Tháng Tư 17, 2021, 01:32:25 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2]   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: TÌM HIỂU THẤT SƠN (AN GIANG-CHÂU ĐỐC)  (Đọc 11395 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 08, 2009, 11:44:16 PM »


KÊNH THOẠI HÀ






(Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn, An Giang.)

Kênh Thoại Hà (tên chữ Hán là kênh Thụy Hà: 瑞河)[1] còn có tên kênh Tam Khê, kênh Đông Xuyên hay Đông Xuyên Cảng đạo[2] nối liền Thoại Sơn (An Giang) với Rạch Giá (Kiên Giang), là một công trình thoát lũ đầu tiên[3] của nhà Nguyễn ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam

1.- Nguyên do

Năm 1817, khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thấy việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, mọi trao đổi hàng hóa thời bấy giờ giữa miền duyên hải Hà Tiên, Rạch Giá (nay đều thuộc tỉnh Kiên Giang) đều phải đi vòng đường biển thật bất tiện. Và cũng nhận thấy cần phải khơi nguồn để tháo bớt một phần nước lụt của sông Hậu ra biển Rạch Giá. Vì hai lẽ đó, ông đã nghĩ ngay đến việc phải đào một con kênh.

2.- Đào kênh

Kênh khởi công vào đầu năm 1818, nối rạch Đông Xuyên (nay là sông Long Xuyên) ở Tam Khê [4], với với ngọn Giá Khê, Rạch Giá (Kiên Giang), huy động khoảng 1.500 nhân công. Nhờ đào theo lạch nước cũ nên công việc khá thuận lợi, một tháng đã hoàn thành với bề rộng 20 tầm (51.2 m), chạy dài 12.410 tầm (31.744 m).

*Trích Bia Thoại Sơn:-

Mùa thu năm Đinh Sửu (1817), lão thần kính, được vua trao ấn phù giữ trấn Vĩnh Thanh, mùa xuân năm Mậu Dần (1818) vâng chỉ đốc suất đào kênh (kinh) Đông Xuyên.
Từ ngày thụ mệnh vua, sớm khuya kính sợ, đốn cây rậm, bới bùn lầy, đào kênh dài đến 12.410 tầm, trải qua một tháng thì xong việc, nghiễm nhiên trở thành ra một sông to, luôn luôn ghe thuyền qua lại tiện lợi...[5]
Kênh đào xong, ông được vua Gia Long khen ngợi và cho phép lấy ông lấy tên mình để đặt tên cho con kênh mới đào là Thoại Hà và núi Sập là Thoại Sơn.
Để đánh dấu một công trình nhiều ý nghĩa này, Thoại Ngọc Hầu cho soạn một bài văn khắc vào bia đá. Đầu bia chạm to hai chữ Thoại Sơn.[6] Năm Minh Mạng thứ ba (1822), ông long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn thần (nay là ngôi đình thờ ông làm Thành Hoàng) bên triền núi Sập.

3.-  Lợi ích

Đến hôm nay, kênh vẫn còn có giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại, nông nghiệp và kênh cũng đã làm thay đổi bộ mặt thôn xóm ở hai bên bờ. Tất cả, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt và chính sách coi trọng thủy lợi để phát triển nhiều mặt của triều Nguyễn.
*Nguyễn Liên Phong, có thơ:

Đời Gia Long thập thất niên,
Ông Bảo hộ Thoại phụng truyền chỉ sai.
Đào kinh Lạc Dục rất dài,
Ngang qua núi Sập trong ngoài giao thông.
Rồi vừa một tháng nhơn công,
Giáp vô Rạch Giá thương nông đều nhờ.

(Nam Kỳ phong tục diễn ca, xuất bản năm 1909)

4.-  Chú thích

1.   ^ .Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: "Nguyễn Văn Thoại hoàn thành việc khai sông Thụy Hà, nhà vua rất hài lòng, nên cho gọi tên sông là Thụy Hà để biểu dương công lao". Về sau, Thụy đổi thành Thoại do đọc lệch chính âm. Các tên Thoại Ngọc Hầu, Thoại Sơn cũng do cách đọc này trở thành tên thông dụng. (theo [1] và Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, tr. 283)
2.   ^ Nhà văn Sơn Nam viết: Đáng chú ý là rạch Long Xuyên này ở vào phần đất của huyện Tây Xuyên nhưng gọi là cảng Đông Xuyên (Lịch sử An Giang, Nxb TH An Giang, 1988, tr. 17). Xem thêm Đông Xuyên. Quốc triều chính biên và Nguyễn Liên Phong gọi tên kênh Lạc Dục (tên cũ) là sai vì Lạc Dục chỉ là một nhánh của Tam Khê. (theo Nguyễn Hữu Hiệp, Kinh Thoại Hà và những điều ngộ nhận, sách Nam Bộ xưa và nay, NXB TP.HCM, tr.99).
3.   ^ Theo [2]
4.   ^ Người Khmer gọi nơi này Ba Lạch, Ba Rách hay Ba Rạch tức Prêk Kramuõ sa, nghĩa là "sông sáp trắng nay tên quen dùng là Ba Dầu hoặc Ba Bần, thuộc xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn.
5.   ^ Bản dịch theo Nguyễn Văn Hầu,Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, NXB Hương Sen, tr.371-372
6.   ^ Bia Thoại Sơn có, chiều cao 3 m, ngang 1,2 m, bề dày 0,2m, mặt bia chạm đúng 629 chữ Hán, đang được bảo quản tốt trong Đình thờ Thoại Ngọc Hầu, tức miếu Sơn thần xưa tại triền núi Sập.

5.-  Tham Khảo

•   Nguyễn Văn Hầu,Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, NXB Hương Sen, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
•   Địa chí An Giang, tập I, UBND tỉnh ấn hành, 2003.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, nhuocthuy, anhlam, Thanhbình, chanhnguyen
Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Ba 09, 2009, 12:01:44 AM »

KÊNH   VĨNH  TẾ

Kinh Vĩnh Tế là một con kênh đào nổi tiếng, nằm tại địa phận hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.



 
(Kênh Vĩnh Tế đoạn chạy qua thị xã Châu Đốc, An Giang)

 1.-  Nguồn gốc

Vào năm 1816, khi thành Châu Đốc được đắp xong, Trấn thủ Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu lên. vua Gia Long xem địa đồ miền đất này liền truyền: Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to vậy.. ..Biết thế, nhưng vua chưa ra lệnh đào ngay vì ngại đây là vùng đất mới mở, nhân dân còn cơ cực, nếu bắt làm xâu thêm khổ sở, lòng dân sẽ không yên.

Mãi đến tháng 9 năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long mới cho lệnh đào kênh, và công việc được bắt đầu khởi công vào tháng chạp năm ấy, trải qua mấy giai đoạn trong suốt 5 năm, đến tháng 5 năm Nhâm Thân (1824), dưới triều vua Minh Mạng mới xong.

Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Dưới sự chỉ huy của Trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu cùng với 2 ông là Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên (1763-1831), Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820). Sau có thêm Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt (1764 - 1832), Phó Tổng trấn thành Gia Định Trương Tấn Bửu, Phó Tổng trấn thành Gia Định Trần Văn Năng, Thống chế Trần Công Lại góp sức.

Ngay trong đợt đầu đã có hơn 10.000 nhân công bao gồm: 5.000 quân dân trong vùng, 500 lính thuộc đồn Uy Viễn, 5.000 dân là người Khmer.

Kênh phải qua nhiều đoạn đất cứng khó đào, lại có khi gặp phải thời tiết, khí hậu bất lợi nên có lúc công việc phải gián đoạn hoặc chậm chạp.

Biết vậy, ngay khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng lập tức ra lệnh cho Tổng trấn thành Gia định là Lê Văn Duyệt huy động thêm nhiều dân binh ở các đồn Uy Viễn, Vĩnh Thanh, Định Tường hơn 39.000 người, trong số đó binh và dân người Khmer 16.000 người, chia làm 3 phiên, đào đắp bằng tay với dụng cụ thô sơ hàng triệu mét khối đất đá...và có khi phải thay nhau thi công suốt ngày đêm...

Kênh hoàn thành với chiều dài 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m), sâu 6 thước(3m) và hiện nay nhờ nhiều lần nạo vét, nên đã sâu hơn nhiều.[1]. Ước tính, trong 5 năm, các quan phụ trách đã phải huy động đến hơn 80.000 dân binh.

Bởi công việc ở chốn “đồng không mông quạnh”, nhiều “sơn lam chướng khí”; việc ăn uống, thuốc men thảy đều thiếu thốn, khiến số người chết vì bệnh tật, kiệt sức, vì thú dữ như sấu, rắn rít... quá cao.[2] Và số người bỏ trốn rồi bỏ mạng cũng lắm, mặc dù luật lệ ràng buộc, nhiều tai ương, nhất là khi phải vượt qua sông Vàm Nao.

Cho nên khi tin vui về đến Huế, vua Minh Mạng rất đổi mãn nguyện vì nối được chí cha, liền sắc khen thưởng, dựng bia ở Núi Sam và ở bờ kênh mới đào để ghi nhớ thành quả to lớn này[3]
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua cho đúc Cửu đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự miên viễn của hoàng gia, hình kênh Vĩnh Tế được chạm khắc vào Cao đỉnh.

2.-  Lợi ích
 



(Kênh Vĩnh Tế năm 1929)


Trước khi khởi đào, vua Gia Long có lời dụ cho dân chúng, vừa động viên vừa chỉ rõ sự lợi ích::
"Công trình đào sông này rất khó khăn, nhưng kế giữ nước và cách biên phòng quan hệ chẳng nhỏ, các ngươi ngày nay tuy là chịu khó, nhưng mà lợi ích cho muôn đời về sau. Vậy dân chúng cần bảo nhau cho biết, đừng nên sợ nhọc"[4]

Năm 1822, vua Minh Mạng lại có chỉ dụ tương tự:

Đường sông Vĩnh 3.- Tế nghĩa trủng văn

 


(Nghĩa trủng, nơi cải táng những người chết trong khi đào kênh Vĩnh Tế.)

Tế nghĩa trủng văn còn được gọi là Thừa đế lịnh, tế cô hồn kênh Vĩnh Tế tân kinh, do Thoại Ngọc Hầu cho soạn theo lịnh vua, để ông đọc trong buổi lễ tế các chiến sĩ, các sưu dân đã bỏ mình trong công tác đào kênh Vĩnh Tế.

Trích bản dịch:

...Đào kênh trước, mấy kỳ khó nhớ
Khoác nhung y chống đỡ biên cương.
Xông pha máu nhuộm chiến trường
Bọc thây da ngựa, gửi xương xứ này
Quê cách trở, lấy ai hộ tống,
Sống làm binh, thác chống quỷ ma.
Than ôi, ai cũng người ta,
Mà sao người lại thân ra thế này?...
...Giờ ta vâng lệnh bệ rồng,
Dời ngươi an táng nằm chung chốn nầy.
Chọn đất tốt thi hài an ổn,
Cảnh trời thanh vui nhộn cùng nhau.
Hằng năm cúng tế dồi dào,
Tràn trề lễ trọng dám nào để vơi...[8]

4.- Với người Khmer

Quá trình xây dựng kênh Vĩnh Tế đã để lại trong cộng đồng người Khmer những câu chuyện về cách đối xử tàn ác của người Việt đối với người Khmer. Chẳng hạn chuyện về 3 người Khmer bị trừng phạt do làm việc chưa đủ chăm bằng hình thức chôn sống đến cổ, rồi một cái ấm được đặt lên đầu 3 người để đun nước pha trà. Câu chuyện này (đã phổ biến từ trước thời Pol Pot) sau này Khmer Đỏ đã sử dụng trong các chiến dịch tuyên truyền khơi dậy lòng hận thù của người Campuchia đối với người Việt.[9]

5.-  Chú thích

1.   ^ Theo Đại Nam nhất thống chí, phần An Giang tỉnh.
2.   ^ Sau, Thoại Ngọc Hầu cho gom nhặt hài cốt, cải táng nơi sơn lăng của mình tại chân Núi Sam và đặt tên là Nghĩa trủng.
3.   ^ Vua cho phép Thoại Ngọc Hầu lấy tên vợ là Châu Thị Tế, dòng họ Châu vĩnh, đặt tên cho núi Sam là Vĩnh Tế Sơn và dòng kênh mới đào là Vĩnh Tế Hà. Xem thêm phần bia Vĩnh Tế Sơn nơi trang Núi Sam.
4.   ^ Quốc triều chính biên toát yếu, quyển 2, tờ 57a.
5.   ^ Sử thần dùng tên Vĩnh Tế chưa đúng, vì lúc bấy giờ kênh đào chưa xong và vua cũng chưa ban tứ danh trên.
6.   ^ Quốc triều chánh biên toát yếu,quyển 3, tờ 14a.
7.   ^ Theo web Từ điển Bách Khoa[1]
8.   ^ Chép theoThoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, sách đã dẫn.
9.   ^ Nayan Chanda, Brother Enemy, Harcourt Brace Jovanovich, 1986, tr. 52.

6.-  Tham khảo

•   Nguyễn Văn Hầu, Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang. NXB Hương Sen, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
•   Địa chí An Giang tập 2, UBND tỉnh An Giang ấn hành, 2007.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
mavuong, nhuocthuy, anhlam, Thanhbình, chanhnguyen
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 09, 2009, 12:04:06 AM gửi bởi nguyenthuy » Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Ba 10, 2009, 10:52:31 PM »


THOẠI NGỌC HẦU

Thoại Ngọc Hầu (Chữ Hán: 瑞玉侯), tên thật là Nguyễn Văn Thoại hay Nguyễn Văn Thụy (Chữ Hán: 阮文瑞), (1761 - 1829) là một danh tướng của triều Nguyễn[1].

I.-  Thân thế và sự nghiệp

Thoại Ngọc Hầu sinh ngày 25 tháng 11 năm Tân Tỵ (1761) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Nguyễn Văn Lương và mẹ là bà Nguyễn Thị Tuyết.

A.-  Vào Nam

Thời ông sống, nước Việt đã xảy ra chiến tranh giữa Trịnh với Nguyễn, tiếp theo là phong trào Tây Sơn. Vì vậy, ông đã cùng gia đình thân thuộc chạy vào Nam, cuối cùng định cư ở làng Thới Bình, nơi cù lao Dài, trên sông Cổ Chiên thuộc địa phận huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long[2]

B.- Võ công

Năm 1777, khi được 16 tuổi, Thoại Ngọc Hầu đến xin đầu quân tại Ba Giồng (Định Tường). Năm 1778, ông có mặt trong trận chiến đấu chiếm lại thành Gia Định. Năm 1782, Tây Sơn đại phá Nguyễn Phúc Ánh ở cửa Cần Giờ diệt chỉ huy Pháp Manael, ông và chúa Nguyễn phải bỏ chạy. Năm 1784 đến năm 1785, ông theo Nguyễn Phúc Ánh sang Xiêm 2 lần để cầu viện.

Từ năm 1787 đến năm 1789, Thoại Ngọc Hầu có công trong việc thu lại thành Gia Định nên được phong chức Cai cơ. Năm 1791, ông được cử là Trấn thủ hải khẩu Tắc Khái (tức cửa Lấp thuộc Bà Rịa). Năm 1792, ông lại sang Xiêm, trên đường về đã đánh tan bọn cướp biển Bồ Đà (Giavanays). Liên tục các năm 1796, 1797, 1799 ông đều được Nguyễn Phúc Ánh cử sang Xiêm công cán. Năm 1800, Thoại Ngọc Hầu được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An. Nhưng đến năm 1801, ông bị giáng cấp, xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo, vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh trên.

Năm 1802, chúa Nguyễn thống nhất Nam - Bắc. Trong dịp tặng thưởng các bề tôi có công, Thoại Ngọc Hầu cũng chỉ được phong Khâm sai Thống binh cai cơ. Ông lại ra Bắc tham gia thu phục Bắc Thành rồi được cử chức Trấn thủ Bắc Thành. Ít lâu sau ông được lệnh làm Trấn thủ Lạng Sơn, rồi lại trở về Nam nhận chức Trấn thủ Định Tường vào năm 1808. Năm 1812, ông sang Cao Miên đón Nặc Chân về Gia Định, năm 1813 hộ tống Nặc Chân về nước và ở lại nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên. Ở đó được 3 năm, ông được triệu về nước để nhận chức trấn thủ Vĩnh Thanh.

C.- Công khai phá

Ở chức vụ trấn thủ Vĩnh Thanh, ông đã có công lớn trong việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường, phát triển và bảo vệ vùng đất Tây Nam. Các công trình lớn của ông để lại cho đời sau là:

    * Đào kênh Thoại Hà dài hơn 30 km ở núi Sập (Thoại Sơn) vào năm 1818, với khoảng 1.500 nhân công. Vua Gia Long đã cho phép lấy tên ông để đặt cho tên núi, tên kênh.

    * Đào kênh Vĩnh Tế dài theo biên giới Tây Nam nối liền Châu Đốc - Hà Tiên, nối lưu thông sông Châu Đốc ra vịnh Thái Lan, dài hơn 90 km, huy động đến 80.000 nhân công thực hiện từ năm 1819 - 1824. Con kênh được đặt tên theo tên vợ chính của ông, phu nhân Châu Thị Tế.

    * Đắp lộ Núi Sam - Châu Đốc, dài 5 cây số trong năm 1826 - 1827, huy động gần 4.500 nhân công. Đoạn nằm trong nội ô thị xã Châu Đốc. Hiện nay con đường vẫn còn mang tên Ông.

    * Năm 1823, ông cho lập 5 làng trên bờ kênh Vĩnh Tế: Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Thông.[3]

Những công trình trên được xem là cơ sở để người Việt đặt chủ quyền lâu dài trên vùng đất mới này. Ngoài những sắc phong của triều đình nhà Nguyễn và các văn bia Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn, còn có bia "Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương" dựng tại núi Sam năm 1828 nhằm kỷ niệm ngày hoàn thành con lộ Châu Đốc - Núi Sam, ngày nay không còn nữa nhưng văn bia văn còn ghi trong sử sách.

Về đời tư, ông đã cưới bà Châu Thị Tế, người cùng làng ở cù lao Dài, sinh được người con trai tên Nguyễn Văn Lâm. Ông còn có một bà vợ thứ tên là Trương Thị Miệt (? - 1821), cũng sanh một con trai tên Nguyễn Văn Minh, ngoài ra ông còn có người con gái nuôi, tên (thị) Nghĩa.

Thoại Ngọc Hầu mất vào ngày 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829) lúc đang tại chức, thọ 68 tuổi.

Theo bảng tóm lược của Nguyễn Văn Hầu, trong 52 năm công vụ, Thoại Ngọc Hầu đã 7 lần sang Xiêm, 2 lượt sang Lào và 11 năm giữ trọng trách bảo hộ Cao Miên.[4]

II.- Nỗi oan ức



( Khu lăng Thoại Ngọc Hầu.)

Sách Đại Nam chánh biên liệt truyện, tờ 12b, cho biết sau khi Bảo Hộ Thoại mất rồi, có một viên chức tên Võ Du ở Tào Hình Bộ, đứng ra tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Vua Minh Mạng giao việc nầy cho bộ Hình tra xét. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tước xuống hàm ngũ phẩm, con ông tên Nguyễn Văn Tâm bị lột ấm hàm; tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi. Về sau, người ta không biết Tâm đi đâu và làm gì, riêng Nguyễn Văn Minh, con dòng thứ, cam phận sống cảnh dân dã, nghèo nàn.

Còn người nghĩa tế (con rể) tên Võ Vĩnh Lộc, cưới con gái nuôi của ông tên (thị) Nghĩa, sau theo Lê Văn Khôi chống lại triều đình. Khi cuộc nổi dậy bị phá tan, vợ chồng Lộc đều bị bắt, bị giết. Nhà vua chỉ dụ cho Bộ Hình điều tra mối quan hệ giữa Lộc và ông...

Thời gian sau mọi việc được phơi bày, phạm tội tố cáo gian, Du bị cách chức, lãnh án lưu đày đi Cam Lộ. Về phần ông cũng không dính líu gì với con rễ trong vụ biến loạn tại thành Phiên An của họ Lê. Nhưng chẳng hiểu sao nhà vua chẳng giải oan, phục hồi phẩm tước cho Bảo Hộ Thoại và quyền lợi cho con cháu ông...

Mãi đến ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý (1924), vua Khải Định mới xét và chính thức truy phong ông Thoại là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.

Tính đến ngày ấy, nỗi oan mà anh linh Thoại Ngọc Hầu và con cháu ông gánh chịu đã hơn 90 năm III.- Chánh thất

Châu Thị Tế (1766-1826) hay Châu Thị Vĩnh Tế, vợ chính (chánh thất) của danh tướng nhà Nguyễn Nguyễn Văn Thoại.

Bà có tiếng là người vợ hiền đức, tận tụy, đảm đang đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp của chồng.

A.- Tiểu sử

Châu Thị Tế, con ông Châu Huy (có sách chép là Châu Vĩnh Huy)[6] và Đỗ Thị Toán, sinh ngày Mùi tháng 4, năm Bính Tuất (1766)[7] tại cù lao Dài (cù lao Năm Thôn) thuộc xã Qưới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Và mặc dầu có lời đồn đãi bà là người Khmer, nhưng trong nhiều sách trong đó có sách của học giả Nguyễn Văn Hầu, là một công trình biên soạn dày công và khá đầy đủ về Thoại Ngọc Hầu (ông Hầu có đi đến cù lao Dài vào ngày 11 tháng 12 năm 1970, nơi vẫn còn dòng tộc bà Châu Thị Tế sinh sống) và ngay cả web chính thức của tỉnh Vĩnh Long cũng không nói đến chi tiết này. [8].

Bà mất vào giờ Ngọ, ngày rằm, tháng Mười năm Bính Tuất (1826). Miếu, mộ vợ chồng bà được gọi là Sơn lăng, hiện ở chân núi Sam, được liệt vào hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia vào ngày 4 tháng 12 năm 1997. Và cùng với Chùa Tây An, Miếu Bà Chúa Xứ, Phước Điền Tự ; tất cả trở thành trọng điểm du lịch, hành hương của tỉnh và của cả nước.

Sau khi mất, bà được phong Nhàn Tĩnh phu nhân.

B.- Hiền phụ

Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) quê quán ở Diên Phước, Quảng Nam. Thời chúa Nguyễn, ông theo cha mẹ di cư vào Nam sinh sống ở cù lao Dài, Vĩnh Long nên gặp bà Châu Thị Tế ở đây. Ông Thoại cưới bà năm nào không rõ, nhưng chắc hai bên có đính ước. Và khi ông Thoại về đảm nhận chức trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thì việc hôn phối đã trải qua lâu rồi. Bà sống với Nguyễn Văn Thoại, sinh được 2 người con trai, người con cả tên Nguyễn Văn Lâm.

Trong bia Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế Sơn bi  ký (nghĩa: Bia chép núi Vĩnh Tế do vua đặc biệt ban tên), gọi tắt là bia Vĩnh Tế Sơn có đoạn do chồng bà, tức Thoại Ngọc Hầu, đã dành cho vợ những lời lẽ tốt đẹp như sau:

    "...Năm trước đây, thần phụng mạng xem sóc việc đào kênh Đông Xuyên, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờ kênh núi Sập mà đặt tên núi Thoại (tức Thoại Sơn). Đến nay, hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho là biết tề gia hợp hòa khí, lại hạ cố đến vợ thần là Châu Thị T ...Họ Châu tên Tế vợ tôi[11],
    Noi bà Thái D


C.- Nhớ ơn




( Tượng Thoại Ngọc Hầu cao hơn 10m tại Hồ Ông Thoại.)

Thoại Ngọc Hầu và Châu Thị Tế được nhiều người dân ở An Giang cảm mến, nhớ ơn.

Ở huyện Thoại Sơn, ngoài đền thờ, bia đá còn có khu du lịch mang tên Hồ Ông Thoại.

Tại chân núi Sam, có một làng mang tên Vĩnh Tế. Hai tiếng Vĩnh Tế đời biểu lộ sự nhớ ơn của nhân dân đối với ông bà Bảo hộ Thoại...[13].

Nơi ấy, còn có câu ca dao:

    Đi ngang qua cảnh núi Sam,
    Thấy lăng ông lớn hai hàng lụy rơi.
    Ông ngồi vì nước vì đời,
    Hy sinh tài sản không rời nước non.


Và:

    Nước kênh Vĩnh Tế lờ đờ,
    Nhớ ông Bảo Hộ dựng cờ chiêu an
.[14].

Tên Thoại Ngọc Hầu được dùng để đặt tên cho một đường phố lớn, một trường trung học chuyên tại tỉnh An Giang. Ở phường Phú Thạnh, Quận Tân phú, TP.HCM cũng có một con đường mang tên ông.

Tên bà cũng được chọn, để đặt tên cho một con đường tại TP. Long Xuyên (An Giang).

 

Và lăng mộ của Thoại Ngọc hầu và hai vị phu nhân do đích thân ông coi sóc việc xây dựng, nằm đối diện với Miếu Bà Chúa Xứ và rất gần chùa Tây An. Cả khu vực này, được nhà nước Việt Nam xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia và được xem là một trong những địa điểm du lịch - hành hương lớn trong cả nước.

4.-  Ảnh



[ Núi Sập tức Thoại Sơn (An Giang).]

   


(Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn, An Giang.)

   


( Kênh Vĩnh Tế, đoạn chảy qua cầu Vĩnh Ngươn, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.)
   


[ Mộ Thoại Ngọc Hầu (giữa), mộ Châu Thị Tế (vợ chánh, bên trái), mộ Trương Thị Miệt (vợ thứ, bên phải).]

5.-  Xem thêm

        * Núi Sam
        * Bia Thoại Sơn
        * Kênh Thoại Hà
        * Kênh Vĩnh Tế
        * Lăng Thoại Ngọc Hầu

6.- Chú thích

   1. ^ Do có công lớn nên được chúa Nguyễn phong tước hầu. Ngoài ra cũng vì có trách nhiệm bảo hộ Cao Miên nên còn được gọi là Bảo hộ Thoại
   2. ^ Hiện nay ở đây còn một khu mộ gọi là lăng ông Bảo Hộ, gồm mộ mẹ đẻ và cha mẹ vợ của ông.
   3. ^ Theo Địa chí An Giang, tập 2, do UBND tỉnh ấn hành năm 2007, tr. 242
   4. ^ Theo Nguyễn Văn Hầu, sách đã dẫn, tr.304.
   5. ^ Theo Nguyễn Văn Hầu, sách đã dẫn, tr 287- 296
   6. ^ Theo Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế trong Tự điển nhân vật lịch sử VN, NXB KHXH, 1992
   7. ^ Ngày sinh này căn cứ theo Nguyễn Văn Hầu, Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, NXB Hương Sen, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản. Còn Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế trong sách đã dẫn, ghi bà sanh ngày Thìn.
   8. ^ Xem [1]
   9. ^ Thoại Ngọc Hầu gọi bà là Châu Thị Tế. Và trong tấm bia mộ, do người con cả tên Nguyễn Văn Lâm lập, cũng ghi tên như thế: “Hoàng Việt, Hiển tỉ mệnh phụ Châu Thị húy Tế, hiệu Nhàn Tĩnh phu nhân, chi mộ” (Hoàng Việt. Mộ của mẹ, bà mệnh phụ họ Châu, tên húy là Tế, tên hiệu là Nhàn Tĩnh phu nhân). Vậy, có thể tạm suy tên gốc của bà là Châu Thị Tế, còn ghép thêm chữ "Vĩnh" là ghi theo dòng họ Châu Vĩnh của bà. Hiện nay, sách Địa chí An Giang do chính quyền tỉnh ấn hành năm 2003,(tr.234) và tên đường phố trong tỉnh đều ghi Châu Thị Tế
  10. ^ Sau này, có người cũng đã viết: Bà là vợ chánh Thoại ngọc Hầu, tận tụy góp sức với chồng trong việc mưu phúc lợi cho dân chúng, tiếng nhân đức truyền xa...(Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, sách đã dẫn, tr.85.)
  11. ^ Tức Thoại Ngọc Hầu.
  12. ^ Thái Dĩ cũng đọc là Thái Tỷ, vợ vua Văn Vương nhà Châu. Bà có công giúp chồng, đức hạnh lan khắp nơi.
  13. ^ Nguyễn Văn Hầu, sách đã dẫn tr.252
  14. ^ Theo Địa chí An Giang, tập II, UBND tỉnh ấn hành, 2007, tr.321.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Thanhbình, anhlam, chanhnguyen
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 10, 2009, 10:55:10 PM gửi bởi nguyenthuy » Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Ba 11, 2009, 11:11:47 PM »


SÔNG   VÀM  NAO

Sông Vàm Nao, hay Vàm Lao, Vàm Giao, tên chữ là Hồi Oa, hay Vàm Giao Giang và tên Khmer là pãm pênk Nàv, là một dòng sông tại tỉnh An Giang, nối sông Tiền với sông Hậu. Vàm Nao có vai trò quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long về thủy lợi và giao thông vận tải. Vàm Nao còn nổi tiếng vì là nơi xảy ra một trận thủy chiến khốc liệt giữa quân Việt và quân Xiêm, và còn vì các đặc sản như cá hô, cá bông lau.

1.-  Vị trí, nguồn gốc, tên gọi

Sông Vàm Nao dài 6,5 km [5], rộng bình quân 700m, độ sâu trên 17m, một bờ thuộc xã Kiến An (huyện Chợ Mới), một bờ thuộc xã Tân Trung (huyện Phú Tân), chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam nối liền sông Tiền với sông Hậu. Đây là một tuyến giao thông đường thủy quan trọng ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc hệ thống sông ngòi do trung ương quản lý.[6]

Tương truyền, thuở xa xưa, nguyên sông này là con đường của những đàn voi và trâu rừng đi, lâu ngày thành con rạch nhỏ, rồi dần dần bị áp lực của hai sông Tiền Giang và Hậu Giang chảy xiết, mà thành một con sông rộng lớn ngày nay.
Và sở dĩ có tên Hồi Oa (nước xoáy tròn) hay Vàm[1]Nao, với nghĩa "nao núng, nao lòng", là vì hàng năm vào khoảng tháng 8 cho đến tháng 11 âm lịch (cư dân miền Tây Nam Bộ gọi là mùa nước nổi), nước sông đỏ ngầu từ thượng nguồn, theo hai nhánh sông Tiền, sông Hậu cùng cuồn cuộn đổ về, rồi giao nhau nên xoáy tròn như thác lũ... Do đó, người chưa quen cách chèo lái khi qua khúc sông này, thường sợ hãi vì rất dễ đắm thuyển.
Về sau triều đình Huế cho Hán Hóa tên Vàm Nao và muốn cho nó nên thơ và đừng nao nữa, nên ban cho nó cái tên Thuận Giang (hay Thuận Cảng).[2]
Hiện nay, chính quyền đang triển khai dự án kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao.[3]
 

         
(Sông Vàm Nao-Nơi xảy ra cuộc thủy chiến)

2.-  Thủy chiến khốc liệt

Vào năm Quí Tỵ (1833), theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi, vua Xiêm sai tướng Chiêm Phi Nhã Chất Tri (Chao Phraya Chakri Bodin, Chao Phraya Chakri hay Chao Phraya Bodin) và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng (Chao Phraya Phra Klang) [4], đem vài vạn quân cùng với hàng trăm chiến thuyền theo hai đường thủy bộ tiến vào nước Việt.
Cuối tháng 11 năm ấy, thủy quân Xiêm tiến đến Thuận Cảng, tức Vàm Nao.

*Minh Mạng chính yếu chép:-

Giặc Xiêm dẫn binh thuyền hơn trăm chiếc, từ Thuận Cảng xuôi xuống, bày ngang giữa dòng sông để chống lại thuyền của quân ta, lại đánh đồn của ta đóng bên tả ngạn. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm chống đánh, chém kẻ cầm đầu của giặc là Phi Nhã Khổ Lặc. Giặc dựng trại ngang đồn, ngày đêm dùng đại bác bắn phá. Ta chờ quân chi viện, nhưng giặc ở phía thượng nguồn bèn nhân đêm tối, thừa lúc nước ròng, noi theo hai bên tả hữu bờ sông, phóng lửa đốt thuyền quân ta, rồi giặc đem quân đến đồn phía tả ngạn mà đánh…”

*Quốc Triều Chính Biên chép thêm chi tiết:-

Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh đánh từ giờ dần đến giờ Tỵ, quân giặc chết nhiều, thây chồng lên nhau. Giặc liền lui…
Bị thua nặng, quân Xiêm rút về Châu Đốc, quân Việt truy đuổi, quân Xiêm bỏ Châu Đốc, bỏ Hà Tiên, tháo chạy về nước. Sau trận đại thắng này, Phạm Hữu Tâm được thăng Chưởng cơ, được ghi tên đứng vào hàng thứ 5, trên bia Võ Công dựng trước Võ Miếu ở Huế.[5]

3.- Nước chảy đứt đuôi xà
 



(Bản đồ mô tả sông Vàm Nao.)

Người ta kể rằng, vào năm 1819, Thoại Ngọc Hầu được lịnh nhà vua bắt dân nhiều nơi đào kênh Vĩnh T4.- Di tích, lợi ích

Đại Nam Nhất thống chí ghi nơi khúc sông này có đồn Hồi Oa. Và vào năm 1787, Nguyễn Phúc Ánh từ nước Thái Lan về, liền hội binh ở đây để chống lại với quân Tây Sơn. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), đốc thần Doãn Uẩn phỏng tra việc cũ, cho dựng bia trên nền xưa, để ghi thắng tích. [7]
Ngoài lợi ích về mặt giao thông thủy, khi xưa nơi đây là một ổ cá lớn với nhiều chủng loại, nhưng có tiếng nhất là

5.-  Ca dao, câu hò

Thuyền xuôi Châu Đốc, thả xuống Vàm Nao,
Thẳng tới Ba Sao, coi chừng con nước đấy.
Ngó lên Châu Đốc, Vàm Nao
Thấy tàu giặc chạy như dao cứa lòng.
Vàm Nao, Giao Lửa các cồn,
Tục dân cư xử lưu tồn cổ phong.
Bắp non mà nướng cửa lò,
Đố ai ve được con đò Vàm Nao.
Tôi với Anh đi giữa dòng kênh Cái Hố,
Lấy miểng vùa tát cạn bến Vàm Nao.
Ở trên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao
Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới,
Anh ngồi chắc lưỡi,
Không biết chừng nào mới cưới đặng em.


6.- Chú thích

1.   ^ Theo Vương Hồng Sển: Vàm do chữ Pàm hay Péam của Khmer biến ra. Péam là cửa biển, cửa sông. (Tự vị tiếng Việt miền Nam, NXB Trẻ, tr. 626). Thực tế, vàm (Prêk) còn để chỉ nơi sông nhỏ, rạch nhỏ giao nhau với sông lớn (như ở An Giang có: Vàm Chắc Cà Đao, Vàm Cống, Vàm Ông Chưởng...) hoặc với biển lớn (như ở Kiên Giang có Vàm Răng, Vàm Rầy...)

2.   ^ Theo Vương Hồng Sển (sách đã dẫn, tr. 633). Sơn Nam ghi thêm một chi tiết nữa: Vàm Nao còn có tên là Vàm Thuận, trên bờ có đặt đồn lũy tên Thuận Tấn (Tấn, khi đó là từ để chỉ đồn ven sông. Lịch sử An Giang, NXB An Giang, 1988, tr.16). Bản đồ (ảnh) in sai tên bến phà, ghi là phà Thuận Giang mới đúng. Xem [1]

3.   ^ Xem [2]

4.   ^ Bài nghiên cứu Cuộc tấn công của Xiêm vào Hà Tiên và Châu Đốc cuối năm 1833 đầu năm 1834 của tác giả Đặng Văn Chương thuộc Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Huế [3]

5.   ^ Theo Sơn Nam, Lịch sử An Giang, NXB An Giang, 1988, tr. 10-11.

6.   ^ Kênh Vĩnh Tế dài hơn 90 km, rộng khoảng 25 m, sâu khoảng 3 m, khởi đào từ năm 1819, trải qua vô vàn khó nhọc, đến năm 1824 mới xong. Công trình này đã huy động hàng vạn nhân dân (có cả những người Khmer) và binh lính một số vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Đến bây giờ, kênh vẫn còn giá trị lớn về các mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt và chính sách coi trọng thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn.

7.   ^ Theo bản dịch cuả Nguyễn Tạo, Sài Gòn, quyển hạ, tr.64. Hiện nay bia đã thất lạc.

8.   ^ Tên khoa học là Catlocarpio siamensis, thuộc loài cá chép. Hình dáng tương tự cá chép, nhưng rất to, có con cân nặng trên 100kg; thịt dai và thơm. Nay gần như đã tuyệt chủng.

9.   ^ Xem [4]

7.- Tham khảo

•   Huỳnh Kiểm và Huỳnh Minh, Tân Châu xưa, NXB Thanh Niên, 2003.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, Thanhbình, anhlam, chanhnguyen
Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
 
nguyenthuy
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1806

Cảm Ơn
-Gửi: 16061
-Nhận: 6168



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Ba 12, 2009, 09:19:13 PM »

LĂNG THOẠI NGỌC HẦU


Lăng Thoại Ngọc Hầu, còn được gọi là Sơn Lăng, thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang; là một danh thắng, một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu dưới thời phong kiến, và là một di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia Việt Nam.



 
(Tiểu đình trước sân Lăng Thoại Ngọc Hầu)

1.-  Nguồn gốc

Lăng do chính tay Thoại Ngọc Hầu coi sóc việc xây dựng. Vào năm nào thì chưa rõ, nhưng sau khi ông đến Châu Đốc nhận nhiệm vụ án thủ Châu Đốc đồn, kiêm quản quân vụ trấn Hà Tiên vào năm 1821, chỉ mấy tháng sau người vợ thứ là Trương thị Miệt qua đời, đã được ông đem an táng tại đây. Vào năm 1826, bà vợ chính là Châu Thị Tế mất, cũng được ông đem an táng kề cận và dành vị trí chính giữa cho mình. Như vậy, khu vực được ông chọn lựa và quyết định cho khởi công xây dựng Sơn lăng chỉ ở khoảng thời gian trên.

2.-  Kiến trúc

Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm kề bên quốc lộ 91, là một khối kiến trúc to lớn nhưng hài hòa.


 
(Lăng Thoại Ngọc Hầu toàn cảnh)

Muốn lên lăng, phải qua chín bậc đá ong[1]dài trên trăm mét, xây hình thang rồi mới đến sân.
Sân lăng bằng phẳng, rộng thênh thang, có hai tiểu đình do người đời sau xây dựng. Một, dùng để bản sao tấm bia Thoại Sơn, có hai tượng nai, hai tượng hổ và một khẩu súng đại bác cổ cỡ nhỏ; hai, dùng để tượng ngựa và người lính hầu...
Tiếp đến là vòng thành và 2 cổng vào lăng hình bán nguyệt được đúc dầy, nên trông lăng thật bề thế, vững vàng.

Qua khỏi cổng là phần mộ nằm giữa vuông lăng. Mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa, bên trái là mộ bà chính thất Châu Thị Tế, bên phải là mộ thứ thất Trương Thị Miệt được xây lùi lại để tỏ sự kính nhường.[2]Phía đầu mộ là bình phong có đắp chi chít những chữ Hán. Phía chân mộ là bi kí và năm tấm bia đá bị gắn chặt vào tường thành.
 


(Lăng Thoại Ngọc Hầu.)

Nơi tường bia ấy, chính giữa là bia Vĩnh Tế Sơn được dựng lên từ năm 1828, tức bốn năm sau khi đào xong kênh Vĩnh Tế. Bia cao hơn đầu người, bằng loại đá sa thạch, khắc 730 chữ. Do để ngoài trời, không chăm sóc nên mặt đá đã bị rạn nứt, bị bào mòn nên chữ đã không còn đọc được. Bốn tấm bia còn lại cũng đã bị thời gian làm cho nhẵn nhụi, nên không rõ tung tích...
Nơi nội lăng và hai bên phải trái vuông lăng còn có hai khu đất rộng, cũng có vòng thành ngăn chắn xung quanh dày cả mét. Ở đây có trên 50 ngôi mộ xây hình vôi phục, có mộ đắp hình bầu dài, có mộ vuông vắn, vật liệu cũng bằng vôi, ô dước như mộ ông bà Bảo hộ Thoại....Những ngôi mộ này đều vô danh, đa số là những hài cốt của những người đã bỏ mình trong lúc đào kênh vĩnh Tế được qui tập về.
Theo bậc thang lên cao, ra khỏi vuông lăng là đền thờ nằm bên những bóng cây cao râm mát. Không rõ đền được xây dựng vào năm nào, nhưng chắc chắn phải sau khi ông Thoại mất (năm 1829).
Trong đền bày trí đẹp, có tượng bán thân Thoại Ngọc Hầu với đủ đồ lễ bộ, tạo không gian ấm cúng và trang nghiêm...
Nhắc lại sau khi ông Thoại mất, Võ Du ở Tào Hình Bộ đứng ra tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tước xuống hàm ngũ phẩm, các con ông đều bị lột hết ấm hàm, tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi...Đến năm Khải Định thứ 9, tức 85 năm sau, ông Thoại mới được giải oan. Cho nên ở đền thờ chỉ có duy nhất một sắc phong của vua Khải Định, truy phong ông là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần vào năm 1924.[3].

Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc khu danh thắng núi Sam đã được Bộ Văn hóa - Thông tin do Nguyễn Khoa Điềm ký, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 1 tháng 12 năm 1997.

3.-  Xem thêm

•   Thoại Ngọc Hầu
•   Châu Thị Tế
•   Núi Sam
•   Kênh Vĩnh Tế

4.-  Chú thích

1.   ^ Đây là loại đá được chuyển từ miền Đông vào. Sở dĩ, người chỉ huy công trình xây dựng lăng không muốn dùng đá hoa cương tại chỗ, là vì màu sắc và cấu trúc của đá ong, tự nó sẽ làm tăng thêm vẻ đẹp của chốn thâm nghiêm. Theo Địa chí An Giang tập II, UBND tỉnh ấn hành, 2007, tr. 228.

2.   ^ Nhiều sách ghi phải trái ngược lại, là vì người viết đứng phía trên đền thờ nhìn xuống khu mộ.

3.   ^ Đền thờ ở núi Sập, cũng chỉ có một sắc phong cho ông Thoại là Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng thần của vua Bảo Đại ký ngày 15 tháng 8 âm lịch, niên hiệu Bảo Đại thứ 18 (1943)


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, anhlam, Thanhbình, chanhnguyen, Ngoisaobiec, thanhtam7384
Logged

安然
愉身自在勿生煩
無念真心主現前
寂省清涼緣不著
沙婆世界任隨緣

Thân đang tự tại chớ sinh phiền,
Bình phẳng trong tâm khỏi đảo điên.
Lặng, tỉnh, trong, vui luôn chẳng đổi,
Ta-bà thế giới cứ  tuỳ duyên.
 
 
Trang: 1 [2]   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.111 seconds với 25 câu truy vấn.