Tháng Tư 13, 2021, 09:39:01 PM -
 
   Trang chủ   Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
Trang: 1 [2] 3   Xuống
  In  
 
Tác giả Chủ đề: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .  (Đọc 20173 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Mười 17, 2008, 04:19:50 AM »

Chùa Tây Phương nay đã về với Thủ đô. Nhưng ngay dưới chân các vị La Hán, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện kỳ bí, nửa thực nửa hư được người dân nơi đây truyền miệng từ đời này sang đời khác

Ngôi đình thiêng và quả chuông kỳ bí

Đình làng Yên Lạc nằm cách chùa Tây Phương chỉ vài trăm mét. Ngôi đình cổ oai nghiêm, trầm mặc giữa không gian của một làng quê yên tĩnh lại ẩn chứa trong mình những câu chuyện kỳ bí, khó tin và đến nay vẫn chưa có một lời giải thích thoả đáng, khoa học.

 Đình làng Yên Lạc.

Cần Kiệm là vùng đất cổ xứ Đoài, có sông, suối, núi đồi, nơi cư dân Việt cổ sinh sống. Sự tích tam vị Thành hoàng làng Yên Lạc cả xã đều rõ như chuyện nhà mình. Cụ từ trông đình lần dở cuốn Ngọc phả đình làng Yên Lạc đã được dịch ra chữ quốc ngữ, nheo mắt nhẩm đọc. Cuốn Ngọc phả này được nhà Hán học Ngô Đức Thọ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ban Khoa học xã hội Việt Nam dịch thuật. Trong đó có ghi rõ đình Yên Lạc là nơi thờ tam vị Đại vương có công cùng Tản Viên sơn thánh đánh giặc giữ nước Văn Lang thời Hùng Vương thứ 18.

Đình làng Yên Lạc có cấu trúc đặc biệt, mọi người phải đi qua sân đình rồi mới vào cổng đình. Cột trụ cổng đình được xây cao vút lên ngang mái đình đồ sộ. Theo những tài liệu còn lưu giữ được thì đình được dựng từ thời Hồng Đức nguyên niên (1469). Cột đình được làm toàn bộ bằng gỗ lim, một người ôm không hết. Trải qua bao năm tháng gió mưa dập vùi, những cột trụ ấy vẫn vững chãi, chỉ có mái đình là đôi lần phải lợp lại.

Suốt những năm chống Pháp, đình làng bị máy bay bắn phá dữ dội nhưng vẫn chẳng hề gì. Phải chịu bao trận bom ác liệt của giặc Pháp nhưng các cột trụ vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt". Trên những trụ ấy, bây giờ vẫn còn những vết tích từ thời chiến, những vết đạn, những mảnh bom đã găm mình trên đó mấy chục năm rồi.

Cụ từ trông đình năm nay đã ngoại bát tuần, râu tóc bạc phơ kể về sự thần bí, linh thiêng của khúc gỗ:

     “Thường ngày, khi con nước lên xuống, khúc gỗ cũng lên xuống theo, lúc nào cũng ở gần mép nước, không hề lên quá gần bờ hay ngập chìm trong nước. Mùa lũ, nó bị cuốn trôi theo dòng nước nhưng thời gian sau, tôi lại thấy nó về lại bến nước này. Hỏi khắp thì ai cũng lắc đầu rằng mình không mang nó về!”


Trước cổng đình, cạnh bến nước là cây đa 9 gốc tỏa bóng mát, tạo nên một không gian cổ kính, trầm mặc. Theo các cụ trong làng kể lại thì sau khi dựng xong đình làng, trời đổ mưa to, rồi lũ. Lũ cuốn theo một cây đa nhỏ đến trước cổng đình (trước cổng đình, chỗ cây 9 gốc bây giờ ngày trước là sông). Sau khi bị lũ cuốn đến đó, cây tự bám rễ mà sống và ngày càng xum xuê, thành những thân, những gốc như bây giờ mà không hề có sự chăm sóc của ai cả!

Trong đình Yên Lạc ngày trước có một quả chuông đồng rất to, hai người ôm không hết, cao gần 2 mét. Trên thân chuông có khắc những hình long phượng và rất nhiều hoa văn đẹp mắt. Đặc biệt, nó còn khắc tên của làng Yên Lạc, xã Cần Kiệm. Đó chính là "dấu hiệu" để người dân nơi đây phân biệt với những quả chuông của làng khác.

Dân làng Yên Lạc tin rằng đây là một quả chuông thiêng. Sự kỳ bí, linh thiêng của nó xuất hiện từ khi đúc. Ông Nguyễn Văn Dậu, Trưởng ban quan lý di tích đình Yên Lạc kể lại câu chuyện ông được các cụ đời trước truyền lại như thế này: Sau khi dựng đình xong, mọi người đi quyên góp đồng từ khắp nơi để đúc chuông. Khi ấy có một người hành khất đi qua, trên người không có gì đáng giá mới góp một chiếc chìa khóa bằng đồng, những người phụ trách đã không nhận. Người hành khất đem chiếc chìa khóa ấy thả xuống cái ao nhỏ trên đồng làng (nơi ấy bây giờ đã trở thành ruộng lúa). Dân làng đúc chuông nhưng qua 3 lần đúc đi đúc lại, quả chuông vẫn bị thủng một lỗ nhỏ, đánh không thành tiếng. Một ông thầy có tiếng bảo rằng cần phải có chiếc chìa khóa của người hành khất kia thì đúc chuông mới thành. Thế là dân làng đổ xô đi tìm người hành khất để xin chiếc chìa khóa. Sau khi tìm thấy, cho vào đúc lại, quả nhiên chuông không bị thủng nữa, tiếng kêu vang vọng. Chuông được treo ở gian đại bái ngay trước cửa đình. Bom đạn của Pháp khiến trên thân chuông bị mấy vết xước.

Mấy trăm năm ở trong ngôi đình, trải qua bao sóng gió, quả chuông đã trở thành vật thân thuộc với mỗi người dân Yên Lạc. Thế mà đột nhiên, đến thời chống Mỹ, chính xác là năm 1968, kẻ trộm đã "khuân" quả chuông đi như... một chuyện đùa. Cả làng Yên Lạc bàng hoàng, không tin rằng một quả chuông to, nặng như thế lại được đem ra khỏi làng trót lọt mà không bị ai phát hiện. Từ ấy, dân làng ra sức "truy lùng" tung tích quả chuông. Mọi người đến rất nhiều các ngôi đình, chùa, đến cả những nơi buôn bán đồng nát nhưng đều không tìm thấy.

Có lẽ ông Dậu là người mất nhiều công sức nhất trong việc tìm vật báu của quê hương. Gần chục năm nay, ông lặn lội khắp nơi tìm kiếm. Hễ nghe thấy ai nói ở đâu có chuông là ông lại lạch cạch đạp xe đến nơi. Nhưng bao lần "mục sở thị" là bấy nhiêu lần ông buồn bã trở về vì đó không phải quả chuông làng mình. Những người con Yên Lạc đi làm ăn xa, ông đều căn dặn phải cố tìm kiếm tin tức về quả chuông của làng. Đến giờ, quả chuông ấy vẫn "lưu lạc" đâu đó chưa về được với quê hương.

Khúc gỗ biết… quay về

Một khúc gỗ đen kịt ở bến sông Tích trước cổng đình Yên Lạc bao năm nay đã "nổi tiếng" khắp vùng vì biết... quay về làng. Khúc gỗ có từ bao giờ không ai rõ. Ngay cả những bậc bô lão lớn tuổi nhất trong làng còn bảo rằng, từ ngày bé, họ đã được ông cha kể cho nghe những câu chuyện về nó. Chuyện kể rằng, xưa khi dân làng làm đình, còn thừa một khúc gỗ khá to, mọi người đem ra bến nước làm cái bàn giặt. Người làng đi làm đồng về đều ghé qua bến nước, để chân lên khúc gỗ kỳ cọ. Trẻ con vẫn thường lấy nó làm "cầu nhảy" lao mình xuống dòng nước mát lạnh. Qua bao nhiêu năm dập vùi sóng nước, nó mòn đi và trở nên đen kịt như bây giờ.

Bây giờ, khúc gỗ đen đã bị mòn đi nhiều, dân làng không còn dùng nó làm bàn giặt nữa, nhưng nó vẫn là một phần không thể thiếu nơi làng quê yên bình này.

Cụ Từ trông đình năm nay đã ngoại bát tuần, râu tóc bạc phơ kể về sự thần bí, linh thiêng của khúc gỗ: "Thường ngày, khi con nước lên xuống, khúc gỗ cũng lên xuống theo, lúc nào cũng ở gần mép nước, không hề lên quá gần bờ hay ngập chìm trong nước. Mùa lũ, nó bị cuốn trôi theo dòng nước nhưng thời gian sau, tôi lại thấy nó về lại bến nước này. Hỏi khắp thì ai cũng lắc đầu rằng mình không mang nó về!"

Người dân Yên Lạc bao năm nay vẫn truyền miệng nhau những câu chuyện kỳ bí xung quanh khúc gỗ đen ấy. Có người kể rằng, đêm về, họ thấy hai nàng tiên ngồi chơi trên đó. Lại có người "doạ" chúng tôi bằng câu chuyện về những người tham lam mang khúc gỗ đó về làm của riêng, gặp phải những chuyện không may, phải tha hương đi nơi khác làm ăn.

Cũng có người cố gắng lý giải cho sự linh thiêng của khúc gỗ đen. Người thì cho rằng đó là "khúc gỗ thần", người thì bảo khúc gỗ ấy lấy từ trong đình ra, các Thánh đã "yểm bùa" cho nó, không ai được phạm... Tất cả những lời giải thích ấy chỉ làm tăng thêm sự huyền bí của nó, không có cơ sở khoa học. Nhiều người lại cho rằng, sự kỳ bí, linh thiêng của nó có liên quan đến bãi đá đen phía cuối làng, cách đình làng và bến nước không xa. Tương truyền rằng, vào cuối thế kỷ thứ IX, một nhà phù thủy cao tay của Trung Quốc là Cao Biền đã đến đây trấn yểm. Hiện nay, trên các hòn đá vẫn có hình bước chân trấn yểm của Cao Biền xưa?! Trong Bảo tàng tỉnh Hà Tây (cũ) còn lưu giữ một tấm đồ có đánh dấu những vùng đất trên tỉnh bị Cao Biền yểm mạch.

Bao nhiêu lời lý giải, song có lẽ thuyết phục nhất là sự giải thích của ông Nguyễn Văn Dậu, Trưởng Ban quản lý khu di tích làng Yên Lạc. Theo ông, khúc gỗ ấy là gỗ thông, một loại gỗ có khối lượng riêng vào loại trung bình. Khi thả xuống nước, nó không chìm hẳn, cũng không nổi hẳn, chỉ là là mặt nước. Hơn nữa, bến sông bên này lại thoai thoải vì là bên bồi. Chính những điều đó khiến cho khúc gỗ lên xuống cùng dòng nước.

Ông Dậu cho rằng, những câu chuyện về khúc gỗ, về bãi đá chỉ là những câu chuyện do dân gian sáng tạo ra để răn dạy con cháu, như chuyện Thánh Gióng giúp vua diệt giặc cứu nước. Người dân Yên Lạc vẫn giữ gìn và kể cho con cháu nghe những câu chuyện ấy như những câu chuyện dân gian dạy con người biết trọng quá khứ.

Về thăm Yên Lạc bây giờ, chúng ta vẫn thấy hình ảnh thân thương của một làng quê yên bình. Bao đời nay, người dân Yên Lạc đã quen với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình. Những thứ ấy đã gắn bó mật thiết với người dân quê, trở thành nét sinh hoạt bình dị, thân thuộc. Nơi đây vừa khoác lên mình chiếc áo hào nhoáng "đất Thủ đô". Liệu rằng mái đình cổ kính, cây đa cổ thụ 9 gốc và cả những câu chuyện hư hư thực thực, kỳ bí về sự linh thiêng của khúc gỗ, của bãi đá đen có thể "sống" được trong cái ồn ã của cuộc sống thành thị?!

Bài và ảnh: Trang Nguyên (suckhoedoisong)




Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SGQUAY, LANFRANCE, SENTHISAO, nhuocthuy, chanhnguyen, zinzin04, 8N, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, Archéo, TINHVE
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
LANFRANCE
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 713

Cảm Ơn
-Gửi: 3025
-Nhận: 5155



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười 18, 2008, 07:04:43 AM »

Bài của cả hai người bài nào cũng dài  worried may mà bài SCC có cái hình còn đỡ đau mắt  big grin
Tks.Tiếp đi diep và scc .Đang hay .
LANF.

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
SENTHISAO, nhuocthuy, chanhnguyen, zinzin04, 8N, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, TINHVE, thuankt
Logged

Nguyện cầu Cha Mẹ khoẻ mạnh sống đời bên con.
 
 
 
SENTHISAO
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 58

Cảm Ơn
-Gửi: 89
-Nhận: 259



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2008, 04:40:14 AM »

Chùa Tháp Vàng Schwedagon ở Miến Điện
Võ Quang Yến
 


Tọa lạc trên ngọn đồi Singuttara cao 58m so với mặt biển, giữa một mặt bằng 5,6 ha, tháp chùa Schwedagon lóng lánh dưới nắng từ sáng đến tối. Nhưng đẹp nhất là vào cuối chiều, những lớp vàng trên tháp phản chiếu ánh mặt trời sắp lặn, cho dội ra những tia sáng huyền ảo trong một bầu không khí mát dịu vì nhiệt độ trong ngày đang dần dần tiêu tan. Đúng vào lúc nầy, sở tan, trường đóng, từng đợt gia đình lũ lượt kéo nhau lên chùa lễ bái. Đây chính điện, thiền đường tương đối nhỏ, không đủ chỗ cho tất cả mọi người. Tín đồ nếu không múc nước tắm các tượng, đi dạo vòng quanh chùa, trên các dải chiếu trải quanh hay trên nền gạch, theo đường kim đồng hồ như tục lệ ở mọi chùa Phật khác, thì quỳ khấn, sụp lạy ngay trong sân chùa, khắp nơi, trước các ngôi tượng cũng như trước các bức tường. Mà thật sân chùa vô cùng sạch sẽ nhờ hằng ngày nhiều chục các cô các bà sắp thành hàng ngang cùng bước cùng quét, hòng mong đóng góp "công đức" cho gia đình, con cái và cả cho chính mình, ở đời nầy cũng như ở kiếp sau. Trời dần tối thì chùa cũng lên đèn. Ngọn tháp dần dần sáng chói trên nền trời đen thẩm, huyền diệu như viên ngọc bích trong tủ gương, một bảo vật cao 98 m đặt trên một cái nền 6,4 m nên trông như một tháp mẹ giữa một đàn tháp con.
Thật vậy, đi quanh kinh đô Yangon của xứ Myanmar (Miến Điện) từ đâu cũng dễ thấy tháp vàng chùa Schwedagon. Có bốn lối vào chùa đầy cửa hàng bán hàng cúng và vật lưu niệm cho khách du lịch hay kẻ hành hương. Hai bên đường cửa tây là một dảy tu viện kyaung nên còn giữ vẻ cổ kính thời trước. Cửa chính zaungdan nằm ở phía nam, có thang máy cho người yếu sức như ở cửa bắc. Hai bên cửa, hai tượng sư ưng chinthe khổng lồ 9 m đứng giữ. Chúng không có vẻ dữ tợn nhưng từ đây vào chùa phải đi chân không nên trong chùa không có tiếng lộp độp guốc dày ồn ào. Tháp chính zedi là một công trình đầy đặc dựng theo lối cổ truyền Miến Điện. Ở dưới là ba thềm vuông pichaya, chồng ở trên là các thềm bát giác trước khi đến năm thềm tròn, một cách để chuyển những thềm vuông qua hình tròn. Và những hình tròn nầy cũng là một phương tiện để chuyển những thềm nằm ngang ở dưới lên những thành phần dựng thẳng, thon mảnh phía trên : một hình chuông klaunglaung bon đường kính 105 m, những dải vòng đốt baungyit cao 12,5 m, hai vòng cánh sen sấp và ngữa kyahlan cao 9,5 m, một hình chén lật ngữa thabeik rồi một hình bắp chuối hnget pyawbu cao 16 m. Nếu ở dưới chỉ có những lá vàng che phủ, ở trên 13.153 tấm vàng 30 cm vuông trang hoàng phần hoa sen và bắp chuối. Trên cùng là một vành hti hình dù, bằng sắt mạ vàng, cao 10 m, gồm có bảy tầng, nặng hơn một tấn. Vòng nầy thon dần thành một mũi nhọn mang 1065 chuông vàng nhỏ bằng vàng, 420 chuông nhỏ bằng bạc, một cái chong chóng cao 4,6 m xoay theo chiều gió và một quả cầu seinbu. Cái chong chóng mạ vàng và bạc, khảm 1383 viên đá quý, rubi, xaphia, topa, và 1100 viên kim cương tổng cộng 270 cara còn quả cầu cũng khảm 4351 viên kim cương tương ứng với 1800 cara và trên chóp một viên kim cương độc chiết 76 cara. Mỗi năm, tháp phải được mạ vàng lại và 53 m khối đã được dùng năm 1955 !

Chùa Schwedagon không chỉ có tháp chính nầy. Nhiều tháp nhỏ hơn bao quanh nó, đặc biệt bốn cái ở bốn hướng, bốn cái ở bốn góc chân tháp xung quanh có những người sư tử manoktikavà sư ưng chinthe ngồi chầu, và 60 cái quanh chu vi làm thành một rừng zedi, phần lớn mạ vàng hay ít nhất cũng ở trên nóc, đua nhau sáng chói suốt ngày đêm. Trong số các tháp nầy có một cái đặc biệt gồm có tám hốc dành cho tám đức Phật ngồi giữ tám con thú tượng trưng cho tám hành tinh, tương đương với tám phương hướng kết hợp với tám ngày trong tuần : voi có ngà (Thủy tinh, nam, sáng thứ tư), rắn naga (Thổ tinh, tây nam, thứ bảy), chuột (Mộc tinh, tây, thứ sáu), voi không ngà (Rahu, tây bắc, chiều thứ tư), chuột lang (Kim tinh, bắc, thứ sáu), chim garuda (mặt trời, đông bắc, chủ nhật), cọp (mặt trăng, đông, thứ hai) và sư tử (Hỏa tinh, đông nam, thứ ba). Xen lẫn với các tháp là những điện đủ loại như điện thờ đất, thờ mặt trời, thờ mặt trăng, cùng các hành tinh : Thủy, Thổ, Hỏa, Mộc, Rahu (hành tinh thần thoại), điện Konagamana với những tượng xưa nhất của chùa thờ những vị Phật trước đức Gautama, điện Kakusandha với bốn bức tượng ngữa gan bàn tay lên trời, điện Tazaung arakanais với tượng đức Phật nằm dài 8,5 m, điện Shin Itzagone với đức Phật mắt to lạ thường, điện đức Phật làm phép lạ, điện U Nyo với những tranh gỗ chạm kể lại sự tích đức Phật, điện những dấu ấn đức Phật, điện thờ Gautama mà uy thế sẽ kéo dài đến thế kỷ 45, điện Mahabodhi phiên bản của chùa Godh Gaya bên Ấn Độ,... bên cạnh những tượng đặt ngoài trời hay trong tủ kính như tượng vua natThagyamin, tượng thần nat Bo Bo Gyi tức là vị hộ pháp của chùa, các tượng Mai La Mu và Sakka tức là hai nhân vật thần thoại được xem như là phụ mẫu của vua Okkalapa, người sáng lập ra chùa,... Lịch sử của chùa cũng đi đôi với sự tích những cái chuông có tiếng của chùa. Trước tiên là một cái nặng 30 tấn do vua Dhammazedi dâng cúng ; năm 1608, Felipe de Brito y Nicota, người Bồ Đào Nha, muốn cướp đem về đúc súng ca nông, chuông rơi xuống nước mất tiêu. Chuông Maha Gandha, nặng 23 tấn, được vua Singu cho đúc năm 1779 ; đầu thế kỷ 19, người Anh muốn đem chuông qua Calcutta, chuông cũng rơi xuống nước, lần nầy người dân thành công vớt lên được đưa về chùa cũ. Một cái chuông thứ ba, Maha Tissanda, nặng hơn 40 tấn, do vua Tharrawady biếu tặng năm 1841, đồng thời với 20 kg vàng, hiện nay còn thấy ở chùa.

Người Miến Điện tin là chùa Schwedagon được xây cất từ 2500 năm nay, nhưng những nhà khảo cổ đều nhất trí tháp không thể được dựng trước thời đại môn nghĩa là giữa hai thế kỷ 6 và 10. Tục truyền khi đức Phật còn ngồi định tâm trước gốc cây bồ đề, hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika lại dâng Ngài một cái bánh mật. Để cám ơn, Ngài nhổ tám sợi tóc biếu cho họ. Trên đường về, vua Ajetta cướp hai sợi khi họ băng qua vịnh Bengan, sau đó vua thần rắn naga lại còn chiếm mất hai sợi nữa. Trong lúc đó, vua môn Okkalapa nước Suwannabhumi cầu khấn (có thể ở điện Kannaze mà tượng Phật được gọi là Sudaungbyi nghĩa là "đức Phật chấp thuận ước nguyện của nhà vua") để có được thánh tích. 49 ngày trước khi nhận quà biếu đầu tiên, đức Phật đã xuất hiện báo trước cho nhà vua biết. Thần thoại kể rằng đồi Singuttara, nơi vua Okkalapa ngự trị, xưa kia đã có chứa một cái gậy, một cái gáo nước và một mảnh áo của các đức Phật trước, lâu ngày mất linh thiêng nếu không có thánh tích mới. Vì vậy, khi hai anh em lái buôn đem hộp đựng tóc về thì vua đang chờ đợi, lập tức cho lập đàn cúng tế và mời tất cả các vị thần linh địa phương kể cả các thần nat lại dự. Tất cả đều ngạc nhiên khi mở hộp đựng tóc thì thấy còn đầy đủ tám sợi. Hơn nữa, hộp vừa mới mở thì bổng nhiên hào quang sáng tỏ khắp mặt đất, sấm chớp rực trời, bảo táp nổ dậy rúng động cả núi Meru, cho rơi ngọc quý xuống đến đầu gối, làm hoa nở, trái mọc trên Hy Mã Lạp Sơn mặc dầu không phải đúng mùa... và nhất là gây ra một số phép lạ : người câm biết nói, người mù biết thấy, người điếc biết nghe, người què biết đi,...

Biết là thánh tích rất thiêng, vua truyền cho đem rửa sạch (có lẽ ở giếng cạnh Sandawdwin) và đóng một cái hộp bằng vàng để tạm thời chứa đựng (đặt ở điện Naungdawgyi do chính vua Okkalapa cho cất) trong lúc xây dựng một cái tháp xứng với thánh tích ấy. Khi tháp xây xong, vua lại làm lễ và chuyển tóc qua tháp. Người Miến Điện tin cái tháp nầy gồm có nhiều lớp : ở trong là một cái tháp bằng vàng, sau đó lần lượt được phủ thêm những tháp bằng bạc, đồng, chì, cẩm thạch và ngoài cùng bằng sắt. Mặc dầu linh thiêng như vậy, chùa tháp dần dần bị bỏ quên cho đến đời vua Ashoka mới lại được sửa sang. Qua thời đại Pagan, các vua Anawratha rồi Byinya U de Pegu và Binnyagyan lần lượt cho trùng tu và tiếp tục xây thêm, nâng tháp cao lên đến 90 m. Qua thế kỷ 15, tục lệ dán lá vàng vào tháp bắt đầu. Nữ hoàng Shinsawbu hoàn chỉnh chùa có hình dáng ngày nay, từ đấy lưu danh lâu đời. Bà đích thân dâng chùa 40 kg vàng là trọng lượng của bà để lợp đỉnh chùa. Vua Dhammazedi, rể của bà, và cũng là người kế vị, còn làm hơn : ông cúng chùa bốn lần trọng lượng của ông và vợ ông. Năm 1485, ông cho dựng ba tấm bia kể sự tích chùa bằng ba thứ tiếng Miến Điện, pali và môn, chuyển một truyền thuyết qua một chuyện thật. Rủi thay, nhiều cuộc hỏa hoạn và động đất làm thiệt hại nhà chùa như năm 1768 làm gảy mất chỏm zedi. Vua Hsinbyushin cho sửa lại như ta thấy ngày nay.

Một ngôi chùa kiến trúc đặc sắc như vậy, tượng trưng cho một đất nước thấm nhuần Phật giáo, ai mà không thèm được lại viếng thăm. Trong lòng mỗi người Miến Điện đều có ấp ủ mộng mơ một ngày kia có dịp lại vảng cảnh chùa đồng thời cúng lạy cầu khấn. Tôi được đưa đến đây một buổi chiều xuân, nắng ấm, thẩn thơ dạo quanh cho đến lúc mặt trời lặn. Tháp vàng óng ánh như khêu gợi, quyến rũ khách du hành. Vì vậy, không quản thì giờ, ngại khó khăn, tôi đã tranh thủ để trở lại một lần nữa, cũng vào cuối chiều. Lần nầy hết còn có cái ngạc nhiên thú vị của cuộc khám phá ban đầu, tuy vậy tôi vẫn thích thú tìm được hạnh phúc trong sự chờ đợi một cảnh tượng đã sống, một cảnh đẹp đã trông, và cảm thấy như bị mê hoặc, vì cái thẩm mỹ đã đành, mà tuồng như cũng vì cái vượng khí thiêng liêng của một ngôi chùa từng được xem là một " bí ẩn mạ vàng,... một kỳ quan lừng lẫy" để dùng chữ của Rudyard Kipling đã từng được may mắn lại chiêm ngưỡng nơi nầy.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, SCC, LANFRANCE, chanhnguyen, zinzin04, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, Archéo, TINHVE
Logged

"Vô ngã mới là cái ngã thật. Và con người vĩ đại nhất là không ai cả! (Osho)"
 
 
 
SENTHISAO
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 58

Cảm Ơn
-Gửi: 89
-Nhận: 259



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2008, 04:42:29 AM »

Bốn Đôi Mắt Chùa  Swayambunath ở Népal
Võ Quang Yến
 




Dựa lưng vào dãy Hy Mã Lạp Sơn trùng trùng điệp điệp, tuyết trắng thiên thu, Katmandu, kinh đô xứ Nepal, nằm trong một thung lũng cao gần 1400 m. Chảy ngang qua là hai con sông Vishnumati và Bagmati soi bóng những dãy nhà san sát hai, ba tầng, xen lẫn với các đền miếu, chùa chiền hai, ba mái. Dân tộc bản xứ là người Newar, nguồn gốc Tây Tạng, đến đây trong khoảng giữa những thế kỷ 10 và 6 trước Công nguyên, những nghệ nhân từ lâu đã thực hiện những công trình mỹ thuật độc đáo ở nhà cửa tư nhân cũng như trong các đền Ấn Độ giáo (tôn giáo quốc gia) hay các chùa Phật giáo (tôn giáo thiểu số, cỡ 20% dân cư). Phật giáo ở Nepal theo nhánh Đại thừa nhưng tổ chức bị ảnh hưởng Mật tông rất nhiều, còn nghi lễ thì nhuốm màu đạo sa man, thuyết phiếm thần sơn cước nếu không là Ấn Độ giáo pha Tây Tạng giáo. Kết quả là các đạo thâm nhập lẫn nhau, kể cả thiểu số Hồi giáo và Công giáo. Không ai lấy làm lạ khi thấy một đền Ấn Độ giáo sát cánh một chùa Phật giáo, có khi nằm ngay trong một vườn. Và cũng là lệ thường khi một nhà vua được xem một bên là thần Vishnu hoá kiếp, bên kia là vị Bồ tát giác ngộ chúng sinh. Vì vậy, du khách, dù không chăm chú đến vấn đề tôn giáo, cũng thấy thú vị khi tham quan các đền chùa kia.
Chùa Swayambunath, cách trung tâm thành phố 4 km, có điểm chung với chùa Bonath, xa đến 8km, là ngôi tháp stupa xây theo hình một mạn đà la, biểu thị hình học và chiêm tinh vũ trụ, đồng thời là một "dụng cụ " thiền định. Chân chùa hình vuông tượng trưng Đất, mang một hình bán cầu gharba, sơn vôi trắng, tượng trưng Nước, một khúc tháp vuông tượng trưng Lửa, một cột hình trụ toran tượng trưng Gió và trên cùng một cái lọng tượng trưng Hư Không, tức là ngũ đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không cấu thành vũ trụ vật chất. Cả ba phần trên đều mạ vàng. Cột toran ở chùa Swayambunath gồm có 13 vòng kim loại, còn ở chùa Bonath thì là 13 bậc thang, tượng trưng cho 13 tầng nhận thức tối cao Bodhi. Đặc biệt, từ xa, phần chùa ta để ý đầu tiên là khúc tháp vuông với bốn đôi mắt trừng trừng chú mục vào khách thập phương như để thôi miên, quyến rũ. Thật vậy, khi đã bắt đầu thấy đôi mắt ấy rồi thì khó lòng rời nó. Xung quanh mắt không có miệng, không có tai. Ở chỗ lỗ mũi là một cái dấu giống như một chấm hỏi : đấy là chữ "một" viết theo lối chữ phạn mới devanagari, biểu thị tính duy nhất của đức Phật. Ngài không nói mặc dầu Ngài nghe mọi chuyện, thấy mọi nơi, biết mọi điều và tha mọi lỗi.

Tháp chùa Swayambunath được xây trên ngọn đồi cao nhất vùng cho nên đứng trên tháp thấy rõ quanh thung lũng. Tháp cũng được xây lâu đời nhất. Tục truyền cách đây 2000 năm, thung lũng Katmandu là một cái hồ. Đức Phật hiện ra trên một đóa hoa sen nở thành năm hào quang sáng rực gọi là swamyambhu có nghĩa "Người từ hư không ra" tức là Adi-Buddha, đức Phật nguyên thủy, từ đó phát xuất thế gian. Cảm thụ những tia hào quang của đóa hoa sen, đức Văn Thù Sư Lợi Manjushri lại rút gươm xẻ núi cho tháo nước hồ nên vị bồ tát nầy được xem là người khai canh Nepal. Đường lên chùa cao 300 bậc thang. Người hành hương khi lên đến chân tháp, trước tiên gặp một "dụng cụ" khổng lồ cao 1,50 m thường chỉ nhỏ để nắm trong tay, gọi là vajra, hình dáng cái mũ miện vua chúa trong Mật tông cũng như trong các phái bí truyền Á Đông khác, tượng trưng nối liền những vũ lực tinh thần, tính vững bền của tâm thần. Nó cũng còn được xem như là biểu tượng tính dương, đi đôi với ghanta, một cái chuông nhỏ có cán, tính âm, tương đương với cặp linga-yoni ở Ấn Độ giáo. Trong Phật giáo Tây Tạng, vajra biểu hiện uy quyền tối cao và được sử dụng với ghanta trong mọi buổi cúng lễ, chẳng hạn khi các nhà sư tán, tụng. Sau khi quỳ lạy, khấn vái trước cái vajra đó, người hành hương phải đi quanh tháp, theo chiều kim đồng hồ như nghi lễ bắt buộc. Sát với tháp là một dãy "cối xay cầu nguyện" hkor-brten chứa đựng những bản kinh, đặc biệt lời cầu khấn Om, Mani Padme Hum ! (Om ! ngọc mani trong sen). Mani là châu báu, còn có nghĩa là cuộc sống, hạnh phúc, linh hồn. Padme là hoa sen, tượng trưng sự trong trắng, sự từ bỏ đời sống vật chất. Khách vừa đi vừa cầu nguyện vừa lấy tay cho xoay mấy cái cối xay.

Quanh xa hơn một chút ngôi tháp là những điện chaitya thờ các đức Phật Vasupura (Địa), Nagapura (Thủy), Agnipura (Hỏa), Vayupura (Phong), Shantipura (Không), các vị Phật năm phương Mahavairochana (đức Phật hoàn hảo thiên đỉnh), Akshobhya (đức Phật bất biến phương đông), Amitabha (đức Phật hào quang vô biên phương tây), Ratnasambhava (đức Phật châu báu phương nam), Amoghasiddhi (đức Phật thắng lợi vô tận phương bắc), cùng các vị Phật bổ thể nữ tính shakti Vajradharishvari (Mahavairochana), Lochana (Akshobhya), Pandara (Amitabha), Mamaki (Ratnasambhava), Tara (Amoghasiddhi). Đối diện với vajra, bên kia ngôi tháp, là hai cột trụ mang hai tượng Tara trắng và lục, kèm giữa một con công, chim thần, đang xoè đuôi. Trong những số tượng khác đáng chú ý là tượng Dipankara, xem như là tiền thân đức Thích Ca, thứ 24 theo Nam tông, thứ 52 theo Bắc tông. Một điện gần đây rất được sùng bái, đông khách lại cầu đảo chen chúc nhau, là điện thờ nữ thần Ấn Độ giáo Ajima (theo tiếng Newar), còn được gọi Sitala, với hai mái bằng đồng, dáng điệu thanh mảnh bên ngôi tháp đồ sộ. Thần Ajima bảo vệ con trẻ, đặc biệt chống bệnh đậu mùa. Tuy là một thần Newar, tất cả dân cư trong vùng đề lại thờ cúng. Ngay cả các Phật tử cũng đặt tên Hariti, tương đương với đức Quan Âm Tống Tử bên ta, xem thần như là hiện thân của Maya Devi, đức Phật Mẫu. Người ta tin quyền lực của thần vô cùng hiệu nghiệm đến nỗi nhiều bà mẹ đã đem con đi chủng đậu rồi mà vẫn đưa lại đây nhờ thần phù hộ ! Bên trái ngôi tháp, bước lên vài bậc thang là một tu viện Mật tông. Hằng ngày, vào giữa chiều, các vị la ma làm lễ. Từ trong vọng ra tiếng đọc kinh đơn điệu, trầm trầm, thỉnh thoảng xen lẫn một tiếng còi inh ỏi. Ngoài giờ lễ, khách mục kích các chú tiểu áo vàng, áo đỏ, xung xăng giữa những người hành hương áo quần cũng sặc sỡ không kém gì trước các cửa tiệm hàng hóa la lượt đủ thứ đồ ăn, hành lễ, lưu niệm,... Làm thêm rộn rịp là những bầy khỉ tự do chạy nhảy khắp nơi, bám víu vào bất cứ cái gì, khi vào điện thờ lượm hoa quả dâng cúng, khi giật bánh trái của những người đang soạn ăn bên lề đường, trên sân giữa các điện, sau khi làm xong phận sự cầu cúng. Thành thử bầu không khí không trầm lặng, tỉnh tâm như nơi dành cho thiền định mà là quang cảnh một ngày hội thường xuyên. Âu cũng là một cách thờ Phật.

Nhưng chớ tưởng chùa nào ở Katmandu cũng ồn ào như Swayambunath. Quanh chùa song đôi Bunath với ngôi tháp tương tự, cũng xưa như chùa kia nhưng còn được tôn sùng hơn, một số tu viện gompa dành cho các tu sĩ Tây Tạng đủ phái. Ở đây, vào cửa phải đi chân không để tránh tiếng dày lộp cộp, không được nói chuyện ồn ào. Với lại khách chăm chú mải miết nhìn cảnh , trầm lặng ngắm những tranh vẻ trên tường thì cũng dễ giữ yên tĩnh nơi chốn tu hành. Tu viện nào cũng có ở ngoài cửa hình xe pháp Dharmachakra với hai con nai đứng chầu hai bên, nhắc lại sự tích đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Sarnath. Hầu hết tu viện nào cũng có bốn đức hộ pháp bốn phương : Dhritarashtra (phương đông), Virupaksha (phương tây), Virudhaka (phương nam) và Kuvera (một hình thức của Vaishravana, phương bắc). Ở tu viện gần nhất và cũng là mới nhất (1986), sau một cái "cối xay cầu nguyện" khổng lồ, khách được nhìn một bức tượng đức Phật khá lạ : Ngài không ngồi hai chân tréo nhau "lối hoa sen" hay kiết già Padmasana như thông lệ mà hai chân thỏng xuống theo "lối Âu châu" hay "lối Trung Quốc" Bhadrasana, thường dành ở Á châu cho Maitreya, đức Phật Vị Lai. Khách ắt đặt câu hỏi vì sao cố ý ra khỏi truyền thống ?

Ở tu viện Sakya-Pa, xây dựng năm 1071, chuyên dạy theo lời giảng huấn của vị Bồ tát Manjushri và nhà triết học Ấn Độ Najarjuna (thế kỷ 2), đặc biệt có hình vẽ mạn đà la "Vũ trụ các la ma" và nhất là "Bánh xe cuộc sống" hay xe luân Bhavachakra, tượng trưng chu kỳ tái sinh vô tận. Đấy là hình vẽ một vòng tròn chia làm bốn lớp. Ở trung tâm là ba "nọc độc", ba con vật cắn đuôi nhau nghĩa là luôn liên kết với nhau : một con gà (tham), một con rắn (sân), một con heo (si). Bao quanh là một vòng nửa trắng (vùng giải thoát) nửa đen (vùng luân hồi). Trong vòng thứ ba, tương đối lớn nhất, sáu phần lục đạo : cõi Phật, cõi A Tu La, cõi người (ba cõi lành), cõi súc sinh, cõi quỷ đói, cõi địa ngục (ba cõi ác). Vòng ngoài cùng trình bày 12 hình vẻ người và vật tượng trưng 12 nhân duyên. Một makara, chúa tể thời gian, trên dùng miệng, dưới dùng móng, nắm giữ bánh xe như để xác nhận chúng sinh luôn bị thời gian siết chặt, khó lòng thoát khỏi vòng luân hồi. Đúng ngoài các vòng, bên mặt là đức Phật dang tay chỉ bánh xe, bên trái là xe pháp Dharmachakra.

Thấy ra đời sống tâm linh cũng sâu đậm. Du khách đi mau qua có thể chỉ thấy bên ngoài và hấp tấp phán đoán không đúng. Nhất là vào những năm thập niên cuối 60, đầu 70, một số thanh niên Âu Mỹ, mang tên hippy, tóc dài, áo cụt, kéo nhau lại Katmandu tìm một lối sống "ngoài thời gian và không gian", thỏa thích với đủ loại thuốc hút, ma túy, để lại một hình ảnh không chút lành mạnh. Ngày nay, loại thanh niên ấy không lảng vảng trong thành phố nữa nhưng dư vang một thời còn lắng đọng trong thung lũng nầy. Riêng phần tôi còn giữ một kỷ niệm cá nhân. Một hôm, nhân được đưa lên núi xem mặt trời trên các đỉnh Everest, Anapurna, tôi mất tự nhiên khi thấy một ông sĩ quan đội quân Nepal canh giữ biên thùy cứ chòng chọc nhìn tôi. Hỏi ra mới biết ông cho tôi là người Newar mà lấy làm lạ chỉ nghe tôi nói tiếng ngoại quốc. Biết đâu tôi lại thuộc dân tộc Newar mà không hay ! Gần đây, trong một tập Nhớ Huế, tác giả Tô Kiều Ngân có viết dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một bộ lạc nói tiếng Huế. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ nầy phải chăng đã phát xuất từ một cơ duyên nào đây ! Sau đấy, làm quen nhiều hơn, ông sĩ quan cho mượn ống nhòm nhà binh để mặc sức nhìn trời, ngắm núi, một cảnh đẹp thiên nhiên ít thấy vì Hy Mã Lạp Sơn cũng như Phú Sĩ San bên Nhật Bản, mây mù quanh năm, những đỉnh cao khi ẩn khi hiện, không phải lúc nào muốn là chiêm ngưỡng được dung nhan. Trầm ngâm một buổi chiều trên "đồi" (đồi ở đây cao hơn 3000 m, phải cao quá 5000 m mới được mang tên núi), tôi cảm thông tín ngưỡng của người bản xứ, sống trong một dải núi dài 800 km, rộng 50-230 km, ép mình giữa Ấn Độ và Tây Tạng, đã thấm nhuần những giáo lý nguyên thủy để chế biến ra một đạo Phật riêng biệt, chứng minh một đặc điểm của Phật giáo, bất cứ chỗ nào trên thế giới cũng biết thích ứng với nơi thâm nhập.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, LANFRANCE, chanhnguyen, zinzin04, Duy Thuc, 8N, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, Archéo, TINHVE
Logged

"Vô ngã mới là cái ngã thật. Và con người vĩ đại nhất là không ai cả! (Osho)"
 
 
 
SENTHISAO
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 58

Cảm Ơn
-Gửi: 89
-Nhận: 259



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2008, 04:45:04 AM »

Bộ Tripitaka ở chùa Haiensa xứ Đại Hàn
 
Võ Quang Yến
 



Sách du lịch thường khuyên đi ngang Huế, nếu có ít thì giờ, ít nhất phải viếng chùa Thiên Mụ. Sách du lịch cũng bảo ghé Đại Hàn, nếu chỉ có thì giờ đi xem một chùa thì nên viếng chùa Haiensa, vì chùa nầy không phải đẹp nhất, mà nhờ có bộ Tripitaka nổi tiếng. Có dịp đến đây vào cuối thu, chỉ nhẹ bước trên đường dẫn lên các thiền viện, trong ánh nắng chiếu qua các ngọn lá xanh, nâu, vàng, đỏ những cấy thích, bạch quả, là đã thấy lòng lân lân, sẵn sàng tiến vào cỏi Tiên Phật. Rồi khi khách đứng trước những ngôi nhà kiến trúc độc đáo, trang trí hài hòa là quên mọi bận bịu, buồn phiến của cuộc đời trần giới. Thật ra chùa đẹp không hiếm ở Đại Hàn. Gần kinh đô Seoul, có Pongunsa với bốn vị Thiên Vương ở ngay cửa ngoài, cạnh đó có Popchu với tượng đức Phật lớn nhất nước (27m) đội một cái mũ vuông bằng đá hoa cương, trên bờ Hoàng Hải có Naksansa được nhà sư Uisang dựng lên từ thế kỷ 7 sau khi đức Quan Âm hiện lên chỉ chỗ, quanh hải cảng Pusan có Tongdosa, một trong những ngôi chùa lớn nhất nước, dựa vào dãy Chiri còn hoang vu có Hwaomsa, ngôi chùa đẹp nhất vùng tây nam, vùng đồi Andong có Pisoka, ngôi chùa xưa nhất xứ... để chỉ kể một vài danh lam thắng cảnh không thể bỏ qua khi đi quanh xứ Ban mai trong sáng mà thường người Âu gọi là xứ Ban mai trầm lặng. Chùa nào cũng có vài ba bảo vật, ít nhiều quý báu, nhưng nói đến bộ Tripitaka thì không đâu sánh được với Haiensa.
Tripitaka là một Phạn tự, tri nghĩa là ba, pitaka theo nghĩa đen là một cái giỏ hay một cái hộp tượng trưng một tập chính văn. Ba tập nầy, ta gọi Tam Tạng, là ba loại văn bản hợp thành giáo điều Phật giáo : Sutra, Kinh tạng, gồm những bài thuyết pháp của đức Phật Thích Ca, là sách trình bày những bài giảng về học thuyết ; Vinaya, Luật tạng, gồm những giới luật do đức Phật chế định, là những quy tắc kỷ luật làm khuôn phép cho sinh hoạt các tăng sĩ ; và Abhidharma, Luận tạng, những bình chú về các Sutra và Vinaya kia, bao gồm những bài viết, sách Phật để trình bày giáo lý. Sau khi đức Phật viện tịch, hội nghị đầu tiên để sưu tập những lời giảng dạy của Ngài nhóm 500 vị La Hán trong một cái động ở miền nam thị xã Rajagriha vùng Magadha bên Ấn Độ, dưới sự giám sát của Maha Kashyapa (Ma ha Ca Diếp) , một trong những đồ đệ chính và lớn tuổi của Ngài, được xem là người hoàn hảo nhất trong cuộc thực hành khổ hạnh. Tục truyền trong buổi nhóm lịch sử ấy, Ananda (A Nan Đà), người bà con và cũng là đồ dệ gần nhất đã đi theo Ngài nhiều năm, đọc thuộc lòng những Sutra, còn Upali (U Bá Lị), đồ đệ đã áp dụng triệt để những lời dạy của Ngài, thì đọc những Vinaya. Phần Abhidharma được thêm vào sau, khi các tông phái Đại thừa phổ biến những bình chú, các nhà Phật học viết sách giới thiệu, trình bày giáo lý có hệ thống.

Phật giáo xâm nhập Hàn Quốc cuối thế kỷ 4 vào thời đại Tam Quốc. Những tăng sĩ Trung Quốc đầu tiên đến vương quốc Koguryo, dần dần lấn qua vương quốc Paekche, và hai thế kỷ sau Phật giáo mới phát triển mạnh mẽ ở vương quốc Sila. Cuối thế kỷ 8, vương quốc nầy yếu dần, nhiều sứ quân nổi dậy khắp nơi. Khi biên thùy bị vương quốc Paekche hăm dọa, vua Kyong mời một người có tiếng nhiều tài năng, Wang Kon, vào triều cứu giúp và sau đó, để tránh đổ máu, nhường ngôi luôn cho ông ta. Wang Kon thành công thống nhất xứ sở, đặt tên nước Koryo, tức là Koguryo rút ngắn lại, cho dời kinh đô từ Kyonju về Kaesong, lập nên một triều đại dài hơn 400 năm (918-1392). Tuy xuất thân từ một gia đình nhà buôn, ông biết mời giữ quý tộc cũ, tổ chức xã hội theo thứ bậc, sao phỏng thiết chế các triều đại đời Đường, Tống bên Trung Quốc. Tuy nhiên, Khổng giáo không lấn áp được Phật giáo : các vua mời nhiều tăng sĩ Phật giáo tham dự chính quyền và họ đã đóng một vai trò quan trọng trong mọi quốc sự lớn, nhỏ đến nỗi nhiều người không bằng lòng và chuyện nầy có ảnh hưởng rất nhiều trong tương lai của triều đại. Dù sao, lúc bấy giờ Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở nên quốc giáo. Chưa bao giờ chùa chiền được xây dựng nhiều như lúc nầy. Chính phủ lại khuyến khích việc giảng dạy Phật giáo nên nhiều chùa chăm lo chuyện ấn loát văn bản học thuyết. Với những đồ sứ màu lục nhạt celadon, bộ Tripikata là bằng chứng bất hủ của gia tài thời đại Koryo.

Những năm đầu thế kỷ 9, hai tu sĩ Hàn Quốc đi du học hên Trung Quốc về, cất một cái nhà tu nhỏ cạnh một ngọn suối, lấy thanh tịnh làm gốc, thực hiện phép thiền seon nơi yên lặng núi đồi. Thanh danh của họ lan tràn khắp nơi nên khi bà hoàng hậu bị đau yếu thì nhà vua Shila mời hai vị nầy lại cứu chữa. Thành công mỹ mãn nhờ kiến thức rộng lớn về thuốc men, họ được vua biết ơn, bỏ tiền cho xây một ngôi chùa lớn thay thế nhà tu nhỏ trước kia. Sau nầy nhà vua tiếp tục cung cấp vật liệu, tài chánh và cũng thường hay đi lại không những để nghỉ ngơi mà còn để đàm đạo với hai nhà chân tu. Chùa Haiensa nhờ vậy trở nên một trong những ngôi chùa lớn nhất với Tongdosa và Songkwangsa, gồm khoảng 30 ngôi nhà, đạt đến 300 tăng sĩ. Tọa lạc trên sườn núi cây rừng trong dãy Kaya, chùa Haiensa thuộc tông phái Avatamshaka mà giáo điều hướng về mục tiêu chứng minh thế giới hiện tượng chỉ là một ảo tưởng không có gì vững bền, một phản ảnh trên nuớc. Đường lên chùa dẫn khách qua một tam quan, đi ngang trước miếu thờ đức Bodhidharma (Bồ Đề Đạt Ma) trước khi đạt đến sân thứ nhất, rộng lớn với nhiều nhà dịch vụ. Một trong những nhà nầy đặt biệt có đặt ở giữa một cái trống lớn và treo xung quanh một cái mõ gỗ hình cá, một cái khánh hình đám mây và một cái chuông đồng : người ta đánh trống kêu gọi tín đồ thập phương trên bộ, đánh khánh để mời sinh vật trên trời, đánh mõ để rước sinh vật dưới nước và đánh chuông để thỉnh thần linh ở thế giới bên kia. Mỗi ngày các tu sĩ hành lễ ba lần : sáng tinh sương khi mặt trời chưa mọc, giữa trưa trước ngọ và chiều vào lúc chạn vạn, mặt trời vừa lặn.

Một cái thang dưới điện Kugwangsu đưa khách lên sân thứ hai, trước một viện bảo tàng nhỏ. Trước cửa, một hình tượng gỗ sơn màu hình dung vị sáng lập giáo phái Hwaom đã được thiên cảm ngay ở Haiensa. Trội hẳn sân thứ ba là chính điện Taejokkwangjon (1818) thờ phụng Vairochana, tức là đức Thật thần khải, nguồn gốc của mọi Chân lý. Phật giáo ở đây còn được thể hiện qua bức chân dung đức Thích Ca Mâu Ni vẻ bên trái bàn thờ và một miếu thờ 16 vị La Hán ở cuối sân, nhưng các Ngài không phải là những vị độc nhất được sùng bái. Trong sân còn có miếu thờ Kshitigarbha tức Chijang (Địa Tạng), chủ tọa tòa án gồm có 10 vị Diêm Vương và những thánh rất xa lạ với Phật giáo như thần núi sa man Shanshin ngồi với cọp, ẩn sĩ Lão giáo Toksong giữa rừng thông, thác, hươu, sếu, Chilsong tức Long Vương ở biển cả. Sau chính điện, một cái thang dẫn khách lên sân cao nhất là nơi có hai dãy nhà song song làm thành thư viện chứa đựng bộ Tripitaka. Được xây dựng năm 1488, hai ngôi nhà nầy may mắn còn tồn tại sau các vụ hỏa hoạn, lớn nhất là vào năm 1817 đã đốt cháy rất nhiều.

Vào thế kỷ 10, các tăng sĩ Trung Quốc đã từng in toàn bộ những văn bản của tông phái Đại thừa nhưng rủi thay những bản khắc gỗ bị tản mác hay phá hủy. Qua thế kỷ 13, một bộ 5048 tập được khắc lại theo bản gốc Trung Quốc trước đây hầu mong đức Phật phù hộ đất nước Koryo bị những bộ lạc phương bắc quấy nhiễu nhưng bộ nầy lại bị quân Mông Cổ hủy diệt toàn toàn. Vào lúc ấy, triều đình phải chạy về trốn ở Kanghwa. Vua Kojong truyền lệnh phải khắc lại một bản khác. Công trình thật vĩ đại vì phải chạm những văn bản chứa đựng trong 1340 cuốn sách lúc ngành ấn loát chưa biết chữ rời, chỉ có thể in từ bản khắc gỗ. Gỗ mua từ Trung Quốc đem về cần phải xử lý rất công phu và lâu năm : ngâm 3 năm trong nước mặn, 3 năm trong nước ngọt, chôn 3 năm dưới đất rồi sau cùng cho phơi ra khí trời 3 năm nữa. Sau đấy khắc chạm trên hai mặt gỗ (23 x 67 cm), mỗi mặt 22 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Năm 1251, công tác hoàn thành sau 16 năm công lao cần mẫn, thực hiện được 81.258 bản ! Cũng nên biết là chùa còn tích trữ 1835 bản gỗ cùng thời đại Koryo nhưng không thuộc bộ Tripitaka.

Lúc đầu, cả bộ Tripikata được giao cho chùa Chondungsa ở Kanghwa là chùa lớn nhất của đảo chăm giữ. Đến năm 1398, thấy quân giặc từ Nhật Bản lại hoành hành, cướp phá, vua Songjong truyền lệnh chở bộ Tripokata rời đảo, chuyển đến chùa Haiensa ở trong miền núi, hồi ấy được xem như là một tu viện kiên cố, khó tấn công. Để tránh không khí ẩm ướt phá hư, những tu sĩ phải đặt các bản gỗ trên những kệ thoáng khí như những pho sách, bên cạnh có những của sổ ở vách, tường phải tính toán làm sao cho không khí di động vừa phải để luôn giữ lột độ ẩm không thay đổi. Kết quả là cho đến ngày nay các bảng gỗ không hề nứt nẻ hay bị vênh váo và luôn còn dùng được. Tuy nhiên, mọi công việc đều phải được thực hiện bằng tay, rất mất thì giờ nên các tu sĩ phải hạn chế cuộc sản xuất ấn loát. Lần cuối cùng năm 1967, để in 13 tập, chùa đã phải vận dụng 100 nhân công trong luôn 6 năm !

Bộ Tripikata thật có một không hai. Đứng trước một công trình đồ sộ như vậy, khách chỉ biết khâm phục và cảm kích. Chùa Haiensa nhờ đó cũng được thơm lây và hàng ngày khách thập phương đến viếng đông vô kể. Trong số 13 nhà tu khổ hạnh thuộc chùa Haiensa, có tiếng nhất là Hongjean vì đây là nơi đã sống và chết vị tu sĩ - chiến sĩ nổi danh thời kháng chiến Imjin chống Nhật. Thông thái, thành thạo võ thuật, ông được giao nhiệm vụ đánh quân ngoại xâm với 5000 tu sĩ và thành công đàm phán đem về 3000 chiến binh bị giữ làm con tin. Một hình tượng ông được cất lên trước cửa Viện Đại học Phật giáo Dongguk ở Seoul. Tuy nhiên đi quanh một vòng Đại Hàn, khách còn mục kích được những cảnh tượng hay chia sẻ những giây phút ở thiền viện cũng sống động không kém gì. Vẫn biết người Hàn Quốc sùng bái Vaicochana nhưng hình tượng lạ lùng trong mắt du khách Việt Nam là đức Phật Vị Lai Maitreya mà dân bản xứ gọi là Myruk, không có chút gì giống với đức Di Lặc của ta. Ở Paju, cạnh kinh đô Seoul, ở Taejosa, Kwanchoksa, cạnh cố đô Pujo, cũng như ở Namsan trong thung lũng Kyonju,... khách không sao tránh được kinh ngạc thán phục trước bức tượng những ông phỗng cao từ 7 đến 18 m, với một cái mũ vuông hai tầng, sừng sững giữa sân bằng hay trên đồi cao, trong tựa như người không lồ trong chuyện cổ tích.

Nếu những hình tượng nầy gây cảm giác sợ hải hay kính phục, kích thích tôi nhất là hôm ở Pulguksa, ngôi chùa của xứ Phật, công trình của kiến trúc sư có tiếng Kim Taesong (thế kỷ 8), trong một buổi lễ lớn, một vị sư cơ thể nở nang, tay nắm xập xỏa, uyển chuyển nhưng hùng mạnh múa nhảy biểu lộ nổi hân hoan của đức Phật khi tìm ra Chân lý. Chắc Phật giáo Mật tông đã có ảnh hưởng nhiều lên tông giáo nầy. Nhưng làm tôi xúc cảm nhiều nhất là hôm ở Songwangsa, ngôi chùa đặc biệt đón nhận tăng ni tứ xứ, vào lúc 6 giờ chiều, các vị sư trẻ xếp hàng lần lượt ra tay múa nhảy đánh trống kêu gọi tu sĩ nhập thiền. Từ khắp các nẻo chùa, các thầy lặng lẽ nối đuôi nhau đi vào thiền đường, không một lời nói, không một tiếng động. Tiếng trống vừa dứt thì mặt trời cũng vừa lặn, không còn một nhà sư nào ở ngoài sân, chính điện cũng vừa lên đèn sáng trưng như hòn ngọc bích nổi lên trong đêm tối. Bầu không khí trở nên nghiêm trang, thanh thản và tuy đứng ngoài, không nhập cuộc, tôi không khỏi rùng mình, tưởng mình như ở trên đường bước vào một thế giới tâm thần khác. Tôi còn muốn lưu lại ít lâu nữa để hưởng cho tận cùng giây phút thần tiên nhưng người ta mời ra khỏi chùa để khỏi quấy rầy sự yên tĩnh của các nhà sư.

Đi viếng đất Phật, được sống những giờ phút sâu đậm như thế, được chiêm ngưỡng những bảo vật như bộ Tripikata ở chùa Haiensa, thật không có gì để lại trong lòng khách nhiều ấn tượng tốt đẹp, nhiều kỷ niệm rung cảm bằng. Tôi cảm thấy có đuợc rất nhiều may mắn.


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, SCC, LANFRANCE, chanhnguyen, zinzin04, Duy Thuc, 8N, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, Archéo, TINHVE
Logged

"Vô ngã mới là cái ngã thật. Và con người vĩ đại nhất là không ai cả! (Osho)"
 
 
 
SENTHISAO
Jr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 58

Cảm Ơn
-Gửi: 89
-Nhận: 259



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2008, 04:45:52 AM »

MỜi các bạn đọc những bài chùa này đế lên kế hoạch đi hành hương hay đi tu cũng được .. big grin

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, LANFRANCE, chanhnguyen, zinzin04, Duy Thuc, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, Archéo, TINHVE
Logged

"Vô ngã mới là cái ngã thật. Và con người vĩ đại nhất là không ai cả! (Osho)"
 
 
 
LANFRANCE
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 713

Cảm Ơn
-Gửi: 3025
-Nhận: 5155



Xem hồ sơ cá nhân Email
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Mười Một 15, 2008, 03:16:59 PM »

Cám ơn bác Sen , chắc ăn nhà tôi có ngâm cứu các chùa của bác post để nếu tôi chưa đủ phước đi tu thì mấy đứa con tôi sẽ gửi gắm nơi cửa Phật ... big grin

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, chanhnguyen, zinzin04, Duy Thuc, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Archéo, TINHVE
Logged

Nguyện cầu Cha Mẹ khoẻ mạnh sống đời bên con.
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Chín 27, 2010, 09:46:51 AM »

Chùa Kim Liên
Nguyễn Dư

Mời bạn "đi thăm" chùa Kim Liên, một ngôi chùa cổ nổi tiếng của Hà Nội.

"Chùa ở làng Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm. Nguyên xưa là chùa Ðống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên cái nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái Lý Thần Tông ra đời. Sau chỗ này lập trại trồng dâu nuôi tằm nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm Dương Hòa thứ 5 (1639), chùa được tu sửa lại, gọi là chùa Ðại Bi. Ðến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), lại có cuộc trùng tu, và chùa mang tên Kim Liên. Chùa được đại tu vào năm 1792 và trùng tu nhiều lần về sau. Chùa hiện nay là di sản nghệ thuật kiến trúc thời Tây Sơn...". (Võ Văn Tường: Việt Nam danh lam cổ tự, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr 393)

"Bên bờ hồ Mù Sương giáp liền bờ sông Cái, trại tằm lớn của Kinh thành. Ngàn dâu xanh ngắt một màu chạy suốt dọc bờ đê. Những ngôi nhà tằm, ở đó vất vả đêm ngày những "tang thất phụ", những phụ nữ có tội phải làm lao dịch hái dâu chăn tằm, kéo kén, ươm tơ để cung nữ dệt lụa là gấm vóc. Giữa khu nhà tranh mọc lên cung Từ Hoa mái ngói vàng chanh. Công chúa Từ Hoa nhân từ và mặt đẹp như hoa chán cảnh cung đình tẻ nhạt, nằng nặc xin vua cha Lý Thần Tông ra ở trại ngoài, chăn tằm, sướng khổ với đàn bà bị tội khổ sai. Ngày công chúa qua đời thì cung Từ Hoa cũng trở thành ngôi chùa công của phường Nghi Tàm, với kiểu kiến trúc là lạ...". (Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán: Hà Nội nghìn xưa, NXB Sở Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1975, tr 156)

"Ðây là chùa Kim Liên, còn có tên là chùa Ðống Long, nhưng tên cũ là chùa Từ Hoa. Nguyên con gái Lý Thần Tông (thế kỷ 13) (1) là nàng Từ Hoa, ra tu ở đó, nên vua sai làm cung cho ở. Có người lại nói là vua sai ra học nuôi tằm. Ðến các đời sau, lại có những quan thị và những phi tần ra ở, hóa ra trong chùa có tượng một thái giám (có người cho đó là tượng chúa Trịnh) và chùa cũng được vua chúa sửa sang. Có thể nói Kim Liên là ngôi chùa cổ và đẹp nhất vùng Tây Hồ...". (Hoàng Ðạo Thúy: Thăng Long Ðông Ðô Hà Nội, NXB Hội Văn Nghệ, Hà Nội, 1971, tr 35)

Ba lời giới thiệu chùa Kim Liên gần giống nhau. Cả ba cùng nói đến công chúa Từ Hoa, con vua Lý Thần Tông. Nhưng cũng khác nhau ở một điểm: Võ văn Tường cho rằng chùa được xây về đời Trần, trên cái nền nhà cũ nơi công chúa Từ Hoa ra đời. Trần Quốc Vượng và Hoàng Ðạo Thúy thì lại cho rằng chùa có từ đời Lý, do cung Từ Hoa sửa chữa tạo thành. Hai tác giả này còn cho biết thêm là công chúa Từ Hoa ra ở nơi đây để "chăn tằm, sướng khổ với đàn bà bị tội khổ sai" hoặc cũng có thể "ra tu ở đó, nên vua sai làm cung cho ở".

Ðọc ba lời giới thiệu này tôi thích quá. "Em là ai, cô gái hay nàng tiên?" (Tố Hữu). Xin phép được phạm thượng... mê công chúa Từ Hoa. Vừa đẹp người, vừa đẹp nết. "Nhân từ, mặt đẹp như hoa" lại còn thích gần gũi đám dân bị tội khổ sai. Biết đâu trong đám dân lam lũ đó lại chả có cả tổ tiên mấy chục đời của tôi?


Mê công chúa Từ Hoa, tôi đâm ra mến lây cả vua cha Lý Thần Tông. Chắc hẳn đây phải là một ông vua đức độ, một vị minh quân.

Tôi háo hức lật "Ðại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sĩ Liên (NXB Khoa học Xã hội, tập 1, Hà Nội, 1967, tr. 259-274), để "tìm hiểu" công chúa Từ Hoa và cha nàng.

Vua Lý Thần Tông, tên là Dương Hoán, con Sùng-hiền hầu, sinh năm 1116. Năm 2 tuổi được bác là vua Lý Nhân Tông đem vào nuôi trong cung, lập làm hoàng thái tử. Năm 1127 vua Nhân Tông băng, Dương Hoán lên nối ngôi, lấy hiệu là Lý Thần Tông (vua được 12 tuổi ta). Lên trị vì, vua tự thấy rằng "Trẫm còn trẻ thơ, nối nghiệp lớn của tiên thánh, mà thiên hạ yên tĩnh, trong cõi sợ uy, đều là nhờ sức của các khanh, các khanh nên cẩn thận chức vụ, chớ có lười biếng, để giúp trẫm những chỗ thiếu sót".

Năm 1130 (vua được 15 tuổi), xuống chiếu rằng con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi chọn sung vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy chồng!

Sứ thần Lê văn Hưu can đảm nhận xét rằng: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn nuôi, không phải để cho vua tự phụng. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có vợ có chồng (...). Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi thi tuyển vào cung không trúng rồi mới được lấy chồng thì là tự phụng cho mình, có phải là lòng làm cha mẹ dân đâu?".

Phải chăng nhờ "chính sách kiểm duyệt" này mà vua cứ tha hồ "vùng vẫy trên lưng ngựa" đến nỗi năm 1136 mắc bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi, thân mang ác tật. Có sách ghi rằng vua bị bệnh "hóa hổ". May được "Lý triều quốc sư" Nguyễn Minh Không chữa khỏi.

Vua Lý Thần Tông chết năm 1138, thọ 23 tuổi.

Ông vua trẻ này "quá ưa thích điềm lành vật lạ, sùng thượng đạo Phật, chẳng đáng quý gì".

Vua có 5 người con
- Hoàng thứ trưởng tử Thiên Lộc sinh năm 1132, sau phong làm Minh Ðạo Vương.

- Hoàng trưởng nữ sinh rồi chết (cùng năm 1132). Ngô Sĩ Liên không ghi tên là gì. Theo tục xưa thì đứa bé con đầy tháng hoặc đầy năm mới được đặt tên. Ta có thể đoán là hoàng trưởng nữ sống chưa được một tháng hoặc một năm.

- Hoàng trưởng tử Thiên Tộ sinh năm 1136

- Hoàng tử thứ ba sinh năm 1137

- Hoàng nữ thứ hai sinh cùng năm 1137, sau phong làm Thụy Thiên công chúa.

Tôi ngạc nghiên và ... thất vọng, không thấy bóng dáng công chúa Từ Hoa. Rõ ràng một bên là "ba mặt một lời", một bên là sử gia Ngô Sĩ Liên.

Có thể nào có sự nhầm lẫn công chúa Từ Hoa với hoàng trưởng nữ hoặc công chúa Thụy Thiên không? Chắc là không vì tính đến năm cha chết (1138), Thụy Thiên được 2 tuổi, hoàng trưởng nữ cho dù có sống lại cũng mới được 7 tuổi. Một công chúa 2 tuổi, hoặc 7 tuổi, mà đã "nằng nặc xin vua cha ra ở trại ngoài" để chăn tằm với dân nghèo, hoặc để đi tu, quả là một điều khó tin.

"Cái nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái Lý Thần Tông ra đời" cũng đặt cho chúng ta một dấu hỏi lớn. Tuy sử không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng vua gặp gỡ các cung phi ở trong cung thành. Và các hoàng tử, công chúa đều được sinh ra trong cung. Ðịa điểm chùa Kim Liên (hoặc cung Từ Hoa) nằm ngoài kinh thành nhà Lý. Như vậy lại phải đưa ra thêm một giả thuyết là mẹ của công chúa Từ Hoa bị hắt hủi, bị đuổi ra ngoài cung thành. Mẹ phạm lỗi gì đó để bị đuổi thì con đẻ ra chắc chắn không được gọi là công chúa.

Vì vậy mà tôi nghĩ rằng, cả ba ý kiến cho rằng chùa Kim Liên bây giờ, trước kia là cái nền nhà cũ nơi công chúa Từ Hoa ra đời, hoặc là chỗ công chúa Từ Hoa chăn tằm, hoặc là chỗ công chúa Từ Hoa ra tu, đều đáng nghi ngờ.

Không đủ tài liệu để tra cứu thêm về nhân vật Từ Hoa, chúng ta tạm ngưng nơi đây. Mời bạn rời chùa Kim Liên sang thăm chùa Trấn Quốc, một chùa nổi tiếng khác của Hà Nội.

Chùa Trấn Quốc, cách chùa Kim Liên không xa lắm, "xưa ở bãi An Hoa, giáp sông Hồng, dựng từ đời Lý Nam Ðế (544-548) gọi là chùa Khai Quốc, sau đổi là chùa Trấn Quốc.

Năm 1615 bãi sông bị lở, chùa được dời tới làng Yên Phụ, cạnh Hồ Tây, dựng trên nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần, cũng là nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý" (Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển 1, NXB Khoa học Xã hôi, Hà Nội, 1978, tr 33).

Cung Thúy Hoa và cung Long Thụy được vua Lý Thái Tổ dựng năm 1010 để cho cung nữ ở. Cung nằm trong kinh thành Thăng Long. Lịch sử chùa Trấn Quốc có bãi An Hoa, có nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần, nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý.

Tôi cho rằng tên Thúy Hoa đã bị nhầm thành Từ Hoa.

Võ Văn Tường (sđd, tr. 390) cho biết một chi tiết khác về chùa Trấn Quốc: "đến đời Lê Kính Tông (1600-1618) chùa được dời vào hòn đảo Cá Vàng ở giữa Hồ Tây, tức địa điểm hiện nay".

"Cá Vàng" chữ Hán có thể viết là Kim Liên. Chữ liên nghĩa là cá liên ít dùng lại đồng âm và viết gần giống chữ liên thường dùng nghĩa là hoa sen, một hình tượng của đạo Phật, chùa chiền. Ðảo "Cá Vàng" trở thành chùa "Kim Liên" cũng là điều dễ hiểu.

Tôi nghĩ rằng người ta đã nhầm lẫn các tên gọi, rồi gán lịch sử chùa Trấn Quốc cho chùa Kim Liên.

Kim Liên = Cá Vàng
Kim Liên = Sen Vàng

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, zinzin04, Duy Thuc, 8N, tadamina, mavuong, byphuong, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Archéo, TINHVE
Logged
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Chín 28, 2010, 07:34:03 AM »

CHÙA THẦY & HUYỀN THOẠI 3000 BỘ XƯƠNG

Tụ linh khí xứ Đoài

Cách trung tâm Hà Nội gần nửa giờ đi xe máy, xã Sài Sơn hiện ra giữa những núi đá vôi cây cối rậm rạp đầy u tịch. Ngự giữa không gian ấy, chùa Thầy như là nơi phát ra muôn ngàn sương khói mờ ảo bao trùm lên cả xã 5 thôn xung quanh.

Chùa Thầy có tên chữ là Thiên Phúc tự bao gồm quần thể di tích Phật giáo ở quanh núi Thầy (tên chữ là Sài Sơn) gồm chùa thiên Phúc, chùa Long Đẩu, chùa Đỉnh Sơn, am Phật Tích, chùa Bối Am ở trên núi và cả những di tích phi Phật giáo như: đình, võ miếu, đền thánh Văn Xương (vị thần văn học), hang Cắc Cớ, chợ Trời… ẩn hiện sau những cây sứ đại thụ ngàn năm tuổi tỏa hương phảng phất.

Thực hư bể hài cốt ngàn bộ xương

Hang Cắc Cớ có cửa nằm gần trên đỉnh núi chính, du khách muốn thăm quan phải qua một đoạn đường đá dốc đứng khá nguy hiểm. Theo một cụ già bán nước hơn 30 năm ở đây thì hang là nơi cầu duyên, cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, cầu con.

Lối xuống hang dốc đứng trơn trượt dù đã được xây bậc bằng xi măng và có thanh sắt để vịn. Trong hang bóng tối gần như bao phủ hoàn toàn, nhưng tia sáng hắt xuống qua cổng trời những ngày nắng loáng nhoáng trên những nhũ đá lấp lánh thứ ánh sáng huyền bí. Những ngày mưa, không khí ẩm trong hang phủ dày một màn sương mù dày đặc đầy hơi hướng cõi âm.


Truyền thuyết kể rằng, chùa được dựng từ thời Lý cùng thời với thiền sư danh tiếng Từ Đạo Hạnh được dân gọi tôn kính và thân thuộc là Thầy (tức Thầy chùa), từ đó thành tên chùa là chùa Thầy. Xét về phong thủy, một cao niên ở đây giảng giải, núi Thầy được xem như là con rồng lẻ đàn độc đáo (quái long), xung quanh có 16 ngọn núi nhỏ (thập lục kỳ sơn) là các con lân, phượng, quy… chầu về. Chùa được dựng ở khu đất hàm rồng, sân trước chùa là lưỡi rồng thè ra uống nước, hai Nhật - Nguyệt tiên kiều như hai râu rồng và nhà Thủy đình là viên ngọc mà rồng vờn.
(Bàn thờ Lữ Gia) 
 
Bia Phật Tích sơn tự thi ghi lại lời chúa Định vương Trịnh Căn (1682-1709) khi qua đây: “Nay thấy chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích như viên ngọc nổi lên giữa đám ruộng sỏi đá rạng vẻ xuân tươi ở cả bốn mùa. Động Tiên hệt như cõi thanh hư bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật - Nguyệt đôi vầng. Núi tựa bình phong, sóng như dải lụa. Đá in dấu lạ, mãi mãi ghi điều thần diệu, vang reo sắc sáng, đường đường đầy rẫy quang minh. Tiếng Phật pháp đã vời được khách lạ dâng hoa, đạo đạo thừa lại khiến cả người quê tiến quả. Đó chính là vườn xanh núi Thúy dời đến chốn nhân gian vậy..

Du khách vào chùa sẽ qua hai cây cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều trải bao mưa gió vẫn cổ kính rêu phong cùng thời gian. Giữa hồ có nhà thủy đình, nơi vẫn thường diễn ra múa rối nước, một đặc trưng chỉ có ở chùa Thầy.

Nơi đây đã đón nhiều danh nhân về thăm như Phan Huy Chú, Phùng Khắc Khoan. Đặc biệt, Nhà lưu niệm Bác Hồ tại đây ghi lại, ba lần Bác về thăm và làm việc ở nơi này.

Tương truyền hang có 9 tầng, tương ứng với chín tầng địa ngục. Trong đó, bể xương và bàn thờ Lữ Gia ở tầng thứ 3. Ngay lối xuống có một hang sâu mà theo người dẫn đường đó là lối dẫn xuống tầng địa ngục thứ 4. Bóng tối mịt mùng, thử ném một viên đá thì phải hơn phút sau mới nghe tiếng dội lại vang vọng mãi như ngàn tiếng linh hồn u uất. Người dẫn đường kể, đã có người buộc dây thừng ngang bụng xuống thám hiểm nhưng xuống chừng 30m mà không thấy đáy chỉ tối om và ngột ngạt nên đành quay lại.

Đi sâu hơn đến cổng trời, nơi thông thiên trời đất, sương mù từ dưới bay lên gặp     Cảnh âm u, mờ mịt của hang Cắc Cớ   ánh sáng trở nên mờ ảo. Những nhũ đá trong hang với những hình thù thiên tạo gắn vớ những sự tích như rồng chầu, suối bạc, trứng voi,…sinh động như có bàn tay con người tạo tác.

Theo những bậc đá trơn trượt, chúng tôi đến bàn thờ Lữ Gia, nơi thờ những nghĩa quân tương truyền chống Hán xưa kia thất trận chết tại đây. Không khí ẩm thấp nhuốm mùi nhang khói làm mọi người thấy lành lạnh sau lưng. Dấn bước vào sâu hơn là bể xương khổng lồ đầy huyền bí.

Theo người dân địa phương, bể xương này được xây lên để thu gom những hài cốt nằm la liệt các nơi trong hang trước đây. Thắp nhang làm lễ xong, du khách rướn người ngó vào trong bể xương, 1, 2,3… chiếc đầu lâu cùng nhiều xương ống mỗi cái một hình thù mờ mờ, ảo ảo. Đưa máy ảnh vào chụp, bấm đèn fash nhưng những bức ảnh chỉ là một màu trắng nhòa nhuốm màu âm khí. Tạ lễ lui ra, du khách không khỏi thót mình vì lũ dơi ở đâu phành phạch bay tứ tung…Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phùng Thành Chủng, bể xương này chứa khoảng 3.000 bộ xương người. Chưa thấy có tài liệu nào trong nước chính thức ghi lại về nó. Trong một vài văn bản sử của nhà Hán chỉ thấy đề cập đến có quân “giặc cỏ họ Lữ” chứ không nhắc gì đến hang Cắc Cớ.

Mỗi năm khai hội chùa Thầy, ngày 7-3 âm lịch, du khách thập phương lại về chiêm bái và vui chơi. Hang Cắc cớ không chỉ chứa đầy bí ẩn mà từ lâu đã là nơi cầu duyên cho nam nữ thanh niên:
“Gái chưa chồng thăm hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”


Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
8N, Duy Thuc, chanhnguyen, nhuocthuy, tadamina, mavuong, byphuong, ongdia, chonhoadong, anhlam, nguyenthuy, Archéo, TINHVE
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 28, 2010, 07:38:40 AM gửi bởi Yahoo » Logged
 
 
 
ngodao
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 189

Cảm Ơn
-Gửi: 2596
-Nhận: 1188



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Mười 15, 2010, 02:55:49 PM »

Chùa Đất Sét Sóc Trăng: Ngôi chùa độc nhất vô nhị
Sóc Trăng có nhiều ngôi chùa độc đáo nhất ĐBSCL. Chùa Dơi (chùa Mã Tộc) nơi hội tụ của hàng ngàn con dơi quạ, loài dơi lớn có sải cánh dài từ 1-1,5m; Chùa Chén Kiểu với hàng nghìn chén kiểu lớn nhỏ được đính trên các mái, vách, cột chùa; Chùa Vàng lộng lẫy với nét chạm khắc tinh tế... mang nét văn hóa đặc trưng của người Khmer Nam Bộ. Chùa Đất Sét còn gọi là chùa Bửu Sơn Tự, ngôi chùa với hàng ngàn tượng lớn nhỏ bằng đất sét, cột chùa cũng bằng đất sét. Độc đáo hơn nơi đây còn có 8 cây đèn cầy nặng tổng cộng 1,4 tấn.

Cặp đèn cầy lớn bên bàn thờ Bác Hồ

Kỳ Lân bằng đất sét

Bạch Hổ bằng đất sét
 Chùa được xây dựng cách đây 200 năm, do một người trong dòng họ Ngô sáng lập. Ông Ngô Kim Giản, 86 tuổi trụ trì chùa đời thứ 5 cho biết: Năm 1928â Ông Ngô Kim Tòng, thuộc đời thứ tư, người khởi xướng trùng tu chùa, qua một lần "nằm mộng" ông nghĩ ra cách nặn tượng bằng đất sét thay vì phải đúc bằng đồng, vàng… Trong cảnh nghèo khó, ông đã quyết định sử dụng đất sét để nặn tượng xây dựng chùa. Đầu tiên đất sét lấy về, ông cho phơi thật khô, sau đó bỏ vào cối giã thật nhuyễn, rồi sàng lọc bỏ rễ cây, rễ cỏ, lấy đất mịn trộn với bột nham ô dước tạo thành một hỗn hợp dẻo, thơm để sử dụng nắn tượng Phật và xây chùa. Ông Ngô Kim Tòng lúc ấy 20 tuổi, người chưa hề học qua lớp điêu khắc nào, ông vẫn bắt tay vào tạc tượng. Hơn 1000 pho tượng lớn nhỏ ông tạc, nặn một cách tinh tế trong vòng 42 năm. Khi đã hoàn thành việc xây cất chùa và trang trí các tượng Phật, tượng loài thú trong chùa thì ông bắt đầu lâm bệnh nặng và mất ở tuổi 62. Cho đến nay các tượng lớn, nhỏ này hiện vẫn còn nguyên vẹn ở chùa Đất Sét. Nào là tượng A Di Đà, Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế… Sự sắp xếp tượng ở đây nói lên tư tưởng Tam giáo đồng viện (Phật-Nho-Lão). Pho tượng "Bảo tòa thỉnh Phật trụ thế truyền tháp luận" có đến 1000 cánh sen, mỗi cánh sen là một vị thần ngự. Phía dưới đài sen lại có "Bát quái Thiên tiên" gồm 8 cung, đó là " Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài"; mỗi cung có hai tiên nữ đứng hầu; dưới đài sen và Bát quái là Tứ đại Thiên Vương trấn giữ.

Tượng Phật  thờ trên chùa

Tượng Phật che mắt
 Riêng tháp Đa Bảo cao 3,5m được thể hiện hết sức độc đáo. Tháp có 13 tầng với 208 cửa vị thần; dưới chân tháp có 126 rồng nâng đỡ tháp. Ngoài ra còn có lục long đăng 3 chóp đỉnh lớn, 7 lư hương nhỏ và các cặp Kim Lân, Thanh Sư, Bạch Tượng, Bạch Hổ, Long Mã. Những chi tiết này nhiều người tưởng là đúc bằng đồng, mạ kim nhũ với dầu bóng, nhưng tất cả đều được làm từ đất sét.
    Chùa Đất Sét không chỉ nổi tiếng bởi các pho tượng làm bằng đất sét mà còn 8 cặp đèn cầy lớn, mỗi cây cao 2,6m, ngang 1m (chứa 200kg sáp), được dòng họ Ngô đúc năm 1940. Hiện nay hai đèn nhỏ cháy suốt ngày đêm từ khi ông Ngô Kim Tòng qua đời (ngày 18-7-1970 đến nay). Nếu cháy hết sáp phải vào cuối năm 2006. Bình quân mỗi cây đèn cháy suốt ngày đêm phải mất 70-80 năm. Hiện nay mỗi ngày chùa đón trên 200 du khách và phật tử đến tham quan. Và đây được xem là ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam vì có trên 10.000 tượng lớn nhỏ đều được làm từ đất sét, là địa chỉ thu hút du khách mỗi khi đến Sóc Trăng.

TRƯƠNG CÔNG KHẢ

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, tadamina, mavuong, byphuong, anhlam, Yahoo, nguyenthuy, dieunha, Archéo, TINHVE
Logged

Tam nghiệp hằng thanh tịnh.<br />Ðồng Phật vãng tây phương.
 
 
 
8N
Sr. Member
*
Offline Offline

Bài viết: 325

Cảm Ơn
-Gửi: 2765
-Nhận: 1635


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Một 06, 2011, 02:50:06 PM »

Hiên ngang đứng giữa đất trời
Nguyễn Dư

Ngày bé, mình xem Chùa Một Cột, thấy cái cột bằng gỗ, chứ không xây như bây giờ. Cột mà xây thì còn gì là hay nữa.
(Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Nhớ và ghi về Hà Nội, nxb Trẻ, 2004, tr. 117).
Hay hay không hay ? Cột xây hay cột gỗ ? Muốn biết thì... dựa cột mà nghe!

Đại Việt sử kí toàn thư chép : năm 1049, vua Lý Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu. Trước đấy, vua chiêm bao thấy phật Quan Âm ngồi trên toà sen, dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật Quan Âm ở trên cột, giống như đã thấy trong mộng.

Một tấm bia, khắc năm 1665, kể rằng :

" Năm đầu niên hiệu Hàm Thông đời Đường [...], dựng một cột đá ở giữa hồ. Trên cột xây một toà lầu ngọc, trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng " (...).
(Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển 1, Khoa Học Xã Hội, 1978, tr. 59).


Chùa Một Cột năm 1884 (ảnh Hocquard)

Chùa được sửa chữa nhiều lần. Năm 1847 :

" May nhờ các quan Đốc bộ đường trước nay và các viên văn vũ bản tỉnh, xúc cảm trước cảnh chùa, phát lòng bồ đề, gia công tu bổ, khiến cho cửa Thiền lộng lẫy, tượng Phật huy hoàng, sánh với hoàng đô muôn đời bất diệt, so cùng cột đá, lâu mãi vững bền. Công này, đức này, tiếng để ngàn năm " (...). (sđd, tr. 61).

Cái cột đá của chùa Một Cột đã có từ thời nhà Lý, hay trễ nhất cũng là từ thế kỉ 17.

Tháng 5 năm 1884, bác sĩ Hocquard dạo chơi quanh Hà Nội, có ghé thăm chùa Diên Hựu.

" Hai cụ từ giữ chùa ở trong một ngôi nhà rất ngộ nghĩnh. Nhà được xây cất trên cột đá dựng giữa một cái ao đầy bèo và sen. Trông như một cái tổ chim. Ngôi nhà được mấy thanh gỗ ngang gắn vào cột đá chống đỡ. Giống mấy cái nan ô được gắn vào cán ô ". (Docteur Hocquard, Une campagne au Tonkin, Arléa, 1999, tr. 266).

Ngày xưa, đã có lúc chùa Một Cột được dùng làm chỗ ở của người trông coi chùa Diên Hựu.

Mấy tấm ảnh của Hocquard (bản khắc tr. 211, sđd), của Dieulefils (Indochine pittoresque & monumentale ( Annam - Tonkin ), của trường Viễn Đông Bác Cổ, của bưu ảnh, chụp trong khoảng từ cuối thế kỉ 19, sang đầu thế kỉ 20, cho đến năm 1950, đều cho thấy cái cột đá. Chưa thấy tài liệu nào đả động đến cái cột gỗ của Nguyễn Công Hoan.

Năm 1954, thực dân Pháp sửa soạn rút khỏi Hà Nội. Ngày 11 tháng 9, chùa Một Cột bị đặt chất nổ ! Tan tành. Cái cột bị huỷ hoại.(Philippe Papin, Histoire de Hanoi, Fayard, 2001, tr. 84). Rất may, thông tin của Papin không hoàn toàn chính xác. Có người chụp ảnh chùa bị phá. Cột đá chỉ hơi bị nghiêng. Hai tảng đá vẫn còn nguyên vẹn. (Carnet du Viêt Nam, tháng 8/2004, tr. 33).


Chùa Một Cột năm 1954


Năm 1955, chùa Một Cột được xây cất lại. Chuyên viên Sở Bảo Tồn Cổ Tích Nguyễn Bá Lăng được uỷ nhiệm nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. (Nguyễn Nam Kinh, Chùa Một Cột, Hương Sen số 60, Hội Phật Tử Việt Nam tại Pháp, 1996, tr. 27). Chính Nguyễn Bá Lăng đã công nhận : " thành phần (của chùa Một Cột) mà ta có thể tin được là nguyên vẹn từ triều (Lý) này thì chỉ có cây cột đá gồm hai khúc tròn chồng khớp lên nhau đường kính 1m20 đội toà chùa bên trên như thể một cái cuống đưa đoá hoa sen nổi trên mặt một hồ nước vuông nhỏ mỗi bề rộng khoảng 16m ". (Nguyễn Bá Lăng, Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, tập 1, Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1972, tr. 85).

Ai phá hoại chùa Một Cột ? Nhiều người nghi là quân đội Pháp. (France Mangin,Hanoï, Edition Recherches, Ipraus, 2001, tr. 149) . Nghi vấn này bị Duyên Anh bác bỏ :

- (...) Cuối năm 1954, đảng Đại Việt (không phải nước Đại Việt) gài mìn cho nổ sập Chùa Một Cột. Nói rằng, Chùa Một Cột phải tan nát, " quân ta " mới có ngày về " giải phóng " ! Báo chí quốc gia chửi đảng Đại Việt thậm tệ, gọi Đại Việt là bọn phá hoại ngu dốt. Phật giáo phẫn nộ. Chúa đảng Đại Việt, Nguyễn Hữu Trí, bị bắn chết ở Tân Sơn Nhất, hôm di cư vào Nam (...). (Duyên Anh, Ca dao quyện lấy miếng ngon dân tộc, Vũ Trung Hiền xuất bản, 1995, tr. 186).

Chùa Một Cột bị phá nhưng cái cột đá vẫn hiên ngang đứng giữa đất trời. Ngạo nghễ giữa bùn, sen, mưa, nắng !

Nguyễn Công Hoan nhớ sai. Cột đá mới vững, mới bền, mới... hay!

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
nhuocthuy, tadamina, mavuong, byphuong, ngodao, chonhoadong, anhlam, Yahoo, chanhnguyen, nguyenthuy, dieunha, Archéo, TINHVE
Logged
 
 
 
ngodao
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 189

Cảm Ơn
-Gửi: 2596
-Nhận: 1188



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Hai 10, 2011, 06:47:41 AM »

4 đền, chùa cầu duyên linh thiêng nức tiếng gần xa

Đầu năm mới, lên đền, chùa ngoài cầu phúc, lộc và sự bình an, nhiều nam thanh, nữ tú còn cầu chuyện tình duyên năm mới có nhiều may mắn, tìm được ý chung nhân.

Không có ngôi chùa, đền nào riêng biệt cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc cá nhân. Tuy vậy, tiếng lành đồn xa, trên khắp dải đất hình chữ S xinh đẹp, mỗi vùng miền đều được dân gian truyền miệng có những đền, chùa rất thiêng cho việc cầu duyên.

Ở đất Thăng Long nổi tiếng nhất là chùa Hà (Q. Cầu Giấy), rồi đến Am Mỵ Châu ở đền Cổ Loa huyện Đông Anh. Bên cạnh đó, khá nhiều ngôi đền, chùa được người đời truyền nhau rất thiêng trong việc cầu duyên tình cho đôi lứa như đền Gióng (huyện Sóc Sơn), chùa Hương...

Tại Ninh Bình, có chùa với cái tên nghe rất lãng mạn: chùa Duyên Ninh cũng là địa điểm cầu duyên có tiếng gần xa.

Ngược lên miền Đông Bắc của Tổ quốc, tại Lạng Sơn - nơi cũng có rất nhiều đền, chùa, lễ hội độc đáo có đền Bắc Lệ.

Đầu năm mới, ai cũng mong bản thân mình được hạnh phúc, tình duyên xuôi chèo, mát mái. aFamily xin giới thiệu vài nét về 4 đền, chùa cầu duyên được nhiều người "mách nhau" dịp đầu năm mới kể trên để trong những chuyên du xuân, bạn hãy ghé qua để thưởng ngoạn và cầu khấn.

1. Nổi tiếng chùa Hà
 
 
Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước tọa lạc ở thôn Bối Hà, xã Dịch Vọng, Huyện Từ Liêm, nay làng lên phố nên chùa thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
 
Theo tích xưa kể lại, chùa Hà do một gia đình làm nghề gốm sứ giàu có quê ở Bối Khê công đức, xây dựng. Hiện nay, lăng mộ thờ gia đình vẫn được lưu giữ trong chùa. Bên phải chùa là ngôi đình Hà làm hoàn toàn bằng gỗ quý, thờ 2 vị thành hoàng là Triệu Chí Thành và Chu Lý, các tướng của Triệu Việt Vương (thế kỷ VI) có công chống giặc Lương.
 

Nhiều nữ tú tới chùa Hà cầu duyên. Ảnh: VNE
 
Qua thời gian, ngôi chùa đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa và tôn tạo với tầm vóc ngày càng to đẹp, khang trang hơn. Chùa là điểm đến vàng ngày Lễ, Tết, ngày Rằm hay mồng 1. Tuy vậy, nhắc tới chùa Hà, nhiều người mách ngay đây chính là ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng nhất đất Thăng Long.
 
Viết sớ xin duyên. Ảnh: VNE
 
Không biết nguyên cớ từ đâu và từ khi nào, nhưng với nhiều nam thanh, nữ tú, muốn cầu duyên cho bản thân thì chùa Hà là điểm đến đầu tiên, họ tin sự linh nghiệm tại đây. Cũng không cứ ngày Tết, mà bất kể khi nào, nhất là vào ngày Rằm, ngày mồng 1, nếu có dịp ghé thăm chùa Hà, bạn không khỏi ngạc nhiên vì có rất nhiều bạn trẻ (đa số trong đó là các bạn nữ) tới để dâng hương, xin sớ, xem quẻ cầu duyên.
 
Một điểm đặc biệt nữa, dọc con phố dẫn vào chùa Hà chỉ bán hoa hồng-hoa tượng trưng cho tình yêu. Các hàng lưu niệm quanh chùa cũng bán rất nhiều vòng, nhẫn… mà cái nào cũng đi theo đôi, theo cặp…

2. Am Mỵ Châu
 
Am Mỵ Châu nằm trong chùa Cổ Loa. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay phải 3 km đến chợ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.
 
Chùa thờ Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung, thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu.
 
Trong chùa, có am nhỏ thờ một bức tượng không đầu được trang trí rất đẹp và sang trọng. Theo người dân sống tại đây, bức tượng này là thờ công chúa Mỵ Châu bị vua cha chém đầu vì tội phản bội trong truyền thuyết xa xưa.
 
Truyền thuyết kể lại rằng, khi An Dương Vương thất thế ở thành Cổ Loa công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía nam. Khi đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù.
 
Lối vào Am Mỵ Châu
 
An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy, rùa thần hiện lên và nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” vua liền rút gươm quyết định chém đầu Mỵ Châu. Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha mà nói: “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung có lòng hại cha khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc, thành đá trôi về hầu cha”.
 
Về sau nay, người dân Cổ Loa vẫn truyền nhau câu chuyện ly kì về dân chài quăng lưới trên sông Hoàng Giang kéo được bức tượng với hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại mất đầu.
 
Cho rằng bức tượng không mấy gì đặc biệt nên dân chài lại thả xuống sống. Nhưng kỳ lạ là sau những lần quăng lưới, bức tượng lại lọt vào. Cảm thấy có điểm báo, người dân hò nhau kéo bức tượng lên bờ. Đồng thời làm lễ xin được rước về. Các cụ bô lão đức cao vọng trọng trong làng đã lên tiếng nói:  Nếu có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó để con cháu lập đền thờ. Quả nhiên sau khi gánh về chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.
 
Nhân dân cho rằng đây chính là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nói năm xưa, trôi ngược biển Đông về đất Tổ để hầu vua cha. Từ đó hàng năm, người dân trong vùng đã cử người trông coi Am này, người được cử phải có đạo đức tốt, gia đình đầy đủ hạnh phúc, con cái trưởng thành. 
 
Cũng vì câu truyện dân gian vẫn chưa có chứng thực xúc động trên, am Mỵ Nương được người đời truyền tụng rất có ứng nghiệm cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc gia đình.

3. Chùa Duyên Ninh

Chùa Duyên Ninh (Duyên Ninh Tự) tọa lạc trong thành Tây Hoa Lư ở thôn Chi Phong xã Trường Yên. Trên đường từ Tràng An đến chùa Bài Đính. Thưở xa xưa, Duyên Ninh Tự là nơi vui chơi của các công chúa thời Đinh Lê.
 
Chùa được xây dựng dưới thời Vua Đinh Tiên Hoàng. Dân gian thường gọi chùa này là chùa Thủ. Nơi đây Lý Thái Tổ và công chúa Lê Thị Phất Ngân con vua Lê Đại Hành đã thề hẹn yêu đương ở đó mà sinh ra Lý Thái Tông.
 
Sau này Lý Phật Mã vẫn lui về đây tu hành. Chùa Duyên Ninh được xem là ngôi chùa nguyên vẹn từ thời Đinh còn lại nên kiến trúc khá khiêm nhường và cổ kính.
 
Chính nguồn gốc về các cô công chúa, về gia đình hạnh phúc xa xưa của bậc vua chúa nhà Lý mà chùa sau này trở thành một điểm tín ngưỡng thu hút rất đông người dân tới cầu phúc, cầu may. Đặc biệt không thể không kể tới việc cầu duyên và cầu tự hiếm muộn con cái.
 
4. Đền Bắc Lệ
 
Nếu có dịp ghé thăm xứ Lạng vào dịp đầu xuân để cảm nhận không khí xuân ngập tràn nơi đây. Đất Lạng Sơn nổi tiếng với rất nhiều lễ hội đặc sắc của các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Dao...
 
Nếu còn độc thân hay muốn cầu hạnh phúc gia đình, bạn hãy tìm đến đền Bắc Lệ. Dân gian vùng quê nơi đây luôn tin tưởng đây là ngôi đền cầu tình duyên thiêng nhất tại xứ Lạng cũng như trên đất nước Việt Nam.
 
Đền Bắc Lệ Lạng Sơn thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là đền thờ Mẫu điển hình ở nước ta. Lễ hội lớn nhất trong năm được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 Âm lịch.

Đền Bắc Lệ nằm trên một quả đồi cao, xung quanh rợp bóng cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đền là nơi thờ Bà Chúa Thượng Ngàn - nữ thần núi. Bà là người trông coi, cung cấp và ban phát nguồn của cải núi rừng cho con người.
 
Ngoài ra, được suy tôn trong đền còn có Chầu Bé - một nhân vật có thật người vùng Bắc Lệ, đây chính là các cô, các cậu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
 
Lễ hội đền Bắc Lệ bao gồm các phần lễ chính: lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước... Không khí của buổi lễ hòa trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng với những điệu nhạc và những trang phục rực rỡ sắc màu của điệu múa sanh tiền, người dân ở đây tin rằng điệu múa sẽ đem lại may mắn và bình an.

(afamily)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
ongdia, chonhoadong, anhlam, byphuong, Yahoo, chanhnguyen, nhuocthuy, nguyenthuy, mavuong, tadamina, dieunha, Archéo, TINHVE
Logged

Tam nghiệp hằng thanh tịnh.<br />Ðồng Phật vãng tây phương.
 
 
 
ngodao
Full Member
*
Offline Offline

Bài viết: 189

Cảm Ơn
-Gửi: 2596
-Nhận: 1188



Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Hai 12, 2011, 03:09:42 PM »

Đã thành một nét đẹp truyền thống của người Việt, cứ vào sáng sớm mồng một Tết, nhiều gia đình lại cùng nhau đi lễ chùa cầu chúc một năm mới an lành, nhiều may mắn đến với gia đình mình và mọi người. “Đi lễ thì lúc nào cũng được. Nhưng sáng mồng 1 Tết là thời khắc đặc biêt của năm mới nên đến cầu phúc cho gia đình và con cháu sang năm mới có nhiều hạnh phúc, niềm vui”.
Đêm giao thừa, nhiều dòng người đổ đi lễ chùa một mạch từ đêm, tới sáng bảnh mới lục tục kéo nhau về. Trước lễ Phật, lễ Thánh, sau về nhà lễ gia tiên. Những miền đất Phật, đất thánh như chùa Hương, Yên Tử, đền Bà Chua kho ngay rạng sáng mùng 1 Tết, đã nô nức những dòng người trảy về.

Phủ Tây Hồ - cầu tài lộc

Phủ Tây Hồ được coi là một trong những chốn linh thiêng nhất trong hệ thống đình chùa của Hà Nội.
Phủ Tây Hồ được coi là một trong những chốn linh thiêng nhất trong hệ thống đình chùa của Hà Nội. Không chỉ những người dân Hà Nội, mà đa số du khách khắp nơi khi đến thăm Hà Nội thì đều đến thắp hương cầu phúc ở Phủ Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây. Ở ngay đầu làng có một ngôi đền thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (Thánh Mẹ). Hàng năm cứ sau thời khắc giao thừa, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi lễ Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn, vừa đi thưởng ngoạn cảnh đẹp Hồ Tây.

Hai bên đường dẫn vào Phủ là các hàng bán hoa quả, hương, oản, bánh kẹo, những cành vàng lá ngọc lấp lánh. Nhiều ông đồ cắm cúi viết sớ không kịp nghỉ tay trước hàng đoàn người đứng xếp hàng chờ đến lượt. Việc chen chân vào để đặt được lễ trong phủ thật khó, và không ít người phải đặt lễ lên đầu, hoặc phải bái vọng từ ngoài vào...

Quốc Tử Giám  xin chữ

Sáng mồng Một đi xin chữ thánh hiền ở Văn Miếu Quốc Tử Giám
Tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám những ngày đầu năm khách ra vào nườm nượp. Khách chủ yếu là những học sinh, có em được cha mẹ đưa đến cầu mong một năm mới học hành tấn tới, đỗ đạt.

Nói là "xin chữ" nhưng chính xác ra là mua chữ, giá trung bình năm nay cho một chữ mực tàu giấy đỏ cỡ 100.000 đồng. Bức tường bên phố Quốc Tử Giám dài khoảng trăm mét có tới dăm chục ông đồ, già có, trẻ có ngồi cặm cụi hành nghề. Đa số họ đều là thành viên CLB Thư pháp Hà Nội.

Sáng mồng Một đi xin chữ thánh hiền, lòng người như phơi phới và thanh tao, cả người cho lẫn người xin. Nhiều bậc cha mẹ cùng con cái ríu rít tới xin chữ. Ấy vậy nên, các thầy đồ lấy bao nhiêu tiền một chữ, ai nấy đều vui vẻ rút hầu bao, không mặc cả thêm bớt như đi mua sắm món hàng hóa thông thường.

Đền Trần – xin ấn

Theo tương truyền, ấn chỉ linh thiêng khi được lấy đúng vào 23 - 24h của ngày 14 tháng giêng.
Cứ ngày 14 tháng riêng âm lịch hàng năm, Nam Định tổ chức lễ khai ấn Đền Trần, nơi thờ các vị vua đời Trần. Dù chỉ đêm 14 tháng Giêng mới khai ấn đền Trần nhưng mới mùng 7, mùng 8 Tết, phủ Thiên Trường Nam Định đã tấp nập du khách thắp hương, vãn cảnh đầu xuân. Vài năm trở lại đây, ngày càng nhiều người đổ về khu di tích Đền Trần, Nam Định xin ấn để cầu tài, cầu lộc, vạn sự như ý.

Đền Trần (Trần Miếu) thuộc Tức Mặc, phường Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định. Đền Trần là công trình thờ tự có từ lâu đời, thờ 14 vị vua triều Trần. Khai ấn đầu năm là một hoạt động văn hoá mang đậm dấu ấn của triều đại phong kiến nước ta. Thế nên, dù Đền Trần có hơn hai chục ngày lễ nhưng Lễ khai ấn là đại lễ được mong đợi nhất trong năm. Theo tương truyền, ấn chỉ linh thiêng khi được lấy đúng vào 23 - 24h của ngày 14 tháng giêng. Vì vậy hàng vạn, hàng triệu người khắp nơi đổ về Đền Trần chen chúc, xô đẩy nhau cũng chỉ mong xin được ấn vào thời khắc thiêng liêng ấy.

Để xin được ấn vua ban lúc nửa đêm, người ta phải xếp hàng, xin thẻ từ trước đó rất lâu, hoặc đến thời điểm khai ấn. Loại này được đóng trên giấy điệp vàng là dành cho "thường dân".

Còn có một loại ấn được đóng trên tấm lụa đỏ, loại này chỉ có rất ít, và chỉ dành cho các quan chức cấp tỉnh, Trung ương về dự. Cứ 10 khắc trên lụa đỏ chỉ có 1 tấm duy nhất là có giá trị vì được cắt ra từ tấm áo hoàng bào của các đời vua. Và nếu ai may mắn được tấm lụa đó thì coi như đã đắc lộc, đắc thọ.

Trẩy hội Chùa Hương

Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.
Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.

Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn.

Trong suốt những ngày hội là sự nồng nhiệt của tuổi trẻ, là sự thành kính của các bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà nam phụ lão ai ai cũng có phần riêng của mình. Cả ở những triền núi thấp cao, những rừng cây, rừng mơ… là những đoàn người trẩy hội. Kẻ đi ra, người đi vào, kẻ đi lên, người đi xuống bồng bềnh vào những đám mây nhẹ. Họ gặp nhau, quen hay không quen cũng vui vẻ chào nhau bằng một lời chào: "Nam mô a di đà Phật" nhẹ nhàng. đằm thắm và ấm áp…

Hành hương Yên Tử

"Trăm năm tích đức tu hành
Chưa về Yên Tử chưa thành quả Tu"
Đã thành thông lệ, cứ mỗi dịp đầu xuân, hàng vạn người dân cả nước lại trẩy hội về với non thiêng Yên Tử- kinh đô Phật giáo nước ta thế kỷ 13.

Sau lễ hội chùa Hương, thì lễ hội Yên Tử đang là lễ hội hành hương lớn thứ hai vào mùa xuân ở nước ta với cả quy mô và thời gian trẫy hội. Lễ hội Yên Tử bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng AL hằng năm và cũng kéo dài suốt mùa Xuân.

Vẻ đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoà với nét cổ kính trầm mặc của hệ thống am, tháp cùng với đường tùng, thông, đại, trúc, mai mọc ở hai bên đường toả bóng mát làm cho du khách thập phương quên nỗi mệt nhọc đường dốc cheo leo.

Hiện nay hệ thống cáp treo ở Yên Tử đã đi vào hoạt động, đưa du khách tới chùa Hoa Yên ở độ cao 534 m so với mực nước biển, nơi có hai cây đại 700 năm tuổi. Từ đây du khách tiếp tục leo núi, tới các ngôi chùa nằm rải rác trên đường đi tới chùa Đồng. Đường lên chùa Đồng du khách có cảm tưởng như đi trong mây.

Đền Bà Chúa Kho – xin lộc rơi lộc vãi

Mọi người lên lễ Bà Chúa Kho để vay tiền hoặc xin "lộc rơi lộc vãi".
Theo dân gian truyền miệng thì, người đi lễ đầu năm đến đền Bà Chúa Kho để vay tiền làm ăn kinh doanh cho năm mới.

Các thương gia, các nhà doanh nghiệp ai cũng cố vào được cửa Bà. Bằng mọi giá, mọi cách, họ phải khấn vái và đặt lễ được trước… mặt Bà. Có vậy Bà mới cho lộc, mới mở kho xuất tiền cho vay. Mọi người lên lễ Bà Chúa Kho để vay tiền hoặc xin "lộc rơi lộc vãi". Vay thì thủ tục khá rắc rối, phải qua nhiều ban bệ. Đa số mọi người lên xin lộc rơi lộc vãi nhưng năm nào cũng lên tạ lễ Bà đã phù hộ cho.

Đi lễ Bà Chúa Kho đã trở thành thói quen đối với nhiều người, đặc biệt là giới kinh doanh. Cứ vào dịp đầu xuân năm mới hàng ngàn khách thập phương trong cả nước lại đến chiêm bái, thắp hương và dâng phẩm vật kính lễ bà Chúa kho, cầu mong một năm mới an lạc thịnh vượng và hạnh phúc.
Nguồn:  YeuDuLich.vn

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
chanhnguyen, nhuocthuy, chonhoadong, nguyenthuy, mavuong, tadamina, anhlam, dieunha, Yahoo, Archéo, TINHVE
Logged

Tam nghiệp hằng thanh tịnh.<br />Ðồng Phật vãng tây phương.
 
 
 
SCC
...
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 1254

Cảm Ơn
-Gửi: 12498
-Nhận: 7344


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Mười Một 05, 2011, 04:01:28 AM »

Thực hư hòn đá chém đầu 200 năm vẫn 'than khóc'

Cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết.

Để trở thành một địa điểm được nhiều người dân coi là linh thiêng, “hòn đá oán hờn” trong ngôi chùa Thập Tháp Di Đà (Thường gọi là chùa Thập Tháp) ở Bình Định có lẽ đã “góp công lớn” vì những truyền thuyết nửa thực nửa hư về nó được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác. 200 năm đã trôi qua, hòn đá trắng lạ kỳ vẫn trơ trơ giữa sân chùa, vừa như một điểm nhấn cho cảnh quan, vừa như một chứng tích lịch sử.

Chứng tích lịch sử

Ngôi chùa nằm ở phía Bắc thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận thôn Vạn Thuận (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách TP.Quy Nhơn gần 30km và cách quốc lộ 1A khoảng 100m). Du khách đến vãn cảnh chùa nếu hỏi chuyện sẽ được các nhà sư ở chùa Thập Tháp kể cho nghe những câu chuyện ly kỳ, huyền bí liên quan đến những dấu tích lịch sử còn sót lại trong ngôi chùa cổ tự này.

Chuyện kể rằng, hơn 200 năm trước đây, khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta đã mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi đổ máu đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù; ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới; ai có tài sẽ được trọng dụng.

Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện. Nhưng ngay sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé “những kẻ thù xưa” rồi chôn tập thể.


Hòn đá kỳ lạ chất chứa căm hờn của hàng trăm người dân đối với bạo chúa Nguyễn Ánh

Đao phủ của Nguyễn Ánh kỳ công đi khắp các vùng, rồi tìm được một hòn đá lớn màu trắng tinh khôi mang về dùng để kê đầu các nạn nhân. Tảng đá ấy được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, quân lính và đao phủ đưa nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm kiếp người đã từ giã cõi đời trên hòn đá này, nỗi oán hờn của người dân với bạo chúa chất cao như núi.

Nỗi oan khất, đau đớn của hàng trăm người như lặn vào tảng đá kia khiến sau đó, khi đã xong nhiệm vụ hành hình, dù bao nhiêu quân lính cũng không thể nhích hòn đá ấy rời khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Truyền thuyết kể lại rằng, hàng đêm người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, người dân và cả quan quân nhà Nguyễn Ánh không ai dám đi ngang nơi cổng thành.

Dân gian thêu dệt nên câu chuyện, cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Cả vùng bất ổn, không chỉ những quan lại trong triều mà người dân sống quanh thành (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn) cũng sống không yên. Quan lại sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy.

Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân trong triều đón tiếp vị sư rất long trọng. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, vị sư xin được mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Kỳ lạ thay, lúc này chỉ cần 4 người khiêng nhưng hòn đá được chuyển đi nhẹ tênh, khác với việc trước đó cả trăm quân lính hè nhau di chuyển đi mà đá không nhúc nhích.

Hòn đá oán hờn

Các vị sư trong chùa kể lại, hòn đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía Nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Thế nhưng đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng.

Nhà sư Mật Hạnh, người đã nhiều thập kỷ gắn bó với ngôi chùa kể lại, ngày xưa khi ông mới đôi mươi, vào những đêm mùa đông, trong thời tiết âm u, có lúc ông loáng thoáng nhìn thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ hòn đá kia rồi đi đến chỗ đặt tấm bia di tích của nhà chùa. Khi chó trong chùa sủa ran là bóng người phụ nữ kia biến mất.

Nhà sư Mật Hạnh cười: “Thực sự thì cũng không dám khẳng định đó là ma hay chỉ là ảo ảnh. Cũng có khi do nghe nhiều truyền thuyết về hòn đá quá nên tưởng tượng ra ma quái mà thôi”.

Thời gian sau, vị cao tăng trong chùa có tên Phước Huệ một lần nữa chuyển Hòn Đá Chém vào để ngay bậc tam cấp bước vào khu Phương Trượng của chùa. Đêm đầu tiên chuyển hòn đá vào chùa, nhà sư Phước Huệ đang ngon giấc thì thấy có một vị mặc trang phục võ tướng hiện hình nói rằng: “Ông ỷ là đệ tử nhà Phật nên phá nhà tôi hả?”.

Nhà sư Phước Huệ hét to một tiếng khiến tất cả sư đệ trong chùa đều nghe thấy lao đến, mới biết sư phụ mình nằm mơ. Cũng có thể đó chỉ là nội dung những truyền thuyết được nghe trong ngày, đêm đến ám ảnh cả vào trong giấc mơ.

Người trong chùa còn lưu truyền lại những câu chuyện ngày xưa, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hàng năm vào lúc nửa đêm 30 tháng Chạp, rạng sáng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán. Bàn thờ cúng được đặt ngay chánh điện, nơi đặt Hòn Đá Chém bên dưới. Trong mỗi lần cúng, đến khi đổ 3 hồi trống chiến là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi biến mất.

200 năm đã trôi qua, Hòn Đá Chém vẫn còn yên vị ngay cửa khu Phương Trượng của chùa Thập Tháp, cao khoảng 40cm, dài 1,5m, rộng 1,3m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản nhưng trải qua bao nhiêu vết bụi của thời gian, những hòn đá vẫn giữ được màu trắng sáng tuyệt đẹp của loại đá trắng không tì vết. Nếu không được kể chuyện về nó, thoạt trông không ai có thể ngờ trong hòn đá hiền hậu kia đã chứa biết bao nỗi oan khuất của hàng trăm mạng người là nạn nhân của bạo chúa Nguyễn Ánh ngày xưa.

Hòn đá chứng nhân lịch sử, lại gắn liền với nhiều truyền thuyết như thế nhưng không được thờ cúng, nay giản dị làm một bậc tam cấp cho người ta bước chân qua. Những nhà sư trong triều cho biết, oan khuất rồi cũng đã đi qua.

Ngày xưa khi dời hòn đá từ cổng kinh thành về chùa, người ta cũng chỉ có mục đích mong mỏi lớn nhất là làm dịu đi những oán hờn của người oan trái chứ không có mục đích dời hòn đá về đây làm vật thờ cúng. Đá lại trở về với công dụng của đá, ngày ngày du khách bước chân qua để nhớ lại bài học ngày xưa bạo chúa Nguyễn Ánh vì nuốt lời tàn độc nên cuối cùng đã phải trả giá đắt khi vương triều lụn bại, phải nhận một cái chết tức tưởi và bị lịch sử muôn đời coi như đối tượng “rước voi về giày mả tổ”.

Hòn đá oán hờn ngày xưa nay thành hòn đá hiền hòa, thành hòn đá xinh đẹp, thành hòn đá nâng niu bước chân du khách.

Trong tất cả những ngôi chùa ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh Bình Định được chép vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí với lời đánh giá: “Chùa này cùng chùa Linh Phong đều nổi tiếng là danh thắng”.

Chùa được xây dựng trên một gò tương đối rộng hình mai rùa có chu vi gần 1km gọi là Gò Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có 10 ngọn tháp do người Chàm xây để “yểm hậu” cho thành Vijaya. Vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 nhà Lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựng mà vật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp Chàm đã bị đổ.

Cho đến ngày nay, trải qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Năm 1990, Chùa Thập Tháp được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

(Theo Pháp luật và Thời đại)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
Archéo, TINHVE, ngodao, chanhnguyen
Logged

Tích tập kiến thức chỉ làm cho định kiến cao dày và cái ngã mỗi ngày một vĩ đại...
Thật sự là ta đã sai...
 
 
 
Yahoo
Hero Member
*
Offline Offline

Bài viết: 507

Cảm Ơn
-Gửi: 5865
-Nhận: 2790


Xem hồ sơ cá nhân
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2012, 07:47:01 AM »

Thích Ca Phật Đài  ở Vũng Tàu và Nha Trang
Phanxipăng
Thành phố Vũng Tàu có Thích Ca Phật Đài trên sườn núi Lớn.  Thành phố Nha Trang có Kim Thân Phật Tổ trên đỉnh đồi Trại Thuỷ. 
Đôi pho tượng ngoài trời nổi tiếng ấy do điêu khắc gia nào sáng tạo? Cớ sao hai tác phẩm dẫu kích cỡ khác nhau song cùng kiểu dáng lẫn phong cách?


Để thuận tiện, trong bài này, cả hai tác phẩm điêu khắc đều được gọi Thích Ca Phật Đài kèm địa danh. Những trường hợp cần thiết, Thích Ca Phật Đài ở Nha Trang còn được gọi Kim Thân Phật Tổ hoặc tượng Phật Trắng. Tính đến nay, trên đất nước Việt Nam, đó là đôi pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định đặt ngoài trời thuộc hạng xinh đẹp nhất.

Tác giả là ai?
Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia qua quyết định số 1987/VH/QĐ ban hành ngày 14-12-1989.

Thư tịch lâu nay nhận định gì về công trình này? Vũng Tàu xưa và nay của Huỳnh Minh (NXB Cánh Bằng, Sài Gòn, 1970 - NXB Thanh Niên tái bản, Hà Nội, 2001): "Phật Đài Thích Ca không những là một công trình xây dựng đồ sộ của tín đồ Phật giáo Việt Nam đóng góp mà còn là thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu cũ, đã thu hút rất đông du khách trong nước và ngoài nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa, Thái Lan, Ai Lao".
Danh lam nước Việt do Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương hợp soạn (NXB Mỹ Thuật, Hà Nội, 1995): "Do địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích Ca Phật Đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu".
Tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (dùng trong các trường phổ thông) của nhiều soạn giả (Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ấn hành, 2005): "Nằm phía Bắc dưới chân núi Lớn, Thích Ca Phật Đài là một di tích lịch sử văn hoá và là một thắng cảnh rất nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu".
Bà Rịa - Vũng Tàu con số và sự kiện của nhiều soạn giả (Thư viện tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thực hiện, 2007): "Thích Ca Phật Đài là một thắng cảnh nổi tiếng ở Đông Nam Á, là nơi hành hương của đông đảo Phật tử hằng năm, một điểm tham quan hấp dẫn của du khách mọi miền đất nước khi đến Bà Rịa - Vũng Tàu".
 Những sách vừa dẫn chẳng nêu tên người đã tạc tác phẩm quá thành công. Ngay cả bệ tượng tại Vũng Tàu hiện cũng chưa gắn biển ghi phương danh điêu khắc gia. Do đó, lâu nay, đông đảo khách thập phương thắc mắc: tác giả Thích Ca Phật Đài là ai?

Kề cận Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, có chùa Hộ Pháp xuất hiện năm 1970. Tại đó, ngày 1-5-2010, thượng toạ trụ trì Thích Giác Trí nói với tôi cùng tiến sĩ toán Lê Bá Khánh Trình rằng:

- Người tạc Thích Ca Phật Đài là Bửu Điềm. Hoàn cảnh ổng cuối đời cực nhọc lắm: sống neo đơn một thân một mình trong công viên văn hoá Tao Đàn tại Sài Gòn. Mình đã ghé vào Tao Đàn thăm và "cúng" ổng một chỉ vàng. Sau, nghe ổng chết, hổng rõ ngày tháng năm nào, hổng biết chôn đâu!

Thoạt nghe thế, tôi liền thấy... ù màng nhĩ! Há lẽ tu sĩ này nhầm lẫn quá đáng? Tôi vẫn nhẹ nhàng hỏi:

- Vậy ông ấy sinh năm mấy? Pháp danh gì? Còn tấm ảnh nào của ông ấy chăng?

- Hổng biết năm sinh và pháp danh ổng. Cũng hổng có bức ảnh nào chụp ổng cả.

- Phải chăng Thích Ca Phật Đài được đúc bê tông tại chỗ, riêng phần đầu thực hiện nơi khác?

- Nhiều người, trong đó có thân nhân của mình, kể rằng phần đầu Thích Ca Phật Đài được Bửu Điềm làm trong xưởng ở Biên Hoà, xong dùng trực thăng cẩu về đây ráp vào thân tượng.

Để nắm sự thật, trước tiên hãy lần lại quá khứ.

Thập niên 1940, cùng đốc phủ sứ Lê Quang Vinh dạo chơi núi Lớn, tức núi Tượng Kỳ, đại đức Nàrada Mahà Thera (1898 - 1983, người Tích Lan / Sri Lanca) nhận định: "Đây là nơi thích hợp để lập chùa". Năm 1957, tại đó, Lê Quang Vinh tạo dựng chùa Thiền Lâm, đồng thời xuất gia, trở thành đại đức Thích Giác Pháp. Thời gian sau, cùng ông Nguyễn Văn Hiểu (Hội trưởng Phật giáo Nguyên thuỷ Việt Nam) viếng chùa Thiền Lâm, đại đức Nàrada nói: "Nơi đây nên xây bảo tháp để tôn thờ xá lợi của Đức Thế tôn".

Bảo tháp hình nón 8 cạnh, cao 17m, bằng bê tông cốt sắt, phía ngoài tô đá mài. Quanh bảo tháp còn thêm 4 đỉnh chứa đất từ 4 nơi liên quan cuộc đời Phật Thích Ca: Lumbini / Lâm Tì Ni (nơi Phật đản sinh), Uravela / Ưu Lâu Tần Loa (nơi Phật thành đạo), Isipatana / Lộc Giả / Vườn Nai (nơi Phật chuyển pháp luân), Kusinara / Câu Thi Na (nơi Phật nhập niết bàn).

Thoạt tiên, chỉ có kế hoạch xây bảo tháp. Nhưng, hàng ngũ tăng ni và Phật tử nhận ra rằng để công trình tốt đẹp trọn vẹn ắt phải thêm Thích Ca Phật Đài. Nhiều người phát tâm bồ đề, tích cực đóng góp, nổi trội có giáo sư khảo cổ Hồ Đắc Thăng. Chính ông Thăng cùng đại đức Nàrada đi tìm điêu khắc gia, ngẫu nhiên gặp cơ sở tạc tượng của Phúc Điền ngay mặt tiền đại lộ Lục Tỉnh ở Chợ Lớn, nay là đường Hùng Vương, Q.6, TP.HCM, trước chùa Tuyền Lâm.

Điêu khắc gia Phúc Điền (chứ không phải Bửu Điềm) có họ tên Bùi Văn Thêm, pháp danh Thiện Sáng, chào đời năm Ất Mão 1915 tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Phúc Điền Bùi Văn Thêm là con của nghệ nhân đắp nặn tượng gốc huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi: Bùi Quang Điển tức Tài công Cang (1888 - 1968). Hôn sự của Phúc Điền khá gập ghềnh. Vợ trước mất, ông lấy vợ sau, vậy mà phải 3 bà. Vợ cả: Thái Thị Ngan. Vợ thứ nhì: Lê Thị Mai. Vợ thứ ba: Ngô Thị Khuyên. 3 bà sinh cho ông tổng số 12 con, trong đó có 4 người nối nghiệp điêu khắc là Bùi Quang Thái, Bùi Quang Vĩnh, Bùi Quang Thọ (cả 3 đã mất) và Bùi Quang Phước. Quả phụ của anh Tư Thái là chị Nguyễn Thị Kim kể với tôi:

- Giai đoạn cuối đời, cụ Phúc Điền sống ấm êm cùng vợ thứ ba ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Năm 2002, cụ quá yếu, gia đình rước cụ lên Sài Gòn, đưa vào Bệnh viện An Bình tại Q.5 điều trị nửa tháng, rồi chuyển về nhà riêng tại Q.6 thời gian ngắn thì cụ mất trong vòng tay chăm sóc của vợ, con, cháu. Cụ trực vãng Tây phương đúng dịp đại lễ Phật đản.

Điêu khắc gia Phúc Điền qua đời ngày 27-5-2002 nhằm 16 tháng 4 Nhâm Ngọ, thọ 87 tuổi.

Quá trình thiết kế và thi công

Năm 1961, rất hữu duyên, vừa gặp Phúc Điền thì đại đức Nàrada và giáo sư Hồ Đắc Thăng nêu ngay một số vấn đề kỹ thuật:
- Thích Ca Phật Đài bằng bê tông cốt thép, đặt vĩnh viễn ngoài trời. Tượng Phật ngồi, cao 6m. Bệ cao 7m.

Phúc Điền lao vào phác thảo pho tượng bằng đất sét với chiều cao 40cm. Phật ngồi, tất xếp chân kiết già trên toà sen, nhưng tư thế thuyết pháp hay tham thiền nhập định? Nếu thuyết pháp thì mắt mở nhiều hay ít tuỳ trạng huống, tay phải úp lên chân phải thành ấn địa xúc, tay trái lật ngửa đặt trước bụng, trên bàn tay trái có thể có bình bát. Nếu toạ thiền thì mắt khép 3/4, nhưng hai tay thế nào? Tay phải nâng đoá sen ngang mũi, tay trái bắt ấn giáo hoá chăng? Tay phải đưa cao ngang tai và bắt ấn cát tường chăng? Cả hai tay cùng nâng ngang ngực, kết ấn định tâm hoặc ấn vô lượng liên hoa hoặc ấn chuyển pháp luân chăng? Một trong những yếu tố tạo hình khiến Phúc Điền lao tâm khổ tứ: đấng Thế Tôn khoác cà sa (y / áo) ra sao? Cà sa thường được phân 3 loại: đại, trung, tiểu. Tượng uy nghi thì dùng đại cà sa, nhưng cửu điều (ghép từ 9 mảnh vải) hay bá lạp (ghép từ 100 mảnh vải)? Mà mặc kiểu gì? Kiểu lục thù là y gồm 6 phần với cổ vuông hoặc chữ nhật như các tranh tượng của Trung Hoa ư? Kiểu hở vai và hở nguyên cánh tay trái như các tranh tượng xuất xứ từ Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Campuchia ư? Đại đức Nàrada trao Phúc Điền một số tranh ảnh thể hiện kiểu đắp y của Tích Lan: quấn cà sa quanh thân, phủ trùm luôn đôi cánh tay, nom rất thẩm mỹ. Giới điêu khắc gọi đó là y quấn kiểu Colombo - tên thủ đô đảo quốc Sri Lanka. Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu trở thành tác phẩm điêu khắc đầu tiên ở Việt Nam được đắp cà sa kiểu Colombo.

Trải qua 20 phác thảo khác nhau, mẫu tượng Phật Thích Ca toạ thiền mới được chấp nhận bước đầu. Phúc Điền lại tiếp tục sửa chữa mẫu tượng đó thật thoả mãn. Thỉnh ý các tu sĩ, nhà điêu khắc đã cân chỉnh thế tay bậc Đại Giác: bàn tay phải ngửa ra chuồi vào lòng bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm nhau, và đặt trên đùi phía trước bụng. Đó là ấn tam muội, tên khác là thiền ấn.

Chùa Thiền Lâm xúc tiến các thủ tục pháp lý cần thiết để thi công cùng lúc cả bảo tháp lẫn Thích Ca Phật Đài. Riêng pho tượng, kiến trúc sư Phúc Điền cử học trò Hoàng Gia Thuận đảm trách khâu mỹ thuật ở công trường. Hoạ sĩ kiêm điêu khắc gia Hoàng Gia Thuận nhớ lại:

- Tớ sinh năm Mậu Dần 1938. Lúc thực hiện Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, tớ mới 23 ~ 25 xuân xanh, có 2 người lớn tuổi là Hai Tường và Năm Bình cùng làm với tớ.

Chủ nhật 4-6-1961, đặt viên đá đầu tiên. Thứ năm 20-7-1961, khởi công. Thích Ca Phật Đài toạ lạc trước cội bồ đề do đại đức Nàrada đưa cành chiết từ Tích Lan về trồng ngày 2-11-1960. Thoạt tiên là xây bệ tượng có bình đồ hình bát giác tượng trưng bát chánh đạo. Kế tiếp, đài sen có đường kính 4m lẫn thân mình cùng tứ chi của "trí giả trầm lặng" hình thành bởi bê tông cốt thép. Thứ bảy 18-8-1962, tôn trí 3 viên ngọc xá lợi vào kim thân. Vậy phần đầu Thích Ca Phật Đài được tạo tác cách nào?

Qua bài Thích Ca Phật Đài công bố trên http://www.langchai.com/ThichcaPD.htm, Nguyễn Đình Phúc thuật: "Phần đầu của tượng được điêu khắc gia thực hiện ở Sài Gòn, chỉ rước về tôn trí khi phần thân tượng hoàn tất". Viết bài Thích Ca Phật Đài: danh thắng Phật giáo Việt Nam đăng báo Giác Ngộ ngày 1-2-2009, Võ Văn Tường cho rằng: "Tượng Kim Thân Phật Tổ được đúc tại chỗ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20-7-1962, khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh đức Phật. (...) Phần đầu được đúc tại cơ sở 267 đường Hùng Vương (kế chùa Tuyền Lâm, quận 6, TP. Hồ Chí Minh ngày nay)".

Nghe tôi đọc 2 trích đoạn đó, Hoàng Gia Thuận phì cười:

- Suy luận vậy cực kỳ nhầm lẫn! Nhà cụ Phúc Điền trên đường Hùng Vương quá chật hẹp, cỡ 30m2, chỉ tầng trệt, làm văn phòng thì được, chứ vô cùng bất tiện nếu thực hiện đầu và cổ đấng Thế Tôn cao 1,25m. Thực tế, thời gian đó, thầy Phúc Điền có xưởng riêng khá rộng rãi ở Phú Thọ Hoà, nay thuộc quận Tân Phú. Tại xưởng ấy, đầu Thích Ca Phật Đài chẳng phải được đúc bê tông như người ta lầm tưởng, mà đắp đất sét. Xong, tạo khuôn nhiều mảnh bằng xi măng, đoạn chuyển về Vũng Tàu. Trên sườn núi Lớn, đầu tượng được đúc bê tông đặc, xong nâng lên ráp vào thân.

Thứ bảy 9 và chủ nhật 10-3-1963, nhằm 14 và rằm tháng tư Quý Mão, đúng đại lễ Phật đản Phật lịch 2506, bảo tháp cùng Thích Ca Phật Đài được khánh thành trọng thể. Cũng trong dịp này, 13 viên ngọc xá lợi được tôn trí vào lòng bảo tháp. Thích Ca Phật Đài cho thấy đức Mâu Ni không quá gầy, không quá béo, vừa nghiêm trang, vừa dịu hiền, an nhiên tự tại, thư thái mỉm cười vô ưu vô uý, bộc lộ rõ bi-trí-dũng. Bệ bát giác màu đen. Pho tượng màu trắng. Để chụp ảnh chính diện chân dung tác phẩm điêu khắc, nhiếp ảnh gia Phạm Kim Khánh đã nhờ máy bay trực thăng. Bức ảnh nọ liền được phổ biến gần xa.

Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, trưởng Hội Phật học tỉnh Khánh Hoà là thượng toạ Thích Đức Minh đề nghị điêu khắc gia Phúc Điền tiếp tục thực hiện Thích Ca Phật Đài trên đỉnh đồi Trại Thuỷ cạnh chùa Long Sơn ở thị xã Nha Trang. Đồi Trại Thuỷ cao 35m, dài 600m, còn mang tên hòn Xưởng, hòn Kho, non Mai. Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thì gọi đồi Trại Thuỷ là Khố sơn. Quanh đồi Trại Thuỷ còn có chùa Hải Đức và chùa Bửu Phong tức chùa Núi.

Vẫn sử dụng mẫu tượng vừa tiến hành thành công tại Vũng Tàu, song cần to cao hơn nhằm thích ứng không gian thoáng đãng nơi xứ trầm hương: toàn bộ công trình bằng bê tông cốt thép cao 24m tính từ nền đất, cao 21m tính từ mặt đế, trong đó tượng Kim Thân Phật Tổ cao 14m an toạ trên đài sen có đường kính 10m. Bệ cao 7m, tạo khối nhà hình bát giác, mà 1 mặt trổ cửa, 7 mặt gắn 7 phù điêu vinh danh 7 vị thánh tử đạo trong mùa pháp nạn 1963 gồm 6 nam, 1 nữ: Quảng Đức, Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Tiêu Diêu, Quảng Hương, Thiện Mỹ, Diệu Hương.

Hoàng Gia Thuận kể:

- Ở Nha Trang, Thích Ca Phật Đài cao lớn, nên đầu đấng Thế Tôn có bề dọc những 3,5m, phải đổ bê tông trên thân mình. Mà đổ rỗng, chứ không đặc như ở Vũng Tàu. Đích thân tớ lo việc lắp các mảnh khuôn lên thân, cân chỉnh thật chuẩn xác, thêm cốt thép, rồi đổ bê tông. Ngày tháo khuôn, mọi người rất hồi hộp. Ai cũng lo rằng lỡ chẳng may, lắp khuôn bị lệch lạc chút xíu, ắt đầu Như Lai nghiêng lệch khó coi. Mừng ơi là mừng khi thấy tượng cân đối, hài hoà.

Ngày 5-5-2010, tại nhà riêng ở phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP.HCM, ông Hoàng Gia Thuận vừa cho tôi xem loạt ảnh chụp quá trình thi công Thích Ca Phật Đài, vừa hồi tưởng:

- Cả 7 phù điêu đều do tớ tạo tác tại xưởng của cụ Phúc Điền. Mỗi phù điêu diễn tả một chân dung thánh tử đạo. Thầy Phúc Điền thì say mê đắp đầu và cổ Phật Thích Ca bằng đất sét, rồi tạo khuôn nhiều mảnh. Phù điêu cùng khuôn được chuyển ra Nha Trang bằng xe nhà. Bởi bên cạnh ô tô Citroën 2CV, thầy Phúc Điền còn có chiếc Dogde dùng để vận chuyển nguyên vật liệu, trang thiết bị, kể cả tác phẩm có kích cỡ phù hợp. Trên đồi Trại Thuỷ, theo sự phân công phân nhiệm của thầy Phúc Điền, tớ lắp ráp các mảnh khuôn lên thân để đổ bê tông và chỉ đạo gắn 7 phù điêu. Phù điêu và tượng đều cùng chất liệu xi măng trắng.

Chất liệu xi măng trắng khiến tác phẩm điêu khắc của Phúc Điền nơi đồi Trại Thuỷ ở thành phố biển được dân chúng gọi là tượng Phật Trắng. Dân địa phương vẫn lưu truyền bài ca dao tiếp thị du lịch:

Ai về viếng cảnh Khánh Hoà,
Long Sơn - nên ghé, Tháp Bà - đừng quên.
Kim Thân Phật Tổ - nhớ lên,
Nhìn ông Phật Trắng ngồi trên đỉnh đồi.


Thích Ca Phật Đài tại Nha Trang được khởi công năm 1964, khánh thành năm 1965. Từ chân đồi Trại Thuỷ lên đỉnh, khách thập phương leo 143 bậc cấp. Hai bên chuỗi bậc cấp dẫn đến tượng Phật trắng có đôi cặp rồng uốn lượn bằng xi măng, mỗi con dài 7,2m, do êkíp nghệ nhân từ Huế vào thực hiện.
Hoàng Gia Thuận nói:

- Trước, bệ Thích Ca Phật Đài tại Nha Trang có biển ghi điêu khắc gia là... Kim Điền! Báo Giác Ngộ số 182 ra ngày 25-9-1999 đăng ý kiến tớ phát biểu rằng chi tiết nọ nên cải chính. Nhờ vậy, tấm biển kia được sửa chữa thành Phúc Điền. Bệ Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu đang rất cần gắn biển khắc tên người sáng tác.

Thích Ca Phật Đài được điêu khắc gia Phúc Điền cùng cộng sự tạo dựng cạnh chùa Thiền Lâm tại Vũng Tàu và chùa Long Sơn tại Nha Trang còn toả vẻ đẹp của tình đoàn kết giữa 2 trường phái Phật giáo là Nam truyền với Bắc truyền, giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo nước ngoài.

Tượng Phật Trắng / Kim Thân Phật Tổ / Thích Ca Phật Đài trên đồi Trại Thuỷ ở Nha Trang. Ảnh: Phanxipăng


Toàn cảnh Thích Ca Phật Đài trên sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. 
Ảnh: Phanxipăng


Di ảnh Phúc Điền Bùi Văn Thêm (1915 -2002)

Bên dưới là danh sách các thành viên đã gửi lời cảm ơn đến bài viết này của bạn:
dạ minh châu, chanhnguyen
Logged
 
 
Trang: 1 [2] 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.276 seconds với 24 câu truy vấn.