm chéo nhau giơ cao, còn tay trái thò vào chum bắt chạch. Chỉ khi nào tay hai người cùng nắm vào một con đưa ra khỏi chum mới được coi là thắng cuộc.

Theo Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Khánh, trò bắt chạch trong chum nhằm thể hiện sự nhanh nhẹn, thông minh, tài trí của người lao động nông nghiệp. Đặc biệt, cuộc thi dành cho những đôi trai gái đã sẵn có tình ý nhưng cũng có khi đóng vai trò "tác hợp" cho những người chưa quen biết. "Đây là một trò hội dân gian về tình yêu đôi lứa, tạo dựng hạnh phúc gia đình, sinh con đẻ cái”, ông Khánh khẳng định.

Cùng quan điểm với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Vũ Ngọc Khánh, nguyên Trưởng phòng nghiên cứu lễ hội - Viện nghiên cứu văn hoá, cho rằng, có rất nhiều ý nghĩa được gửi gắm qua trò chơi bắt chạch trong chum: “Sự linh hoạt thể hiện qua việc sắp xếp, có thể là chum hoặc vại sành số lượng khoảng 1- 3 - 5 chiếc và thả bên trong chạch hoặc lươn nhưng luôn phải là số lẻ, từ 1 đến 3 con. Theo quan niệm truyền thống, số lẻ là số dương, biểu tượng cho sự sống, còn người thi phải có cả nam và nữ thể hiện cho âm dương hòa hợp, hàm chứa những niềm ước mơ đẹp đẽ về sự sinh tồn nảy nở”.
Khi tham gia cuộc thi, trai gái có cơ hội tiếp xúc với nhau qua hành động ôm, khoác vai, nắm tay, sờ ngực… Cũng như nhiều trò chơi dân gian khác, bắt chạch trong chum thường có trong các hội làng vào mùa xuân, mùa sinh sôi của vạn vật. Người Việt quan niệm "vạn vật hữu linh", tức là mọi vật đều có linh hồn, trong đó con người là chủ đạo có sự giao hòa với thiên nhiên, vạn vật. “Trò chơi này là một hình thức cầu đinh, một lễ tục mang khát vọng con đàn cháu đống cho thấy ý nghĩa cộng đồng sâu sắc, muốn vậy phải có âm dương, nam nữ phối hợp. Đồng thời nhờ đó mà truyền sức sống đến cây trồng, vật nuôi giúp sinh sôi phát triển”, ông Vũ nói.
 

Cũng theo ông Vũ, để tạo tính thiêng liêng, linh ứng, trò chơi bắt chạch trong chum luôn diễn ra trước sân đình, trai gái tham gia phải chưa vợ chưa chồng, thuộc gia đình nề nếp, có đạo đức, cha mẹ vẹn toàn. Khi trò chơi được thực hiện, cửa đình, đền hoặc điện thờ phải mở để bài vị, ban thờ nhìn ra sân với hàm ý để thần, thánh, thành hoàng chứng giám việc cầu sự sinh sôi, tình yêu đôi lứa nhờ thế mới thiêng.

Một điều quan trọng nữa, việc thi tài không quá chú trọng đến việc giành giải, mục đích chính là để được  giao duyên, tăng cường tình đoàn kết, gắn bó cộng đồng.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội và quá trình giao lưu văn hóa, nhiều phong tục đã bị mai một, thay thế. “Trò bắt chạch trong chum hiện không phổ biến như trước nhưng thay vào đó có trò chơi tương tự là bắt cá trong lu. Tuy ý nghĩa trong đó không còn nhiều mà nặng về tính giải trí nhưng dù sao nó vẫn giữ được cái chính mà người ta quan tâm, đó là tạo cơ hội để thể hiện tình cảm với nhau...”, ông Vũ nói.

baodatviet.vn

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, dailuc, tadamina, SCC, Duy Thuc, nhuocthuy, anhlam, Yahoo, chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười 03, 2010, 07:50:49 AM »

Đi Hội Chợ Viềng - Chợ Giềng


Cứ đến độ xuân về, du khách các nơi lại nườm nượp đổ về trẩy hội Phủ Giày (ngày mồng 8 tháng Giêng), một trong những phủ thờ bà Chúa Liễu Hạnh trong ''tứ bất tử'' ở VN. �i Hội Phủ Giầy, ghé qua hội chợ Viềng. �ó là hội chợ cũng ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (Nam Định) - nơi người xưa đã gọi là "địa linh, nhân kiệt". Sự độc đáo của chợ Viềng là mỗi năm họp chỉ có một phiên.

Chợ Viềng xưa và nay

Chợ Viềng họp cả ngày vào mùng 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhưng người ở xa thường về từ sớm, rậm rịch họp chợ từ 11, 12 giờ đêm hôm trước, cho đến sáng và hết cả ngày hôm sau. Khách đến từ khắp nơi, trong Nam ngoài Bắc, đông nhất vẫn là người nội tỉnh và kế đến là khách các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá đổ ra.

Ngày trước, khi chưa có điện, người bán hàng thắp một ngọn đèn dầu tù mù. Những món đồ cũ được bán chủ yếu là để cầu may chứ không để thu lợi như bây giờ. Ở đây người mua hoàn toàn tin tưởng vào người bán và qua chợ Viềng, con người càng thêm gắn bó với nhau.

Chợ Viềng bây giờ đã thay đổi rất nhiều cả ý nghĩa lẫn các loại hàng hoá. Rất ít những người bán đồ cũ, đồ cổ thực sự, phần lớn là những mẹt hàng sành sứ, đồng thau giả cổ bày bán ở những chỗ càng tối càng tốt....khiến nhiều người mua nhầm hàng hỏng.

Tiếng là "hội chợ" nhưng chợ Viềng không bán mua những sản phẩm ngoại lai cao cấp, hào nhoáng đắt tiền như ở các hội chợ tỉnh, thành phố lớn. Sản phẩm được đem ra mua bán ở đây chủ yếu là các cây trồng, vật nuôi: từ cây trồng để lấy gỗ, cây hoa cây cảnh, các loại cây ăn quả, thậm chí cả cây cà, cây chanh, cây ớt. Và sau nữa là đến các vật dụng sản xuất nhỏ của nhà nông. Người ta có thể tìm mua ở đây từ cái cày cái cuốc, đến các vận dụng nhỏ như đôi quang thúng, cái đòn gánh cùng trăm ngàn thứ vật dụng linh tinh khác.

Ngoài ra còn có thứ thực phẩm được người bán kẻ mua rất tưng bừng náo nhiệt. �ó là thịt bê được thui vàng ươm nguyên cả con, bán rất nhiều dọc các ngả đường đi vào chợ. Có thể nói không ngoa rằng "Trên là trời, dưới là thịt bò bê". Khách mua ai thích phần nào có thể tuỳ chọn, mà giá lại rất phải chăng, hợp với túi tiền của "người nhà quê".

Mua, bán... cầu may

Nhiều năm nay, người dân quanh vùng vẫn đổ đến chợ Viềng. Họ đi cả gia đình, cùng nhau ngắm nghía hay trả giá mua một món đồ sứ... mới toanh nào đó. Quanh năm, họ sống trong một cuộc sống yên ả, nề nếp, đúng giờ giấc. Đến đêm chợ Viềng, nhịp sống của họ thay đổi hoàn toàn. Họ thức suốt đêm, đi ra khỏi nhà và hoà mình vào dòng người nửa quen nửa lạ. Đối với những người dân đơn sơ như vậy, chợ Viềng của họ vẫn còn mãi. Và chính họ mới là những người khách đích thực của chợ Viềng hàng năm.

Ở chợ phiên này có tục người bán không hề nói thách và người mua cũng không hề mặc cả - một nét đẹp đáng yêu chỉ phiên chợ này mới có. Hình như sự bán mua ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó - rằng người ta chỉ cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp nhiều may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về. Chính vì vậy hội chợ Viềng ngày xưa còn có tên gọi là chợ Cầu May.

Khách thập phương về hội chợ phần lớn là do nghe danh tiếng của chợ Viềng mà về, nhưng phần đông vẫn là những người có gốc gác hoặc quê quán ở tỉnh Nam đi làm ăn xa nay nhớ đất Tổ, đất quê tìm về. Nên dù có xa mấy, tận bên kia Đại Dương, tận Sài Gòn lục tỉnh... cũng nhớ ngày về để dự hội.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, chanhnguyen, nhuocthuy, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười 03, 2010, 07:53:22 AM »

Xem bài ký sau đây, mới biết chợ Viềng có người đọc là chợ Giềng.

Nguyễn Quốc Văn nhận xét chợ Giềng “nghiêng về hội hơn là chợ”. Nghiêng hẳn đi chứ, vì chợ đâu có thứ chợ hàng hóa bày ra không phải để bán mà để “lấy hơi người”! Có người bán không thật bán, có người mua không thật mua, ghé trả một tiếng chẳng qua như hà giúp một hơi! Bán là cầu may, mua là chúc may...


Chợ Giềng
Nguyễn Quốc Văn
(Trích từ Phiên chợ - Đời người)


Sau Tết, nhằm chiều mồng bảy, tôi vừa giong trâu từ ngoài đồng về tới lối rẽ về nhà đã thấy bố tôi đứng đợi sẵn ở bến nước ven sông. Bên cạnh người, cái cày và cái bừa vừa được đánh sáng loáng, xếp cạnh nhau trên một vạt cỏ xanh.

Vẫy tay ra ý bảo tôi họ trâu lại, người khẽ nói: “Con lấy bòng bong tắm cho trâu. Nhớ kì cọ thật sạch sẽ. Mai bố con ta dắt nó đi chợ Giềng chơi một buổi!” Thấy tôi ớ người ra, bố tôi cười: “Cho nó lấy may ấy mà! Nó vất vả cả năm, hưởng một ngày vui, cũng là xứng đáng thôi!”

Dặn tôi xong, bố tôi - vai vác cày, vai khoác bừa - chậm rãi đi về nhà. Bóng người cong cong lẫn vào bóng tre nghiêng trong chiều mờ mờ mưa bụi bay.

Nước sông quê đầu xuân âm ấm. Con trâu như cảm nhận được điều đó, vui vẻ lội tòm xuống bến. Vừa kì lưng cho trâu, tôi vừa nựng nó: “Sướng nhé! Mai được đi chợ Tết. Rồi thế nào mày cũng được bố tao thưởng cho một cái bánh chưng rõ to. Cứ gọi là nhất mày đấy!”

Suốt đêm mồng bảy, mặc dù đã được tôi lót ổ nằm cho ấm, con vật chốc chốc lại đứng dậy, gõ sừng, khua gióng cồng cộc. Hình như nó cũng mong trời chóng sáng tựa tôi vậy. Ờ, một năm mới có một lần, ai mà chẳng mong, chẳng đợi?

Vào khoảng canh tư, một bàn tay ấm nóng vỗ vỗ nhẹ vào mông tôi. Tôi thức cùng tiếng bố gọi khẽ: “Dậy thôi con! Cơm nước xong, ta phải đi ngay mới kịp chợ!”

U tôi đã dậy từ lúc nào không rõ, cơm đã nấu xong, bát đũa đã sắp sẵn trên chiếc mâm đồng gia bảo qúy...

Ngoài chái nhà, hai chồng rổ rá bố tôi đan suốt trong tháng Chạp mới được đem xuống từ gác bếp, xếp bên cạnh cái bừa của bố tôi.

Từ bên kia giậu, bà tôi đã gọi với sang: “Nhà Mão cơm nước xong chưa thì đi rỗi, kẻo chẳng còn chỗ mà bày hàng đâu”. Bố tôi vội đặt bát cơm xuống mâm, nói to: “Xong rồi u ạ. U chờ nhà con đi một thể cho vui.” Bà tôi giục: “Dưng mà nhanh nhanh lên nhá! Lâu quá, tôi chả đợi đâu đấy!"

Một lát sau, cả nhà tôi đã hòa vào dòng người đi chợ. Bà tôi đi trước, áo lương màu nâu, thắt lưng màu tím, thúng đội trên đầu, hai tay vung vẩy giống như đang múa. Tôi biết trong cái thúng bà đang đội chỉ có vài bơ gạo nếp cái hoa vàng, mấy bó rau muống cằn bà mới hái ngoài vườn chiều hôm qua. Tôi chỉ lấy làm lạ là:Từ hôm mồng ba Tết, bà đã đi tới ba bốn phiên chợ quanh vùng như chợ Thượng, chợ Yên, chợ Cổ Gia, chợ Chùa mà chẳng bán được lấy một bơ gạo nào cho gọi là có duyên bán, có duyên buôn... Vậy mà bà vui lắm! Đội gạo về đến nhà, bà gọi ngay anh em tôi sang, cho mỗi đứa một cái bánh đa vừng. Rồi cứ chép miệng chèm chẹp: “Năm nay được mùa, chợ chẳng có ai mua gạo nếp nấu cháo...”

U tôi quảy hai chồng rổ rá, gánh nhẹ tênh tênh mà cái đòn tre bánh tẻ cũng cứ nhún lên nhún xuống, trông thật vui mắt. Bố tôi đi bên cạnh u, vai trái khoác bừa, nách phải cắp chiếc mâm đồng. U tôi nói với bà rằng: trông bố tôi giống cái hôm ra ở riêng ngày xưa quá. Ngày xưa tôi không biết thế nào, chứ hôm nay thì vẻ mặt bố tôi tươi roi rói...

Tôi cưỡi trên lưng trâu, thỏa mắt nhìn dòng người nườm nượp, áo quần đủ mọi màu sắc. Kia, một đôi vợ chồng trẻ, chồng áo nâu sồng, vợ quần lĩnh, áo phin nõn, chồng bặm môi kéo cái xe bò chất đầy vôi cục, vợ vịn hờ vào thành xe, miệng cứ giục chồng đi nhanh nhanh hơn nữa kẻo mà chợ trưa. Và đây nữa, một ông lão buông quần lá tọa, vai vác một bó giấy hồng, bên hông lủng lẳng cái tráp khảm trai. Ông đồ đấy ! Trong cái tráp kia, mực tàu, bút lông đủ để viết một trăm câu đối, bài thơ...

Chợ Giềng năm nay đông quá! Nhiều người sợ phải chen chúc, ngả hàng ngay ở quán Giáp Nhất bán. Người mang hàng nhẹ, thế nào cũng cố len vào được chợ Chùa mới chịu...

Bà tôi rỉ thầm vào tai bố và u tôi. Cả nhà cố đến được quán Đôi thì rẽ phải, theo đường bờ ruộng sang Giáp Ba, Giáp Tư, rồi đi vòng ra sau làng Vân Tràng mà đến chợ Giềng.

Chợ Giềng được mở trên một khu đất trống, ngay bên cạnh bãi tha ma ở phía tây tỉnh lộ số năm mươi lăm, cách thành phố Nam Định chín cây số. Cách đó hai cây số về phía bắc là chợ Xám. Chợ Chùa, chợ Rin ở phía nam, cách cái chợ độc đáo này trên dưới một cây. Các chợ quanh vùng họp tháng sáu phiên, bán đủ các thứ vật dụng thường ngày. Riêng chợ Giềng, năm duy nhất có một phiên, nghiêng về hội hơn là chợ. Tôi biết điều này là nhờ đi chợ nhiều lần, lần nào tôi cũng để ý thấy phần đông người đi chợ không nhằm mục đích mua bán, hình như, đối với họ, đi chợ chỉ để du xuân mà thôi.

Rồi cả nhà tôi cũng vào được một góc chợ. Bà tôi đặt mấy bó rau trên một tấm ni-lon trải trên mặt đất, thúng gạo nếp cái bà để ở phía trong. Người ta hỏi mua gạo, giá mỗi bơ chỉ có tám hào, không hiểu sao bà cứ đòi đồng tám. U tôi thì bán rổ rá như thể cho không. Tám hào hay một đồng, muốn lấy rổ hoặc rá, xin cứ tùy ý... Rổ rá hết, bố tôi bảo u tôi số may, năm mới đã phát tài to, bây giờ thử bán con trâu xem sao! Dặn dò u tôi xong, bố kẹp cái mâm đồng vào nách, vẫy tôi len vào khu bán đồ cổ.

Năm nay bố tôi chọn chỗ ngồi cạnh một ông lão trưng lư đồng. Cái lư to quá! Tôi ước chừng mình vòng tay ôm không xuể. Chiều cao của chiếc lư xấp xỉ tới tai tôi. Người đến ngắm chen chúc ở đằng trước, đằng sau. Chỉ có một người dám hỏi: “Thưa cụ, chiếc lư quý này độ bao nhiêu thì cụ để lại ạ?”. Ông lão nheo mắt, ngắm người mua, hóm hỉnh nói: “Thế bao nhiêu thì ông mua được?”. “Dạ, con không dám. Nhưng xin được mạo muội trả cụ một tiếng, nếu có gì thất lễ, cũng mong cụ xá cho!”. Ông lão vuốt râu, cười: “Không hề gì phải khách sáo thế! Xin ông cứ trả một tiếng lấy may...” Người kia ngồi xuống, khẽ khàng: “Ba nghìn, nếu được thì xin cụ để cho con. Biết thứ của này quý báu hơn cả vàng ngọc, ở đời hỏi còn được mấy người, cụ nhỉ!”. Ông cụ lại cười. Nụ cười, khiến khuôn mặt vốn đã hồng hào của cụ, sáng rỡ lên trong tiết xuân.

Lúc người ngắm chiếc lư đã vãn, ông lão quay sang hỏi bố tôi chiếc mâm quý có bán thật không. Bố tôi lễ phép, đáp: “Cũng như cụ, con chỉ đem đi khảo chơi thôi. Đồ ông cha truyền lại, mỗi năm chỉ đem trưng để lấy hơi người, điều đó ai mà chẳng biết hả cụ!”. Bố tôi thành thật quá. Bởi thế, khi thấy có bốn người mắt như dán vào cái mâm đồng nhà tôi, trả giá lên, trả giá xuống, ông lão bán lư cứ tủm tỉm cuời... Lúc họ đi sang dãy hàng bán các bức tranh cổ, ông lão nói khẽ vào tai bố tôi: “Nhìn mấy người đến định mua mâm của ông, tay người nào cũng xách một xâu thịt bê thui, tôi biết đó không phải là những người biết chơi đồ cổ sành. Họ nghĩ đơn giản cái mâm của ông mà xếp vài bát thịt bò xào rau cần, bên cạnh có thêm hũ rượu nếp nữa, thì tuyệt lắm đây...”. Bố tôi bảo: “Cụ không biết đấy thôi, nghe giọng họ, con biết không phải người vùng ta. Tiếng nhẹ lắm. Dân buôn chính gốc giả ngây đấy cụ ạ!”.

Mặt trời dần dần đứng bóng. Bố tôi mời: “Trưa rồi, con xin phép đãi cụ bữa rượu nhạt, liệu có được chăng?”. Ông lão xua xua tay: “Tôi có cơm nếp nắm đây, nếu ông không chê, ta cùng ăn cho vui...”.

Bố tôi từ chối khéo rồi dẫn tôi đến một quầy phở quen. “Phở chú Lềnh nhá”, bố nói và chẳng chờ tôi đồng ý, kéo tôi ngồi xuống ghế. Người hàng phở nhận ra bố tôi trước, chào: “Ông cho cháu đi chơi chợ ạ? Quý hóa quá... Ông vẫn lấy phở trâu ạ!”. Rồi chú Lềnh thoăn thoắt băm băm thái thái trên một cái thớt. Âm thanh của tiếng dao thớt trong phiên chợ Giềng náo nức lạ, nghe y như một lời mời mọc xoắn xuýt của người hiếu khách. Loáng một cái đã thấy chú Lềnh bê phở tới. Bố tôi gọi thêm cút rượu Kiên Lao. Tôi húp xùm xụp, mũi ngây ngất hít vị phở quê. Ngon ơi là ngon! Thấy vậy, bố tôi nháy mắt, ra ý bảo chú Lềnh làm thêm cho tôi một bát nhỏ. Còn bố tôi, người chậm rãi rót rượu vào cái ly mắt trâu màu da lươn, đưa lên mắt ngắm. Rồi người khum tay che miệng, mặt hơi ngửa lên trời, uống cạn một lần...

Về sau, đi nhiều nơi, ăn nhiều chốn, kể cả những chốn có tiếng tăm, tôi vẫn không sao tìm được hương phở chú Lềnh bán ở phiên chợ Giềng. Nước dùng trong veo, bánh thái to, mỏng trắng, trên xếp những lát thịt trâu luộc mỏng tang chen những cọng lá mùi cằn... Có lúc, tôi cố tưởng tượng mình đang ngồi trong một túp lều dựng vội, xung quanh kẻ đứng người ngồi, chan chan húp húp, í ới gọi thêm đồ nhắm... song vẫn không thể nào tóm được kỉ niệm cũ! Nghe nói chú Lềnh đã dọn lên tỉnh ở. Tiếc rằng tôi không rõ là lên tỉnh nào...

Ăn uống xong, hai bố con chen chúc mãi mới tới được nơi bà và u tôi bán hàng. Hai người đang ngồi bên một mẹt bánh đúc chấm mắm tôm. Bà tôi hỏi hai bố con đã ăn gì chưa. Dù bố tôi nói là đã cho tôi ăn no uống đủ rồi, bà vẫn mua cho tôi một đệp cháy bánh đúc. Tôi đưa đệp bánh lên miệng, cắn từng miếng nhỏ. Mùi vôi nồng nàn, ngai ngái...

Chờ cho u tôi ăn xong, bố tôi hỏi: “Trâu nhà ta năm nay có được giá không?”. U tôi bảo: “Được giá, tôi bán rồi!”. “Sao lại bán? Mà tôi có dặn u nó bán đâu!”. U tôi cười: “May mà tôi không nghe ông. Ông bảo cứ được ba nghìn thì bán. Người ta trả con trâu nhà ta tới những bốn nghìn cơ...”. “Thế con trâu đâu?”, bố tôi hỏi. “Nó kia. Bà mua cho nó cái bánh chưng. Ăn hết, nó cứ nghé ọ, nghé ọ mãi. Tôi đành vơ cả đống lá dong đem đến cho nó nhai, nó mới chịu nằm yên một chỗ đấy”...

Bà tôi nói: “U mỏi chân rồi. Con trâu cứ để đấy u coi cho. Các con nên dẫn thằng cu dạo thêm một vòng chợ nữa, kẻo năm có một lần, nó phí đi.”. Nghe bà nói phải, u tôi cầm tay tôi đi hết hàng này đến hàng nọ. Bố tôi tủm tỉm cười đi bên cạnh, nhắc u tôi mua cho bà cái khăn mỏ quạ, sắm cho tôi đôi dép cao su... Lúc sắp trở về, bố đến bên quầy bán thịt bê thui mua ngay miếng lớn nhất.

Cho mãi đến khi trời tối mịt, cả nhà tôi và con trâu thân thuộc mới về tới nhà. U tôi lội vội xuống ao nhổ một mớ rau cần. Tôi được bố sai đi mời cụ đồ Bỉnh ( thầy dạy chữ nho của bố) và mấy người chú họ sang uống rượu.

Mảnh trăng non đã hé. Buổi uống rượu họa thơ duy nhất trong năm cũng bắt đầu. Bóng cụ đồ nghiêng xuống bóng bố tôi. Bóng các chú tôi nghiêng xuống bóng tôi, cái bóng như còn cả hơi hướng của chợ Giềng mồng tám tháng Giêng...

(...)

Có một lần, tôi hỏi bố sao tên chợ lại là chợ Giềng. Bố tôi trách: “Bố những tưởng anh học cao thì biết rộng. Thế đến cái tên chợ cũng không biết đến gốc thật a?”. Tôi thú thật: chúng tôi học nhiều quá, biết nhiều quá, đến nỗi, nhiều cái nhỏ, cái cụ thể, không biết nữa! Lạ lắm thay? Giận đấy, nhưng khi thấy tôi tỏ ra thành thật với sự dốt nát của mình, bố tôi cũng giải thích để tôi rõ. Vì thế, cho đến bây giờ, tôi cũng không biết ông cụ dựa vào sách vở nào. Đại ý thế này: Vào khoảng đời Lý, sư Không Lộ cho xây chùa Cổ Lễ, chùa Bi, chùa Thượng ở Nam Trân. Chùa xây xong vào mồng Tám tháng Giêng. Dân chúng đến mừng, đông quá, tụ lại cách chùa Bi cả cây số mà thành chợ. Chợ họp vào tháng Giêng, gọi chệch tên mà thành... “Thế chợ Giềng ở Vụ Bản, chợ Giềng ở Viềng, Mỹ Lộc thì sao hả bố?”. Bố tôi bảo: “Chợ Giềng Nam Trân người đến hàng năm dài như rồng như rắn, đen một góc trời. Từ Vụ Bản qua, từ Mỹ Lộc xuống phải đi đò. Đò chở không hết người. Người đi chợ tụ lại mà thành chợ Giềng mới là vậy...”. Nghe rất có lý. Tôi thấy có lý vì chưa tìm được một chứng cớ gì về nguồn gốc xưa. Mặt khác, giải thích như bố tôi cũng đã là quá đẹp. Về sau, hỏi một số cụ già trong vùng, tôi cũng chỉ được trả lời tương tự thế...

Thường những dịp ấy, khuya lắm tôi và lũ bạn nhỏ mới kéo nhau về, vừa chạy trên đường, vừa hò hét bắt chước giọng điệu của một gánh chèo hay một gánh tuồng diễn không bán vé vào đêm có chợ.

Đêm tháng Giêng tối trời, lất phất mưa bụi bay. Lúc này mới thấy rét... Sớm mai, vẫn chẳng thiếu một đứa nào trên sân đu ngoài diệc mạ gần chợ Thượng.

Ô kìa, bố tôi hôm nay áo chùng the đen, tay lại cầm ô đi trước, u tôi áo lương dài khăn mỏ quạ, xách tay nải đi sau. Tôi biết ấy là lúc hát chầu văn có kèm lên đồng ở các nhà thờ họ đã bắt đầu...

(...)

“Nhắn ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày mồng Tám về chơi chợ Giềng
Chợ Giềng năm có một phiên...”


(...)




Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, chanhnguyen, nhuocthuy, dailuc, chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, Ngoisaobiec, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Hai 04, 2011, 07:13:40 AM »

Tín ngưỡng phồn thực phát triển mạnh trong thời nông nghiệp, nhưng vốn đã có từ trước.(1) Phồn thực là “nẩy nở ra nhiều”. Sống bằng săn bắt, chẳng hạn, thì phải cầu cho trong rừng có nhiều thú. Ðể khuyến khích thú rừng sinh đẻ, mỗi năm đến giờ thiêng ta diễn một vở kịch “giao phối”. Có nơi, như ở xã Phú Lộc (Phong Châu, Vĩnh Phú) thì không phải là kịch! Sang năm mới, chưa biết số con mồi tăng giảm thế nào, chỉ biết số thợ săn tương lai chắc chắn sẽ tăng! Không biết tục múa gà phủ độc đáo này được thực hiện đúng như xưa lần chót là vào năm nào. (Thu Tứ)

Tục múa gà phủ


Xã Phú Lộc huyện Phong Châu (Vĩnh Phú) ở gần khu rừng Trám. Bìa rừng có cái gò, cạnh gò có ngôi đền nhỏ thờ Tản Viên sơn thánh và bộ hạ của ngài là thần hổ. Ngoài ra, tại đây cũng thờ cả thổ thần.

Mồng ba Tết cụ từ và chủ tế hội đám lên đền làm lễ mật khẩu tại hậu cung, lễ trình sơn thánh và bộ hạ.

Vào đêm mồng sáu, cụ từ lại cùng chủ tế lên đền rừng Trám làm lễ mở cửa rừng, cầu một năm săn bắt mới thịnh vượng. Cụ từ mang theo một đôi gà trống, mái đều đang tơ. Ði theo cụ là một tốp trai gái làng, số lượng nam nữ bằng nhau. Nam đóng khố cởi trần, mang mỗi người một cây cung và ba mũi tên. Nữ mặc váy và yếm (không có áo) đi tay không.

Tới nơi, khi thắp hương xong thì tốp trai làng đặt cung tên lên trên bàn thờ. Cụ từ và chủ tế mang đôi gà vào hậu cung cúng và lễ mật khẩu, rồi đặt cặp gà trống, mái trói sẵn ở cạnh đền. Tàn hương, trai làng nhận cung tên, lúc này đã thành vũ khí thiêng, bắn trăm phát trăm trúng. Mỗi trai làng bắn vào cặp gà. Người ta cắt tiết đôi gà, hòa trộn tiết của chúng rồi đổ xuống đất.

Cuộc múa của người thợ săn bắt đầu. Nam là những nhà thiện xạ, nữ là con mồi. Họ cùng múa bằng những động tác đơn giản mô phỏng các hoạt động săn thú, bủa lưới vây con mồi. Lúc này không ai hát mà chỉ có những tiếng hú khẽ. Nam hú trước, nữ hú đáp tiếp theo. Ðiệu quần vũ thể hiện cuộc săn lớn, tập thể, của cả cộng đồng. Chưa hết tuần hương, thanh niên nam nữ tản ra, từng đôi trai gái múa với nhau mô phỏng đôi gà trống mái vờn nhau, thỉnh thoảng nam cất tiếng hú khẽ, nữ đáp theo. Cuối cùng, từng cặp, từng cặp tìm chỗ khuất để thực hiện yêu cầu giao phối bắt buộc của nghi lễ, gọi là “gà phủ”.


(Lê Trung Vũ, “Hội làng tái hiện những sinh hoạt tiền nông nghiệp: săn bắt, đánh cá”, tức chương VI trong sách Lễ hội cổ truyền (Viện Văn hóa Dân gian, nhiều tác giả), nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, VN, 1992)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chanhnguyen, Yahoo, nguyenthuy, dailuc, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Hai 09, 2011, 12:40:37 AM »

Đi chợ Chuộng đánh nhau để… cầu may 

 Sáng 8.2 (tức mùng 6 Tết), hàng nghìn người dân huyện Đông Sơn, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Thiệu Hóa và du khách thập phương đã đổ về làng Giang, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) để tham dự phiên chợ Chuộng - phiên chợ duy nhất trong năm.
Điều hết sức đặc biệt là ngoài việc đến chợ để “mua may, bán rủi”, người ta còn đánh nhau như là một cách để… cầu may.

Những mặt hàng được bày bán tại đây chủ yếu là những hàng nông sản mang đặc trưng của các vùng nông thôn như: rau, củ, quả, gà, vịt cùng các món ăn dân dã truyền thống như bánh cuốn, bánh đa, bỏng ngô, kẹo mật…

Chợ Chuộng không chỉ là nơi để “mua may, bán rủi”, mà nó còn là nơi để người dân trong vùng tụ họp, du xuân, tìm bạn…

Và không biết tự bao giờ “tục” đánh nhau ở chợ như một cách… cầu may đã diễn ra. Người ta có thể đánh nhau với bất kỳ lý do gì, với bất kỳ ai. Theo một số người dân quanh vùng, năm nào phiên chợ Chuộng càng đánh nhau to thì năm đó, bà con làm ăn càng thuận lợi, may mắn…

Tuy nhiên, ngày nay, phiên chợ đã có nhiều biến tướng, chuyện đánh nhau không phải để cầu may mà những nhóm thanh niên của các làng lân cận đợi đến phiên chợ để trả thù nhau. Những năm gần đây, lực lượng công an huyện Đông Sơn đã phải lên nhiều phương án để bảo vệ phiên chợ, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Hàng nghìn người dân cùng du kách về tham dự chợ Chuộng


Người ta đem đến chợ bán những sản phẩm nhà nông


Nhiều người dân ở các huyện lân cận phải vượt sông Hoàng sang chợ



Các nhóm thanh niên... đánh nhau


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Yahoo, nguyenthuy, dailuc, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 02:51:22 PM »

HỘI MÚA TRAI GIẢ GÁI

Vào mùng 10/1 âm lịch hàng năm, tiết mục múa cổ trai giả gái, một trong 10 điệu múa dân gian vô giá đất Thăng Long trong điệu đánh bồng được truyền lại từ nhiều đời tại hội làng Triều Khúc (Hà Nội) lại thu hút đông đảo người dân tới tham dự.


Đầu xuân, hội làng Triều Khúc, quận Thanh Xuân tưng bừng và nhộn nhịp từ mùng 9 đến 12/1 âm lịch với nhiều nghi lễ văn hóa truyền thống. Đây là nơi thờ Thành hoàng Phùng (tức Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng).


Trong đó nổi bật là tiết mục “Con đĩ đánh bồng”. Đây là một trong 10 điệu múa dân gian vô giá của đất Thăng Long.


Điệu múa có cái tên gây tò mò này cách đây vài năm vừa được Hà Nội phục dựng lại sau nhiều năm vắng bóng. Với những động tác mô phỏng đời sống nông nghiệp của cư dân xưa, đây là điệu múa cổ có đời sống thực sự trong dân gian, vừa có chức năng nghi lễ, vừa là thú vui giải trí.


Nét độc đáo của điệu múa này là trai giả gái với mặt hoa da phấn, động tác uyển chuyển, mềm mại, xúng xính trong áo tứ thân, váy đụp, đeo bông tai, chít khăn mỏ quạ và mỗi người đeo một cái trống nhỏ sơn màu đỏ trước ngực.


Trong khi các chàng trai đang đánh bồng, bên trong các cụ bát, cụ cửu nam và nữ (trên 80 và 90 tuổi) ngồi chầu hai bên.


Các mâm lễ vật dâng lên cúng tế được trải cánh hoa hồng.


Xung quanh là các gươm trường (tức quân tiên phong) đứng uy nghiêm.


Cùng với múa đánh bồng, múa sinh tiền, nghi lễ dâng tế, dâng trầu cũng được diễn ra kính cẩn.


Các Bát bửu, Đồng trì phủ Việt với các thanh long đao, đại đao dàn quân oai phong, đi lại là viên Hỏa diệm (giám sát binh).


Tiết mục múa rồng trước cửa đình vui nhộn.










Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nguyenthuy, dailuc, Yahoo, byphuong, ngodao, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Hai 14, 2011, 02:25:31 PM »

LỄ HỘI LINH TINH TÌNH PHỘC NĂM NAY

Đúng 0h, ngày 12 tháng Giêng, nghi lễ mật ở miếu Đụ Đị hay còn gọi là miếu Trò làng Trám, xã Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ chính thức được tiến hành. Trong nghi lễ mật này, đèn nến đều tắt hết và một cặp vợ chồng sẽ hành thức mô tả lại sự giao hòa âm dương.


Khi văn tế được hóa cũng là lúc...


đám trai gái trong làng chen nhau vào miếu chờ xem phần Lễ mật


Đúng 0h, ông thủ từ xin phép được tiến hành Lễ mật. Trước kia, khi phần tế ngoài sân miếu hoàn thành, thì ông thủ từ ở trong miếu phải cầm cây đàn Giằng Xay, hát thờ, nhưng giờ không thấy. (Trong ảnh, cây đàn Giằng Xay được đặt ngay trước mặt ông thủ từ và nó làm biểu thị cho một dương vật khổng lồ)


Sau đó, ông trèo lên ban thờ, mở cửa khám...


lấy ra một hòm gỗ đỏ


Hòm gỗ này mỗi năm chỉ đưa ra khỏi khám thờ một lần để thực hiện nghi lễ Mật. Trong hòm đựng một bộ dương vật âm vật làm bằng gỗ, nhưng tả thực và cũng được sơn đỏ.



Đây là cặp vợ chồng được chọn thực hiện nghi lễ Mật năm nay. Cặp vợ chồng được chọn phải là những người sống với nhau hòa thuận, có nếp sống văn hóa lành mạnh, con cái chăm ngoan học giỏi.


Trong khi chờ cặp vợ chồng thay đồ trong khám, đèn nến ngoài miếu sẽ dần dần được tắt.



Trong bóng tối, người chồng cầm dương vật gỗ, người vợ cầm âm vật gỗ, đứng trước ban thờ, hành lễ theo lời hô của ông thủ từ. Ông thủ từ sẽ hô to: "Linh tinh tình phộc" 3 lần.


Mỗi lần hô, người chồng lại cầm dương vật gỗ đâm vào lỗ âm vật gỗ trên tay người vợ. Nếu cả ba lần đều trúng thì năm đó cả làng mùa màng bội thu, phong đăng hòa cốc.



Cuối cùng của nghi lễ Mật là màn tháo khoán. Ngày xưa, sau khi cặp vợ chồng hành thức xong “Linh tinh tình phộc”, ông thủ từ sẽ hô tiếp: “Tháo khoán”, ngay lập tức trai gái tân trong làng cũng lao vào nhau, kéo nhau ra vườn rậm quanh miếu chòng ghẹo, trước khi ánh đèn được bật sáng trở lại. Theo các cụ trong làng, nhờ cái màn “Tháo khoán” ấy mà ở làng Trám ngày trước có bao đôi trai gái thành duyên vợ chồng. Bây giờ, đám trẻ ngại nên chỉ chạy đuổi nhau quanh miếu cho có lệ.


Cũng bởi nghi lễ mật “Linh tinh tình phộc”, mà miếu làng Trám còn có tên là miếu Đụ Đị 


Hay "Tối linh từ"


Ngày nay, tên miếu Đụ Đị đã ít còn được dùng đến thay vào đó là cái tên phổ biến hơn: miếu Trò.


Sở dĩ có tên gọi là miếu trò bởi sân miếu hàng trăm năm nay là nơi diễn ra một hình thức diễn sướng dân gian có một không hai: Tứ dân chi nghiệp.


Thờ sinh thực khí (công cụ sinh sôi nảy nở), và hành thức mô tả sự giao hòa âm dương là một phần rất cơ bản của tín ngưỡng phồn thực vốn không hề thiếu trong nhiều lễ hội dân gian ở nước ta. Nhưng qua nhiều biến cố thăng trầm, các hành thức của tín ngưỡng phồn thực đã mai một hoặc thay đổi nhiều.


Tuy nhiên, ở miếu Trò làng Trám, “Linh tinh tình phộc” trong Lễ mật vẫn được gìn giữ và trở thành một điểm đặc sắc nhất của lễ hội này. Qua đó gìn giữ những giá trị truyền thống của ông cha, trong đó có tín ngưỡng dân gian với ước vọng sinh sôi nảy nở, bảo tồn giống nòi.



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, byphuong, ngodao, Yahoo, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
byphuong
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1084

Cảm Ơn
-Gửi: 20713
-Nhận: 8585



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Hai 15, 2011, 12:53:03 AM »

   Có phải "LỄ HỘI LINH TINH TÌNH PHỘC"bắt nguồn từ Ấn Độ phải không Bác 8N.Có lần coi phim Ấn Độ, thấy người ta có thờ Vật nầy big grin .
   Kính.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ngodao, nhuocthuy, Yahoo, Ngoisaobiec
Logged

Kính.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Hai 15, 2011, 09:10:25 AM »

Đây là nền văn hóa phồn thực của người Việt cổ nói riêng và đông nam á nói chung là thờ cái sự sinh sôi nảy nở . Còn bên Ấn Độ là thờ Linga - Yoni, cũng rứa. Vào thời Nho giáo ( nhất là Trung Quốc) thì rất " thanh cao " nên các kiểu thờ thần này bị dẹp bỏ, gọi chung là dâm thần. Vậy tại sao trải qua thời kỳ phong kiến gắt gao như thế mà phong tục này vẫn còn và mới khôi phục lại. Rất lý thú, hãy đọc cuốn Thần, người và đất việt. Huynh Yahoo có post ở đây http://hoangthantai.vn/index.php?topic=4491.0

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, byphuong, Ngoisaobiec
Logged
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.174 seconds với 25 câu truy vấn.