Tháng Chín 27, 2020, 03:37:50 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Cái váy và cái quần của các bà  (Đọc 11949 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười Hai 26, 2010, 01:04:04 AM »

ÁO DÀI XƯA VÀ NAY
NHỮNG NGỘ NHẬN...

Họa sĩ Cát Tường có phải là cha đẻ ra chiếc áo dài hiện đại ?
Năm 2006, sau khi đọc trong Thế Kỷ 21 (số 201 & 202) loạt bài khẳng định ông
Cát Tường - Lemur (1911- 46) là "cha đẻ ra chiếc áo dài hiện nay", "chính ông là người đầu tiên đã biến chiếc áo tứ thân thành áo hai vạt" và "trước đó phụ nữ Việt Nam đều mặc áo tứ thân"... tôi sững sờ. Rõ ràng mẹ tôi (sinh năm 1900) và bà ngoại, bà nội tôi đều chưa bao giờ xỏ tay vào chiếc áo tứ thân, toàn mặc áo hai vạt, mà mãi đến 1934 ông Cát Tường mới đưa ra "bản tuyên ngôn" về vấn đề cải cách y phục, nói rõ quan niệm căn bản của ông trong báo Phong Hóa. Ngoài ra, trong tay tôi ngay lúc ấy còn có mấy bằng chứng cho thấy áo dài hai vạt đã xuất hiện từ trước năm 1934 :

- Ảnh năm 1922 của Busy, đen trắng, chụp một thiếu nữ đóng vai quân cờ người ở vùng phụ cận Hà Nội (tôi đã cho in lại trong bài "Tết Nguyên Đán và Lễ Nghênh Xuân" ,"Lối Xưa Xe Ngựa...", tập II, 2002). Thiếu nữ mặc áo dài hai vạt không nối sống, cổ áo không gài khuy, quần đen ;

- Ảnh khoảng 1915-20, chụp bẩy thiếu nữ cũng đóng vai quân cờ người tại vùng ngoại ô Hà Nội, mặc áo hai vạt mầu hồng, cổ áo không gài khuy, vấn khăn xanh lam hoặc xanh nõn chuối, quần đen. Đấy là những chiếc ảnh mầu đầu tiên trên thế giới, của A. Kahn ;
- Tranh của bà de Bassilan vẽ một phụ nữ miền Nam mặc áo hai vạt trông rõ cả đường khâu nối hai thân ở chính giữa vạt trước, in kèm bài "Des habitants de la Cochinchine" viết ngày 8/1/1859, không đề tên tác giả, được in lại trong L'Indochine, Illustration.

Như vậy đủ chứng tỏ trước ông Cát Tường phụ nữ Việt Nam không phải ai cũng mặc áo tứ thân và người biến cái áo tứ thân ra áo hai vạt không phải là ông Cát Tường.

Vậy ông Cát Tường đã đem lại những gì cho chiếc áo dài để được hầu hết những người tôn vinh áo dài khẳng định ông chính là "cha đẻ" ra chiếc áo dài hiện đại ? Trước hết chúng ta cần tìm hiểu y phục phụ nữ Việt Nam thời xưa qua sử sách.

I - SƠ LƯỢC CÁC KIỂU Y PHỤC TRƯỚC ÁO LEMUR

Không ai biết áo dài xuất hiện từ bao giờ và những chiếc áo dài đầu tiên hình dáng ra sao.

Có truyền thuyết nói "Khi hai Bà Trưng ra trận đã cưỡi voi, mặc áo hai tà giáp vàng, che lọng vàng, trang sức thật lộng lẫy...". Nhưng trong Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thì Sĩ chỉ viết "Khi Bà Trắc ra quân, chưa hết tang chồng, mặc quần áo đẹp, các tướng thắc mắc, bà trả lời :"Việc binh phải tòng quyền, nếu giữ lễ khiến dung nhan xấu xí là tự làm giảm nhuệ khí nên ta mặc đẹp để làm cho thế quân hùng tráng, lũ kia thấy thế tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu thì ta dễ có phần thắng". Không có câu nào nhắc tới áo vàng, lọng vàng. Có lẽ người đời sau nghĩ là vua tất phải mặc áo vàng. Song trong Lịch Triều Hiến Chương - Quan Chức Chí (tr 103) Phan Huy Chú lại viết :"Từ đời Lý, Trần về trước, mũ áo của vua thế nào không thể khảo cứu được. Còn như sắc áo thì hình như trước không có quy chế nhất định. Lê Đại Hành (980-1005) dùng thứ vóc đỏ, đến Lý Cao Tông (1176-1210) mới cấm nhân dân trong nước không được mặc áo sắc vàng, thế thì hoàng bào trước kia chưa phải là đồ dùng riêng của vua chúa". Huống chi, nếu tôi nhớ không lầm, thì ở Trung quốc mãi đến đời Tùy, thế kỷ VI, mới ấn định mầu vàng dành riêng cho vua dùng mà Hai Bà đã mẩt từ thế kỷ I.

Lại có người cho áo tứ thân có từ đời nhà Lý, nhưng không đưa ra bằng chứng. Đến mũ áo vua chúa đời Lý mà Phan Huy Chú còn không tra cứu nổi thì làm thế nào biết dược y phục của dân đen ? Đời xưa viết sử chỉ chú trọng đến vua chúa, các danh nhân và những biến cố quan trọng, không mấy ai lưu tâm đến y phục nhân dân.

- THẾ KỶ 17 - Những chi tiết ghi chép trong sách sử xưa nhất tìm được về y phục thường dân là từ thế kỷ 17.

* Áo mớ ba, mớ bẩy.Thuở nhỏ tôi từng nghe nhắc đến áo mớ ba, mớ bẩy song chỉ được thấy mẹ tôi mặc áo mớ đôi hoặc mớ ba, chưa bao giờ trông thấy áo mớ bẩy. Đó là những chiếc áo dài mặc lồng vào nhau, áo ngoài thường mầu sẫm như nâu, đen, có thể là hàng trơn hay dệt hoa bóng trên nền mờ hoặc ngược lại, những chiếc áo mặc trong toàn mầu tươi vui như hồ thủy, hồng phấn, hoàng yến... Phong tục muốn dân chúng phải tỏ ra khiêm tốn trong cách ăn mặc, áo ngoài phải dùng những mầu nhã nhặn, không được khoe khoang, lộ liễu, áo mầu lòe loẹt thì phải giấu bên trong.

Sau này, tình cờ tôi đọc Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine(1631) của Giáo sĩ C. Borri mô tả y phục phụ nữ miền Nam gồm nhiều áo khác mầu lồng vào nhau nên đoán có lẽ chính là loại áo mớ ba, mớ bẩy. Tuy vậy, có những chi tiết khiến tôi ngờ ngợ không chắc là áo dài, không rõ vì tác giả thiếu minh bạch hay người dịch sang tiếng Pháp không hiểu rõ tiếng Ý nên đã dịch sai bậy :"Y phục phụ nữ có lẽ nhã nhặn, kín đáo nhất so với (y phục) toàn thể Ấn độ vì nó không để hở một chỗ nào trên thân thể, ngay cả những khi trời nóng bức nhất. Họ mặc có đến năm, sáu lớp áo chồng lên nhau, mỗi cái một mầu. Cái ngoài cùng dài chấm đất, kéo lê đi một cách trang trọng, quý phái, không ai có thể trông thấy ngón chân họ. Lớp áo thứ nhì nằm dưới, ngắn hơn lớp trước chừng 4 hay 5 ngón tay ("ngón tay" đo theo chiều ngang), lớp thứ ba lại ngắn hơn lớp thứ nhì, cứ đều đặn như thế... khiến cho tất cả các mầu áo dều được trông thấy. Đây là phần dưới từ bụng trở xuống. Nửa trên là những chiếc áo ngắn ôm thân người, gồm các ô trắng và mầu xen kẽ nhau như bàn cờ, mỗi lớp một mầu khác (1), bên ngoài phủ một thứ hàng mịn và thưa khiến ta có thể dễ dàng trông suốt qua được. Tất cả những mầu sắc hỗn độn ấy tiêu biểu cho mùa xuân tươi thắm, duyên dáng, đồng thời lại cũng rất trang trọng và nhũn nhặn. Nam giới cũng mặc năm, sáu lớp áo dài và rộng bằng lụa mịn đủ các mầu, ống tay dài và rộng (...). Từ thắt lưng trở xuống xung quanh cắt lôi thôi (2) thành thử khi ra đường gập cơn gió nhẹ, tất cả các mầu sắc tung bay, quyện vào nhau trông chẳng khác gì những con công xòe đuôi khoe bộ lông sặc sỡ".

Ngày nay ta còn thấy vết tích kiểu áo này ở những bộ áo tế của nam giới, áo ngoài bằng sa mỏng mầu lam hay đen trông suốt qua thấy rõ chiếc áo lót bằng vải trắng bên trong, và chiếc áo kép (đã có từ trước 1776, theo Lê Quý Đôn), mặt ngoài vẫn mầu đen hay nâu..., áo trong biến thành cái lót (doublure) vẫn dùng những mầu sặc sỡ.

* Lê Triều Chiếu Lịnh Thiện Chính chép là năm 1665 có sắc lệnh :"Áo đàn ông thì có thắt lưng và quần có ống chân, áo đàn bà con gái thì không có thắt lưng, quần không có hai ống, từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế. Bọn hát xướng ở hý trường thì không theo cấm lệnh này. Ai trái lệnh (...) bắt được quả tang sẽ phạt năm quan cổ tiền, nộp vào công khố".

* Tavernier trong Relation nouvelle et singulière du Royaume de Tunquin (1681) tả y phục phụ nữ miền Bắc là "trang trọng và nhã nhặn. Nam nữ mặc tựa như nhau. Áo dài chấm gót, giữa có buộc thắt lưng bằng lụa, xen lẫn kim tuyến và ngân tuyến, mặt trái mặt phải đều đẹp như nhau (...) Họ sản xuất rất nhiều tơ tầm, dân chúng giầu cũng như nghèo đều mặc tơ lụa". Ông còn vẽ cả tranh minh họa. Tavernier đã đi du lịch nhiều nơi nhưng chưa đặt chân đến Bắc kỳ, những chi tiết viết trong sách dựa vào sự hiểu biết của người em ông đã nhiều phen đến Đàng Ngoài, và những lần ông nói chuyện với người Bắc mà ông gập ở Batavia.

- THẾ KỶ 18 - Cũng vì thế nên S. Baron, sinh trưởng ở Kẻ Chợ (Thăng Long), trong Description du Royaume de Tonquin, dịch sang tiếng Pháp năm 1751, tuy công nhận dân Việt thời ấy, giầu hay nghèo, đều mặc tơ lụa vì giá rất rẻ, nhưng chỉ trích Tavernier là viết sai sự thật. Theo Baron thì y phục người Việt là những chiếc áo dài, tựa như áo Trung quốc, hoàn toàn khác với áo Nhật bản. Tranh của Tavernier vẽ cho thấy người Việt có dùng thắt lưng, đó là điều hoàn toàn xa lạ đối với họ". Baron là con lai, mẹ người Việt, tất hiểu rõ phong tục Việt Nam hơn.

* Một số người viết về lịch sử áo dài đại khái như sau : "Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-65) được coi là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam... Cho đến thế kỷ 18 người Việt thường hay bắt chước lối ăn mặc của người phương Bắc (Trung quốc)... Để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương ban hành sắc dụ về ăn mặc, lấy thể chế áo mũ trong Tam Tài Đồ Hội làm kiểu mà tạo ra chiếc áo dài, cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong theo đó thi hành. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên có chép sắc dụ này :"Thường phục thì đàn ông đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì hai nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn, ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép". Và còn thêm là Lê Quý Đôn, trong Phủ Biên Tạp Lục, chép rằng Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy. Do đó có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cổ truyền, cố định đã ra đời".

Tôi thấy không ổn ở chỗ Chúa Nguyễn muốn giữ "bản sắc văn hóa riêng", bắt dân cải sửa lối ăn mặc cho khác người Trung quốc mà lại lấy mẫu quần áo từ Tam Tài Đồ Hội của Trung quốc thì không hợp lý. Tôi không còn hai bộ Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Phủ Biên Tạp Lục trong tay nên có nhờ người tìm hộ trong Đại Nam Thực Lục Tiền Biên  đoạn nói về sắc dụ của Chúa Nguyễn nhưng không tìm ra. Tôi đến hiệu sách đọc bản dịch khác nhưng cũng không tìm thấy nên chỉ mua Phủ Biên Tạp Lục. Tuy nhiên, tôi lại thấy trong Lịch Sử : Xứ Đàng Trong của Phan Khoang những chi tiết khác hẳn :

tr 616-17: Hoàng Ngũ Phúc, năm 1776, sau khi chiếm Thuận Hóa, đã ra lệnh :"Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng tuân theo quốc tục. Nay dẹp yên biên phương, chính trị và phong tục phải được tề nhất. Nếu còn có người mặc quần áo kiểu người Khách thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. May y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng đều không được theo thói cũ tiếm dùng. Thường phục thì đàn ông đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay hẹp hay rộng tùy ý. Áo thì từ hai bên nách trở xuông phải may kín, không cho xẻ hở. Duy đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc cũng cho, Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh lạt hay vải đen vải trắng tùy nghi. Còn viền cổ hay kết lót thì đều theo như hiểu dụ năm trước mà chế dùng".

tr 615 : tương truyền Đào Duy Từ (1572-1634) bầy mưu chống đối họ Trịnh, khuyên chúa Hy Tông bắt dân thay đổi tập tục cho khác dân Bắc như bỏ áo bốn thân, phô bầy yếm, mà mặc áo năm thân gài khuy, bỏ váy mặc quần v.v...

Và tác giả cũng cho biết là chép theo Vũ Biên Tạp Lục (Vũ hay Phủ cùng có nghĩa là "vỗ về" (yên dân).

Tôi tìm trong Phủ Biên Tạp Lục, lại thấy có sự bất ngờ khác :

tr 241 : "Năm Giáp Tý niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 5 (1744), Hiểu Quốc Công Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu. Áo mão chế theo sách Tam Tài Đồ Hội (...) "bắt con trai con gái hai xứ Thuận Hóa , Quảng Nam phải đổi cách ăn mặc, dùng áo quần như người Trung quốc, cốt tỏ cho thấy sự thay đổi hẳn lề lối ăn mặc của người xưa. Đàn bà con gái hai xứ phải mặc áo ngắn, chật ống tay như áo của đàn ông (...). Chỉ trong khoảng hơn 30 năm thành thói quen, quên cả phong tục cũ" (tức phong tục miền Bắc).

tr 242 : "Năm Bính Thân (1776) (3), lập Nha môn Trấn Phủ, quan Hiệp trấn (Lê Quý Đôn) hiểu thị cho dân :"Y phục nước nhà xưa nay vốn đã có chế độ. Địa phương này trước kia đã tuân theo quốc tục (...) chính trị, phong tục phải thống nhất. Những ai hiện nay còn mặc y phục theo người Khách thì phải thay đổi theo quốc tục (...) Áo quần may bằng vải lụa thông thường. Quan chức mới được mặc xen sa, trừu, đoạn (...) Thường phục thì đàn ông đàn bà chỉ mặc áo ngắn tay, cổ đứng, cửa ống tay rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu liền vào cho kín, không được hở hang. Đàn ông muốn mặc áo cổ tròn và cửa ống tay hẹp để tiện làm việc cũng được phép. Lễ phục phải dùng áo cổ đứng và ống tay dài hoặc dùng thứ may bằng vải mầu xanh chàm, mầu đen hay trắng tùy nghi. Những ai được dùng áo viền cổ và áo kép đều phải tuân theo hiểu thị từ năm trước mà chế dùng". Sở dĩ Lê Quý Đôn, Trấn thủ Thuận Hóa năm 1776, phải ra hiểu thị này vì dân chúng Thuận Hóa giầu có, bắt chước nhau ăn mặc xa xỉ, dùng các mầu tươi đẹp.

tr 13- Trong bài Tựa Phủ Biên Tạp Lục. Lê Quý Đôn cho biết thêm những điều ông đã thực hành khi cai trị Thuận Hóa, đặc biệt về y phục :"Chuyển đổi cách ăn mặc dị dạng cũ để theo phong hóa chung của quốc triều (...) Khoan thứ cho một thời hạn trước khi bắt buộc ai nấy cùng phải thay đổi hẳn kiểu ăn mặc cũ".

Tôi tin Lê Quý Đôn hơn vì không những ông là người đương thời, người trong cuộc, mà các chi tiết đưa ra có đầu có cuối : vì Chúa Nguyễn bắt dân ăn mặc theo Trung quốc (1744) nên hơn 30 năm sau (1776) khi Lê Quý Đôn vào trấn thủ Thuận hóa mới cải sửa bắt dân trở lại quốc phục. Hoàng Ngũ Phúc là võ tướng chỉ đánh dẹp, việc cai trị là phận sự của quan văn.

* Louis-Gabriel MULLET DES ESSARTS tả trong Voyages en Cochinchine 1787-1789 : "Áo của phụ nữ xẻ đằng trước từ trên xuống dưới, bắt tréo trước ngực và để lộ chiếc quần lụa. Tôi không dám chắc là họ không có giầy nhưng tất cả những người tôi gập đều đi chân đất, đàn ông cũng như đàn bà".

- THẾ KỶ 19

* 1828 Vua Minh Mệnh xuống chiếu bắt phụ nữ bỏ váy mặc quần, đã làm đề tài cho bốn câu thỏ giễu cợt ai cũng biết :

Tháng tám có chiếu vua ra :
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang ?


Rành rành "chiếu vua" như thế mà cũng còn có người dậy học trò là lệnh này do thực dân Pháp ban hành !

* Michel Đức Chaigneau là con lai, mẹ người Việt, cha là một trong hai người Pháp làm quan với nhà Nguyễn thời Gia Long, Minh Mệnh. Sinh trưởng ở Phú Xuân, Chaigneau Đức viết trong Souvenirs de Huê khá tỉ mỉ về y phục phụ nữ "Vợ những người buôn bán hay công chức nhỏ thì mặc một áo vải ngắn, mầu đen hay chocolat, quần lụa đen hay vải trắng. Dân chúng, thợ thuyền giới hạ lưu, đàn ông như đàn bà, ăn mặc rât tồi tệ. Đàn ông chỉ đánh một cái quần vải trắng hay mầu cháo lòng, dài tới đầu gối, buộc ngang lưng bằng một cái giải rút dài, buông thõng hai đầu ở trước bụng... Có người mặc áo vải ngắn mầu trắng hay nâu, thường là rách rưới, vá víu, dài chưa tới đầu gối, để lộ ống chân rám nắng. Phụ nữ ăn mặc cũng tựa như thế, chỉ khác áo dài hơn, ống tay áo rộng, quần và nón rộng hơn. Từng lớp trưởng giả sang trọng thì mặc áo mớ đôi bằng tơ lụa trông suốt qua được, quần lụa đến bụng chân".

* Thái Đình Lan (1801-1859), người Đài Loan, năm 1835 đi thi Hương rồi về bằng đường thủy, gập bão tố, trôi dạt tới Quảng Ngãi, năm sau mới theo đường bộ trờ về. Đi từ mùa thu năm trước đến mùa hè năm sau mới về đến Phúc Kiến, qua 14 tỉnh nước An Nam như Phú Xuân, Nghệ An, Thanh Hóa, Thường Tín, Lạng Sơn, Thái Bình... qua Trung quốc rồi mới về được quê nhà. Ông viết quyển Hải Nam Tạp Trứ, ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ở nước Nam. Về y phục ông cho biết :

tr 171 :"Có hai quan chức đến áp mạn thuyền chúng tôi (để kiểm tra). Họ đều chít khăn lụa đen, mặc áo tay hẹp, quần lụa điều, đi chân trần (các quan Việt Nam đi đâu đều đi chân đất), áo mặc không phân biệt nóng lạnh, ngay giữa mùa đông cũng mặc áo quần lụa mỏng. Người quyền quý phần nhiều dùng hai mầu xanh lam và đen ; khăn chít đầu cũng thế, quần thì đều mặc quần lụa điều".

tr 243 :"Đàn bà ra ngoài buôn bán, để búi tó, chân đất, dùng vải đũi vấn quanh đầu, đội nón bằng đấu, mặc áo lụa đỏ thẫm, ống tay áo hẹp, áo dài chấm đất, không mặc váy, không thoa son phấn, tay đeo chuỗi ngọc, hạt mã não hoặc vòng đồng".

* Áo giao lĩnh - Chưa rõ xuất hiện từ bao giờ, tôi tạm xếp vào thế kỷ 19 vì được coi là "xưa nhất", đã ra đời trước áo tứ thân, tuy không ai đưa ra bằng chứng cụ thể. Áo giao lĩnh giống áo tứ thân, chỉ khác hai vạt đằng trước buông thõng, giao nhau chứ không buộc vào nhau ở trước bụng. Có lẽ người ta thấy áo giao lĩnh "lụng thụng", bất tiện cho người làm việc lao động nên đoán sau đó mới chế ra kiểu áo tứ thân gọn ghẽ hơn.

* Áo tứ thân - Là kiểu áo có bốn thân, hai thân của vạt sau nối sống theo chiều dọc, hai thân đằng trước buộc vào nhau ở trước bụng, để hở cho thấy yếm bên trong. Thắt lưng các mầu tươi thắm như hồng đào, hồ thủy, hoàng yến, xanh nõn chuối, lá mạ... luồn dưới vạt sau, buộc múi trước bụng rồi thả xuống. Cái thắt lưng này có thể là cái "ruột tượng" hay "hầu bao" hình cái ống dài, ngoài tác dung trang trí và giữ áo cho khỏi lòe xòe còn dùng để đựng tiền, bằng cách thắt một nút rồi đút tiền vào, lại thắt một nút khác để giữ cho tiền khỏi tuột ra, buộc vào lưng thì không sợ tiền rơi hay bị kẻ cắp.

Có người giảng "tứ thân" tượng trưng cho phụ mẫu đôi bên, hai thân trước buộc vào nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, quấn quýt lấy nhau... Thú thật bây giờ tôi mới được biết những lời giảng giải uyên bác này. Thoạt nghe cũng thấy hữu lý nhưng tôi ngờ là do người đời sau bịa đặt thêm vào cho văn vẻ chứ không chắc người sáng chế ra áo đã nghĩ thế, trừ phi là bắt chước Trung quốc. Nếu hai thân trước buộc vào nhau tiêu biểu cho tình nghĩa vợ chồng thắm thiết thế thì khi hai vạt áo (giao lĩnh) buông thõng, rời nhau ra, chắc hẳn tượng trưng cho hai vợ chồng đã ly thân ? Thế thì áo giao lĩnh phải xuất hiện sau áo tứ thân, không ai ly dị trước khi yêu nhau thắm thiết !

* Áo đổi vai - Gần giống áo tứ thân, khác ở chỗ vạt sau không phải chỉ giản dị nối hai thân, mà mỗi thân lại gồm hai mảnh : phía trên vai mỗi thân có chắp một mảnh vải dài độ vài gang tay, nhưng đôi bên so le cái dài, cái ngắn chứ hai mảnh vai trái và vai phải không đều nhau, và thường là vải mầu đậm hơn thân áo, thí dụ áo mầu nâu non thì mảnh trên vai mầu nâu sẫm hay đen. Thời tôi, cũng như áo tứ thân, áo đổi vai đều bằng vải, do người miền quê mặc chứ không phải người thành thị.

* Áo ngũ thân - Hai vạt trước và sau đều do hai thân nối sống, dưới vạt cả đằng trước còn một vạt con nhỏ hẹp, dài bằng vạt cả. Ổ lưng chừng vạt con khoảng ngang đầu gối, có đính một cái giải để buộc vào vạt cả, chỗ đường nối sống. Thuở nhỏ tôi đã từng mặc áo "ngũ thân" mà không biết, chỉ biết gọi là "áo dài", mầu áo thế nào cũng không nhớ nhưng nhớ như in là phải "vất vả" buộc giải vạt con vào vạt cả mỗi khi mặc áo.

Có người đoán áo ngũ thân xuất hiện từ thời Gia Long vì mặc nó thì phải mặc với quần chứ không mặc với váy. Nhưng theo Phan Khoang thì loại áo ngũ thân gài khuy mặc vói quần đã do Đào Duy Từ (1572-1634) khuyên Chúa Nguyễn nên bắt dân mặc để khác với tập tục miền Bắc của Chúa Trịnh.

Ý nghĩa của áo ngũ thân : bốn thân tượng trưng cho đôi bên phụ mẫu, vạt con tượng trưng cho người mặc áo, năm cái khuy tượng trưng cho ngũ thường của đạo Nho (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Sinh cha mẹ (tứ thân) rồi mới sinh con là hợp lý. Có điều chiếc vạt con này về sau bị cắt ngắn đến thắt lưng, rồi bây giờ biến mất chỉ giữ lại cái mép đủ chỗ để đính khuy thì phải giảng ý nghĩa thế nào cho hợp lý ? Tôi đề nghị là tại người mặc áo đã ngả theo đạo Phật nên "có cũng như không" mà "không cũng là có", "sắc sắc không không".

II- THẾ KỶ XX - ÁO LEMUR VÀ ÁO "TÂN THỜI"

* Áo Lemur - Năm 1934, họa sĩ Cát Tường Lemur đã đưa ra "bản tuyên ngôn' nói rõ quan niệm căn bản của ông về cải cách áo dài, trên tờ Phong Hóa :
"Các nhà đạo đức thường nói quần áo chỉ là những vật dùng để che mưa nắng, nóng lạnh, ta chẳng nên để ý dến cái sang cái đẹp của nó làm gì (...). Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ cũng đủ hiểu. Y phục của người các nước Âu Mỹ không những rất gọn gàng, hợp với khí hậu xứ họ mà kiểu mẫu lại rất nhiều và rất đẹp. Như thế đủ tỏ rằng họ có một cái trình độ trí thức rất cao, một nền văn minh rất rõ rệt và luôn luôn tiến bộ. Y phục của các bạn gái, tôi xem thấy có nhiều điều bất tiện mà lại không có vẻ chi là mỹ thuật. Tuy rằng vài năm gần đây cũng có một vài phần sửa đổi (...) chẳng qua chỉ ở mấy cái mầu sắc sặc sỡ, mấy thứ hàng lạ nước ngoài (...) còn thì vẫn kiểu áo lòe xòe ấy, vẫn cái quần lụng thụng đen ngòm ấy. Hoặc giả cũng có người ưa mặc quần trắng song tiếc rằng số đó vẫn rất ít (...). Cần sửa đổi dần :Trước hết phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, mực thước của thân hình mỗi bạn. Sau nữa phải gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự (...) cũng phải có tính cách riêng của nước nhà".

Đó là phần thuyết lý. Xin sơ lược sau đây những đặc điểm cụ thể của áo dài Lemur :

1- Cổ áo : Cổ bẻ ra theo kiểu tây phương, góc nhọn thì gọi là "cổ lưỡi dao", tròn gọi là "cổ bánh bẻ", cổ khoét hình quả tim, buộc giây..., đều mở ở giữa ngực, duy cổ lọ vai bồng mở ở vai bên phải, gài khuy từ cổ tới vai. Hồi nhỏ, khoảng đầu thập niên '40, tôi đã từng mặc áo cổ lọ vai bồng bằng len đỏ, khuy nhựa của Tây, hình vuông cùng mầu đỏ như áo .

2- Khuy áo bằng nhựa của Tây, hình vuông, tròn, bầu dục... và có hoa nổi hay chìm, đủ các mầu để chọn tùy theo mầu áo. Loại khuy bằng vải tết lại như Trung quốc không dùng nữa nhưng tôi đã từng mặc áo loại khuy này, gài hay tháo rất khó vì vải rít chặt chứ không trơn như khuy nhựa. Khuy nhựa sau bị thay thế khoảng thập niên '50 bằng khuy giả ngọc trai do bà Lê thị Lựu vẽ kiểu.

3- Tay áo - Ông Cát Tường nhận xét là tay áo cổ truyền chật hẹp rất bất tiện mỗi khi co tay, và không hợp với khí hậu nóng bức...Tuy nhiên ông có vẽ một kiểu áo dạ hội tay cắt ngắn ở khoảng giữa cánh tay rồi đeo bao tay (gants) dài đến tận giữa cánh tay. Có người khen là trông "rất sang trọng". Với tư cách là người mặc áo dài tôi cảm thấy thay thế cái tay áo dài bằng cặp gants dài còn nóng bức và bất tiện hơn.

4- Thân áo - Ông Cát Tường cho áo cổ truyền lụng thụng quá, cần phải ôm sát thân người mặc áo thì mới đẹp. Song quần áo không phải chỉ có mục đích che mưa nắng, nóng lạnh và có mỹ thuật như ông nói. Thời xưa, nó còn để che thân, người phụ nữ không được để thân thể lộ liễu cho người ngoài nhìn thấy. Chị cả tôi còn phải nịt ngực, lấy vải quấn quanh ngực mấy vòng, ép xuống cho ngực phẳng lì. Bà Bùi thị Xuân, khi bị Gia Long giam trong ngục trước khi đem hành hình, đã nhờ người mua lụa trắng quấn hết chân tay để khi bị tử hình (voi tung) thân thể có mỗi nơi một mảnh cũng khg bị bộc lộ ( Lemonnier de la Bissachère).

Trên thực tế, áo Lemur chỉ ôm hờ thân người mặc chứ không ôm sát, cứ xem ảnh cưới của chính ông Lemur (1936) cũng thấy rõ cả cô dâu lẫn các cô phù dâu đều mặc áo Lemur nhg nó không ôm sát thực sự như áo dài ngày nay, mà chỉ bớt lụng thụng nhờ cắt lượn theo thân hình chứ xếp nếp (plis) không sâu, có khi không có cả plis nữa. Năm 1952, tôi và các bạn vẫn còn mặc áo không chiết plis. Có thể vì ông Cát Tường chỉ vẽ kiểu yếm chứ chưa nghĩ đến vẽ soutien (có người dịch là "nịt ngực" e không đúng vì "nịt" có nghĩa là nén ép xuống trong khi soutien nâng ngực cho cao lên). Từ áo Lemur đến áo dài hiện đại có một khoảng xa cách không kém gì từ áo dài lụng thụng tới áo Lemur.

5- Viền tà - Tà áo cổ truyền phải mất 3 đường khâu và một cái nẹp dài để viền tà cho cứng cát, vạt áo sẽ đứng chứ không cong queo. Ông Cát Tường tung ra lối viền tròn như con giun bằng một thứ hàng và mầu khác hẳn mầu áo, giống kiểu viền quần áo ngủ pyjamas, đỡ tốn công hơn và lạ mắt. Mầu viền tà cũng như mầu khuy giống nhau. Tôi cũng có một chiếc áo mầu vàng chanh, hàng Bombay mỏng và mịn, khuy nhựa hình bầu dục và viền tà cùng mầu xanh lá cây.

Áo dài Lemur rất được hoan nghênh, thậm chí có cô (?) Phan thị Nga ở Hội An ca tụng không tiếc lời :" Kiểu quần áo Cát Tường đã làm cho chị em thêm diễm lệ ở nét mặt..." (Ngày Nay, số 13, 1935) tôi bội phục trí tưởng tượng của cô. Chắc là khi "thoa son dồi phấn" kiểu Cát Tường cô sẽ thấy thân hình chị em nở nang, "có những đường cong tuyệt mỹ" hơn ?

* Áo Lê Phổ - Áo Lemur tuy được hoan nghênh nhưng cũng bị chê là "lai căng". Theo Wikipedia thì ông Lê Phổ, cũng năm 1934, "đã sửa bớt những nét lai căng, đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn, dung hợp hài hòa. Áo dài đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó". Như vậy có nghĩa là hai vạt dưới của áo Lemur không được tự do bay lượn ? Nếu không phải thế thì khác ở chỗ nào ? Tôi thấy ảnh cưới ông Cát Tường, rõ ràng hai tà áo phụ nữ đều "tự do bay lượn".

Theo Hoàng Huy Giang thì Lê Phổ "bỏ đi những nét Tây phương như không tay, tay phồng, cổ hở, không viền tròn vạt dài v.v... Nhưng đến đầu thập niên '40, chính tôi còn mặc áo cổ lọ vai bồng và tà áo viền tròn. Tóm lại, tôi vẫn chưa rõ sự khác biệt giữa áo Lemur và áo Lê Phổ, chỉ biết gọi theo mọi người là "áo tân thời".

Mốt năm 1952, khi tôi sang Pháp, là áo rộng và ngắn đến đầu gối nhưng ngực vẫn xẹp. Mãi khoảng giữa thập niên '50, mới có cô ca sĩ từ Saigon sang Pháp, lên sân khấu mặc áo dài thực sự ôm sát người, ngực nở nhờ có đeo soutien nâng cao lên và áo chiết plis sâu nên bụng thon. Chúng tôi đều suýt soa là đẹp và... bạo !

III - TỪ ÁO LEMUR ĐẾN ÁO DÀI HIỆN ĐẠI

(Sau đây phần lớn tôi chép theo người khác vì sống ở Pháp).

* Áo dài có thắt lưng. Khi tôi sang Paris được xem bà Anh Trần (sau này làm điêu khắc) mới chế ra kiểu áo dài có thắt lưng sau khi học một lớp dậy cắt quần áo Tây phương. Kiểu áo này không mấy người biết có thể vì không gập cơ hội thuận tiện.

* Áo dài kiểu bà Nhu tức bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu. Năm 1958 bà Nhu xuất hiện trước công chúng với chiếc áo dài cổ hình thuyền (bateau) và tay ngắn. Đấy cũng là một cải cách quan trọng đáng kể vì trời nóng bức mặc áo cổ đứng rất khó chịu.

* Áo tay giác lăng (raglan) Khoảng thập niên '60, hiệu may Dung Dakao ở Saigon tung ra kiểu áo dài tay giác lăng, ráp tay xéo vai khiến cho chỗ nách không còn những đường nhăn nhúm như trước... hàng may áo dầy nhưng tay với ngực lại bằng hàng mỏng hoặc thân áo và hai tay là hai mầu, nút cài từ cổ xéo xuống ôm sát thân hình người mặc từ nách đến eo. Sau đó còn kiểu mini va maxi raglan nữa.

* Áo ba tà. Một số nhà may ở Saigon tung ra vào thập niên '70 kiểu áo ba tà gồm một vạt sau và hai vạt trước với nút gài từ cổ xuống eo mặc với quần ống voi.

* 2010 . Việt Nam hiện nay cũng có những nhà thiết kế vẽ các kiểu áo dài "mới" như áo không cổ hoặc mình một thứ hàng, hai tay dùng hàng mỏng trông suốt qua được. Phần nhiều mặc áo trơn hay thêu chứ không dùng áo vẽ, và thêu gần kín ngực không còn chỗ để đeo nữ trang. Cũng có kiểu áo dài chui đầu, không khuy...Quần đồng mầu với áo hay mầu khác hẳn như đỏ, vàng, xanh...

KẾT LUẬN
Ông Cát Tường - Lemur có nhiều sáng kiến và tài năng, song những cải tiến mà ông đã thực hiện chưa hẳn theo sát "bản tuyên ngôn" năm 1934 của ông và trừ ý kiến áo dài phải ôm sát thân người thì những cải tiến khác của ông không để lại dấu vết gì nữa. Áo hai vạt, quần trắng, áo mầu đều đã xuất hiện từ trước 1934, ông không phải là người đầu tiên đã "biến cái áo từ thân ra áo hai vạt" hiện nay.
Cái áo hiện nay có vẻ đẹp riêng của nó nhưng ta cũng không nên quá tôn vinh nó, các nước khác cũng có áo đẹp và nhiều áo đẹp. Áo dài dẹp nhưng chỉ khi đi tha thướt, ung dung chứ đem nó lên sân khấu nhẩy múa, giơ chân lên cao hay chạy nhanh, chân một nơi, áo một nẻo thì không đẹp chút nào. Người ngoại quốc khen áo dài vì thực sự thích nó cũng có và cũng có khi vì họ rất lịch sự, hễ gập là khen bất cứ áo gì mình mặc chứ không chê bao giờ.

Ông Cát Tường nói "quần áo là tấm gương phản chiếu trình độ trí thức của một nước. Nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của nước họ cũng đủ hiểu...". Tôi không hoàn toàn đồng ý với ông. Người mặc áo đẹp chưa hẳn đã là người có văn hóa. Tôi nghĩ là ông sống ở thời người Việt đang chán văn minh "cũ rích" cổ truyền và đang ngưỡng mộ văn minh mới lạ của Tây phương nên ông chịu ảnh hưởng của thời đại và đôi khi quá thán phục nên đi quá đà. Cái "mề đay" nào cũng có mặt phải mặt trái. Nếu ông sống khoảng thập niên '80 ở Pháp ông sẽ thấy giới trẻ đua nhau mặc jean nhưng mua quần mới về lại đem mài, cắt cho rách bươm và giặt đủ mọi cách cho cũ bạc đi mới đem ra mặc. Áo thì lục tìm trên gác xép những áo cũ của cha ông để lại, những cái sơ mi đàn ông vừa dài vừa rộng thùng thình, làm gì có eo có ngực, có những "đường cong tuyệt mỹ" ? Chẳng lẽ nó cũng phản ánh sự tiến bộ, văn minh của Pháp ? Còn "mỹ thuật" ? Ông Cát Tường chê áo Việt Nam lòe xòe, lụng thụng, không "mỹ thuật", nhưng tôi lại thấy áo tứ thân, áo giao lĩnh cũng như áo dài đều đẹp cả, mỗi cái một vẻ. "Nhân tâm tùy thích", khó mà tranh cãi.

Tóm lại, ông Cát Tường không phải là người đã biến cái áo tứ thân thành áo hai vạt, ông thực sự có công đóng góp cho áo dài hiện đại song ông chỉ là một mắt xich trong chuỗi dài những người không để lại tên tuổi nhưng cũng góp phần cải sửa, giúp cho cái áo dài mang hình dáng hiện nay. Chúng ta "tri ân" ông nhưng chúng ta cũng không quên những người "vô danh" ấy.

Hà Nội, tháng 12, 2010
Nguyễn thị Chân Quỳnh

CHÚ THÍCH

1- Nguyên văn câu tiếng Pháp :"Pour le corps elles le couvrent de certains corps de côte, fait en échiquier, tous diversifier en couleur...". Câu này không minh bạch, tôi tạm dịch nhưng không ưng ý.
2- Tiếng Pháp :"Ces habits de la ceinture en bas tout autour tailladez et déchiquetez à belles mouchetures. Si bien qu'allant par la ville ils font parades de toutes ces couleurs mêlées ensemble : que si quelque doux ventelet vient...". Câu này rất tối nghĩa nên tôi bỏ không dịch.

3- Phủ Biên Tạp Lục chép là năm Bính Dần (1746), dịch giả đoán là bản sao chép sai nên đã sửa thành năm Bính Thân (1776) hợp lý hơn vì 1776 Lê Quý Đôn mới làm Hiệp trấn Thuận Hóa và nhận xét :"Trong khoảng hơn 30 năm phong tục đã thay đổi..." trỏ thời gian từ khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát bắt dân mặc kiểu Trung quốc (1744) đến khi Lê Quý Đôn ra huấn lệnh cải sửa lại,theo quốc phục.

SÁCH BÁO THAM KHẢO

- BARON, Samuel, Description du Royaume de Tonquin. Traduction de l'anglais par H. Deseille. Reproduite par la Revue Indochinoise (première traduction publiée par l'abbé Prévost en 1751).
- BORRI, Christoffe, Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine. Traduite de l'italien du Père C. Borri, Milanais, qui fut un des premiers qui entrent en ce Royaume, par le Père Antoine de la Croix, de la même Compagnie. Rennes, Jean Hardy, M DC XXXI (1631).

- CHAIGNEAU, Michel Đức, Souvenirs de Huế. Paris, M DCCC LXVII (1867).

- Forum Diễn Đàn sách xưa (net) 1-8-2009, "Họa sĩ NGUYỄN CÁT TƯỜNG - LEMUR"

- HOÀNG HUY GIANG, Tà áo bay trên trời quê đất khách : http://chimviet.free.fr/quehuong/chung/hhgn050.htm

- LÊ QÚY ĐÔN, Phủ Biên Tạp Lục, Phần 1 & 2. Nhà xuất bản Giáo Dục, 2007. Bản dịch của Nguyễn Khắc Thuần.

- Pierre Jacques LEMONNIER de la BISSACHÈRE, La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine,d'après les manuscrits des Archives des Affaires Etrangères, 1807.

- LÊ TRIỀU CHIẾU LỊNH THIỆN CHÍNH- Dịch giả Nguyễn Sĩ Giác. Saigon : Trường Luật khoa, 1961.

- Louis-Gabriel MULLET DES ESSARDS, Voyage en Cochinchine 1787-1789. Retranscrit par son descendant Bruno BIZALLION. Les Editions de Paris, 1996.

- NGÔ THÌ SĨ, Việt Sử Tiêu Án. Bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu. Saigon, 1960. San Jose, Hoa Ký : Văn Sử tái bản, 1991.

- NGUYỄN CÁT TƯỜNG. Y phục của phụ nữ, Thế Kỷ 21 số 201 &202, tháng giêng và tháng hai, 2006, in lại báo Phong Hóa, 1934.

- NGUYỄN TẤT ĐẠT, "Bố tôi, họa sĩ "Lemur-Nguyễn Cát Tường". Xuân Bính Tuất, 20-1-2006. Forum Diễn Đàn 01/08/2009

- NGUYỄN TRỌNG HIỀN, Tiểu sử và sự đóng góp vào văn hóa Việt Nam của họa sĩ Nguyễn Cát Tường-Lemur. Thế Kỷ 21 số 201 & 202, 2006.

- PHAN KHOANG, Lịch sử : Xứ Đàng Trong (1558-1777), tập 1 & 2. Houstan, Texas : Xuân Thu tái bản, 1991 (?).

- TAVERNIER, J.B., Relation nouvelle et singulière du Royaume de Tunquin. Texte de 1681, reproduit par la Revue Indochinoise, Octobre, 1908.

- THÁI ĐÌNH LAN,Hải Nam Tạp Trứ. Dịch giả Ngô Đức Thọ. Nhà xuất bản Lao Động, 2009.

- VŨ NGỌC TRUY, Áo dài Lemur, Thế Kỷ 21 số 201 & 202, 2006.

- WIKIPEDIA (Bách Khoa Toàn Thư mở), Áo dài - Lịch sử.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, anhlam, mavuong, chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong, SCC
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Hai 07, 2011, 06:08:01 PM »

ÁO DÀI CÁT TƯỜNG

Rất nhiều người, trong đó có cả những nhà thiết kế áo dài trong nước hiểu lầm về nhà thiết kế Cát Tường và dòng áo dài của ông

Nhiều người quan tâm tới áo dài đến mức hiện có vài luận án tiến sĩ ở Mỹ và Úc đang được nghiên cứu với đề tài áo dài Việt Nam. Trong đó có luận án của một nghiên cứu sinh người Mỹ về đề tài áo dài Cát Tường ( Le Mur). Tuy nhiên có 1 thực trạng là rất nhiều người trong đó có cả những nhà thiết kế trong nước hiểu lầm về nhà thiết kế Cát Tường và dòng áo dài của ông

Trước hết, Ông Cát Tường là 1 họa sĩ có tầm cỡ chứ không phải là thợ may. Nhiều người hiểu lầm rằng cái áo dài hiện nay là do họa sĩ Cát Tường tạo ra, và ông đã thiết kế áo dài hiện đại từ áo tứ thân cổ truyền. Đây là những sự hiểu lầm rất đáng tiếc. Thật ra hai dòng áo dài tứ thân và năm thân được truyền từ ngàn đời, vẫn giữ nguyên vẹn hình dáng và tính chất của chúng.

Y phục Trung Hoa mà người Việt xưa vẫn xem là mẫu mực, được phân loại cụ thể từ đời Minh, với ba dạng chính:

Dạng thứ nhất là Bàn Lĩnh có cổ tròn và vạt áo cài sang bên phải. Áo dài thuộc về loại này

Dạng thứ 2 là Trực Lĩnh với 2 vạt gặp nhau ở giữa. Các áo Tứ thân, áo dấu, áo mệnh phụ v.v thuộc dạng Trực Lĩnh

Dạng thứ 3 là Giao Lĩnh với hai vạt chéo nhau. Áo rộng, áo thụng của các cụ mặc trong các buổi tế lễ ở đình miếu là áo Giao Lĩnh

Áo từ thân thuộc dạng Trực Lĩnh có gốc là áo Trường Tụ Tỷ giáp được phổ biến ở Trung Quốc từ thời Đường (618-907). Áo dài thuộc dòng Bàn Lĩnh năm thân còn có tên là Bì bào tức là áo mặc sát với da. Vì tập tục che cổ, giấu tóc của người Việt nên những áo này được gắn thêm cái cổ xây ở nước ta

Dạng áo Bì bào của người Trung Quốc gọi là áo Trường xàm ( Xường xám) với cổ xây chỉ bắt đầu xuất hiện từ thời Dân Quốc và được phu nhân của thống chế Tưởng Giới Thạch giúp phổ thông hóa từ những năm đầu thập niên 1920. Trong khi đó áo dài Việt Nam ít nhất đã được hình thành qua pho tượng Ngọc Nữ được tạc từ thế kỷ 17 ở chùa Dâu - Thuận Thành - Bắc Ninh

Cái áo dài trên pho tượng này không khác gì áo dài bây giờ. Từ khi kỹ thuật dệt vải được cải tiến và khổ vải tăng chiều rộng từ 40cm lên ít nhất gấp đôi, việc nối khổ vải cho chủ đề bề rộng của áo là không cần thiết nữa. Và nhiều nhà thiết kế áo dài lúc ấy, hầu như tất cả họa sĩ áp dụng ngay ý tưởng này. Đi tiên phong là các họa sĩ Lê Phổ, Lê Thị Lựu. Áo dài do các họa sĩ này thiết kế vẫn giữ gần như nguyên vẹn hình dạng của áo dài 5 thân cổ truyền, chỉ giản lược đi phần nối giữa sống áo để chỉ còn 3 thân. Áo dài 3 thân ngày nay ra đời từ đó

Khoảng giữa thập niên 1930, họa sĩ Cát Tường với nghệ danh dùng riêng trong ngành thiết kế trang phục là Le Mur ( Mur trong tiếng Pháp có nghĩa là Tường) muốn có 1 cuộc cải cách táo bạo cho áo dài Việt Nam. Trong hoàn cảnh xã hội và văn hóa lúc đó, khi răng không nhuộm đen, tóc vấn không chải giữa vẫn còn miệt thị nặng nề, khi mà tập tục che cổ giấu tóc từ xửa từ xưa vẫn còn xem là khuôn mẫu của đạo đức thì các ý tưởng cải cách của họa sĩ quả thật gây sốc cho đại bộ phận dân chúng

Hảy đọc 1 đoạn văn do chính họa sĩ cát Tường viết trên báo Phong hóa số ra ngày 23 tháng 2 năm 1934, về ý tưởng của Ông:
" Các Bạn thử để ý xem, cái áo hiện thời của các Bạn có cái gì bất tiện và thừa không? Muốn để các bạn khỏi tốn thì giờ vô ích, tôi xin thưa: Chính cái cổ là cái thừa, và hai ống tay bất tiện. Cúc cổ chẳng bao giờ cài thì cái cổ để làm gì? Tôi xin hỏi? Để che cổ ư? Thì nó nhỏ xíu thế kia che thế nào là đủ, vả lại áo của các phụ nữ nước lạnh bên Âu, Mỹ còn chẳng có cổ nữa là xứ ta khí hậu rất nóng. Còn 2 ống tay thì...thì các bạn cứ co tay lại vuốt mái tóc mà xem. Có phải nó chật quá không?...Nó khó chịu và bất tiện lắm không?"

Áo dài Cát Tường lúc cao trào là áo 3 thân, thường là cổ tròn hoặc khoét trái tim có kết nơ. Vai áo may bồng, áo nhiều khi không có tay và có khi lưng để hở đến eo. Quần của áo dài cũng được ông cải tiến cho nó loe ra với các viền ống khác nhau. Tựu chung là áo dài Cát tường rất tây phương

Có thể tưởng tượng là xã hội của ta hãy còn cứng nhắc về phong tục lúc đó phản ứng thế nào về các ý tưởng canh tân này. Chỉ có 1 số người xem như là ăn chơi, táo bạo lắm mới dám mặc áo dài Le Mur. Khi chiến tranh thế giới nổ ra và bắt đầu trở nên khốc liệt, ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam thì áo dài Cát Tường dần đi vào quên lãng. Nhất là sau khi họa sĩ Cát Tường mất tích và được cho là qua đời năm 1946 ở tuổi 35. Các ý tưởng của ông có lẽ hợp thời hơn ở thế kỷ 21 này

Quả thật, hiện này nhiều nhà thiết kế áo dài đang cố tìm ý tưởng mới bằng cách bỏ tay, bỏ cổ áo. Họ có biết đâu là đã quay lại những mẫu thiết kế do họa sĩ Cát Tường đã vẽ ra gần 1 thế kỷ trước



Trịnh Bách - Đăng trên tạp chí Heritage fashion



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, ongdia, Ngoisaobiec, byphuong, SCC
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười 16, 2011, 12:16:54 PM »

Mặc váy, mặc quần

Cái váy của người đàn bà đất Bắc không biết xuất hiện từ bao giờ, nhưng đến khi nhà Minh xâm lăng Việt Nam vào năm 1414, thì ngay sau đó “bọn Hoàng Phúc muốn bắt dân ta đồng hóa với người Tàu, cấm con trai con gái không được cắt tóc, đàn bà con gái phải mặc áo ngắn quần dài theo kiểu người Tàu, nghĩa là không được mặc váy như trước...” (...)

Váy là đồ mặc che nửa thân người phía dưới của người đàn bà xứ Bắc ngày xưa (...) mô tả trong một câu đố như sau:

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,
Bên ta thì có, bên Tàu thì không.


Đến năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671), nhà vua lại ra sắc dụ cấm đàn bà con gái mặc quần theo kiểu Tàu mà trở lại mặc váy theo y phục truyền thống của dân tộc.

Vậy là, sau 250 năm, người đàn bà xứ Bắc lại mặc váy như trước thời kỳ bị quân Minh xâm lược bắt phải đồng hóa theo kiểu ăn mặc của đàn bà Tàu (...) Đó là tình trạng ở đất Bắc (...) Tình trạng ở phía Nam (...) lại khác.

Số là, vào năm 1558, Nguyễn Hoàng (...) vào trấn thủ đất Thuận Hóa (...) năm 1599 (...) Trịnh Tùng xưng vương (...) Nguyễn Hoàng (...) đối đầu với chúa Trịnh (...) khi Nguyễn Hoàng mất (1613), con là Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) lên thay (...) tự bổ nhiệm quan lại để cai trị đất Đàng Trong (...) Tuy nhiên, đến đời chúa Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) các chúa Nguyễn vẫn chỉ xưng quận công hay quốc công và vẫn tuân theo một số luật lệ và phong tục của đất Bắc. Đến đời Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) (...) mới xưng vương gọi là Võ Vương (1744) đúc ấn quốc vương, định triều nghi và đưa ra một số cải cách để chứng tỏ sự tách biệt hoàn toàn với đất Đường Ngoài, chẳng hạn:

“Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục (...) châm chước theo lối quần áo của người Tàu. Có lẽ từ bấy giờ, người đàn bà đường trong bắt đầu mặc áo gài khuy và mặc quần, mà không mặc áo thắt vạt và mặc váy như người đường ngoài nữa.” (VNVHSC, tr.173)

(...) từ đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát trở về sau (...) phụ nữ Đàng Trong (...) mặc quần (...) phụ nữ Đàng Ngoài (...) mặc váy.

Đến khi nhà Nguyễn dựng đế nghiệp (1802) (...) vua Minh Mạng (1820-1840) (...) hai lần ra sắc dụ bắt dân chúng Đàng Ngoài phải thay đổi cách ăn mặc theo người Đàng Trong. Việc cải đổi y phục của vua Minh Mạng đã gặp phải sức kháng cự của người dân Đàng Ngoài (...) hành động bất tuân (...) và đặt (...) vè (...) chế giễu (...)

(...) Theo Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu:

Năm Mậu Tý (1828) Minh Mạng thứ 9 “Tháng 10, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc”. (quyển 3, trang 74)

Năm Đinh Dậu (1837), Minh Mạng thứ 18, “Tháng 9 . . . thân dụ dân tự Hà Tĩnh trở ra phải đổi cách ăn mặc” (quyển 3, trang 112)

(...) Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 184 ghi lại chiếu dụ của vua Minh Mệnh ban hành vào năm Minh Mệnh thứ 18, năm Đinh Dậu (1837) như sau:

“Từ sông Gianh ra Bắc, trước đây vẫn còn ăn mặc theo hủ tục. Trẫm đã ra lệnh đổi y phục như từ Quảng Bình trở vào để phong tục thuần nhất. Lại ban hạn rộng rãi để ai nấy có thì giờ khâu may. Nhưng đến nay, kể đã ngoài 10 năm, mà ở Đàng Ngoài (...) vẫn cứ chần chừ chưa chịu đổi thay. Từ Quảng Bình trở vào nam, hết thảy đã ăn mặc theo lối nhà Hán, nhà Minh, mũ mãng, áo quần đều chỉnh tề, tươm tất. Dân Bắc kỳ cứ ăn mặc theo lối cũ (...) đàn bà, con gái mặc áo vạt khép vào nhau, dưới thì mặc váy. Như vậy đẹp xấu ra sao, mọi sự đã rõ. Một số nơi đã theo thói hay. Nhưng nhiều nơi vẫn duy trì hủ tục, phải chăng cố ý trái lệnh của Trẫm. Nay truyền cho các viên tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát các tỉnh phải giải thích, khuyên nhủ cho dân biết rõ ý của Trẫm. Lại ban hạn trong năm nay tất cả phải thay đổi quần áo. Nếu năm tới còn có kẻ nào ngoan cố áo quần, phải trị tội thật nặng” (...)


(Trích từ bài "Bàn về một bài ca dao thời Minh Mạng" của Đào Đức Nhuận đăng trên trang e-cadao.com. Nhan đề phần trích tạm đặt.)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
thuongnhotrangian, Ngoisaobiec, byphuong, SCC
Logged
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Tám 12, 2012, 02:02:49 AM »

THỜI TRANG và LỊCH SỬ
VÁY hay QUẦN ?
TRÁI hay PHẢI ?
Biên khảo
Trần thị Lai Hồng

Tự thuở hồng hoang, loài người đã tìm cách lưu lại sinh hoạt bằng ngôn ngữ tạo hình, qua những nét vẽ hoặc khắc trên vách đá hang động, thân cây, tảng đá, tấm gỗ, thanh tre ... rồi tiến dần văn minh, đẽo gỗ, khắc phù điêu, tạc bia mộ, vẽ tranh, đúc gạch ngói, đúc tượng, đúc trống đồng ...
Đồng thời với hình tượng ngôn ngữ tạo hình, tiếng nói được lưu truyền bằng văn học dân gian với truyện kể và thi ca liên hệ đến sinh hoạt xã hội và lịch sử, và sau đó được thể hiện bằng chữ viết để diễn đạt tư tưởng, phổ biến hiểu biết, mở rộng và nối kết liên lạc khắp toàn cầu.  Từ ngôn ngữ tạo hình khắc vẽ đi đến chữ viết là cả một thời gian dài bốn mươi lăm nghìn năm!

Theo đà tiến hóa, con người phát triển những ngành nghệ thuật, và thời trang là tiếng nói thầm lặng của mỗi địa phương, mỗi dân tộc.  Kể từ khi biết che thân, loài người đã tìm cách làm đẹp với những vật dụng thô sơ như lá cây, vỏ cây, da thú, lông chim, và sau đó  tìm cách ngâm lá ngâm vỏ và thân cây như cây gai cây đay, cán bông vải, lấy sợi đan hay kết lại, rồi tìm ra tơ tằm dệt gấm lụa, tiến đến kỹ thuật chế biến tơ sợi hóa học... và sáng tạo nhiều kiểu may mặc.
Áp chui đầu và váy sợi vỏ cây, đầu thời đồ đồng.
Bảo tàng viện Copenhahue, Denmark

Tự thuở nào, y phục cũng như chữ viết - những nét văn hóa của một dân tộc - trở thành biểu tượng quốc gia.  Và tự thuở nào, y phục biến đổi trở thành thời trang từng miền, từng địa phương, giao thoa, pha trộn, gạn lọc, nhưng vẫn giữ nét riêng trong tổng thể thế giới để không bị đồng hóa hay mai một.

Thời trang ngày nay là thị trường lớn của thế giới.  Thời trang là đề tài học hỏi của sinh viên, từ Royal Academy ở London đến Viện Kỹ thuật Thời trang Fashion Institute of Technology New York, nơi nhà tạo mẫu Calvin Klein tốt nghiệp và nổi danh với thương hiệu CK; và từ Metropolitan Museum ở New York với Costume Institute, đến Victoria và Albert Museum ở London.  Ngay từ tháng 4 năm nay 2008 và còn tiếp diễn cho đến giữa tháng 7, đang có triển lãm tại Bảo tàng viện Boston's Museum of Fine Arts, qua tranh của hai họa sĩ Tây Ban Nha El Greco và Valazquez, về thời trang thế kỷ XXI và XVII.

Thời trang Việt Nam lần đầu tiên được trưng bày suốt ba tháng liền tại Wing Luke Museum Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, với những bộ áo dài và khăn quàng lụa vẽ Art onSilk của Trần thị Lai Hồng, từ tháng 9 năm 1992. Mới đây, tháng 4 năm 2006, một số áo mệnh phụ triều Nguyễn thế kỷ XX được nghệ sĩ Trịnh Bách phục chế, trưng bày cùng một số áo dài gọi là "cách điệu" của các nhà thiết kế Lê Sĩ Hoàng, Đặng thị Minh Hạnh, Lê Minh Khoa, Lê Phương Thảo và Monica Trần tại Viện Bảo tàng San José Museum of Quilts & Textiles, California.

Thời trang Việt Nam ngày nay rộ nở huy hoàng từ trong nước ra hải ngoại.  Không thiếu những buổi trình diễn, nhan nhản từ thôn quê quan họ Bắc Ninh hay vùng Đồng Tháp, Huế Sàigòn Hà Nội, và khắp nơi nào có bóng dáng người Việt.

Tuy nhiên, qua thời gian, sự diễn đạt có khi đi lạc, nhất là khi dựng lại những nhân vật lịch sử, có thể vô tình, không đặt đúng vị trí không gian và thời gian xuất phát.

Mẹ Âu Cơ  bốn nghìn năm trước, thời huyền sử, không thể dùng thời trang áo váy tứ thân thế kỷ XIV - XV hay áo ngũ thân quần hai ống thế kỷ XVIII.  Hai Bà Trưng đầu thế kỷ thứ nhất không thể mặc quần mang boots mang bao tay và đội khăn vành Hoàng hậu Nam Phương. Công chúa Huyền Trân của triều đình Nhà Trần thế kỷ XIV không thể dùng thời trang triều Nguyễn thế kỷ XIX- XX.


VÁY hay QUẦN???

Những dẫn nhập dài dòng không phải vô tình mà có ý, khi nhắc nhở những nhân vật lịch sử.
Người Việt Nam ai cũng nhớ công đức Hai Bà Trưng, hai vị phụ nữ đầu tiên trong lịch sử đã đứng lên hô hào tập hợp binh mã chống lại và đánh đuổi bọn thống trị Đông Hán, dành lại độclập.  Hằng năm đến ngày giỗ Hai Bà, mồng 6 tháng 2 âm lịch, dân chúng trong cũng như ngoài nước đều long trọng tổ chức tưởng niệm.  Có tế lễ, có diễn hành xe hoa, có đại nhạc hội, có họp bạn, và tất nhiên có trình diễn hình ảnh Hai Bà.

Trong nước, Hai Bà cỡi voi thật đi diễn hành.  Ngoài nước thì dựng bàn thờ, có tranh vẽ Hai Bà rất trang trọng.  Cả trong và ngoài nước đều có thiếu nữ công dung ngôn hạnh đóng vai Hai Bà, áo quần rực rỡ, huy hoàng lọng tía tàng vàng.

Vấn đề nêu ra, là trang phục của Hai Bà Trưng.

Tuy sử sách ta cũng như Tàu không hình ảnh để lại, nhưng đều ghi rõ cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc. Hai Bà khởi nghĩa vào năm 39 thế kỷ thứ nhất sau Tây  lịch, đánh đuổi Thái thú Tô Định, dành lại độc lập cho quê hương. Cả hai cùng lên ngôi vua, lấy hiệu Trưng Nữ Vương, trị vì từ năm 40 đến năm 43, thì bị Nhà Hán bên Tàu cử lão tướng Mã Viện sang đánh bại.

Thời điểm thế kỷ thứ nhất, trên tất cả thế giới, từ Tây sang Đông, đàn ông cũngnhư đàn bà đều mặc váy, vì chưa phát minh ra chiếc quần. Mãi đến thế kỷ thứ ba sau Thiên Chúa loài người mới sáng chế chiếc quần, và chỉ dân vùng đồng hoang cỏ dại cỡi ngựa chăn nuôi săn bắn mới dùng.  Khi xuất hiện dưới thời Gaulois bên Pháp, quần chỉ phổ biến trong giới bình dân.  Chiếc quần qua Cổ Ba Tư vào thế kỷ thứ VI, lan sang Hy Lạp, La Mã, qua Trung Á, lên Mông Cổ, Mãn Châu, xuống Tàu vào thế kỷ XVII rồi vào Việt Nam.  Phụ nữ Việt Nam vẫn mặc xống/ váy, nên có cụm từ áo xống đặc biệt ở Đàng Ngoài, cho đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ XVIII, đàn bà Đàng Trong mới bắt đầu bỏ chiếc váy để mặc quần cùng áo dài, dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát, và cụm từ áo quần xuất phát vào thời điểm này.


Khăn đội đầu, áo khoác, váy, giày nam chiến sĩ
20,000 Years of Fashion, The History of Costume and Personal Adornment, Francois Boucher


Cuối thế kỷ XIV, đàn ông Tây phương vẫn mặc váy hoặc áo chùng

Ngay tại quốc gia văn minh tân tiến như nước Mỹ, mãi tới thế kỷ XIX, đàn bà Mỹ mới bắt đầu thay váy mặc quần, theo phong trào The Bloomer Costume hay Bloomers, do bà Amelia Jenks Bloomer cổ võ trên đặc san The Lily, tờ báo nữ đầu tiên tại Mỹ, vào năm 1848.  Thời điểm này, đàn ông Anh, nhất là vùng Bắc Tweed, vẫn còn mặc váy, có khi ngắn cũn cỡn.

Thế kỷ thứ nhất, y phục Hai Bà Trưng tất nhiên là y phục xưa còn rõ nét khắc trên cán dao, lưỡi rìu, tượng đồng, và hoa văn trống đồng, gồm yếm, áo bên trong tròng đầu hoặc xẻ phía trước, ngắn ngang hông hoặc có hai vạt dài, áo khoác ngắn bên ngoài, mặc váy quấn hoặc váy chui, buộc thắt lưng có bản thòng dài che cả phía trước và phía sau, đeo kiếm, đầu quấn khăn gắn lông chim, bông lau hoặc tàu cau, lá cây, chân quấn xà cạp, mang dép giản dị.

Váy hay quần???  -  Xin thưa: - Váy!  Hai Bà Trưng mặc váy, vì vào thời điểm đó, thế kỷ thứ nhất, chiếc quần chưa ra đời.

Hai Bà Trưng, tranh Võ Đình

***

TRÁI hay PHẢI ???
Trước khi nói đến chuyện trái hay phải, xin hãy nhận xét áo của các đấng nam nhi.  Có phải áo của quý vị mày râu vạt úp qua phải và cài nút bên phải không?  Đúng vậy !
Bây giờ, mời quý vị nhìn lại, nếu quý bà quý cô ăn mặc theo kiểu Tây phương, chắc chắn áo quý vị cài bên trái.

Nhưng, xin nhấn mạnh chữ nhưng này, nhưng nếu quý bà quý cô mặc áo dài, thì áo dài Việt Nam của quý bà quý cô lại cài bên phải, như đàn ông !  Áo dài cài bên phải, dấu vết nô lệ còn sót lại sau một nghìn năm ta bị Tàu đô hộ. Nếu có người đẹp nào mặc qi pao/cheongsam/xường xám, tức là áo Tàu, thì rõ ràng áo Tàu cài bên phải.

Nhìn quanh thế giới, từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, như có một luật lệ ngầm không văn bản không ký kết, nhưng loài người cùng tôn trọng: đàn ông mặc áo cài bên phải, đàn bà cài qua trái.  Duy chỉ có người Tàu, đàn ông đàn bà nhất loạt áo cài qua bên phải.

Những tài liệu tiền nhân để lại cho thấy người Việt luôn luôn cố gắng phấn đấu, không những bảo tồn từng tấc đất giang sơn, mà còn gìn giữ căn bản văn hóa dân tộc, trong số, phải kể đến chiếc áo dài phụ nữ.  Sử sách ghi chép rằng người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo cài bên trái.  Chỉ từ khi bị người Tàu xâm chiếm đô hộ, ta bị buộc đồng hóa, phải dùng kiểu Tàu: áo cài bên phải.

Trong bài viết về Y Phục Người Việt Qua Các Thời Đại, học giả Thái Văn Kiểm nhắc đến các sách Tàu như Lễ Ký, Luận Ngữ, Xuân Thu Tả Truyện, Hoài Nam Tử, nói về văn hóa, phong tục tập quán các sắc dân phía Nam nước Tàu, trong số có người Văn Lang Lạc Việt, thuộc nhóm Bách Việt phía Nam Hồ Động Đình.

Đặc biệt sách Luận Ngữ ghi chép những nhận định của Đức Khổng Tử, bản dịch của Đoàn Trung Còn, và Sử Ký Tư Mã Thiên, Sử Trung Quốc, bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê, đều có nhắc lời Đức Khổng Tử khen Quản Trọng.  Sách Luận Ngữ do Đoàn Trung Còn dịch, chương 14 về Hiến Văn, trang 222, ghi lời Đức Khổng Tử khi luận về các công thần tài trí hơn người, đã nói "  Vi Quản Trọng ngô kỳ bị phát tả nhậm hỉ. "  Nghĩa là nếu không có Quản Trọng thì ngày nay ta - tức là người Tàu phương Nam, trong số có Khổng Tử quê nước Lỗ ở phương Nam - phải cắt tóc, mặc áo cài bên trái vậy.


Quản Trọng là ai ?

Sử Ký Tư Mã Thiên ghi Quản Trọng là Tể tướng của Tề Hoàn Công nước Tề đời nhà Chu bên Tàu, thế kỷ X trước Tây lịch. Thời đó dân Việt còn ở phía Nam nước Tàu và là một trong nhóm Bách Việt.  Rất tài trí, Quản Trọng lập chính sách " Phú quốc Cường binh, " tổ chức " ngũ gia liên binh " giúp Tề giàu mạnh, thu phục chư hầu, chinh phục các nước nhỏ phía Nam, coi như man-di, sửa đổi văn hóa phong tục, cách ăn mặc, bắt . bỏ kiểu áo cài bên trái gọi là tả nhậm, và phải theo Tàu cài qua phải gọi là hữu nhậm.

Lời khen của Đức Khổng Tử rất quan trọng, xác nhận các sắc dân phía Nam nước Tàu, phía Nam sông Dương Tử - trong số có Lạc Việt - xưa mặc áo cài qua trái nhưng bị Tàu đồng hóa buộc cài qua phải như họ.

Thế kỷ XVIII, thời ta bị nhà Thanh đô hộ, họ còn cấm dân ta để tóc dài, bắt phải dóc tóc bím đuôi sam, và không cho nhuộm răng đen.  Người Tàu gốc nhà Minh không chịu theo nhà Thanh, đã di tản sang sinh sống tại Việt nam với cao trào Phản Thanh Phục Minh, không chịu dóc tóc thắt bím.

Việt nam cũng không chịu khuất phục áp lực người Tàu, mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ xuất quân ra Bắc quyết đánh đuổi quân xâm lược.  Đêm ba mươi Tết, mặc tối đen âm thầm, mặc quân nhà Thanh ăn Tết, quân Nam tiến băng rừng tràn ra sa trường ...Bài hịch xuất quân chữ nôm của Vua Quang Trung nhấn mạnh:

Đánh để cho dài tóc/ đánh để cho răng đen 
Đánh để cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri
Nam quốc anh hùng chi hữu chủ ...

Mặc dầu qua thời gian, việc cắt tóc ngắn và để răng trắng là những tiện nghi hữu ích, và là nét văn hóa chung cả toàn thế giới, nhưng tinh thần bất khuất của Vua Quang Trung cho thấy nước Nam ta có nền văn hóa riêng, và không bao giờ cúi đầu chịu nhục ngoại bang áp đặt đồng hóa.


Về phía người bình dân, tập Tranh Dân gian Việt Nam Imagerie Populaire Vietnamienne của Maurice Durand, một học giả Pháp chuyên nghiên cứu Việt nam, viết về nghề khắc gỗ làm mộc bản, có in một bức Hai Bà Trưng và một bức Bà Triệu, ba vị nữ anh hùng dân tộc.
Hầu hết tranh dân gian từ cả 500 năm trước hoàn toàn chịu ảnh hưởng nặng nề của Tàu.  Nhưng điểm son nghệ nhân khắc hai bức mộc bản này, là đã tôn trọng nét văn hóa Việt Nam rất rõ rệt: Hai Bà  mặc áo kiểu Việt Nam xưa, không cài qua bên phải theo Tàu.  Đặc biệt bức mộc bản Bà Triệu càng rõ rệt y phục người Việt xưa, vùng Núi Nưa Thanh Hóa mà cho đến nay người Mường còn giữ nếp cũ.  Bộ y phục này bên trong là yếm và bên ngoài có áo cánh rồi áo khoác giống áo tứ thân nhưng không có cổ cao kiểu Tàu mà lại là giao lãnh, tức là hai vạt trước giao vào nhau.

Qua nhiều gian lao thử thách với các biến chuyển lịch sử, có khi chiếc áo dài bị hạn chế phổ biến vì cho là xa xỉ phẩm như dưới thời nội chiến Quốc Cộng Nam Bắc, suốt 30 năm liền, đàn bà ngoài Bắc phải ngắn gọn quần tây áo cộc như đàn ông.  Nhưng sau khi chiếm được miền Nam, thống nhất đất nước, người Bắc ùa vào Nam thấy trù phú sung túc bèn " nhận hàng ",rồi chẳng bao lâu các bà các cô vụt bung đua đòi quần là áo lượt thời thượng rực rỡ màu mè, cổ cao cổ thấp không cổ hay khoét rộng hở vai hở ngực, tay dài tay ngắn tay loe, vạt hẹp vạt rộng ba tà bốn tà hay mớ ba mớ bảy, dài lệt bệt quét đất chẳng thấy đâu chiếc quần ...nhưng vẫn nô lệ áo cài bên phải theo lệnh Tàu.

Thời trang thay đổi tùy thích mỗi người theo phong trào chung cả thế giới, vì nếu không đổi mới chẳng được gọi là thời trang.  Thay đổi để tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã và hài hòa kết hợp, nhưng vẫn giữ gìn truyền thống căn bản của mỗi dân tộc.

Nhưng, lại vẫn chữ nhưng quan trọng này, ta thoát ách đô hộ Tàu cả nghìn năm trước, và nay đã là một quốc gia hoàn toàn độc lập, không có lý do giữ lại dấu vết nô lệ lạc lõng giữa phụ nữ thế giới với quy luật y phục chung cho toàn cầu, là áo phụ nữ cài qua bên trái.

Áo dài phụ nữ cài bên trái, lý tình đều thuận hợp.

Trần thị Lai Hồng
Hoa Bang, hè 2007 sang Xuân 2008

Trích và bổ túc Tìm Hiểu Áo Dài Việt Nam của Trần thị Lai Hồng, đầu tiên đăng trên Phụ Nữ Ngày Nay 1986, và sau đó trên nhiều báo chí hải ngoại, báo điện tử www.gio-o.com/ cùng nhiều báo điện tử khác.
Nguồn: http://www.gio-o.com/TranThiLaiHongThoiTrangVaLichSu.htm
Tài liệu tham khảo :
-     Anna Buruma, Fashion of the Past, Collins & Brown, London 1999
-     Association for Viet Arts, Áo Dài: A Modern Design Coming of Age, San Jose Museum of Quilts & Textiles 2006
-     Bernard Dupaigne, Vidage d'Asie, Edition Hazan, Italy 2000
-     Francois Boucher, 20,000 Years of Fashion, The History of Costume and Personal Adornment, Expanded Edition 1967
-     Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Linh, Hoàng Hưng, Lê Văn Lan, Thời đại Hùng Vương, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1976
-     Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, Văn nghệ 2003
-     Nguyễn văn Huyên, La Costume Annamite, Hanoi 1940
-     Trần Trọng Kim, Việt nam Sử lược, Khai Trí 1971
-     P. Huard và M. Durand, Connaissance du VietNam, E.F.E.O. Hanoi, 1954
- Tranh Võ Đình, tư liệu của Trần thị LaiHồng
Từ phải : Y phục Mỵ Nương, Bà Trưng, phụ nữ Mường, trưng bày trước buổi trình diễn Hành trình về Đất Mẹ của Trần thị Lai Hồng, dùng khoảng 200 bộ y phục phụ nữ do tác giả vẽ kiều, để ôn lại phần nào lịch sử và văn hóa Việt Nam, tổ chức tại Orange County, California, 6 tháng 8, 2011

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, byphuong
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Tám 18, 2012, 04:30:11 AM »

Cuộc cải cách trang phục – Và tiền thân chiếc áo dài Việt ngày nay

Chiếc áo dài tay hẹp của phụ nữ thời này chính là sự kết hợp giữa chiếc áo dài bít tà của người Chăm với chiếc áo dài xẻ tà hai bên sườn ( xường xám) của người Hoa. Đó chính là tiền thân của chiếc áo dài Việt Nam

Năm 1558 Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) vâng mệnh vua Lê – chúa Trịnh vào trấn giử đất Thuận Hóa, vùng biên ải xa xôi phía nam của Đại Việt, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Hoàng và các thế hệ con cháu của ông đã tạo lập ở phương Nam một vương quốc thịnh vượng, độc lập với chính thể vua lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Đó là vương quốc Đàng Trong. Chín đời chúa Nguyễn kế tục nhau trị vì Đàng Trong trong 228 năm (1558 – 1776) đã biến vùng đất này thành một vương quốc trù phú về kinh tế, có quan hệ giao lưu với nhiều quốc gia lân bang và có một nền văn hóa ít nhiều  biến đổi so với văn hóa Đại Việt truyền thống. Do vậy mà trang phục của người Đàng Trong thời chúa Nguyễn cũng có những nét khác biệt so với trang phục của người Đàng Ngoài đương thời

Tranh do người Nhật vẽ vào thế kỉ 17, mô tả một người phụ nữ Đàn Trong. Tư liệu của Thư viện quốc gia Đài Loan

Christoforo Borri một nhà truyền giáo người Ý từng sống ở Đàng Trong 5 năm đã phản ánh trong cuốn hồi kí Xứ Đàng Trong năm 1621 của ông những chi tiết khá thú vị về trang phục của người dân xứ này. Ông cho biết: Tơ lụa rất thông dụng ở xứ Đàng Trong, đến nỗi ai cũng mặc hàng tơ lụa. Phụ nữ mặc tới năm hay sáu cái váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau. Cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất... Cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn đến năm đối ngón tay. Cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ như thế số còn lại theo tỉ lệ cái nọ ngắn hơn cái kia để cho màu sắc được phơi bày trong sự khác biệt của mỗi tấm. Còn trên thân mình thì họ khoác một tấm lụa vắt chéo như bàn cờ với nhiều màu sắc khác nhau, bên ngoài phủ một tấm voan rất mịn và rất mỏng khiến cho người ta nhìn thấy tất cả màu sắc sặc sỡ của các lớp áo xống bên trong. Christoforo Borri cũng cho hay: Phụ nữ Đàng Trong thường để tóc xõa xuống vai, có người để tóc dài chấm đất, tóc càng dài thì được coi là càng đẹp. Họ đội trên đầu một thứ mũ lớn diềm rộng, che hết mặt...Thứ mũ này cũng đan bằng lụa và kim tuyến, tùy theo gia thế từng người
Tranh vẽ người Đàng Trong trong cuốn Annan kiryakugo do tác giả người Nhật Kondo Juzo biên soạn vào các năm 1795-1797. Tư liệu của Pha Hài Linh

Về trang phục của đàn ông, Christoforo Borri mô tả: Đàn ông thì không nai nịt. Họ quàng một tấm bên trong, ròi thêm năm hay sáu áo dài và rộng ở bên ngoài. Tất cả đều bằng lụa có màu sắc khác nhau với ống ta rộng dài. Còn từ thắt lưng trở xuống thì được sắp đặt các màu rất khéo và đẹp. Thế nên khi ra phố thì họ phô trương màu sắc rất hài hòa, nếu có gió thổi nhẹ từ bên trong làm tung bay các lớp áo thì có thể nói họ trông như những con công xoay tròn khie màu sắc đẹp của mình. Họ cũng để tóc dài như đàn bà, cho xõa tóc tới gót chân và cũng đội nón. Các văn nhân, tiến sĩ thì ăn mặc trịnh trọng hơn, không màu sắc lòe loẹtl Họ choàng lên trên tất cả một áo dài đen. Họ còn khoác một khăn quấn cổ và ở cổ tay một khăn lụa màu da trời, còn đầu thì đội một thứ mũ kiểu như mũ giám mục. Đặc biệt người đàn trong rất hay dội khăn trên đầu do ảnh hưởng từ cách ăn mặc của người Chăm. Cả đàn ông và đàn bà đều ưa cầm quạt, rất giống như ở châu Âu. Christoforo Borri còn cho biết thêm là người Đàng Trong mặc đồ màu trắng khi để tang. Ông cũng lấy làm ngạc nhiên rằng tuy ăn mặc đẹp như vậy, nhưng phần lớn người Đàng Trong không đi dép cũng không đi giày, cùng lắm thì mang một miếng da buộc mấy dây lụa và khuy trên mu bàn chân như kiểu sandal của châu Âu (Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb TpHCM 1998, tr.53-55)
Tranh do người Nhật vẽ vào thế kỉ 17, mô tả một người Tây phương với một cậu bé Đàn Trong. Tư liệu của Thư viện quốc gia Đài Loan

Những miêu tả của Christoforo Borri rất trùng khớp với hình ảnh người Đàng Trong  xuất hiện trong các bức tranh cuộn do người Nhật vẽ về hoạt động giao thương giữa Nhật Bản với Đàng Trong vào thế kỉ thứ 17, hiện đang lưu giữ ở Nhật Bản và Đài Loan. Những miêu tả này cũng phù hợp với hình ảnh và trang phục của người Đàng Trong được phản ảnh trong các bức họa của William Alexander, một họa sĩ người Anh đã đến Đàng Trong vào tháng 5 năm 1793

Trong tác phẩm Phủ biên tạp lục viết về xứ Đàng Trong vào cuối thể kỉ 18, nhà bác học Lê Quí Đôn cũng cho biết: Khắp xứ
Đàng Trong nghề dệt tơ lụa, gấm đoạn và nghề thêu dệt rất phổ biến. Cho nên người dân Đàng Trong ăn mặc rất đẹp đẽ, sang trọng: quan viên lớn nhỏ thì mặc y phục gấm vóc; thường dân thì hằng ngày đều mặc áo hoa bằng đoạn bát ty và áo sa, lương, địa; coi việc mặc áo vải áo mộc là sự hổ thẹn; đàn bà con gái thì đếu mặc áo the và  hàng hoa,  thêu  hoa ở cổ tròn

Đặc biệt thời chúa Nguyễn là thời khai sinh ra chiếc áo dài nổi tiếng của Việt Nam. Theo sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn 1744, vị chúa thứ tám ở Đàng Trong là Nguyễn Phúc Khoát vì nghe lời sấm truyền “ Bát đại thì hoàn trung đô“, nghĩa là sau khi (họ Nguyễn) truyền đến tám đời chúa thì phải trở lại Thăng long, nên đã cho cải biến phong tục Đàng Trong cho khác với Đàng Ngoài, biến Đàng Trong thành một vương quốc có nên văn hóa riêng biệt, nhằm tránh phải trở về với Đàng Ngoài như lời sấm truyền. Vì thế, chúa bèn xưng là Võ vương, đặt niên iệu và cải cách trang phục. Dựa vào thể chế áo mũ trong sách Tam tài đồ hội ( thời Minh – Trung Quốc) để làm kiểu, chúa hạ lệnh cho quan lại văn võ thay đổi kiểu trang phục, áo thì dùng vóc đoạn để may, người sang thì dùng hình mãng bào – thủy ba để trang trí, mũ thì trang sức bằng vàng bạc. Đặc biệt, phụ nữ cũng đổi dùng áo dài hẹp tay như áo của đàn ông và mặc quần theo kiểu của người Hoa thay vì mặc  váy như trước, (Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb VHTT, 2007, tr.428-430)

Theo nhiều nguồn sử liệu thì chiếc áo dài hẹp tay của phụ nữ thời này chính là sự kết hợp giữa chiếc áo dài bít tà của người Chăm, với chiếc áo dài xẻ tà hai biên ( Xường xám) của người Hoa. Đó chính là tiền thân của chiếc ái dài Việt nam sau này

Trân Huyền
Đăng trên tạp chí Heritage Fashion tháng 8-9/2012
Nguyên tựa: Trang phục thời chúa Nguyễn
Tựa mới: Do Yahoo đặt

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC
Logged
 
 
Trang: 1 [2]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.333 seconds với 24 câu truy vấn.