Tháng Mười Hai 17, 2018, 04:52:51 pm -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: [1] 2 3 4   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: Bình Định Võ  (Đọc 13906 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 09:43:11 pm »

Tôi vốn là người Bình Định. Có thể không giỏi võ bằng chính người quê hương xứ sở của tôi. Nhưng tôi luôn nhớ, nhớ rằng ngày tôi học võ, thầy luôn dạy rằng chúng ta luôn thượng võ. Đó là cái chữ Tâm trong võ đạo
Góp nhặt mua vui vài dòng, tôi xin lượm lặt về miền Võ Đạo

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Táo Ngọt, mai long, thuankt, blake, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 09:49:25 pm »

Ngọc trản ngân đài

Tả hữu tấn khai, hồi thập tự

Uyển diệp liên ba đả sát túc, tọa hồi mai phục

Tấn đả tam chiến thoái thủ nhị linh

Câu thơ trên sẽ không mang ý nghĩa gì nếu không được gắn vào các thế võ, và cũng chỉ những người luyện tập võ cổ truyền mới hiểu hết những gì đang ẩn dấu bên trong từng lời thơ. Đó là bốn câu đầu trong lời thiệu của bài quyền Ngọc Trản - một bài quyền của người Việt có từ xa xưa, và hiện đang được nhiều môn phái võ cổ truyền, trong đó có phái Bình Định gia sử dụng như một bài tập căn bản.

Ngược dòng thời gian về những ngày đầu dựng nước, dân tộc Việt luôn phải học hỏi và tự rèn cho mình khả năng chiến đấu để tồn tại giữa môi trường thiên nhiên và chính trị đầy khắc nghiệt. Bên cạnh việc củng cố hành chính và quân sự, người Việt còn chú trọng tới khả năng chiến đấu cá nhân bằng tay không hoặc dùng binh khí, ở đây được hiểu chính là võ thuật. Có thể phân loại võ cổ truyền Việt Nam làm bốn nhóm chính: bao gồm nhóm các võ phái Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ và các võ phái gốc Trung Hoa. Nếu như Bắc Hà nổi tiếng với các môn vật cổ truyền thì ở dải đất miền Trung, võ Bình Định là một minh chứng cho quá trình tiếp thu tinh hoa võ học bên ngoài và phát triển theo phương thức đặc thù. Trong ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, thì người anh hùng áo vải của đất Tây Sơn - Nguyễn Huệ - được đời sau nhắc tới nhiều hơn cả với môn Nghiêm Thương, Tứ Môn Côn và Tứ Môn Kiếm - những môn võ sử dụng binh khí rất đặc thù. Tuy nhiên võ Bình Định không bó hẹp trong một vùng, một môn phái mà chia rộng thành nhiều chi phái như võ phái An Thái, An Vinh, Tây Sơn nhạn, võ nhà chùa, Thanh Long võ đạo, Sa Long cương… Hầu như bất kỳ ai khi nói tới miền đất này đều biết tới hình ảnh của cô gái Bình Định múa roi, đi quyền mà niềm tự hào của họ chính là nữ tướng Bùi Thị Xuân nổi tiếng với môn Tam Bộ Tuyết hoa Song kiếm và Song phượng kiếm.

Ngày nay, các võ đường của võ Bình Định mở trên khắp cả nước, trong đó Bình Định gia là môn võ cổ truyền chính thức được công nhận tại khu vực phía Bắc. Giới võ thuật miền Bắc biết tới lão võ sư Trần Hưng Quang với chức danh trưởng môn phái, song ít ai biết là ở tuổi 75, ông vẫn đang trực tiếp chỉ dạy các lớp học trò trên võ đường tại khu Thanh Xuân Bắc- Hà Nội. Hơn 30.000 môn sinh đã thụ nghiệp, luyện tập và cống hiến cho cuộc đời với 5 điều môn quy thấm nhuần tính thiện: "Một lòng kính thầy trọng đạo, coi đồng môn như ruột thịt…".

Hơn 2.000 năm qua, người Việt Nam đã hấp thu được nét tinh túy trong nền võ học lừng danh thế giới của Trung Hoa và Tây Tạng. Tại Việt Nam, các môn phái võ Trung Hoa đã được tiếp nhận, song song tồn tại và cùng tương tác với nền võ học bản địa. Khó có thể nói một cách rõ ràng, môn võ nào còn giữ nguyên vẹn hình thể gốc gác ban đầu, bởi "phát triển" tất yếu gắn liền với "biến đổi". Người Việt đã biết cách giản lược và chế tác thêm vào những đường nét võ của riêng mình cho phù hợp với thể trạng và tâm lý dân tộc. Nếu như những môn võ gốc Trung Hoa hoặc chuyên về dương cương, sử dụng sức mạnh, hoặc thuần về âm nhu, thiên về sự mềm mại, thì khi vào tới Việt Nam, đều được trung hòa theo chiều hướng thuần hậu, lấy chế ngự đối thủ làm mục đích, dùng trí thay cho dùng lực. Minh chứng cho vấn đề này là môn phái Vovinam, vốn được sáng lập bởi cố võ sư Nguyễn Lộc vào những năm 30 và chính thức ra mắt vào năm 1939. Đây là một hệ thống các chiêu thức sáng tạo từ vật kết hợp cùng võ cổ truyền, chú trọng các đòn thế căn bản như tấn, quyền, cước, chém, gạt… Trong giai đoạn 1960-1975, Vovinam đã được truyền bá khắp đất nước, đặc biệt tại miền Nam.

Điều đặc biệt nhất trong các bài võ cổ truyền Việt Nam là các bài thiệu viết bằng chữ Nôm gắn liền với từng đường nét võ. Đây là điểm khác biệt căn bản so với võ du nhập từ nước ngoài, bởi võ Trung Quốc hoặc Tây Tạng không có lời thiệu bằng thơ, mà chỉ có tên đòn thế, chiêu thức.

Về chiều sâu, võ học dựa trên căn bản nguyên lý triết học phương Đông như âm dương, bát quái, ngũ hành… để phát triển lý thuyết nội ngoại công. Tương tự như Trung Hoa, nhiều môn phái võ cổ Việt Nam thường sử dụng hình tượng của các loài thú để xây dựng quyền pháp. Từ những bước nhảy, bắt mồi, vồ dũng mãnh của hổ, từ sự nhanh nhẹn của loài khỉ, từ các cú mổ của mãng xà… võ cổ truyền đã cho ra đời môn Hổ quyền, Hầu quyền, Xà quyền… Những ai học Thiếu lâm tất sẽ biết Ngũ hình quyền là hệ thống các bài quyền long, hổ, báo, xà, hạc… song bên cạnh đó, võ Nhất Nam do võ sư trưởng môn phái Ngô Xuân Bính lập nên năm 1983 lại thiên về các đường quyền lắt léo của loài trăn. Môn võ này có phương châm là né tránh, đánh nhanh, đòn hiểm và hiệu quả cao. Thời cực thịnh của Nhất nam đã từng có hơn 5.000 môn sinh trên cả nước, song hiện giờ phong trào không còn được phát triển như xưa.

Việc gia nhập một môn võ phái cổ truyền nay không còn khó khăn như xưa. Trước kia, chúng ta thường nghe chuyện môn đồ xuất gia, tu hành trên núi cao, rừng sâu, và phải từ bỏ mọi vòng danh lợi… Giờ đây thanh thiếu niên có thể lựa chọn dễ dàng một môn phái nào đó và tập luyện ngay tại các trung tâm thể thao, câu lạc bộ. Vấn đề ở đây không phải là tập môn gì, bởi tất cả môn võ cổ truyền đều tập trung tại chữ tâm - đó là quay lại tính thiện căn bản của mỗi người. Vấn đề chính nằm ở chỗ: Bạn sẽ làm gì với gia tài võ học quý giá mà bao thế hệ đi trước đã lưu truyền tới ngày nay?

. Theo Nhà Vui

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
TieuTuThoi, BỌ XÍT, nhuocthuy, Táo Ngọt, thuankt, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 09:52:13 pm »

Ở đất Bình Định, ai mà chẳng nghe câu: "Roi Thuận Truyền, quyền An Thái" hoặc "Trai An Thái, gái Thuận Truyền". Câu nói ấy thể hiện một đặc điểm của An Thái, ấy là một lò võ lớn nổi tiếng của miền quê này. Trai gái đều giỏi giang võ thuật như nhau.
An Thái gồm 7 thôn lớn và một thị tứ, thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn. Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng trồng lúa, trồng mía, kéo mật làm đường và các nghề thủ công như dệt vải lụa, nhuộm the và buôn bán nhỏ. An Thái gần sông Côn, gần đường hàng huyện lại có thị tứ nên việc buôn bán rất nhộn nhịp. "Nhất cận thị, nhị cận giang" là vậy. Đầu thế kỷ XVII, nhiều người Hoa lánh nạn trong cuộc "phản Thanh phục Minh", lưu lạc đến đây sinh cơ lập nghiệp. Họ giỏi buôn bán và các nghề thủ công nên việc làm ăn của dân địa phương cũng nhờ thế mà phát triển.

Lò võ An Thái gồm 4 nhánh: Bình Sơn, Hải Sơn, Quách Cang, Hồ Hoành. Nhân dân An Thái từ già đến trẻ, từ trai đến gái hầu như đều giỏi võ. Thủa xưa nơi đây còn gần rừng núi và hoang vắng, lại loạn lạc giặc giã nhiều, nên ai cũng thi nhau luyện tập để có sức khỏe chống trộm cướp, chống thú dữ và bảo vệ làng xóm.

Phái võ Bình Sơn ở Thắng Công duy trì được những ngón bí truyền của võ Việt và kết hợp với võ Tàu của người Hoa. Ba phái kia thì thuần dạy võ Tàu, sau có kết hợp với võ Việt cho thêm phong phú.

Mỗi dịp Tết đến, nhân dân An Thái có trò chơi "phá giàn tranh heo" để thi thố sức khỏe và sự nhanh nhẹn của các võ sĩ. Những người dự thi đứng chung quanh giàn, chờ người trưởng trò chặt đứt dây giữ giàn buộc con heo quay rơi xuống. Người dự thi phải dùng mọi thủ pháp, miếng võ, sức mạnh và sự nhanh nhẹn để đoạt bằng được con heo. Ai tranh được, vác chạy một mạch về thôn mình là thắng cuộc, được mọi người tôn vinh và trọng nể.

Thủa xưa, thày giáo Trương Văn Hiến từ xứ Nghệ lưu lạc vào đất An Thái. Thày ra mắt dân làng bằng một pha ngoạn mục: nửa đêm thày dùng võ nghệ đánh tan bọn cướp lớn trên sông Côn. Dân làng mến phục, kính trọng, giúp thày mở lò dạy võ. Thày tận tâm truyền dạy võ nghệ cho con em họ. Người theo học rất đông. Anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cũng đến Thắng Công học văn, học võ thày Hiến và làm nên sự nghiệp vĩ đại. Các học trò khác của thày Hiến đều là những chiến binh dũng cảm của nghĩa quân Tây Sơn.

An Thái nay là một trong bốn trung tâm dân cư, là "cụm văn hóa" của huyện An Nhơn. Lò võ An Thái vẫn được duy trì và phát triển. Nhiều võ sinh nhỏ tuổi ngày ngày học tập, rèn luyện sức khỏe để góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước.

. Nguyễn Văn Chương

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Táo Ngọt, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 09:55:06 pm »

Không biết tự bao giờ, khi nói đến truyền thống thượng võ, người ta đều nghĩ ngay đó là vùng Bình Định. Căn nguyên để Bình Định trở thành Miền đất võ, có lẽ còn phải bàn thêm, nhưng việc hình thành nên những làng võ, làng tuồng, làng bài chòi... trong cơ cấu làng là hiện tượng hiếm có trên đất nước ta
Nền học võ chân truyền Bình Định được hình thành theo đơn vị làng mà mỗi khi nhắc đến không ai là không biết tới các địa danh như: An Thái, An Vinh, Thuận Truyền... Chính những làng quê ấy đã góp phần tô thắm nên bức tranh hoành tráng của truyền thống thượng võ, được coi là nét sinh hoạt dân gian tồn tại bền chặt trên vùng đất Bình Định từ xưa đến nay. Về nguồn gốc của Võ Bình Định đã được giới nghiên cứu bàn đến, nhưng cái lý mà ông Vũ Ngọc Liễn, một nhà nghiên cứu văn hóa Bình Định, đưa ra dễ chấp nhận. Ông cho rằng Bình Định xưa là vùng đất phiên trấn biên giới Việt - Chăm, nơi lưu đày hoặc lánh nạn của các hào kiệt không thuận ý quân vương, nơi dung nạp những con người thất cơ lỡ vận. Đương nhiên song hành với hai đối tượng vừa nói không ít lũ lưu manh truyền kiếp cũng trà trộn đến đây "hành nghề" bất lương. Cho nên thuở ấy vùng này trộm cướp liên miên, chính quyền đương thời chẳng những không kiểm soát nổi mà còn thả nổi. Chuyện cha Hồ, chú Nhẫn sống ngoài vòng cương tỏa, tung hoành vùng núi Truông Mây (nay là Hoài Ân); chuyện Chàng Lía vừa là tướng cướp vừa là con người đậm màu hiệp sĩ có phạm vi hoạt động từ vùng núi Bình Khê đến Hoài Ân, nghĩa là từ vùng núi phía nam đến bắc Bình Định... là những minh chứng.

Do đặc điểm địa lý và xã hội vùng Bình Định thuở sơ kỳ, nên nhu cầu về võ nghệ thuở ấy cực kỳ bức thiết nhằm rèn luyện thể lực chống chọi thiên nhiên khắc nghiệt, chống thú dữ, chống trộm cướp bảo vệ tính mạng và thành quả lao động đồng thời chống áp bức, cường quyền, bênh vực kẻ yếu, giúp người nghèo... Biểu tượng cho những đức tính ấy là nhân vật Chàng Lía, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII trước khi có cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra. Sự tích Chàng Lía với sức sống của nó mang tính truyền kỳ nhưng gói ghém khá trọn vẹn những gì thuộc về yếu tố phát sinh và hình thành Miền đất võ Bình Định; đồng thời cũng là bức tranh toàn cảnh cái đêm hôm trước của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Theo ông Vũ Ngọc Liễn, trước khi là vua, là tướng, lực lượng cốt cán của nghĩa quân Tây Sơn đều là những võ sĩ, hiệp sĩ võ nghệ cao cường... Chính cái phẩm chất tráng sĩ trong từng con người ấy là nhân tố quyết định mọi thắng lợi phi thường của quân đội Tây Sơn...

Các năm 1998-1999, trên mảnh đất Bình Định đã phát hiện được ba văn bản bằng Hán Nôm về những bài võ Bình Định tại các từ đường Phan Thọ, xã Bình Nghi (Tây Sơn); từ đường họ Trương xã Mỹ Hòa (Phù Mỹ) và võ đường Thanh Lương, thị trấn Bồng Sơn (Hoài Nhơn). Những tư liệu này cho thấy Bình Định rất xứng đáng với cái tên gọi "miền đất võ", mảnh đất này đã hun đúc nên bao tài danh trên làng võ không phải trong giang hồ như một số người nhìn nhận, mà có sắc của vua ban và được khắc bia lưu danh ở cố đô Huế.

. TS. Đinh Bá Hòa


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Táo Ngọt, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 09:57:03 pm »

Khoảng năm 1766, thời Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, có tên tham quan về hưu, đến chiếm giữ một vùng làng mạc trù phú ở phía đông bắc núi Chớp Vàng. Tên cường hào này có cuộc sống rất ô trọc, tàn ác, việc đầu tiên lão làm tại vùng đất vừa chiếm cứ là một nhà giam, một máy chém và tự đặt ra luật lệ, buộc người dân trong vùng trở thành nông nô cho lão.

Năm 1771, nhà Tây Sơn khởi nghĩa ở vùng Thượng đạo và Hạ đạo, lão cường hào kiếp sợ, co mình trong lớp vỏ một kẻ lương thiện, để qua mắt quan quân, song không vì thế mà lão giảm bớt những thú vui ô trọc. Nhiều người dân lương thiện và gái đẹp tiếp tục mất tích.

Mãi đến năm Kỷ Dậu (1789), sau khi Hoàng đế Quang Trung thắng trận Đống Đa mới có thì giờ lo cải tổ việc cai trị trong nước. Khoảng thời gian năm 1799, quan tiền quân họ Võ có dịp trở lại thăm quê nhà ở Tây Sơn Hạ đạo.

Lúc quan tiền quân tiếp khách tại nhà riêng, nhiều bô lão trong làng đến thăm hỏi và tường thuật những điều mắt thấy tai nghe, xưa nay vẫn còn uẩn khúc quanh vùng. Quan tiền quân cho mọi người lui ra hết, chỉ lưu lại một người lớn tuổi nhất. Quan tiền quân hỏi người ấy:

- Ông có biết bọn thủ hạ đắc lực của tên cường hào đó có bao nhiêu người không?

- Bẩm quan, điều này rất hệ trọng, vì thế xưa nay chẳng ai dám nói ra. Thực tế thủ hạ của cường hào toàn một lũ cướp giật, gồm bốn mươi tên, trong đó có ba tên cầm đầu võ nghệ kinh khiếp khắp vùng chẳng ai dám đối địch.

Quan tiền quân mỉm cười:

- Các việc khác ta tin lời ông. Riêng không việc ai chống cự nổi ba tên súc sinh ấy ta không tin. Ông suy nghĩ tiếp đi, xem vùng Tây Sơn Hạ đạo này còn thanh niên giỏi võ nào có khả năng đánh được bọn đó không?

Quan tiền quân họ Võ cho ông lão ra về và cho người gọi Trần Sào đến. Trần Sào đứng trước mặt quan chỉ cung tay xá, và vòng tay hầu một bên, chứ không quỳ. Quan tiền quân thấy Trần Sào vai hùm, lưng gấu, trán rộng, mặt vuông, sóng mũi ngay thẳng, biết là người trung chính, có ý khen thầm nhưng cũng gạn hỏi:

- Tại sao người tên Sào?

- Bẩm quan, vì tôi họ Trần, thường sử dụng cây roi dài hai mươi mốt thước mộc, như cây sào để luyện tập. Vì vậy người trong vùng gọi tôi là Trần Sào.

- Tốt lắm! Vậy ngươi luyện võ giỏi hay roi?

- Tôi chỉ tập trung cách đánh thắng địch thủ chứ không chú ý đến quyền hay roi.

Quan tiền quân cười đáp:

- Ta không tin lời nói của ngươi. Ở Hóc Bộm phía đông vùng Chớp Vàng chỉ có ba tên giặc cỏ, người không dám đụng đến, nói chi đến việc thắng bại.

Trần Sào vẫn bình thản trả lời:

- Bẩm quan, đấu pháp phải từ nhiều mặt. Hội đủ điều kiện đánh sẽ thắng. Chưa đủ điều kiện, chẳng những chỉ hại thân danh mà còn làm hại đến nhiều người. Hôm nay nếu quan của triều đình ra lệnh cho tôi giết cướp mà tôi không tuân mới cho là tôi nói sai.

Quan tiền quân gật đầu khen:

- Được lắm! Ta ra lệnh nội trong ba hôm, ngươi phải cắt đầu ba tên cướp bỏ trên núi, dìm thân bọn chúng xuống vực sâu cho ta.

Buổi chiều ngày thứ ba, Trần Sào cầm rựa quéo cán dài, một mình đi vòng qua phía tây núi Chớp Vàng, đến chờ ở trên bờ một vực nước sâu. Đến lúc chạng vạng tối, ba tên cướp xuất hiện, từ thung lũng Đồng Sim đi ra. Trần Sào chống cán rựa quéo xuống đường nạt:

- Đứng lại!

Ba tên cướp dừng ngựa, tên đầu sỏ cười nhạt hỏi:

- Thằng Sào, mày dám chặn đứng bọn tao à?

Hai tên em út gã cướp chẳng cần nói năng, nhảy càn xuống ngựa, quơ đoản đao đánh ngay. Trần Sào hoa cây rựa quéo dài cán gạt béng vũ khí của bọn cướp ra hai bên. Hai tên cướp thấy mở miếng võ đầu không thành công, đều thay đổi cách đánh, kẻ trước người sau, tập kích Trần Sào liên tục.

Trần Sào bỗng trầm giọng quát:

- Còn một đứa nữa mau xuống ngựa. Cả ba đứa bay cứ dốc hết sức đi, hôm nay ta không tha mạng cho đâu.

Tên đầu sỏ nghe nói, nổi giận phóng ngay xuống ngựa, múa cây đại đao vùn vụt, áp đánh cùng đồng bọn. Trần Sào đã thấy ba tên cướp rời khỏi ngựa, lập tức co ngón tay búng ba viên sỏi vào mắt của ba con ngựa làm cả ba hoảng kinh hí vang, cuốn vó bỏ chạy mất. Ngay lúc ấy, lưỡi rựa quéo của Trần Sào như một loại binh khí quái dị luôn bao phủ ba tên cướp và lần lượt giật rơi hết vũ khí tên tay chúng. Hai bên đánh nhau chưa đầy một khắc, ba tên cướp tay chân luống cuống bị Trần Sào chém rơi đầu xuống đất.

Hôm sau trưởng làng nhận được trát quan huyện, đòi phải bắt nộp kẻ gây án mạng trong làng. Trưởng làng, họ Văn, biết quan tiền quân họ Võ là người cầm đầu vụ án mạng này, nên không dám bắt Trần Sào. Trưởng làng bị quan huyện thúc ép quy trách nhiệm đã để án mạng xẩy ra trong làng và bắt giam vào ngục kín.

Giữa lúc cả gia đình họ Văn đang hoang mang sợ hãi, quan tiền quân họ Võ cho đòi em trai của trưởng làng họ Văn lại nói:

- Nghe đồn ngươi văn hay chữ tốt, vậy cứ vâng lời ta làm tờ trình quan để cứu mạng cho anh ngươi.

Em trai họ Văn vâng mệnh, đem giấy bút đặt trước quan tiền, quan chuẩn bị ba tờ. Quan tiền quân đọc: "À... ba tên bị giết chết là ba quân giặc cướp, không phải dân lương thiện, quan huyện muốn bắt tội người giết chúng, cứ lên núi có ba thủ cấp bọn cướp bắt tội sơn lâm, lội xuống vực sâu, chỗ có thân chúng bắt tội hà bá…".

Quan huyện xem tờ trình nổi giận quát mắng, nhưng khi nghe tên lính dân tờ trình nói nhỏ mấy câu, quan huyện thất kinh, lập tức hạ lịnh mở ngục kín thả ngay trưởng làng họ Văn ra. Cũng vừa lúc ấy, quan tiền quân họ Võ đã đến huyện đường nạt ngay quan huyện:

- Người làm quan huyện hưởng bổng lộc triều đình, chẳng lo tiêu trừ bọn giặc cướp ở địa phương. Lại còn xử án hầm hồ, bắt giam người trái phép. Nếu không mau khai báo điều ẩn khuất, ta không dung tha cho đâu.

Quan huyện biết không thể giấu được đành thú nhận có nhận vàng đút lót của tên cường hào. Quan tiền quân sai lính lột hết áo mão quan huyện và giam chung với lão cường hào vào ngục kín. Sau đó quan tiền quân tịch biên tài sản, ruộng đất của tên tham quan, và lão cường hào chia điều cho dân quanh vùng. Trưởng làng họ Văn được lên thay quan huyện.

Một hôm, quan tiền quân họ Võ gọi Trần Sào đến nói:

- Người cũng có chút ít tài cán, dũng khí, sao không đến kinh đô ứng thí?

- Bẩm quan, lâu nay tôi chưa gặp được quý nhân, dẫu có đến kinh đô ứng thí, cũng chưa chắc đã thành công.

- Ta không muốn tiến cử những kẻ bất tài. Nếu người ra trường thi Huế làm nên việc, ta sẽ nói giúp cho vài câu.

Ngày sau, Trần Sào sắm sửa khăn gói đi kinh đô, quan tiền quân họ Võ gọi đến dặn riêng:

- Quan giám khảo trường thi rất giỏi về phép đánh roi, ngươi phải tự lượng sức để khỏi hổ danh là võ sinh Bình Định.

Trần Sào nghe xong vẫn im lặng. Lúc ra đến kinh đô, vào trường thi các môn múa côn, quyền, nhấc kẽm, bắn cung, nhảy ngựa, Trần Sào đều được vượt qua các thí sinh một cách dễ dàng. Đến khi thi giao đấu với các thí sinh, đường nét côn, quyền, đao, kiếm của Trần Sào làm quan giám khảo chú ý. Cuối cùng quan giám khảo trường thi bước ra đấu trường nói với Trần Sào:

- Ngươi thường ngày giỏi về quyền hay roi?

- Bẩm quan, võ kinh có câu: "Xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị", phép đánh nhau không thể nói trước giỏi về môn gì, chỉ lúc lâm trận mới phân cao thấp được.

Quan giám khảo nghe Trần Sào đối đáp hợp lý nên cũng có ý mến tài nói:

- Ta muốn thử đấu roi với ngươi. Nếu ngươi đụng được vào vạt áo dài của ta, kể như ngươi đã thắng.

Trần Sào cung tay vái dài một cái nói:

- Cuối hiệp đấu thứ hai, xin quan lớn lưu ý giữ phía sau.

Hai người lui lại, đồng sử dụng roi dài hai mươi mốt thước mộc để giao đấu. Đầu của cả hai đối thủ bỗng xoay vù vù và đâm vào nhau liên tục. Nhưng cả hai người vẫn giữ được tư thế đứng yên tại chỗ. Sang hiệp hai, thân rồi hai bên xoắn tròn vào nhau, nghe vang từng tiếng chát chúa. Được một lúc, cây roi dài trong tay quan giám khảo bỗng bị bay vút ra xa. Quan giám khảo vội lạng mình sang bên tránh, lập tức vạt áo dài phía sau bị đầu roi của Trần Sào cắt đứt lìa, rơi xuống đất. Trần Sào cung tay xá dài nói:

- Tôi sơ ý thất lễ xin quan lớn tha cho!

Quan giám khảo vui vẻ nói với quan tiền quân họ Võ:

- Lời ngài tiền quân không sai. Roi, quyền ở đất Bình Định xưa nay quả "danh bất hư truyền".

. Theo Văn hóa Bình Định

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:00:32 pm »

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.

Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:

1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm
Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.

Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.

Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.

Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn
Dân tộc ta có truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với "chủ cũ" đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.

Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.

3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa

Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân "đất võ". Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. "Tâm đạo" là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn "Tà đạo" là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:

- Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.

- Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.

- Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo "chính đạo".

- Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.

- Không khoe mình, chê người.

- Không có tư tưởng thắng thì làm "vua", thua thì làm "giặc".

Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân...

Người xưa thường nói: "Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan" - người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải "chọn mặt gửi vàng", phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.

Mỗi bài tập đều có phần "lễ Tổ" và "bái Tổ". Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ "Tín" ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra "bán" theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức - đó là "nghĩa". Còn "hiệp", "dũng" là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.

Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người "dưới ngựa" hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.

Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.

Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:05:48 pm »

1. Vận dụng học thuyết âm dương

Võ cổ truyền Bình Định vận dụng học thuyết âm dương của triết học phương Đông làm cơ sở lý luận cho dòng võ của mình.

Học thuyết âm - dương được nhiều ngành khoa học vận dụng như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học ứng dụng, và cả y học cổ truyền dân tộc. Qua mạch trầm bổng, mạnh yếu mà các nhà y học chẩn đoán bệnh tật, ra toa bốc thuốc có hiệu nghiệm. Võ học các nước phương Đông, trong đó có võ cổ truyền Bình Định vận dụng học thuyết âm dương theo sắc thái riêng của nó.

Vũ trụ (thái cực) là một thể thống nhất gồm hai phần âm và dương, hoạt động theo nguyên tắc đối nhau mà sinh ra ngày và đêm do vòng quay của trái đất trong thái dương hệ, ngày là dương, đêm là âm. Trong quá trình vận chuyển có điểm giao nhau. Từ đó sinh ra hiện tượng, trong thái dương có thiểu âm, rồi ngược lại trong thái âm có thiểu dương. Thể này mang mầm mống của thể kia, thể kia có mầm mống của thể này. Nguyên lý này được vận dụng trong võ học và thể hiện ở tính chất "cương và nhu".

Trong võ thuật, cương, nhu kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn thì bài võ, thế võ mới phát huy hết tác dụng và đem lại hiệu quả cao.

Ví dụ: Khi ta muốn đấm mạnh thì thường dùng nắm đấm sấp "mãnh hổ thôi sơn", ít khi dùng nắm đấm ngửa bàn tay để đấm vì không mạnh. Khi ta muốn chặt mạnh thì dùng ngửa bàn tay (là âm) để thực hiện, không ai dùng sấp bàn tay để chặt "Cương đao phạt mộc".

Tính chất này vận dụng vào võ thuật rất quan trọng, lúc nào tấn công thì ra đòn mạnh, lúc nào lui về thế thủ thì nhẹ nhàng, uyển chuyển, linh hoạt để né tránh đòn của đối phương. Rồi từ thế thủ chuyển sang thế tấn công ra đòn liên tiếp để hạ đối phương.

Còn thái cực lại sinh ra hai thế tương phản là "lưỡng nghi" mà ta thường gọi là âm-dương. Từ đó tạo thành bốn hiện tượng (trí tượng): "Thái âm", "Thiểu dương", "Thái dương", "Thiểu âm". Bốn hiện tượng ấy lại giao nhau sinh ra tám quẻ gọi là "bát quái". Bát quái là tám con vật chỉ rõ tám hướng, được võ cổ truyền Bình Định vận dụng làm cơ sở lý luận cho bộ ngựa của mình. "Lưỡng túc bát quái vi căn" hay còn gọi là "tấn pháp". Tám quẻ là cụ thể hóa vạn vật biến thiên trong vũ trụ. Bát quái gồm: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Mỗi quẻ tượng trưng cho một con vật, mà mỗi con vật là một bộ ngựa của võ Bình Định như: Long Tấn, Xà Tấn, Phụng Tấn, Kê Tấn, Nhạn Tấn, Hổ Tấn, Hạc Tấn, và Hầu Tấn, còn gọi là "bát quái pháp".

Thái cực chỉ có một động và một tĩnh mà phân ra âm-dương nhị khí. Âm-dương có tính "tương sinh" và "tương khắc". Khi dương động thì âm tĩnh, mà âm tĩnh thì tích tụ. Trên cơ sở nguyên lý này, âm-dương sinh ra ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. "Song thủ ngũ hành vi bản" là cơ sở võ lý cho bộ tay của võ cổ truyền Bình Định mà người ta thường gọi là "ngũ hành pháp".

Thuyết âm-dương áp dụng vào võ thuật rất lợi hại, nếu biết vận dụng và kết hợp hài hòa thì phát huy cao độ tác dụng của đòn thế võ. Chúng ta hãy quan sát bước đi của con người thì thấy rõ: Động tác tay chân luôn luôn có sự tương phản. Ví dụ: Khi chân trái bước tới trước thì chân phải bước ra sau và ngược lại. Đồng thời, lúc này tay phải đánh ra trước thì tay trái phải đưa ra sau và ngược lại. Không bao giờ có sự trùng lặp chân trái và tay trái cùng đưa ra trước một lần. Tại sao vậy? Đó là hiện tượng âm-dương tương phản để tạo thế cân bằng cho cơ thể.

Trong võ thuật, người võ sĩ cần nắm vững và áp dụng thuyết âm-dương vào cách di chuyển bộ ngựa trong luyện tập và thi đấu. Ví dụ: Khi đứng ngựa trung bình tấn thì trọng tâm có thể rơi vào giữa hai chân. Phía trước mặt là dương, phía sau lưng là âm. Như vậy bộ tay ra đòn tấn công và phòng thủ ở phía trước mặt là tốt nhất, rất hạn chế ra đòn về phía bên trái (hướng âm), phía bên phải"hướng dương", vì phải xoay người về hai hướng đó không tiện. Khi ta di chuyển chân trái về phía trước mặt, chân phải lùi về phía sau để tạo thành ngựa chữ Đinh (J). Lúc này đã thay đổi hướng, phía bên phải là hướng "dương", phía bên trái là hướng "âm", tức là mở rộng đường vòng của hướng "dương". Như vậy các đòn thế đều tung về phía bên phải (hướng dương) rất lợi. Đặc biệt, có thể sử dụng đòn đánh lật lưng để thuận tiện. Ngược lại, nếu di chuyển chân trái về phía bên trái, chân phải về phía bên phải tạo thành ngựa chữ Đinh (J), bên trái (hướng âm). Lúc này, bộ tay ra đòn đều đánh theo hướng trước mặt và bên phải (hướng dương), hầu như không được ra đòn về hướng âm vì tư thế con người và kỹ thuật chuyên môn của võ thuật không cho phép.

Người xưa đã dạy rằng: Học võ không phải để biết một hai bài võ, hay biết một số đòn thế là đủ. Mục đích của học võ là phải nắm vững võ lý, võ đạo, võ thuật và cả võ y. Phải luyện tập thường xuyên, khắc khổ, chịu khó, kiên trì tập luyện theo đúng phương pháp, dưới sự chỉ dẫn của võ sư. Quá trình luyện tập là quá trình tiêu hao năng lượng, đồng thời cũng là quá trình tích tụ tăng cường thể lực, nâng cao sức đề kháng và sức khỏe. Cơ thể có khỏe mạnh thì tinh thần mới minh mẫn, thì mới xử lý nhanh chóng, kịp thời các tình huống xảy đến. Thân thể tráng kiện mới đủ sức lục tung ra những thế đòn sắc bén và quyết định.

Đối với con nhà võ, đôi chân, bộ tay là vũ khí chủ lực để tập luyện và đánh trả đối phương, biết vận dụng, biết dựa vào sự hóa sinh của thuyết "âm-dương". Đó là: Tấn pháp trong bát quái, thủ pháp trong Ngũ hành. Luyện được thuần thục hai phương pháp này là tạo cơ sở tốt để phát triển bộ chân và bộ tay (lưỡng chi). Vì trong tấn pháp (bát quái) và thủ pháp (ngũ hành) có sự cấu tạo của hai phương diện ngoại công và nội công.

Tập ngoại công là tập thao tác của từng thế võ, tập sức chịu đựng bên ngoài, tập thể hình cường tráng. Tập nội công là tập cách phối hợp, điều hơi vận khí, nhuyễn khớp, tăng cơ tạo sức mạnh từ bên trong cơ thể.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:06:53 pm »

Trong các dòng võ nước ngoài du nhập vào Việt Nam nói chung, Bình Định nói riêng bằng nhiều con đường, nhiều dạng khác nhau, thì dòng võ Thiếu Lâm Tự (Trung Hoa) là nổi bật nhất.
Những thương nhân người Hoa, những nghĩa sĩ của các tổ chức phản Thanh phục Minh như: Thiên Địa hội, Bạch Liên giáo, Trung Nghĩa đoàn, Nghĩa Hòa đoàn… khi đến Bình Định mua bán, mở trường dạy võ đã trao đổi, học hỏi và giao lưu với võ cổ truyền Bình Định. Tiêu biểu nhất là hai dòng họ Lý và họ Diệp.

Lần tìm về cội nguồn võ thuật Trung Hoa, người ta hay đề cập đến Bắc phái và Nam phái, lấy dòng sông Trường Giang làm ranh giới. Võ phái phía bắc như vùng Sơn Đông, Hà Bắc… thiên về sự nhanh nhẹn, dũng mãnh, đánh trong diện rộng và thoáng. Ngược lại, Nam phái thiên về sự kín đáo, gọn gàng, có âm hưởng của thuật khí công, đòn thế thường phát triển ngắn, chú trọng đến kỹ thuật nhào lộn, tránh né, phù hợp với địa thế hẹp trong phòng nhỏ, đường hẻm…

Trong cuốn "Lược khảo võ thuật Trung Hoa", nhà nghiên cứu Từ Triết Đông cho biết: "Nam phái có các phái võ tiêu biểu như Thái Cực quyền, Bát Quái quyền, Hình Ý quyền… Còn Bắc phái đứng đầu là Thiếu Lâm, sau đến Tra Quyền, Bát Phiên, Trường Quyền, Địa Đường, Bát Cực… Sau này các môn võ thường ảnh hưởng lẫn nhau nhưng vẫn còn có khái niệm Bắc phái, Nam phái trong cùng một môn phái như: Thiếu Lâm Bắc phái chú trọng về các đòn (cước); còn Thiếu Lâm Nam phái chủ yếu về các đòn tay (quyền) bởi vậy mới có câu "Nam quyền, Bắc cước".

Võ thuật Trung Hoa thật ra đã du nhập vào Bình Định khá sớm. Sự có mặt của các viên tướng võ nghệ cao cường như: Tập Đình, Lý Tài (người Trung Hoa) chiến đấu trong hàng ngũ quân Tây Sơn là một bằng chứng.

Từ nửa đầu thế kỷ XIX dòng họ Lý, đứng đầu là ông tổ Lý Hùng từ tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) tìm đến vùng đất Tuy Phước để sinh cơ lập nghiệp và mở trường dạy võ, sau đó lại dời đến vùng đất Đập Đá - An Nhơn. Sau đó, Lý Hùng qua đời, các con cháu từ Lý Xuân Mưu, Lý Văn Hân, Lý Xuân Kinh đến Lý Xuân Tạo, Lý Xuân Hỷ, Lý Thành Nhân… đều nối nghiệp võ và đã đào luyện hàng trăm võ sư, võ sĩ qua các thế hệ, trong đó có nhiều võ sĩ đạt thành tích vô địch quốc gia. Võ sư Lý Xuân Tạo là một trong những võ sư góp phần quan trọng để sáng lập Hội võ thuật năm 1972 ở Bình Định. Hiện nay, các võ sư dòng họ Lý tiếp tục đào tạo các võ sĩ, võ sinh góp phần xây dựng vững chắc cho phong trào võ thuật của huyện An Nhơn.

Tiếp theo sau dòng họ Lý có dòng họ Diệp từ Trung Quốc đến định cư buôn bán và mở trường dạy võ ở vùng An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn). Đứng đầu là võ sư Diệp Trường Phát, tự Thoại Chi, tục danh Tàu Sáu. Ông sinh năm 1896 tại An Thái, Nhơn Phúc, cha là người Trung Hoa, mẹ là người Minh Hương.

Năm 13 tuổi ông được song thân cho về Trung Quốc học cả văn lẫn võ. Sau đó ông sang Hồng Kông học thêm võ nghệ. Sau 15 năm ông trở về An Thái, mở trường dạy võ và đã góp công đào tạo nhiều người nổi tiếng trong vùng như Chín Kỳ, Năm Tường, Phó Tuần Chẩn, Ba Phùng. Cùng các thế hệ tiếp theo có Quách Cang, Diệp Bảo Sanh (con ông Diệp Trường Phát), Tạ Cảnh Thâm…Võ sư Diệp Trường Phát và võ sư Hồ Nhu là hai cao thủ võ lâm lúc bấy giờ, đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi võ nghệ và kết quả cuối cùng phần thắng môn roi thường thuộc về Hồ Nhu, còn về quyền thuộc về Diệp Trường Phát.

Từ đó, Hồ Nhu mến phục tài của Diệp Trường Phát và đề tặng: "Thú vũ An Thái ngã vô song" (tức: Tay quyền An Thái không có hai). Và Diệp Trường Phát cũng rất kính nể đường roi tuyệt kỹ của Hồ Nhu nên tặng lại: "Đoản côn Thuận Truyền duy hữu chủ" (tức: Đòn roi Thuận Truyền chỉ có một).

Ngoài võ ra, Diệp Trường Phát còn là một lương y đã góp phần cùng các võ sư, danh y ở Bình Định thừa kế, sáng tạo nhiều bài thuốc võ gia truyền hoặc điều trị theo phương pháp bấm huyệt, xoa bóp không cần dùng thuốc.

Từ những năm đầu thế kỷ XX, vùng đất An Thái và xa hơn nữa là các huyện An Nhơn, Tây Sơn, Tuy Phước, phong trào võ nghệ đã phát triển khá mạnh, trong đó có một phần đóng góp không nhỏ của võ sư Diệp Trường Phát. Theo tiến sĩ Mai Văn Muôn (Phó chủ nhiệm Ủy ban TDTT): Công tâm mà xét, Tàu Sáu đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa võ thuật lâu đời của cả vùng rộng lớn An Thái - An Vinh - Thuận Truyền - Kiên Mỹ - Cảnh Hàng - Vân Sơn - Háo Lễ - Văn Quang - Nước Mặn - Hữu Phát - Kỳ Sơn… vì nó có cùng gốc gác là võ Bình Định - Tây Sơn nửa sau thế kỷ XVIII, góp phần hình thành hệ thống quyền thuật của môn phái khá chặt chẽ, được xây dựng dựa trên 4 bộ chính: Hổ quyền, Long quyền, Hầu quyền và Xà quyền. Trong đó, Hổ quyền và Long quyền thuộc Ngạnh công, được coi là nền tảng. Hầu quyền và Xà quyền thuộc Nhu công và Miên công, là phần xuất sắc cao diệu chỉ được truyền thụ khi đã luyện qua Hổ quyền và Long quyền.

Có thể nói đây là hai dòng họ tiêu biểu của các võ sư có gốc gác người Trung Quốc đến định cư ở Bình Định đã góp phần bồi đắp và làm phong phú thêm truyền thống võ cổ truyền Bình Định.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:09:42 pm »

Từ bao đời nay, vùng đất Bình Định được mệnh danh là "cái nôi" của nền võ học chân truyền Việt Nam. Nơi đây đã tụ hội và sản sinh ra bao lớp anh hùng, hào kiệt, võ sư, võ sĩ nổi tiếng, được truyền thụ từ đời này sang đời khác, góp phần khẳng định và đánh dấu bước ngoặt lịch sử các quá trình tạo dựng, kế thừa và phát triển dòng võ cổ truyền Bình Định.
Điểm xuất phát của nó chính là sự ra đời của các vùng đất võ như: An Vinh, An Thái, Thuận Truyền, vùng đất căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn như: Ấp Tây Sơn, Tây Sơn thượng đạo, Tây Sơn hạ đạo, khu Trường võ, khu Gò kho, Thành Hoàng đế đến vùng núi Hoàng Trưng, vùng sông Côn, Truông Mây, thành Bình Định...

Ở mỗi vùng, mỗi địa danh đều có sự gắn kết, quần tụ và sản sinh ra các dòng tộc, các môn phái, các dân tộc, có nhiều võ sư, võ sĩ mà tên tuổi và sự nghiệp của họ mãi mãi gắn liền với truyền thống thượng võ của quê hương Bình Định.

Mỗi môn phái đều có đặc điểm riêng, có bàn thờ sư tổ, có quy định tuyển chọn môn sinh, và có các điều nên làm và không nên làm với môn sinh. Nội dung võ theo gia truyền được truyền dạy theo quy định của môn phái: môn gì được dạy rộng rãi, môn nào lưu truyền trong môn phái, môn gì không được dạy. Có những võ sư đến tận trước lúc qua đời mới chịu dạy đòn bí truyền cho con mình.

Những bài võ gia truyền từ đời này sang đời khác, tuy điều kiện lịch sử có đổi thay, có võ sư qua đời đột ngột không kịp truyền dạy cho con cháu, nhưng nhờ các gia phả bí truyền, các bài thiệu còn giữ lại mà môn phái tiếp tục phát triển. Tuy có động tác thiếu hoặc thừa, lời thiệu có khi thất lạc hoặc rách nát một số chữ, nhưng nói chung vẫn giữ được tính chất và sự độc đáo của võ cổ truyền Bình Định.

Càng về sau, nhất là từ năm 1930 trở lại đây, Bình Định lại xuất hiện thêm nhiều môn phái cổ truyền. Ngoài những bài võ gia truyền, các võ đường cạnh tranh với nhau, đua nhau dạy những đòn thế, cải tiến phương pháp giảng dạy với mục đích bảo vệ môn phái và "hạ đài" được đối phương. Lúc này, võ mang tính chất đối kháng, đánh nhau có kẻ thắng người thua (võ đài), nên mất dần đi tính chất của nó.

Sau đây là một số dòng tộc tiêu biểu:

1.  Dòng tộc họ Trương
Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ thứ XVII (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay.

Theo gia phả của dòng tộc để lại thì dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ.

Các đời sau này có ông Trương Đức Huyên - tự Lương Thành, làm chức quan Câu Đương nước Đại Việt, sinh năm Ất Sửu, mất năm Ất Hơi, thọ 71 tuổi. Ông Huyên là ông nội của ông Trương Đức Giai, thi đậu cử nhân cùng một lúc cả văn lẫn võ và làm quan dưới triều Nguyễn Gia Miêu, sau đó đến ông Trương Đức Lân, Trương Trạch... đều đỗ cử nhân võ, trong đó ông Trương Trạch chính là thầy dạy võ cho ông Trương Thanh Đăng, sau này làm chưởng môn phái Sa Long Cương (một trong những môn phái có ảnh hưởng lớn ở Nam Bộ). Theo ông Trương Quang Miễn, tộc trưởng của tộc họ Trương và căn cứ bài vị thờ ông Trương Đức Giai tại từ đường, thì chính ông Giai là người biên soạn tập sách võ này trước khi thi đỗ cử nhân cả văn lẫn võ. Ngoài tập sách võ còn có cả gia phả ghi lại công đức và sự nghiệp của các thế hệ dòng họ Trương, nhưng đến nay đã thất lạc, chỉ còn lại phần đầu tập sách võ, gồm 26 trang trong đó chép 15 bài thiệu bằng chữ Hán, 2 bài thiệu bằng chữ Nôm còn các trang tiếp theo đã bị mất hoặc bị rách nát không còn thấy chữ. Các bài còn lại được viết theo thể thơ, được thờ cùng các bài vị của ông tổ dòng họ Trương và được dòng tộc trân trọng thờ tự, gìn giữ như một báu vật thiêng liêng trong đó có một số bài chưa truyền bá trong dân gian, cụ thể:

1. Ngũ thảo môn

2. Trực chỉ thảo

3. Ô du thảo

4. Quyền thảo

5. Đằng bài thảo

6. Siêu đao thảo (dài 8 câu, 54 chữ, chưa kể một số chữ bị rách mất)

7. Trường kiếm thảo

8. Tam thế đằng bài thảo

9. Siêu đao thảo (dài 18 câu, 74 chữ)

10. Long đao thảo (dài 11 câu, 77 chữ)

11. Long đao thảo (dài 8 câu, 56 chữ)

12. Song kiếm thảo

13. Song phũ thảo

14. Quyền thảo

15. Tam thế côn thảo

16. Trường thôn diễn quốc âm ca

17. Thập ngũ thế côn pháp

Trong số các bài thảo trên có một số bài trùng tên với các tư liệu đã sưu tầm và phát hiện ở các huyện trong tỉnh Bình Định. Điều đó cho thấy các bài thiệu phần nhiều đều xuất xứ từ các vùng đất có truyền thống võ thuật lâu đời của Bình Định, cụ thể như bài "Ngũ môn thảo", "Trực chỉ thảo", "Long đao thảo", "Ô du thảo"...

2. Dòng tộc họ Đinh
Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con là Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm.

Ông Đinh Văn Diệm thì theo nghiệp bút nghiên, còn ông Đinh Văn Nhưng thì lại theo đời cung kiếm.

Ông Nhưng đã cùng vợ mở trường dạy võ, học trò các nơi nghe tiếng ông đến xin học rất đông, trong số đó có 3 người tên là Thơm, Lữ và Dũng. Nhưng chỉ có Thơm (Hồ Thơm) là tướng mạo khác thường, trán cao, mũi thẳng, mắt sáng, mày dài, cằm vuông đi đứng uyển chuyển, hình vóc vạm vỡ, sức lực tiềm tàng, mạnh mẽ, trí tuệ thông lạ thường, học đâu nhớ đó, nên thầy Đinh Văn Nhưng rất thương và nhận làm con nuôi.

Sau 4 năm ăn học, chỉ có Thơm là giỏi nhất, võ nghệ tinh thông, siêu quần. Lúc thôi học, thầy Nhưng có tặng Thơm quyển "Binh pháp Tôn Ngô" mà trước kia thầy Nhưng đã được thầy của mình tặng.

Khi phong trào khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, ông Đinh Văn Nhưng đã giúp nhiều lương thực cho nhà Tây Sơn để tiêu diệt Trương Thúc Loan, một quyền thần gian ác của Chúa Nguyễn Phúc Thuần. Mỗi lần đem lương thực đến giúp nhà Tây Sơn, ông thường đi bằng kiệu khiêng, hai bên che du du (cây lọng, rợp rạ), dân chúng môn đệ theo ông rất đông và mang theo cả cào cỏ, cuốc, thuổng, xẻng, mỏ gãy, vồ vồ, đao, rựa... (đây là những công cụ lao động rất gần gũi, gắn bó với nông dân và cũng chính là những môn binh khí rất lợi hại mà ông đã truyền dạy cho các môn đệ).

Khi vua Quang Trung lên ngôi, ông được phong tước: Điện Tiền Đại Đô Đốc Tả Thân Vệ Úy; hàm: Thái Phó; tước: Sanh Sơn Bá. Mỗi năm được về triều vua một lần nhưng "nhập triều bất bái" (có lẽ ông vừa là thầy, vừa là cha nuôi của nhà vua nên vào triều không phải bái lạy Hoàng đế Quang Trung).

Ông Đinh Văn Nhưng (tên thường gọi sau này là ông Chảng) có hai người con tên là Đinh Văn Thành (con bà cả), và Đinh Quý Lang (con bà thứ). Ông Thành sinh các con là: Đinh Viết Mỹ, Đinh Viết Thừa... ông Lang sinh các con là: Đinh Lưu, Đinh Triệu, Đinh Thuần... Sinh thời ông Đinh Văn Nhưng tướng mạo trông rất uy lực, tính tình ngay thẳng, khẳng khái, sống giản dị, yêu nước, thương người, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, nhưng cũng rất ngang tàng.

Theo bảng tông đồ Đinh tộc (dòng họ Đinh) thì đến nay đã trải qua 11 đời, gồm 8 phái ở rải rác nhiều nơi, nhưng tộc chính vẫn là: thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định, thuộc phái của ông Đinh Văn Diệm. Hiện nay, tại thôn Bằng Châu, Đập Đá còn từ đường dòng họ Đinh, ông Đinh Văn Mỹ, sinh năm 1946, là cháu đời thứ 10 (thuộc chi 2, phái 1) và ông Đào Duy Thu, sinh năm 1945 thuộc chi 2, phái 3 của dòng họ Đinh thờ tự và cũng giống như các công thần của thời Tây Sơn, hầu hết các tài liệu, hiện vật của ông bị tiêu hủy sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi.

Nhưng rất may mắn, trong quá trình truy tìm các tư liệu, Sở TDTT Bình Định đã phát hiện được một tập tư liệu cổ, do võ sư Phan Thọ, ở thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, (là môn đệ của võ sư Bảy Lụt, Đinh Hề ở An Vinh) cung cấp.

Tư liệu dày 18 trang, gồm 3.260 chữ, được viết bằng loại giấy bắc (giấy cổ), khổ giấy 12cmx12cm, trong đó có 18 bài thiệu võ, chủ yếu viết về quyền và binh khí do ông Đào Thống ký tên (theo bảng tông đồ họ Đinh, ông Đào Thống thuộc dòng tộc Đinh) vì thời ấy dòng họ này khi sống thì lấy họ Đào, còn khi chết thì sẽ trở về họ Đinh "sinh Đào, tử Đinh" nên tập tư liệu này rất có nhiều khả năng là của dòng họ Đinh còn sót lại.

Trong số 18 bài thiệu, có 2 bài Trương Phụng Hoàng thảo pháp và bay thảo pháp (bài 12 và 13) được viết bằng chữ Nôm, còn các bài khác đều viết bằng chữ Hán, cụ thể:

Bài 1: Ngũ môn pháp

Bài 2: Ô du thảo pháp

Bài 3: Thiền sư thảo pháp

Bài 4: Tứ hải giai huynh đệ thảo pháp

Bài 5: Tam phân thế

Bài 6: Bị rách mất tên đầu đề bài thảo

Bài 7: ...biến bách (mất phần đầu)

Bài 8: Thần nhân biến bách thế

Bài 9: Tấn hưng thảo pháp

Bài 10: Thần đồng thảo pháp

Bài 11: Linh ngũ thảo pháp

Bài 12: Trương phụng hoàng thảo pháp

Bài 13: Én bay thảo pháp

Bài 14: Song thủ thảo pháp

Bài 15: Xung thiên thảo pháp

Bài 16: Phụng hoàng oanh thảo pháp

Bài 17: Lão mai thảo pháp

Bài 18: Thái Sơn thảo pháp

Tập tư liệu này có một số bài trùng tên với tư liệu được phát hiện ở dòng họ Trương (Phù Mỹ) và của võ sư Nguyễn Văn Đấy - cháu Hồ Hành, được nhân dân tôn vinh là Hồ Hành Hổ, người có võ công uyên thâm, nổi tiếng đả hổ, cứu người ở vùng đất Bồng Sơn, Hoài Nhơn - cung cấp, cụ thể như các bài: Ngũ môn pháp, Ô du thảo, Song phú thảo pháp, Thái Sơn thảo pháp, Lão mai thảo pháp, Ngọc Trản... Ngoài ra, có một số bài do để lâu năm nên bị mục nát, mất chữ không dịch được và còn sót lại quá ít đã là một thiệt thòi lớn cho công việc bảo tồn, lưu truyền các tư liệu gốc của võ cổ truyền Bình Định trong tương lai.

. Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:12:58 pm »

1. Môn phái tiêu biểu của vùng đất An Thái
Vùng đất này thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn (giáp ranh huyện Tây Sơn). Chính nơi đây một thời từng là cửa ngõ giao thương buôn bán, đông đúc, tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thổ sản nhờ thuyền bè đi lại dọc theo sông Côn hiền hòa, nối liền với các vùng phụ cận. Ở đây nổi tiếng các đặc sản như: Bún Song Thằn (Song Thần), tơ, lụa, nghề nhuộm the.

Đặc biệt kể từ khi có thầy Trương Văn Hiến từ đàng ngoài vào đây mở trường dạy văn, dạy võ ở thôn Thắng Công, nhiều sĩ phu yêu nước, trai, gái trong vùng đua nhau học võ. Trong số học trò của thầy giáo Hiến có ba anh em nhà Tây Sơn, đã tạo nên diện mạo mới ở vùng đất An Thái - Thắng Công, bên bờ hữu ngạn sông Côn, biến nơi đây thành trung tâm truyền bá võ học có ảnh hưởng rộng lớn trong vùng. Từ đó, xuất hiện nhiều võ sư nối tiếp nhau như: Lâm Hữu Phong, Lâm Đình Thọ (tức Hương Kiểm Lài), bà Sáu Sanh, Ba Phùng, Phó Tuần Chẩn, Chín Kỳ, Tám Lẽo, Diệp Trường Phát (Tàu Sáu)... trong đó tiêu biểu có môn phái dòng họ Lâm.

Môn phái này được hình thành và phát triển lâu đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào võ thuật ở vùng đất An Thái.

Đứng đầu môn phái là võ sư Lâm Hữu Phong, sinh năm 1855 tại thôn Thắng Công, xã Nhơn Phúc. Sinh thời, ông đã có công truyền bá và đào tạo nhiều võ sinh ưu tú và đặt tên cho võ đường của mình là võ đường Bình Sơn để khẳng định võ Bình Định - Tây Sơn. Trước khi qua đời ông đã truyền lại cho con là võ sư Lâm Đình Thọ (tức Hương Kiểm Lài), sinh năm 1895, và để nối nghiệp, ông Thọ cũng đã truyền nghề lại cho hai người con của mình là võ sư Lâm Ngọc Lài và võ sư Lâm Ngọc Phú. Hiện nay, ông Lâm Ngọc Phú vẫn tiếp bước ông cha mở trường dạy võ ngay trên mảnh đất giàu truyền thống thượng võ, góp phần bảo tồn, gìn giữ vốn quí của dân tộc.

Ngoài ra, đến đầu thế kỷ XVIII, người Hoa cũng tìm đến đây để định cư buôn bán và mở trường dạy võ, tiêu biểu có môn phái dòng họ Diệp (Diệp Trường Phát) tục danh thường gọi là Tàu Sáu, đã góp phần làm cho võ "Ta" và võ "Tàu" ở An Thái ngày thêm khởi sắc và phong phú. Sau này (vào khoảng năm 1925) lễ hội "Đỗ Giàn" ở đây cũng được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, tạo nên sự kích thích đua tài của các môn phái võ trong vùng. Đây cũng chính là lễ hội dân gian độc đáo riêng có của vùng đất An Thái.

2. Môn phái tiêu biểu của vùng đất An VinhAn Vinh nằm bên bờ tả ngạn sông Côn, thuộc huyện Tây Sơn, đối diện với thị tứ An Thái ở bờ bên kia sông, quanh năm xanh mát, đất đai màu mỡ do phù sa của con sông Côn bồi đắp. Đời sống kinh tế có phần sung túc nên nạn cướp luôn đe dọa, nhiều người cần phải học võ, nhất là các nhà khá giả, địa chủ, phú hộ. Từ đó, các môn phái võ được ra đời, đứng đầu trong giới võ có võ sư: Nguyễn Ngạc (tức Hương Mục Ngạc), Khiển Phạm, Năm Nghĩa, Hương Kiểm Cáo (con trai Hương Mục Ngạc) đến Bảy Lụt, bà Tám Cảng, Đội Sẻ, Đinh Hề (Hương Kiểm Mỹ), Ba Thông, Tuần Sửu, Sáu Hà, Bốn Mỹ… đã cùng nhau tạo dựng được những thế mạnh của mình với những đường quyền hiểm hóc và được lưu truyền đến mãi ngày nay. Một trong những trụ cột của vùng đất An Vinh phải nói đến dòng họ Nguyễn (Nguyễn Ngạc). Ông sinh năm 1850 trong một gia đình có võ nghệ cao cường, chính ông là người đứng ra thành lập môn phái và chọn cho mình một hướng đi riêng. Từ nhỏ ông đã chuyên tâm nghiên cứu về môn quyền thuật, vì theo ông quan niệm: Quyền chính là cái gốc của võ, hơn nữa lúc bấy giờ ở đất Thuận Truyền có đường roi tuyệt kỹ của Hồ Nhu thì An Vinh phải bá chủ về quyền. Trong dân gian có câu: "Roi tiên, quyền tiếp" nhằm khẳng định sự lợi hại, mối quan hệ liên hoàn và hỗ tương của nó.

Môn phái này đã truyền thụ cho hàng trăm môn đệ ở khắp nơi. Sau khi ông Ngạc qua đời, các con cháu của ông lần lượt giữ vai trò chưởng môn và thu nhận nhiều môn sinh, gây được tiếng vang và có ảnh hưởng rộng lớn trong vùng, tiêu biểu có võ sư: Bảy Lụt, bà Tám Cảng, Chín Giác đến các con của Bảy Lụt như: Nguyễn Tiếp, Nguyễn Thiếp… đều là những võ sư nổi tiếng đã cùng dòng tộc vun đắp môn phái của mình ngày càng đơm hoa kết trái.

3. Môn phái tiêu biểu ở vùng đất Thuận Truyền Vùng đất Thuận Truyền nằm cách An Vinh khoảng 15 km về phía Tây Bắc của huyện Tây Sơn (trước đây gọi là Tổng Thuận Truyền), ở phía đông thuộc làng Hòa Mỹ, đứng đầu là môn phái dòng họ Hồ (Hồ Triêm); ở phía tây thuộc làng Thuận Truyền đứng đầu có môn phái dòng họ Trần và ở phía bắc thuộc làng Mỹ Thạch có môn phái dòng họ Phan án ngữ.

Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, giáp ranh với vùng rừng núi (Núi Hòn Trưng, Núi Thơm), đất đai cằn cỗi, dân cư thưa thớt, nạn thú dữ, cướp bóc hoành hành, những người sống ở đây phải là những người biết và giỏi võ. Nhiều môn phái, nhiều võ sư, võ sĩ lần lượt xuất hiện, từ Hồ Triêm, Lê Thị Quỳnh Hà, Cai Quên cho đến Hồ Nhu, Xã Trấp, Hồ Cường (Cả Đan), Xã Nung… nhưng "bá chủ" vùng này vẫn là môn phái dòng họ Hồ. Đứng đầu là Hồ Triêm (Đốc Năm), sinh năm 1843, tại Hòa Mỹ, Tổng Thuận Truyền (nay là Bình Tân, Tây Sơn) đã cùng với vợ là bà Lê Thị Quỳnh Hà (sinh năm 1850), cả hai người đều rất giỏi cả văn lẫn võ, đặc biệt là bà Quỳnh Hà đã dày công khai sáng ra môn phái họ Hồ lừng lẫy một thời. Ông bà sinh ra được 10 người con đều theo nghiệp võ của cha và mẹ, trong đó có võ sư Hồ Nhu (con thứ 9 trong gia đình) tên thường gọi là Hồ Ngạnh - gọi theo tên con.

Ông Nhu có năng khiếu bẩm sinh, đặc biệt là môn roi nên sớm nổi tiếng về roi, không những trong tỉnh mà còn lan truyền đến các tỉnh lân cận. Ông thường sử dụng roi chiến (tề mi) đánh cả hai đầu. Đặc biệt roi Hồ Nhu thường đánh nghịch, lấy nghịch chế thuận, vận dụng triệt để phép âm-dương và khi bị đối phương tấn công thì không đỡ mà lượn theo ngọn roi của đối phương để trả đòn, để đánh hạ đối thủ. Khi nghe đến ngọn roi chiến "xuất quỷ, nhập thần" có một không hai của ông ai nấy đều thán phục. Sau này ông tiếp tục truyền lại cho con cháu và môn phái của mình từ Xã Nung, Xã Thọ, Bộ Lâm, Huỳnh Xuyến, Dư Đính, Hồ Cừu, Hồ Tuyền đến Lê Thành Phiên, Nguyễn Song Bá, Hồ Sừng… nhưng đến nay không một ai còn gìn giữ nguyên bản đường roi tuyệt kỹ của ông nữa. Ông Nhu sinh năm 1886 và mất ngày 6-2-1976.

Dân gian có câu:

Trai An Thái, gái An Vinh

Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh

Cân truyền tụng này không phải là sự phân chia, cát cứ, hay đối nghịch hiềm khích giữa vùng này và vùng khác, giữa dòng tộc môn phái này với dòng tộc môn phái khác mà muốn nói lên tính quần chúng sâu sắc, võ nghệ không chỉ dành riêng cho đấng nam nhi mà ngay cả phái yếu cũng theo đời cung kiếm. Đồng thời khẳng định thế mạnh những nét độc đáo riêng của từng vùng, từng môn phái để rồi hòa quyện, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp, muôn màu muôn vẻ của võ cổ truyền Bình Định.

. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định
Ái Za, SCC thuộc môn phái nào chắng biết, nhưng gia tộc truyền lại rằng Ngón võ roi nhà ta là Vô địch Bình định võ. Kaka

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:20:15 pm »

Ở đất Bình Định, ai mà chẳng nghe câu: "Roi Thuận Truyền, quyền An Thái" hoặc "Trai An Thái, gái Thuận Truyền". Câu nói ấy thể hiện một đặc điểm của An Thái, ấy là một lò võ lớn nổi tiếng của miền quê này. Trai gái đều giỏi giang võ thuật như nhau.

An Thái gồm 7 thôn lớn và một thị tứ, thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn. Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng trồng lúa, trồng mía, kéo mật làm đường và các nghề thủ công như dệt vải lụa, nhuộm the và buôn bán nhỏ. An Thái gần sông Côn, gần đường hàng huyện lại có thị tứ nên việc buôn bán rất nhộn nhịp. "Nhất cận thị, nhị cận giang" là vậy. Đầu thế kỷ XVII, nhiều người Hoa lánh nạn trong cuộc "phản Thanh phục Minh", lưu lạc đến đây sinh cơ lập nghiệp. Họ giỏi buôn bán và các nghề thủ công nên việc làm ăn của dân địa phương cũng nhờ thế mà phát triển.

Lò võ An Thái gồm 4 nhánh: Bình Sơn, Hải Sơn, Quách Cang, Hồ Hoành. Nhân dân An Thái từ già đến trẻ, từ trai đến gái hầu như đều giỏi võ. Thủa xưa nơi đây còn gần rừng núi và hoang vắng, lại loạn lạc giặc giã nhiều, nên ai cũng thi nhau luyện tập để có sức khỏe chống trộm cướp, chống thú dữ và bảo vệ làng xóm.

Phái võ Bình Sơn ở Thắng Công duy trì được những ngón bí truyền của võ Việt và kết hợp với võ Tàu của người Hoa. Ba phái kia thì thuần dạy võ Tàu, sau có kết hợp với võ Việt cho thêm phong phú.

Mỗi dịp Tết đến, nhân dân An Thái có trò chơi "phá giàn tranh heo" để thi thố sức khỏe và sự nhanh nhẹn của các võ sĩ. Những người dự thi đứng chung quanh giàn, chờ người trưởng trò chặt đứt dây giữ giàn buộc con heo quay rơi xuống. Người dự thi phải dùng mọi thủ pháp, miếng võ, sức mạnh và sự nhanh nhẹn để đoạt bằng được con heo. Ai tranh được, vác chạy một mạch về thôn mình là thắng cuộc, được mọi người tôn vinh và trọng nể.

Thủa xưa, thày giáo Trương Văn Hiến từ xứ Nghệ lưu lạc vào đất An Thái. Thày ra mắt dân làng bằng một pha ngoạn mục: nửa đêm thày dùng võ nghệ đánh tan bọn cướp lớn trên sông Côn. Dân làng mến phục, kính trọng, giúp thày mở lò dạy võ. Thày tận tâm truyền dạy võ nghệ cho con em họ. Người theo học rất đông. Anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cũng đến Thắng Công học văn, học võ thày Hiến và làm nên sự nghiệp vĩ đại. Các học trò khác của thày Hiến đều là những chiến binh dũng cảm của nghĩa quân Tây Sơn.

An Thái nay là một trong bốn trung tâm dân cư, là "cụm văn hóa" của huyện An Nhơn. Lò võ An Thái vẫn được duy trì và phát triển. Nhiều võ sinh nhỏ tuổi ngày ngày học tập, rèn luyện sức khỏe để góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước.

. Nguyễn Văn Chương

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Giêng 22, 2008, 10:24:27 pm »

Chùa Long Phước thuộc huyện Tuy Phước của đất võ Bình Định. Chùa nép mình dưới bóng tre xanh hiền hòa của làng quê Việt Nam muôn thủa. Trong chùa, sớm chiều vang lên tiếng mõ, tiếng tụng kinh của các nhà sư tan vào làn sương bảng lảng. Cùng với sự tĩnh lặng của không gian là sự miệt mài, lặng lẽ tập luyện võ thuật của các môn sinh.

Đáng quí hơn là từ ngôi chùa này, các nhà sư trụ trì đã hiến cho ngành thể dục thể thao tỉnh, đặc biệt là các võ sư những tài liệu quí giá về võ thuật trong những cuốn sách mà sư tổ của họ truyền lại.

Nhà sư Hạnh Hòa trụ trì chùa Long Phước cho biết về vị sư tổ của mình. Ngài có pháp danh là Hư Minh, còn tên thật, quê quán ở đâu không ai biết. Nhà sư Hư Minh sống dưới thời vua Lê Chiêu Tông. Do Nam Bắc phân tranh Trịnh - Nguyễn, ngài sớm bị mồ côi cha mẹ, phiêu bạt khắp nơi kiếm sống và tìm thầy học võ mong giúp ích cho đời.

Sau ngót 40 năm trời công phu học tập võ nghệ, sư tổ đã sưu tầm được nhiều bài võ cổ từ thời Hồng Bàng, Hùng Vương đến các chiêu pháp võ công siêu việt của các danh tướng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão hay như bài kiếm pháp của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cùng các danh sư làng võ, ẩn sĩ nhiều đời truyền lại. Sau đó, sư tổ hệ thống lại và phân ra các bậc từ thấp đến cao, phổ vào dạng toán số cho ngắn gọn, dễ nhớ. Lại có đủ các phép binh thư đồ trận sắp xếp theo từng trình độ. Bộ binh thư dày chưa quá 1.000 trang, có tới hơn 2.000 bài thảo của thập bát ban binh khí và phần phụ lục cho các binh khí đặc dị. Cuốn kỳ thư đó có tên "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp".

Nhà sư Hạnh Hòa cùng đồng đạo Vạn Thanh đã tận tâm truyền dạy các bài võ cổ cho các môn sinh đến học và chép một số trang trong cuốn "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" tặng Sở Thể dục Thể thao Bình Định. Sau đó ít lâu, hai nhà sư chùa Long Phước lại tìm được một số trang cuốn kỳ thư khác có tên gọi "Tây Sơn danh tướng bí kíp mộ hồn thảo quyền". Cuốn này có 2 tập, tập thứ nhất là "Tây Sơn liệt quang chi binh pháp", tập thứ hai là "Phò Đại Nam triều chi tướng thao". Sách chép tiểu sử của một số danh tướng Nhà Tây Sơn, các bài võ nổi tiếng của họ và cắt nghĩa nguồn gốc, xuất xứ bài võ đó.

Đây là những cuốn sách võ vô cùng quí giá cần được ngành TDTT quan tâm khai thác, học tập, bảo tồn và phát huy.

. Nguyễn Văn Chương

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Daihongcat, nhuocthuy, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
Daihongcat
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 467

Cảm Ơn
-Gửi: 678
-Nhận: 3403


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Giêng 25, 2008, 09:00:43 pm »

Tại hạ ngán nhất là võ Bình Định, sợ nhất là người Quảng Nam winking

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
MaP, tadamina
Logged
 
 
 
MaP
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 379

Cảm Ơn
-Gửi: 330
-Nhận: 696



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Giêng 25, 2008, 11:05:08 pm »

Tại hạ ngán nhất là võ Bình Định, sợ nhất là người Quảng Nam winking
Ai ra Bình Định mà coi, con gái Bình Định lượm roi quýnh chồng  crying crying crying

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
tadamina
Logged

Om Ah Hum Ram Hrid
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Giêng 26, 2008, 10:21:02 pm »

Cái tên Long Phước của ngôi chùa độc đáo ấy mới bắt đầu xuất hiện sau hội thảo võ dân tộc toàn tỉnh đầu năm quí 4 năm 1988 trước ngưỡng cửa kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa.
Sự hiện diện của các nhà sư - bên cạnh các võ sư tên tuổi của nhiều môn phái khác nhau ở hội diễn này đã thu hút sự chú ý của giới am hiểu võ thuật. Sau khi xem các bài biểu diển và song đấu như Sa Vân kiếm pháp, Đằng Vân sát kiếm. Xích kiếm ô long tiên, Tây huy kinh môn tiên, Uất linh tiên, sự chú ý đã biến thành những tràng pháo tay tán thưởng cho những chiêu thức biến hoá, độc đáo ấy của các môn sinh nhà chùa.
Chúng tôi về huyện Tuy Phước trong một chiều xuân. Đi quá huyện độ 5km về hướng đông rồi rẽ phải vào xóm, qua một đoạn đường đất đổ đá xanh và cây cầu gỗ mới bắc, tôi vẫn chưa xác định được đâu là đích cần đến. Vượt khỏi chiếc cầu bắc qua con mương nhỏ được làm bằng hai thân cây dừa, đắp đất chính giữa thì chiếc cổng chùa rêu phong có ghi chữ Phật lịch 2507 hiện ra.
Bước chầm chậm qua hồ sen như muốn ghi lại một khoảnh khắc nào đó thật mạnh mẽ, nhưng cái khoảnh khắc ấy đã tan biến. Tuy đã tắt máy xe từ ngoài cổng nhưng nhà chùa vẫn phát hiện được có người khách lạ. Một thoáng áo lam tay gậy đã vội bỏ dở bài tập để chạy vào phòng nhỏ phía tây, nơi có chậu lan treo lơ lửng bên cửa sổ đang nở hoa làm đắm đuối chú sư tử đá bởi những sắc hồng đài các để tiếp khách.
Bên tách trà nóng, thầy Thích Thạnh Hòa, tên đời là Nguyễn Công Chức, sinh năm 1946, quê Phù Cát - người thừa kế hiện nay của ngôi chùa được xây dựng trên 150 năm mà vị khai sáng là tổ Từ Ân, đời thứ 38, hiệu Đạt Giám kể chuyện:
- Việc tập võ của chùa này đã có từ lâu và đó chỉ là một cách tập thể dục cơ bắp. Các mốc ghi dấu đầu tiên của việc tập luyện này đã có từ 480 năm trước, do ngài Hư Minh sáng lập và lưu truyền. Các môn nhà chùa đang thường xuyên tập, hiện nay gồm roi, kiếm, đao thương, quyền côn.
- Nhưng tại sao những năm trước đây cửa thiền vẫn đóng chặt ?
- Một phần vì lúc ấy sức hút của phong trào võ thuật ở ngoài đời chưa đủ độ để lôi kéo. Mặt khác, cũng phải có người có chỗ để tin đã chứ! Có lẽ, anh nên hỏi thêm thầy Kim Dũng, thầy ấy sẽ bổ sung tường tận hơn.
Tôi đang được nghe giới thiệu về chú Vạn Thanh, quê Nhơn Hòa, An Nhơn, người đi tầm sư học đạo đến chùa này từ năm 1985 - và hiện nay thay thầy mình là Thích Thạnh Hòa trực tiếp dạy các môn sinh, thì hàng chục thiếu niên cả trai lẫn gái bỗng nhiên từ đâu đến trước mặt chúng tôi, tay chắp trước ngực, miệng nói A di đà phật lạy thầy rồi lui ra phía sau.
Hiện nay chùa đang có 50 môn sinh vừa trai vừa gái theo học. Đối tượng chủ yếu là con em những người lao động trong vùng, tuổi từ 12 đến 16. Còn tờ giấy chữ xanh dán ở tường kia là 5 qui pháp và 5 điều không được phạm dành cho các môn sinh. Thứ nhất phải hiếu hạnh với cha mẹ. Thứ hai phải tuân theo lòng người, ân tình và trọng nghĩa. Thứ ba, không được trái lời thầy. Thứ tư, không tham lam, không lộ tướng oai hùng, khiêm tốn. Thứ năm, không đem lòng hiểm độc - và ngược lại là 5 điều cấm.
Trong cái không khí tĩnh mịch và nghiêm trang, những tiếng cắc ... cụp, cắc ... cụp từ ngoài vọng vào khiến chúng tôi không khỏi tò mò. Chú Vạn Thanh đã tinh ý đưa chúng tôi ra hướng ấy.
Đứng trên cái sân gạch dài độ 16 mét, ngang 8 mét và một quãng sân đất dưới bóng cây tạo thành chữ L ở phía tây phòng, nhìn từng cặp thiếu niên đang song đấu côn, từng đôi đang luyện roi, từng nhóm đang tập sử dụng các loại đao, thương và một số khác thì múa quyền, tôi có cảm giác như mình đang ở một câu lạc bộ võ thuật truyền thống hơn là nơi phật đường tôn nghiêm.
Chú Vạn Thanh cho biết, giờ tập võ buổi sáng từ 5 giờ 30 đến 6 giờ 30, buổi chiều từ 17 đến 19 giờ và nhà chùa không thu học phí. Những bài võ từ đây được rút từ quyển “Lục tướng tằng vương văn học” viết bằng chữ Hán của ngài Hư Minh. Tất nhiên, mới chỉ khai thác một phần - và ngài Hư Minh là ai thì chưa thể trả lời ngay được cũng như có câu hỏi đặt ra là những bài võ ở đây thuộc trường phái nào, vì có thể đó là cả một quá trình nghiên cứu mà hiện nay chưa đủ độ chín để công bố.
Thay mặt nhà chùa, thầy Thích Thạnh Hòa bày tỏ lòng biét ơn về sự quan tâm của huyện Tuy Phước và Sở TDTT đã cho gỗ làm chiếc cầu trên đường vào chùa cho cót ép, xi măng để để sửa sang chính điện và cho tiền để lót sân gạch để làm nơi tập luyện võ thuật để giữ gìn vốn di sản văn hóa quí của dân tộc.
Tạm biệt Long Phước - ngôi chùa độc đáo. Tạm biệt những nhà sư - nhà võ. Trên đường, anh Kim Dũng tâm sự với tôi về câu hỏi mà nhà sư đã nhường sự hoàn chỉnh cho anh.
Dạo ấy khoảng tháng 3-1987. Qua sự giới thiệu của nhà sư Thích Huyền Ấn và Bữu Thắng, anh Kim Dũng đã lần tìm đến nơi đây. Cả lần đầu tiên và lần thứ hai đều nhận được câu trả lời của nhà chùa rằng: A-di-đà-phật, tôi có biết gì đâu!
Cho đến lần thứ ba, sau khi mời được thầy Thạnh Hòa đến Qui Nhơn xem phim quyền cước, mối quan hệ giữa người đời và người đạo mới xích lại gần nhau được qua việc đàm đạo võ thuật và so côn, so kiếm để tìm những chiêu thức hay cho kho tàng võ thuật tỉnh nhà. Thì ra, cánh nhà võ cũng có nhiều qui ước bất thành văn khi kết tình bằng hữu.
Cánh cửa thiền mở đón gió đời - và ngọn gió đời đã đến với cửa thiền chính từ ở điểm gặp nhau vì lợi ích chung lớn lao ấy.
Hải Đăng

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, 8N, tadamina
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
Trang: [1] 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 3.547 seconds với 24 câu truy vấn.