Tháng Tư 07, 2020, 08:00:38 AM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3 4 ... 9   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: THIỀN  (Đọc 27350 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
Senvang
Newbie
*
Offline Offline

Bài viết: 47

Cảm Ơn
-Gửi: 3915
-Nhận: 608


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Một 16, 2009, 12:43:51 AM »

Hay quá chị Biếc ơi. 113 113 113

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Táo Ngọt, byphuong, Ngoisaobiec, dunghoa, kita, HuuDuc, chanhnguyen, nhuocthuy, forevernone, Thiên Vương, dạ minh châu
Logged
 
 
 
byphuong
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1084

Cảm Ơn
-Gửi: 20713
-Nhận: 8585



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Một 16, 2009, 05:35:09 AM »

*byphuong
   
Tâm vốn  là không
Phật vốn là không
Không vốn tròn đầy
Đối Không là Tâm
 
      Kính Bái. Xin Lỗi.
-----------
Xin chúc mừng quý ACE "byphuong" về bài thơ Vô Tâm ( HuuDuc tự đặt- các nhà xuất bản đều làm vậy).
Đồng thời theo thiển ý của HuuDuc chúng ta sẽ đi theo các bước của Thập Mục Ngưu Đồ (十牧牛圖: kính thầy TV - NT đệ không vẽ được nên C & P và chỉ biết có mỗi chữ hoành tung là đúng còn thì... ) và vì vậy thì chưa thể " đồ vô tâm " ( đồ: trong đồ đệ  big grin)  được ! .....và cũng chính vì vậy cho nên HuuDuc mới cho Người cố đi tìm Phật bị bệnh tim (lỗi Tâm) thôi......
Đề nghị ACE byphuong  tìm Trâu tiếp ......

Ấy dà ! sao lại xin lỗi cơ chứ. Cả thế giới này đang đam mê trong PR với cả blog và forum mà bạn lại xin lỗi.  surprise
Xin lỗi về cái gì ? và xin lỗi ai ? HuuDuc thấy khó có câu trả lời quá !!!!! whew
HuuDuc đã từng muốn xây dựng một slogan cho hệ thống bán lẻ của mình :
CHÚNG TÔI KHÔNG BAO GIỜ XIN LỖI ! vì HUUDuc có câu: Khách hàng là Thượng đế  còn người bán là Vợ của Thượng đế !!!!!!!!!!!
Vì vậy xin ACE byphuong rút lại hai chữ này nhé !

  Kính chào Anh HĐ và các Huynh Tỷ.
 Khi đệ vào thăm cội bồ đề của Anh,thấy Anh làm thơ về TÂM hay quávà đọc cách viết cũa Anh đệ nghĩ chắc Anh là người vui tánhcó bài thơ thiền nào không thì ta bình "loạn"? vv và vv........ nói chung là về Thiền của Thiền Tông.,thì đệ chợt nhớ tới Kinh Thủ Lăng Nghiêm Giảng giải của Hoà Thượng Tuyên Quá,mà đệ mới vừa đọc thấy hay quá.Kinh nầy Ngài Anan cũng hỏi Phật về TÂM,trong Kinh có đoạn nói về <Phi Như Lai Tạng>nói về tính không của Như Lai Tạng hay nói tính Không của Chân Tâm.Làm tự nhiên đệ nổi hứng lên ý quên nổi chứng lên mà gõ mấy câu đó,nhưng khi đọc lại thì thấy sao mình gõ lộng ngôn ngã mạn quá, mà không có thì giờ giải bày,đệ nghĩ Anh và các Huynh Tỷ khi đọc xong cũng nghĩ như vậy cho nên đệ mới viết hai chữ <xin lỗi>,mong Huynh Tỷ đừng giận whew.Để đệ trích một đoạn giảng giải về <Phi Như Lai Tạng Phật Thuyết> cũa Hoà Thượng TUYÊN HÓA nhé.Mong các Huynh Tỷ đọc chậm rãi,thư thả nhé.
   Đại Sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau:Chẳng đọc Pháp Hoa thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai:Chẳng đọc Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ của tu TÂM.
   
   Kinh văn:
而如來藏本妙圓心。
Nhi như lai tạng bổn diệu viên tâm.
Việt dịch:
Mà Như Lai tạng chính là  bổn diệu viên tâm.
Giảng giải:
Còn có thể gọi tánh Như Lai tạng là bổn diệu viên tâm. Vốn là vi diệu, viên mãn, thanh tịnh và trùm khắp pháp giới. Nó lớn đến nỗi không có cái gì vượt qua nó được và  nhỏ đến mức trong đó chẳng có gì. Cái bổn diệu viên tâm khác với các hiện tượng kia như thế nào?
Kinh văn:
非心非空。非地非水,非風非火。非眼非耳鼻舌身意。非色非聲香味觸法。非眼識界,如是乃至非意識界。
Phi tâm phi không. Phi địa phi thủy, phi phong phi hỏa. Phi nhãn phi nhĩ, tỵ thiệt thân ý. Phi sắc phi thanh hương vị xúc pháp. Phi nhãn thức giới, như thị nãi chí phi ý thức giới.

Việt dịch:
Không phải là tâm, chẳng phải là không. Không phải là đất, chẳng phải là nước, chẳng phải gió, chẳng phải  lửa; chẳng phải mắt tai mũi lưỡi thân ý; chẳng phải sắc thanh hương vị xúc pháp. Chẳng phải nhãn thức giới, như thế cho đến chẳng phải ý thức giới.
Giảng giải:
Không phải là tâm, chẳng phải là tâm thức của quý vị, chẳng phải là không. Không phải là đất, chẳng phải là nước, chẳng phải gió, chẳng phải  lửa. Nó chẳng phải là bốn đại chủng; nó hoàn toàn rỗng lặng. Đây gọi là “nhất thiết pháp không.”  Chẳng phải  mắt tai mũi lưỡi thân ý. Đó không phải là năm uẩn hay sáu căn. Chẳng phải sắc thanh hương vị xúc pháp. Chẳng phải là sáu trần, Điều nầy tương tự như đoạn văn trong Bát-nhã tâm kinh, “Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý; vô sắc thanh hương vị xúc pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.”  Điểm khác nhau là trong Bát-nhã tâm kinh nói “Không có–không có sắc...”, còn trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm thì nói rằng “không phải, chẳng phải–chẳng phải sắc...” Ở đây nói rằng “Nó không phải–phi 非” nhưng  đoạn sau lại nói, “Phải. Nó là–thị 是.”
Chẳng phải nhãn thức giới, cho đến chẳng phải ý thức giới.  Nó chẳng phải là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Bổn diệu viên tâm của chúng ta chẳng phải là những thứ nầy. Đức Phật đã giảng giải rất kỹ về những món nầy–đó là năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới–và ngài dạy rằng nó đều là tánh Như Lai tạng. Nay Đức Phật lại bảo là chẳng phải. Ngài giảng giải một hồi khiến mọi người đều bối rối, và không biết phải suy nghĩ theo hướng nào. Ngài  vừa nói phải đó, bây giờ lại nói không phải. Rốt ráo, là nó hay chẳng phải là nó? Có cái phải  hoặc cái chẳng phải không? Đừng bận tâm. Nó chẳng phải là phải, cũng không phải là chẳng phải . Đó mới chính là Phật pháp. Chẳng có cái phải  và cái chẳng phải.
Kinh văn:
非明無明, 明無明盡。 如是乃至,非老非死,非老死盡。
Phi minh vô minh, minh vô minh tận. Như thị nãi chí phi lão tử, phi lão tử tận.
Việt dịch:
Chẳng phải là minh, chẳng phải vô minh; chẳng phải là hết minh, chẳng phải  hết vô minh. Như vậy cho đến chẳng phải là hết lão, hết tử, chẳng phải là hết lão, chẳng phải hết tử.
Giảng giải:
Đức Phật giảng pháp tuỳ duyên có lúc nói pháp và có lúc quét sạch tất cả pháp. Khi Đức Phật sắp nhập niết-bàn, có đệ tử hỏi, “Bạch Thế tôn, giáo pháp mà ngài đã tuyên thuyết, vào đời sau, chúng con sẽ phải lưu thông như thế nào?”
Quý vị có nghĩ rằng Đức Phật sẽ trả lời như thế nào không? Ngài trả lời, “Như Lai chưa từng thuyết pháp.” Nay quý vị đừng nghĩ rằng qua câu trả lời nầy, Đức Phật đã bị chút ít lẩm cẩm khi gần nhập niết-bàn. Hoàn toàn không phải như vậy. Ngài nói rằng, “Nếu có người bảo rằng Như Lai đã từng thuyết pháp dù chỉ một chữ, tức là huỷ báng Như Lai.”
Thế là ngài đã giảng pháp suốt 49 năm, khai mở hơn 300 hội giảng kinh nhưng chưa từng nói một lời nào! Vậy là như thế nào? Cơ bản là Đức Phật giảng pháp, nhưng sau khi ngài  giảng xong thì chúng biến mất. Thế nên có câu kệ:
Tảo nhất thiết pháp                掃 一 切  法
Ly nhất thiết tướng.                離一 切  相.
Đó là để dạy mọi người không nên chấp cứng vào pháp. Là để ngăn ngừa những người sẽ nói, “Tôi phải y cứ đúng như pháp Đức Phật đã dạy.”  Nếu có người nói như vậy, tức là vướng vào pháp chấp, tức họ sẽ khó đạt được pháp không. Để cho mọi người đều đạt được cả nhân không và pháp không, nên trong đoạn văn nầy, Đức Phật phủ nhận mọi  điều ngài đã nói.
Quý vị sẽ nói, “Tôi đã đạt được nhân không và pháp không rồi, bây giờ từ sáng đến tối tôi chỉ còn biết ngủ. Tôi chẳng cần tu học gì nữa cả. Rốt ráo tất cả là  nhân không. Thế nên chỉ cần ngủ thôi.”
Thế thì quý vị vẫn còn bị chấp vào cái ‘ngủ.’ Khi nào cái ngủ ấy hết rồi, thì đó mới thực sự là không. Nếu vẫn còn ngủ, thì vẫn chưa thể là không. Vấn đề là quý vị cần phải làm cho chấp pháp và chấp ngã hoàn toàn không.
Kinh Kim Cương nói rằng pháp Đức Phật giảng nói giống như chiếc bè. Tưởng tượng sẽ mệt nhọc xiết bao khi quý vị mang chiếc bè trên vai  sau khi dùng nó để qua sông rồi. Chiếc bè chỉ giúp cho quý vị vượt qua bên kia sông. Quý vị phải lìa bỏ nó khi đã đến bờ rồi. Tương tự như vậy, mục đích của giáo pháp là chuyển hoá phiền não cho chúng ta. Một khi phiền não không còn, thì cũng chẳng cần đến pháp nữa. Nhưng trước khi phiền não dứt sạch, thì mình chẳng làm được gì nếu không có giáo pháp. Nếu quý vị từ chối giáo pháp vào lúc nầy, chắc chắn phiền não sẽ tăng trưởng.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Chúng ta học tập giáo pháp là để dứt trừ phiền não. Nay tôi nói với quý vị vài điều về chân Phật pháp. Quý vị phải dứt trừ phiền não. Nếu học Phật pháp cả ngàn năm mà không dứt trừ  được phiền não, thì cũng giống như chưa học được điều gì.
Quý vị sẽ hỏi, “Làm sao để dứt trừ phiền não?” Chỉ cần giữ tâm đừng bị lay động bởi những cảnh giới chung quanh. Nếu tâm quý vị không bị xoay chuyển bởi mọi hoàn cảnh, nghĩa là quý vị đã có định lực. Đó chính là Phật pháp.
“Vì sao các ngài nói rằng Phật pháp vốn không có cái  ‘phải’ và cái ‘chẳng phải’?”
Lục tổ đã dạy chúng ta:
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?
Thế nên mọi  hiện tượng trên đều được phủ nhận.
Nếu quý vị có thể hiểu được rằng Phật pháp vốn không có cái ‘phải’ và cái ‘chẳng phải,’ thì quý vị đã được chứng ngộ. Lục tổ đã hỏi ngài Huệ Minh, “Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác. Ngay lúc ấy, cái gì là bản lai diện mục của Thượng toạ Minh?” 
Chẳng nghĩ thiện, đó chính là không có cái ‘phải.’ Chẳng nghĩ ác, đó chính là không có cái ‘chẳng phải.’ Tu hành tinh tấn đến mức không có cái ‘phải’ và cái ‘chẳng phải,’– có nghĩa là đến mức không có cái thiện, cái ác nữa–và nỗ lực nhận rõ mọi cảnh giới đang diến ra. Sự vắng bặt ý niệm ‘phải’ và ‘chẳng phải,–ý niệm thiện, ác– thì chính ngay đó là Phật tánh, là  bổn diệu viên minh. Nếu quý vị đạt được điều ấy, thì quý vị có tất cả, và đồng thời quý vị cũng chẳng có cái gì cả; nhưng, không phải là chấp cứng vào các cảnh giới hiện tiền ấy. Khi nào thì quý vị có tất cả, và quý vị có những gì? Quý vị có tất cả pháp bảo trong Như Lai tạng. Mà quý vị chẳng có gì hết thảy; có nghĩa là quý vị chẳng còn chút nào phiền não. Trong Như Lai tạng có rất nhiều phiền não cũng như có rất nhiều pháp bảo. Tại sao quý vị không có được những pháp bảo ấy? Vì quý vị có quá nhiều phiền não, và vì trong bụng quý vị đã chứa quá nhiều thứ rồi. Thế nên, nếu quý vị có quá nhiều phiền não, thì quý vị chỉ còn chứa được một ít nước pháp–pháp tánh nhỏ nhoi. Nếu mọi phiền não đều được chuyển hoá, thì chính nó là nước pháp; đó chân thật là pháp tánh của quý vị. 
Đừng có sợ rằng mình có quá nhiều tập khí. Tập khí càng nhiều, thì pháp tánh càng lớn. Nhưng đừng để nó chuyển thành tập khí, vì nếu quý vị để mặc như vậy, thì sẽ làm mất tác dụng tánh linh của mình. Quý vị sẽ khởi đầu bằng trí thông minh và kết thúc bằng ngu muội nếu quý vị làm như vậy. Phật pháp dạy quý vị dứt trừ phiền não, rồi những phiền não nầy sẽ chuyển thành bồ-đề, như băng tan thành nước. Khi nước đông lại, băng chính là phiền não của quý vị; khi băng tan, phiền não hết, ngay đó chính là bồ-đề. Chẳng có gì quá khó hiểu về chuyện nầy. Toàn bộ những gì quý vị cần phải làm là thay đổi, và quý vị sẽ thành tựu.
Chẳng phải là minh–chẳng phải là tánh giác–chẳng phải vô minh–không phải là sai lầm hư vọng sinh khởi từ cái một chân thật–chẳng phải là hết minh, chẳng phải  hết vô minh. Như vậy cho đến chẳng phải là hết lão, hết tử, chẳng phải là hết lão, chẳng phải hết tử. Giáo pháp thập nhị nhân duyên cũng biến thành không.
Giáo pháp được giảng bây giờ chính là không Như Lai tạng. Kế đến, quý vị sẽ được giải thích Như Lai tạng vốn là không và bất không. Thế nên quý vị thấy, Như Lai tạng vốn không chỉ đơn thuần là một trạng thái, mà nó có vài điều khác biệt trong nầy. Vậy nên quý vị đừng thấy rằng mình biết được vài thuật ngữ Phật pháp rồi kể rằng mình đã hiểu được tất cả. Có thể quý vị chỉ biết về Như Lai tạng, nhưng quý vị còn phải biết cách làm cho Như Lai tạng thành không; và quý vị biết được Như Lai tạng là bất không, nhưng rồi quý vị phải nhận ra được Như Lai tạng vốn vừa là không vừa là bất không. Quá rắc rối, phải không?
Kinh văn:
非苦非集,非滅非道。非智非得
Phi khổ phi tập, phi diệt phi đạo. Phi trí phi đắc.
Việt dịch:
Không phải là khổ là tập; chẳng phải là diệt là đạo. Không phải là trí là đắc.
Giảng giải:
Trên đời nầy có nhiều loại khổ. Trước tiên có ba thứ khổ, rồi lại có tám thứ khổ. Ba thứ khổ là: Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ. Khổ khổ là tâm trạng của người nghèo cùng.  Chẳng hạn, nghèo tự nó đã là khổ, và nó trở thành khổ khổ khi người nghèo mắc bệnh, mà không có tiền để đi bác sĩ. Hoặc là người nghèo cùng ấy sống trong ngôi nhà dột nát, thình lình mùa mưa gió đến. Sống trong ngôi nhà dột nát đã khổ rồi, bị mưa dột khắp nơi trong nhà lại càng khổ hơn, chẳng có khác gì như ở ngoài trời cả.
Khi tôi ở Hồng Kông, tôi từng ở trong một căn phòng bị dột khi trời mưa. Phía trên giường ngủ là sáu lỗ dột khi  mưa xuống. Quý vị thấy như vậy có khổ không? Dù đó là khổ thật, nhưng tôi không sửa lỗ dột trên mái nhà. Khi tôi có được ít tiền, tôi muốn dùng để giúp cho mọi người. Loại người như tôi thật là điên rồ. Suốt thời gian ấy, tôi có được 1500 đồng để giúp cho việc tạc tượng Phật ở một ngôi chùa đã bị hoang phế. Sửa mái nhà tôi cho khỏi dột chỉ tốn chừng 200 đồng, nhưng tôi không muốn dùng tiền vào việc ấy, tôi muốn hoàn thành tượng Phật cho ngôi chùa cũ trước. Người ta nghĩ rằng, “Ông già ấy không biết cách tính toán. Ông không thể nào tách việc riêng cuả mình ra khỏi việc chung của mọi người.”
Khổ khổ xảy ra khi người ta phải chịu đựng cảnh nghèo, thêm vào đó là không một đồng xu dính túi, không có tiền mua thức ăn, quần áo. Hoặc là có người đã không có tiền, đột nhiên nghe tin cha mình mất và không có tiền để mua quan tài. Tôi đã trải qua tình trạng như vậy. Khi mẹ tôi qua đời, tôi ở bên cạnh bà, nhưng tôi không có một đồng xu. Quan tài phải mua, nhưng tôi lấy gì để mua? Khi tôi bàn chuyện đó với các anh tôi, mọi người đều nhìn nhau, không ai có thể làm nỗi việc ấy. Cuối cùng tôi nói, “Nếu không ai làm được việc nầy, tôi sẽ nhờ người bạn giúp.” May mắn thay, tôi có vài người bạn cùng tôi tham cứu Phật pháp, trong số đó có người bán quan tài. Khi tôi báo tin mẹ tôi đã qua đời, anh ta liền nói, “Đừng bận tâm! Anh hãy chọn bất kỳ cái nào. Chưa cần phải trả tiền bây giờ. Khi nào trả cũng được. Ngoài ra, tôi sẽ cho anh mượn thêm 5000 để lo tang sự.”  Vì tôi thường thích giúp đỡ mọi người, nên có người thích giúp đỡ lại tôi khi tôi có chuyện. Nhưng, đó không phải là ví dụ cho khổ khổ.
Sau khi chôn cất mẹ tôi xong, Tôi thực sự buông bỏ mọi chuyện. Tôi quên mất thực tế là mình đang mắc nợ. Tôi chỉ ở yên bên mộ để báo đáp chữ hiếu.
Hoại khổ xảy đến đối với người giàu có. Bình thường họ giàu có, rồi đến khi của cải bị tiêu tan. Chẳng hạn, có người làm ra rất nhiều tiền nhưng cất kỹ tiền trong nhà mình chứ không gởi vào ngân hàng. Đến khi nhà họ bị cháy, toàn bộ của cải bị thiêu sạch. Hoặc là vàng bạc của cải bị kẻ cắp lấy mất. Hoặc là, quý vị giữ kỹ tiền bạc của mình đến mức đi đâu cũng mang theo bên mình, không bao giờ rời, cho đến khi mình sơ ý và bị mất sạch.
Hành khổ  là cái khổ trong tiến trình sinh trưởng. Dù quý vị không trải qua khổ khổ như những người nghèo, không trải qua hoại khổ như những người giàu, nhưng quý vị vẫn có nỗi khổ khi trải qua thời thơ ấu cho đến trưởng thành, đến trung niên và đến lúc già chết. Tiến trình nầy diễn ra từ từ không dứt, và đó cũng là cái khổ. Đó là ba thứ khổ.
Đầu tiên trong tám thứ khổ (bát khổ) là sinh khổ. Khi đứa trẻ vừa mới chào đơi, điều đầu tiên chỉ biết khóc.  Đứa bé không thể tự diễn đạt điều gì rõ ràng, nhưng khóc biểu hiện sự khổ. Cái đau lúc sinh ra giống như cái đau của con rùa đang còn sống mà bị bóc cái mai ra khỏi thân. Khi đứa trẻ vừa được sinh ra, mới  tiếp xúc với không khí lần đầu, cái đau của nó cũng như vậy.
Cái khổ thứ hai là già khổ. Khi về già, người ta không điều khiển được tai mắt và tay chân. Họ không thể đi đây đó và thức ăn trở nên vô vị. Khi tuổi già đến, toàn cơ phận trong thân thể bắt đầu xuống cấp. Đó là lý do tại sao tuổi già trở nên kỳ quặc và hay cáu gắt. Họ chẳng khác gì đứa trẻ con, thế nên quý vị đừng trách móc tính tình họ làm gì.
Cái khổ thứ ba là bệnh khổ. Mọi sự trên thế gian nầy dường như là không công bằng cho lắm, nhưng bệnh tật thì hoàn toàn không thiên vị đối với một ai. Bất luận quý vị là giàu hay nghèo, sinh trong giòng dõi sang trọng hay nghèo hèn, ai cũng cảm thấy lo lắng bực dọc khi bệnh đến.
Cái khổ thứ tư là chết khổ. Cũng như vậy, đối với tất cả mọi người. Đến lúc mọi người ai cũng phải chết, bất luận người ấy là ai.
Cái khổ thứ năm là ái biệt ly khổ. Cái khổ phải xa lìa người thân yêu. Ai cũng biết yêu là gì, nhưng không ai nhận ra được có cái khổ trong sự yêu đương ấy–đó là nỗi khổ phải tách rời người mình yêu. Bất luận quý vị quý mến người mình thương bao nhiêu, cũng có lúc mình phải rời xa họ. Có những hoàn cảnh phát sinh khiến phải xa lìa, đó là nỗi khổ. 
Cái khổ thứ sáu là oán tắng hội khổ. Cái khổ phải kết hợp với người mình không thích. Quý vị thực sự không thích một hạng người nào đó, nhưng quý vị cứ gặp hạng người ấy bất kỳ mình đi đâu.
Cái khổ thứ bảy là cầu bất đắc khổ. Cái khổ khi mong muốn những điều mà không thể đạt được.
Cái khổ thứ tám là ngũ ấm xí thạnh khổ. Sắc thọ tưởng hành thức dữ dội lừng lẫy.
Trong đoạn văn này, do dạy rằng trong Như Lai tạng là không có tứ đế–chẳng có khổ, tập, diệt, đạo đế. Tập chỉ cho phiền não và diệt chỉ cho đạo lý để chứng đắc niết-bàn. 
Không phải là trí là đắc.
Ngay cả trí huệ cũng là không. Cũng chẳng phải là chứng đắc vài quả vị. Đây là không Như Lai tạng; trong ấy chẳng có gì hết thảy.
Tảo nhất thiết pháp                掃 一 切  法
Ly nhất thiết tướng.                離一 切  相.
 Nói về “diệt đế,” Tôi nhớ khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang tu Bồ-tát đạo. Khi Đức Phật còn đang ở trong nhân địa–có nghĩa là khi đang còn tu đạo, trước khi thành Phật–ngài gặp con quỷ dạ-xoa, nó nói:
Chư hành vô thường   諸行無常
Thị sanh diệt pháp.     是生滅法
Nó chỉ nói chừng đó rồi ngừng. Đức Phật nhận ra đó là Phật pháp nên cầu khẩn, “Thưa Dạ-xoa, ngài vừa đọc bài kệ đúng với Phật pháp, nhưng ngài chỉ đọc có một dòng, còn một dòng nữa. Xin ngài cho tôi được nghe tiếp?”
Dạ-xoa nói, “Ông muốn nghe kệ. Nhưng đến lúc ta đói. Lâu nay  chưa có gì để ăn. Ta rất muốn đọc bài kệ cho ông, nhưng chẳng còn chút sức lực nào để đọc.” Đức Phật liền hỏi, “Ngài muốn ăn thứ gì? Tôi sẽ mang đến ngay.”
Quỷ dạ-xoa đáp, “Ông không thể kiếm ra đồ cho ta ăn được đâu.”
Đức Phật hỏi, “Sao không?”
“Vì ta ăn thịt người, mà quanh đây chẳng có ai. Mà dù có người ở đây, ông cũng đâu có quyền đem họ đến cho ta ăn.”
Đức Phật nói, “À! Chỉ là như vậy, Được rồi, hãy nói pháp cho tôi nghe đi, tôi sẽ để cho ngài ăn thịt. Ngài có thể ăn thịt thân tôi.”
Quỷ dạ-xoa hỏi, “Ông có thể từ bỏ thân mạng mình?”
Đức Phật đáp, “Vì Phật pháp, tôi có thể quên thân mình. Dĩ nhiên, tôi có thể xả bỏ thân mạng. Ngài hãy nói câu kệ ấy đi. Khi ngài nói xong, ngài có thể ăn thịt tôi.”
Quỷ dạ-xoa nheo mắt lại. Hỏi, “Ông có lừa tôi không? Sau khi tôi nói kệ xong, ông không được đổi ý, phải giao thân mạng cho tôi ăn thịt.”
Đức Phật nói, “Tất nhiên rồi! Đừng lo. Sau khi ngài nói kệ xong, khi tôi đã thuộc lòng rồi, tôi sẽ giao thân mạng cho ngài.”
 Rồi quỷ dạ-xoa nói hai câu kệ tiếp theo:

Sinh diệt diệt dĩ   生滅滅已
Tỉch diệt vi lạc     滅寂為樂
 Rồi quỷ dạ-xoa nói, “Tôi nói xong rồi đó. Hãy đến đây cho    ta ăn thịt.”
Đức Phật nói, “Đợi một lát. Đừng ăn tôi vội.”
Quỷ dạ-xoa nói, “Sao? Ta biết ông nuốt lời hứa. Nhưng không thể như vậy được. Ta phải đối xử mất lịch sự với ông mất.”
Đức Phật nói, “Tôi không nuốt lời hứa. Hãy đợi khi tôi viết xong bài kệ này đã, rồi ông có thể ăn thịt tôi. Để khi tôi có mất mạng rồi, thì vẫn còn lưu lại Phật pháp cho người sau nương nhờ đó mà tu học. Thế xin ngài hãy đợi một lát.”
“Tốt!” quỷ dạ-xoa nói, “Hãy viết đi!”
Đức Phật khắc các dòng kệ nầy lên vỏ của thân cây.
Ngay khi quỷ dạ-xoa thấy Đức Phật vừa khắc xong, liền hỏi, “Nào bây giờ tôi có thể ăn thịt ông được rồi chứ?”
“Đợi thêm một lát nữa,” Đức Phật nói.
“Ông đã khắc bài kệ lên cây rồi, mọi người có thể đọc được. Ông còn nmuốn gì nữa? Còn bắt tôi đợi ông làm gì nữa?”
Đức Phật đáp, “Tôi nghĩ rằng bài kệ khắc trên vỏ cây không tồn tại lâu, Xin đợi một chút để tôi khắc lên đá, nó sẽ tồn tại lâu hơn. Rồi ông hãy ăn.”
Quỷ dạ-xoa nói, “Được rồi, ông viện thật nhiều lý do. Chỉ muốn trì hoãn đó thôi. Cứ làm đi.”
Đức Phật tìm một tảng đá và khắc bài kệ lên. Rồi mời dạ-xoa, “Tôi đã xong việc, ngài có thể sử dụng thân mạng tôi.”
Quỷ dạ-xoa nói, “Thực chứ? Ông thực sự để tôi ăn thịt ông đấy chứ?” Rồi dạ-xoa há miệng ra như để ăn, nhưng đột nhiên bay vào hư không và biến lên trời. Đó thực ra là thiện thần  được phái đến để trắc nghiệm Đức Phật để xem lòng thành đối với giáo pháp của ngài. Và Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã chứng tỏ tâm thành của mình. Ngài thực sự không tiếc thân mạng mình để tìm cầu giáo pháp. Ngài đã hy sinh thân mạng mình để duy trì Phật pháp. Trong đời quá khứ, Đức Phật đã từng từ bỏ thân mình vì nửa bài kệ.
Hãy xem lại chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta học kinh và nghe giảng pháp, nhưng chúng ta không hiểu được gì nhiều, thế nên nghĩ rằng tốt hơn là nên về nghỉ. Thật là lười biếng! Tại sao Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành Phật? Vì ngài dám quên thân mình để cầu pháp. Ngài bất chấp mọi thứ khác chỉ để vì Phật pháp, ngài chẳng cần gì cả. Nếu quý vị thực sự thành tâm với giáo pháp, quý vị sẽ thành tâm tìm cầu Phật pháp đến mức có thể bỏ qua mọi thứ–ngay cả những việc quý vị nghĩ rằng khó có thể làm được.
Cách đây vài năm, có một chú đệ tử gọi tôi bốn năm lần từ Nữu-ước. Có điều gì rất khác thường. Chú luôn luôn muốn gặp được tôi. Chú quy y với tôi từ 13 tuổi. Trước đó, chú trải qua vài trạng thái lạ. Dù đang tuổi còn trẻ, nhưng chú lại bị đau tim. Bác sĩ yêu cầu phải nằm yên 5 năm. Chú không thể ngồi dậy, không thể đi được dù vài bước. Lúc ấy chú nhận được điện tín của tôi. Trong khi người thân và bạn bè đồng thanh niệm “Nam mô A-di-đà Phật,” thì chú lại gọi tên tôi, “Nam mô Pháp sư Độ Luân.” Nam mô   có nghĩa là cung kính đem hết thân mạng nương tựa vào. Chú ngồi niệm trong tư thế hoa sen ở trên giường. Sự thành tâm của chú thật là bất thường đối với một người còn quá nhỏ, và chú ngồi niệm như thế suốt hơn 70 ngày, Rồi chú thấy tấm hình chuyển sang người thật, đang dang tay xoa đầu chú. Sau đó, bệnh tim và mọi triệu chứng bện đều biến mất. Vào lúc đó, chú không hề gặp tôi. Chuyện nầy nghe như chuyện bịa đặt khó tin, nhưng đó chính là kinh nghiệm của chú. Sau khi được chữa lành bệnh, chú đến chùa tìm gặp tôi. Chú quy y, rồi ngồi thiền. Tôi thường ít dạy thiền khi ở Hông Kong. Nếu có ai muốn tập thiền, họ cứ tự mình tu tập. Chú ấy cũng vậy. Khi đi học ở trường, vào giờ ra chơi, chú lên trên đồi để ngồi thiền, hoặc ngay cả trong phòng tắm– bất kỳ nơi nào thấy thuận tiện. Sau một năm, chú được khai Phật nhãn, từ đó chú hiểu rõ thực chất mọi sự việc đang diễn ra rất rõ ràng.
Một việc khác xảy ra cũng với chú đệ tử nầy. Chú vốn rất lùn–có lẽ vì trước đây chú đã bị bệnh. Nhưng, tiếng Anh của chú rất giỏi, khi có người Mỹ đến thăm, tôi phải nhờ chú phiên dịch. Dù chú nói tiếng Anh rất lưu loát, nhưng người Mỹ xem thường chú vì thấy chú chỉ là đứa trẻ con.  Rồi có hôm tôi nói với chú, “Hãy lớn nhanh lên! Chú thấp quá nên ai cũng nghĩ rằng chú chỉ là đứa bé con, dù chú có thông minh bao nhiêu, họ vẫn không xem trọng chú.” Chú rất nghe lời. Chú về nhà, và tuần sau bỗng lớn vụt lên 3 inches. Bây giờ chú còn cao hơn tôi. 
Cách đây vài hôm chú gọi tôi và muốn tôi sang Nữu-ước. Nhưng vì tôi đang giảng kinh cho quý vị, tôi bảo là không thể đi được, dù chú  rất mong muốn được  gặp tôi. “Bây giờ tôi đang giảng kinh.” Tôi trả lời, “Và tôi không thể bỏ số đông đang nghe kinh chỉ vì một người muốn gặp tôi. Nếu chú thực tâm muốn gặp tôi, hãy sang Cựu Kim Sơn.”
Chú quyết định sang Cựu Kim Sơn, nhưng thấy không đủ thời gian. Nên ngày hôm sau chú gọi điện cho tôi báo tin chú đang lên đường. Nếu không phải vì đang giảng Kinh Thủ-lăng-nghiêm, nếu không phải vì Phật pháp, tôi thật mong muốn gặp chú đệ tử nầy. Chú đặt nhiều niềm tin ở tôi và khá thâm nhập Phật pháp.
Khi tôi còn ở Hồng Kông, chú thường dịch những bài giảng của tôi sang tiếng Quảng Đông. Chú thật xứng hợp với tôi, khi tôi vừa nói xong một câu, chú liền nắm lấy và giải thích trọn vẹn ý nghĩa. Có người phản đối rằng, “Thầy trú trì đâu có nói như vậy, đó là chú ấy thêm thắt vào.” Thực sự là tôi đã bảo chú ấy hãy giải thích rộng ý nghĩa. Vì chú đã được khai Phật nhãn nên chú biết tôi miốn chú phải diễn đạt giáo lý thật chi tiết. Những gì chú nói đều đúng như những gì tôi giảng. Thế nên tôi là chú nhỏ lười biếng và để chú ấy nói thay.
Kinh văn:
非檀那非尸羅。非毘梨耶,非羼提,非禪那。非缽剌若,非波羅蜜多。
Phi đàn-na, phi thi-la. Phi tỳ-lê-da, phi sàn-đề, phi thiền-na. Phi bát-lạt-nhược, phi ba-la-mật-đa.
Việt dịch:
Không phải là bố thí, trì giới, không phải là tinh tấn, nhẫn nhục; không phải là thiền định, trí tuệ; không phải là ba-la-mật-đa. ,
Giảng giải:
Trong Như Lai tạng, lục độ cũng không. Trong đoạn kinh trước, tứ đế đã được giảng giải là không. Ngay sau khi chứng ngộ, Đức Phật liền giảng tứ đế và tam chuyển.  Không tứ đế và không thập nhị nhân duyên khiến cho giáo pháp cuả hàng Thanh văn và Duyên giác cũng trở thành không. Bây giờ không lục độ khiến cho pháp của hàng Bồ-tát cũng trở thành không.
Đầu tiên trong lục độ là bố thí. Tiếng Sanskrit có nghĩa là ban tặng, cho. Có ba loại bố thí: tài thí, pháp thí và vô uý thí. Tài thí là ban tặng vật chất tài sản cho người khác để giúp họ thoát khổ. Giảng kinh và thuyết pháp là một dạng pháp thí. Bố thí sự không sợ hãi là khi có người sợ điều gì đó và quý vị nghĩ ra cách để khuyến khích họ khiến họ không còn lo sợ nữa.
Tiếp đến là thi-la, tiếng Sanskrit là śīla, Hán dịch là giới hạnh.  Có năm giới, tám giới, mười giới, 250 giới của tỷ-khưu và 348 giới của tỷ-khưu ni. Còn có mười giới trọng và 48 giới khinh của hàng Bồ-tát.
Tỳ-lê-da gốc tiếng Sanskrit là vīrya,   Hán dịch là tinh tấn, tinh cần. Có thân tinh tấn và tâm tinh tấn. Khi tâm quý vị tinh tấn, thì quý vị sẽ tìm cầu Phật pháp mọi lúc. Khi thân tinh tấn, thì minh tu tập Phật pháp mọi lúc mọi nơi.
Sàn-đề gốc tiếng Sanskrit là kṣānti,  Hán dịch là nhẫn nhục. Chúng ta nói rằng mình đang tu học Phật pháp, và không đến nỗi khó khăn lắm khi giữ giới. Điều khó là thực hành các điều giới ấy. Nhiều người tập hạnh nhẫn nhục bằng cách bảo người khác hãy nhẫn nhục đối với  chính họ, và chẳng cần nhẫn nhục đối với người khác. Thế nên họ nói vớí những người không nhẫn nhục đối với họ rằng, “Anh phải học Phật pháp thật nhiều, lẽ ra anh phải nhẫn nhục hơn. Tại sao anh nổi nóng khi tôi chỉ mới nói đến anh?” Họ quở trách người khác không nhẫn nhục, nhưng chính họ lại không thể nhẫn nhục. Và tại sao họ lại duy lý như vậy? Họ tự cho rằng, “Tôi đã hiểu Phật pháp, tôi hầu như đã đạt đến vô ngã. Thế nên tôi không cần phải nhẫn. Tôi không có quan niệm về ngã, không có ngã tướng, thế nên khi nào cần phải nhẫn, đó là anh cần phải nhẫn chớ không phải tôi.” Nhưng khi đến giờ ăn, họ không nghĩ là mình có quan niệm  về sự hiện hữu của con người, không có nhân tướng, thế nên họ cho rằng không cần phải có gì đó cho người khác ăn. Khi có việc cần làm, hoặc khi gặp khó khăn, họ nhớ lại rằng mình không có quan niệm có một bản ngã, thế nên họ nói rằng chẳng cần để ý đến những việc ấy. Và, nếu họ giết người, họ sẽ biện minh, “Chẳng hề gì, vì chẳng có chỗ khởi đầu của chúng sinh. Thế nên thực sự tôi chẳng giết họ.” Hoặc là vô cớ họ đánh người, khi hỏi tại sao lại làm vậy?, họ đáp, “Chẳng có cái gì gọi là  chúng sinh tướng, và anh thuộc về dạng đó, thế nên tôi thực sự chẳng đánh ai cả!”  Đó là loại tà tư tà kiến nơi họ. Khi ăn thịt, họ nói, “ Không sao, các ông chẳng nghe nói chúng sinh có đặc tính là không có thọ giả tướng   đó sao? Vì nó không có thọ giả tướng, nên nó có thể chết bất kỳ lúc nào, thế nên tôi tha hồ ăn thịt nó. Lại nữa, một khi nó chết rồi, thịt nó cũng thối rữa, nếu tôi không ăn thịt nó.” Đó là luận điệu của đệ tử ngoại đạo. Họ cho rằng gia súc được nuôi chủ yếu là để  cho người ăn thịt, nếu không ăn, thì chúng sẽ sinh sôi nẩy nở chật cả thế giới. “Nếu người không ăn bò, dê, heo, thì chúng sẽ nhiều vô số kể cho đến khi tràn ngập cả thế giới.” Nhưng hãy nhớ rằng, con người không ăn thịt mèo, nhưng trên thế giới chưa bị tràn ngập bởi loài mèo. Thực vậy, khi con người không ăn thịt động vật, thì không tạo ra nghiệp sát nhiều, và súc vật không sinh sôi nẩy nở nhanh chóng. Thế nên có người giải thích đạo lý sai lạc, như ý nghĩa của nhẫn nhục, và cho rằng mọi người nên nhẫn nhục với họ, nhưng chính họ lại không nhẫn nhục với người khác.
Thiền-na gốc tiếng Sanskrit là dhyāna,   Hán dịch là tư duy tu, tĩnh lự. Có nhiều loại thiền. Nhưng bây giờ Đức Phật dạy rằng cũng chẳng có thiền nào cả. 
Bát-nhã, gốc tiếng Sanskrit là Prajñā,   Hán dịch là trí huệ. Có ba loại bát-nhã: Văn tự bát-nhã, Quán chiếu bát-nhã, và Thực tướng bát-nhã. Như vậy lục độ, hay sáu ba-la-mật-đa đều là không.
Ba-la-mật-đa, gốc tiếng Sanskrit là pāramitā,   Hán dịch là đáo bỉ ngạn, qua đến bờ bên kia. Chỉ cho sự hoàn thành viên mãn một việc nào đó. Chúng ta phát tâm tu tập và thành Phật, tiến trình chuyển hoá từ phàm phu sang giác ngộ là ba-la-mật-đa. Từ phàm phu trở thành Bồ-tát cũng là một dạng của ba-la-mật-đa. Đi từ Cựu Kim Sơnsang Oakland cũng là một dạng khác của ba-la-mật-đa. Bây giờ tất cả pháp nầy trong Như Lai tạng được Đức Phật giảng là không hiện hữu. Chúng hoàn toàn là không. Trước đây khi chúng ta nói rằng trong hư không chẳng loại trừ hay ngăn ngại một tướng nào, đó là đang nói về Như Lai tạng vốn là bất không. Ở đây chúng ta đang nói về cái không của Như Lai tạng. Để diễn tả tính không của Như Lai tạng, phải dùng đến chữ không, nhưng đó không phải là hoàn toàn phủ định. Trong đó, vẫn có cái đang hiện hữu, đó là bổn diệu viên tâm. Nhưng tâm ấy không được gọi bằng tên ấy. Thế là ở đây đã mô tả không Như Lai tạng rồi. 
Kinh văn:
如是乃至非怛闥阿竭。非阿羅訶,三耶三菩。非大涅槃,非常非樂非我非淨。
Như thị nãi chí phi đãn-thát-a-kiệt. Phi a-la-ha, tam-da-tam-bồ. Phi đại niết-bàn, phi thường, phi lạc, phi ngã, phi tịnh.
Việt dịch:
Như thế cho đến chẳng có Như Lai, chẳng phải A-la-hán, chẳng có Chánh biến tri. Chẳng có đại niết-bàn, chẳng có thường lạc ngã tịnh.
Giảng giải:
Như thế cho đến có nghĩa là các mức độ của giác ngộ, từ lục độ cho đến thập trụ, thập tín, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa; cho đến cả quả vị Phật, đều được bao gồm trong không Như Lai tạng.  Từ  các giai vị của hàng Bồ-tát đến quả vị Phật phải cần rất nhiều thời gian, và cần rất nhiều công hạnh tu tập, nhưng tất cả đều là không, quả vị Phật cũng là không.
 Chẳng phải Như Lai. Đản-thát-a-kiệt gốc tiếng Sanskrit là Tathāgata,  Hán dịch là Như Lai. Ngay cả danh hiệu Như Lai cũng không. Chẳng phải A-la-hán,  chẳng phải Chánh biến tri. Ngay cả danh hiệu Ứng cúng, Chánh biến tri cũng không. Chánh tri là biết tâm bao trùm vạn pháp. Biết vạn pháp chỉ là tâm, tức biến tri. Chánh tri tức là thật trí hiển bày rõ phần lý. Biến tri là quyền trí làm sáng tỏ phần sự. Người có được Chánh biến tri tức nhận biết rằng:
Tâm bao vạn pháp.
Vạn pháp duy tâm.
Chẳng phải đại niết-bàn. Niết-bàn gốc tiếng Sanskrit là nirvāṇa,   Hán dịch là bất sanh bất diệt. Ngay cả ý niệm bất sanh bất diệt cũng không.
Chẳng có thường lạc ngã tịnh . “Thường” tức là không lay động, không thay đổi. “Lạc” là tràn đầy niềm vui diệu pháp. “Ngã” là đã đạt được chân ngã. “Tỉnh” là tính chất đặc trưng  vốn có  trong pháp niết-bàn. Những tên gọi nầy cũng chẳng có. Nó hoàn toàn là không.
Thế thì, quý vị có thể hỏi rằng, cái gì có trong Như Lai tạng? Tôi đã nói với quý vị rằng vạn pháp vẫn hiện hữu ở đó. Quý vị hỏi cái gì không hiện hữu trong đó, thì chẳng có gì hiện hữu trong  đó cả. Mọi thứ  thảy đều do tâm.  Như Lai tạng là không, là bất không, là không và là bất không, cái vi diệu của nó là bất tận. Quý vị có thể nói vạn pháp là có, rồi quý vị có thể nói vạn pháp là không, và rồi quý vị có thể nói vạn pháp vừa không vừa là bất không. Sau khi thâm nhập Phật pháp một thời gian dài, quý vị mới hiểu được điều nầy.
Kinh văn:
以是俱非世出世故。即如來藏元明心妙。
Dĩ thị câu phi thế xuất thế cố. Tức Như Lai tạng nguyên minh tâm diệu.
Việt dịch:
Do đó đều chẳng phải là các pháp thế gian và xuất thế gian. Tức là bản nguyên vi diệu sáng suốt cuả Như Lai tạng.
Giảng giải:
Đó là những gì đã được nói ở đoạn văn trên. Đó chính là không Như Lai tạng. Do đó đều chẳng phải là các pháp thế gian và xuất thế gian. Như Lai tạng là không. Trong đó chẳng có pháp nào. Điều nầy được gọi là:
Tảo nhất thiết pháp                掃 一 切  法
Ly nhất thiết tướng.                離一 切  相.
Sự vắng bặt tất cả các pháp chính là chân không. Chân không có thể xuất sinh diệu hữu.
“Thế gian” là chỉ cho sáu cõi giới của hàng phàm phu. “ Xuất thế gian”  chỉ cho cảnh giới của bốn quả vị  của bậc Thánh. Tức là bản nguyên vi diệu sáng suốt cuả Như Lai tạng. Mặt khác, các  hiện tượng thế gian và xuất thế gian vốn chỉ là Như Lai tạng–vốn là minh là diệu. Nó vốn là diệu tâm, vắng lặng mà thường chiếu soi, chiếu soi mà thường rỗng lặng. Kinh văn trong đoạn nầy nói rằng Như Lai tạng  là ‘không’, đoạn kinh văn: sau sẽ nói tất cả các pháp đều ‘là’ Như Lai tạng, là nguyên minh tâm diệu. 
Kinh văn:
即心即空。即地即水,即風即火。即眼即耳


 
   Kính Bái.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, dunghoa, kita, HuuDuc, chanhnguyen, nhuocthuy, Thiên Vương, Senvang, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged

Kính.
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Một 20, 2009, 09:32:04 AM »

big grin Cám ơn Hữu Đức . Nsb không thích giầu, loại bỏ ý thích đó, vì nếu ta thích thì phải sống vì nó, như vậy tâm sẽ không còn thanh tịnh nữa...sẽ nảy sinh trong tâm nhiều cái mà ta đang cần loại bỏ . Thiền là loại bỏ bớt Ngã đó .

Nsb sẽ làm thơ trong topic Thiền của Hữu Đức  big grin Nhưng muốn vậy thì phải có cảm xúc mới làm được thơ, mà cảm xúc là những cái đang trong quá trình loại bỏ của Nsb , vì hành thiền là loại bỏ, có như vậy mới an nhiên được  big grin, mới KHÔNG được hihi....


''Các phần thưởng của Tỷ gấp Tỷ lần mấy Tỷ của các Tỷ phú tặng đội bóng!''

Đọc câu này của HĐ , chợt thấy như như một vế ra của câu đối, Nsb rất thích câu này đó nha...
Là học trò của thầy TV, chẳng nhẽ thích mà không nói gì hihi, đừng cười nha, đã dốt lại hay nói chữ  big grin

 Những lời từ tâm Thịnh tăng Thịnh tình thêm  Thịnh vượng, đem Thịnh thế tới bể trầm


Giải nghĩa trong từ điển Hán-Việt ;
Thịnh nghĩa là đầy đủ đông đúc, chỉ thấy thêm không thấy kém
Thịnh thế là đời thịnh vượng và yên ổn...
 
Hihi ,  thể nào thầy chẳng đọc vào đây, thầy chỉnh hộ Nsb thế nào cũng cười phá lên cho mà xem  big grin...
HĐ thấy chỉnh chưa  big grin
Chúc HĐ có một năm tràn đầy Thịnh , Thịnh vượng, Thịnh tình, ....

Kính bái phục tỷ NSB với lời bình đó là vế của câu đối.
Quả thực HuuDuc tôi chỉ viết theo cảm xúc của mình lúc đó.
Thế mới có thơ rằng :
"Rượu ngon phải uống giữa đình,
Hay thơ mà thiếu người bình, thơ hay ?"


Vì thầy NT đã có phần các câu đối chờ đối ở mục của thầy, nhưng HuuDuc tôi cũng xin được góp vui cùng ACE nào ghé qua Cội bồ đề này vài vế.  Có thể chưa chỉnh câu nhưng là tấm lòng của HuuDuc và .....rồi thì Thơ phải có người bình thì mới biết nó hay như thế nao.
big grin

Trả lời NSB:
***** Chúc Thủ quỹ Ngân luôn Ngân nga tiếng hát vì Ngân quỹ từ thiện Chân Tâm ngày càng nhiều Ngân phiếu hảo tâm.

Kính thầy NT:
*****Thầy Nhược Thủy dạy rằng: nếu muốn vượt sông Nhược Thủy thì nên tìm đoạn nào Nước Yếu .

Kính thầy Thiên Vu*o*ng:
*****Thầy Thiên Vương tiễn Táo về Trời báo cáo Vua Trời về các Vương vấn của hạ giới.

HuuDuc

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, byphuong, kita, chanhnguyen, nhuocthuy, Thiên Vương, Senvang, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 20, 2009, 09:40:25 AM gửi bởi HuuDuc » Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Một 20, 2009, 04:04:42 PM »

Các thầy chữ nghĩa ngàn trùng cao siêu, chắc chẳng xuống đây mà xem đâu.
Tầm cỡ các thầy thì phải đối lại cỡ : " Da trắng vỗ bì bạch " kia big grin ( Của bà Đoàn thị Điểm hay sao đó HĐ à...)
Thôi từ từ Nsb nghĩ kế đối thử xem sao...chà...hiểm ra phết big grin

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, kita, HuuDuc, nhuocthuy, chanhnguyen, Thiên Vương, Senvang, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 20, 2009, 05:42:18 PM gửi bởi Ngoisaobiec » Logged
 
 
 
kita
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 219

Cảm Ơn
-Gửi: 6252
-Nhận: 2482


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Một 21, 2009, 03:10:07 AM »

Các thầy chữ nghĩa ngàn trùng cao siêu, chắc chẳng xuống đây mà xem đâu.
Tầm cỡ các thầy thì phải đối lại cỡ : " Da trắng vỗ bì bạch " kia big grin ( Của bà Đoàn thị Điểm hay sao đó HĐ à...)
Thôi từ từ Nsb nghĩ kế đối thử xem sao...chà...hiểm ra phết big grin

Chẹp...da trắng vổ bì bạch là...là...nghĩa làm răng vậy tề? Các Thầy ơi mau vào đây coi Sao tỷ nói cái gì mà nghe...nghe...nhột cái đám con rái người ta muốn chít luôn rùi đây nè...hihi... devil

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HuuDuc, chanhnguyen, Ngoisaobiec, byphuong, nhuocthuy, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Một 22, 2009, 06:05:18 AM »

Kính gửi các tiền bối:

HuuDuc vừa chộp được bức "đồng điêu" tức là điêu khắc bằng đồng  big grin có dòng chữ :

心   人  有   蝜   不  天   皇


Tâm nhân hữu phụ bất thiên hoàng.....

Tra mãi mà không hiểu nỗi !!!!! crying 

Kính thầy giúp đỡ để ăn Tết cho nó ngon !

HuuDuc

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, kita, byphuong, nhuocthuy, chanhnguyen, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 23, 2009, 04:37:37 PM gửi bởi HuuDuc » Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Một 22, 2009, 07:40:42 AM »

Chẹp...da trắng vổ bì bạch là...là...nghĩa làm răng vậy tề? Các Thầy ơi mau vào đây coi Sao tỷ nói cái gì mà nghe...nghe...nhột cái đám con rái người ta muốn chít luôn rùi đây nè...hihi... devil

Ui Kita, không giải thích hộ thì thôi, lại còn ...chẹp chẹp chi mô răng rứa..
Với các thầy ,trình độ Hán Việt Nôm ngút ngàn vậy, các thầy hiểu ngay cho Nsb , nhưng còn ai chưa hiểu như Kita big grin , Nsb xin giải thích như sau ( Sợ hiểu lầm Nsb cố tình vô lễ hihi..) .
Đó là...
Bà Đoàn thị Điểm là một nữ sĩ tài danh của nước ta . Có giai thoại nổi tiếng về vế đối mà bà ra trong khi đang tắm, tương truyền có một lần khi bà tắm có ông trạng nguyên ( Chồng?) đòi vào, bà ra một vế đối, bảo ông đối được lại thì vào...vế đối đó là : Da trắng vỗ bì bạch. Đó là vế đối khó nổi tiếng. Hình như ông trạng đó đối lại : Trời xanh màu thiên thanh. Rõ ràng chữ Vỗ và chữ Màu ở đây đối không chỉnh rồi. Còn Da trắng nghe oai... hấp dẫn và ...hơn cái chữ trời xanh của ông trạng, tương tự vậy chữ thiên thanh và bì bạch cũng vậy...

Sau này có rất nhiều câu đối lại , nhưng không chỉnh, ví dụ như : rừng sâu mưa lâm thâm.... " Bẩy xanh la thất thanh ".....nhưng đọc kỹ và phân tích kỹ , đến nay vẫn chưa có 1 vế đối lại nào hoàn chỉnh.
Đây là lối chơi chữ : da trắng chữ Việt tương đồng với bì bạch chữ Hán ( Bì là da, bạch là trắng) được nối bởi động từ vỗ ,là động từ chỉ động tác. tiếng Việt bì bạch là âm thanh phát ra khi vỗ ( Mà vỗ vào lúc tắm nó mới bì bạch được big grin )
Vân vân và vân vân....nói tóm lại là đến bây giờ vẫn chưa có vế đối nào ( Kể cả của ông trạng) hoàn hảo cả.
Vậy nên ý Nsb muốn nói là trình độ chữ nho của các thầy là phải đối với những vế ra hiểm hóc tương tự : da trắng vỗ bì bạch của bà Đoàn thị Điểm. Kita rõ chửa big grin, thấy người ta dốt, đừng có mà hành nhá nhá...

@ Đối được 2 câu của 2 thầy HĐ ra rồi đó mà chưa dám đem ra đây, sợ...sợ các thầy... chưởi cho thì chết hihi... lại bẩu là :... ấy ái uông  big grin ( Nhưng sẽ viết ra đây, dốt không được giấu hihi...từ từ..)




Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HuuDuc, kita, byphuong, nhuocthuy, chanhnguyen, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 22, 2009, 08:31:20 AM gửi bởi Ngoisaobiec » Logged
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Một 23, 2009, 02:47:22 AM »

HuuDuc xin gửi tới Quý ACE câu đối Xuân Kỷ sửu (sưu tầm).



Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
kita, Ngoisaobiec, byphuong, nhuocthuy, chanhnguyen, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 23, 2009, 03:16:28 AM gửi bởi HuuDuc » Logged
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Một 23, 2009, 04:48:26 PM »


(tiếp theo)

....Thấy tôi lúi húi chụp ảnh tấm bia nói về chùa Tiêu, người đàn ông tham dự buổi lễ đến và kể rằng :

Ngày ấy tay .. rất nghịch đã vào vườn nhà chùa lấy que chọc vào ngôi mộ tháp và rồi về nhà một thời gian đã phát bệnh ốm lăn ốm lóc và đi... Khi phát hiện có nhục thân của Tổ, lúc đó đã bị cái chú chăn trâu nọ chọc thủng mất một bên mắt,  sư trụ trì đã cho xây bịt kín lại.

Tôi không tin về câu chuyện của ông lắm vì Phật có bao giờ bắt tội kẻ không biết mà phạm lỗi đâu ....

Ngược dòng thời gian... năm 1995, Hòa thượng sư ông Thanh Từ ra bắc thuyết pháp đã đến thăm chùa Tiêu, đã được sư cụ chủ trì kể chuyện về toàn thân xá lợi của bậc tiền bối hiện đang trong Bảo tháp. Hòa thượng xin được mở tháp để xem tình hình cụ thể như thế nào. Có thể chưa độ duyên, sư  cụ chưa đồng ý vì còn e sợ về sự linh hiển mà một phần cũng do các câu chuyện dân gian tạo thành.

Đến tháng Một năm Nhâm Ngọ (2002), Nhân dịp Hòa thượng ra dự lễ khánh thành Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, sư cụ có thỉnh Hòa Thượng về để khai tháp Tổ, nhưng một lần nữa lại chưa tụ đủ duyên lành.

Tháng Ba năm Quý Mùi ( 2003), được sự đồng ý của sự cụ trụ trì, các quý thầy Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử   khai tháp và thấy tình hình nhục thân của Tổ bị hỏng nặng nên đã chụp ảnh để thuyết phục các cơ quan chức năng , tiến hành làm thủ tục xin tu bổ lại nhục thân của Ngài như hai vị sư tại chùa Đậu.



Theo đúng kế hoạch vào ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Thân ( 05/02/2004) đã chính thức mở tháp lần 1 và đã phát hiện thấy phía trên có một viên gạch đỏ có khắc tên của Thiền sư và niên hiệu năm xây tháp.
<<Lê Triều bảo Thái Tứ Niên Tuế tại Quý Mão xuân Cốc Nhật Cẩn tạo mạnh hạ sóc nhật mộ tháp>> ( Ngày lành mùa xuân niên hiệu Bảo Thái thứ tư ( 1723) đời Lê ( vua Lê Dục Tông) kính cẩn xây dựng mộ tháp hoàn thành ngày mồng một tháng tư.
<<Ma A Đại tỳ Kheo Như Trí nhục Thân Bồ Tát Tự Pháp Tỳ kheo.......(2 chữ bị mờ không đọc được ).. đạo hiệu>> (Nhục thân trong có tên là Ma A Đại tỳ kheo Như Trí với hiệu là....
 
Ngày 05-03-2004: Khai tháp lần 2 thỉnh nhục thân của sư Như Trí lên nhà Tổ. Lúc này dư luận, thông tin đại chúng bắt đầu đưa tin nhiều và nhóm chuyên gia bị quấy rầy nhiều quá nên sư cụ trụ trì đề nghị chuyển nhục thân thiền sư về Duệ Khánh do đệ tử của sư cụ làm trụ trì tại xã Nội Duệ, Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Sau nhiều sự cố về việc tu bổ dẫn đến việc phải tạm dừng công tác tu bổ nhục thân của Thiền sư Như Trí. Nhưng rồi thì cuối cùng công việc tu bổ cũng hoàn thành. Đồng thời tổ công tác cũng đã tạo ra một  bản sao nhục thân Ngài. Ngày 25-09-2004 , một đại lễ cung thỉnh nhục thân Thiền sư Như Trí từ chùa Duệ Khánh về lại chùa Tiêu, làm lễ yên vị nhục thân tại nhà thờ Tổ và nhập tháp bản sao bằng composite của Ngài. Đây chính là ngày tôi hữu duyên được tham dự toàn bộ buỗi lễ trọng đại này.

Sau này cũng có các ý kiến phản biện lại Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử về Tông phái của Thiền Sư Như Trí rằng Ngài không phải Thiền tông phái Lâm Tế mà là Thiền tông phái Tào Động. Việc Ngài thuộc Tông phái nào HuuDuc tôi chưa đủ sức để luận bàn  . Cho nên HuuDuc tôi chỉ muốn đưa một số thông tin về THIỀN của Phật giáo và Quyền năng vĩ đại của Phật Pháp mà thôi.   

Kính lạy Thiền sư Như Trí!



Dù Ngài thuộc tông phái nào đi chăng nữa thì chúng con vẫn cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài - Một Nhà Sư.
Dù Ngài thuộc tông phái nào đi chăng nữa, chúng con vẫn cố gắng Học và Hành THIỀN để góp những đóm lửa nhỏ vào nguồn ánh sáng vĩnh cửu : THIỀN 


Rạng sáng 29 tháng Chạp năm Mậu Tí ( 29 Tết Kỷ Sửu)



 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
byphuong, kita, nhuocthuy, Ngoisaobiec, chanhnguyen, forevernone, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 24, 2009, 12:46:37 PM gửi bởi HuuDuc » Logged
 
 
 
nhuocthuy
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Một 24, 2009, 07:20:31 AM »

*Trả lời Hữu Đức:-

Chữ Hán cổ phải đọc từ phải sang trái. Câu đó là:-

皇天不負有心人

(Hoàng thiên bất phụ hữu tâm nhân)
*Dịch:- Trời cao không phụ (bỏ) người có lòng (tốt)

huuduc viết lại sai chữ phụ, gốc là chữ nầy:- 負

*Chúc ăn Tết vui vẻ.
Nhược Thủy

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
HuuDuc, kita, byphuong, chanhnguyen, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Một 24, 2009, 01:06:57 PM »

Thật là Vạn phúc.

Thầy Nhược Thủy đã giúp đệ HuuDuc được ăn tết năm 2553 dzui dzẻ đến  99.99% rồi !

Quả thực tiếng Hán cũng chả thua gì "bão táp" tiếng Việt. Do dzậy HuuDuc không rõ chữ phụ nào nên cứ liều mạng gõ đại một từ "phụ" vào.

Tuy nhiên, nếu vậy thì bản kia có sự sai sót chăng ? Vì nếu đảo lại theo kiểu viết mới (như thầy Nhược Thủy đã chỉ) là: 皇天不負有心 人 . Nhưng theo thứ tự đảo chiều thì là  皇天不負有人心 . Vậy Nhân Tâm ( 人 心) hay Tâm Nhân (心 人)?

Kính Thầy chỉ bảo tường tận để đệ hưởng nốt 0,01% còn lại của Xuân Kỷ Sửu . not worthy 

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
kita, byphuong, Ngoisaobiec, nhuocthuy, chanhnguyen, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 24, 2009, 01:11:27 PM gửi bởi HuuDuc » Logged
 
 
 
nhuocthuy
Moderator
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 7361

Cảm Ơn
-Gửi: 22534
-Nhận: 57227



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Một 25, 2009, 02:57:26 AM »


Cùng  huuduc,

Thành thật xin lỗi vì hơi vội vã  và chủ quan, không xem kỹ lại câu khắc trên bức đồng điêu, nên đã cho ý kiến không đúng thứ tự.
Xét lại tự dạng đã khắc và ngữ cảnh của câu, chữ thứ năm đó có thể (theo ý kiến cá nhân) là chữ “Hựu 宥 ) mới có nghĩa (không tìm thấy chữ nào có tự dạng tương tự để có nghĩa cả câu )

*Chữ Hựu 宥 có 3 nghĩa sau:-

1 : Rộng thứ, tha thứ cho.
2 : Rộng rãi, sâu xa.
3 : Cùng nghĩa như chữ Hựu 侑 (Giúp. Như "hựu thực" 侑食 khéo mời cho ăn được nhiều thêm.)

*Như vậy cả câu thành ra:-

皇天不負宥人心

“Hoàng thiên bất phụ hựu nhân tâm”
[ Trời (cao) không phụ (bỏ)  tâm (lòng)  của người rộng rãi ,hay giúp đỡ và tha thứ kẻ khác ]

*Cũng có khả năng do thợ khắc sai câu nầy, vì thông thường người ta hay nói câu “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”  nhiều hơn.
Chúc Tết vui vẻ, Xuân an lành.
Thân .

*Nhược Thủy

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
kita, HuuDuc, Ngoisaobiec, chanhnguyen, byphuong, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged

君 子 之 交 淡   若水
Quân tử chi giao đạm NHƯỢC THỦY

--------------
孔孟彊常須刻骨
西歐科學要明心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Một 25, 2009, 02:06:38 PM »

Ph u u u ù    !

Thế là đón xuân vui rồi !
Xin cảm tạ thầy Nhược Thủy,
Sẽ còn nhiều vấn đề cần vấn Thầy nhưng vì nghe đâu là các cụ nói 30 Tết phải để lại một ít cơm ( không ăn hết) để hy vọng có của an của để. Thôi thì để sang năm vậy.

Kính chú Thầy Thiên Vương, thầy Nhược Thủy cùng toàn thể  Quý Anh, Quý Chị, Quý Em Quý Cháu của Đại Gia Đình Hoàng Thần Tài năm Kỷ Sửu luôn có :
*******SIDDHARTA ******* SĨ ĐẠT ĐA*******  
trong cuộc sống của mình !

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, chanhnguyen, nhuocthuy, byphuong, kita, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged
 
 
 
Ngoisaobiec
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1320

Cảm Ơn
-Gửi: 14964
-Nhận: 17214



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Một 25, 2009, 02:44:59 PM »

Chúc Hữu Đức cùng  gia đình một năm Hạnh Phúc , Thịnh Vượng !

(Mồng 7 Tết nhớ đến họp mặt nhé ! )
 


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, byphuong, kita, HuuDuc, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
« Sửa lần cuối: Tháng Một 25, 2009, 02:48:19 PM gửi bởi Ngoisaobiec » Logged
 
 
 
HuuDuc
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 275

Cảm Ơn
-Gửi: 1714
-Nhận: 3332


Và về nơi KHÔNG.


Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Hai 01, 2009, 10:25:18 AM »


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Ngoisaobiec, nhuocthuy, kita, chanhnguyen, forevernone, Thiên Vương, Táo Ngọt, dạ minh châu
Logged
 
 
Trang: 1 [2] 3 4 ... 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 3.603 seconds với 25 câu truy vấn.