Tháng Chín 27, 2020, 02:56:43 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: KỲ NHÂN VIỆT  (Đọc 4373 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Tám 22, 2010, 09:56:56 AM »

Gặp kỳ nhân nung dao đỏ và… liếm

Lưỡi dao được nướng đỏ quạch, người đàn ông đưa vào miệng và liếm. Xèo! Một làn khói trắng bốc lên…

Kỳ nhân ấy chính là ông Đinh Râu (xã Tân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình).

Thiếu tá Hoàng Văn Đức, cán bộ tăng cường cho xã Thượng Trạch là người giới thiệu và “cam đoan” với phóng viên thông tin này là hoàn toàn đúng sự thật.

Vượt hàng chục km đường rừng, chúng tôi đã tìm đến tận nhà ông Râu để được mục sở thị.

Rất may, người đàn ông ngoại tuổi ngũ tuần này đã vui vẻ nhận lời… biểu diễn.

Vừa bán tín bán nghi, vừa sợ ông Râu “bốc” lên làm liều mà ảnh hưởng đến tính mạng nên phóng viên đã đề nghị phải có mặt cán bộ kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cán bộ xã.

Với vẻ mặt nghiêm trang, ông Râu lầm rầm đọc một bài cổ văn, dù tôi đã căng tai nhưng không thể nghe rõ.
Ông Râu đọc bài cổ văn...

Mấy phút sau, như trở về từ một thế giới khác, ông Râu vui vẻ nói: Đã được phép thực hiện.

Dứt lời, ông Râu mang con dao rựa dắt trên vách cho vào bếp than đang rực hồng. Hàng chục người hồi hộp chờ đợi.

Con dao đỏ được ra ra khỏi bếp

Khi con rựa đã cháy đỏ quạch, ông Râu lôi ra, đưa lên ngắm nghía. Chỉ trong tích tắc ông cho vào mồm ngậm ngon lành.

Khi dao nguội, ông lại cho vào bếp và lần này là liếm lên dao. Lưỡi ông đưa đi đưa lại trên lưỡi dao đỏ lừ khiến những ngươi chứng kiến ú tim.

Từ từ cho vào miệng

Lưỡi đưa đến đâu khói bốc lên ngùn ngụt, hết liếm ông lại cọ lên chân, tay mình. Mùi khét lẹt từ da ông khiến mọi người hoảng sợ.

Không tin vào mắt mình, phóng viên đề nghị xem… miệng của ông Râu thì thấy không hề hấn gì.

Lưỡi dao cháy đỏ trong miệng

Cao hứng, ông Râu lại cho dao vào bếp nung đỏ và… “khuyến mại” thêm một lần liếm nữa khiến cho những người xung quanh được một phen mãn nhãn.

Ông Râu nói không phải lúc nào cũng có thể làm được. Trước khi ngậm dao ông phải niệm chú và ông sẽ biết được hôm đó ngậm được dao hay không.

"Khuyến mại" thêm một lần cho người xem mãn nhãn

Một người khác ở địa phương này cũng có khả năng “ngậm dao nóng” là ông Đinh Hợp, chủ tịch UBND xã Thượng Trạch.

Ông Hợp nói rằng, đây là bài thuốc chữa bệnh gãy xương bí truyền. Sau khi nung đỏ dao, lương y sẽ ngậm vào miệng, hít lấy hơi nóng đó thổi vào người bệnh, vào chỗ đau.

Một cán bộ đồn biên phòng cách đây mấy tháng không tin ông Hợp có khả năng đặc biệt đó nên đã cá cược. Ông Hợp đã thực hiện thành thục, ngậm con dao cháy đỏ đi mấy vòng trước sự chứng kiến của nhiều người.

Ông Hợp cũng khuyến cáo, đây là việc làm cực kỳ nguy hiểm nên nếu không có khả năng không nên thử.

Nguyễn Tiến - Tuyết Chinh







Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tuequang, chanhnguyen, chonhoadong, HuongThuy, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, THUQUYHOANGTHANTAI, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, tuanlong, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 22, 2010, 10:10:46 AM »

SƠN NAM
KỲ NHÂN – KỲ VĂN
(1926-2008)

Ra đi thấy vịt không lùa
Gặp duyên không kết
Thấy đình chùa vào chép chép biên biên



Giang sơn gấm vóc nước ta có biết bao bậc tài danh về mọi lãnh vực. Chúng tôi có dịp sống gần gũi nhà văn Sơn Nam. Từ đó tản mạn đôi điều.

Nhà văn Sơn Nam đang phê thuốc Lào


Ông chỉ mặc quần áo xềnh xoàng, đã từng có lúc vội vã bước ra khỏi nhà trọ, xỏ chân vào hai chiếc dép cùng màu, không mang dép ngược mà mang dép xuôi (hai chiếc cùng một bên), quần không nịt cài, “fermeture” bỏ lửng!

Tái mặt! Phát hiện khi ông vừa bước ra khỏi xế hộp của các VIP. Những lúc sắp xuất hiện trước ống kính thu hình. Lúc lên bục thuyết trình để tham luận mạn đàm… trước hội trường đông quan chức và người dự thính.

Ông đọc sách thì nhiều “mọt sách”, trí nhớ trong cái đầu của ông như in. Vậy mà ông nói “tui viết ra thì ít”. Ông chỉ ngưng hút thuốc là khi ngủ. Bấc chợt vào giờ giấc nào, nhất là vào giữa canh khuya im ắng, kẻ sống chung chợt nghe tiếng bật quẹt gaz cái “xạch”. Thoang thoảng mùi thuốc lá, tín hiệu nhà văn đã thức giấc, tiếp theo là tiếng cái bàn máy đánh chữ “cổ đại” lạch cạch, lạch cạch…

Gu của Sơn Nam là thuốc lá đen, thế nhưng khi gặp thuốc Lào cũng phê sộc sộc… Ông Bính Dần này qua đời năm 83 tuổi ta, không phải vì ung thư phổi.

Đồng nghiệp đều nói Sơn Nam là một cái “thư viện sống”. Bạn bè đến nơi ông ở đều thấy sách báo tư liệu cũ, mới ngổn ngang luộm thuộm như ve chai. Ở đầu giường, chân bàn ghế, hốc kẹt… Thế nhưng khi cần tìm một tác phẩm trong đống bề bộn đó, cứ như một quản thủ thư viện, ông mò đến, thò tay đúng nơi đúng chỗ rút ra ngay phóc.

Có lẽ chúng tôi “ớn sư phụ” nhất chính là lúc sắp đi đến các nơi mời thuyết trình, tham luận… về các đề tài văn học, danh nhân, địa chỉ, lịch sử dân tộc, phong tục tạp quán, lễ hội dân gian… Chẳng bao giờ thấy ông cầm theo một mảnh giấy lộn nào. Thắc mắc hỏi, ông nói:

- Thì cũng giống đồ ăn có sẵn trong tủ lạnh lấy ra ăn. Cũng như cái radio bật công tắc lên, chớ có gì đâu. Điều cần quan tâm là đối tượng sẽ nghe mình nói là ai. Quan chức, cán bộ, học sinh, sinh viên các trường đại học… hay là mình sẽ xuất hiện trên đài truyền thanh, truyền hình với quần chúng…

Thế nhưng, cũng có đôi lần, nghe chúng tôi nói đi đến với hai tay chẳng có gì cả kỳ lắm, Sơn Nam liền quơ vội một cuốn sách nào đó cầm theo.

Xế trưa về nhà, chúng tôi cười ngặt nghẽo: Cuốn sách đó nói về “Thai nhi và sản phụ”. Hỡi ôi! Nó chẳng ăn nhằm gì với đề tài “Lễ hội đình thần và Tết Nguyên đán” mà ông thao thao bất tuyệt giữa công chúng một cách rất thuyết phục hơn hai giờ đồng hồ vào buổi sáng.

Còn lật vào giữa sách có kẹp cái bao thơ bồi dưỡng diễn giả, những tờ giấy bạc bốc khói sạch bách tự bao giờ, chỉ còn trơ cái vỏ. 1001 chuyện này cũng thường tình và dễ hiểu thôi. Dọc đường về, “chàng” ghé qua các quán của những nàng xinh xinh như mộng để “cà kê dê ngỗng”.

Chúng tôi chợt nhớ đến câu Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Vậy nên những chốn thông dong
Đứng không yên ổn, ngồi không vững vàng
Ma đưa lối, quỉ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.

Chuyện “bất khả từ” khi phải lễ mễ vào ngồi trong những chiếc ô tô bóng loáng. Phải vào chốn lầu son gác tía, nhà hàng khách sạn nhiều sao. Có máy điều hoà không khí, thưởng thức các món cao lương mỹ vị, uống rượu Tây thượng hảo hạng. Tham dự các buổi tiệc cao cấp của các quan chức, đại gia… “chiêu hiền đãi sĩ”.

Sơn Nam mang dép không ngược mà xuôi: Cả hai chiếc đều là dép trái

Hổ nhớ rừng, mây nhớ trời cao!

Cốt cách nông dân, Sơn Nam vẫn rạo rực muốn sổ lòng, cuốc bộ hoặc đi xe ôm về chốn cũ. Xuề xoà cùng bằng hữu cố tri, bà con mến thương, chòm xóm quen mặt hiểu lòng. Tấm thân gầy guộc, chỉ mặc có chiếc quần đùi, quán tính chỉ ngồi bệt dưới đất, có gì ăn nấy. Những lúc nầy gương mặt ông rạng rỡ, ánh mắt chứa chan triết lý. Chuyện ăn uống cốt là ở cái tâm và không khí của buổi họp mặt.

Khi ăn cơm nhà ai xong, ông đặt chén xuống cạnh mâm cẩn thận. Hai tay nâng đôi đũa ngay ngắn, khẽ xá đôi lần và cẩn trọng đặt lên miệng chén rồi mới đứng lên. Ông cầm bút bằng tay phải, nhưng cầm đũa và làm mọi việc khác đều bằng tay trái. Bàn tay này “để đời” với động tác “ngạo vật” khi ngồi cùng ngồi với đồng nghiệp có ai đó “vỗ ngực xưng danh, nó ăn theo, nói leo lên đầu thiên hạ”. Tức thời ông khẽ ngoảnh mặt sang bên trái (để không ai nhìn thấy) rồi với bàn tay trái đưa lên miệng che nụ cười tủm tỉm. Lắm lần ông cũng từng bị bàn tay này “phản chủ” có lẽ vì tay trái nắm không được chặt và điều khiển không chính xác.

Món ruột của Sơn Nam là cái máy đánh chữ, lâm cảnh nay đổi mai dời chỗ trọ, cầm lên xách xuống, rớt cái cạch “tắt máy” phải đem đến tiệm sửa. Ba món lỉnh kỉnh như cây bút, hộp quẹt, gói thuốc lá… bỏ vào lấy ra không thấy có trong túi. “Tang tóc” nhất là lúc đã về đến cửa vách nhà trọ, tay trái cầm chìa khoá trầy trật. Tối trời, mưa sa gió táp khiến thân già ướt lạnh run lên cầm cập.

Dáng đi, dáng đứng của ông xiên xiên về bên trái. Chỗ đầu giường[1] cũng lốm đốm khá nhiều tàn thuốc lá. Năm 2005 bị tai nạn xe ông, ông té xuống mặt đường, nứt khớp bàn chân và xương chậu bên trái.

Lúc sinh thời, ngày lại ngày qua, khi đèn đường bật sáng, sau nhưng giờ giấc “khoắc khoải” đi lại giữa các toà soạn báo, nhà xuất bản, về lại Gò Vấp, ông đều ghé quán bia quen thuộc. Tại điểm ăn uống cố định này, lúc nào cũng có đủ tao nhân mặc khắc, nhiều người thuộc mọi từng lớp trìu mến chờ ông đến. Họ xúm xít vui vẻ ngồi quanh ông. Hàn huyên chuyện trò rối rít, kẻ đưa lưng, người đưa sách vừa in xong của ông xin chữ ký, chụp hình lưu niệm…

Bữa cơm đạm bạc

Ông hạnh phúc kể chuyện vui buồn với mọi người. Khi màn đêm buông xuống, đến giờ trở về nhà trọ, ông nheo nheo cặp mắt sau cặp kính thì thầm:

- “Văn danh thì có mà hồng nhan tri kỷ thì không!”

Giới văn nghệ sĩ nói ông rất giàu, mà đó là giàu cá tính, cá tính Sơn Nam bất tử.


(Nguồn: Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 654, ngày 10.10.2008, trang 5-7)

---------------

[1] Có lẽ do lỗi in ấn nên thiếu mất hai chữ “bên trái”. Câu này có thể là “Chỗ đầu giường bên trái…” hoặc “Chỗ bên trái đầu giường…”.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tuequang, chanhnguyen, chonhoadong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, tuanlong, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 23, 2010, 01:07:41 AM »

Thầy rắn Thất Sơn - Kỳ 1: Thầy rắn lưỡi đen

Vùng đất Thất Sơn tự ngàn xưa đã vang danh với những loài rắn, rít cực độc, nếu nạn nhân nào xấu số bị chúng cắn phải không kịp chữa trị nhất định sẽ về với đất. Thế nhưng như một quy luật tự nhiên, nơi đây cũng có những ông thầy có tài trị rắn cắn vang danh khắp mọi miền. Những đệ tử của các thầy rắn Thất Sơn từ miệt Năm Căn- Cà Mau đến Tiền Giang - Tháp Mười ngày càng đông, nhiều phương cách và bài thuốc trị rắn cắn chân truyền vô cùng độc đáo.

Với chiếc lưỡi đen thần kỳ, dẫu rắn có độc cách mấy, chỉ cần ngậm, nút ngay vết cắn, tất thảy chất độc sẽ tiêu tan. Người ta gọi ông là thầy rắn lưỡi đen.
Trên 30 năm kể từ khi bắt đầu điều trị, có trên 200 người đã được ông thầy rắn có chiếc lưỡi đen kỳ diệu ấy cứu mạng. Với ông, cứu được một người là tích đức một lần. Làm điều thiện sẽ giúp con người sống thanh thản, hạnh phúc và nghiệp làm thầy rắn cứu người bằng cái lưỡi đen kỳ diệu chính nhờ ơn trời ban xuống gia tộc ông ba đời qua do cái đức của tổ tông để lại.
Gia tộc lưỡi đen:
Đã mấy phen chúng tôi dò hỏi về thầy rắn lưỡi đen vùng Thất Sơn, thế nhưng tất cả chỉ là cái lắc đầu vô vọng. “Tui cũng có nghe đâu đó ở trong phum có ông thầy lưỡi đen chuyên trị rắn, nhưng hổng biết chỗ nào mà chỉ”, đó là câu nói quen thuộc mỗi khi chúng tôi dò hỏi về thầy. Tình cờ trong một lần trò chuyện với một anh bạn quê Tịnh Biên, anh bảo sẽ cố tìm cho, cuối cùng tin vui cũng đã đến: “Tìm được ông thầy lưỡi đen trị rắn rồi, ổng ở sâu trong một phum của xã An Cư (huyện Tịnh Biên). Nghe đâu, gia tộc ổng có tới ba bốn đời có cái lưỡi đen trị rắn lận”. Được tin, mở cả lòng, chúng tôi tức tốc lên đường. Qua những hương lộ rợp bóng mát, đến khu vực ấp Vĩnh Thượng, xã An Cư, chúng tôi được anh Phó ấp Chau Khanh cho biết: “Ổng cũng công tác ở đây nè, làm Mặt trận ấp. Gia đình ổng trị rắn cắn hay lắm, ai mà bị cứ đem lại ổng hút nọc rồi cho thuốc bó vài hôm khỏi liền. Lúc trước tui cũng từng bị con rắn chuối nó cắn, ổng hay được đến tận nhà chữa bệnh. Ổng tốt lắm...”.
Bên sân ngôi nhà nhỏ trong phum Vĩnh Thượng, một người đàn ông trung niên đậm chất nông dân tiếp chúng tôi, nói: “Lưỡi đen đồng bào dân tộc cũng có nhiều người được ơn trời ban. Đất núi rừng, rắn rít nhiều nên có lẽ trời đất mới ban cho cái lưỡi làm phương thuốc cứu người. Đến đời tui là đời thứ ba trong gia tộc có lưỡi đen rồi. Con gái lớn tui cũng có nữa, nhưng nó chưa trị được vì tui còn sống”. Ông tự giới thiệu tên Chau Phoul, ngụ tổ 2, ấp Vĩnh Thượng (xã An Cư, huyện Tịnh Biên), người dân ở đây thường gọi ông là thầy rắn lưỡi đen hay chú hai Phoul trị rắn.
Ông nói về chiếc lưỡi đen kỳ lạ của mình thiệt tình: “Tui hổng biết vì sao có cái lưỡi đen nữa. Từ nhỏ nó có mấy đốm bên phía trái. Cha tui lúc đó cũng có lưỡi đen, ông bảo là di truyền từ ông nội. Lưỡi đen sẽ hút được nọc độc các loại, nhất là rắn và rít. Ban đầu, lưỡi đen không nhiều, nhưng càng trị bệnh lưỡi sẽ đen hơn. Nhưng để trị bệnh bằng lưỡi của mình thì khi người cha còn, con cái không được trị, đến khi cha mất thì mới được kế tục. Trị nọc rắn không chỉ bằng chiếc lưỡi không mà sau khi hút hết nọc độc, thầy thuốc còn dùng các loài cây cỏ để bó. Các bài thuốc được tích lũy từ kinh nghiệm gia truyền, riêng bài thuốc rắn thầy phải thuộc trong lòng, không được nói ra, chỉ có người con duy nhất trong nhà có lưỡi đen sẽ được truyền lại. Nếu bị rắn như chàm quạp, hổ chuối cắn thì từ 3 đến 7 ngày vẫn còn cứu được. Nhưng nếu bị hổ mang, máy gầm, hổ mây… thì phải báo ngay để hút độc.   
Chiếc lưỡi đen kỳ diệu:
Thầy rắn hai Phoul kể về ca bệnh đầu tiên khởi đầu nghiệp làm thầy rắn cứu người: “Tui nhớ lúc đó đâu khoảng hai mươi mấy tuổi, cha tui đã mất mấy năm, thì thằng con trai tui bị con hổ chuối cắn. Tui nhớ lại bài thuốc của cha nên trị cho nó hết liền”.
Cả sự nghiệp hơn mấy mươi năm dùng chiếc lưỡi đen kỳ diệu ấy cứu người, chỉ duy nhất một lần, một người bệnh đã tử vong vì không nghe đúng lời dặn. Ông nhớ về ca đó: “Đâu khoảng năm rồi, ông  Bảy Sáu ở Nhà Bàn bị con chàm quạp nó cắn. Nghe tin tui trị, nhà chở ổng vô. Chàm quạp nọc nó cực độc nhưng phân tán chậm nên tới tui vẫn còn kịp. Tui liền ngậm hút hết độc rồi lấy thuốc bó cho ổng. Thấy hết đau nhức, ổng về thì hôm sau thấy nóng do thuốc ngấm vào người dẫn đến phát tán nhiệt cơ thể. Tui dặn ổng đừng có đi chích thuốc tây kỵ lắm. Vậy mà vợ ổng không nghe, đi chích về ngay chiều đó chết luôn. Hơn hai trăm người bị rắn cắn tui trị có mình ổng là chết”. Với chiếc lưỡi đen ấy, cả vùng An Cư qua tới núi Dài, lên Tịnh Biên, Nhà Bàn… hễ có người bị rắn cắn là điện thoại để ông chạy đến hoặc đem tận nhà cho ông trị. Ông bảo, trời cho mình cái lưỡi đen cứu người thì đừng lấy nó làm giàu, thất đức lắm. Trị người ta hết bệnh là cái đức của tổ tiên để lại và tích đức cho tụi con cháu mình.
Cùng với chiếc lưỡi đen kỳ diệu, thầy rắn hai Phoul còn dùng các loài ngải rừng và cây lá để trị các bệnh chân tay trặc khớp, bệnh phụ nữ, dạ dày… Đặc biệt, chiếc lưỡi đen của ông cùng một loại ngải rừng còn trị rít, chó mèo cắn rất đại tài.

Bài, ảnh: BẢO TRỊ
 
Kỳ 2: Đệ tử chân truyền của “Thần y”.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tuequang, chanhnguyen, chonhoadong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tám 24, 2010, 09:48:49 AM »

Kỳ 2: Đệ tử chân truyền của “Thần y”

Nhờ sự truyền dạy từ lão sư phụ quá cố vốn được người dân tôn kính như “thần y” nên vị sư cả trẻ tuổi dưới chân núi Nam Quy đã dùng phương thuốc ấy cứu sống hàng trăm người bị rắn độc cắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần.
Đó là sư cả Chau Sóc Kol chùa Phnom Pi Lơ dưới chân núi Nam Quy thuộc xã Châu Lăng (huyện Tri Tôn). Chưa đầy 30 tuổi nhưng Chau Sóc Kol đã trở nên nổi tiếng  cả vùng vì cứu sống hàng trăm người là nạn nhân của những loài rắn độc.

Phát hiện tình cờ:

Chùa Phnom Pi Lơ do cố Hòa thượng Chau Som, người dân tộc Khơ-me ở xã Châu Lăng kế thừa và xây dựng ngay dưới chân núi Nam Quy cách đây hơn nửa thế kỷ. Những ngày đầu mới đến đây tu học, quanh chùa còn rất hoang sơ, vắng vẻ và có rất nhiều rắn độc. Khi đó, cả những sư sãi, à cha ở chùa và người dân trong khu vực thường bị rắn độc cắn, trong đó không ít người phải bỏ mạng. Chúng có mặt khắp nơi: Trong hang núi, bờ đất, bờ ruộng, trong các bụi rậm, ngay cả trên các thân cây… nên hiểm họa luôn rình rập, khó lường. Chứng kiến cảnh sinh ly tử biệt của người dân, nhà sư quyết lòng đi tìm thầy học. Nghe đồn ở Sà Tón, cách núi Nam Quy một cánh rừng hiểm trở có người biết bài thuốc “bí truyền” chữa trị nọc rắn đại tài, sư liền băng rừng để tầm sư học nghề.

Thấy ông có quyết tâm và chí hướng giúp đời nên ông Tà Huôl đã truyền dạy hết lòng. Chỉ trong một thời gian ngắn, sư cả Chau Som đã thông thạo và bắt đầu làm thuốc cứu người. Lần đầu tiên tự tay phục dược cứu người bị rắn cắn, nhà sư không khỏi “toát” mồ hôi vì hồi hộp. Như lời thầy chỉ dạy, với những vị thuốc núi hết sức bình thường nhưng được kết hợp lại đã loại trừ được nọc độc, giữ lại mạng sống cho nạn nhân. Tiếng lành đồn xa, khắp nơi trong vùng mỗi khi có người bị rắn cắn đều tức tốc chở đến nhờ nhà sư cứu chữa. Tuy nhiên, lúc bấy giờ đường rừng núi chông chênh khó đi nên những nạn nhân ở xa khi đưa được đến chùa thì đã vô phương cứu chữa, khiến nhiều lúc ông cảm thấy đắng lòng. “Hôm đó, có đến 3 người bị rắn hổ cắn được đưa đến chùa cùng một lúc, sư cả để họ nằm trước sà la (nơi ngủ trưa và cúng lạy của người dân Khơ-me tại chùa – P.V) rồi ra rừng hái thuốc. Trong 3 nạn nhân, có một người mình mẩy tím tái nên không qua khỏi. Sư cả Chau Som buồn quá đi lang thang trong rừng, tình cờ bắt gặp cảnh một con rắn run rẩy khi bị vướng vào một loài cỏ lạ, khiến sư cả đứng quan sát rồi sau đó quyết định nhổ cây lạ về trồng. Ông cho rằng cây lạ “khắc” với con rắn độc tức trị được nọc của nó. Sư cả Chau Sóc Kol, kể lại: “Thầy cho biết cây lạ là một loại ngải rừng mà ông gọi là Pro-ti-puốt. Sau khi ông kết hợp ngải này với bài thuốc đã học được của thầy Tà Houl để giải độc rắn, hiệu quả giải độc tăng thêm. Nhờ có loại thuốc mới mà những người bị rắn độc cắn vẫn có cơ may sống sót. Tương truyền, ngày ấy, sư thầy đã cứu sống được không dưới 1.000 người nên mọi người tôn kính coi người như “thần y” trị rắn”.

Lĩnh hội chân truyền:

Sau đó, Hòa thượng Chau Som lên rừng tìm ngải Pro-ti-puốt đem về trồng trong vườn chùa để tiện dụng. Trong số nhiều đệ tử đang tu học tại chùa, sư cả đã chọn một đệ tử trẻ có chân tu, hợp với nghiệp làm thầy là Chau Sóc Kol để truyền dạy lại bài thuốc bí truyền và cũng để sau này quản lý chùa Phnom Pi Lơ khi ông tuổi già sức yếu. Năm 2005, hòa thượng Chau Som qua đời thì Chau Sóc Kol đảm nhiệm cương vị sư cả chùa khi mới tròn 23 tuổi.

Mặc dù trẻ tuổi nhưng nhờ lĩnh hội được chân truyền bí quyết từ sư phụ nên sư thầy Chau Sóc Kol cũng rất “mát tay” phục dược. Một người kinh doanh dược liệu tại thị trấn Nhà Bàn, huyện Tịnh Biên, từng được vị sư trẻ tuổi giải độc rắn, cứu mạng sống trong cơn “thập tử nhất sinh” kể, hôm đó, tờ mờ sáng anh mở cửa chuẩn bị dọn hàng ra bán thì bất ngờ bị một con rắn đang đeo trên cây cột nhà mổ vô tay. “Cắn xong con rắn buông mình rớt xuống đất rồi bò đi mất. Tôi tá hỏa không biết là rắn gì cắn, có nọc độc hay không nhưng để yên tâm tôi lấy thuốc của mình bán đắp vô vết thương “phòng hờ” rồi lo loay hoay làm việc. Độ một giờ sau tôi xay sẩm mặt mày, toàn thân tím tái rồi nằm lăn ra đất. Người nhà đưa tôi sang tận núi Nam Quy nhờ sư cả Chau Sóc Kol cứu chữa. Giữ được mạng sống, tôi xin được trả ơn nhưng nhà sư nhất định không chịu nhận bất cứ thứ gì” anh tâm sự.

 “Tôi làm theo lời dạy của thầy trước lúc mãn phần. Dù có khó khăn đến mấy cũng phải dốc hết sức, làm hết lòng để cứu người. Đó là tiếp nối tâm nguyện cứu người của thầy và là đạo của nhà tu chân chính”, sư cả Chau Sóc Kol, bộc bạch.

Phía trước gian phòng của sư cả Chau Sóc Kol là một vườn thuốc nam “mi ni” luôn xanh tốt. Chỉ tay vào những củ khô ngoằn ngoèo lố nhố lên mặt đất, sư bảo đó là ngãi Pro-ti-puốt do sư phụ ông mang từ rừng về trồng nhiều năm trước và được ông bảo dưỡng đến bây giờ. “Nhìn thấy cây khô cháy hết lá vậy chứ ngãi Pro-ti-puốt có sức sống rất mãnh liệt. Mùa khô là cây rụng hết lá, củ ẩn dưới lớp đất đá nhưng không bao giờ chết. Tới khi mưa đầu mùa rớt hột là ngải lại xanh tốt, nhảy củ khắp nơi. Chính sức sống tìm tàng đó, loại cây củ này mới kháng được nọc rắn dù là cực độc” - vị sư trẻ cho biết.

Bài, ảnh: BẢO TRỊ
Kỳ 3: Đạo trị rắn của thầy Tư.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, chonhoadong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tám 24, 2010, 09:52:12 AM »

Kỳ 3: Đạo trị rắn của thầy Tư.

Chữa cho các nạn nhân bị rắn độc cắn không lấy tiền, mà nhiều khi còn móc tiền túi dúi vào tay những người nghèo gặp nạn. Thầy tên Lê Văn Duyên, 65 tuổi, cũng trị rắn độc cắn có tiếng tăm ở xã An Phú, huyện Tịnh Biên. Vì nhà ông nằm cuối sóc Tà Ngáo ở xã An Phú nên mọi người quen gọi là thầy tư “Tà Ngáo”.

* Theo nghiệp để tự cứu mình:

Gia đình, cha mẹ ông đều là người Việt nhưng sinh sống ở Tà Lập, huyện Kirivong, tỉnh Tà Keo, Vương quốc Campuchia. Khi đó, khắp vùng Tà Lập bốn mặt đối diện núi rừng. Mà con người thì phải bám víu vào rừng để sống, để lánh nạn trong những năm tháng chiến tranh. Biết hiểm nguy luôn rình rập, cha ông đã bôn ba khắp nơi trên đất nước chùa tháp để tìm học bài thuốc trị nọc rắn của dân tộc Campuchia. Nhờ học được bài thuốc quý, mà gia đình ông và những người sống lân cận trong vùng mới có thể tồn tại giữa  rừng núi hiểm trở. “Sau đó, cha tôi đã truyền lại cho tôi để tự cứu bản thân. Thấy cuộc sống ở đó khốn khó quá, hơn nữa gia đình tôi bị Pôn Pốt thảm sát chỉ còn tôi sống sót nên khoảng năm 1980 tôi về lại Việt Nam, ở sóc Tà Ngáo tới bây giờ”, ông Duyên tâm sự.

Trên đường về đất mẹ, tư Duyên tự nhủ với lòng sẽ bỏ nghề trị rắn vì câu nói “sinh nghề là tử nghiệp”. Nơi ông tìm đến cũng là vùng đồi núi hoang sơ, là mảng bìa rừng nằm ngay chân núi Đất ở xã An Phú. Hằng ngày ra vào ông thường chạm trán với nhiều loài rắn độc như rắn hổ, chàm oạp lửa, chàm oạp chả… “Vậy là tổ nghiệp không cho mình nghỉ”, ông tự nhủ. Một lần đi rừng, ông gặp cảnh một người bị rắn chàm oạp chả mổ trúng phải chân đang lê từng bước nặng nhọc tìm đường kêu cứu. Không chút ngần ngại, tư Duyên móc ngay bịt thuốc gùi trong túi áo, đảo mắt xung quanh và quơ vội mấy thứ cỏ rừng rồi dùng nhánh cây giã cho chúng nhuyễn ra. “Hai tay tôi túm nắm thuốc lại vắt mạnh những giọt nước thuốc cho vào miệng anh ta, còn xác thuốc đắp vào vết thương, chẳng bao lâu đã chặn được nọc độc phát tán. Tôi giã thuốc thêm hai, ba lần nữa vắt nước uống, đắp vết thương cho ảnh vậy là khỏe hẳn”. Ông Duyên hồi tưởng. Theo ông Duyên, nhìn vết thương ông có thể phân biệt được loại rắn gì cắn để có cách điều trị, liều lượng thuốc cho cân xứng. Ông giải thích: “Rắn núi như chàm oạp cắn vết thương sẽ chảy máu rất nhiều, nọc phát chậm nhưng nguy kịch rất cao, chữa trị trong thời gian dài mới hết hẳn. Còn rắn đồng bằng như rắn hổ thì vết thương chỉ bầm tím, thấy rõ dấu răng chứ không chảy máu nhiều. Loại này nọc độc bạo phát, đưa đi đoạn đường xa nạn nhân rất khó cứu, nhưng giải độc kịp thời thì mau chóng hết”.

Mặc dù không bảng hiệu, cũng chẳng nhận mình là thầy nhưng ngày càng có nhiều người bị rắn cắn tìm đến ông nhờ cứu chữa. Đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, ông tư Duyên không cho phép mình đắn đo, suy nghĩ, mà việc trước tiên ông làm là phải giành lại mạng sống cho người bệnh. Vậy là một lần nữa ông đứng trước bàn thờ tổ thề nguyện những điều răn để quay lại với nghề trị rắn.

* Chơn thiện thầy tư Tà Ngáo:

“Để làm được và tồn tại với nghề này thì phải không tham lam, không thù hận, oán giận, không làm điều bất nhân, bất nghĩa, trái với luân thường đạo lý. Có khi người đó mới cự cãi, chửi mắng mình nhưng người ta bị rắn cắn mình cũng không thể vì oán giận mà làm ngơ, bỏ mặc họ chết. Làm thế, tổ nghiệp cũng không dung”, ông Tư Duyên bảo. Ngoài những điều trên thì với ông không có một nguyên tắc nào khác trong nghề. Vì thế không ít lần ông bị dựng dậy lúc nửa đêm vì có người bị rắn cắn, đang trong cơn nguy cấp. Nhìn vết thương, đặt nạn nhân nằm xuống ván trước nhà rồi ông lọ mọ xách đèn pin đi hái thuốc trị.

30 năm trong nghề ở Tà Ngáo, tư Duyên không còn nhớ rõ đã giải độc, cứu mạng cho bao nhiêu người, nhưng chắc chắn là nhiều lắm. Hỏi về “tung tích” các bệnh nhân của ông, ông lắc đầu quầy quậy bảo là không biết mà cũng chẳng quan tâm. Ông Duyên khẳng khái: “Hỏi nhà làm gì, tôi cũng chẳng muốn làm quen người ta trong trường hợp đó. Chỉ biết có người cần cứu là tôi giúp, đâu cần họ trả ơn. Sau khi được trị khỏi có người nài nỉ đền ơn tiền bạc nhưng tôi không nhận. Cũng có người tự để lại 10.000, 20.000 đồng gì đó rồi bỏ ra về. Gặp người khác khổ quá, bị thương, người đói lã, tôi lấy tiền đó cho họ ăn cơm”. Những người hàng xóm của tư Duyên kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của mẹ con người phụ nữ ở Châu Đốc vô Tịnh Biên cắt lúa mướn. Vừa tới nơi đang dựng lều trại thì đứa con bị rắn hổ quặp vào chân. Được mọi người chỉ, bà mẹ đưa con tới gặp tư Duyên nhờ trị giúp. Sau khi đứa con tỉnh lại, bà mẹ ái náy nói: “Tôi không có tiền trả cho thầy, mẹ con nghèo quá dắt nhau đi cắt lúa, cả buổi còn chưa có hột cơm trong bụng”. Tư Duyên chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng móc chút tiền còn sót lại trong túi áo dúi vào tay bà mẹ bảo lấy mua cơm ăn lót dạ.
Nhà ông Duyên sống chủ yếu bằng nghề leo thốt lốt lấy nước nấu đường. Vậy mà khi ở tận ngọn cây, nghe có người bị rắn cắn ông liền tụt xuống để tìm phương cứu chữa. Cho nên, 30 năm qua vợ chồng, con cái vẫn sống trong căn nhà trống trước hụt sau, ngày chỉ đủ 2 bữa cơm lót dạ. Ông bảo vật chất như thứ bụi bám dính mái đầu, chỉ cần một cái phủi là rơi mất hết. Nhân nghĩa, tình người mới là thứ còn lại với con người vĩnh viễn dù là khi đã về với đất.

Box: Sau khi trị khỏi, Tư Duyên còn cẩn thận chỉ cho những gia đình nạn nhân ở xa hay ở những nơi nguy hiểm cách làm thuốc trị nọc rắn từ những cây cỏ có trong tự nhiên: “Phèn xanh giã nhuyễn + trái trút (hoặc chanh) còn vỏ, xắt nhỏ + thuốc xỉa (loại gắt để có tác dụng mạnh) + cây môn rừng xắt nhuyễn (môn tím hoặc môn trắng), mỗi thứ một ít độ vừa nhau cho vào cối giã đều rồi đổ thêm chút rượu vào. Sau đó, vắt lấy một ít nước cho nạn nhân uống để hạ đờm, bớt ngăn ngực, xác thuốc thì đắp chỗ vết thương.Vết thương nặng thì cứ theo tỉ lệ trên làm nhiều lần để lấy xác thuốc đắp, đến khi khỏe hẳn. Tư Duyên khuyến cáo, những loại thuốc trên dùng cho những người bình thường sẽ có tác dụng ngược lại.     

Bài, ảnh: BẢO TRỊ
Kỳ tơi: Khắc tinh nọc độc.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, chonhoadong, dailuc, anhlam, Ngoisaobiec, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tám 24, 2010, 09:55:11 AM »

Kỳ cuối: Khắc tinh nọc độc

Miếng sừng dinh nhỏ bằng đầu đũa  ăn vậy mà có thể hóa giải được tất cả các loại nọc độc của những loài rắn, rết.
Ở vùng Bảy Núi – An Giang chỉ có ông Bùi Thanh Tùng, ở xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên sở hữu miếng sừng dinh quý giá hút được mọi loại nọc độc.

* Cứu nguy cho đồng đội:

Ông Tùng, sinh năm 1927, nguyên là Phó Chính trị viên Huyện đội Tịnh Biên. Năm 1963, trong lần đi dự Đại hội giải phóng quân miền Nam, ông được một đồng chí tặng cho 2 mắt sừng dinh rắn nhỏ bằng ngón tay út star. Theo lời đồng chí này, sừng dinh rất quý và hiếm vì khả năng hút được tất cả các loại nọc độc, nhất là nọc rắn. Đơn vị ông trước đây là tiểu đoàn 510, thường xuyên hành quân, băng rừng, lội ruộng trên các chiến trường ở Campuchia nên không ít chiến sĩ Việt Nam đã vĩnh viễn nằm lại xứ người vì bị rắn độc cắn chết.

Từ khi có được khúc sừng dinh, ông Tùng gói theo ba lô hành quân, phòng khi đồng đội gặp nạn là đem ra cứu chữa. Lúc đó, do có nhiều tiểu đoàn bủa ra các cánh nên rất nhiều người bị rắn cắn. Anh em đồng đội vác về đơn vị tìm ông Tùng để nhờ khúc sừng dinh hút nọc. Ông kể: “Còn ngay trong đơn vị tôi, anh tư Tài bị rắn cắn hỏi mượn sừng dinh của tôi, giải độc xong, ổng cắt hết một lóng để dành. Rồi tới tư Lợi, Hùng Nẻo, Chín Nhóc và nhiều anh khác hỏi mượn. Tôi dặn kỹ là đừng có chẻ nhỏ sừng ra, sợ bị mất công hiệu, nhưng mỗi ông được chữa khỏi đều chẻ lấy một miếng … phòng thân. Lúc đem trả tôi khúc sừng chỉ còn lại bằng đầu đũa ăn. Giận quá tôi quăng vô bụi tre rừng nhưng trúng ngay cây tre văng ngược ra ngoài. Mấy đứa em thấy vậy lượm lại đưa tôi giữ tới bây giờ”.

Sau lần đó, ông cất giữ miếng sừng dinh còn lại cẩn thận, ai bị rắn cắn là ông trực tiếp đem sừng đi hút độc chứ không cho mượn nữa. “Đang hành quân, trong đoàn có người bị rắn cắn là anh em vác lên võng để tôi dán miếng sừng dinh vô vết thương hút độc. Đi một quãng là nạn nhân khỏe lại, hành quân tiếp”, ông Tùng nói về công hiệu giải độc của sừng dinh. Cũng nhờ có khúc sừng dinh mà chiến sĩ trong đơn vị ông và các đơn vị khác nhiều lần được cứu nguy giữa chốn rừng thiên nước độc.

* Uy lực sừng dinh:    
   
Ông Tùng rất “nể” uy lực của miếng sừng dinh nhỏ bé bởi ông nhớ hoài cái lần con rắn lục đuôi đỏ bị “giữ chân” suốt 10 ngày trên nhánh cây tràm. Hôm đó, do hành quân xa, ông bỏ lại chiếc ba lô ở đơn vị, treo dưới gốc tràm. Lo sợ bị mất miếng sừng dinh quý báu, ông gói cẩn thận trong ba lô. “Lúc khởi hành, tôi đã nhìn thấy con rắn lục đang có chữa nằm trên nhánh tràm nhưng chẳng quan tâm. 10 ngày sau về lại, vẫn thấy con rắn ốm lòi xương nằm y chỗ đó. Tới khi tôi lấy chiếc ba lô đi, nó mới từ từ rời khỏi cành cây được”, ông Tùng cho biết. Lần khác, ông muốn kiểm chứng uy lực của sừng dinh nên khi phát hiện một con rắn bự cỡ cườm tay đang trườn đến cửa nhà. Ông ném cục sừng dinh xuống đất, cách con rắn chừng 1m, nó bất ngờ khựng lại và nằm luôn ở đó. “Thấy vậy, tôi kêu nhiều người tới xem cho biết. Con rắn cứ uốn lượn thân mình, còn đầu thì chúi xuống đất mà không sao bò tới hay thối lui được. Mấy đứa thanh niên chụp lấy khúc cây nện con rắn mấy cái rồi đem vô làm thịt”, ông Tùng kể lại.

Trong nhà, ông để cục sừng dinh vào một cái hộp nhựa nhỏ, cất trong tủ cẩn thận. Chị Lan, con gái ông Tùng đưa cho chúng tôi xem rồi giải thích: “Hiện tại miếng sừng không có nọc độc nên các cạnh của nó có lốm đốm trắng như bị bụi bám. Còn khi có nọc độc, chỉ cần dán nó vô chỗ đang chảy máu là dính ở đó luôn. Người bệnh có thể đi lại, ăn uống bình thường, miếng sừng cũng không bị rớt. Đến khi hút hết nọc nó sẽ tự động rớt ra, muốn dán nữa cũng không thể dính”. Chị Lan còn cho biết thêm, chỉ khi vết thương có nọc độc thì miếng sừng mới có thể dán vào giải độc. Có lần chị bị đứt tay, dán mãi nó vẫn không chịu dính. “Ở đây gần núi, cứ tới mùa mưa thì rắn độc trên núi bò vô nhà thấy ớn. Vậy mà khi chúng vô gần tới cửa, gần chỗ để sừng dinh, lại tự quay trở ra đi mất, có con thì nằm yên không cựa quậy, con nào bò trên trần nhà thì bị rớt xuống đất ngay”, chị Lan khẳng định.

Ngày nay, dẫu khoa học đã có nhiều phương thuốc chữa rắn cắn bằng Tây y, thế nhưng những bài thuốc trị rắn dân gian, rồi chiếc lưỡi đen kỳ diệu vùng Bảy Núi – An Giang vẫn là một trong những phương pháp chữa trị cổ truyền đại tài. Điều đã được chứng minh và mãi tồn tại, sự kỳ bí của vùng đất linh thiêng với những dị nhân trị rắn và những bài thuốc bí truyền.

Bài, ảnh: BẢO TRỊ

star Dinh là loài thú có hình dáng y như con trâu nước, nặng khoảng 1 - 2 trăm cân, chúng ngủ dưới sình lầy. Tối ngủ chúng móc sừng lên cành cây, đầu thì dúi trong bụi cây. Loài thú này sống trong rừng tự nhiên ở Châu Phi. Loài dị thú này có: Dinh cỏ, dinh rắn và dinh cá đầu mọc 1 chiếc sừng cong cong như lưỡi câu. Dinh cỏ và dinh cá chỉ ăn cỏ và cá, lâu lâu mới kiếm rắn ăn; còn dinh rắn thì chuyên ăn các loại rắn độc.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, chonhoadong, dailuc, anhlam, Duy Thuc, Ngoisaobiec, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Tám 26, 2010, 01:33:00 PM »

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Sài Gòn nổi lên bốn nhà cự phú, giàu có nức tiếng. Họ không chỉ giàu nhất Sài Gòn mà còn là giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và cả giàu nhất Đông Dương. Bởi thế mới có câu Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Định star truyền tụng cho đến mãi ngày nay. Trước hết, chúng ta hãy "tiếp cận" với nhân vật được xếp hạng "số một": Huyện Sĩ.

“Nhất Sĩ” trong tứ đại phú


Tượng bán thân ông Huyện Sĩ - Ảnh: H.Đ.N

Ngày nay, nếu có dịp đi qua góc đường Tôn Thất Tùng - Nguyễn Trãi (Q.1, TP.HCM), bạn sẽ thấy tọa lạc ở đây là một nhà thờ uy nghiêm, cổ kính. Đó là nhà thờ giáo họ Chợ Đũi, tuy nhiên dân gian vẫn quen gọi là Nhà thờ Huyện Sĩ nhằm tưởng nhớ người đã bỏ 1/7 gia sản của mình ra để xây dựng và cung hiến, dần dần tên gọi "Nhà thờ Huyện Sĩ" trở thành tên gọi chính thức của ngôi thánh đường này.

Tiểu sử của Huyện Sĩ đến nay vẫn còn khá giản lược nhưng di sản và tiếng tăm của một dòng họ "trâm anh thế phiệt" đến nay vẫn lưu truyền.

Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), thuở nhỏ có tên là Sĩ. Ông sinh tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng quê quán ở Tân An (Long An) trong một gia đình theo đạo Công giáo, tên thánh là Philipphê. Do vậy, ông được các tu sĩ người Pháp đưa sang du học ở Pénang (Malaysia). Ở đây, Sĩ được học các ngôn ngữ: La Tinh, Pháp, Hán và quốc ngữ (chữ Việt mới sơ khai), rồi do trùng tên với một người thầy dạy nên Sĩ đổi tên thành Lê Phát Đạt. Khi về nước, Lê Phát Đạt được Chính phủ Nam Kỳ bổ dụng làm thông ngôn, rồi làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (từ năm 1880). Tuy nhiên, dù đã đổi tên nhưng bà con lối xóm vẫn gọi ông bằng cái tên cúng cơm: Sĩ.


Nam Phương hoàng hậu, cháu ngoại của Huyện Sĩ - Ảnh: tư liệu

Theo học giả Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa (NXB TP.HCM, 1991) thì cái sự "lên hương" của Lê Phát Đạt chẳng qua là... ăn may: "Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đầu giá (chú thích: "Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận e nỗi quan và triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hốp tốp làm chi cho mang tội... Không dè bởi đất không ai nhìn, nên Pháp lập Hội đồng Thành phố, Ủy ban Điền thổ rồi đưa nhau đi khám xét từng vùng. Đến chỗ nào địa thế tốt, thì những ủy viên bản xứ nhận là của mình: "Ùy" (Oui) một tiếng! Đến chỗ nào nẻ địa thì lắc đầu, tiếp theo nói "Nông" (Non) cũng một tiếng! Chung quy chỉ học hai tiếng "Ùy", "Nông" mà có ông lập nghiệp truyền tử lưu tôn. Trận bão năm Giáp Thìn (1904), đất Gò Công bỏ hoang vô số kể, ai đủ can đảm chịu ra mặt đóng thuế thì làm chủ chính thức, mà có ai thèm đâu..."). Thế rồi, nài ép ông, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền. Ông trở nên giàu hụ, trong nhà có treo câu đối dạy đời: "Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách/Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ".

Tương truyền ngôi nhà lầu đồ sộ của Huyện Sĩ tại Tân An (nằm gần ngã ba sông Tân An và Bảo Định) được cất trên thế đất hàm rồng nên gia đình ông trở nên giàu có, danh vọng bậc nhất thời đó. Nhiều tài liệu nói rằng khi đang xây nhà thờ Chợ Đũi (tức nhà thờ Huyện Sĩ), theo yêu cầu của giáo dân vùng Bảy Hiền, người ta đã cắt bớt một gian giữa của nhà thờ này để lấy tiền đó xây nhà thờ Chí Hòa; con trai của Huyện Sĩ là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây (góc Quang Trung - Lê Văn Thọ, Gò Vấp). Tất cả những ngôi nhà thờ này đều xây trên đất của Huyện Sĩ. Ngày nay, nếu đi bằng xe máy từ nhà thờ Huyện Sĩ đến nhà thờ Hạnh Thông Tây phải mất gần một tiếng, đủ thấy "lãnh thổ" của Huyện Sĩ mênh mông chừng nào.

 Không chỉ có thế, các con của Huyện Sĩ như bà Lê Thị Bính (mẹ của Nam Phương hoàng hậu), Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân... đều là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và Đồng Tháp Mười... Riêng trưởng nam của Huyện Sĩ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương, là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ thuộc hàng dân dã, không là "hoàng thân, quốc thích" được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình (vương, công, hầu, bá, tử, nam - NV). Năm 1934, nhân dịp gả cô cháu gái về Huế làm Hoàng hậu, Lê Phát An đã tặng cho Nguyễn Hữu Thị Lan 1 triệu đồng tiền mặt để làm của hồi môn (1 triệu đồng lúc bấy giờ giá vàng khoảng 50 đồng/lượng, vị chi món quà này tương đương 20.000 lượng vàng - NV). Gia đình Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu, rể của Huyện Sĩ) giàu hơn Bảo Đại. Trong đời làm vua của mình, vị hoàng đế thích ăn chơi Bảo Đại xài tiền của vợ nhiều hơn của hoàng gia.

Huyện Sĩ mất năm 1900, hai mươi năm sau vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài cũng tạ thế. Người ta đưa xác hai ông bà vào chôn ở gian sau cung thánh nhà thờ Huyện Sĩ như một nhà mồ... Người viết đã may mắn quen biết với một người là thành viên của Hội đồng giáo xứ nhà thờ Huyện Sĩ nên đã nhờ ông dắt vào tận nơi (đây là khu vực đặc biệt, không phải ai muốn vào cũng được). Phía bên trái là tượng bán thân bằng thạch cao của ông Huyện Sĩ, kế đến là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn (nghe nói là chôn nổi). Trên mộ là tượng toàn thân của ông Huyện Sĩ (cũng bằng đá cẩm thạch) nằm kê đầu lên hai chiếc gối, đầu chít khăn đóng quay mặt về phía cung thánh, mình mặc áo dài gấm có hoa văn rất tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Phía bên phải, ở những vị trí đối xứng là tượng bán thân của vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), rồi đến mộ và tượng toàn thân của bà: búi tóc, cũng nằm kê đầu lên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu của ông bà là Lê Phát Thanh (bên trái) và Đỗ Thị Thao (bên phải)...

Đứng bên phần mộ của những con người đã từng có một thời giàu có và tiếng tăm nhất nước này, mới thấy kiếp người phù sinh. Tuy nhiên, phải thừa nhận phần mộ có tạc tượng của ông bà Huyện Sĩ xứng đáng là công trình nghệ thuật tuyệt tác.

Hà Đình Nguyên

star Về nhân vật được xếp thứ tư, có nhiều dị bản, ngoài "tứ Định", còn có "tứ Hỏa" (chú Hỏa - Hui Bon Hoa), "tứ Bưởi" (Bạch Thái Bưởi), "tứ Trạch" (Trần Trinh Trạch cha của công tử Bạc Liêu)...

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, chonhoadong, HuongThuy, dailuc, anhlam, Duy Thuc, Ngoisaobiec, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tám 29, 2010, 01:17:10 AM »

“Nhì Phương” trong tứ đại phú

Tổng đốc Phương - Ảnh: tư liệu

Tổng đốc Phương tên thật là Đỗ Hữu Phương sinh năm 1841 tại Chợ Đũi (Sài Gòn), cha ông là Bá hộ Khiêm (gốc Minh Hương) lấy con gái của một quan tri phủ ở Nam kỳ gốc Quảng Nam. Đỗ Hữu Phương biết chữ Hán và nói được một ít tiếng Pháp.

Sau khi Pháp chiếm đại đồn Kỳ Hòa (1861), ông nhờ Cai tổng Đỗ Kiến Phước dẫn đến giới thiệu với Tham biện hạt Chợ Lớn là Francis Garnier (là viên đại úy Pháp sau này đã tấn công và chiếm thành Hà Nội do Nguyễn Tri Phương chống giữ. Chỉ ít lâu sau đó, y cũng đền tội do bị quân Cờ Đen phục kích ở Ô Cầu Giấy, Hà Nội). Bước đầu, Garnier cho Đỗ Hữu Phương làm hộ trưởng (bấy giờ Chợ Lớn gồm 20 hộ). Từ đó, Đỗ Hữu Phương cộng tác đắc lực cho Pháp, nhất là trong việc dọ thám và kêu gọi những lãnh tụ nghĩa quân ra hàng. Tuy thế, Phương rất khôn ngoan, chỉ trực tiếp tham gia vài trận cho người Pháp tin cậy như trận đánh vào lực lượng Trương Quyền (con của Trương Định) ở Bà Điểm và truy nã ông này đến tận Bến Lức (tháng 7.1866). Ba tháng sau, Đỗ Hữu Phương và Tôn Thọ Tường đi Bến Tre chiêu dụ hai con trai của Phan Thanh Giản (Phan Tôn và Phan Liêm). Tháng 3.1868, ông xuống Rạch Giá dẹp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực. Nghĩa quân chống trả quyết liệt, Phương suýt chết... Nhờ đó Đỗ Hữu Phương được cất nhắc lên các chức vụ: Tri huyện, Tri phủ rồi Đốc phủ sứ Vĩnh Long (tháng 7.1868)...

Từ năm 1872, Đỗ Hữu Phương được chỉ định làm ủy viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn, rồi trở thành phụ tá Xã Tây Chợ Lớn (1879). Thời gian giữ các chức vụ này, Đỗ Hữu Phương thường ngầm làm trung gian để giới thương gia người Hoa “đi đêm” (hối lộ) cho các viên chức khác, nhờ đó ông giàu lên mau chóng. Cơ ngơi, sản nghiệp “nứt khố đổ vách”, uy danh đến nỗi quan Toàn quyền Paul Doumer khi vào Nam công cán cũng ghé vào nhà Đỗ Hữu Phương thăm và dự tiệc thết đãi. Có lẽ nhờ dịp này mà quan toàn quyền ban đặc ân cho Phương được khẩn trưng một sở đất ruộng lên đến 2.223 mẫu tây.

Học giả Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa: “Sự nghiệp (của ông Phương) trở nên đồ sộ nhứt nhì trong xứ, phần lớn do tay phu nhân Trần thị gây dựng. Bà giỏi tài đảm đang nội trợ, một tay quán xuyến trong ngoài, làm của đẻ thêm ra mãi, lại được trường thọ, mất sau chồng...”. Chính bà vợ của Tổng đốc Phương đã bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes files Indigènes, tức trường Áo tím (Gia Long) mà bây giờ mang tên trường Nguyễn Thị Minh Khai (nằm trên đường Điện Biên Phủ, Q.3, TP.HCM) và cúng dường trùng tu một ngôi chùa khác. Tuy nhiên, những “việc thiện” này không đủ khỏa lấp “thành tích” của Đỗ Hữu Phương trong quan hệ với Thủ khoa Huân.

Nguyễn Hữu Huân và Đỗ Hữu Phương vốn là bạn từ thời thơ ấu. Ông Huân sinh năm 1830 và đỗ đầu khoa thi Hương năm Nhâm Tý (1852) nên được gọi là Thủ khoa Huân. Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (có Định Tường quê ông) thì ông cũng giống như nhiều sĩ phu khác: tham gia kháng Pháp. Ông từng sát cánh chiến đấu bên các lãnh tụ nghĩa quân Trương Định, Vũ Duy Dương (tức Thiên hộ Dương), Âu Dương Lân... Năm 1864, ông bị Pháp bắt và kết án khổ sai, đày đi Cayenne (thuộc địa của Pháp tại Nam Mỹ). Ở tù được 5 năm, Thủ khoa Huân được Pháp ân xá nhờ Đỗ Hữu Phương bảo lãnh và xin chứa chấp ở trong nhà để giám sát, đồng thời đề nghị phía Pháp cho ông Huân làm giáo thụ dạy các sinh đồ vùng Chợ Lớn để lôi kéo họ về phía Pháp. Lợi dụng hoàn cảnh, trong suốt 3 năm, Thủ khoa Huân đã bí mật liên lạc với các Hoa kiều trong Thiên Địa hội, họ mua một thuyền vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa nhưng việc vỡ lở, Thủ khoa Huân trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ ba (1872).

Hai năm sau, Đỗ Hữu Phương và Trần Bá Lộc đưa quân Pháp truy bắt Thủ khoa Huân. Ông chạy thoát, nhưng 3 tháng sau thì bị Pháp bắt. Ngày 19.5.1875, Pháp cho tàu chở Thủ khoa Huân xuôi dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An và hành quyết ông lúc 12 giờ trưa (Âu Dương Lân sau đó cũng bị Trần Bá Lộc bắt sống và xử tử)... Cụ Vương Hồng Sển bình: “...Tiếng rằng “hiền”, là hiền hơn hai ông kia (Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn), chớ xét ra một đời mâu thuẫn: lấy một tỉ dụ là đối với Thủ khoa Huân. Che chở cũng y (Đỗ Hữu Phương), đem về nhà bảo đảm và cấp dưỡng cũng y, mà rồi bắt nạp cho Tây hành hình cũng y nốt...”.

Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam thì Đỗ Hữu Phương được Pháp thưởng Tam đẳng bội tinh, triều đình Huế phong hàm tổng đốc. Trước năm 1975, Sài Gòn có đường Tổng đốc Phương ở quận 5, sau này, đổi thành đường Châu Văn Liêm.
Người viết có quen với chị H. là chủ một khách sạn ở đường Phạm Viết Chánh gần bùng binh Ngã sáu (TP.HCM). Qua vài lần tiếp xúc mới biết chị là dâu của dòng họ Đỗ Hữu. Chị H. còn đưa người viết đến Đỗ Hữu từ đường (còn gọi là đền Bà Lớn, nằm trên đường Điện Biên Phủ, P.1, Q.3, TP.HCM). Ngôi từ đường này được xây cất từ năm 1904, dùng làm nơi an táng và thờ cúng của dòng họ Đỗ Hữu. Ngôi từ đường hơn 100 tuổi này nay đã xuống cấp trầm trọng nhưng không được tu sửa bởi có sự tranh chấp với địa phương.

Chị H. còn cho người viết xem gia phả của dòng họ Đỗ Hữu. Cuốn gia phả rất dày, tên Việt chen lẫn tên Tây (ông Đỗ Hữu Phương nhập quốc tịch Pháp từ năm 1881), có cả ảnh những thế hệ con cháu mang hai dòng máu Pháp -Việt. Ở phần những người con của Tổng đốc Phương, có Đỗ Hữu Chẩn (đại tá Quân đội Pháp), Đỗ Hữu Trí (chánh án), Đỗ Hữu Vị (đại úy không quân và là người Việt Nam đầu tiên lái máy bay chiến đấu, tham gia Thế chiến thứ nhất trong quân đội Pháp). Con gái: Đỗ Thị Nhàn có chồng là Hoàng Trọng Phu (con Hoàng Cao Khải) là Tổng đốc Hà Đông, gia phong Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ. Và Đỗ Thị Dần có chồng là Lê Nhiếp, Tri phủ Vinh Tường (Vĩnh Yên)…


Hà Đình Nguyên


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, dailuc, anhlam, Duy Thuc, Ngoisaobiec, chanhnguyen, nhuocthuy, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tám 30, 2010, 10:04:57 AM »

Nguyễn Tri Phương và tam Xường, tứ Định

Ở bài viết về nhân vật “nhì Phương”, chúng tôi đã nêu vấn đề nhiều người hay nhầm lẫn Tổng đốc Phương là danh tướng Nguyễn Tri Phương. Sau đây, xin lược ghi tiểu sử của Nguyễn Tri Phương và thân thế của 2 nhân vật “tam Xường, tứ Định”...
Francis Garnier - Ảnh: tư liệu

Vị đại thần can trường

Nguyễn Tri Phương sinh năm 1800, người tỉnh Thừa Thiên, làm quan qua 3 đời vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông từng giữ chức tổng đốc ở Nam kỳ lục tỉnh: An Hà (An Giang, Hà Tiên), Long Tường (Vĩnh Long, Định Tường), Biên Hòa và Gia Định, rồi làm Kinh lược sứ Nam kỳ...

Khi quân Pháp xâm chiếm nước ta, ông được triều đình Huế cử làm Tổng chỉ huy quân đội triều Nguyễn chống lại quân Pháp ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). Năm 1860, ông lập đại đồn Kỳ Hòa (thực ra là Chí Hòa nhưng người Pháp đọc trại thành Kỳ Hòa) ở Gia Định để chống quân Pháp. Đại đồn thất thủ, ông bị thương, em trai ông là phò mã Nguyễn Duy tử trận. Trong suốt 10 năm sau đó, Nguyễn Tri Phương là Khâm mạng Đại thần chuyên lo đánh dẹp giặc giã ở Bắc kỳ.

Năm 1873, nhân có chuyện tranh cãi giữa tay lái buôn Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) với quan nha nhà Nguyễn ở Bắc kỳ, soái phủ Nam kỳ là đô đốc Dupré cử đại úy Francis Garnier ra Bắc trên hai pháo hạm với khoảng 200 quân. Tiếng là ra Bắc để điều đình nhưng khi tới nơi, Garnier đưa tối hậu thư buộc Nguyễn Tri Phương giao thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương không trả lời. Đêm 19, rạng 20 tháng 11 năm 1873, Garnier đánh úp thành Hà Nội. Gươm giáo không thể địch lại súng ống và cả đại bác nên chỉ hơn một giờ giao tranh, quân Pháp đã treo cờ Tam tài trên vọng lâu thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, con trai ông là phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Quân Pháp chữa vết thương cho ông nhưng ông phun thuốc ra, tuyệt thực gần một tháng rồi mất, thọ 73 tuổi. Thi hài ông và con trai được đưa về quê an táng. Đích thân vua Tự Đức viết văn tế khóc chung ba vị công thần Nguyễn Lâm, Nguyễn Duy và Nguyễn Tri Phương.

Tam Xường “oai thấu trời”

Nhân vật được xếp hạng ba về sự giàu có thời Sài Gòn - Chợ Lớn mới hình thành là bá hộ Xường. Ông tên thật là Lý Tường Quan, tự Phước Trai, gốc người Minh Hương (tức những Hoa kiều trung thành với nhà Minh, không chịu thần phục nhà Thanh và sang tị nạn ở nước ta), theo đạo Công giáo và gia nhập Việt tịch với tên thường gọi là Xường. Ông Xường được theo học trường thông ngôn nên thông thạo tiếng Pháp và tiếng Hoa, được chính quyền Pháp ở Sài Gòn trọng dụng.

Để biết các thầy thông ngôn thời đó (bây giờ gọi là thông dịch viên) “oách” như thế nào, hãy xem một đoạn trong Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển: “Xưa thầy “thông ngôn” oai lắm: chức làm “interprète” khi “đứng bàn ông Chánh” (thông dịch viên của Tham biện chủ tỉnh) thét ra khói, khi “đứng bàn ông Phó”, làm tay sai và thông dịch viên cho Phó tham biện, hét ra lửa. Ngày sau thầy thông ngôn có đủ năm làm việc thì được (làm) một (nhiệm) kỳ nữa rồi được bổ làm Huyện, lên Phủ, rồi Đốc phủ sứ, làm Chủ quận, đại diện cho quan Pháp trong một vùng, “oai thấu trời”, “oai hơn ông ghẹ”!” (ông Sĩ - Lê Phát Đạt cũng đi lên từ ngạch thông ngôn rồi được phong hàm “huyện”, nên người dân gọi là Huyện Sĩ).


Quan phục của Nguyễn Tri Phương do quân Pháp lấy được khi chiếm thành Hà Nội, được trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Les Invalides - Ảnh: tư liệu

Giàu có và oai phong như vậy nhưng đến năm 30 tuổi, bá hộ Xường từ bỏ địa vị mà nhiều người mơ cũng không có được ấy để bước vào thương trường. Lĩnh vực kinh doanh mà ông nhắm đến là dịch vụ cung cấp lương thực, thực phẩm (lúa gạo, thịt cá...) cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Gặp thời điểm xuôi chèo mát mái, lại biết khôn khéo lấy lòng các quan Tây để được họ che chở, nâng đỡ, chẳng mấy chốc bá hộ Xường trở thành nhà trọc phú quyền uy, nhất là trong lĩnh vực lương thực - thực phẩm lúc bấy giờ. Dinh thự của ông nguy nga bề thế, tọa lạc trên đường Gaudot (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông) nhưng sau khi ông qua đời, tài sản của ông bị con cháu ăn xài, phung phí hết. Trước năm 1975, mộ của ông vẫn còn ở Gò Vấp, nhưng nay không tìm ra dấu tích.

Tứ Định phất nhờ thời

Người xếp hạng tư là bá hộ Định, tên thật Trần Hữu Định. Xuất thân là chủ tiệm cầm đồ (hóa ra thời ấy đã có dịch vụ “cầm, cắm”), rồi được chính quyền Pháp cho làm Hộ trưởng (bấy giờ, Chợ Lớn là một tỉnh riêng biệt gồm 20 hộ, độc lập cùng với tỉnh Gia Định) kinh doanh đất đai, xuất nhập khẩu vải sợi. Ông phất lên nhanh chóng nhờ biết nắm thời cơ những lúc hàng khan hiếm. Trần Hữu Định có biệt thự ở nhiều nơi, và cũng như bá hộ Xường, danh xưng bá hộ Định (hoặc Hộ Định) là do dân Chợ Lớn thấy ông giàu có nên gọi như vậy.

Sau khi ông mất, con cháu không biết giữ của, tiêu xài và xóa sạch vết tích của nhà cự phú này. Năm 1960, trong tác phẩm Sài Gòn năm xưa, cụ Vương Hồng Sển mô tả cơ ngơi của Trần Hữu Định như sau: “Nhà ở khoảng giữa đường Trần Thanh Cần, gần dốc cầu Palikao một đầu và chợ Quách Đàm một đầu. Ngôi nhà năm căn trệt chạm trổ thật khéo, cột cẩm lai bóng ngời ngó thấy mặt; trong nhà từ cái bàn, cái ghế, cái đôn sành đều có vẻ cũ xưa. Mấy năm trước chính mắt tôi còn thấy làu làu vững chắc tuy khuỷnh vườn sân trước đã bị cắt xén sát mặt tiền nhường chỗ làm thềm và đường cái mở rộng nên lấp kênh. Gần đây, vì đất chợ cao giá nên tuy nhà lập làm phần hương hỏa mà con cháu đã bán và dỡ đi. Thay vào đó là một dãy phố lầu tiệm buôn khách trú. Phần hoa lợi tuy có thêm, nhưng thiệt hại về cổ tích từ đây và cứ theo đà này, đô thành Sài Gòn ngày một mất dần những dấu vết xưa...”.

Hà Đình Nguyên


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chanhnguyen, nhuocthuy, Duy Thuc, 8N, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, dailuc, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Chín 03, 2010, 04:57:14 AM »





Trần Trinh Trạch - thân phụ của công tử Bạc Liêu





Sau đây là những nhân vật được xếp vào hạng “tứ”. Họ tuy không sinh trưởng tại Sài Gòn - Chợ Lớn nhưng dân gian vẫn cho rằng câu “nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ...” bao gồm cả khu vực Nam Kỳ lục tỉnh (tứ Trạch, tứ Hỏa).

(Nhà Hội đồng Trạch, Bạc Liêu - Ảnh tư liệu). Trần Trinh Trạch (1872-1942) do từng là thành viên của Hội đồng Tư mật Nam kỳ (Conseil Preivé), nên thường được gọi là Hội đồng Trạch. Ông cũng gốc người Minh Hương, tổ tiên ông theo Trần Thượng Xuyên vào Cù lao Phố (Biên Hòa - Đồng Nai) lập nghiệp rồi phiêu dạt về ấp Cái Dầy (xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu), Trần Trinh Trạch được sinh ra tại đây.

Nhà nghèo, ông đi làm mướn cho một địa chủ đã nhập quốc tịch Tây. Theo lệ thời đó, con cái của dân “Tây tịch” phải đi học tiếng Pháp và thế là Trần Trinh Trạch được mướn đi học thế cho con địa chủ. Nhờ vậy (có chữ nghĩa) nên sau này Trần Trinh Trạch được bổ làm công chức ở Tòa Bố (tòa hành chánh) tỉnh Bạc Liêu. Ông cưới người con gái thứ tư của Bá hộ Bì (Phan Hộ Biết), người có ruộng đất nhiều nhất tỉnh Bạc Liêu. Được cha vợ chia cho một sở đất riêng và giúp vốn để ông mua thêm nhiều ruộng đất khác nên ông mau chóng phất lên. Nhờ kiến thức hiểu biết về luật pháp khi còn làm việc ở Tòa Bố nên lần lượt thu mua tài sản, đất đai của những địa chủ thất vận. Ngay cả sau khi Bá hộ Bì chia ruộng đất cho các con, dâu rể khác thì do máu mê cờ bạc họ lại cầm cố tài sản cho chàng rể thứ tư để ông này lần lượt thâu tóm...





Sau khi Hội đồng Trạch mất, bà vợ sống cô độc giữa một tòa nhà đồ sộ. Chịu hết nổi, bà sang Pháp ở với cô Hai Lưỡng (con đầu của “Công tử Bạc Liêu” Trần Trinh Huy với bà vợ lớn). Cô Hai Lưỡng lấy một viên quan người Việt nhưng sau ly dị rồi qua Pháp lấy một viên thị trưởng. 5 năm sau khi qua Pháp, bà Hội đồng Trạch qua đời, viên thị trưởng người Pháp tẩm liệm bà trong một chiếc quan tài có nắp bằng kính và thuê máy bay chở về an táng tại cố quận. Lần đầu tiên một chiếc quan tài có nắp đậy bằng kính xuất hiện ở Việt Nam. Dân Nam kỳ lục tỉnh đổ xô về cái xứ Cái Dầy (Bạc Liêu), cố dòm cho được khuôn mặt của bà Hội đồng được dồi phấn rực rỡ hiển hiện sau tấm kính. Quả là chuyện hy hữu!


Hồi đó, ở xứ Bạc Liêu, ai được ông Hội đồng Trạch mời tới nhà chơi đều... vừa mừng vừa lo. Mừng là đâu phải ai cũng dễ kết thân với một gia tộc quyền thế bậc nhất này, còn lo là sợ phải... đánh bạc. Là một tay cờ bạc sành sỏi, Hội đồng Trạch thường tổ chức đánh bạc trong nhà, ai không có tiền ông bảo gia nhân mở két bạc, đưa cho cả xấp bạc, kèm theo câu nói nhẹ hều: “Lấy tiền của ông mà chơi, tính toán gì, miễn khách vui là gia chủ mừng !”. Vậy đó, nhưng rồi đã có biết bao nhiêu đất đai, ruộng vườn được “sáp nhập” vô gia sản của Hội đồng Trạch từ hình thức “được” vay tiền để đánh bạc.

 Theo nhiều tài liệu thì Hội đồng Trạch có 70.000 mẫu ruộng, gần 100.000 mẫu ruộng muối (toàn tỉnh Bạc Liêu có 13 sở muối thì riêng ông Trạch có 11 sở). Tuy sống trên núi tiền nhưng vợ của Hội đồng Trạch không ăn được thịt cá, hễ đụng đến các món này thì bà ói ra mật xanh, mật vàng nên suốt đời bà chỉ “nước mắm kho quẹt... muôn năm !”. Ông Trạch lại sống cần kiệm và rất chung thủy với vợ (ngược hẳn với cậu con trai Trần Trinh Huy ăn chơi bạt mạng, với danh xưng “Công tử Bạc Liêu” nổi như cồn).

Ngoài hai dãy phố lầu ở Bạc Liêu, ông Trạch còn có một dãy phố lầu ở đường La Grandière ở Sài Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng). Ông được xem là một trong những đồng sáng lập ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành, đó là Ngân hàng Việt Nam, trụ sở đặt tại Sài Gòn (1927), do ông làm Chánh hội trưởng.

Ở Sài Gòn ông còn hiến tiền để xây một bệnh viện nhưng vì những lý do “trời ơi” mà việc xây dựng cứ bị trì hoãn. Xin đọc một bài báo có tựa là Ông Trần Trinh Trạch không chịu... do cụ Phan Khôi viết trên báo Thần chung (Sài Gòn) số 186 ra ngày 1 và 2.9.1929: “Nhắc lại năm kia ông Trần Trinh Trạch là một nhà triệu phú Nam kỳ, có bỏ ra một số tiền 100.000$ để lập một cái nhà thương cho người An Nam... Món tiền 100.000$ ấy đã nộp cho thành phố Sài Gòn rồi, bây giờ chắc nó nằm trong nhà băng... Từ ông Trần làm việc nghĩa, chẳng những hạng dân nghèo ở thành phố cứ nghĩ sau này mình đau sẽ có chỗ nằm mà cám ơn ông; cho đến các người quyền quý sang trọng, nhứt là quan Thống đốc Nam kỳ, ông Đốc lý Sài Gòn cùng các ông nghị viên, ai nấy đều nức nở khen ông Trần là người hiếu nghĩa. Khen thì khen, nhưng làm thế nào cho có một cái nhà thương cất lên tại Sài Gòn thì không ai chịu làm... Chẳng lẽ ông Trần Trinh Trạch đã chịu mất tiền rồi, còn bắt ổng phải nai lưng ra cất lấy nhà thương nữa!... 100.000$ mà dựng một cái nhà thương thì được, song đã có nhà thương thì mỗi năm tiền tiêu phí ở trong phải hết sáu chục ngàn, mà số tiền ấy không biết lấy ở đâu, nên người ta toan dẹp lại, không cất nhà thương nữa... Nghe chừng như toan đem 100.000$ của ông Trần Trinh Trạch mà đóng giường và sắm đồ vặt cho các nhà thương khác... Thiên hạ đồn rằng ông Trần Trinh Trạch không chịu làm như vậy. Mà ổng không chịu là phải chớ. Ông cúng tiền để cất nhà thương chớ chẳng phải để sắm giường sắm chõng chi hết !... Cứ thẳng mà nói, nếu món tiền ấy bởi thành phố tới tịch nhà ông Hội đồng Trạch mà lấy, thì thành phố muốn làm gì thì làm. Song cái này là của ông cúng ra lập nhà thương và thành phố đã nhận lấy thì phải lập. Bằng không lập nhà thương thì phải trả lại cho ổng là phải. Đem một số tiền to mà làm không nên công việc gì thì sau còn ma nào dám cúng cho thành phố nữa! Thế rồi đừng trách nhà giàu An Nam sao có bủn xỉn !”.

Ông Trạch mất tại Sài Gòn năm 1942 vì bệnh suyễn. Con trai út của ông là cậu Tám Bò (Trần Khương Trinh) nghĩ ra một “chiêu độc”: xác ông Hội đồng được đeo kiếng đen, đặt ngồi ngay ngắn trong chiếc xe hiệu Chevollet đưa về Bạc Liêu. Khi đến địa phận tỉnh này, tá điền hai bên đường cứ cúi đầu cung kính vì ngỡ ông Hội đồng đi thăm ruộng. Đến khi gia tộc phát tang mới bật ngửa. Linh cữu ông Trạch quàn ở dinh thự của ông bên sông Bạc Liêu (xây năm 1919 - nay là khách sạn Bạc Liêu), rạp che từ mặt tiền nhà cho tới mé sông. Đám tang kéo dài bảy ngày, bảy đêm. Bất kỳ ai đến cũng được đãi ăn tử tế, tá điền đến viếng và để tang được cho một cắc (tương đương một giạ lúa)...

Hà Đình Nguyên

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, 8N, nhuocthuy, chanhnguyen, Diệu 8, tadamina, mavuong, nguyenthuy, dailuc, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Hai 04, 2011, 07:34:49 AM »

Huyền thoại một gia đình

Hiếm gia đình nào có đến 8 người con đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ như gia đình cố giáo sư - nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân. Người đi trước dìu dắt người đi sau, họ đã xây đắp nên hình mẫu một đại gia đình hiếu học, tài hoa, chuẩn mực

Dù theo đuổi những chuyên ngành khác nhau nhưng cả 8 người con - 7 trai 1 gái - của cố giáo sư Nguyễn Lân đều chọn nghề làm thầy cao quý, đó là thầy giáo và thầy thuốc.
 
Công cha
 
Phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Cường tâm sự: “Ba tôi đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và ông rất tự hào về điều đó”. Niềm tự hào ấy đã được người thầy lớn truyền lại cho các con từ những ngày ông đạp xe rong ruổi khắp các tỉnh trên Việt Bắc chỉ đạo việc phát triển giáo dục trung - tiểu học.
 
Giáo sư - tiến sĩ - nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng nhớ lại: “Hồi đó, ba tôi làm giám đốc giáo dục Liên khu X (gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên - nay là Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang), sau đó là Liên khu Việt Bắc. Lương hằng tháng của cụ chỉ vài chục cân gạo, quá nửa số đó phải để lại nhà cho vợ nuôi đàn con, phần còn lại mang đi công tác”.
 
Vất vả vượt qua muôn vàn khó khăn trong khói lửa chiến tranh, ông Nguyễn Lân không chỉ dốc hết tâm lực xây dựng ngành giáo dục nước nhà mà còn để lại cho đời sau nhiều giáo trình, bộ từ điển quý như Ngữ pháp Việt Nam, từ điển Muốn đúng chính tả...
Cố giáo sư Nguyễn Lân và vợ - bà Nguyễn Thị Tề

Nghị lực và lửa yêu nghề của giáo sư Nguyễn Lân đã truyền lại cho 8 người con, tất cả đều hiếu học. “Trong thời kỳ khó khăn, mỗi tối, anh em chúng tôi phải ngồi học với cây đèn dầu tự tạo bằng hộp kem đánh răng GIBB đã dùng hết. Gian khổ lắm nhưng ai nấy đều tự giác, hăng hái học tập” - giáo sư Nguyễn Lân Dũng nhớ lại.
 
Có người bảo các con, cháu cụ Nguyễn Lân thông minh, thành đạt là nhờ di truyền nhưng giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng có được điều đó là nhờ sự phấn đấu không ngừng của các thành viên trong gia đình. Ông tâm sự: “Tôi vẫn nhớ như in lời ba tôi dạy, rằng mình là gia đình cán bộ, không có tiền nên các con cố mà học. Ba mẹ chỉ cho các con tri thức, các con cố học mà thành tài”.
 
Ơn mẹ
 
Ít người biết giáo sư Nguyễn Lân (sinh ngày 14-6-1906 ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) vốn là một cậu bé nhà nghèo, được người anh họ nuôi ăn học, song lại có một người vợ hiền, đẹp, là con gái nhà đại điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp.
 
Nét duyên dáng, kiêu sa của bà Nguyễn Thị Tề đã khiến cho thầy giáo trẻ “liều mình” đến tận nhà đại điền chủ xin cưới con gái của ông. Và rồi tư chất thông minh, tử tế của Nguyễn Lân đã chinh phục được đại điền chủ giàu nhất, nhì Hà Nội.
 
Phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể lại: “Tôi rất phục mợ (mẹ) tôi. Lấy ba tôi vất vả nhưng một người lá ngọc cành vàng như mợ tôi lại chẳng bao giờ than thở một câu. Hồi hai người mới lấy nhau, mợ tôi chả biết nấu nướng, mọi thứ ba tôi đều phải dạy. Thế nhưng khi ba tôi đi vào Liên khu X, mọi khó khăn, vất vả mợ tôi đều làm lấy, một tay nuôi dạy đàn con thơ.

Hồi kháng chiến, trên đầu là máy bay, dưới là cảnh chạy tản cư, mợ tôi một tay dắt tôi, tay kia dắt em Hùng, còn chị Chỉnh thì gánh em Tráng, cứ thế mà chạy...”.

Bảy con trai của cố giáo sư Nguyễn Lân (từ trái qua): Nguyễn Lân Tuất, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Lân Cường,
Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Lân Tráng, Nguyễn Lân Việt,
 Nguyễn Lân Trung (riêng người con thứ hai - bà Nguyễn Tề Chỉnh - đã mất). Ảnh: CƯỜNG NGUYỄN

Để có tiền nuôi đàn con ăn học, bà Tề đã phải đi mua quần áo cũ của người tản cư mang lên miền ngược bán. Ngày hòa bình lập lại, bà làm đại lý bán đường cho mậu dịch để kiếm từng đồng. “Nhà tôi nghèo, chật, sống ở tập thể chỉ có mười mấy mét vuông thôi nhưng lúc nào cũng vui vẻ, đầm ấm.
 
Ba mợ tôi thực sự là một tấm gương về nếp sống giản dị, tiết kiệm, không màng công danh phú quý, luôn khoan dung đối với những người xung quanh” - phó giáo sư Nguyễn Lân Cường kể.
 
Với con cái, giáo sư Nguyễn Lân và bà Nguyễn Thị Tề là những nhà tâm lý tuyệt vời. Hiếm khi ông bà nặng lời với các con, chỉ một lần giáo sư Nguyễn Lân đánh con là khi người con cả Nguyễn Lân Tuất nghịch ngợm cắt cụt tóc của chị giúp việc. Sau này, khi các con đã có gia đình riêng, ông khuyên giải “không nên đánh con, vì đánh hay mạt sát bọn trẻ đều thể hiện sự bất lực của mình. Phải khuyên giải cho chúng thấy được điều hay lẽ phải”.
 
Rạng danh
 
Nhờ đức độ của ông Nguyễn Lân - bà Nguyễn Thị Tề mà đại gia đình lớn của ông bà (với gần 60 người) luôn giữ được nền nếp gia phong, trên kính dưới nhường, anh em yêu quý nhau.
 
Không chỉ 8 người con ruột mới là những giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ mà nhiều con rể, con dâu cũng là những trí thức có uy tín. Vợ của giáo sư - tiến sĩ - nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất là phó giáo sư - nghệ sĩ công huân Liên bang Nga Svetlana Kurbetova; chồng của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (đã mất vào năm 1992 vì tai nạn giao thông) là giáo sư Bùi Thế Kỳ, sinh thời là chuyên gia đầu ngành về tim mạch ở Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô.
Trích dẫn
Tám anh em khoa bảng
. Giáo sư - tiến sĩ khoa học - nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất (người con cả của giáo sư Nguyễn Lân): Người Việt Nam đầu tiên được cựu tổng thống Nga Vladimir Putin phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga năm 2001, hiện đang giảng dạy tại Nhạc viện Novosibirsk, Nga.
 
. Tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (người con thứ hai): Nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
 
. Giáo sư - tiến sĩ - nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng (người con thứ ba): Một trong những nhà khoa học đầu ngành vi sinh vật học, chuyên gia cao cấp Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII.
 
. Phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Cường (người con thứ tư): Nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia đầu đàn của bộ môn cổ nhân học; Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, giảng viên Khoa Lịch sử - Đại học Quốc gia Hà Nội.
 
. Giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng (người con thứ năm): Tổng Thư ký Hội Các ngành sinh học Việt Nam, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
 
. Phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Tráng (người con thứ sáu): Giảng viên Bộ môn Hệ thống điện - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
 
. Giáo sư - tiến sĩ - thầy thuốc nhân dân Nguyễn Lân Việt (người con thứ bảy): Viện trưởng Viện Tim mạch, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.
 
. Phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Trung (người con út): Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.


 
Vợ của giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng là đại tá - phó giáo sư - tiến sĩ - thầy thuốc nhân dân Nguyễn Kim Nữ Hiếu, nguyên phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (bà Hiếu là con của cố giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946 đến năm 1975). Các con dâu nhà Nguyễn Lân phần lớn là giáo viên, bác sĩ...
 
Truyền thống hiếu học của gia đình còn lan tỏa sang thế hệ thứ ba. Đại tá Bùi Ngọc Quang, người con cả của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh, hiện là Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin - Bộ Quốc phòng; tiến sĩ Nguyễn Lân Hiếu, con trai của giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nay là chuyên gia tim mạch có tên tuổi, giữ chức Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
 
Em gái tiến sĩ Hiếu, chị Nguyễn Kim Nữ Thảo, hiện đang làm luận án tiến sĩ ở Mỹ. Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng Sơn (con trai của giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng) là một nhà điểu học có triển vọng, đồng thời là Phó Chủ nhiệm Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài ra, còn có tiến sĩ Nguyễn Ngọc Lưu Ly (con gái của phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Lân Trung), tiến sĩ Bùi Ngọc Minh (con trai của tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh)...


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chanhnguyen, Diệu 8, nhuocthuy, tadamina, mavuong, nguyenthuy, dailuc, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Hai 06, 2011, 03:51:36 AM »

Người thợ cuối cùng của nghề độc nhất vô nhị

Không chỉ nổi tiếng bởi đạt được nhiều thành công trong nghề, ông còn là người duy nhất nắm giữ ngón nghề tuyệt chiêu ở Việt Nam không còn ai làm được, nghề “đậu” của kim hoàn.

Ở tuổi 79, nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn vẫn cần mẫn với những tác phẩm kim hoàn mà theo ông “làm để cho con cháu đời sau!”.

Trong căn nhà nhỏ tọa lạc giữa khu vườn rộng trên đường Đào Duy Anh (thành phố Huế), lão nghệ nhân gây ấn tượng với khách bằng sự tinh nhanh và đôi bàn tay như múa lượn trên từng họa tiết của bức tranh “Chùa Một Cột” bằng chất liệu bạc

Lão nghệ nhân dân gian Trần Hữu Nhơn đang tỉ mỉ hoàn thành công đoạn cuối của tác phẩm “Chùa một cột” bằng nghề “đậu”. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ông bảo cả đời chỉ làm đúng một nghề kim hoàn. “Tác phẩm 'Chùa Một Cột' hoàn thành là cả tâm nguyện của tôi bao năm ấp ủ. Nó tạo cho tôi cảm hứng mạnh mẽ, bởi khi làm nó tôi hướng cả tấm lòng về thủ đô mến yêu, tự hào về dân tộc Việt Nam trường tồn, thịnh vượng”, ông Nhơn nói.

Lão nghệ nhân cho biết, thợ kim hoàn chia làm ba nghề gồm: trơn, chạm và đậu. Trơn là kiểu tạo hình có tính cơ bản mà người thợ nào cũng trải qua và làm được. Chạm là dùng vật nhọn để khắc vẽ lên sản phẩm. Đậu là kỹ thuật kéo sợi kim loại ra từng sợi mảnh như tơ để tạo nên một tác phẩm kim hoàn. Đậu phải làm thủ công chứ không thể bằng máy. Ông Nhơn đã chọn nghề đậu để đeo đuổi.

Ông Nhơn đến với nghề kim hoàn như một sự sắp đặt. Mồ côi cha từ khi lên 4, mẹ đã gửi ông sang nhà ngoại ở làng Minh Hương xã Hương Vinh (Hương Trà, Thừa Thiên - Huế). Được cậu ruột là Hoàng Tấn Ích, một chủ xưởng bạc, truyền dạy nghề, ông bắt đầu làm nghề từ đó.

Để mở mang kiến thức, nâng cao tay nghề, ông Nhơn lên phố xin làm ở tiệm vàng Vĩnh Mậu, một trong ba tiệm vàng nổi tiếng, tập trung thợ giỏi nhất ở Huế lúc bấy giờ. Với sự khéo léo, thông minh, cộng thêm đức tính cần cù, ông được nâng lên hàng thợ cả. Khi tay nghề đã cứng, ông ra riêng và mở hàng kinh doanh vàng bạc mang tên Vĩnh Long.


Đôi bàn tay của ông lão tuổi 79 vẫn điêu luyện trong từng đường nét. Ảnh: Văn Nguyễn.

Với ngón nghề “đậu” độc nhất vô nhị, ông được rất nhiều người biết đến, thuê làm những thứ hàng có độ tinh xảo cao. Ban đêm ông còn mở lớp truyền nghề cho thế hệ trẻ tại nhà. "Hồi đó đâu có máy móc như bây giờ, tất cả công đoạn phải làm bằng tay. Hơi cũng phải dùng miệng thổi qua ngọn lửa đèn dầu vào cho vàng bạc nóng chảy rồi thực hiện kéo sợi hoặc hàn, dát”, ông cho biết.

Hơn 60 năm làm nghề, ông Nhơn đã có hàng trăm tác phẩm tinh xảo được công chúng đón nhận và đánh giá cao. Với riêng ông, tượng Phật bà Quan Âm là tác phẩm tâm đắc nhất. Tác phẩm này đã giành giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức vào năm 2008.

“Tác phẩm này được tôi dày công thực hiện trong nhiều tháng trời bằng nghề đậu, với công cụ thủ công. Có rất nhiều người đến xem bức tranh này và ngỏ ý mua với giá hàng chục nghìn đôla nhưng tôi từ chối. Bởi nó là đứa con tinh thần đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui và sự may mắn mà không tiền bạc nào có thể mua được”, ông Nhơn nói.

Trong căn phòng khách ấm cúng của ông có đầy đủ bộ sưu tập giấy chứng nhận danh hiệu, nào là bằng chứng nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam; bằng chứng nhận sản phẩm thủ công tiêu biểu quốc gia, danh hiệu nghệ nhân Thừa Thiên - Huế… Ông cũng được các nghệ nhân kim hoàn bầu làm tộc trưởng tộc kim hoàn Huế.


Tác phẩm tượng Phật bà Quan Âm của nghệ nhân Trần Hữu Nhơn đoạt giải nhì trong Hội thi sản phẩm thủ công Việt Nam năm 2008. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ông Nhơn khẳng định nghề kim hoàn truyền thống không có nhiều lý thuyết hay bí quyết gia truyền như các nghề. Điều ông trăn trở nhất là nghề “đậu” đang đứng trước nguy cơ thất truyền, bởi không chỉ ở Huế mà toàn quốc, ngoài ông ra giờ chẳng ai làm được. Hai người con trai của ông là anh Trần Quang Tuấn và Trần Quang Minh đang nối nghiệp cha làm nghề kim hoàn, nhưng ngón “đậu” tuyệt kỹ của cha, các anh chưa nắm bắt hết.

Mới đây, anh Trần Quang Tuấn, con trai thứ bảy của ông Nhơn đã hoàn thành bức tranh “Bồ Đề Đạt Ma”, làm bằng chỉ bạc tạo hình rất ấn tượng. Nhưng theo ông Nhơn kỹ thuật để làm ra tác phẩm này còn cậy nhiều vào cha. “Tuy nhiên đây là tín hiệu tốt để nó có thể thay tôi nối dài tuổi thọ nghề đậu”, ông Nhơn nói giọng phấn khởi.

Ngoài thời gian dành cho các mặt hàng trang trí, trang sức vàng, bạc, ông Nhơn còn có sở thích nghe nhạc và sưu tầm những bản nhạc xưa, dàn âm thành cổ. Ông có thể ngồi hàng giờ trong phòng để nghe những bản nhạc trữ tình du dương như gợi nhớ về một thời xa vắng.

Nói về những dự định trong năm mới, nghệ nhân Trần Hữu Nhơn tâm sự: “Tới đây, tôi sẽ tiếp tục thực hiện tác phẩm về chùa Thiên Mụ như để cảm ơn mảnh đất kinh kỳ này. Đồng thời tôi sẽ thành lập một phòng trưng bày tác phẩm của mình tại nhà riêng để bạn bè, con cháu có thể đến xem và trao đổi kinh nghiệm mong làm sống dậy nghề đậu”.

Văn Nguyễn(vnexpress)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, Diệu 8, nhuocthuy, tadamina, mavuong, nguyenthuy, dailuc, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Hai 10, 2011, 03:13:36 AM »

Chuyện kể của con trai “Vua săn voi” Ama Kông

Nhiều người đã nghe danh “Vua săn voi” Ama Kông bởi ông không chỉ nổi tiếng trong nước mà cả trên thế giới với biệt tài săn gần 300 con voi rừng. Nhưng chắc hẳn ít ai biết được người con trai đầu của ông cũng là một thợ săn voi rừng thuần thục. Đó chính là Y Kông Knul ở buôn B1 (thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp), người con duy nhất kế được nghiệp săn voi của Ama Kông.

Y Kông Knul diễn tả lại cách cột dây thành vòng số 8 dùng để săn bắt voi.

Săn voi phải kiêng… ngủ với vợ
 
Y Kông Knul năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng dáng người còn khá săn chắc, đôi mắt vẫn tinh nhanh, giọng nói sang sảng. Khi biết tôi muốn nghe kể về chuyện săn voi, Y Kông mỉm cười, chỉ lên tờ giấy chứng nhận thợ săn 37 con voi rừng treo trang trọng ở nơi đẹp nhất ngôi nhà sàn và tự hào nói: “Trong nhà chỉ có mỗi ông là kế được nghiệp săn voi rừng của bố Ama Kông thôi”. Tuy nghề săn voi rừng đã bị cấm từ lâu nhưng những cuộc săn voi kỳ thú ở những cánh rừng Ea Súp vẫn còn nguyên trong ký ức của Y Kông.
 
Tròn 3 tuổi, mẹ mất, hai anh em Y Kông ở với ông bà nội. Tuy không được sống với bố nhưng càng lớn, Y Kông càng được nghe kể nhiều về những chiến công và danh tiếng lẫy lừng của “Vua săn voi”. Và không biết từ lúc nào, niềm đam mê săn voi rừng đã ăn sâu vào suy nghĩ của cậu.
 
Bước sang tuổi 12, Y Kông nài nỉ bố cho gia nhập đội săn voi. Thấy con quyết tâm quá, Ama Kông đồng ý cho đi theo nhưng chỉ được làm thợ phụ, ngồi sau lưng voi nhà và lo chuyện cơm nước.
 
Theo lời Y Kông kể, nhà nào có người đi săn voi phải treo một cành cây xanh ở trước cửa, ngọn quay xuống dưới đất nhằm báo hiệu cho những ai đang có việc kiêng cữ như sinh đẻ, ma chay không được vào để tránh xui xẻo.
 
Trước khi đi săn voi, thợ săn chỉ được ăn cơm với muối, không uống rượu, tránh cãi nhau, kiêng ngủ với vợ, không được tắm bằng xà bông thơm. Nếu ai vi phạm điều cấm kỵ sẽ không săn được voi rừng và còn bị Yàng phạt, hành cho đến chết.
 
Lúc xuất phát, đội săn phải tổ chức nghi lễ cúng báo với tổ tiên bằng một con heo hoặc một con gà và một ché rượu cần để cầu xin Yàng phù hộ gặp nhiều may mắn. Vì là thợ phụ nên theo quy định, Y Kông chỉ được đóng khố, ở trần, không được ăn cá màu trắng, màu đen; ngủ phải nằm thẳng, không được co chân...
 
Một chuyến đi săn voi có khi kéo dài cả vài tháng nên ban ngày họ cứ bám theo dấu vết của đàn voi mà đi, đêm đến ngủ lại trong rừng. Mỗi con voi nhà đi chở hai thợ săn, một chính, một phụ.
 
Thợ chính (Gru) ngồi trước điều khiển voi, thợ phụ (R’măk) ngồi sau để thúc voi chạy nhanh hơn. Khi gặp voi rừng, Gru điều khiển voi nhà rượt đuổi, bao vây, rồi tung cây sào dài khoảng 3-4m, đầu có thòng lọng được bện bằng da trâu vào chân sau của voi, cột vào gốc cây to cho voi rừng thỏa sức vật lộn đến khi thấm mệt thì dẫn về buôn thuần hóa…
 
Cứ thế, lăn lộn cực khổ với đội săn của Ama Kông cho đến năm 17 tuổi, Y Kông được lên thợ chính và tự tay mình bắt được con voi rừng to, cao đến 1,8m. Và khi bắt được 5 con voi rừng, Y Kông không phải đóng khố nữa mà được mặc quần áo, được che mưa, ăn cá trắng…
 
Những năm sau đó, Y Kông được đội mũ, ăn thịt ếch, các loại cá, trứng, nội tạng của động vật… vì số voi rừng ông săn được tăng lên 10, 15 rồi 30 con. Đến khi tuổi của Y Kông đi qua 59 mùa rẫy, số voi săn được lên đến 37 con thì “giải nghệ” vì năm 2003, Nhà nước đã nghiêm cấm săn bắt voi rừng…

Và những trăn trở

Khi đang còn là một thợ săn voi rừng thuần thục, Y Kông đã truyền nghề và huấn luyện được 5 người khác biết săn bắt, thuần phục, huấn luyện và chữa bệnh cho voi rừng. Theo ông, chỉ những thanh niên khỏe mạnh, có lòng đam mê, chịu được cực khổ, biết nghe lời thì mới kiên trì theo đuổi và trở thành một Gru thực thụ.
 
Đến nay, nghề săn voi rừng không còn, những bí quyết, kinh nghiệm săn voi mà ông tích lũy được giờ đã trở thành những câu chuyện kể hấp dẫn. Nhưng đối với ông, những chuyện liên quan đến voi như phá rừng, nhổ trộm lông đuôi voi, hành hạ, đối xử tàn ác với voi… vẫn là nỗi trăn trở ngày đêm.
 
Kính nể trước tài nghệ săn voi và những hiểu biết của Y Kông nên bà con buôn B1 đã tín nhiệm tôn ông lên làm già làng. Nhận thức được lợi ích mà voi mang lại cho cuộc sống con người, trong các buổi họp buôn hay khi có cơ hội tiếp xúc với thanh niên, ông luôn kể nhiều chuyện về voi nhằm hun đúc lòng yêu rừng, ý thức bảo vệ đàn voi của mọi người.
 
Trong những năm 2001-2004, ở thị trấn Ea Súp có nhiều thanh niên lầm lạc, bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ tham gia gây rối, vượt biên trái phép, Y Kông đã cùng các chiến sĩ Công an huyện lặn lội vào rừng sâu để vận động, phân tích điều hay lẽ phải, kêu gọi họ trở về với buôn làng. Vì vậy, Y Kông càng tạo được uy tín, sự tin yêu, kính trọng không chỉ trong cộng đồng người Êđê ở các buôn trên địa bàn thị trấn Ea Súp mà cả với chính quyền nơi đây.
 
Tuy tuổi đã cao nhưng ông vẫn luôn trăn trở làm thế nào để cuộc sống của bà con các buôn khởi sắc nhiều hơn. Chính vì vậy, sau mỗi lần được tham dự Hội nghị già làng tiêu biểu, cùng đoàn già làng đi thăm Thủ đô Hà Nội, viếng Lăng Bác Hồ, ông càng có nhiều chuyện để kể, giáo dục con cháu, vận động bà con tích cực làm kinh tế, ăn ở hợp vệ sinh, loại bỏ dần các hủ tục để xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
 
Theo Nguyễn Xuân (Đắc Lắc Online)



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Diệu 8, nhuocthuy, tadamina, mavuong, nguyenthuy, dailuc, chanhnguyen, SCC, byphuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Bảy 17, 2011, 06:36:39 AM »

NGHỆ NHÂN ĐIÊU KHẮC CUNG ĐÌNH CUỐI CÙNG

Ở Huế, cụ Phan Thế Huề là nghệ nhân điêu khắc gỗ cuối cùng từng phục vụ trong Hoàng cung triều Nguyễn. Năm nay đã bước sang tuổi 95, nhưng ngày ngày cụ vẫn truyền đạt những ngón nghề tuyệt kỹ cho con cháu.

Trong căn nhà nhỏ ở làng Phò An, xã Phú Dương (Phú Vang, Thừa Thiên - Huế), cụ Huề còn trưng bày nhiều tác phẩm gắn với nghiệp làm nghề của mình như "Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa" do chính tay cụ làm từ những năm 1978, bức hoành phi "Vi thiện duy bửu" (lấy thiện làm quý) do cụ chạm trổ, sơn thếp hơn 50 năm trước… Dù tuổi cao, mắt mờ, nhưng nhiều khi cụ Huề vẫn chạm khắc một vài mặt hàng mà theo cụ “làm cho đỡ nhớ nghề”.

Mặc dù tuổi tác đã cao nhưng cụ Huề vẫn còn khỏe mạnh, chiều chiều cụ thường đẩy xe đi dạo quanh làng. Ảnh: Văn Nguyễn.

Cụ kể, năm lên 10 đã theo học nghề thợ chạm với người anh ruột. Thời xưa học nghề rất kỹ lưỡng, thường một người thợ lành nghề phải học mất 10 năm. Nhờ nhanh nhẹn hơn mấy người cùng học tại xưởng nên học được 5 năm, cụ được trả công và cho ra làm riêng. Sau đó cụ lân la tìm hiểu và học thêm nghề sơn son thếp vàng từ các lò sơn thếp truyền thống nổi tiếng ở Gia Hội, Vĩ Dạ.

Trẻ tuổi nhưng cái tên “Huề thợ chạm” ngày đó đã được nhiều người biết đến. Trong một đợt tìm kiếm thợ giỏi để xây dựng và sửa chữa các công trình trong cung vua Bảo Đại, cụ Huề được Bộ Công triệu vào hoàng cung.

Qua kiểm tra tay nghề, Bộ Công phát hiện tài năng của cụ Huề nên giao phụ trách việc sửa chữa các cấu kiện đòi hỏi kỹ thuật cao, như ô hộc chạm trổ, sơn son hoặc thếp vàng các bàn thờ, những ô hộc trang trí quanh hệ thống đố bảng miếu điện tại Thế Tổ miếu, Hưng miếu, Ngọ Môn, lăng vua Tự Đức...

“Được gọi vào cung là vinh dự không chỉ của mình mà của cả dòng họ và anh em cùng làm nghề điêu khắc trong làng nên tôi vui lắm. Tuy không có dịp được diện kiến vua nhưng mình luôn cố gắng làm cho tốt, nhiều lần nghe các quan trong Bộ Công nói lại là vua rất ứng ý với những sản phẩm mà đội thợ làm”, cụ Huề kể lại.


Cụ Huề và Chứng nhận huy chương Bàn tay vàng lần thứ nhất, do Liên hiệp HTX tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp Trung ương trao tặng tháng 6/1978. Ảnh: Văn Nguyễn.

Ngày đó thợ làm trong hoàng cung không theo kiểu khoán công hoặc thầu như hiện nay, mà chỉ giao việc và người thợ làm bao lâu tùy ý. Công việc không quá vất vả nhưng đòi hỏi người thợ phải khéo léo, tỉ mỉ và đặc biệt là phải có tâm với nghề để tạo ra những sản phẩm mang nét cổ kính theo kiến trúc cung đình.

Cách mạng tháng Tám thành công, đội thợ giải thể. Cụ Huề về quê mở xưởng tiếp tục làm nghề chạm khắc, sơn thếp các loại đồ thờ và trang trí nội thất như: liên ba, hoành phi, câu đối, long vị, áng thờ... cho các đình, chùa, am, miếu, nhà thờ họ.

Những năm 1960, cụ được mời vào làm việc tại Trung tâm Khuếch trương tiểu công nghệ (hồi đó đóng tại cung Trường Sanh, Hoàng cung Huế) và được giao phụ trách nhóm điêu khắc, tổ chức sản xuất mặt hàng chạm trổ tinh xảo. Nhiều mặt hàng khó, cần tay nghề cao cụ trực tiếp làm. Được một thời gian, trung tâm này đóng cửa do chiến tranh.

Không biết chữ, nhưng do tay nghề đạt đến độ tuyệt kỹ nên năm 1977-1978, cụ Huề trở thành giảng viên dạy bộ môn Điêu khắc tại Cao đẳng Mỹ thuật Huế (nay là ĐH Nghệ thuật). Dạy học với cụ Huề là việc rất khó, sau nhiều đêm suy nghĩ, cụ quyết định dùng phương pháp truyền miệng và làm mẫu cho học trò nhìn mà làm theo.


Bức hoành phi được nhiều người hỏi mua nhưng cụ Huề nhất quyết không bán mà giữ làm kỷ niệm về nghề. Ảnh: Văn Nguyễn.


Phương pháp dạy học lạ này lại hợp với bộ môn điêu khắc đòi hỏi cái nhìn trực quan và kích thích óc sáng tạo của học trò. Hàng trăm người đã trưởng thành từ xưởng của cụ Huế tỏa đi nhiều nơi mở xưởng, lập nghiệp. Nhiều học trò của cụ đã trở thành những nhà điêu khắc tên tuổi. Riêng cụ từng được Liên hiệp HTX Tiểu thủ công nghiệp trung ương tặng huy chương Bàn tay vàng trong nghề điêu khắc gỗ truyền thống xứ Huế.

“Gắn mình với nghề dạy học trong khi không biết đến một chữ, suy đi nghĩ lại cũng không ổn. Nhiều khi học trò học bài mình dạy xong, mang vở lại hỏi thầy mà mình không biết chữ, thấy xấu hổ quá nên tôi quyết định xin nghỉ", cụ Huề chia sẻ về việc chủ động nghỉ dạy về nhà làm nghề từ năm 1982 đến nay.

Khi mở xưởng tại nhà, nhiều người trong vùng dẫn con đến xin học nghề nhưng mỗi lần cụ chỉ nhận chừng mươi người rồi dạy trong vòng năm năm rồi cho ra nghề. Dạy xong lứa này, cụ mới nhận thêm lứa khác vào học. Ai qua tay cụ đào tạo đều ra mở xưởng và đều thành công với nghề.

Nghề vốn cực nhọc và khó đạt tới trình độ cao nên trong số 8 người con của cụ duy chỉ có con trai út Phan Thế Lâm theo học và được cụ truyền cho những ngón tuyệt kỹ. Đến nay anh Lâm đã mở xưởng riêng. Xưởng sản xuất của anh được nhiều người biết đến là nơi chuyên nhận hàng đặt cao cấp về đồ thờ truyền thống kiểu Huế. Và cụ Huề là người thẩm định đầu tiên tất cả mặt hàng trước khi xuất xưởng.

Nói về tay nghề của cụ Huề, nghệ nhân sơn mài Nguyễn Thiện Quýnh, một người bạn tri kỷ luôn sát cánh với cụ Huề từ hồi thanh niên, cho biết: “Ông Huề là người thợ giỏi trong nghề điêu khắc gỗ truyền thống. Sự giỏi giang của ông thể hiện bằng chính những tác phẩm cực kỳ tinh xảo không chỉ ở trong hoàng cung xưa mà còn ở nhiều đình, chùa… ở Huế bây giờ”.

(theo vnexpress)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười 30, 2011, 12:06:45 PM »

Kỳ bí 'dị nhân' chữa rắn cắn bằng thần chú

Người bị rắn độc cắn, dù nặng đến đâu, nhưng ông chỉ cần dùng ống nứa, ba quả cau, ba lá trầu tươi là người đó khỏi bệnh. Cách chữa trị kỳ lạ của ông rất ly kỳ nhưng lại hiệu quả.

Chữa rắn cắn bằng ống nứa, cau trầu và câu thần chú

Tình cờ tôi nghe một người quen kể về cách chữa rắn độc cắn bằng phương pháp có một không hai của ông Bùi Hồng Thái (73 tuổi), trú tại thôn Châu Sơn, xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vốn không tin vào mê tín dị đoan nên khi nghe câu chuyện nói trên tôi một mực không tin và quyết tâm đến diện kiến bậc cao niên “dị nhân” này.

Con đường về xã Thạch Bình trở nên khó đi hơn do những ngày vừa qua trời đổ mưa khiến nó lầy lội, trơn trượt. Mãi rồi tôi cũng tìm đến được nhà ông khi đã xế trưa, căn nhà cấp bốn đơn sơ nằm ven bên con sông Bưởi thơ mộng.

Ông Bùi Hồng Thái nay đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hi nhưng trông dáng vóc còn quắc thước, nhanh nhẹn lắm. Mái tóc bạc trắng, vầng trán nhô cao là những ấn tượng đầu tiên đọng lại trong tôi khi tiếp xúc với “dị nhân” này.
Chân dung "dị nhân" Bùi Hồng Thái chữa rắn cắn bằng một ống nứa.

Bước vào câu chuyện, ông Thái cho biết, chữa rắn cắn bằng ống nứa và cau trầu là nghề gia truyền bao đời nay của gia đình ông. Mẹ ông là cụ bà Bùi Thị Thao, chính là người tìm ra phương pháp chữa rắn cắn kỳ lạ này.

Chính cụ Thao đã cứu sống rất nhiều người bằng cách chữa trị này.

Sau khi cụ qua đời đã tryền lại cho ông kèm theo lời dặn: “Để trở thành một lương y tốt là việc rất khó, con phải biết trân trọng nghề để tận tâm cứu chữa người bệnh”.

Thừa hưởng bí quyết được mẹ truyền lại cho, ông Thái đã vận dụng nó cứu sống hàng trăm người thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Nói rồi ông thắp hương khấn vái bàn thờ tổ tiên xin lấy vật dùng để chữa rắn cắn cho tôi xem.

Ông Thái kể, dụng cụ chữa rắn cắn của mẹ ông để lại chỉ có một ống nứa và mấy câu thần chú. Khi có người bị rắn cắn dù độc đến đâu nhưng ông chỉ cần lấy ống nứa, ba quả cau, ba lá trầu tươi chia làm 9 miếng đều nhau, sau đó dùng ống nứa, cau trầu thổi 81 lần lên người bệnh rồi đọc mấy câu thần chú là người đó sẽ khỏi ngay, không cần bôi thuốc hay dùng bất cứ một thứ gì khác.

Ống nứa, cau, trầu – những vật mà ông thái dùng chữa rắn cắn.

“Mỗi đời chỉ có thể truyền lại cho một người trong gia đình cách chữa trị này. Người đó phải lĩnh hội được bí quyết mà người trước truyền lại cho mình thì mới chữa trị khỏi bệnh được. Ống nứa mà tôi dùng chữa rắn cắn cho bà con hiện nay là do mẹ tôi để lại, nó được thờ cúng trên bàn thờ tổ tiên, chỉ khi nào có người đến nhờ cứu giúp thì mới thắp hương xin phép đưa ra dùng, xong việc lại để lên bàn thờ cúng”, ông Thái cho hay.

Theo quan sát của chúng tôi, ống nứa chỉ dài khoảng 30cm, bề ngoài ống nứa trơn bóng do sử dụng đã nhiều năm, ngoài ra thì không thấy gì đặc biệt cả. “Bí quyết của nó nằm ở những câu thần chú, mà chỉ có người được truyền nghề biết được, ngoài ra không thể cho ai biết nữa cả”, ông Thái lý giải.

Với cách chữa trị như trên, dù người hoặc con vật bị rắn cắn có nặng đến đâu thì khi được ông chữa khoảng 30 phút sau là khỏe lại, vết thương cũng tự nhiên biến mất và lành lặn như thường.

Khi hỏi về bí quyết về cách chữa bệnh của mình, ông Bùi Hồng Thái thành thật nói: “Thật sự chính bản thân tôi cũng không lý giải được điều đó, có thể đó là một điều tâm linh, duy tâm của ông bà xưa truyền lại, nhưng khi áp dụng vào thực tế thì hoàn toàn hiệu nghiệm. Giờ tuổi già, tôi muốn truyền lại cách chữa bệnh độc đáo ấy cho thế hệ sau, thế nhưng cả sáu người con của tôi vẫn chưa ai lĩnh hội được”.

Đi tìm những nhân chứng từng chữa trị bắng cách thổi ống nứa

Người dân trong vùng cho biết, có tận mắt chứng kiến cách chữa trị của ông Thái thì càng thấy nó ly kỳ vô cùng nhưng cũng rất hiệu quả.

Năm ngoái có một người dân trong vùng vào đừng đốn cúi không may bị rắn cạp nia cắn vào cổ, toàn thân bị thâm đen, bất tỉnh. Ai cũng nghĩ người này sẽ không qua khỏi nhưng khi được ông Thái chữa trị bằng phương pháp dùng ống nứa, cau, thổi 81 lần lên người, đọc thần chú thì người này sau một lúc đã tỉnh lại, dần dần hồi phục và khỏe hẳn.

Một trong những người được ông Thái cứu sống bằng cách trên là Bác sĩ Nguyễn Hữu Việt, nguyên là phó giám đốc bệnh viện đa khoa huyện Thạch Thành cho hay: “Đợt đó tôi bị rắn độc cắn, người nhà nhờ ông Thái đến chữa trị, chỉ với cách làm đơn giản trên, tôi đã thoát khỏi cái chết. Trước đó gia đình có đưa tôi đi bệnh viện nhưng không được, quả thật tôi đã may mắn khi được ông Thái cứu sống. Mặc dù cách chữa trị của ông Thái rất kỳ bí, khó hiểu, thậm chí là rất tâm linh nhưng lại hiệu quả vô cùng, tôi là Bác sĩ lâu năm mà cũng rất nhạc nhiên về cách chữa trị này. Dù sao đây cũng là một việc đáng mừng cho người dân trong vùng vì quê tôi là đồi núi, rắt rết rất nhiều, người bị rắn cắn xảy ra thường xuyên nên ông Thái là cứu tinh cho bà con nơi đây khi bị rắn cắn”.

Nhiều trường hợp khác bị rắn cắn nặng hơn ông Việt như trường hợp của anh Bùi Văn Sơn, trú tại xã Thành Long, cháu Bùi Thị Lan, ở xã Thạch Bình bị rắn cạp nia cắn tưởng không qua khỏi nhưng khi được ông Thái chữa trị đều qua cơn nguy kịch. Hiện tại, họ vẫn sống khỏe mạnh và không hề có di chứng gì để lại.

Khi chữa vết thương bị rắn cắn, ông Thái chỉ cần dùng ống nứa thổi vào cơ thể người bệnh kết hợp 3 quả cau, 3 lá trầu bổ làm 9 phần bằng nhau là khỏi ngay.

Hay như trường hợp của anh Trương Văn Hạnh, trú tại thôn Yên Phú, xã Thạch Bình cũng tương tự như vậy. Anh Bình cho biết: “ Năm ngoái tôi bị rắn cạp nia cắn, nọc độc quá mạnh, phát tán rất nhanh, chỉ sau mấy phút bị rắn cắn toàn thân tôi đã cứng đờ, gia đình tưởng không qua khỏi nên đã chuẩn bị hậu sự, người thân ai nấy khóc ầm lên. May mắn thay, có người hàng xóm sau khi biết sự việc đã nói người mời ông Thái đến chữa trị cho tôi. Sau hơn 30 phút được ông thái chữa trị tôi đã tỉnh dậy, cảm giác đau đớn do rắn cắn dần biến mất và sau đó thì tôi khỏe hẳn. Tôi cũng không biết được ông thái chữa bằng cách nào nhưng có điều là ông ấy không chạm vào cơ thể và vết thương trên người tôi, thế mà sau đó tôi lại khỏi, đúng là một điều thần kỳ”.

Làm phúc cứu người không màng danh lợi

Cho đến nay, khi được hỏi về những nạn nhân bị rắn cắn được ông chữa trị thì bác Bùi Hồng Thái cũng không nhớ nổi nữa. Nhưng chắc chắn một điều là con số đó lên đến hàng trăm người.
Ông Bùi Hồng Thái vốn là một nhà giáo về hưu, trước đây ông học ngành sư phạm chứ không phải là nghành y. Sau khi ra trường ông làm ở phòng giáo dục huyện Thạch Thành và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng ở nhiều trường THCS, tiểu học trong huyện. Mãi năm 1988, ông mới nghỉ hưu khi đang giữ chức vụ Phó hiệu trưởng Trường tiểu học Thạch Cẩm.

Mặc dù đã cứu nhiều người thoát khỏi tay thần chết nhưng chưa bao giờ ông Thái màng đến danh lợi hay hậu tạ của gia đình nạn nhân. Với ông Thái, chữa rắn cắn ông không xem là một nghề mưu sinh mà đó là cái tâm làm phúc, cứu người. Những người đưa người thân bị rắn cắn đến nhờ ông cứu không được nhắc đến chuyện trả ơn. Ông chỉ coi như họ gặp nạn đến xin thuốc của tổ tiên mình nên nhiệt tình giúp chứ không màng đến vật chất. Người thành tâm thì mua một chai rượu, lạng chè và vài quả cau trầu để thắp hương dâng lên Thánh sư, tổ tiên của ông là được.

Cũng chính vì cái tâm cao cả đó của ông mà nhiều người sau khi được ông cứu chữa khỏi bệnh quay lại hậu tạ ông bằng cách nhận ông làm cha nuôi. Và tất nhiên ông Thái rất vui mừng vì điều đó. Người dân ở đây thường nói vui, cả cái vùng này không ai nhiều con bằng ông Thái, không phải ông sinh nhiều mà chủ yếu là con nuôi. Hiện tại ông có trên 30 người con nuôi. Họ là những người bị rắn cắn được ông chữa trị, xem ông là ân nhân cứu mạng sống của mình, tất thảy họ đều xem ông như cha của mình. Ông Thái cũng rất tự hào khi được bà con nói như vậy.

Giờ đây, bước sang cái tuổi 73, ông Bùi Hồng Thái vẫn tận tâm cứu chữa những người bị rắn độc cắn. Ngay trong căn nhà nhỏ ba gian của gia đình, ông vẫn dành riêng một nơi để đặt chiếc giường cho những người đến nhờ ông chữa trị có chỗ ngả lưng và sau khi chữa bệnh được nghỉ ngơi. Hiện ông là Trưởng ban chấp hành Hội người cao tuổi thôn Châu Sơn.

(Theo Bưu điện Việt Nam)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, byphuong
Logged
 
 
Trang: [1]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.217 seconds với 24 câu truy vấn.