Tháng Tám 12, 2022, 11:49:09 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TỔ SƯ CÁC NGÀNH NGHỀ Ở VIỆT NAM  (Đọc 42603 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #60 vào lúc: Tháng Hai 10, 2010, 11:58:59 PM »

"Ông tổ" nghề hoa khô
và ý tưởng kiếm USD từ cỏ rác


***

Là người Việt Nam đầu tiên bắt tay vào làm hoa khô nghệ thuật, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu nay đã bước sang tuổi “Thất thập cổ lai hy”. Tâm nguyện lớn nhất lúc này của ông là được truyền nghề cho thế hệ trẻ, để nghề này không bị mai một, thất truyền.

Ý tưởng kiếm đô la từ cỏ rác

Gặp nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu tại xưởng sản xuất, đồng thời cũng là nhà riêng của ông tại ngõ Gốc Đề, Minh Khai (Hà Nội), khi ông đang miệt mài chau chuốt, hoàn thành khâu cuối cùng cho những tác phẩm nghệ thuật của mình. Nhìn những bông hoa, bức tranh sinh động lung linh với đủ màu sắc được treo và bài trí khắp nơi trong căn phòng nhỏ chừng 12m2, không ai có thể ngờ rằng tất cả những sản phẩm nghệ thuật ấy đều được nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu tạo nên từ những cánh hoa, lá cây đã khô héo vô giá trị.

Dẫn chúng tôi thăm quan xưởng sản xuất của mình, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu bồi hồi nhớ lại duyên kỳ ngộ của mình với nghề làm hoa khô nghệ thuật.


(Nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu bên cạnh những tác phẩm hoa khô nghệ thuật)
Năm 1972 khi còn làm cán bộ về ngành hoa trong Tổng công ty Artexport thuộc Bộ Ngoại Thương (cũ), Nguyễn Bá Mưu đã có dịp tiếp xúc với nghề làm hoa khô Nhật Bản khi người Nhật tìm ông để đặt mua nguồn nguyên liệu từ Việt Nam. “Khi đó tôi đã rất thích thú với đơn hàng này vì lần đầu tiên biết được những những nguyên liệu trước đây vốn dĩ bỏ đi như lá rụng, bông lau, cành cây… lại có thể sản xuất để đổi lấy đô la”, ông Mưu bộc bạch.

Từ đó, ý tưởng làm hoa khô nghệ thuật, biến những nguyên liệu sẵn có trong nước thành những sản phẩm nghệ thuật có giá trị cứ trở đi trở lại trong những giấc ngủ của ông. Với lòng đam mê cháy bỏng cùng sự cần cù nghiên cứu, tìm tòi không mệt mỏi, cuối năm 1996, Nguyễn Bá Mưu bắt tay vào làm hoa khô. Để tìm nguyên liệu, ông không quản ngại vất vả, lặn lội khắp từ bắc vào nam. Từ Cà Mau, Lạng Sơn, Cao Bằng… nơi nào có nguyên liệu có thể làm được hoa khô đều được ông ghi nhận.

Ban đầu, mọi thứ đều rất khó khăn do toàn bộ công nghệ, từ lựa chọn nguyên liệu, phơi phóng, tẩy rửa hóa chất, sáng tạo tác phẩm đều phải tự mầy mò, nghiên cứu. Bao nhiêu tiền của đổ hết vào việc nghiên cứu hoa khô nhưng thành quả thu lại thì ít ỏi. Ông Mưu kể, “Có những khi gặp phải chỗ khó mất mấy ngày liền vẫn không tìm ra giải pháp, tôi thấy thật cay đắng, nhưng nghĩ tới đây là một nghề mới, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho đất nước nên quyết tâm làm bằng được”.


(Tranh Đông Hồ được tái hiện bằng hoa và lá khô)

Nhờ có sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bè bạn và tài năng của bản thân, công việc làm hoa khô nghệ thuật của ông ngày càng tiến triển tốt. Nhiều sản phẩm ra đời nhận được sự đón nhận của công chúng, đặc biệt được các bạn trẻ Hà thành rất yêu thích. Hiện tại các tác phẩm tranh và hoa khô của Nguyễn Bá Mưu đã xuất hiện tại nhiều cửa hàng, phòng triển lãm trong nước. Ngoài ra, ông cũng có một số các đối tác nước ngoài đặt mua tranh lâu dài tại các nước Pháp, Đức, Nga… 

Dạy nghề miễn phí

Dù đã bước sang tuổi 71 và đã khá thành công sau gần 40 năm bước vào nghề, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu lại có những trăn trở mới, đó là làm sao tìm ra những người trẻ tâm huyết để nghề làm hoa khô nghệ thuật không bị mai một. Từ cuối thập kỷ 90 ông đã bắt đầu thu nhận học trò. Từ những cô cậu học sinh, sinh viên, họa sĩ, cho tới những người khuyết tật đều có thể trở thành truyền nhân của ông. Hiện tại, xưởng sản xuất hoa khô của ông đang có gần chục người theo học. Trong đó, có 4 học sinh bị câm điếc hoàn toàn.

Nói về công việc dạy học miễn phí cho người tật nguyền, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu bảo: Ban đầu tôi nghĩ rằng mình sẽ không thể nào dạy được những học trò như thế. Vì họ không thể nghe cũng ko thể nói, mỗi lần muốn truyền đạt ý tứ là tôi lại phải viết ra giấy cho họ đọc. Sau này tiếp xúc mình mới thấy cảm thông và tìm được tiếng nói chung với họ.


 
(Một cơ sở sản trưng bày, kinh doanh hoa khô của học trò nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu)

Nhớ lại quá trình dạy nghề của mình, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu xúc động kể: “Có một cô học trò tên Thủy ở Ba Vì, bị liệt cả hai chân phải nhờ người đẩy xe lăn vào sân nhà tôi xin học làm hoa khô nghệ thuật. Không những thế cô này còn bị tật ở tay, nhưng rồi cô ấy quyết tâm học và đã làm được. Tôi thấy chính bản thân mình phải học tập về ý chí, nghị lực bám vào cuộc sống của những người tật nguyền”.

Cho tới nay, nhiều thế hệ học trò của nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu đã thành nghề, trở thành những người có ích cho xã hội. Nhiều người dù đã có cơ sở sản xuất riêng nhưng mỗi khi gặp chỗ khó trong nghề lại quay về hỏi thầy, và ngay lập tức có được lời giải đáp.

Chị Hoàng Thu Nga, một trong những học trò của nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu hiện đang kinh doanh mặt hàng hoa tươi, hoa và tranh khô nghệ thuật trên phố Phạm Đình Hổ xúc động nói về người thầy của mình: “Bác Mưu đã truyền tình yêu, sự đam mê nghề nghiệp cho chúng mình. Có lúc mình cảm thấy quá sức, mệt mỏi và nản chí thì bác Mưu động viên rằng “hãy cố gắng lên, nó sẽ trả công xứng đáng cho các cháu”. Thế là chúng mình như được tiếp thêm sức mạnh để theo nghề”.

Không chỉ dạy nghề, nhiều học trò của ông sau khi thành nghề còn được ông giới thiệu, tìm việc là để họ không rơi vào cảnh thất nghiệp.

Trò chuyện với chúng tôi, nghệ nhân Nguyễn Bá Mưu cho biết, quãng đời còn lại của mình ông dự định sẽ chỉ dành cho việc dạy nghề. Ông bảo: “Suốt cuộc đời tôi yêu hoa yêu nghệ thuật. Tôi chỉ thấy vui khi nào tôi làm được một sản phẩm đẹp. Tôi hài lòng vì năm nay đã 71 tuổi vẫn làm được ra tác phẩm cho đời, vẫn dạy học và cho các cháu được bát cơm ăn, vẫn cho những người thất nghiệp được cái cần câu để họ câu cơm”.

Tôi chợt nghĩ, lòng mong mỏi của người nghệ nhân già ấy có lẽ đã không uổng phí, khi hoa khô nghệ thuật  đang dần chiếm một vị trí nhất định trong đời sống, cùng với sự trưởng thành của bao lứa học trò do đích thân ông truyền dạy.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nguyenthuy, tadamina, dailuc, chonhoadong, anhlam, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #61 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 12:01:43 AM »


Làng sơn mài Cát Đằng

***


Nói đến làng quê từng có sản phẩm sơn mài nổi tiếng nhất miền Bắc phải nói đến làng quê sơn mài Cát Đằng ở xã Yên Tiến (huyện Ý Yên, Nam Định) - một làng nghề có bề dày lịch sử rất lâu đời.

Người ta nói rằng, các đồ sơn mài vẫn dùng để trang trí nội, ngoại thất trong các lăng tẩm, các cung đình xưa ở Huế, Đà Nẵng, Hà Nội… chủ yếu là do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng Cát Đằng làm ra.

Cát Đằng nằm trên vùng đất kẹp giữa hai trục đường bộ và đường sắt xuyên Việt. Theo sử sách ghi lại, nghề sơn mài làng Cát Đằng có từ khoảng thể kỷ 11, do hai ông tên là Ngô Dũng và Đinh Ba (từng làm quan trong triều thời vua Đinh) đến làng ở và truyền dạy nghề cho trai tráng trong làng. Ngày giỗ ông Tổ  nghề được Tổ  chức linh đình vào rằm tháng giêng hàng năm. Cũng như các làng quê Việt Nam khác, Cát Đằng cũng đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng nghề sơn mài ở đây vẫn được gìn giữ và ngày một phát triển. Trước đây, người ta vẫn thấy hàng sơn mài chỉ được làm trên những tấm gỗ đã được chọn lựa rất kỹ, thì nay, người Cát Đằng đã sáng tạo thêm những sản phẩm từ việc chắp nứa rồi đem sơn mài. So với gỗ, loại mặt hàng này vừa nhẹ, giá rẻ hơn, chất lượng đảm bảo, thu hút được nhiều khách hàng và chủ yếu để xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.



Tất nhiên, để có được sản phẩm chắp nứa sơn mài sớm "nổi danh" như thế cũng không phải đơn giản. Ngay từ việc chọn mua nứa, người thợ cũng phải chọn những cây nứa bánh tẻ, không quá non cũng không quá già. Khi đem về phải mang ngâm dưới nước ít nhất là 6 tháng để sản phẩm sau này không bị mối mọt, có độ bền lâu. Sau đó, đến khâu pha nứa, pha nan, vót và đánh bóng nan rồi người ta để nghiêng nan cẩn thận uốn chặt theo hình khuôn, rồi quết một lớp keo được pha chế bằng tạp chất sao cho không còn kẽ hở giữa các vòng nứa rồi mới đem mài miết đến khi sản phẩm nhẵn bóng và đạt được độ mỏng cần thiết mới thôi.

Trước đây, riêng khâu mài phải làm bằng thủ công, thường mất ít nhất 3 tháng mới xong một sản phẩm như bình hoa, chậu cảnh, còn bây giờ đã có máy móc hiện đại, nên chi mất vài ba ngày hoặc một tuần là xong. Đặc biệt không được dùng nan cật, vì sản phẩm sẽ không đảm bảo độ bền, dẻo vốn có. Đến đây coi như khâu sơ chế thô đã hoàn thành. Những sản phẩm ấy tiếp tục được chuyển đến tay các nghệ nhân trang trí thêm đủ kiểu hoa văn cách điệu, pha màu rồi phun sơn thật đều lên sản phẩm.

Theo như nhiều nghệ nhân trong làng, thì khâu pha chế và phun sơn là khó nhất. Bí quyết của làng nghề cũng được giữ kín ở đây, nếu không phải là trai làng thì không được truyền dạy. Đã có nhiều người ở nơi khác đến Cát Đằng học nghề nhưng họ vẫn không thể biết bí quyết  pha trộn sơn, hay sản phẩm vừa được phun sơn bỗng gặp trời mưa thì phải xử lý thế nào để sơn không bị bay mất màu, đành phải chờ nắng rồi đem sơn lại, còn người Cát Đằng lại có thể giữ nguyên màu sơn ở bất cứ thời điểm hay hoàn cảnh nào. Nhiều nghệ nhân của làng đã ra các tỉnh ngoài để làm và mở các lớp dạy nghề sơn mài ở khắp nơi. Dù đi đâu, họ cũng sớm khẳng  định sự tài hoa, khéo léo của nghệ nhân Cát Đằng.

Theo langngheviet (Nguồn: Theo TCDL)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #62 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 12:06:36 AM »


Philip Kotler
- Tổ  nghề marketing hiện đại

Philip Kotler - 'cha đẻ Marketing hiện đại' đến VN


Trong chuyến thăm VN lần đầu tiên này vào ngày 17/8/2007, "huyền thoại marketing thế giới" sẽ tham dự hội thảo chủ đề "New marketing for new age" (Marketing mới cho thời đại mới) tại khách sạn Sheraton, 80 Đông Du, quận 1, TP HCM.

Hội thảo dự kiến thu hút sự tham dự của 700 doanh nhân và nhà quản trị hàng đầu trong nước. Đây là cơ hội hiếm có để người tham dự được đối thoại và lắng nghe những chia sẻ của Philip Kotler về những đề tài mang tính chất thời sự, thiết thực cho sự phát triển của doanh nghiệp trong thời đại mới.
 

Chân dung cha đẻ của marketing hiện đại Philip Kotler.
Ảnh: businessweek.com.
Sinh năm 1931, Philip Kotler được xem là "cha đẻ marketing hiện đại" (father of modern marketing). Ông là tác giả của cuốn Marketing Management, một trong những cuốn sách kinh điển của ngành marketing thế giới. Ông còn là người đi tiên phong trong lĩnh vực "Marketing xã hội" - một khái niệm marketing phi lợi nhuận, mà mục tiêu của nó nhằm tạo ra một xã hội tốt đẹp. Ông được tạp chí Financial Times - Thời báo tài chính - bình chọn là một trong 4 nhà quản lý bậc thày của mọi thời đại (cùng với Jack Welch, Bill Gates và Peter Drucker).


Hiện nay, ông là chuyên gia hàng đầu của Tập đoàn tiếp thị Kotler trong lĩnh vực hoạch định chiến lược marketing, và là giáo sư tại các trường đại học như Johnson & son, Viện Marketing Kellogg.
Philip Kotler đến Việt Nam theo lời mời của Tổ hợp Giáo dục PACE.

 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #63 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 12:15:06 AM »


Câu chuyện về ông Tổ  của quần bò Levi Strauss (Đức)

 
Thị trường thời trang đổi thay thường xuyên và rất nhanh chóng. Thế nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ rất đặc biệt. Đó là những chiếc quần jean hay còn gọi là quần bò. Có lẽ chẳng có một mốt quần áo nào dù không thay đổi kiểu dáng mà vẫn là đồ thời trang sành điệu được ưa chuộng từ cả hơn một trăm năm nay như quần bò.


Levi Strauss năm 2005 (Nguồn: Portal.unesco.org)
Và người được tôn vinh là ông Tổ  phát minh ra quần bò là Levi Strauss. Thương hiệu quần bò Levi’s của Levi Strauss ngày nay được đánh giá là một trong những thương hiệu hàng hoá đắt nhất thế giới, với gần 4 tỉ USD.

Rất khó giải thích một cách đầy đủ và thuyết phục vì sao những chiếc quần bò mà Levi Strauss phát minh ra lại được ưa chuộng đến thế. Và nhất là tại sao mốt thời trang quần bò không bị lạc hậu. Chính ông Tổ  quần bò Levi Strauss nếu còn sống cũng không thể tưởng tượng ra điều đó. Đặc biệt hơn, khi sinh thời, quần bò mà Levi Strauss phát minh chỉ là đồ mặc lao động.

Thế nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra trên thực tế là quần bò đã trở thành quần để chưng diện, không chỉ cho giới bình dân mà cả giới sành điệu thời trang. Quần bò của Levi Strauss đã vượt qua biên giới nước Mỹ, đổ bộ vào châu Âu, chinh phục châu Âu rồi cả thế giới.

Bắt đầu là quần bảo hộ lao động

Levi Strauss vốn là người Do thái, định cư tại Đức. Ông sinh năm 1829 tại làng Buttenheim ở phía bắc xứ Bavaria. Gia đình Strauss rất nghèo. Hai người anh lớn của Levi đã bỏ sang Mỹ kiếm sống từ rất sớm. Năm Levi Strauss 16 tuổi, cha ông bị bệnh mất sớm. Cuộc sống gia đình ông rất khó khăn.


Năm 1847, Levi Strauss cùng với mẹ và hai em gái quyết định rời bỏ châu Âu để mong đổi đời ở nước Mỹ, miền đất hứa của rất nhiều người lúc đó. Cả gia đình sống nhờ cửa hàng nhỏ bán quần áo của hai người anh Jonas và Louis ở New York.

Vào đầu những năm 50 của thế kỷ 19, một số mỏ vàng ở phía tây nước Mỹ được phát hiện. Và cả một làn sóng người lao động đổ xô về California đào vàng. Năm 1853, không chịu được cảnh sống nhờ hai người anh, Levi Strauss cũng bỏ nhà theo những người đào vàng đến San Fransisco. Tuy nhiên, ông không đi đào vàng mà chỉ có ý định làm dịch vụ cho họ. Về sau nhìn lại thì quả đây là một quyết định rất sáng suốt.

Chẳng có vốn liếng gì, Levi Strauss quyết định lại mở cửa hàng quần áo và tạp hoá nhỏ trên cơ sở số hàng hoá của hai người anh cho mang theo. Levi Strauss biết chút ít may vá và nhận sửa chữa và may vá quần áo cho công nhân đào vàng.

Cho tới một ngày, một thợ đào vàng đề nghị ông may cho một chiếc quần bảo hộ thật bền, thật chắc để mặc đi làm hàng ngày. Đúng lúc nhà hết sạch vải may quần, Levi Strauss chợt nảy ra ý tưởng lấy cuộn vải bạt, dầy và khá thô, vốn chỉ để làm buồm cho thuyền lớn hay làm lều ngủ trên đồng cỏ may quần cho thợ đào vàng.

Chiếc quần bò đầu tiên ra đời từ đó và lúc đầu nó có màu nâu, có dây đeo. Người thợ đào vàng quá sung sướng và thoả mãn bởi chiếc quần lao động đơn giản nhưng chắc chắn, rất phù hợp với nghề đào vàng luôn phải di chuyển, cọ sát với vách đá, hầm mỏ…

Người này mách người kia, cuối cùng Levi Strauss phải may rất nhiều quần bò cho thợ đào vàng. Khi đi mua vải, Levi Strauss chọn vải bông dầy, dệt thô và được nhuộm màu xanh. Những chiếc quần bò do Levi Strauss may và bán ngày càng được biết đến và đặt hàng nhiều hơn.

Bằng sáng chế cho những chiếc đinh tán

Một đặc tính mang lợi thế vượt trội của quần bò là rất bền, đòi hỏi các đường may phải rất chắc chắn. Levi Strauss đã phải dùng loại chỉ tốt nhất và phần lớn là may hai đường song song cách nhau chừng 5 mm.

Tuy vậy, chiếc quần bò được ưa chuộng như ngày nay vẫn thấy là những chiếc quần bò được tán đinh bằng đồng ở các mép túi. Nhưng Levi Strauss lại không phải là người đầu tiên phát minh ra điều đó. Người đầu tiên nghĩ ra việc này là Jacob David, cũng là một thợ may và là một khách hàng thường xuyên của Levi Strauss.


Có một lần, khách hàng đã yêu cầu David may quần bảo hộ lao động sao cho các đường may mép túi thật chắc vì rất hay bị rách, đứt chỉ chỗ này. Ông này thử nghiệm nhiều cách, hết thay chỉ thật tốt rồi may hai ba đường và cuối cùng là ý tưởng dùng đinh mũ tán để đóng vào các mép túi quần và phía dưới của các đỉa quần để giữ thắt lưng.

Và thật ngạc nhiên, những chiếc quần bảo hộ lao động không chỉ bền hơn nhờ những chiếc đinh tán mà tôn thêm vẻ đẹp cho quần.


Người đặt may những chiếc quần đó rất nhiều. Jacob David rất muốn đăng ký phát minh đơn giản mà có giá trị này nhưng ông thợ may nghèo không có đủ tiền để đóng phí đăng ký bản quyền. Mức phí 68 USD ngày nay chưa chắc đã mua được một chiếc quần bò Levi’s loại tốt nhưng cách đây hơn 130 năm lại là một tài sản rất lớn. Một chiếc quần bò lúc đó chỉ được bán với vài chục cent mà thôi.

Năm 1872, Jacob David đã gặp Levi Strauss đề nghị hợp tác nếu Levi Strauss bỏ tiền đăng ký bản quyền cho phát minh đóng đinh tán vào các mép túi quần bò. Trước cơ hội kinh doanh bất ngờ, Levi Strauss đã đồng ý ngay và lịch sử của chiếc quần bò được ưa chuộng khắp thế giới chính thức bắt đầu từ đó. Những chiếc quần bò màu xanh của Levi Strauss gần như không có mấy thay đổi cho đến nay.

(Trích Vneconomy)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #64 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 12:25:42 AM »

Laszlo Josef Biro (Hungary)
- Ông Tổ  của cây bút bi


Hoàn toàn không phải là phóng đại khi khẳng định bất cứ ai có thể viết đều ít nhất một lần trong đời sử dụng bút bi. Rẻ tiền, thuận tiện và không cần bảo dưỡng, bút bi đã cách mạng hóa cách viết của con người.


Đối với hầu hết mọi người trên khắp thế giới, Biro vẫn là tên chung cho bút bi. Giống như Hoover, Biro được đặt tên theo nhà sáng lập của nó, nhà báo Hungary Laszlo Josef Biro. Biro là người thành công với nhiều nghề khác nhau: học sĩ, nhà văn, nhà điêu khắc, sinh viên y, nhà thôi miên và nhà phát minh. Ông đã phát minh ra hộp số và bán cho hãng ô tô Ford. Vì lý do thương mại, hãng Ford đã giấu ý tưởng này. Laszlo và em trai của ông, George đã sáng chế ra bút bi Biro vào 1938. Vào năm 1940 khi chiến tranh xảy ra ở châu Âu, anh em nhà Biro di cư đến Argentina, nơi đây phát minh này được áp dụng vào năm 1943.


Bút bi hiện đại (Nguồn: Kapicovn.com)

Bút bi Biro chứa một viên bi nhỏ ở trên đầu, đầu bi này có thể xoay, tiếp nhận mực rồi chuyển mực đến tờ giấy. Trước đó nửa thế kỷ, một phát minh sản phẩm tương tự được John J. Loud đưa ra vào năm 1888, nhưng nó chưa bao giờ phát triển về mặt thương mại và đã đi vào lãng quên. Chính phủ Anh đã đem bản quyền phát minh cây bút bi cho Không lực Hoàng gia (RAF). Các phi công than phiền ống mực bị chảy khi ở trên cao, và cây bút bi mới có mực đặc thì không bị như vậy. Thế là Biro đã thành công. Được dán nhãn Eversharp CA cho Capillary Action, cây bút bi được bán rất chạy ở hãng hàng không Buenos.

Năm 1945, nhà sản xuất loại bút chì bấm Eversharp đã hợp tác với Eberhard-Faber đăng ký kiểu dáng công nghiệp để bán ở thị trường Hoa Kỳ. Vào khoảng thời gian này, một nhà kinh doanh người Mỹ cũng thấy một chiếc bút chì Biro được trưng bày tại Buenos Aires. Ông mua vài mẫu bút rồi quay về Hoa Kỳ, thành lập Công ty Reynolds International Pen để sản xuất bút với nhãn hiệu là Reynolds Rocket. Cuối năm 1945, công ty này chiếm lĩnh thị trường của Eversharp. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, chiếc bút đầu tiên được bán tại khu trưng bày Gimbel, New York với giá mỗi chiếc là 12,50 đôla Mỹ (bằng khoảng 130 đôla Mỹ ngày nay). Đây là loại bút được biết đến rộng khắp tại Hoa Kỳ cho đến cuối thập niên 1950.


Tranh vẽ bằng bút bi của họa sĩ Đặng Ngọc Trân (Nguồn: tuoitre.com.vn)
Tương tự, những ngày cuối năm 1945 và những ngày đầu năm sau đó, những chiếc bút như vậy cũng được đem bán tại Anh Quốc và khắp châu Âu lục địa. Những loại bút rẻ tiền hơn được Société Bic sản xuất với thương hiệu Bic, sau đó thương hiệu Hoover và Xerox tiếp tục được sử dụng rộng rãi. Trong một loạt các dòng sản phẩm mới Société Bic được phát triển mới, nhãn hiệu bút bi nổi tiếng lúc đó là Bic Cristal.


Bút lông kim
Hiện nay, Biro thống lĩnh thị trường viết, chỉ đối đầu với cây bút lông kim cải tiến mà thôi. Các hãng Parker, Schaeffer, và Waterman giữ vị trí thống lĩnh trên thị trường bút máy và bút bi trong khi đó thì hãng Bic và PapeMate giữ vị trí bình thường. Laszlo Biro mất vào năm 1985, và tên của ông đã đi vào kho tàng ngôn ngữ tiếng Anh. Kể từ năm 1990, ngày sinh nhật của Biro (29 tháng 9) trở thành ngày của những nhà phát minh tại Argentina.

(CIC Tổng hợp từ Burorama.com và Wikipedia)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Hai 12, 2010, 06:12:27 AM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #65 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 06:19:07 AM »


Friedrich Greiner (Đức)
- Ông tổ của dịch vụ taxi

   
***

Taxi ngày nay đã trở thành một phương tiện giao thông phổ biến ở tất cả các thành phố trên thế giới, trong đó có các thành phố ở Việt Nam. Hàng ngày, bạn có thể nhìn thấy những chiếc taxi trên TV, trên đường phố… hay bất kỳ nơi đâu. Nhưng bạn đã bao giờ đặt câu hỏi: chiếc taxi đầu tiên ra đời như thế nào, là loại xe gì, hãng nào sản xuất, lịch sử của dịch vụ xe taxi?


Chiếc taxi đầu tiên trên thế giới
Ngày 26/06/1896, Friedrich Greiner, người chuyên hoạt động vận tải ở Stuttgart đã đặt hàng một chiếc xe đặc biệt với Daimler Motoren Gesellchaft (DMG) tại Cannstatt: ông muốn có một chiếc Daimler được trang bị đồng hồ tính tiền theo km (taximeter), có thể sử dụng một phiên bản xe lan -đô của chiếc Daimler Victoria như một chiếc taxi. Chiếc xe có số đặt hàng là 1.329 và được cung cấp cho khách hàng vào tháng 07/1897.


Xe lan-đô  của Daimler Victoria
Công ty của Greiner là một công ty chuyên chở bằng ngựa kéo, và ngay sau đó ông đã đổi tên thành Daimler Motorized Cab Company và trở thành công ty taxi vận tải đầu tiên trên thế giới. Trước đó, chưa từng có một ai sử dụng ô tô, một phát minh từ 10 năm trước làm taxi chở người - ngay cả khi Daimler đã khuyến cáo các phương tiện vận chuyển dùng hộp số dây đai 4 cấp và động cơ 2 xilanh thẳng đứng (xe lái bằng dây) đặc biệt cho mục đích này vào năm 1896.

Chiếc taxi đầu tiên đã xuất hiện trên đường phố Stuttgart vào đầu mùa hè năm 1897 và đã nhận được sự chấp thuận của cảnh sát cho hoạt động của mình từ tháng 6.

Lần đầu tiên, một hệ thống sưởi ấm cho ghế sau đã được lắp đặt trên xe khách. Hệ thống này được lắp đặt cả trên nhưng chiếc xe hở một nửa khoang hành khách, chúng có thể mở nếu thời tiết tốt. Theo yêu cầu của khách hàng, chiếc xe thậm chí còn có thể bỏ được toàn bộ nóc để trở thành một chiếc xe mui mở hoàn toàn.

* 70 km trong một ngày


Daimler là nhà cung cấp chiếc taxi đầu tiên (Nguồn: Vietbao.vn)

Greiner đã đầu tư rất nhiều tiền bởi 5.530 mác Đức là giá của chiếc xe mui nửa và lốp cao su đặc. Thêm nữa ông lại còn phải trả tiền thuê đồng hồ đếm km (taximeter). Nhưng đầu tư cho công nghệ mới cũng được tưởng thưởng xứng đáng: với những chiếc taxi Diamler của mình, Greiner quản lý nhiều chiếc xe chạy 70 km trong một ngày - hơn nhiều những gì ông đã làm với xe bằng ngựa kéo. Được sự chấp thuận của khách hàng đã chứng tỏ những chiếc taxi cơ giới hóa đã bước lên một tầm vóc mới. Chúng được coi là những chiếc xe thông minh, nhanh nhẹn, và thực hiện những chuyến hành trình với những chuyến xe này hứa hẹn nhiều phấn khích cũng như một chút hồi hộp. Nhu cầu của khách hàng đã khiến các nhà đầu tư trong lĩnh vực vận tải mua thêm nhiều xe. Cho đến năm 1899, Greiner đã có 7 chiếc taxi Daimler.

Cái định nghĩa taxi cơ giới không chỉ gây ấn tượng với khách hàng mà còn cả với các đối thủ cạnh tranh. A Mr. Dietz, một nhà điều hành xe ngựa kéo ở Stuttgart, đã đặt hàng 2 chiếc taxi với Benz & Cie tại Mannheim. Buổi giới thiệu hoành tráng của họ trở thành một sự kiện thành công vang dội khi Dietz đã thuyết phục được cảnh sát trưởng thành phố Stuttgart đích thân đăng kí những chiếc xe của Benz. Trước đó, chiếc xe đã chứng tỏ được khả năng của mình bằng cách chở 6 hành khách từ thung lũng Stuttgart đến sườn dốc Weinsteige mà không hề có sự gián đoạn.

*Từ Stuttgart bước ra thế giới

Từ Stuttgart, những chiếc taxi cơ giới bắt đầu sự thành công của minh trên khắp thế giới. Sau năm 1899, đội xe taxi của Daimler đã có mặt đầu tiên trên tất cả các thành phố lớn của châu Âu. Những hãng taxi lần lượt được thành lập tại Paris, London, Vienna và những trung tâm lớn khác.

Giới truyền thông thì tranh cãi về những chiếc taxi với sự hiếu kỳ và chú ý. Trong khi một số bày tỏ sự ủng hộ với công nghệ mới, số khác không có ý kiến, và số còn lại cho rằng chúng sẽ gây ra nhiều tai nạn và làm những con ngựa sợ. Đáp lại, những khóa học lái cho các tài xế lái taxi được cung cấp. Đã có rất nhiều người đánh xe ngựa quay trở lại trường để được đào tạo lại trở thành tài xế taxi.


Taxi tại Việt Nam (Nguồn: Veer.vn)

Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21, số lượng những chiếc xe taxi tại các thành phố lớn tăng một cách nhanh chóng. Bên cạnh những chiếc taxi chạy bằng động cơ xăng, còn có rất nhiều chiếc chạy bằng động cơ điện cũng như hybrid. Và gần đây nhất là chiếc Mercedes Mixte được sản xuất tại nhà máy Daimler ở ngoại ô Vienna, nước Áo.

Động cơ xăng được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên, cả hai DMG và Benz & Cie. Đều thừa nhận tiềm năng lớn của động cơ diesel. Và cột mốc cho sự phát triển taxi ở Stuttgart là chiếc Mercerdes-Benz 1927 và Mercedes-Benz 260D 1936 - chiếc xe khách chạy bằng diesel đầu tiên. Với những trang bị đặc biệt, Mercedes-Benz tiếp tục đáp ứng được nhu cầu của những lái xe, khách hàng cũng như nhà cung cấp dịch vụ taxi cho đến ngày nay.

*Chiếc taxi đầu tiên tại Việt Nam?

Có ý kiến cho rằng: xe taxi xuất hiện tại Sài Gòn khoảng năm 1947. Lúc đó xe rất ít, chỉ có vùng Sài Gòn - Chợ Lớn - Đa Kao - Gia Định mới có taxi. Riêng các tỉnh lân cận như Biên Hòa, Tân An (Long An), Mỹ Tho không có xe taxi. Mãi cho đến năm 1950, xe taxi mới thịnh hành. Các hiệu xe như Renault 4 và Simca 8, Simca 9 bắt đầu xuất hiện nhiều. Gần đến năm 1960 thì có xe Peugeot 203. Các hiệu này nhập cảng từ Pháp. [...]

Sau đây là một số hình ảnh  xe taxi ngày xưa ở nước ta:

   
Taxi Sài Gòn xưa (Nguồn: Internet)
Ở góc tấm ảnh có dòng chữ tiếng Pháp: “Cochinchine – Saigon – Taxi-Pousse”.




Taxi Cochinchine - Saigon (Nguồn: Otosaigon.com)
Có ý kiến cho rằng đây là taxi Đàng trong thời Pháp thuộc, loại xe Renault 1920.


Taxi Sài Gòn năm 1970 (Nguồn: Internet)
Trung tâm CIC (tổng hợp từ Vietbao.vn và các nguồn khác)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #66 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 06:29:56 AM »

Chuyện của "sư tổ" nghề "sư giả"

(24h) - Trong thế giới của những lão nông hành nghề “giả sư”, chúng tôi tiếp cận được người đàn bà gần 80 tuổi ở xã H, huyện Tân Kỳ (Nghệ An), được mệnh danh là “sư tổ”.

Gần chục năm trở lại đây, trên khắp nẻo đường từ thành thị, tới nông thôn người ta dễ bắt gặp hình ảnh các nhà sư hành hương khất thực, thậm chí là quyên góp từ thiện.

Tuy nhiên, theo nhiều vị cao tăng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong số những người khất thực đó, những người giả danh nhà sư làm điều trái đạo, thu lợi cá nhân không phải là ít.

Theo điều tra của chúng tôi, đằng sau những tấm áo cà sa nâu sòng là cả một đội quân bỏ ruộng cày, rũ bùn, đua nhau cạo đầu đi làm “sư”. Vùng đất Nghĩa Đồng, huyện Tân Kỳ, Nghệ An là nơi khởi xướng cho phong trào đi làm “sư giả”. Sau đó, lan dần sang cả xã khác.

Thời điểm cao độ, từ Nam chí Bắc, có hàng trăm “nhà sư” của các xã thuộc huyện Tân Kỳ đi khất thực, quên góp, bán nhang. Nhiều “sư” kết thúc “sự nghiệp” trong chốn giàu sang, nhưng cũng có “sư” lại “lựa chọn” nhà tù làm điểm dừng chân.

Trong thế giới của những lão nông hành nghề “giả sư”, chúng tôi tiếp cận được người đàn bà gần 80 tuổi ở xã H, huyện Tân Kỳ (Nghệ An), được mệnh danh là “sư tổ”. Nay bà lão đã “rửa tay gác kiếm”, về quê mai danh ẩn tích.

Đói quá nên đi làm...“sư”?



(Chùa BL bị các “sư giả” “mượn” tên để làm giấy lưu hành).

Chẳng hiểu bà Hoa, xã H (Tân Kỳ, Nghệ An) có đúng như người dân nơi đây đồn thổi hay không nhưng câu chuyện thật như đùa trong thế giới “giả sư” của bà lão một thời từng được thổi phồng.

Ít nói về mình, bà lão thả giọng bâng quơ. Ánh mắt đăm chiêu, lớp da nhăn nheo như kéo sụp khuôn mặt, khiến người khác thêm tò mò. Cách nói chuyện của bà cũng khác thường, khác thường như chính “sự nghiệp” rẽ ngang của bà vậy.

Trước kia, nhà bà lão vốn nghèo, con cái nheo nhóc, cái đói luôn rình rập. Có năm mất mùa, đất đai nứt nẻ, dấu chân chim bạc phếch, cây lúa gầy như cỏ may, cả gia đình lại há hốc miệng vì đói. Sống mãi cảnh bần hàn, con cái thất học, bà đánh liều khăn gói theo một số người bạn vào Nam làm thuê.

Nhưng nơi đất khách quê người, số tiền dành dụm, tằn tiện, chắt bóp được “ba cọc, ba đồng” không đủ để trang trải cuộc sống. Thậm chí, có tháng trời ròng rã, không có công việc, bà lão phải chấp nhận húp cháo trừ bữa. Bà đi lang thang khắp mọi ngõ hẻm đất Sài Gòn tìm kế sinh nhai, nhưng cuộc sống chật vật vẫn ám ảnh.

Cuộc sống của bà bắt đầu rẽ ngang khi đang lâm vào ngõ cụt. Trong một lần tình cờ, có một người miền Trung vào đây lập nghiệp, nói chuyện vội nhận bà làm đồng hương. Qua nói chuyện, biết bà đang thất nghiệp, ông này khuyên bà đi “bán nhang” cho ông ta, kiếm sống tạm trong khi chờ việc. “Thu nhập cái này ổn, làm tạm thời thôi, khi nào kiếm việc khác hãy chuyển nghề”- Người đàn ông ấy khuyên nhủ.

Đói. Bà chấp nhận nghe theo. Ông “thầy” đồng hương cạo trọc đầu bà, truyền cho các “bí quyết” bán nhang dạo, tượng Phật, lịch xuân và cả các “chiêu” dụ lòng từ bi của bà con nhằm quyên góp tiền từ thiện.

Kết thúc “khóa đào tạo” ngắn hạn, trước khi tạm biệt “đệ tử”, ông ta phát cho bà một bộ trang phục thầy tu, có cả tay nải, “giấy giới thiệu lưu hành” của chùa Bửu Long do Hòa thượng Thích Thông Bửu (?) ký; Giấy chứng nhận hội viên mang tên Nguyễn Thị H, pháp danh: Ái Hoa.

Lợi nhuận lớn

Rời “nghiệp tu hành” sau gần 10 năm, với số vốn kha khá, đủ trang trải trong cuộc sống, bà quyết chí làm lại từ đầu. Điều ngạc nhiên, từ khi về “mai danh ẩn tích”, bà không ngờ rằng số “đệ tử” do mình công phu đào tạo lại tiếp tục phát huy rầm rộ với quy mô lớn, “làm ăn” hiệu quả hơn nhiều…

Ngày đầu tiên “khởi nghiệp” trong vai một người “tu hành” mặc áo nâu, đầu đội khăn đi quyên góp từ thiện, đi tới đâu, gặp ai miệng bà cũng lắp bắp “Nam mô a di đà phật”.

Ấy nhưng, do chưa một lần được tu hành nên trong những lúc đi bán nhang, bà cứ ngó nghiêng, đôi mắt lấm lét sợ người quen phát hiện. Có khi, cũng bởi “bệnh nghề nghiệp” trước đây, thấy ông chủ nào cần người bốc vác, bà định sấn vào xin làm, chợt sực tỉnh, nghĩ đến thân phận hiện tại của mình nên thôi.

Nhờ cách “thuyết pháp” dễ lọt tai, số nhang bà đi dạo bán với mục đích làm “từ thiện” ngày được nhiều người mua. Thấy hiệu quả, bà tiếp tục nâng số tiền 1 bó nhang từ 5.000 đồng lên 25-30.000 đồng. Bà không ngờ, số công sức chẳng mất bao nhiêu lại thu được lợi nhuận cao.

“Vốn đầu tư” ban đầu được thu hồi nhưng lòng tham vì cách kiếm tiền quá dễ dàng nhờ vào tấm lòng từ bi của người dân, bà càng lao vào làm “từ thiện”.

Rồi bộ mặt thật của bà bị lật tẩy. Trong một lần “hành đạo” tại tỉnh Đồng Nai, người dân thấy nghi ngờ dáng mạo, nghi ngờ hoạt động quyên góp làm từ thiện của bà, họ lập tức trình báo với chính quyền sở tại. Tại đây, bà lộ nguyên hình là kẻ giả mạo nhà sư của chùa Bửu Long. Các giấy tờ tùy thân mang theo cũng bị phát hiện là giả. Bà bị trục xuất, thu hồi giấy tờ.

Sau lần bị phát hiện, bà vẫn không quay lại con đường lao động chân chính trước đây mà chạy dạt ra Huế. Rút kinh nghiệm lần trước bị bắt, bà không xuất đầu lộ diện, mà tích cực lôi kéo những người dân ở huyện Tân Kỳ (Nghệ An) vào đây “làm ăn”.

Thành lập “hiệp hội... giả sư”

Nhận thấy “nghề” này vừa nhàn, lại vừa có thu nhập lớn nên không ai bảo ai, hàng trăm người dân ở các xã Nghĩa Đồng, Nghĩa Bình, Nghĩa Thái, Nghĩa Hợp... Kéo nhau vào gặp “sư tổ” nhờ chỉ dạy các ngón nghề.

 


[“Sư tổ” không ngờ, đám hậu duệ do mình cất công “đào tạo” làm ăn hiệu quả hơn nhiều.]

Ở Huế, “hiệp hội giả sư” của huyện Tân Kỳ, dưới sự chỉ đạo của bà, trước năm 2000 còn mở cả những khóa đào tạo cho những người mới chập chững bước vào nghề. Đồng thời, hình thành cả đường dây làm giả giấy tờ của các nhà chùa để tiện hành nghề.

Mỗi bộ giấy tờ giả các đối tượng phải trả 500.000 đồng. Thông thường, bà Hoa thường chọn 2 ngôi chùa có bề dày lịch sử là chùa HL ở Huế và chùa PL ở Đồng Nai để làm giấy tờ giả cấp cho các  “ni cô, tăng ni, phật tử”.

Những khóa đào tạo này, các “đệ tử” sẽ được sư phụ truyền dạy và bắt buộc phải thuộc lòng mấy câu kinh Phật. Kết thúc các khóa học, một số người có “thành tích” sẽ được cấp pháp danh và cạo trọc đầu, số còn lại nếu chưa thuần thục sẽ phải nộp kinh phí đào tạo tiếp.

Sau khóa học và nhận đầy đủ giấy tờ mượn danh của các nhà chùa, các đối tượng đưa ra lý do quyên góp tiền khi là làm từ thiện, khi thì để xây dựng chùa, bán hương vàng... Nhưng tất cả số tiền bán được đều bị các “nhà sư” này đút túi...

“Công việc” khi chuyển sang mở các “lớp đào tạo” bất ngờ thu được lợi nhuận khá cao, lại tốn ít công sức. Có tiền, “sư tổ” bắt đầu ăn diện ra mặt. Ban ngày mặc áo cà sa, tối về quần lụa, guốc cao, dây chuyền, vòng bạc đeo lủng lẳng. Bà ung dung đi dạo, mua sắm và tha hồ gửi tiền về quê cho chồng, con.

Nhưng “vận may” lần nữa không mỉm cười. Bà bị bắt và trả về địa phương quản thúc.



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Một 11, 2011, 09:25:47 PM gửi bởi nhuocthuy » Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #67 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 06:38:54 AM »


Bà tổ của nghề may

-Nguyễn Thị Sen


***


Nghề áo dài truyền thống

Tà áo dài truyền thống không chỉ là biểu tượng cho hồn dân tộc Việt mà còn là thương hiệu của Việt Nam đối với bạn bè trên khắp thế giới.

Bà tổ của nghề là bà Nguyễn Thị Sen - người con gái xinh đẹp, đảm đang của làng Trạch Xá. Tục truyền rằng, Nguyễn Thị Sen là thứ phi của vua Đinh Tiên Hoàng, kết duyên cùng đức Vua khi ông về đây chiêu mộ hào kiệt. Nguyễn Thị Sen được phong là thứ phi. Bà thường  xem các cung nữ làm áo trong nội cung vua. Với sự khéo léo và sáng tạo, bà đã giúp họ phát triển, hoàn thành được những chiếc áo đẹp lộng lẫy trong cung vua.

Sau khi Vua Đinh Tiên Hoàng mất quyền hành rơi vào tay Dương Vân Nga và Lê Hoàn, bà đã từ giã hoàng cung cùng với con trở về quê hương truyền dạy nghề cho nhân dân trong làng.

Khi mất bà được lập đền thờ và tôn làm bà tổ nghề áo dài truyền thống. Từ đó đến nay, cha truyền con nối, thế hệ trước dạy cho thế hệ sau, nghề may gắn bó với người Trạch Xá và trở thành nghề truyền thống của làng. Trạch Xá hôm nay có cả một đại bản doanh của mình trên đất Hà Thành.
 


Ngày 12/12 âm lịch hàng năm ,các công ty , cửa hàng thời trang đều làm lể giổ Tổ nghề may, để biết ơn các chư vị Tổ Sư làng nghề đã phù hộ cho họ 1 năm làm ăn thịnh vượng và mọi sự được suôn sẻ tốt lành, các cửa hàng đều trưng bày đẹp và có các chương trình khuyến mãi đặc biệt dành cho khách hàng

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
nhuocthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #68 vào lúc: Tháng Hai 12, 2010, 06:49:33 AM »

Bài tóm kết


Tín Ngưỡng Thờ Tổ  Nghề Ở Việt Nam


Thờ Tổ  nghề là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây"...

1. Đôi điều về tín ngưỡng thờ Tổ  nghề

Tổ  nghề (còn gọi là Tổ  Sư , Thánh sư, Nghệ sư - người phát minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc là người thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh. Tổ  nghề có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Nghề thủ công mỹ nghệ ở nước ta rất phát triển, có truyền thống lâu đời, sản phẩm phong phú, đa dạng về chất liệu, kiểu loại. Có thể kể một số nghề như: Nghề dệt chiếu cói, dệt the, dệt lụa, dệt nhiễu, thêu, thợ may, thợ mộc, nghề kim hoàn, chạm bạc, khảm xà cừ, nghề giấy, nghề mây tre, làm nón, nghề sơn, chạm khắc đá, đúc đồng, nghề gốm.... Những người làm nghề thường ở thành phường nhóm, làng (làng nghề). Biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình và di dưỡng đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", họ thờ phụng các vị Tổ  của nghề mình đang làm. Có thể lập bàn thờ Tổ  nghề tại gia, và vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền riêng để thờ Tổ  nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị Tổ  nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.

Trong một năm, lễ cúng Tổ  nghề quan trọng nhất là nhằm vào ngày kỵ nhật của vị Tổ  nghề, đối với những vị mọi người đều biết hoặc là một ngày nhất định mà mọi người trong phường, trong làng cùng theo một nghề kể là ngày kỵ nhật của Tổ  nghề mình.

Thờ phụng Tổ  nghề, người ta cầu mong Ngài phù hộ cho công việc được suôn sẻ, buôn may bán đắt hoặc lúc đi xa tránh được mọi sự rủi ro. Sau khi công việc có kết quả, người ta làm lễ tạ ơn. Ngày kỵ nhật Tổ  nghề tại các phường còn gọi là ngày giỗ phường.

2. Các Tổ  Sư ngành nghề

+ Bà chúa nghề tằm
Thời vua Lê Thánh Tông, một viên quan trong triều khi già về Nghi Tàm mở trường dạy học. Một hôm ra ngắm cảnh hồ, ông bỗng thiu thiu ngủ. Trong mộng, ông lạc vào thiên đình, thấy một vị quan quỳ xuống tâu xin Ngọc Hoàng cho công chúa Quỳnh Hoa xuống đầu thai họ Trần. Ngọc Hoàng chấp thuận, Trần Vĩ được viên quan trao vào tay một cô con gái.

Chẳng bao lâu sau, vợ ông có mang sinh một đứa con gái đúng như trong mộng. Ông bèn đặt tên là Quỳnh Hoa. Lớn lên, Quỳnh Hoa được gả cho Liễu Nghi, tri phủ Hà Trung.

Khi Chiêm Thành sang xâm lược, vợ chồng Liễu Nghi đều ra trận đánh giặc. Thắng trận, vua phong cho Liễu Nghi chức Đô Đài Ngự sử và Quỳnh Hoa là quận phu nhân. Khi Liễu Nghi mất, Quỳnh Hoa xin về Nghi Tàm. Vốn là người thạo việc trồng dâu, nuôi tằm, về Nghi Tàm, bà chuyên tâm lo nghề ấy rồi phổ biến cho dân chúng. Nhờ vậy dân toàn vùng biết nghề này. Sau khi mất, Quỳnh Hoa được tôn là bà chúa nghề tằm, hiện có gần 60 làng thờ bà.

+ Tổ  Sư nghề dệt

Ông Nguyễn Diệu, người ái Châu, Thanh Hoá, cùng vợ họ Mai tới kinh thành Thăng Long làm ăn buôn bán. Hai vợ chồng cùng nhau mở xưởng dệt, công việc ngày càng phát đạt. Vài năm sau, ông bà sinh được một cô con gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Lớn lên nàng nối nghiệp cha. Với đôi bàn tay khéo léo, vải nàng dệt đã bền lại đẹp, ai thấy cũng phải thán phục.

Năm 18 tuổi, nàng kết hôn cùng Trần Thưởng người Hồng Châu, Hưng Yên. Vài năm sau, Trần Thưởng thi đỗ được bổ làm quan coi sóc việc hộ. Với mong muốn được mở mang nghề dệt, chàng xin vua cho lập một phường dệt ở ven Hồ Tây. Nàng La chuyển về đó lo đảm đương việc dạy dỗ dân làng nghề dệt vải. Từ đó, nghề dệt vải ở đây được phát triển, danh tiếng vang xa.

Trong một lần cầm quân ra trận, Trần Thưởng không may tử trận. Được tin chồng, nàng La liền tự vẫn chết theo.

Vua Huệ Tông thương xót cho lập miếu thờ nàng ở phường Nhược Công, phong cho nàng làm Thụ La công chúa. Ghi nhớ công ơn dạy nghề của bà, dân chúng gọi bà là Bà chúa dệt.

+ Nghề nhuộm

Ông Tổ  nghề nhuộm không rõ tên được thờ ở số 18 phố Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nghề nhuộm có ở rất nhiều nơi tại Hà Nội như: Hàng Đào, làng Đồng Lầm, Võng Thị. Không rõ cụ thể tên Tổ  nghề nhuộm. Nghề nhuộm phố Hàng Đào có gốc làng Đan Loan, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Nghề nhuộm làng Võng Thị có gốc làng Quần Anh, tỉnh Nam Hà.

+ Nghề thêu

Ông Tổ  nghề thêu là Lê Công Hành, tên thật là Trần Quốc Khái, người làng Nguyên Bì: xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là thôn Quất Động, xã Hồng Thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây). Ông sinh ngày 18 tháng giêng năm Bính Ngọ (1606) mất ngày 12 tháng 6 năm Tân Sửu (1661), từng đỗ tiến sĩ. Trong một chuyến đi sứ phương Bắc, nhờ mưu mẹo và trí thông minh, ông đã học được nghề thêu và nghề làm lọng. Về nước, ông truyền bá nghề này cho dân làng Quất Động và một số làng lân cận như: Đào Xá, Tầm Xá, Hướng Dương... Dân thợ thêu các làng này di cư ra Thăng Long hành nghề cư trú tập trung tại hai nơi: phố Yên Thái và đoạn cuối phố Hàng Trống (trước kia gọi là phố Hàng Thêu), và rải rác ở các phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ...

+ Nghề đúc đồng

Tổ  Sư nghề đúc đồng là ông Khổng Minh Không được thờ ở số 5 phố Châu Long, quận Hoàn Kiếm. Trong các tài liệu lịch sử không có tên Khổng Minh Không. Đây có lẽ là dân gian hoà nhập Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không làm một thành Khổng Minh Không. Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không đều được coi là Tổ  Sư nghề đồng của nước ta. Lĩnh nam chích quái có viết về Dương Không Lộ như sau: Ông họ Dương tên Không Lộ, vốn xưa làm nghề đánh cá. Một hôm, ông đang đứng ở bến sông, bỗng thấy có một người hình dung cổ quái, đứng bên đường, nhìn ông rất lâu, rồi cười mà nói: Người là người cõi tiên sao không học đạo mà lại đi câu cá? Nói xong, liền phất tay áo ra đi. Không Lộ định hỏi thêm thì không thấy đâu nữa. Từ đó, ông bỏ nghề đánh cá vào tu ở chùa Nghiêm Quang - Thanh Hoá lấy tên là Không Lộ thiền sư. Sau đến thời Lý Thánh Tông về tu ở chùa Hà Trạch - Hà Bắc. Ông có pháp thuật cao siêu có thể bay trên không, đi trên mặt nước, sai khiến cả thú dữ, biến hoá muôn hình vạn trạng. Đặc biệt ông rất giỏi nghề đúc chuông nặn tượng.

Một lần ông đi sang Trung Quốc, quyên đồng được hàng trăm vạn tạ, đựng vào một cái bao lớn mà các thuyền phương Bắc không thể chở nổi. Ông bèn hoá phép lấy nón làm thuyền, lấy gậy làm chèo, cứ thế chèo chống, chở đồng về, đúc thành bốn đồ quý (Tứ bảo) gọi là Yên nam tứ quý.

Sự tích của Không Lộ dân gian nhập vào với Minh Không. Điều này còn tìm thấy trong văn bia chùa Keo (Thái Bình), chùa Keo (Hành Thiện - Nam Hà), chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều - Quảng Ninh), chùa La Vân (Quỳnh Phụ - Thái Bình). Nên sau này ông Tổ  nghề đúc đồng lúc thì được gọi là Nguyễn Minh Không, lúc thì lại được coi là Không Lộ.

+ Nghề làm bún

Ông Tổ  nghề làm bún được thờ tại Mễ Trì, Thanh Xuân, Hà Nội.

Bún là một loại thực phẩm được nhiều người Hà Nội ưa thích. Nó góp phần làm phong phú thêm cho nghệ thuật ẩm thực của người Hà Nội. Người Hà Nội có nhiều món ăn đặc trưng từ bún như bún thang, bún ốc, bún riêu... mỗi món một hương vị khác nhau. Ngày đầu xuân, người dân Hà Nội vẫn lưu truyền tục ăn bún ốc lấy may.

Ngày nay, bún không là một loại thực phẩm của riêng Hà Nội, nhưng bún Hà Nội vẫn nổi tiếng vừa trắng, sợi nhỏ, giòn và dai. Xã Mễ Trì (vùng Kẻ Quánh xưa) có nghề làm bún truyền thống. Bún Mễ Trì được coi là bún ngon nhất "ăn mát môi, trôi mát cổ". Tương truyền ông Tổ  của nghề này là Hồ Nguyên Thơ, không rõ sống ở đời nào. Ngày nay, người dân Mễ Trì thờ ông ở đình làng. Vào những ngày hội làng, dân làng lại Tổ  chức hội thi làm bún. Vật phẩm dâng cúng ở đình vào những ngày này cũng không thể thiếu mâm bún.

+ Nghề vàng bạc

Tổ  Sư nghề vàng bạc là ba anh em họ Trần: Trần Hoà, Trần Điện, Trần Điền sống tại làng Định Công, huyện Thanh Trì vào cuối thế kỷ thứ 6. Ba ông học được nghề này trong một cuộc lưu lạc tại một nước láng giềng khi về đem nghề truyền dạy lại cho dân làng. Sau này thợ làng Định Công di chuyển về Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc.

Ngoài ba anh em họ Trần, nghề vàng bạc Thăng Long còn do Tổ  nghề Nguyễn Kim Lân truyền dạy. Ông là người vùng nào đến nay không xác định được, sau ông đến làng Đồng Xâm, huyện Kiên Xương, Thái Bình: ông dạy nghề cho dân làng Đồng Xâm, sau này một số dân làng Đồng Xâm lên Thăng Long cư trú tại phố Hàng Bạc làm nghề kim hoàn.

+ Nghề làm giấy

Ông Tổ  nghề làm giấy không rõ họ tên được thờ tại các làng Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, Hà Nội. Không rõ họ tên Tổ  nghề. Từ thế kỷ 13, nghề làm giấy đã có tại thôn Dịch Vọng. Sau đó, nghề này lan truyền dần qua các địa phương ven sông Tô Lịch như: Yên Hoà (tục gọi là làng giấy), Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái, Nghĩa Đô, trong đó tập trung và phát triển nhất là thôn Yên Thái. Truyền thuyết ghi lại, đầu tiên ông Tổ  nghề giấy truyền nghề cho dân làng Yên Hoà, rồi lần lượt qua các làng khác.

+ Nghề gốm sứ

Tổ  Sư nghề gốm sứ Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều. Hứa Vĩnh Kiều cùng với Tổ  Sư hai làng gốm khác là Đào Trí Tiến làng Thổ Hà và Lưu Phong Tú làng Phù Lãng cùng khởi nghề ở Bát Tràng, sau đi học men gốm tại Thiểm Châu, Quảng Đông, Trung Quốc về truyền nghề cho dân làng.

+ Nghề khảm trai

Ông Tổ  nghề khảm trai là Nguyễn Kim, người làng Thuận Nghĩa, tỉnh Thanh Hoá sống vào thời Lê Hiển Tông. ông rất giỏi nghề khảm, vì bị sách nhiễu đã lánh nạn ra làng Chuyên Mỹ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và truyền dạy nghề cho dân làng này. Sau dân làng Chuyên Mỹ di cư ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Khay. Trước kia, phố Hàng Khay có đền thờ ông. Một vài truyền thuyết khác cho rằng Tổ  nghề khảm là ông Vũ Văn Kim hoặc Trương Công Thành sống vào thời Lý.

+ Nghề quạt

Tổ  Sư nghề quạt họ Đào, tên nôm là Đầu Quạt, người làng Đào Xá, huyện Ân Tri, tỉnh Hải Hưng. Dân làng Đào Xá sau ra Thăng Long cư trú tại phố Hàng Quạt. Họ lập đình Phiến Thị thờ ông Tổ  họ Đào ở số 4 phố Hàng Quạt.

Nghề làm quạt là nghề truyền thống của người dân Đào Xá. Đến nay, không ai biết chính xác nghề quạt vùng này có từ bao giờ, nhưng nó gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây.

Quạt của người làng Đào Xá có nhiều loại. Quạt ngà dùng để thờ hay dành cho vua chúa. Loại quạt này thường được trang trí tinh xảo với rồng, lân, phượng... Ngoài ra, còn có các loại quạt giấy, quạt the... Nguyên liệu giấy được dùng là loại giấy bản, giấy dó của làng Yên Thái.

+ Nghề rèn

Tổ  Sư nghề rèn Hoa Thị (ở xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm - ngoại thành Hà Nội) là ông Nguyễn Đức Tài. Ông người làng Hoa Thị, học nghề rèn của một người tên là Thanh Hoa không rõ người vùng nào, về truyền dạy lại cho dân làng nghề này sau được dân làng thờ làm Tổ  Sư .

Dân làng Hoa Thị vào cuối triều Lê đầu triều Nguyễn tức khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đã vào Thăng Long lập nghiệp tại phố Hàng Bừa (nay là phố Lò Rèn) và phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Một số ít tập trung tại các phố Kim Mã, Hàng Bột (nay là Tôn Đức Thắng), Ô Cầu Dền, phố Huế (khu vực giao giữa phố Huế và Đại Cồ Việt hiện nay).

Trước kia, thợ rèn Hoa Thị chuyên sản xuất các công cụ phục vụ nông nghiệp như: cày, bừa, liềm, hái, cuốc, thuổng, xẻng, mai, móng... Trong kháng chiến, các thợ rèn ở phố Lò Rèn rèn các loại vũ khí thô sơ phục vụ kháng chiến như: kiếm, mã tấu, mác... và cả nòng súng, cò súng... Hiện nay, trong thời kỳ cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, nhưng sản phẩm rèn của Hoa Thị vẫn được người tiêu dùng chấp nhận. Sản phẩm được ưa chuộng nhất hiện nay là kéo thợ may. Tại phố Nguyễn Khuyến hiện có khá nhiều hàng kéo của thợ rèn Hoa Thị.

Trên khắp đất nước ta, còn có rất nhiều nghề thủ công truyền thống, mỗi nghề đều có một, hai hoặc nhiều hơn các vị Tổ  nghề - người có công mở mang tri thức ngành nghề. Trên đây chỉ xin giới thiệu một số vị Tổ  nghề tiêu biểu.

NguoiTinh.com

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chonhoadong, nguyenthuy, anhlam, tadamina, dailuc, mavuong, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #69 vào lúc: Tháng Mười 01, 2010, 12:30:09 AM »

Huyền thoại ông tổ và Ngày sân khấu

Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng.

Ông tổ sân khấu là ai?

Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên.

Theo NSND Đinh Bằng Phi thì truyền thuyết được biết nhiều nhất là có một nhà vua không có con nên làm lễ cầu xin Trời Phật ban phúc. Mỗi khi làm lễ, có một người giả làm thần vừa múa hát vừa bay lên trời dâng sớ. Thế là hoàng hậu sinh hạ hai vị hoàng tử. Để tạ ơn trời, hằng năm vua đều cho diễn lại lễ ấy, có con hát đàn ca vui vẻ, có người đóng vai thần linh, và coi như một tiết mục biểu diễn trong cung.

NSND Đinh Bằng Phi thắp hương bàn thờ tổ - Ảnh: M.Châu

Hai vị hoàng tử lớn lên rất mê ca hát, suốt ngày quanh quẩn bên bội đình. Một hôm, mọi người tìm mãi không thấy hai hoàng tử đâu, hóa ra họ lén vua cha vào trong buồng hát mà xem, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rồi kiệt sức, ôm nhau chết tự lúc nào. Từ đó, nghệ sĩ thường thấy hai hoàng tử hiện về xem hát, bèn lập bàn thờ phụng, gọi là tổ. Cho nên, trong đoàn hát có một trang thờ bằng gỗ sơn đỏ, đặt hai cốt gỗ nhỏ xíu như con búp bê tượng trưng cho nhị vị hoàng tử. Mỗi khi có lớp diễn sinh con, nghệ sĩ hay đến bàn thờ thỉnh một vị ra làm hài nhi. Hoàng tử trẻ tuổi, ham vui, chắc chắn sẽ không phật lòng, mà còn thích diễn là đằng khác. Nhưng NSND Đinh Bằng Phi còn nói: "Thờ cốt gỗ trẻ con cũng có ý nghĩa hướng về khán giả trẻ, vì chính họ sẽ là người nuôi sân khấu tương lai".

NSND Phùng Há - Ảnh: M.Châu 


Cũng có truyền thuyết nói rằng tổ sân khấu vốn xuất thân từ ăn mày, bởi nghề hát sống nhờ vào đồng tiền của khán giả gom lại, có khác chi ăn mày khán giả. Cho nên nghệ sĩ làm từ thiện ở đâu thì làm chứ không dám bố thí cho người ăn xin, vì như thế là phạm thượng với tổ.

Thật ra, sân khấu miền Nam xuất phát điểm là hát bội, nên ông tổ chỉ được thờ trong các đoàn hát bội mà thôi. Sau này, có thêm cải lương rồi kịch cũng lấy luôn ông tổ này làm tổ của mình.

"Tổ phạt", "tổ độ"...

Nghệ sĩ thờ tổ rất thành kính, luôn nhớ những điều cấm kỵ, nếu không sẽ bị “tổ phạt”. Nhưng theo NSND Đinh Bằng Phi thì những điều này vừa là "tâm linh" vừa là khoa học. Chẳng hạn, giờ hóa trang không được giỡn hớt, nói tục trước bàn thờ tổ, có nghĩa là nghệ sĩ phải yên tĩnh, tập trung cho vai diễn sắp tới, thì sẽ diễn tốt hơn. Cấm đụng tới chiêng trống, bảo đó là một bộ phận trong cơ thể ông tổ, thật ra sợ lỡ tay làm hư rồi không sửa kịp, thiếu nhạc cụ để diễn. Cấm trẻ con hoặc khán giả đem theo trái thị, sợ ông tổ nghe mùi thơm chạy theo mà bỏ nghệ sĩ, không phù hộ. Sự thật là mùi trái thị thơm nức mũi, nghệ sĩ hít vô liền bị phân tâm, quên vai mà thôi. Cấm mang guốc vông, vì gỗ cây vông đẽo thành tượng tổ mà chà đạp dưới chân ắt có tội. Thật ra, thời xưa nghệ sĩ thường đi chân đất, lúc diễn mới mang hia, hài, nếu ai đi guốc cồm cộp sẽ làm mất yên tĩnh, tập trung cho người khác.

Và những câu chuyện truyền miệng trong giới không biết có phải do tổ linh thiêng hay không... Gánh hát bội của nghệ sĩ Mười Vàng nổi tiếng, có anh kép rất giỏi nhưng hay làm bể sô của ông bầu. Lần nọ, anh cũng bỏ một sô, báo hại ông bầu Mười Vàng phải nhảy lên đóng thay. May mắn, ông là nghệ sĩ kỳ cựu nên ai bỏ vai gì ông cũng đóng được hết. Lần này ông bực quá, rầy anh kép nọ. Anh chối hoài, ông bảo anh phải thề. Anh thề: "Nếu tôi nói dối thì cho bữa hát này tổ lấy hơi tôi đi!". Lát sau, anh ra sân khấu, mới dõng dạc hát một câu tự nhiên tắt giọng liền. Anh gân cổ hát mãi cũng không được, hoảng hốt tìm cách lui vào hậu trường bảo vợ đi mua con gà tạ lỗi với tổ. NSND Đinh Bằng Phi lúc ấy đang là giảng viên của trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, đi theo gánh hát, chứng kiến đầu đuôi sự tình. Ông cười: "Chẳng biết tổ linh hay có thể giải thích rằng do cả đêm anh ta thức đánh bài, sáng dậy mất giọng".

Còn một câu chuyện khác, có anh kép cải lương nổi tiếng một thời, cát-sê ngang ngửa với nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được, lần nọ uống rượu ngà ngà hát không nổi, liền tới trước bàn thờ tổ lè nhè: "Bộ muốn lấy giọng tui hả?". Tự nhiên sau đó vài năm anh "xuống" luôn, và giã từ sân khấu khá sớm.

Đó là những chuyện "tổ phạt". Còn chuyện "tổ độ" cũng không thiếu. Có nhiều đào kép ngoài đời không đẹp lắm nhưng lên sân khấu lại sáng trưng và duyên dáng lạ kỳ. Chẳng hạn NSƯT Ngọc Giàu từng nói thẳng là mình nhỏ con không sánh nổi nhan sắc cỡ Thanh Nga, Phượng Liên, nhưng tổ thương nên nghề nghiệp vẫn thành công. Mỗi khi chị lên sân khấu, khán giả chỉ thấy cái đẹp của nhân vật, và cho tới bây giờ vẫn yêu mến chị cuồng nhiệt. Cô đào trẻ Tú Sương cũng hơi yếu về sắc vóc, nhưng trên sàn diễn lại là ngôi sao cải lương. Có lẽ "tổ độ" vì cô làm nghề nghiêm túc, vượt mọi khó khăn để sống chết với nghề. Vai nào Tú Sương đóng cũng thấy sự tập luyện kỹ lưỡng, khán giả không yêu sao được.

Bên cạnh những vị tổ truyền thuyết ấy còn có những vị tổ rất cụ thể mà giới làm nghề gọi là hậu tổ. Đó là những vị tổ sư của các ngành nghề có liên quan đến vai diễn của nghệ sĩ, gọi là thập nhị công nghệ. Thí dụ: nghề may, nghề mộc, đi buôn, thợ rèn, y dược... Mỗi vai diễn, nghệ sĩ phải lấy thực tế từ người thật nghề thật rồi mới cách điệu lên, nên tri ân nghề đó. Hậu tổ còn bao gồm cả những nghệ sĩ lão thành có công với sân khấu, hoặc những nhân tài xuất chúng, như ông Trương Duy Toản, ông Năm Tú, ông Cao Văn Lầu, NSND Năm Châu, Ba Vân, Trần Hữu Trang, Phùng Há, Năm Phỉ, Tư Đồ...

Hoàng Kim

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, SCC, chanhnguyen, anhlam, dailuc, nhuocthuy, tadamina, Ngoisaobiec, byphuong
Logged
 
 
 
concavang
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 78

Cảm Ơn
-Gửi: 53
-Nhận: 594


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #70 vào lúc: Tháng Một 11, 2011, 02:30:17 AM »

Đọc cái tiêu đề mà giật mình, ngỡ như nghe chửi!!!
Nên chăng chúng ta thay đổi cách gọi Tổ sư thành Sáng tổ vì theo thời gian, những từ ngữ cũng bị thay đổi cách hiểu, phản ánh so với nguồn gốc ban đầu. Các từ: khốn nạn, tiên sư.. cũng dần bị hiểu sai theo hướng này.
Như vậy, chúng ta sẽ có một tiêu đề mới: Sáng tổ các ngành nghề Việt Nam thay vì Tổ sư các ngành nghề Việt Nam.
Hà Nội ngày đông giá rét, mời các bác một chén!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, dailuc, mavuong, tadamina, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

Ẩm giả lưu kỳ danh
 
 
 
dailuc
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 71

Cảm Ơn
-Gửi: 11798
-Nhận: 258


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #71 vào lúc: Tháng Một 12, 2011, 12:00:24 AM »

Cám ơn về sự góp ý của  bạn concavang, nhưng theo tôi, có lẽ đó là cách hiểu "nhạy cảm" của bà con Miền Bắc, chứ "may mắn sao, nhờ sự CHẬM TIẾN" mà dân Miền Nam chúng tôi chưa có "thói quen nhạy cảm" kiểu đó.

Cũng theo ý dốt của tôi, từ "Sáng Tổ" về nghĩa thì không chứa đựng hàm ý như "Tổ Sư" được và nghe hơi "chói tai". Việc thay đổi nầy có lẽ nên nhờ các vị Giáo sư Ngôn ngữ học đề xuất thì hay hơn. Tạm thời, chúng ta cứ dùng từ "Tổ Sư" theo nghĩa bình thường xưa nay là được.
Nếu cần, có lẽ ta dùng từ "số ít" là "ÔNG TỔ" hay "BÀ TỔ", số nhiều là "CÁC VỊ TỔ" thì  dễ hiểu hơn.

Vài hàng góp ý, mong bạn thứ lỗi.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, tadamina, chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong
« Sửa lần cuối: Tháng Một 12, 2011, 12:05:11 AM gửi bởi dailuc » Logged
 
 
 
concavang
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 78

Cảm Ơn
-Gửi: 53
-Nhận: 594


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #72 vào lúc: Tháng Một 12, 2011, 02:31:24 AM »

@Dailuc
Tổ sư (祖師/soshi) thường được hiểu là những vị Tổ trong Thiền tông.
Mà tôi thấy chúng ta không nên phân biệt Miền Bắc, Miền Nam như vậy, ảnh hưởng sâu sắc đến chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách đại đoàn kết dân tộc. laugh
Mời anh và mọi người cạn chén!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong
Logged

Ẩm giả lưu kỳ danh
 
 
 
dubymax
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 1

Cảm Ơn
-Gửi: 14
-Nhận: 28


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #73 vào lúc: Tháng Sáu 29, 2011, 03:18:44 AM »

Còn Ông Tổ của những hàng hoá độc hại, hàng nháy, hàng giả nữa.
 ws_095 ws_034

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong
Logged
 
 
 
quycoctu
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 141

Cảm Ơn
-Gửi: 3749
-Nhận: 151


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #74 vào lúc: Tháng Sáu 29, 2011, 10:01:18 PM »


Bên nam thì có Lã Bất Vi đã tạo ra Tần Thủy Hoàng độc ác.

Bên nữ thì có Bà Nữ Oa Nương Nương tạo ra nàng Đát Kỷ làm sụp đổ nhà Thương.

Hai vị nầy chắc xứng đáng làm "TỔ SƯ HÀNG ĐỘC HẠI" chứ ? Còn "hàng giả, hàng nhái" thì phong cho Bà Lã Hậu (vợ Hán Cao Tổ Lưu Bang, xem tiểu sử bà nầy thì rõ)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong
Logged

壹 嘟 曰  YES , 仟 piasters 曰 NO
 
 
Trang: 1 ... 3 4 [5]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.152 seconds với 25 câu truy vấn.