Tháng Mười 27, 2020, 10:52:45 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Cái váy và cái quần của các bà  (Đọc 12086 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Tám 15, 2010, 01:24:41 AM »

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được học bài Hai bà Trưng:

    Bà Trưng quê ở Châu Phong
    Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
    ...
    Hồng quần nhẹ bước chinh yên
    Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành ...


Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa là quần đỏ.
Cả lớp khoái chí, cười khúc khích.
Sau này đọc sách thấy nhiều học giả đồng ý với thầy.
Hồng quần: quần chính nghĩa là cái váy, cái xiêm, phụ nữ xưa mặc quần đỏ. (Đinh Xuân Lâm và Chu Thiên , Đại Nam quốc sử diễn ca, Văn Học, 1966, tr. 87 ).
Hồng quần: đàn bà (xưa mặc quần đỏ). (Hoàng Xuân Hãn, tập 2, Giáo Dục, 1998, tr. 77).
Hồng quần: quần đỏ (tức con gái). (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).
Hình ảnh hai bà Trưng mặc quần đỏ dẹp giặc đẹp quá!
Đẹp quá hoá ra ... đáng ngờ!
Theo truyền thuyết thì thời Hùng Vương, đàn ông Việt Nam đóng khố, đàn bà mặc váy kín (váy chui) hoặc váy mở (váy quấn). (Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976, tr.177).
Sử nước ta lại cho biết thêm:
Năm 1414, nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc; đàn bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hoá theo phong tục phương Bắc. (Đại Việt sử kí toàn thư).
Nhà Minh muốn đồng hóa dân ta, cấm đàn bà con gái nước ta mặc váy, bắt phải mặc quần như người Tàu.
Năm 1428 Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước.
Sử không cho biết cách ăn mặc của dân ta dưới thời Lê Thái Tổ và mấy triều vua kế tiếp.
Thời tự chủ, với ý quyết xoá bỏ hết tàn tích nô lệ về y phục, vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm đầu (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (nghĩa là bắt buộc phải mặc váy). (Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Đại Nam, tr. 206).
Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Bốn Phương, 1961, tr. 173).
Chúa Võ Vương muốn "Triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà" (Kiều), độc lập đối với vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài nên ra lệnh bắt đàn bà đàng trong phải ăn mặc như Tàu. Vì chúa muốn "Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em", mà các bà đàng trong phải mặc quần.
Vua Minh Mạng đi xa thêm một bước nữa:

    Tháng tám (có chỗ hát tháng chín) có chiếu vua ra
    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
    Không đi thì chợ không đông
    Đi thì bóc lột quần chồng sao đang.


Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám hay tháng chín vì sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính biên toát yếu, Thuận Hoá, 1998, tr. 188).
Quần không đáy, "vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không", tức là cái váy. Minh Mạng bắt cả đàn bà đàng ngoài mặc quần, cấm mặc váy.
Trên lí thuyết thì từ năm 1828 đàn bà cả nước ta đều phải mặc quần theo ý muốn của nhà vua.
Nhưng thực tế thì ra sao?
Thực tế thì "phép vua thua lệ làng". Đằng sau luỹ tre xanh, mọi chuyện trong nhà ngoài xóm đều được dàn xếp theo bộ luật bất thành văn "lệnh ông không bằng cồng bà". Vua nói vua nghe, váy bà bà mặc. Minh Mạng làm sao mà đụng được vào cái váy của các bà nhà quê đàng ngoài! Trong lúc tỉnh thành xôn xao kháo nhau cởi váy mặc quần thì thôn quê miền Bắc vẫn khư khư giữ cái váy. Cho mãi đến những năm 1940 vẫn còn cảnh:

    Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục
    Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn
    Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức
    Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm
    (Anh Thơ, Đêm ba mươi tết, 1941)

Cái váy của ta cứ âm thầm "Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi"(Phạm Duy). Nhiều phen được vua yêu, lắm lúc bị chúa ghét! Cái váy cứ nhẫn nhục bám lấy các bà mà tồn tại.
Thế mà hai bà Trưng đã tung ra mốt mặc quần từ những năm 40-43, nghĩa là gần 14 thế kỉ trước khi nhà Minh ra lệnh bắt đàn bà nước ta mặc quần, gần 18 thế kỉ trước khi vua Minh Mạng cấm mặc váy!
Đầu thế kỉ 20, đàn bà nước ta "quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam kỳ và Trung kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh". (Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng hợp Đồng Tháp,1990, tr. 330).

Đến khoảng 1938, dân ta "quần thì chỉ dùng sắc trắng và nâu. Những người già cả mà giàu sang thì ngày hội hè tết nhất mới dùng quần đỏ". (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, sđd, tr. 173).
Hai bà Trưng nhìn xa, đi trước thiên hạ hay cái quần của hai bà ... có vấn đề?
Bàn về quần, trước hết phải đặt câu hỏi quần là cái gì? Chết thật! Ngần này tuổi đầu mà không biết quần là cái gì à?

Quần (chữ hán, bộ y) được Huỳnh Tịnh Của và Đào Duy Anh định nghĩa là đồ để che phần dưới thân thể.
Tự điển Génibrel dịch chữ quần là pantalon (quần dài), culotte (quần đùi),  jupe (váy đàn bà), vêtement descendant depuis les reins jusqu'aux pieds (đồ mặc che từ eo xuống đến chân).

Quần được Thiều Chửu dịch là cái quần, cái xiêm.
Đang tìm hiểu cái quần lại bị vướng vào cái xiêm. Vậy xiêm là cái gì?
Xiêm là áo choàng che trước ngực (Thiều Chửu), áo che đàng trước (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển), cái váy (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều), đồ bận dưới, cái củn (củn là đồ bận trên), cái váy (Huỳnh Tịnh Của), jupe (váy dài), jupon (váy ngắn), vêtement inférieur (đồ mặc che phần dưới) (Génibrel), manteau (áo choàng) (Gustave Hue).
Đúc kết các định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng xiêm là cái áo choàng, áo mặc ngoài. Xiêm ngắn, chỉ che phần trên thân thể, thì chỉ có một tên gọi là xiêm. Xiêm dài (che cả phần dưới thân thể) thì ngoài tên xiêm, còn được gọi là quần, hay váy.
Quần là chữ dùng để chỉ đồ mặc che phần dưới thân thể. Quần được dùng cho cả đàn ông và đàn bà. Quần có thể là cái sa rông của người Miên, cái kilt của người Ecosse ... Đàn ông và đàn bà Tàu đều mặc quần hai ống, cho nên quần đàn ông hay quần đàn bà Tàu đều là ... quần (như cách hiểu ngày nay).

Chỉ có cái quần đàn bà Việt Nam mới lận đận, rắc rối.
Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà nước ta không mặc quần. Thế à? Các bà không mặc quần hai ống như ngày nay mà chỉ mặc váy thôi.
Chữ quần (hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với cái quần đàn ông.
Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh được ghi chú bằng chữ hán nôm "dã phụ y thử quần, tục danh quần đùm" (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là váy buộc túm cạp lại.
Dường như chỉ có văn học mới dùng hồng quần hay quần hồng để chỉ cái váy.

    Bốn cột lang, nha cắm để chồng
    Ả thì đánh cái, ả còn ngong
    Tế hậu thổ khom khom cật,
    Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
    Tám bức quần hồng bay phới phới,
    Hai hàng chân ngọc đứng song song.
    Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
    Cột nhổ đem về để lỗ không.

         (Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)

Hai cô gái đánh đu, khoe "tám bức quần hồng". Vậy là mỗi cô có "bốn bức quần hồng". Hồ Xuân Hương cũng đưa ra "bốn mảnh quần hồng" trong bài Đánh đu:

    ( ...)
    Trai du gối hạc khom khom cật
    Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng
    Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
    Hai hàng chân ngọc duỗi song song ...

Bốn bức hay bốn mảnh quần hồng ở đây là cái gì? Nếu chỉ là cái quần hai ống thì mỗi ống phải xẻ hai. Ta không có kiểu quần tân kì như thế. Cũng không phải là một mình cái váy vì không có váy nào lại xẻ tư như vậy. Chỉ còn cái áo tứ thân (áo tứ thân có 2 vạt đằng trước, 1 vạt đằng sau) cộng với cái váy mới hợp thành bốn mảnh quần hồng. Cái áo tứ thân (cái xiêm của ta) đã được các tác giả gọi là cái quần. Chúng ta hiểu vì sao Thiều Chửu đã định nghĩa quần là cái xiêm, và Huỳnh Tịnh Của lại định nghĩa cái xiêm là đồ bận dưới, tức là cái quần.
Trong bài Chỗ lội làng Ngang Nguyễn Khuyến có nói đến cái quần đàn bà:

    Đầu làng Ngang có một chỗ lội
    Có đền ông Cuội cao vòi vọi
    Đàn bà đến đấy vén quần lên
    Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
    Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
    Cái gì trăng trắng như con cúi
    Đàn bà khép nép đứng liền thưa
    Con trót hớ hênh ông xá tội ...


Đàn bà vén quần, hớ hênh, để lộ cả cái gì trăng trắng như con cúi. Các nhà quan sát có thẩm quyền kết luận rằng người đàn bà trong câu chuyện mặc váy. Quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn kín đáo, chưa để lộ bí mật.
Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ hán, để chỉ cái váy của các bà.
Hình ảnh vén váy để hở cả cơ đồ còn được thấy qua tấm tranh dân gian Hứng dừa dí dỏm.
Qua vài thí dụ kể trên thì thấy rằng từ thế kỉ 15 (Hồng Đức quốc âm thi tập) đến đầu thế kỉ 20 (Nguyễn Khuyến) chữ quần đã được văn học Việt Nam dùng theo nghĩa của chữ hán, để chỉ đồ che nửa dưới thân thể. Quần của đàn bà (miền Bắc) Việt Nam ngày xưa là cái váy, cái áo dài (xiêm), chứ chưa phải là cái quần hai ống ngày nay.
Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy màu đỏ.

Từ ngày người Pháp cai trị nước ta thì các bà nhà quê miền Bắc mới dần dần mặc quần hai ống như các ông. Một số bà tân thời ở tỉnh thành mặc màu trắng. Dân quê chỉ dùng màu đen hay màu nâu. Ngày nay, cả hai phái nước ta, phái mạnh và phái đè đầu phái mạnh, đều mặc quần hai ống, nhiều màu sắc, kể cả màu hồng, màu đỏ.
Cái váy, cái quần không những đã ám ảnh vua chúa mà còn đè nặng lên đời sống của đám dân đen.
Người xưa có phương thuật "chữa mắt hột bằng gấu quần đàn bà".
Quần nào chả là quần, tại sao không dùng quần đàn ông mà phải dùng quần đàn bà? Chẳng nam nữ bình quyền tí nào cả! Nam nhi thua thiệt quá!
Thật ra thì phương thuật dùng gấu váy, sau này váy hiếm, khó kiếm người ta mới thay váy bằng quần, dĩ nhiên phải là quần đàn bà.
Chữ váy, ngoài nghĩa thông dụng là cái váy đàn bà, còn có nghĩa khác là nạo vét, lau chùi (curer, nettoyer, tự điển Génibrel). Váy là dùng vật gì mà vặn xáy (xoáy) hoặc móc ra. Váy tai nghĩa là móc cứt ráy trong lỗ tai ( Huỳnh Tịnh Của).
Váy (đồ mặc) đồng âm với váy (lau chùi, xoáy móc). Do đó, giới bình dân đã dùng cái váy để tượng trưng cho động tác lau chùi. Ai bị đau mắt hột thì lật mí mắt lên, lấy gấu váy dí nhẹ vào mí là tất cả các hột sẽ được đánh sạch.
Từ ngày các bà không mặc váy nữa thì người ta dùng gấu quần. Đứng về mặt chữ nghĩa thì cái quần không giải thích được ý nghĩa của phương thuật. Phải thông qua cái váy mới rõ nghĩa.
Quần đàn ông không dính dáng gì đến váy cho nên không chữa được mắt hột! Quần của các ông thua quần các bà chứ không phải các bà kì thị các ông!

Xưa kia, "thợ may và thợ giặt không nhận may váy, giặt váy cho các bà". Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 178) cho rằng ta bắt chước tục Tàu. Người Tàu kiêng để lẫn lộn quần áo vợ chồng còn trẻ, dưới 70 tuổi.
Thuyết âm dương của Tàu e rằng cao siêu quá, vượt quá xa cái triết lí bình dân của cái váy của ta:

    Sáng trăng em tưởng tối trời
    Em ngồi em để sự đời em ra
    Sự đời bằng cái lá đa
    Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Bọn thợ may, thợ giặt sợ cái váy có lẽ chỉ vì họ tin rằng váy có ma thuật nạo vét của cải, làm hao tài, sạt nghiệp mà thôi.
Giới trí thức cũng bị váy, quần làm cho vướng mắc lùng bùng ...
Ngày xưa, "thư sinh, nhà nho kiêng không sờ vào váy, vào quần đàn bà giữa ban ngày".
Không biết cụ Khổng lúc bé có phải giặt giũ, phơi quần áo giúp mẹ không?
Nhiều người cho rằng vì váy, quần đàn bà là vật ô uế nên nhà nho không đụng đến. Giải thích như vậy nghe không ổn. Cho dù váy, quần của các bà có ô uế thật đi nữa thì cũng chỉ ô uế vài ngày lúc các bà có tháng thôi. Còn những ngày bình thường thì quần đàn ông hay váy đàn bà đã chắc gì cái nào sạch hơn cái nào? Không riêng gì nhà nho, đến người mù chữ cũng chẳng ai muốn đụng đến những đồ ô uế.
Nhà nho là người dùi mài kinh sử chuyên nghiệp. Ông nào cũng đầy một bụng chữ thánh hiền. Ban ngày ban mặt, nhỡ mà đụng vào cái váy hấp dẫn kia thì còn đâu là chữ nghĩa nữa! Cái váy sẽ cạo vét, lau chùi sạch sành sanh cái bụng chữ thì làm sao mà mở mày mở mặt với thiên hạ được! Có muốn sờ thì chờ lúc nhá nhem hãy sờ."Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh", mèo nào cũng xám như nhau. Tranh tối tranh sáng thì ... có mắt cũng như không, còn thấy đường nào mà cạo với vét!

Dân gian có một giai thoại về cái váy.
Chuyện kể rằng ông lí làng kia mới tậu được cái ô đen. Ông rất hãnh diện, đi đâu cũng che ô để khoe với dân làng. Một hôm ông vênh vang đi qua chỗ có mấy cô gái đang làm cỏ ruộng. Một cô hát:
Hôm qua tôi mất xống thâm
Hôm nay tôi gặp người cầm ô đen.

Một cô phụ hoạ thêm:
-Nói thế thì ra người ta ăn cắp cái xống thâm, cái váy đen của chị về may ô à? Em nhớ là xống thâm của chị tươi đẹp hơn ô đen kia cơ mà. Để em lên mượn, chúng mình xem cho kĩ nhé.
Ông lí bầm gan tím ruột định mắng mấy con "vén váy không nên" kia, nhưng ông chợt nghĩ nhỡ đụng phải bọn "xắn váy quai cồng" thì thật là nan giải. Nghĩ vậy, ông lí vội cụp ô, chuồn cho nhanh.

Hải Phòng cũng có một giai thoại tương tự.

    Trong một cuộc hát đúm, cô gái tấn công trước:

        Hôm qua em mất cái váy thâm
        Hôm nay em thấy anh cầm một chiếc ô đen.

    Cô gái chanh chua vừa dứt lời, liền được chàng trai nhã nhặn đáp lễ:

        Em nói thế là em cũng nhầm
        Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình


Trong lúc các bà nhà quê phải mất nhiều năm mới bỏ được cái váy sồi, váy đùm, váy đụp, thì mấy cô ở thành thị lại hớn hở tung hô cái váy xoè, váy chẽn, váy cụt của phương Tây.
Thú phô trương ao ước bấy lâu nay! Giờ mới được mân mê cái váy hiện đại, hiện sinh ... hiện hình!
Khách bên đường sững sờ liếc trộm cái của lạ muôn màu, muôn vẻ ... Muôn năm!
Thấy mà chóng cả mặt, chỉ ... muốn nằm!

Nguyễn Dư

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SCC, mavuong, Duy Thuc, Ngoisaobiec, nhuocthuy, chanhnguyen, tadamina, tuanlong, Thiên Vương, 8N, zinzin04, chonhoadong, giacnamkha
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 16, 2010, 04:39:39 PM »

Khác người là phụ nữ ta

Á Ðông gồm bốn nước "đồng văn" là Tàu, Việt, Nhật, Hàn. Ðồng văn tức viết cùng thứ chữ, có cùng loại hình văn hóa.

Dưới mắt người ngoài, như người Tây phương, trước kia Việt, Nhật, Hàn đều trông giống Tàu : nào chữ Hán, nào đạo Khổng... Nhưng chỉ trông thế thôi, chứ thực thì không phải thế.

Ba "anh em", mỗi người khác Tàu sâu sắc cách riêng.

Trường hợp người Việt, một trong những phân biệt lớn nhất giữa văn hóa ta với văn hóa Tàu là vai trò của phụ nữ trong xã hội. Gái Tàu nổi tiếng "yểu điệu thục nữ", gái Nhật nổi tiếng ngoan ngoãn ngang với... cơm Tàu (1), còn gái Hàn trước kia ta ít để ý, nay mới biết lại còn ngoan hơn cả gái Nhật! Như sẽ trình bày, gái Việt oai hơn hẳn các chị em Á Ðông đấy, rất có thể oai nhất thế giới!

Ðông Sơn đầy nữ tướng

Ðã đọc trong sách, đã xem ảnh trong sách từ lâu, vậy mà lần đầu tiên đến thăm Viện Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội, tận mắt ngắm những chuôi dao găm Ðông Sơn, vẫn không khỏi kinh ngạc.

Rõ ràng đó là tượng một người đàn bà chống nạnh, mắt trợn tròn xoe, oai phong lẫm liệt. Dao găm có tầm đánh ngắn, chắc là vũ khí của cấp chỉ huy (như khẩu súng lục bây giờ). Người đeo những dao găm ấy chắc là những nữ tướng...

Trần Quốc Vượng cho biết tượng làm chuôi dao găm Ðông Sơn "phần nhiều là tượng phụ nữ".(2) Có vẻ trong văn hóa Ðông Sơn phụ nữ chẳng những có làm tướng mà còn chiếm đa số trong hàng tướng lĩnh!

Là chuyện lạ không đâu có

Làm tướng được, sao không làm vua được?

Người ta có thể tự hỏi, liệu trong số 18 vua Hùng có vua bà nào chăng (cho đến giờ vẫn chưa ai tìm ra được một bằng chứng cỏn con về nhân thân của các vị vua tiền sử ấy (3))...

Nếu có nữ Hùng Vương, thiết tưởng đâu có gì lạ, vì đến mấy trăm năm sau HV thứ 18 mà dân tộc ta vẫn còn có phụ nữ làm vua, tức Hai Bà Trưng. Rồi hơn hai trăm năm sau đó, lại có phụ nữ lãnh đạo khởi nghĩa nữa, tức Bà Triệu.

Các Bà là những tổng chỉ huy quân đội xuất sắc. Hậu Hán thư chép Hai Bà Trưng đã đánh cho "thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ còn giữ được thân mình mà thôi"!(4) Còn Bà Triệu thì ra oai dữ dằn đến nỗi "thứ sử Giao Châu mất tích"!(5)

Trong mấy trăm năm đầu của thời Bắc thuộc có hai lần dân tộc Việt Nam vùng lên chống ngoại xâm, cả hai lần đều do phụ nữ cầm đầu.

Chuyện đàn bà làm tướng làm vua ở ta là chuyện có bằng chứng, có được ghi chép rõ ràng, ta quen đến nỗi lấy làm thường, chứ thực ra là chuyện hết sức độc đáo, độc đáo đến nỗi hình như khắp thế giới xưa nay không đâu có: cái xứ Amazon trong thần thoại Hy Lạp, đa số sử gia Tây phương vẫn xem chỉ là chuyện hoang đường.(6)

Thôi làm vỏ, vẫn làm ruột

Ðọc tờ sớ báo cáo tình hình cai trị của thái thú Tiết Tổng dâng lên vua Ngô năm 231, dễ dàng thấy sau 400 năm đè đầu cưỡi cổ, văn hóa Trung Quốc vẫn chưa làm quỵ được văn hóa Ðông Sơn (7), mà một đặc trưng căn bản là vai trò quan trọng của phụ nữ.

Chính vì vào khoảng ấy trong xã hội ta phụ nữ còn có thể tự nhiên làm lãnh đạo mà năm 248 mới lại có đàn bà Việt cưỡi voi đánh đuổi Tàu.

Nhưng dĩ nhiên rốt cuộc văn hóa Ðông Sơn đã phải quỵ.

Từ Bà Triệu tới nay người phụ nữ Việt Nam không có lần nào xông pha lừng lẫy như thế nữa.

Vì kém văn hóa Tàu về quân sự mà văn hóa Ðông Sơn phải chịu mất... mặt. Nó không còn được xuất hiện trong tư cách lãnh đạo, không còn được làm "vỏ" cho xã hội Việt Nam nữa.

Nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại như "ruột". Thôi Lạc vương Lạc hầu Lạc tướng không có nghĩa là người Việt biến thành người Tàu. Với đại đa số nhân dân vẫn sống trong các làng quê, xa ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Tàu, trong bóng tối dân tộc ta âm thầm xây dựng một nền văn hóa mới, vừa tự lực sáng tạo, vừa tiếp thu hạn chế văn hóa của quân xâm lược, vừa dai dẳng duy trì một số yếu tố căn bản của nền văn hóa truyền thống...

Kìa, trông lại mà xem

Tuy không còn oai bằng Hai Bà Trưng, Bà Triệu, phụ nữ ta vẫn làm vua giỏi khi có dịp. Lý Thánh tông thân chinh đánh Chiêm Thành, nguyên phi Ỷ Lan ở nhà thay vua cai trị nước xuất sắc đến nỗi vua đang rút quân nghe tin, nghĩ bụng: "Mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm...", bèn mới quay trở lại cố đánh quân Chiêm cho được.(8)

Rồi nữ tướng Bùi Thị Xuân của triều Tây Sơn.

Rồi bao nhiêu nữ chiến sĩ can trường trong thế kỷ 20...

Không phải chỉ khi ngồi trên ngai hay trên bành voi trận, hay khi chiến đấu với giặc cướp nước, người phụ nữ Việt Nam mới tỏ ra không chịu lép cánh nam nhi.

Mặc cho các nho sĩ cao giọng rao giảng "nam nữ thụ thụ bất thân", ở các làng quê phụ nữ không hề chịu ru rú trong buồng hay lẩn quẩn xó bếp mà vẫn đều đều đi chợ (9), đi hát quan họ hát trống quân, đi hội Chùa Hương hội Chùa Thầy, đi ra đình chen vai lễ bái với đàn ông, vẫn khúc khích bảo nhau mua "ba đồng một mớ đàn ông"(10), vẫn thi nhau "gánh giang sơn nhà chồng"(11) v.v.  Nói chung là mặc các nho Việt sì sụp khấn Khổng Tử, phụ nữ Việt cứ giao tiếp xã hội tưng bừng, cứ cười cợt phái nam và cứ đưa "vai gầy" ra vác trọn công việc nhà chồng!

Ca dao tục ngữ là một tấm gương phản ánh văn hóa. Nhìn vào gương ca dao, dễ dàng thấy một chân dung phụ nữ Việt đặc biệt ngang tàng.

Cái hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là một tấm gương khác. Nếu quả do một nữ sĩ làm, thơ ấy hình như không hai trong lịch sử văn học thế giới. Còn nếu chủ yếu là sáng tác của một đám đàn ông (12), thì việc thơ ấy bị ký ẩu nữ sĩ cũng vẫn là hiện tượng đặc biệt nổi bật. Trong lịch sử dằng dặc của văn học Trung Quốc, chẳng hạn, không nghe nói có thứ thơ văn "tục" do đàn bà ký tên, hoặc ký tên đàn bà!

Ðiêu khắc dân gian là một tấm gương phản ánh văn hóa nữa. Xem đi xem lại ảnh chụp những chạm trổ ở một số đình làng ngoài Bắc từ thế kỷ XVI đến XVIII (13), chợt để ý nét mặt và dáng vẻ mạnh dạn của các phụ nữ. Bức chạm Thiếu nữ múa ở đình Hưng Lộc (Nam Hà), chẳng hạn, cô gái múa mà tay chống nạnh tay giơ cao làm ta vừa xem vừa lờ mờ nghĩ đến cái chuôi tượng người tròn xoe mắt phượng của con dao găm Ðông Sơn...

Tín ngưỡng dân gian dĩ nhiên càng đầy hình ảnh văn hóa. Nhìn vào đó, ta thấy gì? Gần như thấy toàn nữ thần! Do tình cờ lịch sử, thế giới hiện thực coi như đã mất vào tay nam giới, nhưng "thế giới tâm linh (của chúng ta vẫn tiếp tục) do nữ giới cai quản"(14). Có phải sở dĩ đàn bà được làm trùm ở thế giới bên kia là do họ đã vốn làm trùm ở thế giới bên này trước khi bị đàn ông "đảo chính"?! Hẳn đàn bà đã có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nước, nên bây giờ nhạc sĩ Phạm Duy yêu nước mới ca Mẹ Việt Nam um sùm chứ!

Cái giá cao của phụ nữ trong xã hội ta, nó đã từng được đúc thành luật hẳn hoi: "Luật Hồng Ðức ở thế kỷ XV có một số điều chú ý đến quyền lợi của phụ nữ. Như con gái có quyền hưởng gia tài như con trai, có quyền sở hữu về tài sản; vợ có quyền ly dị chồng nếu chồng bỏ vợ trong năm tháng không đi lại, trường hợp có con, thời hạn ấy tăng lên một năm. Ðó là tập tục cổ truyền còn được giữ lại, và đó cũng là giá trị lớn nhất của luật Hồng Ðức."(15)

Triều Lê chủ trương Hoa hóa mà còn phải nể "cổ" đến thế, đủ biết cái thế lực của phụ nữ ở ta vốn nó lớn đến chừng nào (các ông chồng "đi lại" biếng nhác bị đuổi như chơi!).

Dư âm tự nghìn xưa đấy!

Không đừng được, văn hóa Tàu đã có mức độ ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam. Ít nhiều, đã có xảy ra hiện tượng "chồng chúa vợ tôi". So với bà tướng Ðông Sơn, bà vua Trưng, bà chủ tướng Triệu thì... bà xã kém uy nhiều lắm. Tuy vậy, phụ nữ Việt trước sau vẫn không hề thất thế tới mức bị... bẻ chân.(16)

Sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, sau những thời kỳ vua chúa ta tự Hoa hóa kịch liệt, mà người phụ nữ Việt Nam rốt cục vẫn có được một địa vị xã hội oai phong hơn hẳn đàn bà Tàu, thử hỏi do đâu mà được thế?

Còn đâu nữa, nếu không là do cái đặc trưng trọng nữ độc đáo của văn hóa Ðông Sơn mà tổ tiên ta đã kiên trì bảo lưu xuyên suốt mọi giai đoạn lịch sử!

"Ðông Sơn đã mất nhưng Ðông Sơn đang còn"!(17)
 
THU TỨ
-----------____________________
(1) Có câu "Cơm Tàu, vợ Nhật, nhà Tây". Vọng ngoại. Cơm Tàu béo quá, chóng chán. Vợ Nhật chiều chồng quá, cũng chóng chán. Còn nhà Tây nơi "Hà Nội phố" có lẽ hay, chứ nếu đặt giữa làng quê thì trơ, mà ở thì làm sao thoải mái bằng nhà truyền thống của ta được.
(2) Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2000, tr. 142.
(3) Có những sách chép rõ tên hiệu của từng vua Hùng. Nhưng theo Trần Quốc Vượng, "VUA HÙNG (...) chỉ là nét vẽ muộn màng của (...) thời Lý - Trần – Lê" (sđd., tr. 60). Có lẽ thời Ðông Sơn dân Lạc Việt đã có thủ lĩnh tối cao, nhưng chân dung của các "vua" ấy không ghi lại ở đâu hết, mãi mười mấy thế kỷ sau con cháu nhớ nguồn mới "vẽ" ra để có cái mà thờ.
(4) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 267.
(5) PHL, TQV, HVT, LN, sđd., tr. 346. Về chuyện phụ nữ chiến đấu, tạp chí Archaeology (Mỹ) số tháng 3 và 4 năm 2008 có ghi rằng ở Phum Suay (Khơ-me) người ta đã đào được 35 bộ hài cốt trong đó có 5 bộ là xác phụ nữ bên cạnh có gươm. Khu mộ táng này được xem là có niên đại từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 5 sau Tây lịch. Không biết những "nữ binh" Phum Suay có liên hệ gì với phụ nữ ta hay không.
(6) Xem lời tóm tắt trong Wikipedia.com.
(7) Nguyễn Duy Hinh, Văn minh Lạc Việt, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 2004, tr. 144.
(8) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược.
(9) Trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Sài Gòn, 1971, tr. 219), Bình Nguyên Lộc cho biết đến năm 1911 mà bên Tàu việc đi chợ mua đồ ăn vẫn là việc của đàn ông. Thậm chí, đến thập kỷ 1960 mà ở Chợ Lớn đàn bà Tàu vẫn chưa được đi chợ! Trong Hạn mạn du ký (1921, đăng trên tạp chí Nam Phong), Nguyễn Bá Trác kể chuyện bên Tàu: "Người mấy tỉnh về đàng bắc (...) Ðàn bà con gái tập tục khác hẳn những tỉnh đàng nam: con nhà thượng lưu ít khi ra đến cửa". Vậy cấm cung phụ nữ đúng là tục ở Hoa Bắc, tục của chủng Hoa.
(10) Ca dao: "Ba đồng một mớ đàn ông / Ðem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha..." (Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao).
(11) Ca dao: "Có con phải khổ về con / Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng" (Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao).
(12) Xem bài Tuy ngoài mà trong.
(13) Việt Nam điêu khắc dân gian thế kỷ XVI-XVII-XVIII, Trần Văn Cẩn chọn, Nguyễn Ðỗ Cung giới thiệu, Lê Vượng chụp ảnh, nxb. Ngoại Văn, Hà Nội, 1975.
(14) Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 85-86: "thiên đình Ðạo giáo Việt Nam (...) do nữ giới làm chủ, chứ không phải nam giới (...) Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn... cùng với các cô, các bà chúa (...) thế giới tâm linh của Việt Nam là do nữ giới cai quản."
(15) Trương Chính và Ðặng Ðức Siêu, Sổ tay văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1978, tr. 69.
(16) Văn hóa Tàu có tục bó chân phụ nữ.
(17) Trong lời cuối sách của Hà Văn Tấn, Văn hóa Ðông Sơn ở Việt Nam, nxb. Khoa Học Xã Hội, VN, 1994.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, SCC, nhuocthuy, Duy Thuc, chanhnguyen, tadamina, tuanlong, Thiên Vương, 8N, chonhoadong, giacnamkha, byphuong
Logged
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 17, 2010, 01:14:44 AM »

Thì ra là thế big grin
Đã có gen di truyền từ thời Đông Sơn cơ, thử hỏi có nước Tàu Nhật nào mà nó ngấm vào ca dao như mình không chứ:
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định cầm roi oánh chồng


Đàn ông VN chớ nên than thân trách phận nữa big grin Số phận rồi

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Yahoo, Duy Thuc, chanhnguyen, tadamina, tuanlong, Thiên Vương, 8N, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Chín 02, 2010, 03:10:47 AM »





Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- người ta vội vàng đào đường xới chợ, 5 cái cổng chào cho Hà Nội chưa trình duyệt thì người ta đã đào đất để thi công. Khi không được duyệt thì vội vàng lấp đất lại... Nhìn cái cách mà Hà Nội đang làm để chào đón 1000 năm Thăng Long chẳng khác nào ở quê người ta vội vàng quét nhà quét sân giặt giũ áo quần rồi lôi hết đám con ra bôi bôi trát trát son phấn và xịt nước hoa loại xịt phòng để đón người trên phố về thăm...
Chưa hết, vội vàng tổ chức các hội thảo, triển lãm văn hóa siêu tập rồi vội vàng kết luận 1 cách chụp mũ về văn hóa...
(YH)
-----------------------------------------------------------------------------------------------

Gần đây Hà Nội tưng bừng với cuộc triển lãm ảnh Để hiểu hơn về một Hà Nội xưa, do tạp chí Xưa và Nay phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức. Báo chí toàn quốc đều loan tin và viết bài phóng sự về cuộc triển lãm hiếm có đã quy tụ được nhiều nhà sưu tập ảnh, trong đó có nhà sưu tập bưu ảnh nổi tiếng người Pháp Philippe Chaplain.

Trong số các bài viết có một bài viết “Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa” của Kiều Trinh gây sự chú ý đến người đọc nhiều nhất. Nó tạo sự ngạc nhiên không những bằng vài tấm ảnh áo yếm của phụ nữ bị bóc vỏ mà còn bằng những lời tuyên bố đáng suy ngẫm của một hội viên hội khoa học là ông Lê Cường và những nhận xét của nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo.

Đây là một trích đoạn:





Trong số hơn 100 chủ đề được trưng bày trong triển lãm này, những tác phẩm về sinh hoạt hàng ngày thu hút người xem hơn cả. Một chủ đề được người xem quan tâm và đặt nhiều dấu hỏi là áo yếm. Điều kỳ lạ với người xem là độ “hở hang” của những phụ nữ này. Trái với quan niệm “hiện hành” của nhiều người về sự kín đáo của người Hà Nội, phần lớn người trong ảnh đều mặc áo yếm mà hở ngực. Chiếc yếm chỉ che kín phần giữa ngực, còn hai bầu ngực thì lại hoàn toàn lộ ra!


……………………………………………………….

Về điều này, ông Lê Cường, hội viên hội Khoa học lịch sử nói:



“Điều này chứng tỏ, nho giáo đã không chạm tay đến tất cả mọi người trong xã hội. Và trong dân gian, tín ngưỡng phồn thực vẫn có sức sống riêng. Điều này không chỉ thể hiện rõ qua những cảnh yêu đương trên những thạp đồng Đào Thịnh, bia chùa Tứ Liên mà còn tồn tại trong sinh hoạt thường ngày. Và ngay cả những người có ý thức nho giáo thì các cụ cũng chỉ nho lúc đông người thôi. Điều đó xin được khẳng định là không hề dung tục”.


Ông Cường cũng cho rằng không nên nghi ngờ về tính “dàn dựng” phi thực tế của bộ ảnh này bởi chúng được xây dựng trên tinh thần dân tộc học rất rõ nét. Tuy nhiên, chính vì thế, bên cạnh tính tư liệu, nó không tránh khỏi cái nhìn về người Việt Nam như một dân tộc lạc hậu.

“Sắp xếp chân thực”- dòng chảy khác của nhiếp ảnh

Cũng đánh giá cao tính chân thực của các tác phẩm trong triển lãm, nhà nhiếp ảnh Hữu Bảo nhận xét:



“Những bức ảnh ở đây thể hiện rất rõ tâm thế của một “nước lớn” khi tiếp cận những thông tin lý lịch bằng hình ảnh của các thuộc địa của mình. Với những tấm bưu thiếp đẫm ý thức quảng bá du lịch, người xem sẽ hiểu, xứ chồng con mình đang sống là như thế này”.

“Các tác phẩm được chụp bởi những tay máy chuyên nghiệp và điều quan trọng là họ rất tôn trọng văn hoá……………………………………………


Càng nhìn những tấm ảnh hở hang của phụ nữ Việt Nam xưa, tôi càng nghi ngờ, càng thấy rõ tính dàn dựng phi thực tế trong chủ ý của người chụp và dã tâm của người phổ biến chúng vào bưu thiếp như một phương tiện quảng bá ngành du lịch hay một mưu đồ chính trị gian trá của Pháp quốc thời ấy.

Nếu nhìn sâu hơn, chúng ta thấy những bức ảnh này có sự xắp xếp của một nhiếp ảnh gia không chân chính, dù khung cảnh được xây dựng bằng những nét mộc mạc bình dị của người phụ nữ lao động thường nhật. Nó thiếu tự nhiên dù đã được dàn dựng bằng người thật và những vật liệu làm cho giống như thật. Đó cũng chính là gian ý nửa hư nửa thực, mập mờ đánh lận con đen của người chụp những tấm ảnh khoả thân này.

Hãy nhìn vào khuôn mặt người mẫu trong tấm hình ba cô gái đang ngồi(hình số 1), có một cô đang cầm dọc tẩu hút thuốc. Chính giữa là một cô bé có lẽ với động tác châm thuốc, còn hai cô kia đều mặc yếm, nhưng cả hai chiếc yếm bị vén qua một bên với chủ ý phanh ngực ra. Khuôn mặt hai cô gái mang đầy vẻ sượng sùng, khổ não, đau đớn và tủi nhục hơn tâm trạng mong chờ phút sung sướng của một người đang đợi hút. Vì sao? Ta có thể tưởng tượng ra đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ kia là một cường lực vì người chụp là người Pháp, kẻ thống trị hét ra lửa, kẻ nắm trong tay thân phận người dân bị trị.

Còn cái dáng ngồi chàng hảng mời gọi của một trong hai cô gái ngực trần nữa, tiết lộ rõ ràng ở đây có sự sắp đặt của một tay phó nhòm chuyên nghề chụp ảnh khiêu dâm!!!
(Hình 1) Tôi trộm nghĩ cái thời xa xưa đó( có thể là 1888), chắc chưa có nghề người mẫu khoả thân cho các tay chụp hình chuyên nghiệp tha hồ chụp như bây giờ, nhất là các tay phó nhòm lại là người Tây Phương. Và vào những năm người Pháp bắt đầu đô hộ chúng ta chưa có phong trào lấy Tây cũng như sự hiện diện của nhà thổ(ra đời khoảng 1940 trở đi) . Vậy thì ba giả thuyết: người mẫu chuyên nghiệp, vợ Tây và gái giang hồ có thể bỏ qua một bên.

Chỉ có giả thuyết cuối cùng là những người dân lao động quê mùa này bị ức hiếp, bắt buộc phải tuân thủ làm theo mệnh lệnh “bắt cởi phải cởi, bắt chết phải chết” của người chủ nô lệ.

Khuôn mặt nô lệ buồn bã, chịu đựng của tấm hình số 2 cũng vậy, nó thuần túy một tấm hình khoả thân trần trụi không một nét nghệ thuật văn hoá nào cả.

Chiếc áo yếm nô lệ này không có nét hấp dẫn nửa kín nửa hở nào như các nhà phê bình ngày nay hay ca tụng vẽ vời đầy rẫy trên các trang web. Nó chỉ mang một tính lịch sử đau đớn của tổ tiên ta mà thôi.

(Hình 2)Tôi rất ngạc nhiên gần như shốc khi thấy các tấm hình này và tự hỏi không lẽ các bậc phụ nữ tổ tiên ta ngày xưa hở hang đến thế sao. Trong khi từ bé mẹ tôi răn dạy tôi rằng: “Con gái phải kín đáo, áo mặc chớ hở hang, đi đứng nhẹ nhàng khoan thai, ngồi thì khép chân lại, lúc nào cũng phải giữ ý tứ”.

Hỏi lại thì mẹ tôi trả lời thế này. Thời bà ngoại tôi sống, lúc đó chưa có áo ngực(su chiêng) thì mặc áo yếm nhưng áo yếm chỉ là áo lót, bên ngoài phải mặc áo ngắn, áo cánh hay áo dài. Khó khăn hơn thì phải bịt chặt ngực lại hay nén ngực chứ không phải hớ hênh vậy đâu. Thời Pháp thuộc, người dân ai cũng sợ lính Tây lắm nhất là lúc chúng qua làng đi ruồng bố. Mẹ kể, em gái của mẹ khi đó gánh hai gánh phân đi trên đường làng, tụi Tây thấy la “gái gái” và ào tới lột quần áo cưỡng hiếp cô (mặc cho phân rơi rớt) ngay trên đường làng trước mắt bao nhiêu người mà không ai dám can thiệp. Do đó việc chúng bắt phụ nữ cởi truồng hay trần cho chúng chụp hình là chuyện thường tình.

Bố tôi thì kể thêm về cái yếm như thế này. Gia đình bên mẹ tôi khá giả nên còn có áo mặc ra ngoài chiếc yếm, còn bên bố tôi hồi ấy nghèo quá. Bà nội tôi chỉ có độ một, hai cái áo thôi lại còn bị vá chùm, vá đụp. Bà thường thường chỉ có mặc yếm ra đồng làm việc mà cất chiếc áo đi sợ rách, sợ khi thời tiết trở lạnh, không có áo mà mặc. Năm Ất Dậu, nạn đói tràn lan vì chính sách thâm hiểm của Nhật – Pháp nhằm dồn cả một dân tộc vào thảm họa diệt chủng. Bố tôi đi làm phu lục lộ không đủ tiền mua thực phẩm cho cả gia đình. Bà chịu hy sinh nhịn đói mà chết, để nhường miếng ăn cho chồng, cho con. Mỗi lần nhớ tới bà, bố tôi lại rơi nước mắt ân hận không nuôi nổi mẹ phải để mẹ chết vì thiếu ăn.

Qua câu truyện trên, tôi biết thêm là người phụ nữ nhà quê thời ấy vì nghèo không đủ quần áo nên phải mặc phong phanh chiếc yếm không như vậy (nhưng rất kín đáo, che hai bầu ngực), chứ không phải vì đó là một thứ “văn hoá phồn thực” vượt ra ngoài vòng rào nho giáo như ông Lê Cường, hội viên hội Khoa Học Lịch sử phát biểu.

 Nếu xét theo văn hoá truyền thống, phụ nữ Việt Nam thời ấy ăn mặc rất kín đáo, trong lệnh vua phép nước cũng có ghi chép rõ ràng. Theo tài liệu sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, dưới thời các chúa Nguyễn, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong. “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở….”. Riêng tại Kinh đô Huế, nơi luật lệ thực thi nghiêm ngặt, đàn bà ra đường thường mặc áo dài kể cả lúc đi bán hàng rong. Tục lệ này còn lưu giữ cho tới bây giờ.

(Hình 3)Nếu xét theo thực chứng, chúng ta xem thêm rất nhiều những bức hình chụp cảnh dân cư Hà Nội lúc đó, ta thấy phụ nữ ăn mặc rất đàng hoàng, kín đáo thậm chí đến nỗi bít bùng hai ba lớp nữa kia. Chỉ có vài ba tấm hình phụ nữ ở trần này nằm lẫn lộn vào gây ấn tượng mạnh làm bẻ cong sự thật.

Khi tôi viết bài này, qua những email truyền đi trên mạng thì tôi và bạn bè tôi, hầu hết ai cũng nhận được các bức hình khoả thân với tựa đề “Hình ảnh phụ nữ VN khoả thân của đầu thế kỷ trước” được phát tán và lưu hành khắp nơi. Loạt hình đó, theo lối sắp xếp dàn dựng cảnh và người thì ai cũng đoán ra cùng một nhiếp ảnh gia là tay chơi thích chụp những hình ảnh khiêu dâm. Trong bộ sưu tập ảnh hoàn toàn khoả thân này có vài ba tấm hình hở ngực đã được đem ra trưng bày trong buổi triển lãm vừa qua. Tôi còn lưu giữ những tấm ảnh này nhưng chỉ đưa ra ba tấm ảnh hở ngực còn những tấm kia hoàn toàn trần trụi và mang đầy vẻ dung tục.

Theo tôi, việc đem những tấm ảnh hở ngực trưng bày chen lẫn với những tấm ảnh và bưu thiếp đứng đắn về Hà Nội xưa dễ làm người xem lầm lẫn. Điều tai hại là hậu ý tạo nên cái nhìn sai lạc về một văn hoá và lịch sử của một dân tộc. Ai xem xong cũng tưởng thời ấy phụ nữ Việt ta bệ rạc bên bàn hút, nhếch nhác thả ngực trần như vậy kể cả lúc quang gánh lao động.

Điều đau lòng hơn là người Pháp đã dùng những tấm hình ngực trần ấy làm bưu thiếp. Ngày ấy bưu thiếp rất phổ thông và đa dụng. Người ta xử dụng bưu thiếp với nhiều mục đích như phát triển nghệ thuật, thương mại như du lịch và chính trị như truyền bá một tư tưởng nổi loạn hay hình ảnh một lãnh tụ.

Nếu việc khai thác chiếc yếm bỏ ngỏ như một ý đồ chính trị, người Pháp đã dùng những tấm bưu thiếp này lăng nhục phụ nữ Việt Nam như một dân tộc thuộc địa mọi rợ. Nó cũng có tác dụng lôi cuốn đàn ông Pháp càng thấy thích thú hơn trên con đường nhập ngũ viễn chinh qua Việt Nam.

Bàn rộng thêm một chút về chiếc áo yếm xưa.

Thực ra, đôi bờ vú luôn luôn là niềm hãnh diện của phụ nữ, là niềm hoan lạc của phái nam mà cũng là thức ăn thiên nhiên dinh dưỡng vô bờ của trẻ nhỏ. Chiếc yếm che ngực đã được tạo ra như một trang phục truyền thống không những để che thân mà còn là một vật làm đẹp(yếm lụa, yếm gấm) cho các phụ nữ khá giả có tiền, có của. Việc kín/hở hay cởi /mặc áo yếm đã móc ngoặc vào đức hạnh các phụ nữ như một đặt để trói buộc vô hình. Người đàn bà Việt Nam bị các ông đồ Nho bắt phải đậy, các ông Tây buộc phải cởi, thật là tội cho họ. Họ phải câm khi bị lăng mạ, bị bóp cổ, bị hành hạ, đánh đập, giết chóc, đối xử phi nhân như một món đồ chơi mà không có chọn lựa, không có tiếng nói. Sống mà như hấp hối, không cười, không vui, cô thế và cô đơn. Đã thế, nỗi thống khổ của cái nghèo, cái sợ, cơn đói kinh niên, áp lực chồng con theo đuổi họ mãi như cái bóng thiết tha nhất. Họ sống lặng lẽ như những bóng ma. Nhưng khác với bóng ma ở chỗ họ kiên cường phục vụ chồng, nuôi nấng con cái và nhất là hy sinh mạng sống lúc cần phải hy sinh. Như câu chuyện của bà nội tôi, của người đàn bà trong truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng.

Pascal có một suy tưởng, viết tóm tắt như thế này : “Con người, ai cũng có dĩ vãng, kỷ niệm là dĩ vãng của một cá nhân. Quốc gia nào cũng có dĩ vãng, lịch sử là một dĩ vãng của một dân tộc! Cá nhân, ai cũng yêu kỷ niệm của mình thì dân tộc nào cũng phải yêu lịch sử của họ”

Tôi là một công dân Việt Nam, dù dĩ vãng dân tộc tôi thế nào, tôi vẫn yêu mến lịch sử dân tộc tôi. Dù những hình ảnh phụ nữ Việt Nam xưa bị lăng nhục như thế nào tôi vẫn yêu mến họ. Những người đàn bà yếu đuối kia là tổ tiên tôi, họ là mẹ là bà cố, bà sơ của người Việt chúng ta hiện nay, dưới bất cứ hoàn cảnh nào (kể cả khi lịch sử bị bẻ cong) tôi vẫn coi trọng họ.

Trịnh Thanh Thủy
* Bài viết này là quan điểm cá nhân trong suy luận và giả thuyết riêng của người viết. Từ những tư duy này nếu có xảy ra một ngộ nhận đáng tiếc nào, thì việc ấy ngoài ý muốn của người viết.

Tài liệu tham khảo

-Lý lịch bằng ảnh của một thuộc địa-Kiều Trinh

http://www.baomoi.com/Home/VanHoa/www.sgtt.com.vn/Ly-lich-bang-anh-cua-mot-thuoc-dia/3801039.epi



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, chanhnguyen, nhuocthuy, tadamina, Thiên Vương, 8N, SCC, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao, mavuong
Logged
 
 
 
Duy Thuc
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 181

Cảm Ơn
-Gửi: 810
-Nhận: 1087



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Chín 02, 2010, 04:28:36 AM »

Trích dẫn
Riêng tại Kinh đô Huế, nơi luật lệ thực thi nghiêm ngặt, đàn bà ra đường thường mặc áo dài kể cả lúc đi bán hàng rong. Tục lệ này còn lưu giữ cho tới bây giờ.

          Tôi đồng ý quan điểm của tác giả bài viết, Mẹ tôi cũng kể lại rằng người phụ nữ vào thời Mẹ tôi khi ra đường phải mặc áo dài kín đáo, cho dù áo dài có cũ hoặc rách không có tiền mua áo khác thì phải vá lại mà mang. Người phụ nữ ra đường mà không mặc áo dài bị xem là người không đàng hoàng, xã hội không chấp nhận.

         Những tấm hình xưa


Cô gái Bắc Kỳ
Tà áo có chổ rách ngay đầu gối phải


Cô gái Trung Kỳ

Cô gái Nam Kỳ

Chú thích: Bắc kỳ, Nam kỳ, Trung kỳ: gọi theo danh từ xưa

          Xin giới thiệu điạ chỉ trang web có những tấm hình Việt Nam xưa.

http://nguyentl.free.fr/html/sommaire_photo_ancienne_vn.htm


Bán dạo

Kháng chiến chống Pháp

Bị xử trảm


Thủ cấp nghĩa quân

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Yahoo, chanhnguyen, nhuocthuy, tadamina, Thiên Vương, 8N, SCC, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao, mavuong
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 02, 2010, 10:06:05 AM gửi bởi Duy Thuc » Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Chín 24, 2010, 07:02:20 AM »

Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được học bài Hai bà Trưng:

    Bà Trưng quê ở Châu Phong
    Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
    ...
    Hồng quần nhẹ bước chinh yên
    Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành ...


Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa là quần đỏ.
Cả lớp khoái chí, cười khúc khích.
Sau này đọc sách thấy nhiều học giả đồng ý với thầy.
Hồng quần: quần chính nghĩa là cái váy, cái xiêm, phụ nữ xưa mặc quần đỏ. (Đinh Xuân Lâm và Chu Thiên , Đại Nam quốc sử diễn ca, Văn Học, 1966, tr. 87 ).
Hồng quần: đàn bà (xưa mặc quần đỏ). (Hoàng Xuân Hãn, tập 2, Giáo Dục, 1998, tr. 77).
Hồng quần: quần đỏ (tức con gái). (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).
Hình ảnh hai bà Trưng mặc quần đỏ dẹp giặc đẹp quá!
Đẹp quá hoá ra ... đáng ngờ!
Theo truyền thuyết thì thời Hùng Vương, đàn ông Việt Nam đóng khố, đàn bà mặc váy kín (váy chui) hoặc váy mở (váy quấn). (Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976, tr.177).
Sử nước ta lại cho biết thêm:
Năm 1414, nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc; đàn bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hoá theo phong tục phương Bắc. (Đại Việt sử kí toàn thư).
Nhà Minh muốn đồng hóa dân ta, cấm đàn bà con gái nước ta mặc váy, bắt phải mặc quần như người Tàu.
Năm 1428 Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, giành lại độc lập cho đất nước.
Sử không cho biết cách ăn mặc của dân ta dưới thời Lê Thái Tổ và mấy triều vua kế tiếp.
Thời tự chủ, với ý quyết xoá bỏ hết tàn tích nô lệ về y phục, vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm đầu (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân (nghĩa là bắt buộc phải mặc váy). (Nhất Thanh, Đất lề quê thói, Đại Nam, tr. 206).
Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm chước theo lối quần áo của người Tàu. (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Bốn Phương, 1961, tr. 173).
Chúa Võ Vương muốn "Triều đình riêng một góc trời, gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà" (Kiều), độc lập đối với vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài nên ra lệnh bắt đàn bà đàng trong phải ăn mặc như Tàu. Vì chúa muốn "Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em", mà các bà đàng trong phải mặc quần.
Vua Minh Mạng đi xa thêm một bước nữa:

    Tháng tám (có chỗ hát tháng chín) có chiếu vua ra
    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
    Không đi thì chợ không đông
    Đi thì bóc lột quần chồng sao đang.


Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám hay tháng chín vì sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính biên toát yếu, Thuận Hoá, 1998, tr. 188).
Quần không đáy, "vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không", tức là cái váy. Minh Mạng bắt cả đàn bà đàng ngoài mặc quần, cấm mặc váy.
Trên lí thuyết thì từ năm 1828 đàn bà cả nước ta đều phải mặc quần theo ý muốn của nhà vua.
Nhưng thực tế thì ra sao?
Thực tế thì "phép vua thua lệ làng". Đằng sau luỹ tre xanh, mọi chuyện trong nhà ngoài xóm đều được dàn xếp theo bộ luật bất thành văn "lệnh ông không bằng cồng bà". Vua nói vua nghe, váy bà bà mặc. Minh Mạng làm sao mà đụng được vào cái váy của các bà nhà quê đàng ngoài! Trong lúc tỉnh thành xôn xao kháo nhau cởi váy mặc quần thì thôn quê miền Bắc vẫn khư khư giữ cái váy. Cho mãi đến những năm 1940 vẫn còn cảnh:

    Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục
    Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn
    Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức
    Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm
    (Anh Thơ, Đêm ba mươi tết, 1941)

Cái váy của ta cứ âm thầm "Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi"(Phạm Duy). Nhiều phen được vua yêu, lắm lúc bị chúa ghét! Cái váy cứ nhẫn nhục bám lấy các bà mà tồn tại.
Thế mà hai bà Trưng đã tung ra mốt mặc quần từ những năm 40-43, nghĩa là gần 14 thế kỉ trước khi nhà Minh ra lệnh bắt đàn bà nước ta mặc quần, gần 18 thế kỉ trước khi vua Minh Mạng cấm mặc váy!
Đầu thế kỉ 20, đàn bà nước ta "quần phần nhiều mặc quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần nhiễu đỏ; ở Nam kỳ và Trung kỳ thì người phong lưu mặc quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh". (Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng hợp Đồng Tháp,1990, tr. 330).

Đến khoảng 1938, dân ta "quần thì chỉ dùng sắc trắng và nâu. Những người già cả mà giàu sang thì ngày hội hè tết nhất mới dùng quần đỏ". (Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, sđd, tr. 173).
Hai bà Trưng nhìn xa, đi trước thiên hạ hay cái quần của hai bà ... có vấn đề?
Bàn về quần, trước hết phải đặt câu hỏi quần là cái gì? Chết thật! Ngần này tuổi đầu mà không biết quần là cái gì à?

Quần (chữ hán, bộ y) được Huỳnh Tịnh Của và Đào Duy Anh định nghĩa là đồ để che phần dưới thân thể.
Tự điển Génibrel dịch chữ quần là pantalon (quần dài), culotte (quần đùi),  jupe (váy đàn bà), vêtement descendant depuis les reins jusqu'aux pieds (đồ mặc che từ eo xuống đến chân).

Quần được Thiều Chửu dịch là cái quần, cái xiêm.
Đang tìm hiểu cái quần lại bị vướng vào cái xiêm. Vậy xiêm là cái gì?
Xiêm là áo choàng che trước ngực (Thiều Chửu), áo che đàng trước (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển), cái váy (Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều), đồ bận dưới, cái củn (củn là đồ bận trên), cái váy (Huỳnh Tịnh Của), jupe (váy dài), jupon (váy ngắn), vêtement inférieur (đồ mặc che phần dưới) (Génibrel), manteau (áo choàng) (Gustave Hue).
Đúc kết các định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng xiêm là cái áo choàng, áo mặc ngoài. Xiêm ngắn, chỉ che phần trên thân thể, thì chỉ có một tên gọi là xiêm. Xiêm dài (che cả phần dưới thân thể) thì ngoài tên xiêm, còn được gọi là quần, hay váy.
Quần là chữ dùng để chỉ đồ mặc che phần dưới thân thể. Quần được dùng cho cả đàn ông và đàn bà. Quần có thể là cái sa rông của người Miên, cái kilt của người Ecosse ... Đàn ông và đàn bà Tàu đều mặc quần hai ống, cho nên quần đàn ông hay quần đàn bà Tàu đều là ... quần (như cách hiểu ngày nay).

Chỉ có cái quần đàn bà Việt Nam mới lận đận, rắc rối.
Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà nước ta không mặc quần. Thế à? Các bà không mặc quần hai ống như ngày nay mà chỉ mặc váy thôi.
Chữ quần (hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với cái quần đàn ông.
Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh được ghi chú bằng chữ hán nôm "dã phụ y thử quần, tục danh quần đùm" (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là váy buộc túm cạp lại.
Dường như chỉ có văn học mới dùng hồng quần hay quần hồng để chỉ cái váy.

    Bốn cột lang, nha cắm để chồng
    Ả thì đánh cái, ả còn ngong
    Tế hậu thổ khom khom cật,
    Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
    Tám bức quần hồng bay phới phới,
    Hai hàng chân ngọc đứng song song.
    Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
    Cột nhổ đem về để lỗ không.

         (Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)

Hai cô gái đánh đu, khoe "tám bức quần hồng". Vậy là mỗi cô có "bốn bức quần hồng". Hồ Xuân Hương cũng đưa ra "bốn mảnh quần hồng" trong bài Đánh đu:

    ( ...)
    Trai du gối hạc khom khom cật
    Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng
    Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
    Hai hàng chân ngọc duỗi song song ...

Bốn bức hay bốn mảnh quần hồng ở đây là cái gì? Nếu chỉ là cái quần hai ống thì mỗi ống phải xẻ hai. Ta không có kiểu quần tân kì như thế. Cũng không phải là một mình cái váy vì không có váy nào lại xẻ tư như vậy. Chỉ còn cái áo tứ thân (áo tứ thân có 2 vạt đằng trước, 1 vạt đằng sau) cộng với cái váy mới hợp thành bốn mảnh quần hồng. Cái áo tứ thân (cái xiêm của ta) đã được các tác giả gọi là cái quần. Chúng ta hiểu vì sao Thiều Chửu đã định nghĩa quần là cái xiêm, và Huỳnh Tịnh Của lại định nghĩa cái xiêm là đồ bận dưới, tức là cái quần.
Trong bài Chỗ lội làng Ngang Nguyễn Khuyến có nói đến cái quần đàn bà:

    Đầu làng Ngang có một chỗ lội
    Có đền ông Cuội cao vòi vọi
    Đàn bà đến đấy vén quần lên
    Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
    Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
    Cái gì trăng trắng như con cúi
    Đàn bà khép nép đứng liền thưa
    Con trót hớ hênh ông xá tội ...


Đàn bà vén quần, hớ hênh, để lộ cả cái gì trăng trắng như con cúi. Các nhà quan sát có thẩm quyền kết luận rằng người đàn bà trong câu chuyện mặc váy. Quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn kín đáo, chưa để lộ bí mật.
Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ hán, để chỉ cái váy của các bà.
Hình ảnh vén váy để hở cả cơ đồ còn được thấy qua tấm tranh dân gian Hứng dừa dí dỏm.
Qua vài thí dụ kể trên thì thấy rằng từ thế kỉ 15 (Hồng Đức quốc âm thi tập) đến đầu thế kỉ 20 (Nguyễn Khuyến) chữ quần đã được văn học Việt Nam dùng theo nghĩa của chữ hán, để chỉ đồ che nửa dưới thân thể. Quần của đàn bà (miền Bắc) Việt Nam ngày xưa là cái váy, cái áo dài (xiêm), chứ chưa phải là cái quần hai ống ngày nay.
Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy màu đỏ.

Từ ngày người Pháp cai trị nước ta thì các bà nhà quê miền Bắc mới dần dần mặc quần hai ống như các ông. Một số bà tân thời ở tỉnh thành mặc màu trắng. Dân quê chỉ dùng màu đen hay màu nâu. Ngày nay, cả hai phái nước ta, phái mạnh và phái đè đầu phái mạnh, đều mặc quần hai ống, nhiều màu sắc, kể cả màu hồng, màu đỏ.
Cái váy, cái quần không những đã ám ảnh vua chúa mà còn đè nặng lên đời sống của đám dân đen.
Người xưa có phương thuật "chữa mắt hột bằng gấu quần đàn bà".
Quần nào chả là quần, tại sao không dùng quần đàn ông mà phải dùng quần đàn bà? Chẳng nam nữ bình quyền tí nào cả! Nam nhi thua thiệt quá!
Thật ra thì phương thuật dùng gấu váy, sau này váy hiếm, khó kiếm người ta mới thay váy bằng quần, dĩ nhiên phải là quần đàn bà.
Chữ váy, ngoài nghĩa thông dụng là cái váy đàn bà, còn có nghĩa khác là nạo vét, lau chùi (curer, nettoyer, tự điển Génibrel). Váy là dùng vật gì mà vặn xáy (xoáy) hoặc móc ra. Váy tai nghĩa là móc cứt ráy trong lỗ tai ( Huỳnh Tịnh Của).
Váy (đồ mặc) đồng âm với váy (lau chùi, xoáy móc). Do đó, giới bình dân đã dùng cái váy để tượng trưng cho động tác lau chùi. Ai bị đau mắt hột thì lật mí mắt lên, lấy gấu váy dí nhẹ vào mí là tất cả các hột sẽ được đánh sạch.
Từ ngày các bà không mặc váy nữa thì người ta dùng gấu quần. Đứng về mặt chữ nghĩa thì cái quần không giải thích được ý nghĩa của phương thuật. Phải thông qua cái váy mới rõ nghĩa.
Quần đàn ông không dính dáng gì đến váy cho nên không chữa được mắt hột! Quần của các ông thua quần các bà chứ không phải các bà kì thị các ông!

Xưa kia, "thợ may và thợ giặt không nhận may váy, giặt váy cho các bà". Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 178) cho rằng ta bắt chước tục Tàu. Người Tàu kiêng để lẫn lộn quần áo vợ chồng còn trẻ, dưới 70 tuổi.
Thuyết âm dương của Tàu e rằng cao siêu quá, vượt quá xa cái triết lí bình dân của cái váy của ta:

    Sáng trăng em tưởng tối trời
    Em ngồi em để sự đời em ra
    Sự đời bằng cái lá đa
    Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Bọn thợ may, thợ giặt sợ cái váy có lẽ chỉ vì họ tin rằng váy có ma thuật nạo vét của cải, làm hao tài, sạt nghiệp mà thôi.
Giới trí thức cũng bị váy, quần làm cho vướng mắc lùng bùng ...
Ngày xưa, "thư sinh, nhà nho kiêng không sờ vào váy, vào quần đàn bà giữa ban ngày".
Không biết cụ Khổng lúc bé có phải giặt giũ, phơi quần áo giúp mẹ không?
Nhiều người cho rằng vì váy, quần đàn bà là vật ô uế nên nhà nho không đụng đến. Giải thích như vậy nghe không ổn. Cho dù váy, quần của các bà có ô uế thật đi nữa thì cũng chỉ ô uế vài ngày lúc các bà có tháng thôi. Còn những ngày bình thường thì quần đàn ông hay váy đàn bà đã chắc gì cái nào sạch hơn cái nào? Không riêng gì nhà nho, đến người mù chữ cũng chẳng ai muốn đụng đến những đồ ô uế.
Nhà nho là người dùi mài kinh sử chuyên nghiệp. Ông nào cũng đầy một bụng chữ thánh hiền. Ban ngày ban mặt, nhỡ mà đụng vào cái váy hấp dẫn kia thì còn đâu là chữ nghĩa nữa! Cái váy sẽ cạo vét, lau chùi sạch sành sanh cái bụng chữ thì làm sao mà mở mày mở mặt với thiên hạ được! Có muốn sờ thì chờ lúc nhá nhem hãy sờ."Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh", mèo nào cũng xám như nhau. Tranh tối tranh sáng thì ... có mắt cũng như không, còn thấy đường nào mà cạo với vét!

Dân gian có một giai thoại về cái váy.
Chuyện kể rằng ông lí làng kia mới tậu được cái ô đen. Ông rất hãnh diện, đi đâu cũng che ô để khoe với dân làng. Một hôm ông vênh vang đi qua chỗ có mấy cô gái đang làm cỏ ruộng. Một cô hát:
Hôm qua tôi mất xống thâm
Hôm nay tôi gặp người cầm ô đen.

Một cô phụ hoạ thêm:
-Nói thế thì ra người ta ăn cắp cái xống thâm, cái váy đen của chị về may ô à? Em nhớ là xống thâm của chị tươi đẹp hơn ô đen kia cơ mà. Để em lên mượn, chúng mình xem cho kĩ nhé.
Ông lí bầm gan tím ruột định mắng mấy con "vén váy không nên" kia, nhưng ông chợt nghĩ nhỡ đụng phải bọn "xắn váy quai cồng" thì thật là nan giải. Nghĩ vậy, ông lí vội cụp ô, chuồn cho nhanh.

Hải Phòng cũng có một giai thoại tương tự.

    Trong một cuộc hát đúm, cô gái tấn công trước:

        Hôm qua em mất cái váy thâm
        Hôm nay em thấy anh cầm một chiếc ô đen.

    Cô gái chanh chua vừa dứt lời, liền được chàng trai nhã nhặn đáp lễ:

        Em nói thế là em cũng nhầm
        Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình


Trong lúc các bà nhà quê phải mất nhiều năm mới bỏ được cái váy sồi, váy đùm, váy đụp, thì mấy cô ở thành thị lại hớn hở tung hô cái váy xoè, váy chẽn, váy cụt của phương Tây.
Thú phô trương ao ước bấy lâu nay! Giờ mới được mân mê cái váy hiện đại, hiện sinh ... hiện hình!
Khách bên đường sững sờ liếc trộm cái của lạ muôn màu, muôn vẻ ... Muôn năm!
Thấy mà chóng cả mặt, chỉ ... muốn nằm!

Nguyễn Dư






Bạn Yahoo  đem bài  của học giả Nguyễn Dư về, có giải thích từ Hồng Quần , nghĩa là cái quần hay cái váy màu đỏ của phụ nữ .
Nsb thấy cách giải thích trên chưa ổn, có vẻ như chưa đúng.
Xin các thầy Thiên Vương , thầy Nhược Thủy giải thích giùm Nsb với, vì chữ nghĩa Hán Việt Nsb không rành lắm ạ, chỉ mang máng vậy thôi. Nhưng Nsb cảm thấy cách giải thích Hồng quần nghĩa là quần màu đỏ là chưa ổn big grin
Nsb xin cám ơn Yahoo và các thầy ạ.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Duy Thuc, nhuocthuy, tadamina, Thiên Vương, 8N, SCC, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
chanhnguyen
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 5371

Cảm Ơn
-Gửi: 11331
-Nhận: 41495



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Chín 24, 2010, 11:42:25 AM »


I.- HỒNG  紅:-

1 : Ðỏ hồng (sắc hồng nhạt).

2 : Sắc hồng là màu đỏ tươi hơn các sắc đỏ khác, cho nên gọi các kẻ được yêu dấu vẻ vang là "hồng".

3 : Ðẹp đẽ, dộn dịp, như "hồng trần" 紅塵 chốn bụi hồng (nói các nơi đô hội), "hồng nhan" 紅顏 đàn bà đẹp, v.v.

4 : Giống cây phần nhiều hoa đỏ, nên hoa rụng cũng gọi là "lạc hồng" 落紅.

5 : Ðời xưa dùng như chữ 工 hay 功.

II.- Có hai chữ “quần” sau:-

A.- 群 hay羣 (bộ Dương) :-

1 : Bè bạn, như "li quần tác cư" 離羣索居 lìa xa anh em bạn. Tài học hơn cả các bạn học gọi là "trác lạc bất quần" 卓犖不羣.

2 : Ðàn, bầy, lấy tình hòa hảo mà ở với nhau gọi là "quần", như "hợp quần" 合羣 họp đàn. Chim muông xúm xít với nhau từ ba con trở lên cũng gọi là "quần", như "điểu quần" 鳥羣 đàn chim.

B.- hay (bộ Y)

1 : Cái quần, cái váy. (y phục che hạ bộ)


2 : Bên mép cái  mai của con ba ba gọi là "miết quần" 鼈裙.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, tadamina, Thiên Vương, 8N, SCC, Ngoisaobiec, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao, mavuong, nhuocthuy
Logged

若實若虛得到真心非虛實
水流水去本起正源自去流
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Chín 24, 2010, 02:10:49 PM »

@ngoisaobiec:

Chính vì cùng thắc mắc giống như bạn :
Trích dẫn
Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được học bài Hai bà Trưng:

    Bà Trưng quê ở Châu Phong
    Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
    ...
    Hồng quần nhẹ bước chinh yên
    Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành ...

Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa là quần đỏ.
Cả lớp khoái chí, cười khúc khích.

Và rồi tác giả mới đi tìm kiếm cho thắc mắc đó bằng tất cả khả năng có thể, kể cả bộ tranh oger. Cuối cùng kết luận :
Trích dẫn
Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy màu đỏ.

Đó là kết luận ủa học giả Nguyễn Dư
bạn Biếc có cao kiến gì hơn không?

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, tadamina, Thiên Vương, 8N, SCC, Ngoisaobiec, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao, mavuong
Logged
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Chín 25, 2010, 03:40:08 AM »

Theo 8N nghĩ, chẳng có ca dao nào mô tả đến chi tiết cái quần cái váy màu đỏ cùa hai Bà cả

Mục đích là để nhấn mạnh đến khía cạnh hai Bà là phụ nữ thủ lĩnh của cuo5c khởi nghĩa. Quần hồng có nghĩa là tập hợp phụ nữ cầm đầu, chỉ huy...
Mạo muội

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Thiên Vương, chanhnguyen, nhuocthuy, SCC, Ngoisaobiec, Yahoo, chonhoadong, giacnamkha, byphuong
Logged
 
 
 
Thiên Vương
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 993

Cảm Ơn
-Gửi: 7983
-Nhận: 13332


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Chín 25, 2010, 06:44:46 PM »





Bạn Yahoo  đem bài  của học giả Nguyễn Dư về, có giải thích từ Hồng Quần , nghĩa là cái quần hay cái váy màu đỏ của phụ nữ .
Nsb thấy cách giải thích trên chưa ổn, có vẻ như chưa đúng.
Xin các thầy Thiên Vương , thầy Nhược Thủy giải thích giùm Nsb với, vì chữ nghĩa Hán Việt Nsb không rành lắm ạ, chỉ mang máng vậy thôi. Nhưng Nsb cảm thấy cách giải thích Hồng quần nghĩa là quần màu đỏ là chưa ổn big grin
Nsb xin cám ơn Yahoo và các thầy ạ.



 



  TV xin chia sẻ với các bạn vài suy nghĩ về những nhận xét của học giả Nguyễn Dư như sau:

1/  Dựa vào những câu thơ trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, 1 tác phẩm của thời cận đại mà đưa ra nhận định về phục trang của người xưa cách nay 2000 năm thì có thể nói đây là 1 điều sai lầm trầm trọng.  Mong mọi người cần chú ý và cẩn trọng hơn về những bài viết như vầy nhé!


2/  Hai chữ "Hồng Quần" ở đây, nếu dịch theo ý nghĩa của từng chữ thì đúng là cái váy màu đỏ.  Tuy nhiên, giá trị thật sự của 2 chữ này trong bài thơ thì hoàn toàn khác hẳn.  Và hơn nữa, bản thân 2 chữ ...hồng quần ...này, theo TV thì không liên quan gì tới cái váy màu đỏ cả!


 Lý do:


a/  Nhìn vào bài thơ, người ta sẽ dễ dàng hiểu được ý nghĩa của 2 chữ ...hồng quần....là dùng để ám chỉ cho 2 bà Trưng.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.


  Hồng quần hay quần hồng chỉ là 1 trong những cách gọi phụ nữ nói chung.  Theo TV thì có lẽ do để 2 chữ ...quần hồng....vào câu trên nghe không hay, nên người ta đảo lại thành hồng quần như vậy.  Bởi lẽ để gọi phụ nữ, người xưa còn dùng cụm từ...quần thoa (裙钗).


Thương thay cho phận quần hồng,
Vì duyên vì nợ nặng lòng tương tư.

Anh đấng làm trai nam nhi chi chí
Em phận làm gái, nhi nữ quần thoa
Thấp đàn cá nhảy khỏi sa
Ưng không tại bậu, cha mẹ già biết đâu

                            - Ca dao -

  Trong đó, quần (裙) là cái váy, và thoa (钗) là cái trâm cài tóc (như kim thoa, ngọc thoa....là trâm vàng, trâm ngọc).  Là 2 thứ vật dụng mà chỉ có đàn bà con gái mới dùng.  Vì thế người ta dùng chúng làm đại diện cho phụ nữ.


  Ngay như bản thân 2 chữ ...Phụ Nữ...cũng là 1 cách nói tổng hợp, vì Phụ (婦) là đại diện cho người đã có chồng, còn Nữ (女) là đại diện cho người chưa có chồng.  Do vậy, muốn nói tất cả đàn bà, con gái thì người ta gọi là...phụ nữ.


  Ngoài ra, người ta còn những cụm từ như: Hồng Nhan (紅顏) (mà người Việt ta thường gọi nôm na là ...má hồng, kiếp má hồng, phần má hồng) như câu....Hồng nhan đa truân.  Hồng nhan bạc mệnh. 


  Khi nói Hồng Nhan thì đây không còn là phụ nữ bình thường nữa, mà người ta thường ám chỉ tới những người xinh đẹp.  Người xinh đẹp này có 2 loại:  1 là cô gái có đôi má ửng hồng tự nhiên, và 2 là người dùng phấn hồng để tô lên đôi má.


  Cách thứ 2 là phổ biến nhất, nên nói tới phụ nữ là nói tới phấn hồng mà Chữ Hán gọi là ...Hồng Phấn (红粉).


  Do vậy, nếu như người ta dùng cụm từ...quần thoa...là cái váy và cái trâm để ám chỉ phụ nữ thì trong cụm từ...quần hồng...chữ quần vẫn là cái váy, còn chữ hồng là hồng phấn, là phấn thoa mặt của chị em phụ nữ, chứ không phải là cái quần đỏ hay cái váy đỏ gì cả. 


  Điểm cần chú ý là khi đảo ngữ thành ...hồng quần...thì ta còn có nhiều ý kiến này nọ, chứ nếu giữ nguyên thành ...quần thoa, quần hồng... thì ta sẽ dễ dàng hiểu ra vấn đề. 


  Vài lời chia sẻ cùng các bạn!


...Thân ái,
-Thiên Vương-

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, 8N, SCC, Ngoisaobiec, Yahoo, chonhoadong, giacnamkha, byphuong, ngodao, mavuong
Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Chín 26, 2010, 07:38:45 AM »


 



 
  Điểm cần chú ý là khi đảo ngữ thành ...hồng quần...thì ta còn có nhiều ý kiến này nọ, chứ nếu giữ nguyên thành ...quần thoa, quần hồng... thì ta sẽ dễ dàng hiểu ra vấn đề. 


  Vài lời chia sẻ cùng các bạn!


...Thân ái,
-Thiên Vương-






Cám ơn thầy, như vậy cụm từ " Quần Hồng "  ở câu thơ về Hai Bà Trưng trên ý là chỉ về giới phụ nữ. Cũng như khi nói về giới đàn ông thì người ta gọi là đấng Tu Mi ( mày râu ) phải không ạ.
Nhưng khi đảo lại thì  trật tự mới là Hồng Quần, vậy nghĩa có thay đổi không ạ ? Và người ta cũng đã từng tranh luận nhau về điều này rồi ạ ( Đảo lại từ Quần Hồng  ?)
Xin cám ơn thầy TV, bác Chanhnguyen, 8N, Yahoo ạ.
Kính. Nsb-

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, Yahoo, nhuocthuy, 8N, chonhoadong, chanhnguyen, giacnamkha, SCC, byphuong, ngodao
Logged
 
 
 
zinzin04
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 84

Cảm Ơn
-Gửi: 400
-Nhận: 548



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Chín 29, 2010, 02:31:45 AM »

   
     Ui chao ! "quần hồng"..."hồng quần"..."quần đỏ"... d'oh.. neubie hỗng hiểu gì hết !?
      Thôi thì để đổi không khí.. neubie xin tào lao chuyển "quần".. sang "áo" nhé mấy bác  applause

 
  Áo yếm - di sản trang phục Việt Nam
 ( Ao Yem - Vietnamese-style brassiere)
[/size]


Hình ảnh những cô gái thướt tha trong tà áo dài duyên dáng từ lâu đã trở thành biểu tượng của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển lịch sử trang phục dân tộc, Việt Nam không chỉ có áo dài mà còn có áo yếm - thứ trang phục không thể thiếu của người con gái xưa.

Xưa kia áo yếm thường chỉ được gọi với cái tên nôm na là cái yếm, đó là thứ trang phục đã có từ bao đời nay và vẫn còn giữ được cho đến ngày hôm nay. Không chỉ vào chốn cung đình với các mệnh phụ công nương, cái yếm còn ra ruộng đồng "dầm mưa dãi nắng" với người nông dân và cùng với chiếc áo tứ thân, cái yếm theo chị em đến với hội đình đám, góp phần tạo nên bộ "quốc phục" của quý bà thời xưa.



Cái yếm xuất hiện trong cuộc sống của người dân Việt Nam từ lâu nhưng mãi tới đời nhà Lý cái yếm mới "định hình" về cơ bản. Theo dòng lịch sử, cái yếm không ngừng biến đổi, nâng cao tính thẩm mỹ qua những lần cải tiến. Tuy nhiên, "cuộc cách mạng" của cái yếm chỉ xảy ra vào đầu thế kỷ trước khi cái quần kiểu Tây và cái váy đầm xoè xâm nhập vào Việt Nam. Ơ' thế kỷ 17, cái yếm vẫn chưa có sự thay đổi lớn lao về hình thức. Thế kỷ 19, cái yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét lỗ làm cổ, hai đầu của lỗ, đính hai mẩu dây để cột ra sau gáy.

Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xẻ, đít chữ V mà xẻ sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn. Bước sang thế kỷ 20, áo yếm càng được sử dụng phổ biến với nhiều kiểu dáng và mẫu mã phong phú. Dành cho người lao động có yếm màu nâu dệt bằng vải thô. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Con gái nhà gia giáo mặc yếm nhiều màu, trang nhã và kín đáo. Loại yếm "ỡm ờ", màu sặc sỡ, cổ cắm sâu trễ quá bờ ngực, "thách thức" chỉ dân "trời ơi" dạng Thị Mầu mới mặc. Thời kỳ "cách tân" này, cổ yếm thường được "dằn" thêm ba đường chỉ để "bảo hiểm" hoặc may viền lằn vải, thêu hoa cặp theo đường biên cổ.


Một loại yếm hay được các cô gái sử dụng nữa là "yếm đeo bùa". Gọi là yếm đeo bùa bởi người mặc chúng thường để xạ hương vào trong túi vải nhỏ đeo cạnh yếm, đó chính là thứ vũ khí vô cùng lợi hại của các cô gái thời xưa... Không chỉ vậy, chiếc yếm còn làm nên những câu chuyện tình yêu vô cùng độc đáo. Xưa, các cô gái khi hẹn hò người mình yêu thường "ém" một miếng trầu trong chiếc yếm của mình, dân gian gọi đó là "khẩu trầu dải yếm". Có lẽ không có thứ trầu nào "linh thiêng" hơn loại trầu dải yếm này.


Để trở thành "quốc phục" của quý bà quý cô trước khi chiếc áo dài ra đời, đi kèm với cái yếm là chiếc áo cánh khoác ngoài không cài cúc. Khi ra ngoài bên ngoài chiếc yếm phải có thêm chiếc áo dài, chiếc váy lưỡi trai bằng lĩnh, dải lụa đào hoặc màu mỡ gà thắt ngang lưng, cái xà tích bạc lủng lẳng, bộ "độ nghề" ǎn trầu bên phía cạnh sườn, chân mang dép. Chưa hết, phục trang ra đường còn phải kể đến là hai chiếc khǎn đội đầu: khǎn nhiễu (quấn bên trong) và khǎn mỏ quạ (trùm bên ngoài). Nếu đúng dịp hội hè đình đám các cô gái thường trang bị thêm cho mình chiếc nón quai thao, tóc vấn cao cài lược.

Suốt chiều dài lịch sử, cái yếm đã đi vào "giấc mơ" của biết bao thế hệ mày râu. "Trời mưa lấy yếm mà che - Có anh đứng gác còn e nỗi gì?". Đáp lại, các nàng cũng chẳng vừa: "Ước gì sông hẹp tày gang - Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi".

Cái yếm là thứ trang phục vừa kín đáo, vừa... “ỡm ờ” một cách nghệ thuật và độc đáo. Chả thế mà Thị Mầu nói với chàng nô:" Gió xuân tốc dải yếm đào - Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương!".

---SƯU TẬP---

(theo http://my.opera.com/InspiringVietnam/blog/show.dml/4481666 )

Few words about Ao Yem
[/size]

The Ao Tu Than (Áo Tứ Thân) or "Four-flapped dress" worn by northern women. It is a predecessor to the Áo Dài and is a four part flowing tunic, worn with a long skirt and an Ao Yem (Áo Yếm) underneath. Áo Yếm is the Vietnamese adaptation of the ancient Chinese Dudou.

The ao yem, a Vietnamese-style brassiere, is a piece of silk that covers the front of the body but leaves the back totally exposed--sexy, yet subtle, and the best of Vietnamese fashion, according to Tien. "A girl who wears an ao yem is very sexy, but also looks pure and dedicated," he muses." Long and loose skirts are also very suitable for Vietnamese girls, as they hide the flat hips, big calves and splayed feet common to Vietnamese people."

Hình ảnh những cô gái thướt tha trong tà áo dài duyên dáng từ lâu đã trở thành biểu tượng của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển lịch sử trang phục dân tộc, Việt Nam không chỉ có áo dài mà còn có áo yếm - thứ trang phục không thể thiếu của người con gái xưa.

Áo yếm đi vào thời trang hiện đại.

Xưa kia áo yếm thường chỉ được gọi với cái tên nôm na là cái yếm, đó là thứ trang phục đã có từ bao đời nay và vẫn còn giữ được cho đến ngày hôm nay. Không chỉ vào chốn cung đình với các mệnh phụ công nương, cái yếm còn ra ruộng đồng "dầm mưa dãi nắng" với người nông dân và cùng với chiếc áo tứ thân, cái yếm theo chị em đến với hội đình đám, góp phần tạo nên bộ "quốc phục" của quý bà thời xưa.

Cái yếm còn ra ruộng đồng "dầm mưa dãi nắng"...

Cái yếm xuất hiện trong cuộc sống của người dân Việt Nam từ lâu nhưng mãi tới đời nhà Lý cái yếm mới "định hình" về cơ bản. Theo dòng lịch sử, cái yếm không ngừng biến đổi, nâng cao tính thẩm mỹ qua những lần cải tiến. Tuy nhiên, "cuộc cách mạng" của cái yếm chỉ xảy ra vào đầu thế kỷ trước khi quần kiểu Tây và váy đầm xoè xâm nhập vào Việt Nam. Ở thế kỷ 17, cái yếm vẫn chưa có sự thay đổi lớn lao về hình thức. Thế kỷ 19, cái yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét lỗ làm cổ, hai đầu của lỗ, đính hai mẩu dây để cột ra sau gáy. Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xẻ, đít chữ V mà xẻ sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn. Bước sang thế kỷ 20, áo yếm càng được sử dụng phổ biến với nhiều kiểu dáng và mẫu mã phong phú. Dành cho người lao động có yếm màu nâu dệt bằng vải thô. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Con gái nhà gia giáo mặc yếm nhiều màu, trang nhã và kín đáo. Loại yếm "ỡm ờ", màu sặc sỡ, cổ cắm sâu trễ quá bờ ngực, "thách thức" chỉ dân "trời ơi" dạng Thị Mầu mới mặc. Thời kỳ "cách tân" này, cổ yếm thường được "dằn" thêm ba đường chỉ để "bảo hiểm" hoặc may viền lằn vải, thêu hoa cặp theo đ ường biên cổ.

Một loại yếm hay được các cô gái sử dụng nữa là "yếm đeo bùa". Gọi là yếm đeo bùa bởi người mặc chúng thường để xạ hương vào trong túi vải nhỏ đeo cạnh yếm, đó chính là thứ vũ khí vô cùng lợi hại của các cô gái thời xưa... Không chỉ vậy, chiếc yếm còn làm nên những câu chuyện tình yêu vô cùng độc đáo. Xưa, các cô gái khi hẹn hò người mình yêu thường "ém" một miếng trầu trong chiếc yếm của mình, dân gian gọi đó là "khẩu trầu dải yếm". Có lẽ không có thứ trầu nào "linh thiêng" hơn loại trầu dải yếm này.

Cái yếm đã đi vào "giấc mơ" của biết bao thế hệ mày râu.

Để trở thành "quốc phục" của quý bà quý cô trước khi chiếc áo dài ra đời, đi kèm với cái yếm là chiếc áo cánh khoác ngoài không cài cúc. Khi ra ngoài bên ngoài chiếc yếm phải có thêm chiếc áo dài, chiếc váy lưỡi trai bằng lĩnh, dải lụa đào hoặc màu mỡ gà thắt ngang lưng, cái xà tích bạc lủng lẳng, bộ "độ nghề" ǎn trầu bên phía cạnh sườn, chân mang dép. Chưa hết, phục trang ra đường còn phải kể đến là hai chiếc khǎn đội đầu: khǎn nhiễu (quấn bên trong) và khǎn mỏ quạ (trùm bên ngoài). Nếu đúng dịp hội hè đình đám các cô gái thường trang bị thêm cho mình chiếc nón quai thao, tóc vấn cao cài lược.

Suốt chiều dài lịch sử, cái yếm đã đi vào "giấc mơ" của biết bao thế hệ mày râu. "Trời mưa lấy yếm mà che - Có anh đứng gác còn e nỗi gì?". Đáp lại, các nàng cũng chẳng vừa: "Ước gì sông hẹp tày gang - Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi".

Cái yếm là thứ trang phục vừa kín đáo, vừa... “ỡm ờ” một cách nghệ thuật và độc đáo. Chả thế mà Thị Mầu nói với chàng nô: "Gió xuân tốc dải yếm đào - Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương!".




























































Nam Mô A Di Đà...Phật



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Duy Thuc, ynguoiloitoi, chanhnguyen, nhuocthuy, chonhoadong, giacnamkha, Yahoo, 8N, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, ngodao, mavuong
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 29, 2010, 02:41:26 AM gửi bởi zinzin04 » Logged

Life is too short to wake up with regrets,
Love the people who treat you right and
pray for the ones who don't !
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười 05, 2010, 02:16:52 PM »

Người Tàu xưa chê người Việt xưa hay ở trần. “Ở trần mà cũng dựng nước”!

Ở trần hay không, đóng khố hay mặc quần dài, cái ấy nó vốn chủ yếu tùy thuộc vào khí hậu và sinh hoạt kinh tế. Ta ở xứ nóng, chuyên làm ruộng nước, nên ta cởi trần, đóng khố. Họ ở xứ lạnh, chuyên cưỡi ngựa chăn nuôi, nên họ mặc áo, mặc quần dài. Bảo họ ăn mặc văn minh hơn ta, khác gì bảo du mục văn minh hơn nông nghiệp!

Người Tàu khoe quen mặc áo lâu rồi, vậy mà chắc ai nấy còn nhớ hình ảnh những “chú ba” béo núc ních cuộn áo mai-ô lên tận... cổ, phơi bụng thùng nước lèo và phơi... nhũ hoa, thản nhiên đứng bán hàng ở Chợ Lớn. Áo, bận kiểu đó, bận làm chi vậy không biết! Mà văn minh Trung Quốc dài thăm thẳm, sao mới bị nóng chút xíu đã bốc hơi mất tiêu hết vậy không biết!

(Thu Tứ)

Trang phục Đông Sơn


(...) Trống đồng và nhiều tượng, phù điêu bằng đồng có khắc họa những cảnh sinh hoạt thời đó với những hình người, với các loại trang phục khá rõ nét (...) búi tóc, chít khăn như tượng người đàn bà ở chuôi dao găm, chuôi kiếm (...)

Phụ nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vào người, phía trong mặc yếm kín ngực. Chiếc yếm cổ tròn sát cổ, có trang trí những hình chấm hạt gạo. Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực, hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng. Hai loại sau có khả năng là những loại áo chui đầu hoặc cài khuy bên trái. Trên áo đều có hoa văn trang trí. Thắt lưng có 3 hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng (...) Ðầu và cuối thắt lưng thả xuống phía trước và sau người, tận cùng bằng những tua rủ. Váy kín bó sát vào thân, với mô-típ trang trí chấm tròn, những đường gạch chéo song song và hai vòng tròn có chấm ở giữa.

Qua những hiện vật khảo cổ đã tìm được, ta thấy đàn bà thời đó có hai loại váy:

- Váy kín (váy chui), hai mép vải được khâu lại thành hình ống.

- Váy mở (váy ngắn) là một mảnh vải quấn vào thân mình.

Váy ngắn mặc chấm đầu gối. Kiểu khác dài đến gót chân. (Có lẽ loại sau là trang phục khi không lao động hoặc của tầng lớp trên.)

Ðàn ông thường đóng khố. Khố là một dải vải (...) quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng, thả đuôi khố (ngắn hoặc dài) về phía sau. Có trường hợp thả đuôi khố về phía trước.

Qua các khối tượng nổi, đàn ông Ðông Sơn thường cởi trần, nhưng với những hình trang trí trên các hiện vật đồng thau khác, có thể họ đã mặc những chiếc áo chui đầu hay những tấm áo choàng kỳ dị với những hoa văn trang trí phức tạp.

(...) Do điều kiện khí hậu và sinh sống (...) đầu tóc phải gọn gàng. Vì vậy đàn ông và đàn bà thường cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc thỉnh thoảng có hình thức buộc túm tóc sau đầu rồi thả dài xuống gáy, một số ít người cắt ngắn đến chân tóc.

Khi búi tóc thì đàn ông, đàn bà đều búi tròn sau gáy. Một hình thức khác là tóc búi ngược một phần lên đỉnh đầu, một phần tết thành đuôi sam thả ra phía sau lưng. Ngoài ra còn thấy buộc một dải vải nhỏ trên trán.

Trên trống Sông Ðà (...) nữ xõa tóc ngang lưng (...)

Phải chăng ở nam, tóc được búi cao thành một nắm dài nhọn như các khối tượng ở Việt Khê, còn ở nữ tóc được búi thành hình bánh ít ở sau đầu, như trên tượng một chuôi kiếm phát hiện ở Thanh Hóa.


(Ðoàn Thị Tình, Tìm hiểu trang phục Việt Nam (dân tộc Việt), nxb. Văn Hóa, VN, 1987, tr. 10-12)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, zinzin04, 8N, SCC, byphuong, Ngoisaobiec, ngodao
Logged
 
 
 
zinzin04
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 84

Cảm Ơn
-Gửi: 400
-Nhận: 548



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười 06, 2010, 12:45:34 AM »

      Thanks bác YAHOO nhé !
      neubie xin minh họa cho phần trang phục áo Mệnh Phụ và áo Tứ Thân:
   
<a href="http://www.youtube.com/v/APk1V8o-L-Q&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/APk1V8o-L-Q&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>

     "Muốn gì cứ ...Yahoo"  laughing laughing laughing
   
Thanks !


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Duy Thuc, SCC, byphuong, chanhnguyen, Ngoisaobiec, ngodao, nhuocthuy, mavuong
Logged

Life is too short to wake up with regrets,
Love the people who treat you right and
pray for the ones who don't !
 
 
 
byphuong
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1084

Cảm Ơn
-Gửi: 20713
-Nhận: 8585



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Một 04, 2010, 02:23:21 PM »

    crying crying crying
   Thầy ơi....
   Chú Ongdia.....
   Tỷ ơi......
   Cứu,cứu út gấp.......lỡ dại hoài.....lạc vào mê hồn trận rồi....không khéo út sẽ bị tơi tã chết đứng như "Từ Hải"cho mà coi  crying, happy]Thúy Kiều ới!Ta đành lỗi hẹn vậy,hẹn kiếp sao vậy,lỗi tại ta,lỗi tại ta mọi đàng   at wits' end.
     Kính Bái.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Ngoisaobiec, ngodao, nhuocthuy, mavuong, SCC
Logged

Kính.
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.319 seconds với 24 câu truy vấn.