Tháng Tư 14, 2021, 07:10:13 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Tín ngưỡng Tứ Phủ?  (Đọc 8989 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
zensinbad
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 30

Cảm Ơn
-Gửi: 20
-Nhận: 73


Xem hồ sơ cá nhân Email
« vào lúc: Tháng Mười Hai 26, 2009, 01:04:38 PM »

Chào các anh chị trên diễn đàn!
Lâu nay mình nghe nói là nước Việt ta có phong tục, tín ngưỡng về Tứ Phủ, nhưng không biết đây là đạo gì? Mong anh chị giải đáp giùm!
Chân thành cảm ơn!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngocxuyentu, TieudaoTT, nhuocthuy, Ngoisaobiec
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười Hai 27, 2009, 12:02:50 AM »


Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của đạo Mẫu của Việt Nam. Tứ phủ bao gồm:

Thiên phủ (miền trời): có mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
Nhạc phủ (miền rừng núi): có mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
Thuỷ phủ (miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.
Tứ phủ được thờ tại hầu hết các chùa chiền ở miền Bắc Việt Nam. Tại điện Hòn Chén ở Huế, Thánh Mẫu Thiên Ya Na, nguyên là một nữ thần của người Chăm, được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên [1]. Trong khi đó, nhiều tài liệu cho rằng ở miền Bắc, Mẫu Thiên lại là Liễu Hạnh Công chúa.
Tam phủ và Tứ phủ
Tứ phủ là khái niệm thường được đi liền với tam phủ - hệ thống ba vị mẫu nhất, nhị, và tam (không bao gồm mẫu đệ tứ). Có tài liệu cho rằng hệ thống tứ phủ được xây dựng từ tam phủ cộng thêm mẫu Liễu. Tuy nhiên, do các tín ngưỡng Việt Nam hầu như chỉ được gìn giữ từ đời sang đời khác qua các hình thức truyền khẩu mà không có tài liệu rõ ràng và ít được nghiên cứu. Do đó có sự đa dạng tùy theo từng vùng, và chúng được giải thích theo nhiều hướng khác nhau.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
zensinbad, TieudaoTT, nhuocthuy, Ngoisaobiec, phaolon, trungkyen
Logged
 
 
 
zensinbad
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 30

Cảm Ơn
-Gửi: 20
-Nhận: 73


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười Hai 27, 2009, 08:29:12 AM »

Vâng, cảm ơn huynh ông địa đã giải đáp thắc mắc giùm!
Chân thành cảm ơn!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, nhuocthuy
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười Hai 27, 2009, 06:15:13 PM »

Vâng, cảm ơn huynh ông địa đã giải đáp thắc mắc giùm!
Chân thành cảm ơn!

*Không có chi ... winking


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy
Logged
 
 
 
zensinbad
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 30

Cảm Ơn
-Gửi: 20
-Nhận: 73


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 02:54:12 AM »

@ongdia: Cảm ơn huynh vì mấy tấm hình, rất đẹp...
Nhân tiện, xin được hỏi huynh về tín ngưỡng thờ Mẫu, là thờ Phật Mẫu Diêu Trì hay Mẫu Thượng Ngàn vậy huynh?

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, phaolon
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Hai 28, 2009, 02:57:54 AM gửi bởi zensinbad » Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 04:27:33 AM »

@ongdia: Cảm ơn huynh vì mấy tấm hình, rất đẹp...
Nhân tiện, xin được hỏi huynh về tín ngưỡng thờ Mẫu, là thờ Phật Mẫu Diêu Trì hay Mẫu Thượng Ngàn vậy huynh?

Mẫu Thượng Ngàn :
Mẫu Thượng Ngàn
Trong việc thờ cúng tại các làng quê ở miền Bắc và miền Trung nước ta, có một hiện tượng phổ biến là bên cạnh đình, chùa, bao giờ cũng có một nơi thờ Thánh Mẫu, gọi là Điện Mẫụ
Điện Mẫu thường nằm ở mé cạnh chùa, nhà gạch xây thẳng ba gian, nhỏ hơn chùạ Đôi khi cũng xây chùa theo kiểu chữ đinh.
Tại gian chính giữa, là nơi đặt tượng Mẫụ
Trường hợp đặt một tượng Mẫu thì đó là Thánh Mẫu, được hiểu là Mẫu của tất cả.
Trường hợp đặt ba tượng Mẫu thì đó là Mẫu Thượng Ngàn(ở bên phải), Mẫu Liễu (ở chính giữa) và mẫu Thoải (ở bên trái).
Ba pho tượng này đều tạc hình một phụ nữ, đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp. Sự khác nhau chỉ là ở những bộ trang phục.
Ở đây chỉ xin nói đến truyền thuyết của một mẫụ Đó là Mẫu Thượng Ngàn. Mẫu Thượng Ngàn được mang trang phục màu xanh. Cũng có người gọi Mẫu là Bà Chúa Thượng Ngàn.
Mẫu là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và công chúa Mỵ Nương (trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng cầu hôn Mỵ Nương, con gái vua Hùng).
Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình.
La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng. Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh cai quản, Ngài đã dạy dân không thiếu điều gì, từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước ...Rồi dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh ...
Ngài cũng thường dùng các vị Sơn thần, Tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc ...
Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điềụ Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏị Những khi Sơn Thánh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha ủy nhiệm đi thaỵ Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc.
Các Sơn thần, Tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh chủ tướng. Còn bản thân nàng, chẳng những hòa hợp, ân cần với mọ người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc ...
Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế, về trời, trở thành hai vị thánh bất tử, thì Ngài cũng phong La Bình là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam ta ...
Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, Thượng Ngàn công chúa vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Ngài bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhaụ Dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét ...
Ngài dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha Ngài đã dạy, Ngài đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các Tù trưởng, Ngài cũng học thêm ở họ được nhiều điềụ Thế là Ngài lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãị
Ngài cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha Ngài chỉ mới bắt đầụ Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết trạm trổ cho thật đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình hai đầu rồng chạm hẳn vào nhaụ Cách nấu nướng thức ăn,chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mớị
Rồi công việc đồng áng, Ngài dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống. Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm.
Trong các con vật nuôi trong nhà, Ngài đem về thêm nhiều giống gia súc mớị Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về ...
Công lao của Ngài đối với dân chúng thực không kể sao cho hết. Ngọc Hoàng Thượng đế còn ban tặng cho Ngài thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ.
Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của Công chúa Thượng Ngàn.
Cùng với nhiều vị thần thánh khác, Công chúa Thượng Ngàn vẫn ngày đêm lặng lẽ âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Và thật là tự nhiên, khi mọi người đều gọi Ngài là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.
Lịch sử nước Việt từ các thời về trước, đã từng ghi lại các chiến công âm phù lừng lẫy của Ngàị
Tướng sĩ của nhà Lý đánh quân Tống, tướng sĩ nhà Trần đánh quân Nguyên, đều có Ngài âm phù. Các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ Ơn và có sắc thượng phong cho Ngàị
Lại đến đầu hồi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì giặc Minh kéo đến bao vâỵ Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơị Trong đêm tối, Công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của Ngài, chỉ quân sĩ của ta biết được, còn quân giặc thì không thể nào nhìn thấỵ
Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của Công chúa Thượng Ngàn, quân ta vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân ta tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóạ Sau đó,với những trận thắng oanh liệt, ở Tốt Động, ở Chi Lăng, và cuối cùng, bao vây bức hàng quân giặc ở Đông Quan,đã giải phóng hoàn toàn đất nước.
Sau chiến thắng vẻ vang, Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi, viết bản Bình Ngô đại cáo, tổng kết lại cuộc chiến tranh. Trong bản Bình Ngô có câu: "Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần", là nhắc lại thời nghĩa quân ở núi Chí Linh, tuy gian lao vất vả nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng, vì đã được sự âm phù, che chở của Công chúa Thượng Ngàn.
Công chúa Thượng Ngàn, cũng như bao nhiêu vị thần thánh được mọi người tôn thờ, chính là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay dẫn dắt con cháu vững bước đi lên.
Ngài có mặt ở khắp nơi, theo bước chân của dân chúng, khi từ miền rừng núi rồi xuống miền đồng bằng.Vì vậy, ở nơi nào dân chúng cũng lập điện thờ, thờ phụng Ngàị
Tuy nhiên, đại bản doanh của Ngài vẫn là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn bình yên, mọi sự tai qua nạn khỏi, thường cầu xin sự che chở, phù trợ của Ngàị Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được Ngài chấp thuận...

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh, phaolon
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 04:32:06 AM »

**Thờ mẫu và các hình thức múa bóng, hầu bóng ở Nam Bộ :

Trong công trình về Đạo Mẫu (Mẫu Tam phủ, Tứ phủ) xuất bản năm 1993 (1), chúng tôi đã có dự cảm về mối quan hệ bản chất giữa thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ với các hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần, do vậy đã dành một chương để nói về từ thờ nữ thần, mẫu thần đến thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Đến Hội thảo khoa học quốc tế về Đạo Mẫu và các hình thức Shaman ở Việt Nam và châu Á, tổ chức năm 2001 tại Hà Nội, chúng tôi đã tiến đến một quan niệm về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Đó là, tục thờ Mẫu (hay Đạo Mẫu) không chỉ là một hình thức tín ngưỡng đơn nhất, mà là một hệ thống các tín ngưỡng bao gồm ba dạng thức cơ bản: Thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu này cũng mang tính đa chiều: Từ thờ Nữ thần là nền tảng dần hình thành nên tục thờ Mẫu thần và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ; ngược lại, sau khi Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã hình thành khoảng thế kỷ XVI-XVII (từ tục thờ nữ thần bản địa và ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa) thì nó ảnh hưởng trở lại, “Tam phủ, Tứ phủ” hóa tục thờ Mẫu thần và Nữ thần nguyên thủy (2).
Từ mô hình tổng quát về tín ngưỡng thờ Mẫu này, chiếu vào thực tế Nam Bộ, chúng ta thấy những có sự thống nhất và sai biệt gì?
1. Hiện nay, ở Nam Bộ chúng ta đều quan sát thấy sự hiện diện của cả ba lớp thờ Mẫu: Lớp thờ Nữ thần, lớp Mẫu thần và lớp Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Tuy nhiên, nếu như ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định, mà biểu hiện rõ rệt nhất là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần. Thí dụ Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu... và phần lớn là nhân thần có nguồn gốc từ hoàng tộc (hoàng hậu, cung phi, công chúa...), để phân biệt với các nữ thần khác, như Mẹ Lúa, Tứ pháp..., thì ở Nam Bộ, sự phân biệt giữa hai lớp Nữ thần và Mẫu thần thường ít rõ ràng hơn. Thí dụ, nếu như ở Nam Bộ, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Ngọc (Thiên Ya Na), Linh Sơn Thánh Mẫu - Bà Đen được coi như là những Mẫu thần và được tôn xưng là Thánh Mẫu, thì Bà Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ) trong đó đặc biệt là Bà Thủy Long, Bà Hoả thì là Nữ thần hay Mẫu thần? Hay trường hợp thờ cúng Bảy Bà (bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Chúa Xứ, Cửu Thiên huyền nữ, Thiên Hậu, Bà Thủy, Bà Hồng, Nữ Oa) thì lại vừa có Mẫu thần và Nữ thần. Tình trạng khó phân lớp giữa Nữ thần và Mẫu thần ở Nam Bộ so với Bắc Bộ hoàn toàn có thể giải thích được vì Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng văn hóa nói chung mà còn cả tín ngưỡng nữa. Theo tôi, đây cũng là một trong các đặc thù của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ.
Do vậy, trên những nét đại lược nhất, có thể chọn ra trong những nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ các vị nữ thần được tôn xưng là Mẫu thần, như Bà Chúa Ngọc (Thiên Ya Na), Bà Chúa Xứ, Bà Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu, Cửu Thiên huyền nữ (trong đó kể cả các biến dạng của các Mẫu thần trên). Còn lại, các vị thần khác, như Bà Ngũ hành, Bà Thủy Long, Bà Hồng, Tứ vị nương nương, Trinh nữ nương nương, Bà Chúa Động, tổ Cô... đều là các Nữ thần. Sự phân biệt kể trên xuất phát từ hai tiêu chí, đó là: a) Các vị nữ thần được coi là Mẫu thần là do vị trí được tôn vinh trong tâm thức dân gian cũng như hệ thống nghi lễ hàng năm nhân dân dành cho họ và b) Danh xưng của các vị nữ thần này thường được gọi là Thánh Mẫu.
2. Các vị thần được coi là Nữ thần hay Mẫu thần vừa nêu trên đều là kết quả của quá trình giao lưu, hỗn dung văn hóa của nhiều lớp dân cư của người Khơme, Việt, Chăm, Hoa. Đơn cử trường hợp Bà Chúa Ngọc vốn gốc là vị nữ thần Pô Inư Nagar - Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm, mà nơi thờ tự chính là Tháp Bà Nha Trang. Sau này, khi người Việt đặt chân vào Trung và Nam Trung Bộ với truyền thống thờ Mẫu sẵn có từ quê hương nên đã Việt hóa vị thần Chăm này với tên gọi mang chút chữ nghĩa là Thánh Mẫu Thiên Ya Na, còn dân gian vẫn gọi là Bà Chúa Ngọc, phổ biến từ Nha Trang ra tới Huế. Trong đó Huế, với điện Hòn Chén, được coi là nơi gặp gỡ giữa Thánh Mẫu Liễu Hạnh từ Bắc vào và Bà Mẹ Pô Inư Nagar của người Chăm từ Nam ra. Hiện nay, người Chăm không đến Tháp Bà Nha Trang để thờ phụng Bà Mẹ Xứ Sở của mình nữa, mà di chuyển nơi thờ chính của vị nữ thần này về Hữu Đức (Ninh Thuận). Người Việt từ Trung Bộ vào Nam Bộ mang theo vị nữ thần Chăm đã Việt hóa này vào thờ phụng khá rộng rãi ở đây với linh tượng Bà Chúa Ngọc và hai người con trai là Cậu Tài, Cậu Quý phối thờ hai bên.
Bà Chúa Xứ và Linh Sơn Thánh Mẫu-Bà Đen lại là kết quả giao lưu và hỗn dung tín ngưỡng giữa người Việt và Khơme. Với tâm thức thờ Mẫu từ quê hương Bắc Bộ và Trung Bộ, người Việt vào Nam Bộ đã bắt gặp tục thờ nữ thần của người Khơme, đó là Bà Neang Khmau, một nữ thần Đất để tạo nên hình tượng bà Chúa Xứ mà ngày nay ngoài nơi thờ chính ở Núi Sam (An Giang), còn được dân gian thờ phụng ở hầu khắp Nam Bộ trong phạm vi vùng, làng và thậm chí trong gia đình nữa. Đây là vị Mẫu thần có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp nhất ở Nam Bộ ngày nay.
Có một sự hỗn dung khác giữa tín ngưỡng Việt và người Khơme bản địa, đó là hình tượng Bà Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu. Ai cũng rõ rằng, tiền thân của Bà Chúa Xứ, Bà Đen của Khơme và kể cả bà Pô Inư Nagar của Chăm đều thấy hình tượng thấp thoáng của Ấn Độ giáo, trong đó vai trò của thần Siva là nổi bật. Tuy nhiên, quá trình bản địa hóa văn hóa Ấn Độ của người Khơme và Chăm trên địa bàn Trung Bộ và Nam Bộ đã diễn ra trước khi người Việt đầu tiên có mặt. Và sau đó, khi người Việt tới đây, họ lại Việt hóa các vị nữ thần Chăm và Khơme này thành các vị nữ thần tôn kính của mình. Trong công trình trước kia (3), chúng tôi đã có dịp bàn đến quá trình Việt hóa vị nữ thần Khơme này qua các chuỗi chuyển tiếp Kali - Bà Đinh - Bà Chúa Động - Bà Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu. Tất nhiên cần tiếp tục quá trình nhận thức sự chuyển tiếp này nhưng thực tế trên thần điện ở đền Bà Chúa Xứ, vốn gốc là nữ thần Khơme, không thấy có hiện tượng phối thờ Bà Đen. Nhưng ở đền - chùa Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, nơi chính điện, người ta thấy Bà Đen và Bà Chúa Xứ ngồi ngang nhau, một bà mặt đen (Bà Đen) và mặt trắng (Bà Chúa Xứ). Hơn nữa theo quan niệm dân gian ở đây, người ta coi Bà Đen và Bà Chúa Xứ là hai chị em.
Còn một móc xích nữa mà nhân đây xin nêu chứ chưa có dịp trả lời là tại một ngôi đền lớn thờ Bà Rá mà dân gian quen gọi là Bà Đen ở Phước Long (Bình Phuớc) lại phối thờ linh tượng Bà Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen và coi Bà Rá và Bà Đen - Linh Sơn Thánh Mẫu là hai chị em, trong khi đó ở đền Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) lại không phối thờ Bà Rá. Xa hơn nữa, hé mở cho chúng ta mối quan hệ giữa Bà Chúa Xứ (An Giang) - Bà Đen (Tây Ninh) - Bà Rá (Phước Long) với tục thờ Muk Juk (Bà Đen) của người Chăm ở phía đông nam trên địa bàn Ninh Thuận, Bình Thuận. Và cũng không loại trừ khả năng phía sau những hiện tượng “Bà Đen” này là một ảnh hưởng xa hơn của văn hóa Ấn Độ.
Còn Thiên Hậu với rất nhiều đền, miếu, cung thờ Bà ở khắp Nam Bộ và Trung Bộ thì do người Hoa di dân mang tới khoảng thế kỷ XVII. Ở đây không có sự Việt hóa Thiên Hậu của người Hoa, tuy nhiên, khi vào Việt Nam thì Thiên Hậu không chỉ là vị thần bảo hộ của những người buôn bán trên biển mà đã mang đa chức năng hơn, khiến không chỉ người Hoa đến cầu cúng mà còn cả người Việt, thậm chí có đền thờ Thiên Hậu ở Cà Mau lại do toàn người Việt địa phương đến hương khói, cầu xin sự phù hộ của Bà.
Tính đa lớp trong tín ngưỡng thờ Mẫu là một đặc trưng chung trên phạm vi cả nước, tuy nhiên, đặc trưng này thể hiện rất rõ, rất đậm trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ. Ví dụ: Trong đền thờ Bà Chúa Xứ ở Núi Sam hay Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen đều có những miếu nhỏ nằm ngoài điện thờ chính. Nhìn vào không gian chật hẹp trong am miếu đó ta thấy hình tượng trụ đá tròn, trên đỉnh có phủ tấm khăn đỏ, biểu tượng của linga nguyên thủy, hai bên có tượng hay hai bát hương mà dân gian quan niệm đó là thờ Cậu (Cậu Tài, Cậu Quý). Bên ngoài, người ta ghi đó là nơi thờ ông Tà hay Tà thần. Nhìn vào hiện tượng thờ cúng dân gian này chúng ta thấy ít nhất cũng có 4 lớp văn hóa - biểu tượng tiềm ẩn: 1) Lớp thờ thần Siva của Ấn giáo biểu tượng bằng linga nguyên thủy, tồn tại ít nhất từ thời vương quốc Phù Nam đã bị Ấn Độ hóa, 2) Người Khơme đã dân gian hóa linh tượng này thành biểu tượng của vị thần Nieak Tà, mà sau này người Việt Việt hóa tên gọi thành ông Tà, vị thần mang lại mưa thuận, gió hoà, tránh rủi ro, dịch bệnh và cả cầu mong tình yêu nữa... 3) Linh tượng này còn tiềm ẩn lớp tín ngưỡng Chăm, với việc đồng nhất linga với Pô Inư Nagar, mà hai bên Bà luôn có linh tượng của hai con trai là cậu Tài và cậu Quý và 4) Người Việt khi vào đây đã Việt hóa thành hình tượng thờ Cậu của đạo Mẫu, với tâm thức lưỡng nguyên đực - cái / núi Bà - núi Cậu, mang lại sự phồn thực sinh sôi.
3. Cũng như người Việt ở Bắc Bộ, trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần với việc tiếp thu ảnh hưởng Đạo giáo dân gian Trung Quốc đã ra đời đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, hình thức phát triển cao nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung. Nhất là từ thế kỷ XVI-XVII, trong điều kiện xã hội Việt Nam thời đó, xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh và bà đã trở thành vị thần chủ cao nhất của Đạo Mẫu Việt Nam. Và cũng từ đây, đạo Mẫu trở thành một tín ngưỡng tôn giáo gắn với đời sống dân gian, thoả mãn ước vọng sức khoẻ, tài lộc, may mắn của con người.
Những lớp cư dân Việt sớm nhất từ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ vào Trung, Nam Trung Bộ và Nam Bộ, khi mà ở Bắc Bộ đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ chưa thật hình thành và định hình, do vậy họ mang theo chủ yếu là tâm thức thờ Nữ thần, Mẫu thần và khi vào vùng đất mới, nơi có người Chăm và Khơme sinh sống, đã hỗn dung và tiếp thu tín ngưỡng người dân bản địa để hình thành nên các lớp thờ Nữ thần và Mẫu thần như đã nói ở trên.
Hiện tại, ở miền Trung, nhất là Trung và Nam Trung Bộ chúng tôi chưa quan sát thấy cơ sở đền phủ thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và kèm theo nó là nghi lễ Hầu bóng, mặc dù ở đó không ít nơi thờ Nữ thần và Mẫu thần, mà tiêu biểu là thờ Thiên Ya Na - Bà Chúa Ngọc. Nhưng ở Nam Bộ thì lại khác, bên cạnh tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần, nhiều nơi đã thấy các đền, điện thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và kèm theo là nghi lễ Hầu bóng. Theo điều tra bước đầu và có lẽ còn xa với sự thật thì ở Sài Gòn có 11 đền, điện, Bình Dương có 7 đền, điện, Đồng Nai có 4 đền, điện (4). Ngoài ra còn thấy rải rác ở Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Lạt... Vấn đề đặt ra là ai và khi nào người Việt đã mang đạo Mẫu và kèm theo đó là nghi thức Hầu bóng vào Nam Bộ?

Thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt là từ sau năm 1954, Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ phát triển ở Nam Bộ do người Việt từ Bắc Bộ trực tiếp di cư mang vào (5). Cùng với việc du nhập đạo Mẫu từ Bắc Bộ, hình thức thờ phụng các anh hùng dân tộc, đặc biệt là thờ Đức Thánh Trần, một “cặp bài trùng” với đạo Mẫu cũng du nhập theo, khiến cho nhiều nơi ở Nam Bộ, nhất là phía Đông Nam Bộ, phát triển hình thức tín ngưỡng này. Tất nhiên, cùng với đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ và thờ Đức Thánh Trần, thì nghi lễ Hầu bóng và lễ hội “tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”, mà ở đây Mẹ là Thánh Mẫu, còn Cha là Đức Thánh Trần, một thứ Ngọc Hoàng của Đạo giáo dân gian Việt Nam, cũng dần phổ biến ở Nam Bộ.
Diêu Trì Thánh Mẫu vốn là một vị thần của Đạo giáo, từ lâu đã thâm nhập vào Phật giáo (Phật Mẫu) và cả đạo Cao Đài. Gần đây, vị Thánh Mẫu Diêu Trì này đã xuất hiện trong tín ngưỡng thờ Mẫu và và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Hai năm trước đây, khi tới Linh Sơn Thánh Mẫu - Bà Đen, tôi chưa thấy bức tượng Thánh Mẫu Diêu Trì, thế mà năm 2003 đã thấy vị thánh này xuất hiện trước cửa đền thờ Bà Đen. Hay khi đến thăm đền thờ Mẫu ở Bình Hoà (thành phố Hồ Chí Minh), tôi thấy có ban thờ Diêu Trì Thánh Mẫu ở ngay cạnh nơi đặt các bát hương thờ bản mệnh của con nhang đệ tử. Hiện tượng này chưa thấy ở các đền phủ thờ Mẫu thần hay Mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở Bắc Bộ.
4. Về phương diện nghi lễ, ở Nam Bộ, nếu nơi nào có tục thờ Nữ thần và Mẫu thần thì thường có diễn xướng múa bóng, còn nơi có đền phủ thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ thì có diễn xuớng hầu bóng (lên đồng). Diễn xướng nghi lễ hầu bóng ở Bắc Bộ và Nam Bộ đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Đó là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các thần linh vào thân xác các ông, bà đồng nhằm cầu sức khoẻ, tài lộc, một dạng thức của shaman giáo, tồn tại ở nhiều nước trên thế giới. Để thực hiện nghi thức mang tính shaman này, các hiện tượng văn hóa nghệ thuật, như hát văn và nhạc chầu văn, múa thiêng... đã được sản sinh và tích hợp tạo nên một thứ sân khấu tâm linh, tượng trưng cho sự tái sinh và hiện diện của thần linh Tam phủ, Tứ phủ thông qua thân xác các ông đồng, bà đồng.
Đối với múa bóng Nam Bộ có lẽ chúng ta chưa có được những nghiên cứu đi sâu vào bản chất tín ngưỡng tôn giáo của nó. Nếu múa trong hầu bóng là múa của thần linh, biểu tượng sự tái hiện của thần linh trong thân xác các ông đồng, bà đồng, thì múa bóng là múa của thần linh hay múa của con người dâng lễ trước thần linh? Có hay không hình thức nhập hồn hay thoát hồn trong múa bóng? Nguồn gốc của tục múa bóng rỗi ở Nam Bộ? Trong hoàn cảnh xã hội nào mà múa bóng Nam Bộ phát triển theo hướng giảm dần tính nghi lễ, tính thiêng để trở thành diễn xướng mang tính tạp kỹ? Những giá trị văn hóa nghệ thuật của múa bóng rỗi là gì?... Cũng như các hiện tượng thờ Nữ thần và Mẫu thần ở Nam Bộ, phải chăng hiện tượng múa bóng cũng là kết quả giao thoa văn hóa Chăm - Việt, tức người Việt đã Việt hóa múa Pajao của các Bà Bóng của người Chăm để tạo ra múa bóng chăng? (6). Đó là những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải trả lời.
Nếu như hầu bóng của Huế mang những sắc thái riêng địa phương thì hầu bóng của Nam Bộ về cơ bản giống với hầu bóng Bắc Bộ. Nhìn vào gốc tích các ngôi đền và những người hầu bóng thì phần lớn đều có nguồn gốc từ Bắc Bộ. Tuy nhiên, khi du nhập vào vùng đất mới, đạo Mẫu và hầu bóng ở Nam Bộ cũng có những sắc thái riêng, thể hiện qua điện thần đạo Mẫu có thêm các vị thần địa phương, như Lê Văn Duyệt, các vị thánh hàng chầu, hàng quan nguồn gốc từ người Chăm, Khơme, người Tây Nguyên... Hình thức diễn xướng hầu bóng có bớt phần quy chuẩn nghi lễ, tăng thêm chất giao lưu sinh hoạt văn hóa... Tất cả đó tạo nên sắc thái riêng của hầu bóng Nam Bộ so với hầu bóng ở Bắc Bộ và ở Huế. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá cao các giá trị văn hóa nghệ thuật của hầu bóng, coi nó là sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa của dân gian, là “hình thức sân khấu tâm linh”, là “kho tàng sống của di sản văn hóa dân tộc” (7).
Như vậy, trên miền đất Nam Bộ, hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu hiện diện với cả ba tầng bậc: Thờ Nữ thần, Mẫu thần và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tương đồng với thờ Mẫu ở miền Bắc, tuy nhiên, rõ ràng là nguồn gốc, con đường hình thành và sắc thái của chúng có nhiều nét khác biệt, trong đó thờ Mẫu ở Nam Bộ không phát triển tuần tự như ở miền Bắc, mà yếu tố giao lưu ảnh hưởng giữa các tộc người cùng chung sống vốn có nhiều nét đồng văn giữ vai trò quan trọng. Và cũng do vậy, diễn xướng nghi lễ hầu bóng và múa bóng luôn đi liền với các tín ngưỡng này cũng khác biệt nhau, khiến cho các hình thức tín ngưỡng - văn hóa này trở nên đa dạng và phong phú hơn.



Ngô Đức Thịnh

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 04:38:08 AM »

ĐẠO CAO ĐÀI VÀ LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ:

(Biphap26.html)

Rằm tháng 8 hằng năm là ngày Tết Nhi Đồng, ngày Trung Thu vui nhất của trẻ thơ, và cũng là ngày đầy kỷ niệm thiêng liêng đối với người Tín Hữu Cao Đài, ngày HIỆP NHẤT với Đấng TỪ MẪU tại thế gian qua Lễ HỘI YẾN DIÊU TRÌ, đây cũng là ngày mà các Bà Mẹ thế gian đáng được hảnh diện, đáng được tôn vinh vì tình yêu cao cả, vì sự hy sinh vô bờ bến đối với thế nhân, đối với con cái mà Đức Mẹ Thiêng Liêng là hiện thân của tình yêu cao cả đó.

 Trong Đạo Cao Đài chỉ có 3 ngày Lễ lớn: Lễ Khai Đạo rằm tháng 10, Lễ Vía Đức Chí Tôn mùng 9 tháng giêng và Lễ Hội Yến Diêu Trì rằm tháng 8 âm lịch. Trong các ngày Lễ nầy, Đồng Đạo khắp mọi nơi trong nước tề tựu về Toà Thánh Tây Ninh tham dự với tấc lòng thành hướng về các Đấng Thiêng Liêng. Để hiểu rõ hơn về ngày Lễ trọng đại nầy và tại sao Đạo Cao Đài lại tôn sùng Đức Phật Mẫu, Bà Mẹ Thiêng Liêng của Càn Khôn Vũ Trụ, và ý nghĩa Lễ Hội Yến, chúng tôi xin lần lượt trình bày các phần sau đây:


I- MỪNG LỄ HỘI YẾN TẠI TOÀ THÁNH TÂY NINH:

1- Quang cảnh ngày Lễ:

Tất cả tín đồ Cao Đài, khi lìa xa quê hương, đều tha thiết nhớ về Toà Thánh, nhất là không ai quên được quang cảnh ngày Hội Yến Diêu Trì đầy kỷ niệm linh thiêng. Hằng năm vào ngày rằm tháng 8 âm lịch, khi vầng trăng vàng to lớn hơn lúc ẩn lúc hiện trong làn mây nặng trĩu hạt mưa, Nội Ô Thánh Địa, người như nêm chen chúc nhau trên tất cả các nẻo đường hướng về Điện Thờ Phật Mẫu. Nội Ô Thánh Địa lộng lẫy hơn ngày thường, cờ Đạo vàng, xanh, đỏ rợp đường, hai dây đèn màu rực rỡ giăng đúng theo cơ qui từ 2 trụ hai bên trụ phướng, căng thẳng vào đỉnh tháp của Điện Thờ Phật Mẫu. Trước sân đền thờ 2 gian nhà vừa dựng lên song song nhau, trưng bày những mâm quả phẩm đủ loại, đủ màu, trưng bày theo từng căn nhỏ, mỗi căn dành cho một Tộc Đạo hoặc Phận Đạo, bông hình Long Lân Qui Phụng bằng các loại hoa trái vừa khéo vừa đẹp và tinh khiết.

Các Tộc và Phận Đạo thi đua nhau hiến Lễ Mẹ với tất cả lòng thành và đem hết khả năng trưng bày quả phẩm đẹp nhất, có ý nghĩa nhất.
Bên trong Đền Thờ Phật Mẫu lộng lẫy hơn, điều đặc biệt là trong chánh điện một chiếc bàn cở lớn, có 12 cái ghế, bao phủ vải gấm thêu hoa trông rất đẹp, 9 cái dành cho Cửu Vị Tiên Nương và 3 cái dành cho Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm và Thượng Sanh, Đức Phật Mẫu thì ngự trên bàn thờ. Đây là buổi tiệc chay, có đủ muỗn nĩa chén dĩa rượu trà, gọi là Hội Yến Bàn Đào mà Mẹ dành để đãi cho những con cái của Mẹ được đắc đạo, quay về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống hội hiệp với Đấng Mẹ hiền.

Trên khắp các ngả đường đoàn Long Mã, Lân, Rồng Nhang và Cộ Hoa, Cộ Đèn , đặc biệt nhất là có một cộ hoa lớn bông hình Đức Phật Mẫu kỵ thanh loan và 9 cô gái rất đẹp đóng vai Cửu vị Tiên Nương. Có một ban nhạc Tần Nhơn theo sau với tiếng trống tiếng kèn réo rắt nghe rất vui tai, cùng làn sóng người từ khắp mọi nơi qui về mừng Hội Yến.Trời dù có mưa lất phất, mọi người đều vui vẻ hạnh phúc vẫn nhiệt tình dự lễ trong trạng thái coi những hạt mưa là những giọt Cam Lồ Mẹ ban rảì cho trần gian hay là những giọt nước mắt đầy xúc động của Bà Mẹ Thiêng Liêng được hội hiệp cùng đám con thương mà Mẹ từng khắc khoải nhớ thương mong chờ, nhứt là những em nhỏ mừng Trung Thu với đầy đủ ý nghĩa vui tươi phong phú hài hoà của một Tết Nhi Đồng.

2- Lễ Hội Yến với ý nghĩa Hiệp Thiên:

Rừng người tham dự Lễ Hội Yến với đồng phục một màu trắng tinh. Về bên gối Mẹ không còn phân biệt lớn nhỏ, nghèo giàu, thấp cao, già trẻ, nữ nam. Mọi người trong tâm tư hân hoan mừng Lễ Mẹ với tình thương bao la bát ngát xuất phát tận đáy lòng, truyền đạt ra ngoài và đồng thời cũng thu nhận ân điển nầy do Mẹ ban cho. Trong giờ phút thiêng liêng nầy mọi người đều hạnh phúc, cảm thấy được sống trong lòng Mẹ thiêng liêng, trong sự che chở của Mẹ, trong chiếc nôi ấm cúng của Mẹ như tự thuở nào!

Điều đặc biệt là chỉ có các vị chức sắc Hiệp Thiên Đài bồi yến cho Mẹ và Cửu Vị Tiên Nương, dâng trà, rót rượu… trong tiếng ngâm dìu dặt, ngọt ngào êm ái của đồng nhi đọc các bài Thài Kinh Phật Mẫu và các bài Thài Cửu Vị Tiên Nương. Các vị Chức sắc Hiệp Thiên Đài đại diện toàn chúng sanh dâng lên Mẹ trái tim hồng trong sáng tràn đầy tình yêu, yêu Mẹ chính là yêu cả chúng sanh, yêu toàn thể con cái của Đấng Mẹ hiền. Với nhiệm vụ Hiệp Thiên, các Ngài cũng đại diện chúng sanh nhận nguồn ân điển thiêng liêng của Đấng Từ Mẫu ban cho như là kính nhận những quả Đào Tiên, rượu Hồng Đào mà Mẹ từng tưởng thưởng cho hàng Tiên Phật đồng thời cũng nhận luôn nhiệm vụ trọng đại mà Mẹ giao phó trong kỳ ba nầy:

“HIỆP NHẬP CAO ĐÀI, Bá Tánh Thập Phương Qui Chánh Quả
THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO, Ngũ Chi Tam Giáo Hội Long Hoa.”

Hai câu liễn HIỆP THIÊN nầy được đấp chữ 2 bên cổng của văn phòng Hiệp Thiên Đài và được ấn chỉ 2 bên của tượng Di Lạc Vương Bồ Tát, trên nóc Đền Thánh, giữa lầu chuông và lầu trống. Tất cả nghi thức về Lễ Hội Yến ghi trên đều do Đức Chí Tôn sắp đặt qua cơ bút.

I I- Pháp Nhiệm của Mẹ Dêu Trì:

1- Mẹ lảnh đạo Bí Pháp Đạo Tâm:

Đạo Cao Đài với vũ trụ quan theo đúng Dịch lý: Thái Cực sinh lưỡng nghi Aâm Dương sinh hoá ra Càn Khôn Vũ Trụ. Vật biến đều do 2 nguyên lý nầy mà vạn vật biến thiên vô cùng vô tận lớn như vũ trụ, nhỏ như tế bào nguyên tử đều hàm chứa 2 nguyên lý âm dương. Vì thế trong âm có dương trong dương có âm. Biết được chân tướng của cái CỰC TIỂU có thể biét được chân tướng của cái CỰC ĐẠI nên Lão Tử đã nói: “ Tự tri giả minh” biết mình là sáng; nhà hiền triết Socrate cũng đã nói: “ Connais toi toi même, tu connaitras l’univers” tự biết mình là biết cả vũ trụ. Cho nên TÂM của mỗi người là TÂM của Trời Đất, LÝ của mỗi vật là LÝ của vạn vật. Vì thế “ THẦY LÀ CÁC CON, CÁC CON LÀ THẦY” chính là nền tảng giáo lý của Đạo Cao Đài vậy.

Trong ngũ hành thì hành THỔ là trung ương, trong năm màu chánh: xanh đỏ trắng đen vàng thì màu VÀNG là trung ương, trong Hà Đồ số 5 là số trung ương mà THỔ là Đất, ĐẤT là MẸ, là cơ ÂM, để đối lại Đức CHÍ TÔN là cơ DƯƠNG. Như vậy 2 câu liễn Hiệp Thiên Đài, THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO có nghĩa là kỳ ba nầy Đức Chí Tôn khai mở HUỲNH ĐẠO tức ĐẠO VÀNG hay nói khác là ĐẠO TÂM. Trong kinh táng tụng công đức Diêu Trì Cung có câu:

“ Ngọc Hư định phép cũng nhiều
Phái VÀNG Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ”.

Vậy thì công đức trời biển của Mẹ Diêu Trì là Mẹ trực tiếp lãnh đạo cơ ĐẠO TÂM kỳ 3 nầy để dìu dắt con cái của Người về nơi cõi thiêng liêng hằng sống để Chí Tôn định vị:

“ Nghiệp hồng dẫn tử hồi môn
Chí Tôn định vị vĩnh tồn thiên cung”.

2- Cơ QUI NGUYÊN của Mẹ Diêu Trì:

Trong ngũ hành Mẹ thuộc Hành Thổ mà THỔ sanh KIM; KIM thuộc hướng Tây màu TRẮNG vì thế khi chầu Lễ MẸ tất cả đều y phục trắng. Tất cả các màu hoà lại với nhau cũng thành màu TRẮNG, màu trắng là cơ HOÀ chứng tỏ mọi người đều BÌNH ĐẲNG trước MẸ. Về với MẸ phải HOÀ vì có HOÀ mới QUI được.

Đại dương bao la bát ngát, đón vạn dòng nước phát xuất từ vạn nguồn sông ngòi rạch hào … không phân biệt nước trong đục sạch dơ, màu đen đỏ xanh vàng…những dòng nước nầy phát xuất từ vạn nguồn khác nhau thế mà Đại Dương HOÀ lại rồi QUI thành MỘT thứ nước biển đặc thù, duy nhất.

Cũng như tổ Ong đón nhận hàng vạn triệu mật hoa khác nhau từ vạn con Ong mang về HOÀ lại rồi QUI thành MỘT thứ mật ong duy nhất.
Tam Giáo Ngũ Chi phát xuất từ vạn nguồn, khi về với TÂM trở thành một đạo Trời thuần nhất như nước biển như mật ong vậy. Đó là cơ QUI NGUYÊN mà MẸ chính là hình ảnh của Đại Dương, của Tổ Ong:

 “ Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch
Qui thiên lương quyết sách vận trù”.

Kỳ ba là kỳ Đại Aân Xá, là thời kỳ tu tắt, tu trực chỉ vào TÂM, là Qui Thiên Lương. Đây là kế sách mà MẸ vận trù để thể hiện kỳ được hiệp vạn chủng về một mối, qui nguyên Tam Giáo hiệp nhứt Ngũ Chi, là trăm sông đưa về bể cả, là nganø mật hoa đưa về tổ để biến thành MỘT và chỉ MỘT mà thôi.

I I I- Ý NGHĨA LỄ HỘI YẾN DIÊU TRÌ:

Qua phần trình bày ở trên chúng ta nhận rõ vai trò của Đức Phật Mẫu là vận trù pháp Qui Thiên Lương tức là TÂM PHÁP THIÊN NHÂN HIỆP NHẤT tại TÂM để dẫn tiến chúng sanh sớm về bên Mẹ. Mẹ là hiện thân của tình thương, đối với Mẹ “ LUẬT LÀ THƯƠNG YÊU”. Cũng như tất cả các Bà Mẹ thế gian, tình yêu của Mẹ đối với con là nguồn suối yêu thương bất tận, như biển hồ lai láng, ngấm sâu vào tim óc của những đứa con và xoa dịu, cân bằng tâm sinh lý. Nếu thiếu tình yêu của Mẹ con cái sẽ mất quân bình về tinh thần và vật chất! Tình yêu nầy huyền diệu vô cùng, yêu một đứa con cũng bằng tình yêu vô tận, hai đứa cũng vậy, nhiều đứa cũng bằng tình yêu vô tận ấy chứ không có phân chia như về vật chất! Ngoài ra , đứa con nào càng bất hạnh chừng nào, Mẹ càng bù chì chăm sóc nhiều hơn! Tình yêu con của Mẹ quả là thiên tính, hy sinh mà hạnh phúc, cực nhọc trăm bề mà vui tươi, thức khuya dậy sớm mà tỉnh táo…Thật kỳ diệu thay, không ngòi bút nào có thể diễn tả hết được tình mẫu tử thiêng liêng nầy!

Cánh hoa ấp ủ nụ xanh non
Gà mẹ chắt chiu bảo dưỡng con
Cầm thú chim muôn dù bé nhỏ
Muôn loài vạn vật vốn THƯƠNG con…

Tình cảm nầy không riêng con người mới có mà cả vạn vật cây cỏ, thú cầm đều giống y nhau,vì tình yêu nầy phát nguồn từ tình yêu cao cả vô tận của Thượng Đế, chan hoà cho các Bà Mẹ thế gian mà Đức Phật Mẫu, Bà Mẹ Thiêng Liêng của cả chúng sanh chính là hình ảnh của tình yêu cao đẹp nầy.

Thế giới tình thương sẵn có rồi
Con người mờ mịt tưởng xa xôi
Khi lòng tỉnh thức quay về cội
Nhận thấy tình thương khắp mọi nơi.

Tình thương của người Mẹ thế gian xuất nguồn từ tình thương vỉ đại của Đức Mẹ nên có cùng bản chất cùng nồng độ. Do đó chúng ta có thể nhận rõ được Đức Phật Mẫu qua hình ảnh của tất cả các Bà Mẹ thế gian kể cả tình mẫu tử của các loài sinh vật, nhưng từ bi bác ái vô cùng vô tận hơn đối với muôn loài. Con của Đức Từ Mẫu là tất cả chúng sanh từ “trong nguồn chảy ra” phân tán khắp càn khôn, ra đi biền biệt không hẹn ngày về, trầm luân từ kiếp nầy qua kiếp khác nên Mẹ thường mượn cơ bút để nhắn nhủ viết nên những bài thơ đầy xúc động, diễn đạt tâm tình đau thương, sốt ruột trông chờ:

“ Ngọt ngon trẻ nhiểm mến mùi
Trẻ nào có biết khúc nôi đoạn trường
Ngồi trông con đặng phi thường
Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh”.

Hoặc:

“ Từ Mẫu xem qua bắt động lòng
Tình thương vô tận đứng ngồi trông
Sớm chiều tựa cửa chờ tin nhạn
Ngày tháng nương hiên đợi bóng hồng”

Rồi ngày nay đến thời kỳ Đại Aân Xá, Chí Tôn cho lệnh “Khai Tông Định Đạo”và cho vận chuyển Lễ Hội Yến Diêu Trì từ Thiên Cung xuống trần gian, gần gũi con cái để con cái dễ bề qui hiệp với Mẹ hơn. MẸ vui mừng không kể xiết:

“Nay Chí Tôn rộng quyền ân xá
Chắc phen nầy Mẹ hẳn gặp con
Bỏ hồi cách trở nước non
Bao nhiêu miếng ngọt miếng ngon để dành”.

Miếng ngọt miếng ngon mà Mẹ để dành chính là quả Đào Tiên và ly rượu hồng đào, chờ mong con đắc đạo trở về, thưởng cho con hưởng dụng rồi mới nhập vô cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống gọi là nhập tịch.

Trong một bài thuyết Đạo về Bí Pháp Lễ Hội Yến Diêu Trì, Đức Hộ Pháp đã giảng rất rõ về ý nghĩa Lễ Hội Yến như sau: “ Ngày nay thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương vâng lệnh Đức Chí Tôn giáng xuống phàm trần mở tiệc Hội Yến Diêu Trì Cung tại Đền Thờ Phật Mẫu để toàn con cái của Dức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu về hội hiệp cùng Đức Mẹ Thiêng Liêng, dâng Hoa, Quả, Rượu, Trà lên Đức Mẹ và Đức Mẹ sẽ ban tặng lại cho con cái của Ngài gội hưởng hồng ân của Đức Phật Mẫu, làm cho TÂM ĐẠO phấn chấn lên, làm động cơ thúc đẩy con cái mau tiến hoá trên bước đường tu học, sớm trở về hội hiệp cùng Phật Mẫu. Mà một khi được hội hiệp cùng Đức Phật Mẫu tức nhiên là ĐẮC ĐẠO, giải thoát khỏi luân hồi”.

Tóm lại: Lễ Hội Yến Diêu Trì được đưa từ cõi Thiêng Liêng xuống thế gian để gần gũi và trực tiếp độ dẫn con cái của Mẹ trong thời kỳ Đại Aân Xá của Đức Chí Tôn. Vì thế Mẹ vui mừng không biết ngần nào! Riêng phần chúng ta, không phân biệt Đạo Đời, đây là cơ hội ngàn năm một thuở, nếu chịu khó kiên trì tu tâm dưỡng tánh sẽ dễ dàng trở về hội hiệp cùng Đức Mẹ, tức là được đắc đạo.

I V- KẾT LUẬN:

Đức Vạn Hạnh Thiền Sư về cơ dạy Đạo:

“ Thượng Đế từ trên cõi mịt mù
Người đời thiện nguyện dốc lo tu
Tạo cơ cảm ứng THIÊN NHÂN HIỆP
Để có thông công, có tạc thù”.

Chỉ có phương pháp duy nhất để Thiên Nhân Hiệp là phải dốc lo tu, vì có tu thì TÂM mới trong sáng, không vướng bận thất tình, lục dục, giải trừ DANH, LỢI QUYỀN, chừng ấy TÂM mới là Đài Sen của Lão ngồi, hay nói khác Đạo hằng ngự tại Tâm theo luật CẢM ỨNG đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu. Đó là con đường tắt để hưởng được Bí Pháp Hội Yến Diêu Trì, để về hội hiệp với Đấng Từ Mẫu đang trông chờ từng giờ từng phút sự giác ngộ quay về của đám con thương!

Điện Thờ Phật Mẫu Houston quyết noi theo truyền thống Tổ Tiên, noi theo con đường tắt Đạo Tâm tức là con đường Thiên Nhân Hiệp Nhất, tin tưởng và thực hành Bí Pháp mà Chí Tôn và Phật Mẫu ban cho trong kỳ ba Đại Aân Xá nầy. Ở đây không chức phẩm, không phân biệt tín ngưỡng, sắc tộc, lấy tình thương làm nền, sẵn sàng hy sinh phụng sự Đạo Đời.

Về phần hành, chúng tôi cố gắng thực hiện 3 việc sau đây để phát huy Đại Đạo:

1- Xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu để làm nơi tụ điểm thực hành Hiệp Thiên Pháp. Cúng kiến hàng tuần, nhờ ân điển lành của Thầy Mẹ hiệp nhất, cầu nguyện cho quốc thới dân an, hoà binh thế giới, nhơn loại được khai tâm, cho vong linh các nạn nhân chiến tranh, khủng bố hoặc thiên tai địa ách sớm được siêu thoát kịp trong kỳ ba Đại Aân Xá nầy.

2- Phát huy giáo lý xuyên qua các hệ thống truyền thông hiện đại, phổ biến tư tưởng mới của nền Đại Đạo lồng trong Thể Pháp và Bí Pháp qua các bài viết, các sáng tác phẩm sẽ xuất bản trong những ngày sắp tới.

3- Tổ chức từ thiện về 2 mặt vật chất và tinh thần, tuỳ khả năng sẵn có của chúng tôi và sự hợp tác quí báu của quí vị đạo tâm:

- Về vật chất thì hưởng ứng các cuộc cứu trợ xã hội.

- Về tinh thần thì hiệp nhất với Thiêng Liêng qua các thời cúng để khai tâm chúng sanh và cứu độ các vong linh chưa được siêu thoát.
Trước khi dứt lời, kính chúc quí vị thân tâm hằng an, tịnh, định để được hưởng hồng ân của Đấng Từ Mẫu trong mùa Hội Yến kỳ diệu nầy.
Trân trọng chân thành cảm tạ quí vị đã bỏ nhiều thì giờ quí báu lắng nghe tâm tình của chúng tôi đã lắng đọng từ lâu muốn chia xẻ cùng quí vị để chúng ta cùng nhau tâm nguyện sẽ được về bên gối Mẹ. Thân ái kính chào.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Phambanglinh
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 04:43:47 AM »

***Tín ngưỡng Thánh Mẫu (đạo Mẫu) là một trong những tín ngưỡng dân gian của người Việt. Tín ngưỡng này có từ rất xa xưa khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu.
HỎI: Gia đình tôi đã quy y đạo Phật từ lâu. Hiện tại tôi kết duyên với pháp môn Tịnh độ, chuyên tâm niệm Thánh hiệu Phật A Di Đà. Có điều, vợ tôi tuy đã quy y, thờ Phật nhưng cũng tin theo tín ngưỡng Thánh Mẫu và tín thuận theo những điều mà các Quan, Cô, Cậu phán truyền. Tôi nghĩ rằng, người Phật tử chánh tín thì phải nương tựa Tam bảo, tin sâu nhân quả, tinh tấn thực tập giáo pháp để chuyển hóa ba nghiệp thì mới có thể gặt hái những quả lành trong đời sống. Việc cầu xin ban phát tài lộc, sức khỏe, bình an gia đạo và thông qua nghi lễ hầu đồng để tin theo những phán truyền của chư vị thần thánh là không phù hợp với tinh thần Chánh pháp. Tôi muốn biết thêm về tín ngưỡng này và thuyết phục vợ quy thuận, thực hành đúng như lời Phật dạy để được lợi ích, an lạc thiết thực nhưng chưa biết làm sao? Mong quý Báo trợ duyên. (THIỆN NHÀN, Phạm Thế Hiển, P.4, Q.8, TP.HCM)
 
ĐÁP:Bạn Thiện Nhàn thân mến!
 
Tín ngưỡng Thánh Mẫu (đạo Mẫu) là một trong những tín ngưỡng dân gian của người Việt. Tín ngưỡng này có từ rất xa xưa khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu. Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng bao hàm các nữ anh hùng trong dân gian - những người phụ nữ có thật trong lịch sử với vai trò người bảo hộ, giúp đỡ, che chở hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.
 
Các vị thần trong tín ngưỡng Thánh Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Tục thờ Mẫu và Tam tòa Thánh Mẫu có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần. Tín ngưỡng thờ Mẫu dựa trên một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, thể hiện ý thức nhân sinh, cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước đã được thiêng liêng hóa mà Mẫu là biểu tượng cao nhất.
 
Mẫu là quyền năng sáng tạo vũ trụ duy nhất và hóa thân thành Tam vị, Tứ vị cai quản các cõi các miền khác nhau của vũ trụ như Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải (Thủy), Mẫu Thượng Ngàn.
 
Trong hệ thống thờ Mẫu, cao nhất là Mẫu Thượng Thiên (ngồi giữa, áo đỏ) sáng tạo bầu trời và làm chủ quyền năng mây, gió, sấm, chớp… Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào khoảng đời Hậu Lê nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ và được tôn vinh với tư cách là Mẫu Thượng Thiên, được thờ ở vị trí trung tâm, trang phục màu đỏ. Mẫu Thượng Ngàn (bên trái, áo xanh) là hóa thân Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừng núi. Mẫu Thoải (bên phải, áo trắng) là vị Thánh trị vì vùng sông nước. Mẫu Địa là vị thánh trông coi đất đai. Kế đến là năm vị Quan lớn, mười hai vị Thánh bà, mười vị Thủy tế (các ông Hoàng), các Cô, các Cậu, năm quan Ngũ hổ trấn thủ 5 phương… mỗi vị đều có vị trí, vai trò, chức phận khác nhau.
 
Nghi lễ phổ biến nhất trong tín ngưỡng Thánh Mẫu là hầu đồng. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, và nghe những lời cầu nguyện của người dự lễ. Các điệu múa linh thiêng (giá đồng) là một phần quan trọng của nghi lễ. Có giá các Quan lớn, giá Thánh bà, giá các Cậu, giá các Cô v.v... Trong buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát chầu văn. Chầu văn tạo nên một khung cảnh âm nhạc và tâm linh giúp cho người ngồi đồng nhập vào vai mới để liên thông, trao truyền các thông điệp giữa các thần linh với con người.
 
Vài nét khái quát về tín ngưỡng Thánh Mẫu để cho thấy đây là một trong những tín ngưỡng dân gian sùng bái thần linh. Đặc trưng của tín ngưỡng này là tin tưởng, cầu nguyện và làm theo những phán truyền của thánh thần.
 
Đối với đạo Phật, trong quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam, mặc dù không loại trừ tín ngưỡng dân gian (một vài chùa còn phương tiện dung hợp các tín ngưỡng dân gian như thờ Thần, thờ Mẫu) nhưng với triết lý, phương thức tu tập, hành đạo v.v… hoàn toàn khoa học, minh triết, thực tiễn và nhân bản. Trọng tâm của đạo Phật là phát huy trí tuệ để thấu rõ nhân quả nghiệp báo, duyên sinh cùng các nguyên lý vận hành của thân, tâm và thế giới đồng thời tự thân nỗ lực chuyển hóa ba nghiệp thanh tịnh. Sự diệt khổ hay thành tựu an lạc, hạnh phúc trong đời sống của người Phật tử hoàn toàn dựa trên sự tinh tấn tu học của bản thân và không hề lệ thuộc vào sự chi phối của thánh thần hay các thế lực siêu nhiên.
 
Sau khi đã quy y, người Phật tử chỉ duy nhất nương tựa vào Tam bảo. Chư Phật, Chánh pháp và chư Tăng là ba đối tượng quan trọng cho Phật tử quy hướng. Nhờ ánh sáng Tam bảo mà mỗi người con Phật nhận ra phương pháp, con đường để tùy duyên thực tập, chuyển hóa thân tâm. Dù Phật giáo vận dụng nhiều pháp môn phương tiện để phù hợp với nhiều căn cơ đồng thời có kết hợp tha lực (như năng lực cứu độ của chư Phật và Bồ tát) trong tu tập nhưng nỗ lực của tự thân vẫn là quan trọng nhất. “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi/Như Lai chỉ là bậc Thầy chỉ đường” là phương châm tu học của tất cả những người con Phật.
 
Mặt khác, nhân quả nghiệp báo do mỗi người tạo ra quyết định đời sống hiện tại và tương lai của họ, không có bất cứ thánh thần hay thế lực siêu nhiên nào có thể can thiệp được. Tin Phật đúng nghĩa là tin tưởng vào khả năng giác ngộ và năng lực chuyển hóa của bản thân mình. Thực tập sống đạo đức, tin nhân quả nghiệp báo, mở rộng lòng từ với tha nhân, tịnh hóa thân tâm và nhất là phát huy tuệ giác của chánh kiến để loại trừ mê tín, tà kiến nhằm xây dựng đời sống văn minh, an lạc mới đích thực là người Phật tử chánh tín.
 
Chúc bạn tinh tấn!
 
Tổ Tư Vấn
(Nguồn: Giác Ngộ)
 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
zensinbad, TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh, phaolon
Logged
 
 
 
zensinbad
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 30

Cảm Ơn
-Gửi: 20
-Nhận: 73


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 05:09:19 AM »

Cảm ơn huynh ongdia rất nhiều, kiến thức về tâm linh của huynh thật sâu rộng, ngưỡng mộ, ngưỡng mộ.
Nhân tiện, xin được hỏi huynh về bí ẩn của những ngôi mộ Chàm (Chămpa). Đệ có nghe là xung quanh những ngôi mộ Chàm thường có 2 con rắn có mào canh giữ, không biết việc này có thực không? Mong huynh chia sẻ....
Chân thành cảm ơn huynh!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Phambanglinh
Logged
 
 
 
maudon
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 191

Cảm Ơn
-Gửi: 611
-Nhận: 1191



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 06:19:39 AM »

Cảm ơn huynh ongdia rất nhiều, kiến thức về tâm linh của huynh thật sâu rộng, ngưỡng mộ, ngưỡng mộ.
Nhân tiện, xin được hỏi huynh về bí ẩn của những ngôi mộ Chàm (Chămpa). Đệ có nghe là xung quanh những ngôi mộ Chàm thường có 2 con rắn có mào canh giữ, không biết việc này có thực không? Mong huynh chia sẻ....
Chân thành cảm ơn huynh!


Về việc này hỏi Đức Vua Chế Bồng Nga là rõ nhất. Hihi..md kính.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Phambanglinh
Logged

Học kiến thức chỉ là thành tài , học đạo nghĩa mới là thành nhân.
 
 
 
Không Được Ngó
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 304

Cảm Ơn
-Gửi: 826
-Nhận: 2221



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười Hai 28, 2009, 10:39:32 AM »

Hỏi sao đất nước Chăm kg bị diệt vong chứ
Thằng chả Chế si tình lovely  rồi tiên bố, kg có lovely ở diễn đàn thì kg có Chế
Rõ là kẻ mê gái hại dân thôi

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Phambanglinh
Logged

Bây giờ Ngó mới thấy
Ơn Cha Mẹ lớn đến bao nhiêu
Xưa nay chỉ biết lời giáo điều
Ơn Cha Mẹ là rất lớn
Hạnh phúc thay cho những đứa con
Có Bố Mẹ giàu
Càng hạnh phúc hơn
Có Bố Mẹ nghèo
Và càng hơn nữa…
Với những bé mồ côi
Nói chung là rất hạnh phúc
Khi được làm con
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2009, 04:37:06 AM »

Nhân tiện, xin được hỏi huynh về bí ẩn của những ngôi mộ Chàm (Chămpa). Đệ có nghe là xung quanh những ngôi mộ Chàm thường có 2 con rắn có mào canh giữ, không biết việc này có thực không? Mong huynh chia sẻ....
Chân thành cảm ơn huynh!



NỐT NHẠC THIỀN HOÀ HIẾU
 
TRONG QUAN HỆ ĐẠI VIỆT VÀ CHĂM PA
 
THỜI TRẦN NHÂN TÔNG
 
GS. PHẠM ĐỨC DƯƠNG
 
Chủ Tịch Hội Khoa Học Đơng Nam Á Việt Nam
 

--------------------------------------------------------------------------------

       Sau khi dời đô ra Thăng Long thực hiện giấc mộng rồng bay, Lý Công Uẩn đưa nhà nước Đại việt ra trung tâm sông Hồng đối diện với người láng giềng khổng lồ phương Bắc vốn có truyền thống dựng nước đi đôi với bành trướng, và đồng thời mở rộng bờ cõi phía nam, biến Chăm Pa thành phên dậu và thuộc hạ của mình.

Do đó, chính sách đối ngoại của Đại Việt tập trung ứng xử với các nước lân bang ở đôi đầu đất nước. Phía Bắc trở thành tiền phương nhằm chống lại sự xâm lược của các tri62u đại phong kiến Trung Hoa; Phía Nam trở thành phên dậu, sân sau của Đại việt nhằm phá thế trận vu hồi quen thuộc của phương Bắc.

Nhà Trần trở thành triều đại vinh quang nhất trong lịch sử Đại Việt vì đã 3 lần chiến thắng quân Nguyên  - một  đội quân xâm lược đã từng làm mưa làm gió khắp Á – Aâu.

Trong chiến công chung đó người ta ghi nhận sự đóng góp, sự sinh thầm lặng của những g người phụ nữ. Nhà Trần được mở đầu bằng sự nhường ngôi của nữ chúa Lý Chiêu Hoàng cho cha con Trần Cảnh. Phải chăng vì thế mà nhà Trần có nhiều công chúa, nhiều phu nhân được giao nhiệm vụ gánh vác việc nước, trong đó nổi lên hai công chúa được “trưng dụng”  trong chính sách đối ngoại với phía Bắc và phía nam trong hai nghich cảnh rất khác nhau.

Người thứ nhất, công chúa An Tư, con gái út vua Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông. Năm Ất Dậu (1825), trong đợt tấn công xâm lược lần thứ hai, quân Nguyên vây hãm thành Thăng Long. Vua Trần Nhân Tông cùng với Thượng Hoàng Trần Thánh Tông phải chạy ra vùng Tam Trĩ (Ba Ch4). Thế nước lâm vào cảnh “nghìn cân treo sợi tóc”, nghĩa tướng Trần Bình Trọng hy sinh ở bờ sông Thiên Mạc, một số hoàng tộc hoảng loạn chạy theo giặc (Trần Kiện, Trần Lộng, Trần Ích Tắc…). Để cứu nguy và có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến, Trần Thánh Tông đã buộc phải sai người dâng em gái – Công chúa An Tư, như là một vật cống nạp cho Thoát Hoan “hoãn binh chi kê”. Đại việt sử ký toàn thư ghi: “sai người đưa công chúa An Tư đến cho Thoát Hoan là có ý làm giảm bớt tai hoạ cho nước vậy”. Người con gái “lá ngọc cành vàng” ấy vì nợ nước đã ra đi không trở lại. Nhưng trớ trêu thay, sau chiến thắng quân Nguyên, tháng 7-1285, vua trở về kinh thành hân hoan khen thưởng những người có công, nhưng không ai nhắc tới công chúa An Tư.

Người thứ hai, 16 năm sau, công chúa Huyền Trân con gái Trần Nhân Tông được nhà vua hứa gả cho Chế Mân (Djaia Sinhavarman III), vua của vương quốc Chăm Pa. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: chiến thắng quân Nguey6n, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và tháng 3 năm Tân Sửu (1301) ông đã đi “Vân Du” sang Chiêm Thành, đến “mùa đông tháng 11 từ Chiêm Thành trở về”. Năm Bính Ngọ (1306), Trần Anh Tông thực hiện lời hứa của vua cha, đã gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân, đổi lấy hai châu – Châu Ô, Châu Lý làm của hồi môn. Nhà Trần đổi thành châu Thuận và châu Hoá “sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên hai châu đó”.

Sự thật việc Huyền Trân công chúa về làm dâu xứ Chăm Pa, là nàng phải hy sinh vì nghĩa cả. Hy sinh vì tính cao thượng và lòng nhân ái của Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

Vì sao vậy? Đó là vì sau hai lần liên tiếp đánh bại đội quân hùm sói của Hốt Tất Liệt xăm lăng bờ cõi Đại Việt, giới quân sự luôn gây sức ép với triều đình phải bành trướng về phương nam.

Thật tâm Trần Nhân Tông không muốn vậy. Cái chí của ngài là liên kết giữa Đại Việt và Chăm Pa trở thành một sức mạnh để đối phó với phương Bắc.

Vì vậy ngài phải đích thân sang thăm Chăm Pa với cả gần một năm trời, phần thì tìm hiểu đất nước bạn, phần thì thuyết phục bạn. Vì thế nhà vua (Djaia Sinhavarman III) đã lập được cầu hoà hiếu, thông qua cuộc hôn nhân giữa con gái ngài và vua nước Chăm Pa sính lễ thật là hậu hỹ: cả một vùng đất hai châu: châu Ô và châu Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay).

Djaia Sinhavaraman III tức thái tử Harifit từng chỉ huy toàn quân đánh bại âm mưu xâm lược của Hối Tất Liệt, và cầm chân tướng giặc Toa Đô suốt mấy năm trời.

Tuy là một vị vua anh hùng nhưng Chế Mân không phải không có sự chống đối của các thế lực khác. Bởi thế, sự thoả thuận giữa hai Nhà nước từ năm 1301nhưng mãi tới năm 1306 hôn lễ mới được tiến hành. Và chỉ một năm sau Huyền Trân và Chăm Pa thì Chế Mân bị giết, Huyền Trân suýt phải lên giàn thiêu.

Biết đâu cái chết của Chế Mân chẳng phải là do thế lực chống đối nhà vua và thù nghịch với Đại Việt gây lên.

Như chúng ta đã biết, để xây dựng các quốc gia cổ đại, người Đông Nam Á đều tiếp nhận hai mô hình Ấn Độ (Chăm Pa, AêAngkor… và Trung Hoa (Đại Việt). Mặc dù các nước đến đều có chung một cơ tầng văn hoá lúa nước Đông Nam Á, nhưng thể chế chính trị và nền văn hoá quốc gia dân tộc lại rất khác nhau.

Người Chăm Pa là cư dân biển đã có mối giao lưu tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ từ rất sớm. Cho đến thế kỷ III – IV, Chăm Pa đã là một trong những quốc gia cổ bậc nhất ở Đông Nam Á tiếp nhận mô hình văn hoá Ấn Độ một cách sâu sắc qua con đường truyền giáo. Vì thế các văn bản Ấn Độ (Đạo Pháp, luật pháp, chính pháp…) có một vai trò đặc biệt quan trọng và các vua Chăm Pa đã áp dụng khá nguyên vẹn.

Chế độ Vương quyền Ấn Độ đã được cấp nhãn hiểu của thần quyền. Vua là hiện thân của thần trên mặt đất – người bảo vệ  thần dân bằng “Thánh luật” tức “Luật thiêng”. Vì vậy, đất nước không thể không có vua. “Đất nước không có vua khác nào như sông không có nước, dàn gia súc không có người chăn”. Người Ấn Độ trong đời có 3 việc lớn phải làm theo trình tự : chọn vua, chọn vợ, tích luỹ tài sản. Vì vậy, toàn bộ cơ cấu tổ chức chính trị – văn hoá là sự kết hợp vua – thần (vương quyền kết hợp thần quyền) dựa trên cơ sở một xã hội đẳng cấp các vị vua Chăm Pa đều theo Ấn Độ giáo và tự coi mình có gốc thần linh, đồng nhất với các vị thần như Siva, Indra, Brahma, Kama, Krisna,Visnu … (Vua Badravarman I được đồng hoá với Sivi dưới tên gọi Bhadresvara và được thờ ở Mỹ Sơn. Các vua thuộc thời Hoàn Vương đều ví mình với các thần như Indravarman. Tự so sánh với Vikraman (hoá thân của Visnu) nâng quả đất bằng hai tay, hay Narayama (Visnu hoá thân_ nằm trên con rắn nâng thế giới bằng bốn cánh tay, các vua thời Đồng Dương cũng vậy Harivarman IV dựng bia tự ca ngợi và so sánh với các thần Krisna, Kama, Indra, Brahma, Siva … Ông vua tài ba Yaya Harivarman I được bia ký gọi ông là “hình thức có thể lấy d0ược của thần Visnu”. * Bài viết này dựa trên những tư liệu lịch sử trong các tác phẩm được dùng làm tài liệu tham khảo.). Họ rất thông thạo kinh điển Ấn Độ từ kinh vệ đà đến văn phạm Kyakarana, các bài luận Kasika, các truyền thuyết Akhyana.. và rất nhiệt thành với các tôn giáo. Họ tự cho mình có quyền uy tối thượng nắm trong tay luật thiêng và xử sự theo nguyên tắc : kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào không đủ phẩm chất làm vua thì phải rút lui theo thánh luật.

Mặc dù Nhà nước cổ đại Chăm Pa đã trở thànhq uốc gia vững mạnh và có nền văn hoá nổi tiếng thế giới, nhưng cũng bộc lộ những nhược điểm dẫn đến sự tiêu vong. Đó là tình trạng mất ổn định về chính tir5. Trong nội bộ vương quốc đó thì các triều đình thôn tính lẫn nhau, tranh giành quyền lực, các vương triều luôn bị thay thế, bị hãm hại, bị chia cắt bởi các lực lượng địa phương và không thể tạo dựng một quốc gia thống nhất bền vững. Với các nước láng giềng thì hay gây hấn, chinh phạt kẻ thù, đó là những nguyên nhân chủ yếu dẫn họ tới hoạ diệt vong.

Trong khi đó Nhà nước Đại Việt lại mô phỏng theo vương triều và từ chương học Trung Hoa rất khác với mô hình Ấn Độ. Tiếp nhận Nho giáo trên cơ tầng văn hoá bản địa Đông Nam Á, do yêu cầu có một chính quyền vững chắc để chống ngoại xâm, Nhà nước Đại Việt đã phát triển với 3 đặc điểm:

Một là, nó là nước quân chủ tập quyền, dựa trên chế độ tông pháp, phụ quyền, cha truyền con nối theo dòng trưởng thuần tuý dân sự, tôn giáo tách khỏi Nhà nước, bộ máy cai trị được đào tạo công phu theo lối “văn trị”, không có giai cấp quí tộc ăn bám và cát cứ. Sự thống nhất quốc gia dựa trên văn hoá và chính t

Hai là, nó có ý thức đầy đủ về một quốc gia văn hiến, về vai trò Nhà nước: có cương vị rõ ràng, có lịch sử ghi chép đầy đủ, có chính quyền thống nhất, có văn hiến riêng và được coi trọng.

Ba là, một nước theo Nho giáo rất coi trọng học vấn, lấy lễ làm gốc.

Trong lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chăm Pa, Trần Nhân Tông là ông vua duy nhất đã thiết lập mối quan hệ hữu hão với nước này. Có lẽ nhà vua đã cảm nhận được hai điều tâm đắc với Chăm Pa:

Một là, họ đã cùng nhau chung lưng đấu cật để chống quân Nguyên trong đó vua Trần Nhân Tông đã có công lớn trong chiến thắng vĩ đại này. Sau khi có thắng lợi Trần Nhân Tông chắc muốn sang cảm ơn bạn bè và xây dựng quan hệ hoà hiếu, xoá đi sự ngờ vực nhau giữa Đại Việt và Chăm Pa trong quá khứ.

Hai là, Trần Nhân Tông là một ông vua say mê đạo Phật, là người đã xây dựng nên Thiền phái Trúc lâm của Việt Nam, cho nên có thể ông rất có cảm tình với nền văn hoá balamôn giáo và Phật giáo của nước này.

Vì những lẽ đó mà Trần Nhân Tông đã tạo nên một nốt nhạc thiền hoà hiếu trong quan hệ với Chăm Pa, mặc dù không phải mọi người trong triều đình đã chia sẻ với ông điều đó.

Lịch sử là những gì đã diễn ra, lịch sử không có “giá như” thế này, thế kia. Người đời sau chỉ có thể rút ra bài học lịch sử cho mình… và cứ như thế lịch sử sẽ được nối tiếp theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn, thành công hơn.

Nếu như Nhà nước Đại Việt có được một triều Trần hiển hách với những chiến công vô cùng vĩ đại là chiến thắng đế quốc Nguyên Mông, thì nhà Trần, đặc biệt là với vua Trần Nhân Tong, đã đưa một bàn tay thứ hai gương cao ngọn cờ nhân ái, từ bi của Đức Phật với phái Thiền Trúc Lâm. Giữa đôi bờ của cuộc sống thực và ảo ấy, vua Nhân Tông cũng đã biểu hiện những tình cảm tốt đẹp với người bạn láng giềng Chăm Pa, nhằm hàn gắn những vết thương lịch sử. Dù sao trong giai điệu gập ghềnh ấy của lịch sử, nốt nhạc thiền hoà hiếu cũng để lại dư âm đầy tính chất nhân bản khá quyến rũ và hấp dẫn cho người đời sau.




Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
zensinbad, TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh
Logged
 
 
 
zensinbad
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 30

Cảm Ơn
-Gửi: 20
-Nhận: 73


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2009, 05:23:31 AM »

Vâng, cảm ơn huynh ongdia đã chia sẻ chút kiến thức về Chămpa.
Chân thành cảm ơn huynh!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh
Logged
 
 
 
ongdia
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1250

Cảm Ơn
-Gửi: 5379
-Nhận: 8897



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Hai 29, 2009, 05:36:18 AM »

cảm ơn zensinbad. winking winking winking winking


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieudaoTT, Ngoisaobiec, Phambanglinh
Logged
 
 
Trang: [1] 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.198 seconds với 25 câu truy vấn.