Vu Lan - Lễ hội của lòng Hiếu Thảo

(1/5) > >>

67890000:
Thầy kính thương của con



Thấm thoát mà ngày tháng qua mau , con đi xa đã gần ba tháng và một mùa hạ nữa cũng sắp đi qua . Trời vào thu thật buồn , nắng hiu hắt, gió heo may báo hiệu lễ Vu Lan đã về . Tâm trạng của đứa con xa nhà nào có khác gì một kẻ mồ côi, chiều xuống sao nghe lòng buồn chi lạ!
“ Đoái trông muôn dặm tử phần
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”


Con ngồi đây mà hồi tưởng lại những tháng ngày đã qua. Mỗi mùa Vu Lan về , con thường hay dắt mấy nhỏ đến chùa để được ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của các con khi được cài lên áo cánh hoa hồng . Và riêng con đắm mình trong lời kinh tiếng mõ mà nghe thấm thía lời Phật dạy : “Phận con gái còn nương cha mẹ…” Nghĩ lại về mình con thấy từ bao giờ con luôn sống trong tình yêu thương vô bờ bến của má và chị , mà con thì chưa báo đáp được gì . Chỉ làm cho má và những người thân yêu luôn lo lắng cho con, má con không hề đòi hỏi con phải làm gì cho má , chỉ mong được có con ở gần bên được nghe con nói, được thấy con cười là má đã vui lắm rồi . Một ước muốn giản đơn như vậy nhưng con đâu có làm được. Nhiều lúc con cứ tự hỏi : Vì ai , vì cái gì mà con tự đánh mất đi hạnh phúc của chính mình ? Con sống ở nơi đây nhưng tâm tư tình cảm thì luôn hướng về những hình bóng thân yêu ở quê nhà.Nên rốt cuộc thì con đã tự làm khổ lấy mình và cũng làm khổ lây đến bao nhiêu người khác . Biết rằng như vậy là quá khổ, nhưng mà mãi con vẫn chưa tìm được cách vượt thoát ra ngoài nỗi khổ ấy được .


Ơ ! nhưng mà sao khi không con lại kể lể tùm lum như vậy , làm cho Thầy cũng bị buồn lây luôn rồi , nhưng ai biểu Thầy là Thầy của con làm chi, để cho mỗi khi có chuyện buồn vui gì con cũng đều nhớ đến Thầy và muốn đem kể cho Thầy nghe . Con rất mong những lời khuyên bảo dạy dỗ của Thầy .
Thầy ơi dạo này sức khoẻ của Thầy ra sao ? Chùa của mình và cả Thầy nữa có gì vui không , chị Hai của con có thường về chùa thăm Thầy không ? Có thường nhắc nhở gì đến con không ? Hay thời gian qua đi đã làm vơi luôn nỗi nhớ niềm thương của mọi người đối với con rồi ?


Dạo này mấy đứa nhỏ nhà con đã đi học lại rồi, còn con thì cũng chuẩn bị đi học. Nghĩ đến chuyện học sao mà con cảm thấy ngán quá ,tiếng Dan rất khó nói, khó hơn tiếng Anh nhiều , nhưng không học thi đâu có được, con thấy ngán học . Chứng tỏ là con đã già rồi đó phải không Thầy ? Nhưng thôi phải cố gắng chứ kể lể với Thầy , thầy cũng đâu giúp gì đuợc cho con . À ! mấy chú điệu nhỏ của chùa, mùa hè này có về chùa ở thường xuyên để làm rộn cho Thầy không ? Thầy có nhận cho mấy chú ở luôn và có nhờ chị Tiến giúp đỡ không ? Con nghĩ là Thầy phải nhận đệ tử vào rồi đó , chứ mai này Phật pháp ai lo . Con lại nhiều chuyện nữa rồi , Thầy đừng có mắng con nha ! nhưng mà cứ nghĩ đến cảnh chùa mình nằm ở nơi vắng vẻ, mà Thầy lại có một mình. Dù biết rằng bây giờ Thầy vẫn đang còn khoẻ nhưng ai biết được những khi trái gió trở trời, Thầy sớm khuya chỉ có một mình. Con cứ thấy lo lo trong lòng Thầy ơi!


Bạch Thầy ! Con đi xa không được ở gần để chăm sóc cho má con được, đành phải nhờ vào chị Hai . Con xin gởi má con cho Thầy nha, nếu có chuyện gì chị Hai con sẽ rất lúng túng , nhờ Thầy hỗ trợ cho chị. Nếu có lúc nào có dịp qua Pleiku, mà thầy có được chút ít thời gian rảnh rỗi xin Thầy hãy ghé nhà con một chút , nói chuyện với má con để má con được vui Thầy nha :
“Bảy mươi tuổi rồi mẹ có biết
Chuối chín trên buồng gió thoảng từng cơn
Nắng mưa, ấm lạnh , lòng con sợ
Thời gian có chờ cho con đền ơn ?”


Thầy ơi ! Thầy có biết không ? Có những đêm con nằm mơ thấy con và chị Hai chuẩn bị để đi thăm Thầy , nhưng sữa soạn xong rồi , sắp được gặp Thầy bỗng dưng giật mình thức giấc . Vậy là không được gặp Thầy làm con tiếc ngẩn tiếc ngơ , tức gì đâu ! Nhưng biết bắt đền ai đây, mấy lần như vậy rồi đó, thật là tiếc Thầy nhỉ? Chắc Thầy đang cười con đó phải không ? Chuyện trong mơ mà cũng …

con cũng xin kính chúc Thầy một mùa Vu Lan hạnh phúc và an lạc . con xin tặng Thầy một đoá hồng thắm như tình cảm của Thầy trò mình và con cũng kính dâng lên Thầy một đoá hồng trắng để “tưởng rằng mẹ vẫn bên ta , mẹ vẫn thương ta” .
Danmark, ngày 05 tháng 08

67890000:
vu lan lại về với những câu chuyện cảm động của những người con hiếu thảo
dành cho ông bà cha mẹ
Nhưng có những câu chuyện khác ,những mảnh đời khác ,những số phận khác
trong mùa vu lan mà tôi muốn đề cập tới
Và chắc chắn ,sẽ là quá ngây thơ nếu nói chuyện dưới đây chỉ là hư cấu
là không có thật

Con nấu hơi nhạt một tí thì mẹ bảo sao nhạt như nước ốc, bây giờ hơi mặn thì mẹ lại bảo nuốt không vô.Thế mẹ muốn như thế nào?"-Con dâu cằn nhằn.

Thấy con trai vừa đi làm về người mẹ vội vàng và cơm, thức ăn vào miệng cố nuốt.
Cô con dâu giận dữ nhìn chồng.Anh bèn đi lại thử ăn một miếng, vừa đưa vào miệng thì nhổ ra ngay, và nói:

"Anh đã bảo bao nhiêu lần rồi, mẹ bị bệnh không ăn được mặn cơ mà!"
-"Thôi được rồi!Mẹ là mẹ anh, giỏi thì sau này tự mà nấu đi!"Cô vợ giận dữ trở về phòng.

Người chồng chỉ biết than dài buồn bã, ngậm ngùi nói với mẹ rằng:"Mẹ ạ, thôi đừng ăn nữa, để con đi chế bát mì cho mẹ."
-"Tể, có phải con có chuyện gì muốn nói với mẹ phải không?Có thì con cứ nói đừng để trong lòng!"
-"Thưa *** tháng sau công ty con thăng chức cho con rồi, có lẽ công việc sẽ rất bận, với lại vợ con nó muốn đi làm, cho nên..."

Người mẹ liền hiểu ngay ý của con, mẹ bảo:"Tể, đừng đưa mẹ vào Viện Dưỡng Lão nghe con"-giọng mẹ như đang van xin.

Người con trai trầm tư một lúc, đang tìm một lý do khác thích hợp hơn.

-"Mẹ ạ, Viện Dưỡng Lão cũng có gì không tốt đâu, con sợ vợ con nó đi làm rồi sẽ không có thời gian chăm sóc mẹ được.Ở Viện Dưỡng Lão có cái ăn, cái ở lại còn có cả người chăm sóc, như vậy không tốt hơn ở nhà bao nhiêu sao?"
"Nhưng chú A Tài chú ấy..."

Tắm xong, ăn vội bát mì, người con trai liền đi vào phòng đọc sách.Đứng đăm chiêu bên cửa sổ, lòng anh ta lại suy nghĩ miên man.Mẹ từ lúc còn trẻ đã đành cam chịu cảnh góa bụa, ngậm đắng nuốt cay, chèo chống nuôi con khôn lớn, rồi lo cho con ra nước ngoài ăn học.Nhưng mẹ không bao giờ vì vậy mà đặt điều bắt con phải hiếu thảo lại, thế mà ngược lại người vợ lại lấy chuyện hôn nhân ra đặt điều này nọ với chồng! Nên đưa mẹ vào Viện Dưỡng Lão hay không?Người con trai tự hỏi lòng minh và thấy có điếu gì đó hơi bất nhẫn.

-"Sống với anh nửa quãng đời còn lại là vợ anh chứ chẳng lẽ là mẹ anh sao?"-Con trai chú A Tài cứ luôn nhắc anh ta như thế.

-"Mẹ mày già rồi, sống thọ lắm thì cũng chỉ được vài năm nữa thôi, sao không lo mà phụng dưỡng mẹ đi.Đừng để đợi đến lúc cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muôn nuôi mà song thân đã vãng"-Những người thân thích đều khuyên anh ta như vậy.

Người con trai không dám suy nghĩ tiếp nữa vì sợ sẽ thay đổi quyết định ban đầu.
Trời đã về chiều, những tia nắng cuối ngày hắt hiu vàng vọt, mặt trời đã sắp lặn về phía bên kia chân núi.Xa xa bên sườn núi là Viện Dưỡng Lão của hàng quý tộc.

"Đúng vậy, tốn càng nhiều tiền thì càng tốt, người con trai kia mới thấy yên tâm hơn, an ủi hơn.Khi đưa mẹ đến Viện Dưỡng Lão vừa bước vào đại sảnh đập vào mắt đầu tiên là chiếc TV to tướng 42 in đang chiếu một bộ phim vui nhộn, nhưng trên môi mọi người nụ cười dường như đã chết lịm.

Nhìn những cụ già áo quần giống nhau, kiểu tóc giống nhau đang gật gù trên những chiếc ghế so-fa, dáng vẻ buồn bã, hiu quạnh.Có cụ đang lẩm nhẩm điều gì, có cụ đang khó khăn trong động tác cúi mình nhặt những mẩu bánh rơi trên mặt đất lên ăn.Người con trai biết mẹ thích ánh sáng, nên đã chọn cho mẹ một căn phòng có đầy đủ ánh sáng.Từ cửa sổ căn phòng nhìn ra dưới bóng cây là những thảm cỏ xanh tươi.Những y tá đẩy những chiếc xe lăn đưa những người già đi dạo bộ, bốn bề không gian tĩnh lặng đến nao lòng.Nhưng dù cho hoàng hôn có đẹp đến đâu đi chăng nữa thì cũng vẫn là hôn hoàng, anh ta thở dài lòng buồn trĩu u uất.

-"***con...con về đây". Mẹ chỉ biết gật đầu.Lúc anh ta ra về mẹ vẫy vẫy tay, mồm mếu máo không còn một chiếc răng, làn môi trắng nhợt nhạt khô khan run rấy như muốn nói điều gì nhưng rồi lại thôi .Đến lúc này người con trai mới chú ý đến mái tóc đã bạc của *** khoé mắt hằn lên những nép nhăn theo năm tháng.Mẹ đã già rồi!

Ngay lúc đó trong đầu anh lại hiện về một cảnh tượng hồi còn thơ bé.Lúc đó anh ta chỉ mới 6 tuổi, mẹ có chuyện phải về quê không tiện mang theo con, nên gởi anh ta lại cho chú A Tài vài hôm.Lúc ra đi, anh ta hốt hoảng ôm chầm lấy chân mẹ không chịu buông ra, và khóc nức nở van xin mẹ:"Mẹ đừng bỏ con!Mẹ đừng đi"Cuối cùng thì mẹ đành phải mang theo anh ta đi.Anh ta ra khỏi phòng đóng cửa xong mà không dám quay đầu nhìn lại, vì sợ cái ký ức quái ác đó lại trở về.

Vừa về đến nhà đã thấy cảnh tượng vợ và mẹ vợ đang hăm hở vứt những đồ trong phòng mẹ một cách không thương tiếc.Chiếc cúp cao gần 1tấc-giải nhất cuộc thi viết văn hồi cấp 1 giành được với bài 《Mẹ tôi》, cuốn từ điển Hoa-Anh- phần quà sinh nhật đầu tiên mà mẹ dành cái ăn cái tiêu trong một tháng mua cho, và cả chai dầu phong thấp mà mẹ thường hay thoa trước khi đi ngủ nữa, không có con thoa cho *** mang vào Viện Dưỡng Lão thì có ích gì.

-"Đủ rồi, không được vứt nữa" -Người con trai giận dữ quát lớn.
-"Toàn đồ phế liệu rác rưởi này không vứt đi để lại làm gì chiếm chỗ, làm sao để đồ của tau được"-Người mẹ vợ nói không chút ngại ngùng.
-"Đúng đó, anh dọn luôn cái giường cũ kỹ, ọp ẹp kia của mẹ anh ra đi, mai em mua cho mẹ em chiếc mới khác."- Người vợ hùa theo mẹ mình
Trước mắt anh ta là một đống hình chụp hồi anh ta còn nhỏ, những tấm chụp lúc mẹ dẫn anh đi chơi ở sở thú, công viên.
-"Tất cả đều là tài sản của mẹ con không được vứt đi"
-"Thái độ của anh như vậy nghĩa là sao?Nói với mẹ em sao lớn tiếng vậy, anh phải xin lỗi mẹ em ngay!"
-"Vì sao anh cưới em thì phải yêu cả mẹ em, còn em gả cho anh lại không thể yêu được mẹ anh chứ?"

Sau cơn mưa đêm càng lạnh lẽo hơn, không gian càng yên lặng hơn, trên những con đường xơ xác lại càng thêm vắng bóng người và xe cộ lại qua.Chiếc BMW lướt đi như gió, vượt luôn đèn đỏ, băng cả làn đường vùn vụt lao như tên bay về phía sườn núi của Viện Dưỡng Lão.Dừng xe, chạy thẳng lên lầu, mở cửa phòng ra.Anh ta lịm đi một lúc, mẹ ngồi đó nắn bóp đôi chân bị phong thấp, quằn quại với nỗi đau nhức.Khi thấy trên tay người con cầm chai dầu phong thấp của mình, người mẹ như được an ủi phần nào, mẹ liền bảo:-"Mẹ quên mang theo, may mà con nhớ đem đến cho mẹ".Anh ta đến và quỳ xuống bên mẹ.

"Trời đã khuya rồi, mẹ tự mình thoa cũng được, con về đi mai còn phải đi làm nữa."
Anh ta nghẹn ngào nức nở một hồi rồi khóc oà lên nói với mẹ rằng:-"*** con xin lỗi *** mẹ hãy tha thứ cho con! Mẹ hãy về nhà với con đi!"

Tp. Vũ Hán, Ngày 26/6/2007
Sưa tầm dịch
Huệ Niệm

Nammo:
Thế vẫn còn nhẹ đấy. Ở đời còn khối cảnh oái oăm hơn.
Nghĩ thấy cũng buồn.
Nhưng may ra thì còn kịp.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa . Ngày mai tóc ta cũng đốm bạc, mắt ta đã hơi mờ và chân chồn gối mỏi. 
Ta cũng sắp già rồi.!!!
Sao đây nhỉ .

1- " Cha mẹ nuôi con như trời như bể

    " Có nuôi con mới biết công lao cha mẹ"   -  Các cụ xưa dạy thế.

Từ ngày cấn bầu, ta phải kiêng khem đủ thứ, an uống tiết chế, đi lại nhẹ nhàng, bỏ bớt những thú vui thường nhật để chăm lo cho thiên thần nhỏ đang phát triển từng ngày. Nghĩ ra còn hơn khối người, vợ chồng cưới nhau ì ạch mãi mấy năm trời chưa có con. Nào đi bốn phương tám hương, vái đủ thày, uống đủ thuốc mà vẫn câm tịt. Thậm chí mất hàng chục đến hàng trăm triệu đồng làm thụ thai nhân tạo. 
9 tháng 10 ngày mang nặng - đẻ đau. Khi thiên thần của ta khóc tiếng o e chào đời thì ta thấy biết bao là hạnh phúc. Lại phải hơ lửa nằm than bao nóng bức. Lại bao chăm chút, kiêng khem để cho dòng sữa luôn ngọt lành dành cho con bú mớm. Thức khuya dậy sớm không kể thời giờ chăm sóc con. Chỗ con đái ướt mẹ nằm, để con có chỗ khô ấm mà yên giấc. Khi con húng hắng lúc trời trở mùa, lúc mọc răng, lúc nẫy lật trong người con không khỏe, ta lại cuống lên chạy hết chỗ này chỗ khác tìm thày tìm thuốc chẳng quản sớm khuya, mưa phùn nắng rát. Chỉ mong sao cho con mau khỏi bệnh.
Con ham ăn cho chóng lớn thì mỗi bữa ăn, ta lại nhường con những miếng ngon, miếng lạc còn ta vui vẻ nhai miếng bèo nhoè,xương xẩu lấy làm vui. Tằn tiện chi tiêu để giữ cho con ngày 2 cốc sữa không gián đoạn. Lâu lâu có dịp đi ăn bên ngoài, thì khi về cũng cố kiếm mua cho con cái gì đó như là sự bù đắp.
Con lớn từng ngày. Quần áo mua cho con toàn chọn loại tốt và đẹp. Mùa nào thức ấy. Còn ta cả năm trời áo thâm vá vai, quần đen tikke gối. Chỉ mong con bằng chúng bằng bạn
Con đi học đóng đủ thứ tiền, học đủ thứ lớp. Ta phải làm tăng giờ kiếm thêm thu nhập. tranh thủ từng phút để chạy đưa đón con đến trường. Chẳng còn thì giờ mà giải trí, xả stress... nhưng ta lấy làm vui và hãnh diện.     
Con tốt nghiệp ra trường, mới đi làm lương chưa đủ đổ xăng. Mỗi lần có việc tiêu pha ta lại phải tiết kiệm để trích ra cho con đôi chút. Ngày con thông báo có người yêu ta nửa mừng nửa lo, khi con lập ra đình ta đứng ra lo toan tất bật từ mòi chào bà con họ mạc, làng dưới xóm trên. Đến chạy vay mượn từng đồng lo cho cho con cái lễ cưới cho không kém bạn kém bè.
Lo cho con vợ chồng trẻ , còn ít kinh nghiệm sống sao cho trong ấm ngoài êm. Con nhiều khi nói với ta rằng con lớn rồi, không phải bận tâm nhiều. Vậy chứ nhiều lúc ta không nói ra, như ta kém ăn giảm ngủ khi các con có chuyện. Sắp tới các con có cháu. Ta lại sẵn sàng đảm trách giúp cho. Người đời họ bảo rằng : " Một mẹ già bằng 3 người ở " Thật thế . Chứ ai hiểu con bằng ta 
Có chết mới hết lo. Các con nói ta cứ vô tư đi. Đâu có dễ như vậy. Nước mắt chảy xuôi ngày nào ta còn sống thì các con luôn là những đứa trẻ bé bỏng đáng thương nhất của đời ta.

 
2- " Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày "

Gớm ! Sao các ông các bà già lại lắm chuyện thế nhỉ.
Cứ để yên cho cón cháu đi. Chân tay thì lóng ngóng, mắt mũi kèm nhèm. Tai lành tai điếc. Nay kêu nóng mai kêu lạnh. Lúc nói nhạt lúc nói mặn. Thế mà chuyên của con cháu cứ lớ xớ vào.
Nay ốm mai đau, biết bao tiền thuốc. Lâu lâu lại hỏi xin tiền. Chả biết tiêu pha cái gì chứ. Ngày 3 bữa cơm, quần áo thì 1 năm mua cho 2 bộ rồi. Quà bánh gì ? Cũng phải đành đưa vài đồng lẻ cho xong chuyện.
Đã thế lâu lâu lại thấy tha ở đâu về vài cái bánh tráng, mấy củ khoai luộc, dăm cái kẹo xanh đỏ cho lũ trẻ con nhấm nhí. Rõ khổ. Ai lại cho chúng ăn mấy thứ đó chứ. Phải là bich - qui bơ , sô cô la hàng chính hãng chứ. Ăn uống mấy thứ đầuu đường xó chợ như thế, thì chết tiền đi bác sĩ à !!!.
Bảo lão chồng hay đưa bà về ở với bác cả hay cô hai , để bà đở làm ồn và còn lấy cái phòng cho lũ trẻ làm phòng riêng chứ, chúng lớn cả rồi . Lão ta cứ chần chừ dây dưa mãi . Giời ạ!  không biết ai khổ như tôi không. Tôi lấy chồng chứ đâu có lấy mẹ chồng. Đến cha mẹ tôi tôi còn chưa lo được chứ huống chi là .....
Ấy thế lâu lâu lại còn chuyện xưa tích cũ với lũ trẻ con: 
"Cái đận  bà con trẻ,  ông nội các cháu đi chiến trường. Bà ở nhà với cụ nội, một nách 3 con bác cả, cô hai và bố các cháu. Nghèo nhưng mà vui lắm. Bố cháu là út ít lên được ưu tiên buổi sáng đi học bác cả và cô hai chỉ mỗi người một củ khoai luộc, còn cụ nội và bố cháu được ăn cơm nguội hâm lại. Mấy lại bác cả và cô hai cũng thảo lòng, thương em chả khi nào tị nạnh. Lớn lên, bác cả cô hai phải bỏ học sớm đi làm giúp bà để cho bố cháu chí thú học hành. Thế là bố các cháu học tận lên tiến sĩ như bây giờ đấy.
Còn bà hở !  ra đồng với một tích nước chè xanh, kèm vài củ khoai luộc là no đến quá ngọ. Bà cả đời ăn khoai, ăn sắn quen rồi. Lâu lâu thấy thèm lạ là. Mai mốt bà chết, các cháu cúng bà chả cần mâm cao cỗ đầy gì đâu, buổi sớm cứ cho bà một bát nước chè đặc với vài củ khoai luộc, thắp cho bà nén hương là được. Đừng có đốt giấy tiền vàng nhiều, khói bay đau mắt. Để tiền dương mà giúp người nghèo khó. Với lại cả đời bà chưa cầm đồng tiền to bao giờ cả. Không quen, cầm nhiều cô hồn nó cướp mất ". 
Khổ thế đấy. Đúng là chuyện ngày xưa. Bây giờ bà phải nói với chúng chuyện intờnét, hăm bờ gơ
café net, USD ... chứ mấy cái đó thì làm chúng nó cùn mòn đi à.
Rõ khổ.

3 - Ầu ơ.
Chả mấy mà đến dịp Vu lan bồn - tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân. Tranh thủ hôm qua 14 làm cơm cúng ông nội ông ngoại các cháu. Cúng cả năm không bằng rằm tháng bảy, thôi thì tổ chức cho lớn một tí không kẻo người đời bảo là... Với lại cúng xong thì mình hưởng lộc, đem ăn  chứ có bỏ đi đâu mà thiệt. Nghe nói tháng bảy mở cửa ngục, cho gia quyến người chết gửi gắm quà bánh cho người thân.
Thôi thì kệ năm nay sắm cho ông nôi ông ngoại mỗi ông một cái Mẹcxiđì để đi lại cho oách. Thời buỗi xăng dầu thiếu kém, biếu luôn cho mỗi ông một cái yamaha siríơt cho tiết kiệm xăng. Lại thêm mỗi cụ một xe đạp điện nữa. Chả hiểu dưới âm ti có điện ko nhỉ .?  Một công biếu mỗi ông một cái nhà 3 tấm, 2 cái ti vi LCD, 1cái đầu DVD; 1 máy giặt , 1 tủ lạnh; 2 máy lạnh và vái radiô nghe thời sự và đọc chuyện đêm khua . Không biết dưối đó có intò nét chưa? thôi kệ cứ đốt cho mỗi ông một bộ máy tính Pen 2 nhân gì đó. Tiền vàng đốt đủ loại nào tiền đại, tiền tiểu, vàng lá 4 số 9, đô la tiếc là chưa có tiền Ơ Rô  âm phủ, không thì đốt biếu các cụ một ít. Hồi này đô la rớt giá quá.
Gớm con bạn mình nó còn đốt cả cổ phiếu cho ông bà nhà nó nữa mới ghê chứ. Đúng chúng nó nhanh nhạy thật.
Các cụ năm nay sướng nhá tha hồ ma tiêu pha. Năm nay kinh tế sa sút, tiền mất giá thế nhưng sắm sửa có tốn là bao. Mỗi ông có hơn triệu rưởi tiền mặt.

Giờ có tí tuổi rồi. Có lúc rảnh rỗi. Mấy chị em bạn rủ đi chùa cầu phước - lộc - thọ toàn.
Nghĩ cũng phải : trẻ vui nhà , già vui chùa. Đi chùa lễ Phật cầu may. Người ta bảo chịu khó cúng giàng để kiếp sau được sung sướng.
Tính sáng nay rằm lên chùa sớm. Phải nhờ thầy ghi danh cầu siêu cho các cụ nữa chứ. Ghi sớm thầy đọc sớm. Ghi muộn thầy đọc muộn, lỡ dịp mất thiêng.
Thế mà đầu buổi bà cụ lại kêu đau đầu. Lại phải chạy đi mua mấy viên Panadol cho bà. Mất thời gian quá ! Còn phải tranh thủ qua chợ mua mấy mét vải lam, chọn loại xịn của Pháp để dâng y cho Hòa Thượng. Chị em họ mua vải vàng may y hậu rồi. Mình mua vải lam cho thầy may đồ bộ. Tiền còn mua biếu thầy hộp sâm Huê Kỳ. Còn các Đại Đức bỏ phong bì cúng mỗi thầy trăm ngàn cho đỡ lách cách.
Mấy khi ! Dịp rằm tháng bảy cúng tốt nhiều phước báu.

4- Phút giật mình tỉnh thức :

Từ lúc Hòa Thượng trụ trì trả lại 2 món quà dâng cúng. Ta ngột ngạt trong người.
Thầy hỏi :
   - Chị biếu ta vải, vậy chị có biết tiệm may đồ cho người già đẹp nhất ở đâu không ? chỉ giùm ta với.
   - Bạch thầy! Con chỉ biết tiệm may đồ thời trang thôi. Tiệm may đồ người già con không biết
   - Ủa , vậy bà cụ ở nhà không may đồ à.
   - Bạch thầy, nhà con thường mua sẵn ngoài chợ ạ.
   - Hèn chi !!!
Thầy lại hỏi :
   - Hộp sâm chị biếu ta là loại loại gì vậy, sợ dùng không hợp 
   - Bạch thầy, sâm Mỹ tốt lắm, dùng cho người già thì rất phù hợp
   - Giá có mắc không ?
   - Dạ bạch thầy, cũng không mấy  có gần triệu bạc.
   - Thế có ngon không
   - Dạ bạch thầy con chưa dùng thử.
   - Ủa , thế chị chưa lần nào pha trà sâm này cho bà cụ ở nhà sao.
   - Dạ bạch Thầy ..........
   - Này nữ thí chủ ! ta mới là Hòa Thượng phàm tu. Vậy mà được được nhận bao nhiều sự cung kính của người đời, từ Phât tử chắp tay bái lạy kính cẩn lúc đến chùa và rời chùa. Rồi dệ tử thưa bẩm. Được dâng cúng đồ ăn, thức uống hai tay trân trọng . Được cúng biếu nhiều phẩm ngon đồ quí. Chúng ta biết mình chưa được quyền hưởng cái duyên đó. Nhưng tất cả là phương tiện. Cốt lõi là ái tâm và tấm lòng  của Phật tử dâng lên 3 ngôi Tam bảo.
Ta hỏi chị rằng ở nhà chị đã bao giờ chắp tay lạy Cha Mẹ già chưa ? Hàng ngày có hai tay cơm bưng nước rót không ? Đi đứng nói năng thưa bẩm nhẹ nhàng không ? Mỗi dịp lễ tết hàng năm,có mua đồ ngon, vải đẹp biếu Cha Mẹ không ? Hay là !?
Phật dạy rằng ở mỗi nhà, bà Mẹ già là một Đại Bồ Tát. Mà so với Bồ Tát thì Hòa Thượng còn thua kém nhiều bậc có phải không .? Vậy là ta đâu dám hưởng cái duyên này. Nói vậy chắc chị hiểu. Hãy cho ta gửi món quà này về cho bà cụ ở nhà. Nói rằng :

Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Con có cắt thịt lột da
Cũng không báo hết bao la - ơn nầy.

Cả tối qua lịch xịch nấu nồi cháo hạt sen cho bà nội các cháu ăn. Mấy hôm rồi bà kêu khó ngủ.
Buổi tối phải thức muộn căng mùng, ghém chăn rồi xoa bóp cho bà. Tảng sáng mới vào gường thiếp đi được một lúc.
Sáng sớm trời hơi lạnh, đã lỡ ngủ ngại chả thèm dậy đắp chăn nữa. Bỗng giật mình vì thấy động trên người. Hé mắt nhìn lên, thấy lờ mờ bóng cô con dâu cả đang se sẽ choàng lên mình ta tấm chăn chiên. Gớm cái con này sao nay tốt thế. Chà bù mọi ngày mặt mũi cừ lầm lầm lì lì.

Một phút đốn ngộ. Ta chợt thức tỉnh một điều. Ở đời nhân quả nghiệp duyên có nhiều lúc nhãn tiền. Ta chợt nấc lên 3 tiếng, một tiếng khóc cho biết bao bậc sinh thành bấy lâu nay vẫn thương yêu những đứa con bất hiếu. Một tiếng khóc cho ta với nhưng sai lầm bấy lâu nay đối với cha với mẹ và một tiếng khóc cho con ta vì mẹ cha nó là hàng giả dối. Nước mắt đâu có nhiều nhưng mà sao ta thấy nó mặn chát vậy. Rồi ta bật cười lên một tiếng, một tiếng cười vui để tạ ơn ba ngôi Tam Bảo. Vì nhờ Người đã khai sáng cho lòng con đang u mê đen tối.   
Vâng ! đúng một tiếng cười không lớn, không mạnh nhưng nó có dư âm.
Đúng ! ngày mai ta đã già.
Và! vẫn còn may...

Mùa Vu Lan báo hiếu năm Mậu tí






 


 



 
 


 

 



     





 
 
 


 
 

Duy Thuc:
Nguồn gốc và sự phát triển lễ hội Vu lan



Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát

          Lễ Vu lan là một ngày lễ quan trọng trong Phật giáo. Căn cứ vào kinh Vu lan, hằng năm vào ngày rằm tháng bảy, lễ hội Vu lan được tổ chức long trọng để truy tiến cầu siêu cho tổ tiên cha mẹ đã quá vãng siêu sanh về miền tịnh cảnh. Trong kinh Vu lan đức phật dạy: “ Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi chứng được lục thông, Ngài dùng Thiên nhãn quan sát thế giới nhìn thấy mẹ mình sinh làm ngạ quỷ, chịu các khổ báo mà không sao cứu mẹ ra được. Tôn giả đau buồn bi thảm liền quay về bạch hỏi đức Phật. Đức Phật nhân đó mà thuyết ra phương pháp cứu độ này. Vào ngày rằm tháng bảy, khi chúng Tăng Tự tứ, vì cha mẹ bảy đời, cha mẹ hiện tại đã quá vãng đang chịu các cảnh khổ mà dùng trăm món đồ ăn, đựng trong bồn bát cúng dường thập phương chúng Tăng. Nhờ công đức đó mà cha mẹ bảy đời được thoát cảnh ngạ quỷ, sanh lên làm người hoặc sanh vào cõi trời hưởng được các phước báo.” Đây chính là nhân duyên đức Phật thuyết kinh và từ đó lễ hội Vu lan được lưu hành trong Phật giáo.

          Kinh Vu lan có nguồn gốc từ tiếng Phạn, do ngài Pháp Hộ (Dhamrmaraksha) dịch sang tiếng Hán vào đời Tây Tấn, nay còn lưu trong “Xuất Tam Tạng Ký Tập”, bản tiếng Phạn đã bị thất lạc. Toàn bản kinh Hán gồm 800 chữ, được dịch ra nhiều thứ tiếng như Nhật, Hàn, Việt nam. Ở Trung quốc, Nhật, Hàn và Việt nam có nhiều bản được dịch thành các thể loại thơ.

          Ngoài ra ở Trung quốc còn có các bản dịch thời Đông Tấn tên là “Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn Kinh” hay “Báo Chúng Công Đức Kinh”. Những bản dịch này văn nghĩa ngắn hơn, khoảng 300 chữ. Trong “Khai Nguyên Thính Giáo Lục” quyển thứ 18 có chép một bài kinh tên là “Tịnh Độ Vu Lan Bồn Kinh”, kinh này hiện đã thất lạc. Trong “Pháp Uyển Châu Lâm”, quyển 62 có chép một bản kinh tên là “Đại Bồn Tịnh Độ Kinh”. Bản này nói có 16 quốc vương sau khi nghe đức Phật thuyết xong câu chuyện Tôn giả Muc Liên cứu mẹ thoát vòng ngạ quỷ thì mỗi vị đều phát tâm làm các loại bồn quý, đựng các món thức ăn cúng dường Phật và Tăng chúng.

          Theo bản “Vu Lan Bồn Kinh” của ngài Trúc Pháp Hộ dịch thì có nhiều chú giải rõ ràng và dễ hiểu nhất. Hiện có “Vu Lan Giảng Thuật” của Đường Huệ Tịnh, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ” của Đường Tông Mật, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Tân Ký” của Tống Nguyên Chiếu, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Ký” của Tống Phổ Quán, “Vu Lan Bốn Kinh Sớ Hiếu Hằng Sao” của Tống Ngộ Vinh, “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa” của Tống Nhật Tân, “Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ” của Minh Trí Húc, “Vu Lan Bồn Tích Trung Sớ” của Thanh Linh Diệu, “Vu Lan Bồn Kinh Lược Sớ” của Thanh Nguyên Kỳ. Trong các bản chú sớ này đều có một nội dung gần như giống nhau chỉ có một vài giải thích thuật ngữ có khác đôi chút, ngoài ra không có gì sai biệt nhau lắm.

          Chữ Vu Lan Bồn có hai âm đọc, một âm là “Vu Lan”, một âm là “Bồn”. “Vu Lan” là âm tiếng Phạn “Ulam” có nghĩa là cứu đảo huyền, giải đảo huyền hoặc cứu tội treo ngược (hanging up side down); “Bồn” có nghĩa là đồ đựng thức ăn. Như trong “Vu Lan Bồn Kinh Giảng Thuật” của Đường Huệ Tịnh viết: “Đem các món thức ăn đựng trong bồn cúng dường Phật và chúng Tăng để cầu cứu nạn treo ngược nên gọi là Bồn”. Sớ của Đường Tông Mât chép: “Vu Lan là tiếng Tây Vức (Western Region) nghĩa là đảo huyền; chữ Bồn là âm đọc của người Hán đời Đông Hạ, có nghĩa là đồ đựng thức ăn dâng cúng”. Như vậy hiểu theo sát nghĩa thì Vu Lan Bồn là đồ đựng thức ăn để dâng cúng cứu tội treo ngược. Trong “Tân Sớ” của Minh Trí Húc, và “Tích Trung Sớ” của Nguyên Minh Kỳ cũng giải thích như vậy.

          Có một cách giải thích khác cho rằng “Vu Lan Bồn” đều là âm dịch từ tiền Phạn. Theo “Nhứt Thiết Kinh Âm Tập” của Huyền Ứng chép: “Vu Lan Bồn dịch âm từ chữ Ulambana nghĩa là đảo huyền. Theo tục lệ người Tây Vực, đến ngày Tăng Tự Tứ, vì người quá cố trong gia đình tuyệt tự không có người thờ cúng mà lại đọa vào vòng ngạ quỷ, chịu tội báo treo ngược, vì vậy đức Phật chỉ bày cho mọi người trồng các cội công đức, bằng cách đem thức ăn cúng dường chư Phật và Tăng chúng, nhờ sức chú nguyện mà người quá cố được thoát cảnh địa ngục đói khát treo ngược. Xưa gọi Vu Lan Bồn là đồ đựng thức ăn là không đúng vậy”.

          Trong “Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hiếu Hằng Sao” của Tống Ngộ Vinh viết: “Tên kinh vốn là Giác Giả Thuyết Cứu Đảo Huyền Khí Kinh, Vu Lan Bồn được dịch âm từ thời Tống đã lược bớt âm của nó, âm đầy đủ phải là Ô Lam Bà Noa (Ulambana) nghĩa là hiếu thuận, cúng dường, báo ân và giải đảo huyền. Âm “Bồn” cũng chính là âm dịch của âm Phạn “Bana”. Nay hiểu theo nghĩa của người Hán là đồ đựng thức ăn cứu tội treo ngược”. Như vậy theo lời giải thích của Tống Ngộ Vinh thì các chuyên gia dịch thuật đương thời đều hiểu với nghĩa như vây để dịch trong kinh điển.

          Thế nhưng theo những gợi ý của Kenneth K. S. Chen trong cuốn Chenese Transformation of Buddhism, thì thuật ngữ Ulambana là một hợp âm, nó không có trong từ điển tiếng Phạn cũng như Pali mà chỉ có những từ như Ullambita là một quá khứ phân từ của động từ Ud-lamb (xem Monier William, A Sanskrit English Dictiionary) có nghĩa là treo ngược (suspended), như vậy cũng có nghĩa tương tự như Avalambana (hanging down). Còn trong Pali English Dictionary thì có xuất hiện chữ Ullumpana nghĩa là cứu độ, xá tội (salvation, saving, full of mercy) có nguồn gốc từ chữ Ullumpati. Như vậy những nhà dịch thuật kinh điển thời bấy giờ ở Trung quốc đã đọc âm trại từ Ud-lamb, Avalambana hoặc Olambana thành Vu Lan Bồn (yu-lan-pen) và dịch thành Cứu đảo huyền hay cứu tội treo ngược. Còn riêng chữ “Bồn” không có nghĩa riêng biệt trong những thuật ngữ đã nói trên mà chỉ là âm đọc tiếp nối của hợp âm trên. Vì vậy cho nên thuật ngữ Vu Lan Bồn không thể hiểu là bình bát hay bồn cứu độ.

          Từ đó y theo kinh Vu Lan Bồn, lễ Vu Lan được bắt đầu từ thời vua Lương Võ Đế. Theo “Phật Tổ Thống Ký” quyển 37 chép: “Năm Đại Đồng thứ tư (538), nhà vua ngự giá đến chùa Đồng Thái, thiết cỗ chay Vu Lan để cúng dường”. Và trong “Thích Thị Lục Thiệp” của Nghĩa Sở chép: “Ngài Hoằng Minh ghi nhận rằng hằng năm đến ngày rằm tháng bảy vua Lương Võ Đế đến chùa dâng bồn cúng dường thể theo việc làm trong kinh của Ngài Mục Liên”. Kể từ đó về sau lễ hội Vu Lan được duy trì và trở thành một lễ hội quan trọng trong truyền thống văn hóa Trung Quốc được vua quan thần dân bá tánh ủng hộ và cử hành long trọng để báo đáp thâm ân tổ tiên cha mẹ.

          Trong “Pháp Uyển Châu Lâm” của Đường Đạo Thế quyển 62 chép: “Các quốc tự lớn ở Trường An như chùa Từ Ân... hằng năm vào ngày rằm tháng bảy mọi người đều đến chùa bày sắm trai soạn bỏ vào bình bát, trỗi các thứ kỷ nhạc, dùng các thứ hương hoa để cúng dường, trong số đó có những gia đình vua quan tham dự không ít...” Như vậy cho thấy vào đời Đường phong tục cử hành lễ hôi Vu Lan được tổ chức ngày càng long trọng và trang nghiêm hơn. Trong “Phật tổ Thống Ký” quyển 51 chép: “Đời Đường (Lý Dự) đã từng xuống chiếu cho cử hành lễ Vu Lan, thiết lễ trong bảy ngôi miếu thần, bày lễ chay cúng dường. Đến đời Lý Thích, ông cũng đến chùa An Quốc thiết lễ Vu Lan dâng bồn cúng dường chư Tăng.” Trong “Thích Thị Thông Giám” quyển chín cho thấy nhiều sự kiện tương tự như vậy được cử hành và tổ chức đều đặn hằng năm. “Đại Tống Tăng Sử Luận” chép: “Lúc bấy giờ có nhiều thí chủ thiết lễ cúng dường Vu Lan Bồn, bồn được trang sức bằng các thứ vàng ngọc đựng thức ăn cúng dường Tam bảo”. Từ sự việc được ghi chép trên cho thấy lễ hội Vu Lan ban đầu được tổ chức trong chùa và dần dần được rộng rãi cử hành trong dân chúng, họ đựng thức ăn trong bình bát đem đến chùa dâng cúng, rồi về sau lễ Vu Lan còn được tổ chức trong cung nội và bồn bát dâng cúng được sắm sửa trang nghiêm hơn. Và trong dân gian lễ hôi cũng được tổ chức ngày càng phổ cập rộng rãi. Như trong “Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký” của Viên Nhân (Ennin) một Tăng nhân người Nhật Bản đến tham học ở Trung Quốc vào đời Đường ghi nhận như sau: “Trong thành Trường An vào ngày rằm tháng bảy dân chúng đến các cảnh chùa dâng đèn nến, hoa hương, oản bánh và bày lễ trai thịnh soạn trông rất đẹp mắt. Họ đặt lễ vật trước chánh điện chùa và bắt đầu làm lễ cầu nguyện cúng dường. Dân chúng và tất cả chùa chiền ở Trường An tổ chức lễ hội Vu Lan rất long trọng và trang nghiêm. Năm nay các chùa thiết lễ cúng dường lớn hơn mọi năm.” Như vậy lúc bấy giờ, không những hàng tại gia cư sỹ tu pháp cúng dường mà hang xuất gia cũng cử hành lễ hội Vu Lan và trai Tăng cúng dường.

          Đến đời Tống, phong tục lễ hội này vẫn được duy trì nhưng ý nghĩa việc cúng dường Phật và Tăng chúng bị giảm đi rất nhiều và cũng bớt phần trang nghiêm, nhưng thay vào đó là chú trọng đến việc cúng tế cho người đã khuất. Ở thời Bắc Tống trong “Đông Kinh Mộng Hoa Lục” của Tống Mạnh Nguyên viết: “Lúc này có thiết bàn thờ Phật, tụng kinh Mục Liên cứu mẹ. Lễ hội kéo dài bảy ngày bảy đêm cho đến ngày rằm tháng bảy mới hoàn tất. Người đến dự hội rất đông.”

          Từ đó về sau lễ hội Vu Lan trở thành ngày hội truyền thống trong Phật giáo và trong phong tục của người Hán. Trong “Nguyệt Phân Tu Tri” của Nguyễn Đức Huy chép rằng: “Sơ tuần tháng bảy trong phủ huyện có tổ chức lễ Vu Lan rất trang nghiêm, mọi người thiết đàn tụng kinh cho đến ngày 15 mới giải hội. Tối cuối cùng có thiết lễ Vu Lan Bồn tụng kinh và cúng cô hồn.”

          Đến đây chúng ta đã thấy rằng sự tổ chức lễ hội Vu Lan ở thời này đã thay đổi rất nhiều về mặt hình thức cũng như ý nghĩa, và từ đó theo truyền thống này lễ hội tiếp tục phát triển cho đến ngày nay. Minh Châu Hoằng viết trong “Chánh Hoa Tập” như sau: “Trong dân gian đến ngày rằm tháng bảy mọi người thiết lễ Vu Lan Bồn cúng dường chư Tăng, bày lễ chay cúng quỷ thần và cầu siêu cho hương linh thân bằng quyến thuộc đã quá vãng được siêu sanh về cõi Cực Lạc. Khởi nguyên của lễ hội Vu Lan phát xuất từ câu chuyện tôn giả Mục Liên cứu mẹ. Cứ hằng năm đến ngày rằm tháng bảy, chư Tăng giải hạ Tự tứ, chín tuần tu học viên mãn, vào đúng ngày này dâng bồn cúng dường chư Phật và Tăng chúng thì phước đức rất lớn, mà không chỉ cúng cho cô hồn ăn, bởi vì lễ cúng cô hồn duyên khởi phát xuất từ Tôn giả Ananda không phải ngày rằm tháng bảy.”

          Đến đời Thanh lễ hội này càng phát triển với quy mô càng lớn và trở thành một lễ hội gắn chặc với lễ hội truyền thống trong dân gian. Trong “Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký” có giải thích rõ về nghi thức tiến trình tổ chức lễ Vu Lan cúng dường Tam bảo và cách thiết bày trai soạn hiến cúng thí thực âm linh cô hồn. Lễ hội Vu Lan Bồn bao gồm tụng kinh bái sám, trên cúng dường Tam Bảo dưới cứu bạt muôn loài. Ban ngày tổ chức lễ hội Vu Lan tụng kinh cầu nguyện, làm phước cúng dường bố thí, nhờ sự gia bị của đức Phật và sự chú nguyện của chư Tăng mà cửu huyền thất tổ, cha mẹ bảy đời được thác sanh Tịnh độ. Ban đêm thiết lễ trai nghi, đăng đàn chẩn tế, phóng diệm khẩu, cúng thí âm linh cô hồn phổ tế hàm sanh ân triêm lợi lạc.


Duy Thuc:
VỀ NGUỒN GỐC LỄ “BÔNG HỒNG CÀI ÁO”

Tâm Huy



Bông Hồng Cài Áo

          Nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong dịp lễ Vu Lan (rằm tháng 7 Âm lịch) là một nghi thức đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam. Càng đặc biệt hơn, nghi thức này do giới Phật tử trẻ tuổi tại miền Nam đưa vào Phật Giáo từ hơn 40 năm về trước. Sau đó không lâu. nó đã trở thành một nghi thức có tính cách truyền thống trong lễ Vu Lan. Gần đây, tuy có một số người như TT Vân Đàm (Tu viện Pháp Vương, Fairfax, Virginia) hay Cư sĩ Bình Anson (Chủ tịch Hội Phật Giáo Tây Úc) đặt vấn đề về việc lễ Bông Hồng Cài Áo có phù hợp với nghi thức Vu Lan của Phật Giáo hay không, cho tới nay nó này vẫn là một trong những nghi thức không thể thiếu của lễ Vu Lan tại hải ngoại.
Điều đáng nói là một sự kiện quan trong như vậy của Phật Giáo Việt Nam hầu như không được các sử sách Phật Giáo trong nước cũng như hải ngoại đề cập tới.
Dường như chỉ có một cuốn sách duy nhất nói tới sự kiện này là cuốn ghi chép về thơ thầy Nhất Hạnh của sư cô Chơn Không Cao Ngọc Phượng (Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát, nhà xuất bản Lá Bối, Paris 1980). Sự lãng quên nào cũng có dụng ý của nó, và những dụng ý đó không thiếu trong những cuốn sử về Phật Giáo Việt Nam khi đề cập tới các Phật sự do ni giới hay giới cư sĩ thực hiện. Mùa Vu Lan tượng trưng cho sự tri ân và báo hiếu của Phật Giáo, nên cũng là dịp để chúng ta phủi bớt đi lớp bụi của sự lãng quên này.

          Năm 1962 sư ông Nhất Hạnh phổ biến đoản văn Bông Hồng Cài Áo, trong đó ông giới thiệu tục lệ cài một bông hoa trên áo trong ngày Mother’s Day của người Nhật. Ông viết: Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương, không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, kẻo một mai người khuất núi, có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục lệ cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan. Ông cho biết bông hoa mà cô sinh viên người Nhật cài cho ông trong ngày Mother’s Day ở Đông Kinh là hoa cẩm chướng, không phải hoa hồng.

          Lúc đó Nhất Hạnh chưa phải là một tên tuổi có sức thu hút mạnh trong giới Phật tử trẻ. Chỉ có một số nhỏ sinh viên biết đến ông. Tuy thế, đề nghị nói trên của Nhất Hạnh được một số thành viên trong Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn đón nhận một cách tích cực. Họ chép tay đoản văn Bông Hồng Cài Áo thành thành hàng trăm bản và cho phổ biến ngay trong nội bộ đoàn. Lễ Vu Lan năm đó (1962), đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn thực hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo tại chùa Xá Lợi: họ mời tất cả những người dự lễ nếu còn mẹ cài một bông hoa hồng màu đỏ lên áo, những người mất mẹ cài một bông hoa hồng màu trắng trên áo.

          Có thể đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn thực hiện được điều này nhờ hai yếu tố thuận lợi:

          1- Đại Hội Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử toàn quốc họp tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn (trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam) từ ngày 26 tới 28 tháng 12.1961 với khoảng 200 đại biểu tham dự. Đại Hội biểu quyết:

          a- bản nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam;

          b- quyết định hợp nhất Gia Đình Phật Tử thuộc Ban Hướng Dẫn bốn đoàn thể Phật Giáo (Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Trung Việt, Nam Việt, Việt Nam Phật Giáo và Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam) dưới sự lãnh đạo của Ban Hướng Dẫn Trung Ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam;

         c- bầu Ban Thường Vụ của Ban Hướng Dẫn Trung Ương với Thượng toạ Thiện Hoa làm Trưởng Ban, các thành phần khác đều là các huynh trưởng kỳ cựu của GĐPT.

          Lúc đó Sinh Viện Phật Tử Sài Gòn là đoàn đầu tiên về loại này (đoàn Sinh Viện Phật Tử Huế mãi tới tháng 3.1963 mới được thành lập), nên các hoạt động có tính Phật sự của họ dễ được sự yểm trợ tinh thần dù ẩn hay hiện của ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT.

          2- Cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt từ năm 1955, nắm quyền quản trị chùa Xá Lợi, là một cư sĩ học giả Phật học có tinh thần khai phóng không cố chấp bảo thủ, nên không ngăn cản việc đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn đưa một nghi thức mới lạ nhưng dễ thương vào lễ Vu Lan.
 


Bông Hồng Cài Áo

          Có thể nói qua việc thực hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong lễ Vu Lan 1962 tại chùa Xá Lợi, đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn đã chứng tỏ được khả năng tổ chức. Họ sẽ trở thành lực lượng xung kích lôi cuốn các sinh viên học sinh khác, làm bùng nổ lớn cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm từ tháng 5.1963, dẫn tới sự sụp đổ của chính quyền này vào đầu tháng 11.1963.

          Đầu năm 1965 nhà xuất bản Lá Bối ở Sài Gòn xuất bản cuốn Bông Hồng Cài Áo nhưng không giữ bản quyền, nên cuốn sách mỏng này được phổ biến rất rộng qua nhiều đợt in khác nhau. Nó trở thành cuốn sách được biết đến nhiều nhất của Nhất Hạnh.

          ............................

          Năm 1967, một nhạc sĩ quen thuộc với giới sinh viên Phật tử Sài Gòn là Phạm Thế Mỹ phỏng theo ý văn của Nhất Hạnh trong đoản văn trên, viết bản nhạc Bông Hồng Cài Áo. Bản nhạc này lập tức được các đơn vị Gia Đình Phật Tử miền Nam đón nhận và đưa vào nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong lễ Vu Lan. Kể từ đó bản nhạc này gắn bó với nghi thức Bông Hồng Cài Áo. Bông Hồng Cài Áo, Sáng Tác: Phạm Thế Mỹ | Ca Sĩ: Bằng Kiều


Giải thích về ý nghĩa việc cài bông hồng trên áo
trong mùa Vu Lan

          Tại hải ngoại, nghi thức Bông Hồng Cài Áo, được nhiều bài báo Mỹ ca ngợi. Họ cho rằng lòng hiếu đễ được nâng lên thành một nghi thức tôn giáo là một điểm sáng của Phật Giáo đáng được đặc biệt lưu ý. Có điều họ chưa biết nghi thức này là một đặc điểm riêng của Phật Giáo Việt Nam và trở thành một truyền thống trong lễ Vu Lan là nhờ nỗ lực liên tục của các đơn vị Gia Đình Phật Tử từ năm 1962 tới nay.

* Tâm Huy Aug 20, 2004




Navigation

[0] Message Index

[#] Next page