Tháng Ba 08, 2021, 05:28:46 PM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 13
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Đôi lời về hình tượng phối ngẫu trong Kim Cang Thừa vào lúc: Tháng Mười 29, 2012, 01:32:07 PM
Đôi lời về hình tượng phối ngẫu trong Kim Cang Thừa


Xin chào tất cả. Gần đây cũng là mối duyên lành mà Kim Cang Thừa bắt đầu được biết nhiều hơn ở Việt Nam.  Thông qua các chuyến hoằng pháp của các Đạo Sư mà Phật tử chúng ta được thọ nhận rất nhiều bài pháp quý giá cũng như các pháp thực hành rất thâm mật trong quá trình tiến đến Phật quả của mình.

Bên cạnh việc Kim Cang Thừa được phát triển thì do với lượng kiến thức rất lớn và sâu sắc cùng với các pháp tu đầy hình tượng của Kim Cang Thừa nhưng Phật tử Việt Nam chúng ta chưa được minh giải rõ ràng, tường tận sẽ khiến cho không ít hiểu lầm lạc về các pháp tu cũng như triết lý thâm sâu của Kim Cang Thừa.

Trong vô số những lầm lạc đó, phần lớn những cuộc tranh luận là về pháp Yab-yum hay còn gọi là pháp song tu, pháp tu phối ngẫu. Hình tượng một vị Phật, đang ôm một phối thân nữ đã bị rất nhiều Phật tử cho là không đúng đắn, là sai với tôn chỉ của đức Phật, là một dạng tha hóa... Hay nặng nề hơn là đã từng có người cho Kim Cang Thừa là đạo dâm tà…

Thật ra pháp tu phối ngẫu và các hình tượng phối ngẫu là một giáo lý vô cùng cao cấp của Kim Cang Thừa vì vậy thiếu đi sự hành trì và những luận giảng từ các bậc thầy thì có những sự hiểu lầm như trên cũng là một điều dể hiểu. Cũng vì vậy mà thời gian gần đây Thiện Duyên được một người huynh đệ đồng tu yêu cầu một bài viết ngắn về hình tượng phối ngẫu nhằm giúp mọi người có sự hiểu biết tỏ tường hơn. Cũng như đã nói ở trên, những giáo lý tột cùng cao cấp này không phải là dễ nắm bắt. Thế nên mong rằng đôi lời dại dột vụng về này của Thiện Duyên sẽ giúp những hành giả sơ cơ của Kim Cang Thừa có một tầm nhìn tổng quan hơn về pháp song tu, phối ngẫu.

Trước tiên, để có thể nói về các hình tượng song tu (Yab-yum) của các vị Bổn Tôn trong Kim Cang Thừa thì chúng ta cần phải có một chút hiểu biết về kiến thức Tam Thân trong Phật Giáo. Tam Thân trong Phật giáo được đề cập đến chính là: Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân (hay còn gọi là Ứng Hóa Thân).

-   Ở mức độ gần với chúng ta nhất chính là Hóa Thân: Là các thân hóa hiện của chư Phật và chư Bồ Tát ở trong hình tướng mà các giác quan của chúng sinh bình thường (tai, mắt…) có thể cảm nhận được để thực hiện việc hóa độ chúng sanh. Ví dụ như : Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị thánh Tăng là hóa thân của chư Bồ Tát…

-   Cao hơn nữa chính là Báo Thân: Đây là thân tướng cực kì vi tế, không phải là thân được cấu thành từ các vật chất thô trọc. Thân tướng này cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan bình thường. Thân tướng này chỉ có thể cảm nhận được thông qua những Tam Muội cao cấp, hoặc định lực rất mạnh. Trong kinh điển của Đại Thừa như kinh Viên Giác cũng có đề cập đến việc hội chúng nghe giảng pháp nhập vào Quang Minh Tam Muội để nghe pháp. Hoặc như đức Phật A Di Đà, Dược Sư… ở các cõi tịnh của các ngài cũng hiện đang giảng pháp trong trạng thái Báo Thân.

-   Thân tướng cuối cùng là trạng thái Pháp Thân: Đây là một loại thân đã vượt ngoài khỏi tri kiến của những phàm phu như chúng ta. Đây không phải là một thứ mà hiểu biết thông thường có thể tỏ lộ. Thế nên Thiện Duyên sẽ không nói nhiều hơn về thân này. Nhưng tạm có thể hiểu một cách khái quát về Pháp Thân là tổng thể tất cả vạn vật hiện tượng trong vũ trụ này.

Một điều quan trọng Thiện Duyên muốn lưu ý các bạn là: Trong pháp tu của Kim Cang Thừa, tất cả thân tướng của chư vị Bổn Tôn đều trong dạng thức Báo Thân. Điều đó có nghĩa là thế nào? Toàn bộ chúng sinh cõi Dục được cấu thành bằng những vật chất rất thô trọc, đồng thời lòng Dục luôn tồn tại trong chúng ta. Những chúng sinh từ cõi Sắc Giới trở lên cho đến cõi Vô Sắc Giới thì lòng Dục đã không còn. Vì sao? Đơn giản là vì vật chất cấu thành thân của họ đã thanh tịnh và vi tế, nhẹ nhàng hơn vật chất cấu thành thân của chúng ta rất nhiều.
Báo Thân của chư Tôn trong các pháp tu Kim Cang Thừa hoàn toàn không nằm trong Tam Giới (Dục, Sắc, Vô Sắc Giới) mà được kết thành từ trí tuệ Tánh Không và lòng Đại Bi không ngằn mé của chư Phật, chư Bồ Tát. Do vậy là thân này rất rất vi tế, thanh tịnh và không có một chút hàm chứa Dục Lạc trong đó. Độ vi tế và thanh tịnh của thân chư Tôn thậm chí còn vi tế và thanh tịnh hơn chúng sinh cõi Vô Sắc rất nhiều. Vì  vậy, thị hiện hình tướng phối ngẫu của chư Tôn vốn dĩ đã hoàn toàn không còn một chút gì là Dục vọng nữa.

Báo Thân Kim Cang Tát Đỏa

Như một đoạn nghi quỹ mô tả về hình tướng phối ngẫu của chư tôn vốn dĩ là Báo Thân trong truyền thống Longchen Nyingthik như sau:

Giữa sen trắng và trên vành trăng
HUNG biến thành Kim Cang Tát Đỏa
Trong Báo Thân trắng sáng rực rỡ
Cầm chày chuông ôm phối thân nữ

Hay ở những bình giảng của đại sư Dilgo Khyentse  Rinpoche về việc quán tưởng Bổn Tôn trong thân tướng bằng ánh sáng, như ánh sáng của cầu vồng. Vốn dĩ không phải một thực thể chắc đặc.


Kế đến, trong hình tướng phối ngẫu. Do sự chưa rõ ràng, chúng ta dễ có nhầm lẫn rằng một vị Bổn tôn nam ôm một vị Tôn nữ khác. Thật ra, là hoàn toàn sai lầm khi nói rằng tôn nam này kết hợp với tôn nữ kia. Đúng ra phải nói rằng trong Tự Tánh hiển lộ ra một hình tướng bất nhị. Điều này có nghĩa là trong Tự Tánh tròn đầy hiển lộ ra một hình tướng tuy hai mà một, tuy một mà hai. Vì vậy mà Thiện Duyên dùng từ bất nhị ở đây.

Mọi người cần nên có một chút khái niệm về cụm từ “bất nhị”. Thật ra, mấu chốt mê lầm mà có chúng sinh, có Phật, có luân hồi, có Niết Bàn chính là tâm vô minh lầm lạc, lầm chấp vào một cái Ngã thực có. Chính vì sự chấp thủ này mà dẫn đến cái thiên kiến sai lầm là có ta và có những thứ không phải là ta. Đây chính là tiền đề cho tri kiến nhị nguyên, là nhân của luân hồi. Bất nhị chính là cái đoạn lìa được khỏi nhị nguyên, cắt đứt được nhân của luân hồi và vọng tưởng. Như trong kinh điển Đại Thừa có bộ kinh Duy Ma Cật đề cập rất rõ ràng đến “Bất nhị pháp môn”. Do phạm vi của bài viết này nên Thiện Duyên không đề cập ở đây.

Nói rõ hơn chư vị Bổn Tôn luôn diệu dụng đầy đủ các oai nghi và phẩm hạnh, lại cũng tròn đầy các trí Phương Tiện cũng như Từ Bi. Chư Tôn hiển lộ hình tướng dựa trên căn tánh của chúng sinh. Do vậy để thể nhập trạng thái bất nhị (không một, cũng không hai) nên thị hiện một thân là của Từ Bi, một thân là của Trí Tuệ Thiện Xảo trong trạng thái hợp nhất (bất nhị). Một lần nữa Thiện Duyên xin mọi người lưu tâm, từ trong Tự Tánh hiện thành hình tướng bất nhị, chứ không phải là sự phối ngẫu của tôn nam này và tôn nữ kia.

Tổng luận:

Bài viết cũng đã dài, nay Thiện Duyên xin tóm gọn lại cho các bạn có thể dễ hiểu rõ ràng hơn về hình tướng pháp tu phối ngẫu:

-   Các hình tướng của chư Tôn trong Mật thừa luôn ở dạng thức Báo Thân. Do vậy được cấu thành từ các loại vật chất vô cùng thanh tịnh, nên không thể tồn tại dục tính nơi thân tướng này.

-   Hình tướng này không phải là sự phối ngẫu của tôn nam này với tôn nữ kia. Đây là thị hiện thân bất nhị của Tự Tánh.

Vài lời lạm bàn rất mong phần nào sẽ giúp mọi người tỏ ngộ được những nghi ngại về hình tượng phối ngẫu của Kim Cang Thừa. Mọi sai sót là của kẻ học Phật lười biếng này, mọi công đức có được xin nguyện hồi hướng đến tất cả chúng sinh và cúng dường đến Đạo Sư Hungkar Dorje Rinpoche, người đã ban tặng những bài pháp quý báu về Tam Thân. 

Thân
Thiện Duyên
2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Hành giả theo truyền thống Kim Cang Thừa vào lúc: Tháng Hai 02, 2012, 05:15:45 PM
Thân chào tất cả.

Có lẽ truyền thống Kim Cang Thừa đã bắt đầu được biết đến khá nhiều ở Việt Nam. Số lượng Phật tử đi theo truyền thống này cũng dần tăng lên theo những lần hoằng pháp của các vị Đạo sư. Từ đó danh từ “hành giả Kim Cang Thừa” đã bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên không ít tình trạng danh từ này được sử dụng khá bừa bãi và thậm chí là dễ bị hiểu sai lạc. Thậm chí được nhận pháp danh tiếng Tạng hay được thọ nhận một số lễ quán đảnh cũng chưa khiến chúng ta trở thành một hành giả Kim Cang Thừa. Vì vậy Thiện Duyên xin được viết bài này nhằm chia sẽ với các bạn một phần nào đó đúng đắn hơn về khái niệm “hành giả Kim Cang Thừa” mà Thiện Duyên may mắn được Đạo sư của mình chỉ dạy.

Đầu tiên, điều mà các vị Đạo sư luôn nhắc đến đó là: “Nền tảng Kim Cang Thừa dựa trên quan kiến thanh tịnhpure view.”  Do đó, thật sự một hành giả Kim Cang Thừa phải luôn gìn giữ được quan kiến thanh tịnh. Đây không phải là một vấn đề đơn giản, câu trả lời cho thắc mắc của các bạn về làm cách nào để có thể đạt đến điều này chính là sự thực hành. Các phương pháp hành trì của Kim Cang Thừa như quán Bổn sư mỗi sáng  hoặc trước khi đi ngủ, hay các phương pháp tiếng gọi tỉnh thức, các nghi thức lễ cúng dường tám món kiết tường, cúng dường nước hàng ngày… và sự thực hành các bộ pháp thầy truyền dạy đều đặn với sự chánh niệm sẽ giúp chúng ta gìn giữ được quan kiến thanh tịnh.

Kế đến, trong truyền thống Kim Cang Thừa có hai loại hành giả. Những hành giả áo vàng, không tóc là những tu sĩ – trappa. Những hành giả áo trắng, tóc dài là những cư sĩ – ngakpa, cũng có thể gọi là yogi. Dù là tu sĩ hay cư sĩ thì theo truyền thống Kim Cang Thừa họ cũng vẫn có thể đạt đến giác ngộ như nhau. Tuy khác nhau ở hình tướng là vậy, nhưng điểm giống nhau cốt lõi của họ chính là: Giới luật thanh tịnh. Ở lúc này, Đạo sư có dừng lại và nói thêm rằng: “Xin đừng nghĩ là yogi hay yogini (nữ hành giả) thì được phép ăn thịt, uống rượu hoặc làm những điều kỳ lạ khác… và nói rằng đó là “Bí Mật Thừa” -  Secret Yana.  Điều đó không đúng. Truyền thống Yogi của chúng tôi vẫn được xây dựng dựa trên giới luật thanh tịnh”.

Điều cuối cùng, trong truyền thống Kim Cang Thừa. Hành giả rất tôn trọng Bổn sư, Bổn sư được đặt trước Phật, trước Pháp và trước Tăng Bảo. Khái niệm này có lẽ phần nào đó vẫn còn rất xa lạ với chúng ta. Tuy nhiên với quan điểm của Kim Cang Thừa, thật sự nếu không có Bổn sư thì chúng ta không thể biết về Pháp chân chính, điều đó đồng nghĩa với chúng ta không thể hiểu được thế nào là Phật quả chân thật và hòa được vào cùng Tăng đoàn rộng lớn của các ngài. Vì vậy quy y Bổn Sư trước rồi mới đến Phật, Pháp, Tăng.

Những điều trên đây là một phần tri kiến nhỏ nhoi mà Thiện Duyên góp nhặt được từ biển trí huệ rộng lớn của Đạo sư mình. Rất mong phần nào đó góp được chút thiện duyên cho việc tu học của các đạo hữu.

Lời thuật lại này e là vẫn còn sai sót, kính mong các bậc tri thức niệm tình bỏ qua. Nguyện cầu cho lực gia trì của các bậc Đạo sư mãi nồng ấm trong tâm các đệ tử.
                         
Thân
                              Thiện Duyên
3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: NHỮNG BÀI KỆ KÍNH LỄ CHƯ PHẬT VÀ BỒ TÁT - HH Truklshik Rinpoche vào lúc: Tháng Tám 07, 2011, 03:04:57 PM
Những bài kệ này thật rất hữu ích. Hành giả nào với tâm thành kính và lòng quy ngưỡng đến HH Trulshik Rinpoche sẽ nhận được sự gia trì mãnh liệt của chư Phật thông qua ngài, một vị Đạo sư hoàn toàn trong sạch nơi thân - khẩu - ý.

Nguyện mọi sự cát tường. Sarva Mangalam.

                                                                     Thiện Duyên
4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Đông Mật và Mật Tông Tây Tạng vào lúc: Tháng Bảy 09, 2011, 06:23:27 AM
Thân chào tất cả.

Đã lâu Thiện Duyên không viết bài. Nhưng gần đây có một số đạo hữu bắt đầu tìm hiểu về Kim Cang Thừa và có khá nhiều thắc mắc, nhất là về sự khác biệt giữa Mật Tông Trung Hoa, Nhật Bản (Đông Mật) với Mật Tông Tây Tạng. Thiện Duyên thấy đây cũng là một câu hỏi khá thú vị. Nếu hiểu tường tận được sự khác biệt này thì lộ trình tu học của mọi người sẽ thêm phần sáng tỏ, nên viết bài này nhằm giúp các bạn hiểu rõ hơn.

I)   Xét về dòng truyền thừa.


1)   Mật Tông Trung Quốc và Nhật Bản:


Đức Phật Tỳ Lô Giá Na

Xét về truyền thừa chung thì vẫn là từ đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) truyền đến đức Vajrasattva (Kim Cang Tát Đỏa), từ Vajrasattva truyền đến vị thầy vĩ đại Nagajuna (Long Thọ). Sau đó từ Long Thọ truyền đến Long Trí, sau đó Long Trí truyền đến Kim Cang Trí.

Kim Cang Trí cùng với Thiện Vô Úy và Bất Không Kim Cang đem giáo lý Mật Tông vào Trung Quốc. Cùng với sự trợ giúp của Nhất Hạnh phiên dịch các bộ kinh lớn như kinh Đại Nhật, kinh Kim Cang Đảnh…Từ đó là khởi nguồn của Mật Tông Trung Quốc.

Bất Không Kim Cang truyền pháp cho Huệ Quả. Ngài Huệ Quả truyền pháp cho Không Hải. Không Hải chính là vị tổ đầu tiên của Chân Ngôn Tông, Mật Tông Nhật Bản.


Không Hải

2)    Mật Tông Tây Tạng, có 2 hệ thống Cựu Dịch và Tân Dịch.


Tôn tượng đức Liên Hoa Sinh ở Samye
Ngài đã từng ban phước cho tượng này, ai nhìn thấy tượng này như nhìn thấy chính đức Liên Hoa Sinh.


Cựu Dịch: tổ là ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh). Giáo pháp tối thượng Dzogchen xuất xứ từ đức Phật Pháp Thân Phổ Hiền truyền cho đức Vajrapani (Kim Cang Thủ) sau đến Garab Dorje (Kim Cang Cực Hỷ) . Garab Dorje truyền thừa đến Manjusrimitra (Diệu Đức Hữu). Manjusrimitra truyền cho Sri Simha. Sri Simha truyền cho đức Liên Hoa Sanh và Jnanasutra, Vimalamitra và dại dịch giả Vairostana. Sau này giáo lý Dzogchen được hoằng truyền ở Tây Tạng là do công của đức Liên Hoa Sanh.


Đức Phật Kim Cang Trì[


Tân Dịch: dòng truyền trực tiếp từ đức Phật nguyên thủy Vajradhara (Kim Cang Trì) đến tổ Tilopa. Tilopa truyền cho Naropa. Naropa truyền lại cho Marpa – Đại Dịch Giả. Từ đó giáo lý quý giá này được đem về Tây Tạng. Sau đó ngài Marpa truyền lại cho đức Milarepa. Từ ngài Milarepa mà thành lập hệ thống Kagyu 4 dòng lớn, 8 dòng nhỏ như hiện giờ.

Còn có tôn giả Atisa, người hình thành dòng phái Kadampa. Dựa trên giáo lý từ dòng Kadampa của tổ Atisa, ngài Je Tsongkhapa thành lập Gelugpa (Hoàng Mạo Phái).


Tôn giả Atisha


II)   Xét về phương diện hành trì


Nói về phương diện hành trì, đại để chúng ta có thể tạm nói Mật Tông Trung Quốc và Nhật Bản thuộc về Ngoại Mật, còn Mật Tông Tây Tạng và Ấn Độ thuộc về Nội Mật. Trước đây, Thiện Duyên đã có một bài viết về 9 thừa của Mật giáo, trong đó đã phân chia rất rõ ràng về ba yoga Ngoại và 3 yoga Nội. Ở bài viết này, Thiện Duyên xin làm rõ hơn một khía cạnh khác của hai loại Nội, Ngoại Mật này.

Xét về cơ bản, những hành giả sơ cơ thường nghe một câu như kiểu khẩu quyết đó là “tam mật tương ưng”. Ở đây, “tam mật tương ưng” là gì? “Tam mật” là gì? “Tương ưng” với cái gì?

Theo quan niệm của Mật giáo, thân người của chúng ta là một loại pháp khí tuyệt hảo nhất trong mọi loại pháp khí. Trong thân người này hàm chứa đầy đủ và toàn vẹn phẩm tánh của lục đạo chúng sinh cũng như chư hiền thánh, nhờ có nó mà chúng ta mới có thể tu tập được các Mật pháp. Có ba thứ mấu chốt để có thể dẫn dắt thân người này đạt đến quả vị toàn giác (tâm kim cang bất hoại – tâm giác ngộ và thân kim cang bất hoại) đó chính là thân, khẩu, ý. Thân khẩu ý này không còn là loại thân khẩu ý phàm phu bình thường nữa. Thân khẩu ý này cũng không thể hiểu được bởi những người bình thường cho nên gọi là Mật, Tam Mật. Tương ưng hay còn có thể hiểu là tương ứng. Tương ứng với những phẩm tính thanh tịnh tuyệt hảo của các Bổn tôn.

Tựu chung lại, thì Ấn là sự tượng trưng cho thân của Bổn Tôn, Thần Chú tượng trưng cho khẩu của Bổn Tôn và Quán Tưởng để thể hiện tâm ý của Bổn Tôn . Ở đây thì đường hướng tu tập đã bắt đầu khác nhau giữa các truyền thống Đông Mật và Mật Tông Tây Tạng. Đây chính là mấu chốt của sự phân biệt Nội Mật và Ngoại Mật.

1)   Xét về truyền thống Đông Mật:

Để phàm thân này có thể tương đồng với thân thanh tịnh của Bổn Tôn hành giả Đông Mật bắt ấn cần phải rất chuẩn xác. Sai lệch một chút đã trở thành ấn khác vì vậy mà không thể tương đồng với thân Bổn Tôn đang hành trì.

Việc phát âm thần chú lại rất cần sự chuẩn xác, tương tự cho tiết tấu, giai điệu, tụng âm phát lực như thế nào, ra sao... Âm thanh và rung động cũng cần sự chuẩn xác. Rất nhiều hành giả sẽ không đồng ý điểm này với Thiện Duyên, tuy nhiên nếu thật sự đã từng trải nghiệm qua các bước tu trì đúng theo truyền thống này sẽ biết được sự quan trọng của âm thanh ra sao.

Thông thường ở việc quán tưởng, hành giả Đông Mật thường quán tưởng Bổn Tôn xuất hiện bên ngoài hoặc trước mặt để ban lực gia trì cho mình.   

2)   Xét về truyền thống Mật Tông Tây Tạng:

Như đã nói ở trên, quan điểm của Mật giáo về thân người là một pháp khí tuyệt hảo nhất để giúp chúng ta tiến đến Phật quả. Mật Tông Tây Tạng còn mở rộng sử dụng thân người này một cách rốt ráo hơn nữa.

Qua việc sử dụng các hệ thống kinh mạch, và sự thấu hiểu sâu sắc về những đàn tràng của chư Phật ngự trị trong thân kết hợp với tri kiến thanh tịnh. Hành giả Mật Tông Tây Tạng sử dụng chúng để hình thành thân của Bổn Tôn. Đây là sự tương đồng nơi Thân.

Cũng dựa trên nền tảng tri kiến thanh tịnh mà ngữ thanh tịnh được hình thành và đó chính là khẩu của Bổn Tôn. Đây là sự tương đồng nơi Khẩu.

Tâm ý thanh tịnh xuất phát từ tri kiến thanh tịnh cũng hoàn toàn thuần tịnh như tâm ý của Bổn Tôn. Đây là sự tương đồng nơi Ý.

Đây chỉ là những kiến thức chung mà Thiện Duyên có thể trình bày ở đây, nếu muốn có những sự thấu hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn về hệ thống kinh mạch, tri kiến thanh tịnh cũng như tâm vi tế… hành giả cần được nhận sự khẩu truyền trực tiếp từ một vị Đạo Sư của một dòng truyền thừa liên tục không gián đoạn.

Qua những điểm trên rõ ràng chúng ta có thể thấy được hành giả Mật Tông Tây Tạng dùng “Nội” Mật khác với các hành giả Đông Mật như thế nào.

Ở đây có một điểm quan trọng nữa mà các hành giả cần lưu tâm đó là quả vị đạt đến của các trường phái nếu đi theo một cách rốt ráo cũng là quả vị Phật đồng nhau không khác. Sự khác biệt ở sức phương tiện của Nội Mật mãnh liệt hơn so với Ngoại Mật. Nhờ vậy mà lộ trình tu học sẽ nhanh hơn so với Ngoại Mật. Đây chính là lý do Kim Cang Thừa nổi tiếng với câu nói “một đời thành Phật” là vậy.

Mong bài viết này phần nào đó sẽ giúp các hành giả thêm sáng tỏ. Nguyện mọi sự cát tường.
Chúc mọi người thân tâm thường an lạc.

                                                                   Thiện Duyên
5  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Ý KIẾN HỘI VIÊN / Re: HIỆN TƯỢNG CẢNH GIÁC RẤT QUAN TRỌNG vào lúc: Tháng Năm 18, 2011, 02:48:38 PM
Thân chào mọi người

Trước đây có một bài viết từng nói một số quan niệm về Linh Hồn cùng với cảnh giới Thân Trung Ấm bên box Mật Tông. Thiện Duyên cũng có một số bài hồi đáp, đọc dòng tư tưởng đó Thiện Duyên cũng nghĩ rằng có lẽ đây là giọng văn và hướng suy luận của sư Thích Thông Lạc.

Nay thấy bác chanhnguyen có lưu tâm lại một số câu nói của vị sư này, Thiện Duyên thấy cũng thật thú vị nên cũng có đôi điều muốn chia sẻ.

Thiện Duyên có cơ hội thân cận với các Lama và cũng từng trình bày với các thầy về những quan điểm mình còn khúc mắc về những giáo lý của các dòng Nam Truyền và Bắc Truyền... Thiện Duyên chợt nhận ra một điều, có lẽ tên gọi Nam Tông - Bắc Tông (diễn đàn HTT chọn tên gọi Nam Truyền - Bắc Truyền là rất chính xác) chỉ dùng để chỉ ra hướng đi của dòng giáo lý (về phía Nam hoặc phía Bắc) chứ không phải là những tiêu chí lập thành môn phái. Rõ ràng các Lama không hề có quan niệm rằng đây loại giáo lý Tiểu Thừa, kia là giáo lý Đại Thừa... Nhìn chung các thầy nhận định rằng chỉ một thừa duy nhất là Phật Thừa (các thầy khá ngạc nhiên khi thấy Phật tử VN chúng ta phân chia ra giáo lý Tiểu Thừa, giáo lý Đại Thừa, dòng Tiểu Thừa, dòng Đại Thừa...). Phật thừa này hoàn toàn thống nhất và hoàn chỉnh.

Dĩ nhiên, chư thầy chư tổ truyền dạy giáo lý phải tùy theo căn cơ chúng sinh, không thể khiên cưỡng được. Ngay cả trong truyền thống Nguyên Thủy thì các khu vực khác nhau như Miến Điện thì các sư thuận theo các bộ Luận, ở Thái Lan thì khế hợp hơn với Kinh. Đó cũng là lý do, Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc "Đông độ một chuyến" mà hình thành hệ thống Thiền Tông.

Sự phân chia, chê bai các dòng giáo lý khác cũng xuất phát từ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thật là không phải rồi.

Thiện Duyên thiết nghĩ, nếu hành giả nào chê bai giáo lý Nguyên Thủy thì nên thử hành trì một thời thiền quán sâu sắc về Tứ Diệu Đế sẽ thấy được cái mọi người hay gọi là "Tiểu" sẽ vĩ đại ra sao. Và ngược lại, những hành giả nào chê bai giáo lý Đại Thừa là lai tạp, không phải giáo lý chân chính của Phật giáo thì cũng nên thử một thời thiền quán về tâm từ bi (Bồ Đề Tâm) hướng đến chúng sinh sẽ thấy sự lai tạp này lai tạp vào Phật giáo một cách thuần tịnh ra sao.

Cuối cùng, Thiện Duyên xin được kết thúc bài viết của mình bằng câu nói của Lama Drupon Sonam Jorphel Rinpoche: "Hãy thực hành, đừng thờ phụng suông".

Nguyện cho mọi sự cát tường. Sarva Mangalam.

                                                                                                                               Thân
                                                                                                                         Thiện Duyên
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Gửi 123456789 vào lúc: Tháng Tám 10, 2010, 04:56:59 PM
Thân chào 123456789

Thiện Duyên có nhận được PM của bạn, lại thấy bạn có đặt câu hỏi này ở đây. Thế nên Thiện Duyên xin được phép trả lời ngay tại nơi này hầu mong sẽ có nhiều đạo hữu được lợi lạc hơn nếu có những thắc mắc tương tự.

Trước hết Thiện Duyên xin có lời khen ngợi đối với bạn. Ngoài chuyện sau khi thọ nhận Pháp từ các bậc Đạo Sư rồi thực hành chuyên cần thì việc học Pháp thông qua việc đọc tụng kinh điển cũng là một điều quan trọng không kém. Pháp có Pháp học và Pháp hành như đôi cánh của chim, như đôi chân của con người. Thiếu một cánh hoặc chỉ có một chân thì sẽ khó có thể bay cao xa được.

Thứ đến câu hỏi của bạn cũng rất thực tế, việc cúng dường Bổn Tôn thật sự là việc rất cần yếu. Nói về cách cúng dường Bổn Tôn thì có rất nhiều cách cũng như nhiều thứ lớp, có lẽ Thiện Duyên sẽ bàn đến vấn đề này ở  một bài viết khác. Thế nhưng tựu trung về mặt thế gian thì việc cúng dường Bổn Tôn sẽ đem lại phước đức to lớn và người hành giả đó "sẽ chẳng bao giờ chịu cảnh đói nghèo", còn về mặt xuất thế gian của việc cúng dường Bổn Tôn sẽ giúp cho người hành giả "lúc nào cũng được no cơm Pháp vi diệu tối thắng và thỏa khát cam lồ từ bi của chư vị". Thế nên bạn nhớ lời dạy của đức Phật về việc cúng dường là chính xác. Nhưng ở đây có một điều Thiện Duyên xin lưu ý với bạn, không phải vì bạn không cúng dường Bổn Tôn mà bị các ngài quở phạt cho ốm o yếu đuối hoặc không phù hộ khiến bạn không thành tựu Pháp. Mà do việc không cúng dường sẽ khiến bạn không tích tập đủ phước đức trong khi kho nghiệp lực vốn đầy rẫy khắp không gian của chúng ta vẫn còn tồn tại - điều này sẽ khiến bạn ốm yếu thân tâm. Cũng tương tự cho việc không đắm mình được trong sự gia hộ của chư vị sẽ khiến cho bạn dễ bị dính phải ma chướng.

Thật sự mà nói, có một điều từ trước đến giờ Thiện Duyên luôn đề cập đến khi có dịp trao đổi với các đạo hữu Kim Cang Thừa khi nói về Giáo Điển - kinh sách. Chúng ta thường hay trích dẫn lời kinh để minh chứng cho những điều mình muốn nói. Thế nhưng chúng ta thường quên mất một khái niệm quan trọng của kinh đó là "người đương cơ" - người đứng ra đại diện cho hội chúng lúc đó thỉnh Phật chuyển pháp luân, Phật cũng vì vị đó và hội chúng có nghiệp lực và tâm thức tương đồng mà diễn nói Pháp khế hợp. Ví dụ với vị trí tuệ như A Nan nhưng chưa chứng đắc sâu vào các tầng thánh quả thì Phật giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm hoặc như với Giải Không Đệ Nhất Tu Bồ Đề mà giảng nói kinh Kim Cang hay là với Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ mà giảng nói cảnh giới bất khả tư nghì của kinh Đại Nhật. 

Quay lại câu hỏi của bạn, điều bạn thắc mắc là thuộc bộ kinh Đại Luân Kim Cang Đà La Ni. Kinh này là được đức Phật giảng nói cho Chấp Kim Cang thần. Và đây là một dạng nghi quỹ để thực hành thành tựu darani này. Do vậy lời kinh khuyến dạy không được dùng thức ăn đã cúng dường cho Bổn Tôn mà phải đem thức ăn này đi bố thí thì chỉ là phù hợp cho những thức ăn được cúng dường khi thực hiện theo nghi quỹ của kinh này mà thôi.

Ở một số nghi thức khác, thường như lễ tsok cúng dường cho chư vị xong, hội chúng chia nhau đồ ăn đó và thọ thực ngay lập tức mà không được đem về nhà. Lại có những thứ bánh torma đỏ để cúng dường những tinh linh ác độc thì phải lập tức vất bỏ ngay. Thế cho nên tất cả là tùy thuộc vào nghi quỹ bạn đang thực hành mà có những phương pháp sử dụng đồ cúng khác nhau. Còn về thông thường nếu bạn chưa thực hiện theo nghi quỹ nào quá riêng biệt thì việc thọ thực đồ cúng dường Bổn Tôn xem như là một việc thọ thực phẩm vật đã được ban phước vậy.

Vài dòng tự sự, rất mong phần nào đó giải tỏa được những thắc mắc của 123456789.
Với lời nguyện cát tường, nguyện bạn và tất cả các đạo hữu tinh tấn không ngừng.

                                                                                                                                      Thân
                                                                                                                                   Thiện Duyên

7  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Những điều người Phật tử Việt Nam cần thực hiện vào lúc: Tháng Bảy 30, 2010, 04:50:06 PM
Thân chào tất cả

Đã lâu rồi Thiện Duyên không viết bài, thật sự cũng là vì công việc còn nhiều bộn bề và điều quan trọng hơn nữa đó là tự thấy sở học của mình còn rất nhiều khiếm khuyết thế nên không dám gieo rắc những tâm tư đôi lúc còn đầy tà kiến của mình vào các đạo hữu, nhất là những đạo hữu sơ phát tâm tu học Kim Cang Thừa.

Thiện Duyên được may mắn một số đạo hữu hỏi về Kim Cang Thừa. Và vì đã lâu các lá thư đó chưa được hồi đáp, thật sự đó đều là những câu hỏi rất thú vị cũng như là rất chân thành. Thế nên nay Thiện Duyên viết bài này trước hết là muốn xin lỗi các bạn vì sự chậm trễ của mình, thứ đến là cũng muốn chia sẽ các bạn một số điều mà Thiện Duyên thiển nghĩ là cần thiết đối với người tu học Kim Cang Thừa.

Với các đạo hữu sơ cơ thì vì lòng nhiệt huyết, cũng như sự bỡ ngỡ nên đặt ra rất nhiều câu hỏi như là: “phải tu thế nào, pháp tu ra sao, làm thế nào để nhận pháp, những điểm vướng mắc chưa dung thông đối với các giáo lý của Đức Phật….” chắc có lẽ không gì ngoài một mục đích hiểu được cần phải làm gì để có thể thực hành Kim Cang Thừa. Thế nhưng đa phần các câu hỏi đó khó mà trả lời cho các bạn được. Vì những lẽ như sau, nếu trả lời để cho các bạn hiểu được thì đó chỉ là cái hiểu của người chưa tu tập pháp nên không thể gọi là thật hiểu, còn không trả lời các bạn thì thật sự là có tội làm mất đi lòng nhiệt huyết của các bạn.

Cũng vì những điều trên, Thiện Duyên trăn trở đã lâu, rất may gần đây khi có đủ cơ hội thỉnh pháp Lama của mình “ kính thầy, mong thầy từ bi chỉ bảo, do nhân duyên đã giáo hóa ở nhiều vùng của đất nước Việt Nam, kính mong thầy quán sát căn cơ chỉ rõ những điều tiên yếu – cần thiết mà người Phật tử Việt Nam cần thực hiện để có thể thực hành Kim Cang Thừa.
Trầm ngâm một chút và rồi Lama dạy như sau:

“Người Phật tử Việt Nam trước tiên cần làm 4 điều như sau:

1)   Tâm thương yêu

Ở đây thầy cũng nhấn mạnh chưa phải là tâm Bồ Đề, trước hết chỉ là lòng thương yêu, tu gì cũng vậy trước hết là phải có lòng thương yêu và biết cảm thông với (trước hết là) những người xung quanh mình ( bố mẹ, gia đình, làng xóm…) rồi mới có thể xa hơn. Thiện Duyên có một người bạn mỗi khi làm Phật sự là gặp phải chuyện gây gỗ với bố mẹ, thế nên chính vì điều đó mà làm cho bố mẹ của bạn mình phát ra cái lòng oán Phật vì sao sinh ra Phật sự để làm con mình trái lời mình.

2)   Sự ẩn mật

Người tu phải kín đáo, nếu ta bắt đầu tu mà cả làng đều biết.(Điều này thường rất xảy ra đối với người mới tu) Đó là điều chẳng phải rồi.

3)   Tâm khiêm hạ

Lúc nào cũng phải tự thấy sự tu hành, kiến thức, sự hiểu biết của mình chưa đi đến đâu.

4)   Tâm cầu pháp

Lòng thiết tha cầu pháp không ngừng sẽ dẫn ta đến được với chân sư và chánh pháp.”

Viết rồi lại xóa, xóa rồi lại viết…..vì những lời này thật không thể nào chuẩn xác và đầy oai lực như từ kim khẩu của Lama của mình, nhưng đây là những điều tận đáy lòng mình Thiện Duyên muốn chia sẽ với các bạn, nhất là những đạo hữu sơ cơ thành tâm với Kim Cang Thừa. Mong cho những lời này có thể đem lại lợi lạc cho tất cả.

Đôi lời tự sự

                                                                                                          Thân
                                                                                                      Thiện Duyên
8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: Những câu thần chú thấm đẫm oai lực vào lúc: Tháng Bảy 19, 2010, 03:57:47 PM
Thân chào coixaygio

Đây là bản dịch của Thiện Duyên có nguồn gốc từ đức Zopa Rinpoche. Thiện Duyên đã đăng tải bài này trong mục "Các dòng truyền Kim Cang Thừa" ngay trong forum của HTT.

Rất cám ơn coixaygio đã một lần nữa giới thiệu bộ thần chú này đến các đạo hữu khác. Tuy nhiên rất mong coixaygio cũng cung cấp cho toàn vẹn thêm về lời dạy của ngài Zopa về các thần chú này.

                                                                                                                     Thân
                                                                                                                 Thiện Duyên


Trích dẫn
Những thần chú mạnh mẽ này dành cho những mục đích khác nhau và tất cả đều cần thiết cho cuộc sống của chúng ta. Những thần chú và số biến chú trì tụng (ghi ở dưới) thì được khuyến khích cho những ai mà cuộc sống thì quá bận rộn bởi công việc và gia đình…

Luôn luôn là lợi lạc khi trì tụng nhiều hơn đặc biệt là kết hợp với sự thực hành quán tưởng, truyền khẩu hay sự hướng dẫn khẩu truyền bởi những hữu tình đã giác ngộ (những chân sư). Điều này cần được kết hợp với sự nhận ra và sự trong sáng, rõ ràng trong quán tưởng về những bổn tôn khác nhau và với mục tiêu nhằm hiện thực hóa sự giác ngộ không chỉ cho bản thân mình mà cho vô lượng hữu tình. Quan trọng nhất, hành giả phải 100% chân thành và tin tưởng vào những bổn tôn khác và áp dụng sự trì tụng và điều hướng những sự cầu nguyện và mục tiêu. Với điều này, nó xác định được là hành giả sẽ hiện thực hóa được mục tiêu của thực hành của mình.


..................................................

Ở đây, trong các bộ thần chú này, phần lớn là đã được Lạt Ma Zopa ban phước cho những người trì tụng. Nhưng theo thiển ý Thiện Duyên, chỉ có những thần chú nào mà mọi người đã được thọ nhận quán đảnh rồi thì hẵn thực hành quán tưởng giai đoạn mình mang thân tướng Bổn Tôn. Còn các bộ thần chú chưa được thọ nhận quán đảnh chỉ nên tụng niệm gieo duyên (điều này không có nghĩa là trì tụng sẽ không hiệu quả - năng lực của thần chú là bất khả tư nghì) và quán tưởng các ngài hiện ra trong hư không và ban phát phước báu và pháp vị cho mình mà thôi.
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Tiểu sử đức GARCHEN TRIPTRUL RINPOCHE vào lúc: Tháng Năm 17, 2010, 03:52:24 PM
Garchen Triptrül Rinpoche
“Hóa thân – Bậc Trì Giữ của ngôi vị Garchen”


Đức Garchen Triptrul Rinpoche


Giới thiệu

Dòng truyền thừa Phật giáo Kagyu được kế thừa bởi những Lạt ma đức cao vọng trọng. Đó là sự thật đặc biệt của dòng truyền Drikung Kagyu, được sáng lập bởi Kyoba Jigten Sumgon. Một trong những đệ tử tâm yếu của Kyoba Jigten Sumgon là thành tựu giả Gar Dampa Chodingpa, mà dòng truyền tái sinh của ngài được trì giữ bởi đức Garchen Rinpoche hiện nay.

Thành tựu giả Gar Dampa Chödingpa

Gar Dampa Chodingpa được sinh vào năm 1180 sau công nguyên. Ngài được công nhận là một tái sinh của Acharya Aryadeva  Bodhisattva (Thánh Thiên Bồ Tát), một đệ tử của đức Long Thọ. Vừa được sinh ra ngài đã có thể cầm một chiếc gậy, và trì tụng thần chú lục tự. Mẹ ngài đã quá kinh hãi đến mức phải kể với những người khác về những khả năng của con trai mình.

Sau đó, ngài thực hành mật chú tại Tsari ở Tây Tạng. Trong khi ngụ tại một hang động của Gar ở Dagpo, tất cả chư thiên và quỷ thần của Tây Tạng hội tụ quanh ngài. Đầu tiên họ ném những vũ khí sắc nhọn và làm thương tổn ngài, nhưng sau đó quy y ngài, cúng dường ngài thần chú tinh túy sống của họ

Khi Gar Dampa Chodingpa còn trẻ, ngài nghe về những thành tựu vinh quang của Đại thành tựu giả Kyobpa Jigten Sumgon. Vì vậy, ngài quyết định lên đường đến Drikung. Ngài đã ở lại đó và thọ nhận nhiều giáo lý và thực hành dưới sự hướng dẫn của đạo sư của mình, Kyoba Jigten Sumgon. Rất nhanh chóng ngài đã đạt được giác ngộ hoàn toàn, và ngài đã trở thành một trong ba đại thành tựu giả quan trọng  - Gar, Nyo và Chosum – của Kyobpa Jigten Sumgon.  Gar Dampa Chodingpa trình diễn nhiều năng lực phi thường vào nhiều dịp  và thông qua những giáo lý thâm sâu của ngài truyền cho vô số chúng sinh  về con đường của Pháp. Nhiều đệ tử bắt đầu tụ tập quanh ngài, nhưng vẫn còn là quá sớm để thu nhận họ, thế nên ngài rầy họ và bảo họ rời đi. Ngài đã sáng lập một tu viện tại Drikung. Rốt cuộc, nhiều đệ tử tụ tập quanh ngài hơn, ngài đã rời đi để sáng lập tu viện của Phurgon Rinchen Ling.

Những tái sinh tiếp theo

Trong những tái sinh tiếp theo của Gar Dampa Chodingpa, Gar Tenpe Gyaltsen trở thành nhiếp chính của hai vị Drikung Kyabgon, người nắm giữ dòng truyền thừa Drikung Kagyu. Trong cương vị đó ngài làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Một tái sinh khác, Gar Chokyi Nyima, trì tụng thần chú của Chakrasamvara (Thắng Lạc Kim Cang) hơn 13 triệu lần và trở thành một thành tựu giả. Ngài có thể thị hiện nhiều phép màu như là trị bệnh, ngăn chặn chiến tranh, tiêu trừ nạn đói….

Đức Garchen Triptrul Rinpoche hiện nay


Garchen Triptrul Rinpoche được sinh vào năm 1936 ở Nangchen, miền đông Tây Tạng. Vua của Nangchen đích thân lãnh nhận trách nhiệm để tìm kiếm tái sinh của đức Garchen Rinpoche trước, Trinle Yongkhyab. Đức Garchen Rinpoche hiện nay được phát hiện và tôn phong bởi đức Drikung Kyabgon Zhiwe Lodro.

Garchen Rinpoche được đem đến Lho Miyalgon lúc bảy tuổi, là nơi mà ngài được cúng dường những bộ lễ phục và những thứ khác.  Được dẫn đến một điện thờ lưu giữ nhiều hình ảnh của những đạo sư dòng truyền thừa, ngài được hỏi để xác nhận đạo sư của mình. Ngài chỉ vào một tấm ảnh của Kyobpa Jigten Sumgon và nói rằng “Vị này là đạo sư của ta.” Vì thế, mọi người tin rằng ngài là một tái sinh thực sự của đấng trì gữ dòng truyền Gar.

Dưới sự dạy dỗ của Chime Dorje, Rinpoche đã thọ nhận nhiều giáo lý. Ở độ tuổi 13 ngài thọ nhận những giáo lý của dòng truyền Drikung Kagyu từ Lho Thubten Nyingpo Rinpoche của Lho Lunkargon. Ngài đã nhận khẩu truyền, luận giảng và quán đảnh về  Đại Thủ Ấn và Sáu Yoga của Naropa. Ngài đã hoàn thành những thực hành tiên yếu và hoàn tất khóa nhập thất ba năm.
Ngài sau đó ẩn tu hai mươi năm, cho đến thời gian ngài gặp được Khenpo Munsel, một đệ tử vĩ đại của Nyingma Khenpo Ngagchung lừng danh. Từ Khenpo Munsel ngài thọ nhận giáo lý Dzogchen và tham gia vào thực hành các pháp tu bí mật. Khenpo Munsel đã ngạc nhiên bởi thành tựu vĩ đại của Rinpoche và ngợi khen ngài rằng “Ngài là một hiện thân bồ tát vĩ đại”


Từ 1979, Garchen Rinpoche tìm kiếm nguồn trợ cấp cho tu viện của ngài, cho nữ tu viện và thôn làng, ban tặng hết tất cả những vật cúng dường ngài nhận được vì lợi ích của họ.

Ngoài ra, Garchen Rinpoche vẫn đảm nhận trách nhiệm tái thiết lại nhiều tu viện Drikung Kagyu ở miền Đông Tây Tạng, cũng đồng thời ngài toàn tâm ban tặng những giáo lý thâm diệu của dòng truyền thừa cho những người khác.
Những năm gần đây, Rinpoche thiết lập Ari Gar Zangchup Choling, một trung tâm ở Mỹ quốc để dạy dỗ và thực hành Phật pháp. Garchen Triptrul Rinpoche rất lưu tâm và khiêm hạ với tất cả mọi người bất kể địa vị, tuổi tác và giới tính. Lời khuyên của ngài cho những ai uống rượu, hút thuốc, cờ bạc và tham gia vào những hoạt động sai trái rất có hiệu quả cho việc chỉnh sửa đúng lại tư cách của họ. Ngài không ngừng nỗ lực vì lợi ích của những người khác và đã nhận được sự tôn kính lớn lao từ cộng đồng. Ngài thật phi thường trong thời mạt pháp này.

nguồn http://www.sangyeling.org/Failid/Garchen_Triptrul_Rinpoche.pdf
Thiện Duyên - Việt dịch
Hiếu Thiện hiệu đính
Nhằm cúng dường đến đức Garchen Rinpoche trong chuyến du hành đến Việt Nam của ngài
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm vào lúc: Tháng Năm 16, 2010, 03:03:55 AM
NUÔI DƯỠNG BỒ ĐỀ TÂM
Chagme Rinpoche - Thanh Liên Việt dịch

Nếu bạn hỏi ta tham dự vào việc lắng nghe, suy niệm và thiền định về giáo lý như thế nào thì câu trả lời là ta cần làm những điều đó không chỉ vì lợi ích của ta, nhưng bởi lợi lạc của tất cả chúng sinh. Như vậy bạn phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Trước hết bạn thiền định về lòng từ ái, và sau đó là lòng bi mẫn. Làm thế nào bạn biết là mình có Bồ Đề tâm hay không? Người không phân biệt giữa bạn và thù, người ấy có Bồ Đề tâm. Điều này rất khó khăn đối với người mới bắt đầu, bạn nghĩ thế phải không? Vậy tại sao khó khăn? Từ vô thủy chúng ta đã bám chấp vào ý niệm sai lầm của cái tôi và đã lang thang suốt trong sinh tử.

Rốt cuộc vào lúc này, cho dù bạn thiền định về Bồ Đề tâm nhưng nó không dễ dàng phát khởi. Vậy ta làm thế nào để có thể phát triển Bồ Đề tâm? Nó giống như việc nuôi con. Bạn bắt đầu bằng cách cho chúng thức ăn mềm, dễ tiêu. Khi lần đầu tiên ngài Xá Lợi Phất phát triển Bồ Đề tâm, một người đàn ông đã hỏi xin nhãn cầu (mắt) của ngài. Xá Lợi Phất trao nó cho ông ta và người đàn ông để nó trên mặt đất rồi đạp lên. Khi Xá Lợi Phất hỏi lý do tại sao thì ông ta nói khi đạp lên một nhãn cầu, nó tạo nên một âm thanh thật hay. Vì thế thay vì phát triển Bồ Đề tâm Xá Lợi Phất đã quyết định đi theo con đường Thanh Văn. Jigten Sumgon nói rằng khi bạn thực hành tonglen bạn không nên lập tức nhảy vào phòng tuyến cuối cùng. Khi thực hành tonglen ta nhận vào mình bệnh tật, đau khổ, và sự bất hạnh của những người khác và hiến tặng họ hạnh phúc của ta. Tonglen là như thế. Nếu chúng ta thực hành tận đáy lòng mình thì sẽ xảy ra việc ta có thể nhận bệnh tật của những người khác vào mình. Nếu điều này xảy ra và bạn đã đi quá nhanh, bạn có thể hối tiếc việc thực hành, nó sẽ bị uổng phí. Khi ấy mọi lợi ích của việc thực hành của bạn sẽ mất đi.

Vì thế khi nào là lúc thích hợp để bắt đầu thực hành tonglen? Nếu bạn biết tâm bạn sẽ không xao động cho dù kinh nghiệm tiêu cực nào xuất hiện thì bạn nên thực hành tonglen. Những người mới bắt đầu nên thực hành tonglen như thế nào? Họ có thể nhìn thấy nỗi khổ của những người khác, có lòng bi mẫn và sự cảm thông đối với họ và cầu nguyện cho họ. Những lời cầu nguyện này có thể có rất nhiều năng lực. Chỉ ngồi xuống và nói rằng bạn đang thực hành tonglen thì không đủ. Nó đòi hỏi một tâm thức kiên cố để có đủ năng lực hoàn thành thực hành này. Nếu bạn khao khát mang lại lợi ích cho người khác thì những lời cầu nguyện của bạn sẽ thành công. Nhưng nếu bạn thiếu sự nhất tâm thì những lời cầu nguyện ấy không có lợi lạc.

Như vậy chúng ta phát triển Bồ Đề tâm ra sao? Tôi đã giảng điều này trước đây vì thế nó đã trở nên quen thuộc. Đức Phật đã dạy rằng bạn có thể bắt đầu thực hành sự rộng lượng (bố thí) bằng cách chuyển vật nào đó từ bàn tay này sang bàn tay kia. Bạn có thể bắt đầu bằng cách biếu tặng những vật không có giá trị lớn, như cho đi những rau trái úa vàng. Nếu bạn đi từng bước một thì sự bố thí của bạn sẽ càng lúc càng phát triển. Jigten Sumgon nói rằng trước khi bạn củng cố tâm bạn thì bạn không thể nào hiến tặng thân thể bạn. Một vài truyền thống nói bạn nên bắt đầu với pháp tonglen và cho đi càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. Nhưng nếu bạn thực hành con đường từng bước một thì bạn sẽ thấy rằng bạn không thể bắt đầu với tonglen hay hiến tặng thân thể bạn. Nếu chúng ta tham dự vào việc bố thí từng bước một bằng cách cho đi những rau trái úa vàng thì ta sẽ đạt tới chỗ có thể hiến tặng thân thể ta. Vào lúc đó bạn sẽ không tham luyến thân thể hơn những rau trái úa vàng. Nếu bạn đạt tới chỗ này thì bạn có thể dấn mình vào việc bố thí thân thể.

Khi bạn tham dự vào những thực hành này tâm bạn trở nên trong sáng và bạn đạt tới chỗ không có đau khổ. Vào lúc này việc chặt đứt chân tay sẽ không làm bạn đau khổ. Một tu sĩ hiến tặng thân thể mình trong khi thực hành. Trời Đế Thích hỏi ông có hối tiếc điều gì không. Tu sĩ trả lời: “Không, bởi tôi không tham luyến. Và nhờ năng lực của sự thiền định của tôi, tôi có thể thay thế chân tay tôi bằng những lời cầu nguyện.” Có một lần Jigten Sumgon mắc bệnh cùi rất nặng. Ngài nói rằng ngài không quan tâm tới cái chết nhưng chết vì một bệnh tật kinh hãi như thế làm ngài buồn bã. Sau đó ngài thiền định về lòng bi mẫn và nhận ra rằng bệnh tật của riêng ngài thì thật nhỏ bé nếu so sánh với những đau khổ của tất cả chúng sinh. Ngài bắt đầu thiền định vào buổi sáng khi những thú vật được đưa tới cánh đồng cỏ. Vào buổi tối khi đàn thú trở về thì ngài đã thành tựu một lòng bi mẫn không thể bị lay chuyển đối với tất cả chúng sinh và được chữa lành bệnh. Đó là điều được nói tới trong tiểu sử bí mật của ngài. Trong tiểu sử thông thường của ngài có nói rằng ngài được chữa khỏi bệnh trong ba ngày, bởi ngài nghĩ rằng mọi người sẽ không tin ngài nếu ngài nói ngài lành bệnh trong một ngày. Khi ta bắt đầu thiền định về lòng bi mẫn, trước hết ta nên phát triển lòng bi mẫn đối với bà mẹ của ta trong đời này. Tôi đã giảng cách nhớ lại thiện tâm của bà mẹ của ta trong những bài giảng trước đây.

Vào lúc bắt đầu ta cần có giáo huấn của Lạt Ma của chúng ta, cần đọc Kinh điển và lắng nghe giáo lý. Nhưng chỉ nghiên cứu thì không đủ. Những gì chúng ta học cần được cất giữ trong tâm ta. Nếu bạn thiền định về việc bà mẹ của bạn quý báu ra sao thì bạn sẽ cảm nhận được điều đó từ tận đáy lòng bạn. Nếu bạn không thực hành thì giả sử có ai xuất hiện và phê bình mẹ bạn, bạn có thể bị lung lay bởi ý kiến đó. Đó là bởi tâm bạn không kiên cố. Bạn cần thiền định từng bước một, bắt đầu với những thành viên trong gia đình bạn. Vậy chúng ta đang nỗ lực để đạt tới cái gì? Để tới một thời điểm khi ta không thể phân biệt được ai là kẻ thù và ai là bằng hữu của ta. Vào lúc đó có thể nói rằng bạn thực sự có Bồ Đề tâm.

Từ tiểu sử của Jigten Sumgon chúng ta có thể thấy được năng lực của Bồ Đề tâm. Nó là cội gốc của 84.000 Pháp môn. Nếu bạn không có Bồ Đề tâm, cho dù bạn thực hành điều gì thì bạn cũng không thể giác ngộ. Năng lực của Bồ Đề tâm thật vĩ đại. Không gian không thể bị cạn kiệt, nhưng năng lực của thần chú thì còn vĩ đại hơn thế. Sức mạnh đứng sau thần chú là Bồ Đề tâm. Có một câu chuyện về một pháp sư có năng lực vĩ đại bằng cách sử dụng thần chú và trở nên thật giàu có và nổi tiếng. Những vị pháp sư có thể dùng năng lực của các thần chú để gây tổn hại cho những người khác. Có một lần ông ta bao quanh một torma ba vòng xích và bằng năng lực của việc trì tụng thần chú, ông làm đứt tung sợi dây xích. Nhưng bởi vị pháp sư này không có Bồ Đề tâm nên ông bị tái sinh làm một con cá lớn trong một cái hồ. Tất cả đệ tử của ông bị sinh làm những con cá nhỏ ăn thịt con cá lớn. Vì sao xảy ra điều này? Nếu bạn chỉ phán đoán từ quan điểm thực hành các sadhana thì ông ta đã thực hành Pháp, nhưng ông không có Bồ Đề tâm, vì thế ông ta rớt xuống con đường lầm lạc. Tất cả những yoga và tantra đều có những năng lực vĩ đại, nhưng nếu bạn không có Bồ Đề tâm thì nó giống như những thực hành của một truyền thống phi-Phật Giáo. Nếu bạn không có thời gian để ngồi xuống và thiền định về Bồ Đề tâm, bạn có thể thực hành nó trong đời sống hàng ngày của bạn. Nếu bạn làm việc với ước muốn giúp đỡ những người khác, bạn có thể phát triển Bồ Đề tâm theo cách này.

Chúng ta không thành tựu Phật Quả là bởi ta bám chấp vào một cái “tôi.” Cách đối trị siêu việt cho điều này là Bồ Đề tâm. Bằng cách thực hành Bồ Đề tâm, sự bám chấp của ta càng lúc càng bớt đi. Sự đau khổ xuất phát từ việc bám chấp vào một cái ngã. Nhờ thực hành Bồ Đề tâm sự chấp ngã này giảm bớt. Nguồn mạch của hạnh phúc là Bồ Đề tâm. Khi chúng ta có sự may mắn và tiện nghi, ta nghĩ rằng ta hạnh phúc. Nhưng đây không phải là hạnh phúc bởi những hoàn cảnh của ta có thể thay đổi. Nhưng nếu ta có Bồ Đề tâm thì hạnh phúc của ta sẽ tồn tại từ đời này sang đời khác.

Bây giờ chúng ta sẽ có những câu hỏi.

Hỏi: Chúng con có thể tu hành tâm thức ra sao để tâm không bị ảnh hưởng bởi những nỗi khổ và những vấn đề của thân xác?

Đáp: Thân thể chúng ta là kết quả của những hành động trước đây của ta và tâm ta phụ thuộc vào chúng. Tư tưởng “tôi mệt” do tâm tạo ra. Khi ta già đi, ta mắc bệnh và ta nghĩ “Tôi đau yếu,” điều này làm những đau khổ của ta tăng trưởng. Bởi ta bám chấp vào những kinh nghiệm, ta phóng đại những nỗi khổ của ta. Nếu một hành giả không bị tác động bởi những tư tưởng này thì họ sẽ không đau khổ. Một tu sĩ trong tu viện của tôi mất vào năm 88 tuổi, nhưng khỏe mạnh cho tới lúc mất. Hai tháng trước đó ông nói: “Hôm nay là một ngày lành.” Ông dùng bữa và qua đời. Những hành giả cao cấp này không bị rơi vào sự thống trị của thân thể họ. Khi tôi đang nhập thất ở Ấn Độ thì một ni cô mất. Chúng tôi đưa cô vào bệnh viện và cô rất an định và nói: “Nếu chết thì chết.” Cô giải tán mọi người, ngồi thẳng lên và thị tịch. Nếu chúng ta có một thực hành mãnh liệt ta sẽ không quên nó khi chết và nhờ đó ta làm chủ được những đời sau của ta.

Hỏi: Trong tonglen nếu có ai nhận lãnh bệnh ung thư của người khác thì họ có cảm nhận sự đau đớn của bệnh ung thư đó không?

Đáp: Khi thích hợp để thực hành tonglen, bạn sẽ nhận đau khổ của những người khác. Nhưng nếu bạn đã phát triển Bồ Đề tâm, tâm bạn sẽ có sự tự do, tự chủ và bạn sẽ kiên trì trước nỗi khổ đau. Bạn có thể bị đau khổ và bệnh tật dữ dội xuất phát từ thực hành này. Ví dụ như khi Milarepa bị đầu độc, người làm điều đó yêu cầu được nhận nỗi đau đớn của ngài. Milarepa nói: “Ông không thể chịu đựng nổi điều đó. Tôi sẽ chỉ cho ông một phần của nó.” Chỉ sau vài phút ông ta xin ngài thu hồi sự đau đớn ấy. Ông ta sám hối và ăn năn về hành động của mình.   

Hỏi: Thầy thuốc Tây Tạng có sử dụng tonglen?

Đáp: Tôi đoán là một số vị có sử dụng. Jigten Sumgon đã dạy rằng đó là một cơ hội đúng đắn cho thực hành này.

Hỏi: Sự đau đớn có thể xuất hiện với một bác sĩ chỉ bởi lòng bi mẫn của họ đối với bệnh nhân?

Đáp: Nếu bạn không thiền định về tonglen, bạn sẽ không nhận nỗi khổ của người khác một cách tự nhiên. Nếu điều này xảy ra khác đi, nó là kết quả của nghiệp của bạn. Nhưng bạn có thể thực hiện những sự cầu nguyện và nguyện ước khi bạn bị bệnh và bao gồm cả chúng sinh khác trong lời cầu nguyện của bạn.

Có hai loại thiền định: thiền định phân tích (vipashyana, quán) và thiền định an tĩnh (shamatha, chỉ.) Với thiền định phân tích chúng ta xem xét quan điểm Trung Đạo, nhìn những đối tượng và xem xét bản tánh của chúng. Đây là một phương pháp để chứng ngộ tánh Không. Thiền định an tĩnh được phân chia thành thiền định có sự hỗ trợ và thiền định không có sự hỗ trợ. Khi ta thiền định có sự hỗ trợ, ta có thể sử dụng bất kỳ điều gì thích hợp với ta, như một cây gậy hay một hòn đá. Hoặc ta có thể dùng một tượng Phật và tập trung vào sợi lông giữa cặp lông mày của Ngài. Sau đó ta kiểm tra xem sự chú tâm của ta có đi trệch khỏi điểm này không. Trước tiên tâm bạn sẽ lang thang, nhưng nó không thành vấn đề. Đây là bởi ta đang nhận ra rằng tâm ta không yên tĩnh. Điều tương tự như thế cũng xuất hiện trong đời sống hàng ngày của ta nhưng ta không ý thức về nó. Như thế nếu tiếp tục thực hành tâm ta sẽ có thể an trụ trên đối tượng thiền định. Khi bạn có thể làm điều này, bạn nên thực hành thiền định không có sự hỗ trợ. Khi tâm bạn có thể thiền định mà không có ý niệm, mọi loại kinh nghiệm hỉ lạc sẽ xuất hiện trong thân bạn. Một vài người nói rằng điều này rất kỳ diệu và ước muốn an trụ trong đó. Một số người có thể an trụ trong trạng thái hỉ lạc này bao lâu theo ý muốn của họ. Nhưng đây không phải là mục đích của việc thiền định, và bạn không nên bám chấp vào điều đó. Nếu bạn không dính mắc vào sự hỉ lạc, bạn sẽ có kinh nghiệm về sự trong sáng của tâm. Sau đó bạn sẽ có những kinh nghiệm về sự vô niệm, ở đó bạn thấy toàn bộ sinh tử là tánh Không.
Thuật ngữ chỉ sự thiền định trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là thâu hoạch những kinh nghiệm. Nói mọi sự trống không thì không đủ. Sự thực hành đòi hỏi phải nhận ra nó. Một số người bị lạc trong cái thấy đức hạnh và ác hạnh đều không hiện hữu. Bởi cái thấy này họ thâu nhận rất nhiều ác hạnh. Vì thế bây giờ chúng ta sẽ thực hành shamatha trong năm phút. Nếu thân bạn khỏe mạnh thì tốt nhất là ngồi trong tư thế bảy điểm. Nhưng vấn đề là đừng bị dính mắc trong tư thế, nó có thể hoàn toàn thư thản. Nó giống như việc cắt đứt sợi dây cột một bó cỏ. Bó cỏ nằm yên khi rơi xuống. Hãy để thân và tâm bạn tự nhiên và thư dãn.

Trước đây chúng ta đã nói về lòng từ ái và bi mẫn. Có một mối liên kết giữa lòng từ ái và bi mẫn với thiền định shamatha không?

Nyima đã trả lời: “Nếu bạn không nuôi dưỡng Bồ Đề tâm thì khi bạn cố gắng thiền định tâm bạn sẽ ngập đầy những cảm xúc tiêu cực.” Pete đã nói rằng: “Khi bạn thực hành shamatha tâm bạn rộng mở và bạn bi mẫn một cách tự nhiên.” Michael nói rằng: “Khi bạn thấy tánh Không và nhận ra rằng những người khác không thấy và đau khổ vì điều đó, tâm bạn tự nhiên phát triển lòng bi mẫn đối với họ.”

Như thế tất cả các bạn có một vài kinh nghiệm thiền định. Giống như các bạn đã đề cập, có hai loại Bồ Đề tâm, là Bồ Đề tâm tương đối và tuyệt đối. Tánh Không là Bồ Đề tâm tuyệt đối. Điều quan trọng nhất là vị Lạt Ma có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Khi đã chứng ngộ tánh Không, Lạt ma cảm thấy lòng bi mẫn đối với chúng sinh không chứng ngộ nó. Lòng bi mẫn và tánh Không thì bất khả phân. Nếu ta nghĩ rằng ta không phải lo lắng về hành động (hạnh) sau khi chứng ngộ tánh Không, thì điều đó không đúng. Nếu bạn muốn xác định một người có chứng ngộ tánh Không hay không, hãy xem họ nói về nhân và quả ra sao. Nếu họ đã chứng ngộ tánh Không, họ nói về điều đó rất thận trọng. Jigten Sumgon đã nói rằng nếu bạn tham gia vào ác hạnh, thì ngay cả một Bồ Tát thập địa cũng sẽ phải chịu nhân quả. Vấn đề chính là nhận ra sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn.

Những gì bạn đã nói thì tốt đẹp. Nó tốt đẹp đối với việc nghiên cứu Pháp, nhưng sau đó bạn phải đặt tâm bạn trong sự quân bình thiền định. Pháp rất quý báu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói về việc nghe một câu kệ thì quý báu ra sao. Trong một đời trước Đức Phật đã cúng dường thân Ngài như một ngọn đèn để được nghe một câu kệ duy nhất. Trong tiểu sử của Tilopa và Milarepa có nói về việc các ngài coi Pháp quý báu ra sao. Nó quý báu bởi nếu ta thực hành thì ta cũng thành công như thế. Tilopa nói: “Giáo lý của ta chỉ quý báu nếu con thực hành nó.” Khi bạn thấu hiểu sự hợp nhất của tánh Không và lòng bi mẫn thì nếu có ai hỏi mua nó, họ sẽ không thể mua được cho dù trả bao nhiêu chăng nữa. Nhưng với sự thực hành bạn có thể tạo ra nó cho bản thân bạn. 

Tất cả chúng ta đều nói ta muốn hạnh phúc. Nếu có người phát khởi Bồ Đề tâm, họ sẽ giúp đỡ chúng sinh dù trong tình huống nào và những người khác sẽ hài lòng về họ. Nếu có ai nghèo khổ nhưng có lòng từ ái và bi mẫn, họ sẽ không có những vấn đề tinh thần bất kể hoàn cảnh nào. Nếu bạn có lòng từ ái và bi mẫn thì nếu bạn gặp một kẻ thù bạn sẽ thích thú vì có cơ hội thực hành Bồ Đề tâm.

Như thế chúng ta đã có được thân người quý báu này với những sự tự do và phú bẩm của nó và đã gặp và có một cơ hội để thực hành Pháp. Việc đạt được thân người này là một kết quả của sự tích tập công đức và trí tuệ trong nhiều đời. Khi chúng ta nói về tantra, là giáo lý mang lại sự Giác ngộ trong một đời người, nếu không làm việc cực nhọc trong nhiều đời trước thì chúng ta không gặp được tantra hay nếu chúng ta có gặp thì ta cũng không có niềm tin và lòng sùng mộ đối với nó. Vì thế chúng ta đã trải qua nhiều đời tích tập công đức và trí tuệ. Có thể chúng ta được sinh ra vào thời này để truyền bá Giáo Pháp tại Mỹ. Trước khi có Phật Giáo ở Tây Tạng, nhiều vị đã tái sinh ở Tây Tạng để Phật Giáo có thể phát triển ở đó. Cùng cách thế đó, trong những đời trước của ta, hẳn chúng ta đã từng lập những ước nguyện và phát triển nghiệp khiến ta có thể gặp nhau ở đây. Nếu các bạn lấy tôi làm một ví dụ thì tôi rời Tây Tạng bởi có một nạn đói sau khi người Trung Quốc tới đó. Vào thập niên 1980 tôi cảm thấy Giáo Pháp quý báu nên tôi đi Ấn Độ để thực hành. Điều đó rất nguy hiểm nhưng tôi đã thành công, nhờ đó tôi có thể thực hành. Khi rời Tây Tạng tôi không có kế hoạch đi Mỹ, tôi hoàn toàn bị nghiệp mang đi.

Hỏi: Ngài có thể giảng về những sự cúng dường torma cho những tinh linh địa phương?

Đáp: Có nhiều loại sự vật chúng ta cúng dường cho những tinh linh này. Đó là những sự cúng dường khói, những sự cúng dường torma đặc biệt, những sự cúng dường sur (thịt) trắng và đỏ. Sự cúng dường sur đỏ chỉ được thực hiện bởi các Lạt Ma cao cấp. Có những sự cúng dường serkyim.
 
Hỏi: Ngài muốn nói gì khi nói chúng ta nên có niềm tin ở Pháp?

Đáp: Có những loại niềm tin khác nhau. Đó là niềm tin trong sáng, niềm tin mong mỏi hay khát khao, và niềm tin xác quyết. Niềm tin quan trọng nhất là niềm tin xác quyết. Trước hết chúng ta phải phân tích xem Pháp nó có ích lợi hay không. Nó giống như việc bạn kiểm tra vàng khi đi mua vàng. Sau khi kiểm tra bạn có sự xác tín rằng nó là vàng. Cùng cách thế đó, sau khi khảo sát bạn quyết định là Pháp thật ích lợi. Đây là niềm tin xác quyết.

Hỏi: Ngài có thể giảng làm thế nào chúng con có thể mang sự thực hành theo mình vào công việc?

Đáp: Nói chung thì lý do chính khiến chúng ta làm việc là tiền bạc. Nhưng khi ta đi tới sở làm, ta nên cố gắng hoàn thành mục đích của ông chủ của ta và ta nên làm điều này một cách chân thành không giả dối. Một vài ông chủ tốt lành và một số thì không. Cho dù ông chủ của bạn không tốt nhưng nếu bạn duy trì thiện tâm này thì bạn sẽ chuyển hóa được ông ta. Chúng ta không nên phê bình những người khác, đó  là điều chỉ mang lại những đau khổ, mà hãy hành động khiến ta có thể chuyển hóa thái độ của họ. Nếu có ai làm hại bạn, bạn nên thực hành nhẫn nhục ba lần. Khoảng 90% những trường hợp đó người khác sẽ bị ấn tượng. Nhưng số còn lại thì họ sẽ không thay đổi thái độ. Sau lần thứ ba, hãy lên tiếng. Một vài người bị tràn ngập bởi những cảm xúc phiền não và không thể sửa đổi.

Hỏi:  Người ta nói suốt ngày: “Tôi thích cái này..,” điều đó chỉ làm tăng thêm tánh ích kỷ (chấp ngã) của riêng ta. Ngài xử sự ra sao với việc này? 

Đáp: Chúng ta cần có lòng bi mẫn. Bạn hiểu vấn đề chấp ngã, nhưng họ thì không. Hãy cố gắng nhẫn nhục ba lần. Nếu ta không nhẫn nhục thì sự tiêu cực của người khác còn tác hại hơn nữa trong chúng ta và ngược lại.

Khi ta thực hành Pháp, ta cần lập đi lập lại nhiều lần. Cuối cùng thì tâm bạn sẽ trở nên vững chắc. Chúng ta phải làm cho quen thuộc với tâm. Nếu ta không làm thế thì những cảm xúc phiền não sẽ nhập thất cùng chúng ta. Nếu thực hành ta sẽ gặp Bổn Tôn của ta trong ẩn thất. Nếu những niệm tưởng và phiền não của ta mạnh mẽ thì trong ẩn thất những tư tưởng của ta sẽ chỉ trở nên mạnh mẽ hơn. Trong ẩn thất ta sẽ nhìn thấy những người chúng ta không thích và họ sẽ trò chuyện với ta, mặc dù đây chỉ là một phóng chiếu của tâm. Tôi có biết một thiền giả có thể sống trong ẩn thất mà không cần tới thực phẩm. Nhưng bởi ông sân hận người khác nên việc thực hành Pháp của ông không vững chắc và ông mắc bệnh. Ông nói hiện nay các kẻ thù ở khắp mọi nơi, họ vào nhà chúng ta vào ban đêm khi ta ngủ. Vấn đề chính là không kẻ thù nào có thể làm hại ta trong từng giây phút bởi họ có cuộc đời của họ. Nhưng những cảm xúc phiền não của ta làm hại ta trong mọi lúc, ngay cả trong những giấc mộng khi chúng ta ngủ./. 

Nguyên tác: “Cultivating Bodhicitta
by Chagme Rinpoche
http://buddhism.inbaltimore.org/bodhicitta.html
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: BA MƯƠI BẢY PHÁP BỒ TÁT ĐẠO vào lúc: Tháng Năm 13, 2010, 03:40:43 PM
Bài này đã được soạn bởi Tỳ kheo Thogme, một luận sư về kinh điển và lý giải trong một hang động ở Ngulchu Rinchen để tự lợi và tự tha.


Theo lời yêu cầu của Đại sư Garchen Triptul Rinpoche, tuyển tập này được ấn tống và phân phát để đem lại lợi lạc cho toàn thể chúng sinh.

Nguyện tất cả chúng sinh đều được lợi lạc...

Bản Anh-ngữ của Ari Kiev.
© 2004 & 2008 Gar Chöding Trust

Minh-Không (Bảo-Thanh-Tâm)
chuyển Việt-ngữ vào tháng 4/2001

Bản gốc tiếng Việt có  thể  được tìm thấy tại:
http://www.vietnalanda.org

12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: BA MƯƠI BẢY PHÁP BỒ TÁT ĐẠO vào lúc: Tháng Năm 13, 2010, 03:39:36 PM
31. Nếu không chịu tự quán xét lỗi lầm, tức là ta chỉ mang danh là hành giả mà không có thực hành. Bởi vậy, hãy luôn luôn quán xét và loại trừ lỗi lầm của mình. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.
 
32. Nếu vì sự thôi thúc của phiền não mà ta vạch lỗi lầm cûa một vị Bồ-tát, thì chính ta tự hại mình.  Bởi vậy, đừng khơi dậy lỗi lầm của nhưng hành giả Đại-Thừa. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

33. Danh lợi chỉ gây ra sự tranh chấp và làm cho việc học hỏi, suy tư và tu tập suy thoái.  Bởi vậy, hãy từ bỏ đừng dính mắc đến thân quyến, bạn hữu, những mối tương quan, thí chủ, v.v... Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

34. Ác khẩu làm xáo động tâm trí kẻ khác và làm hủy hoại Bồ-tát hạnh. Bởi vậy, hãy tránh những lời lẽ khắc nghiệt gây ra sự bất an cho kẻ khác. Đấy là pháp hành  Bồ-tát Đạo.

35. Phiền não khi đã được huân tập thì thật khó ngăn chặn bằng các pháp đối trị. Hãy trang bị bằng các vệ binh chánh niệm và tỉnh giác, diệt trừ những phiền não như tham ái. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

36. Nói tóm lại, bất luận đang làm gì, ta phải tự hỏi “Tâm ta đang ở trạng thái nào?’ Hãy luôn giữ chánh niệm và tỉnh giác để làm lợi lạc cho chúng sinh. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 

37. Giải trừ nỗi thống khổ vô lượng của chúng sinh, thấu suốt sự thuần tịnh của ba cõi. Hãy dùng công hạnh (công đức của những nỗ lực này) để hồi hướng đến giác ngộ. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 

Ta đã soạn 37 Pháp Hành Bồ-tát Đạo, cho tất cả những ai muốn đi trên con đường Bồ- tát, theo lời giảng giải của các yếu nghĩa trong kinh điển,
mật điển và luận của chư vị tổ sư.

Vì trí tuệ kém cỏi cũng như sự hiểu biết thiếu sót nên lời lẽ ta không được văn hoa hấp dẫn đối với các học giả, tuy nhiên ta đã dựa trên kinh điển và lời giáo huấn của các bậc tổ sư nên ta cho rằng các pháp hành Bồ-tát Đạo này không có gì sai trái.

Tuy nhiên, đại hạnh của các vị Bồ-tát thật khó lường cho những kẻ tâm trí thô thiển như ta. Con cúi xin các Ngài lượng thứ cho những khuyết điểm của con, chẳng hạn như sự mâu thuẫn và những ý nghĩa thiếu mạch lạc.
Qua công đức này, nguyện chúng sinh đạt được Bồ-đề tâm (chí hướng vị tha, chân-đế lẫn tục-đế) và nhờ đó sẽ trở thành Bồ-tát Quán-tự-tại, vị Bồ-tát thoát khỏi hai kiến chấp, chấp thế gian và chấp an lạc (xuất thế gian).
 

Om Mani Padme Hung.
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: BA MƯƠI BẢY PHÁP BỒ TÁT ĐẠO vào lúc: Tháng Năm 13, 2010, 03:36:29 PM
21. Dục lạc cũng như nước muối, càng uống ta càng thèm khát. Hãy lập tức buông bỏ những gì gây ra tham ái. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo.

22. Sự hiển bày của vạn pháp đều tuỳ thuộc vào Tâm. Từ khởi thuỷ, bản tánh của tâm không hề bị chấp trước trong các biên kiến [cực đoan vọng tưởng]. Hãy hiểu biết điều này như thế, và đừng để tâm bị  lôi cuốn vào vòng nhị nguyên năng sở đối đãi [chủ thể và đối tượng]. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

23. Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn, dù thấy chúng đẹp đẽ như cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh và hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ. Đấy là pháp Bồ-tát Đạo.

24. Mọi hình thức khổ đau đều như mộng ảo (tựa cái chết của đứa con trong giấc ngủ mơ của bà mẹ). Chấp các huyễn ảnh là thực có sẽ làm nhọc tâm ta. Bởi vậy, khi gặp nghịch cảnh, hãy xem chúng như ảo huyễn. Đấy là pháp
hành Bồ-tát Đạo.

25. Kể tầm cầu giác ngộ có khi phải thí bỏ cả thân mạng, vậy cần gì phải để ý đến vật chất bên ngoài. Hãy bố thí mà không cầu mong sự đền đáp. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

26. Nếu không giữ giới, ta không thể gặt hái được thành quả gì, đừng nói chi đến ước muốn làm lợi ích chúng sinh, điều này thật đáng buồn cười. Bởi vậy, hãy trì giới mà không có sự mong cầu của thế gian. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.
27. Đối với những vị Bồ-tát muốn vun bồi công đức thì những kẻ hãm hại họ lại là những bảo vật quý báu. Bởi vậy, hãy tập nhẫn nhục với tâm vô hận thù. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

28. Ngay như hàng Thanh-văn và Độc-giác, chỉ mong cầu tự giác, cũng gắng công tu tập miên mật như đang khẩn trương dập tắt lửa cháy trên đầu. Bởi vậy, nỗ lực tinh tấn để làm lợi lạc cho chúng sinh là căn nguyên của mọi thiện căn. Đây là pháp hành Bồ-tát Đạo.
 
29. Nên biết rằng các phiền não đều bị tiêu trừ bởi thiền chỉ và thiền quán. Hãy tập luyện chú tâm để siêu việt bốn vô-sắc định. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

30. Có năm Ba-la-mật mà thiếu trí tuệ Ba-la-mật thì không thể dẫn đến đạo quả. Bởi vậy, hãy tập luyện các phương tiện thiện xảo cùng với trí tuệ để khỏi lạc vào ba cõi. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: BA MƯƠI BẢY PHÁP BỒ TÁT ĐẠO vào lúc: Tháng Năm 13, 2010, 03:35:10 PM
11. Tất cả khổ đau đều do ước muốn hạnh phúc cho bản thân, trong khi chư Phật toàn giác xuất phát từ tâm vị tha. Bởi vậy hãy đánh đổi hạnh phúc của ta lấy sự khổ đau của chúng sinh. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 

12. Mặc dù có kẻ vì lòng tham khôn cùng, thúc đẩy hắn trộm cắp hoặc bảo kẻ khác tước đoạt tài sản của ta, hãy dâng hiến cho hắn thân xác, của cải và công đức ta đã góp nhặt trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

13. Mặc dù có kẻ muốn chặt đầu ta trong khi ta không làm điều gì sai trái, hãy phát tâm từ bi thọ nhận tất cả tội ác của họ. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

14. Mặc dù có kẻ tuyên cáo cho cả ngàn thế giới những chuyện xấu xa về ta, ta, hãy lấy tâm từ bi hoàn trả lại bằng cách cách tuyên dương những đức tính của họ. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo

15. Mặc dù có kẻ phỉ báng chế nhạo ta giữa công cộng trước đám đông, hãy cúi lạy và tôn kính họ, xem họ như một vị đạo sư. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 

16. Mặc dù kẻ mà ta chăm sóc thương yêu như con xem ta như kẻ thù, hãy đối xử với họ như một bà mẹ hiền yêu thương đứa con bệnh hoạn. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

17. Nếu có kẻ ngang hàng hoặc thấp kém hơn ta, chỉ vì kiêu mạn, lại đi gièm pha ta, hãy đặt họ lên đỉnh đầu với sụ tôn kính như ta làm đối với vị Bổn sư. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

18. Mặc dù sống trong nghèo khó và thường xuyên bị khinh miệt, mắc bệnh hiểm nghèo và bị tà ma quấy rối, nhưng ta không chút sờn lòng. Hãy gánh nhận những tội ác và khổ đau của chúng sinh. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo.

19. Dù ta có nổi tiếng và được mọi người trọng vọng, cũng như giàu có tương đương với  Tỳ-sa-môn Thiên Vương (vị trời chủ về tài của), hãy nhận rõ sự phù phiếm của danh lợi, chẳng có gì đáng để tự phụ.  Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.
 
20. Khi mà sự sân hậnlà kẻ thù chính (nội ma) chưa khống chế được, thì dù có chinh phục được những kẻ thù bên ngoài, cũng chỉ làm cho chúng (kẻ thù bên trong ta) gia tăng thêm mà thôi. Bởi vậy, ta hãy điều phục tâm bằng hai đoàn quân Từ và Bi.  Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo.
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Các Dòng Truyền Kim Cang Thừa / Re: BA MƯƠI BẢY PHÁP BỒ TÁT ĐẠO vào lúc: Tháng Năm 13, 2010, 03:33:11 PM
1. Đã được thân người quý hiếm, đầy đủ sự tự do và may mắn, vậy hãy chuyên cần lắng nghe, suy tư và thiền quán bất kể ngày đêm, để giải thoát
cho chính mình và chúng sinh khỏi biển khổ luân hồi. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

2. Vì quyến luyến người thân, ta bị khuấy động như sóng nước. Vì hận ghét kẻ thù, ta bị thiêu đốt như lửa cháy. Bởi vậy, trong bóng tối của sự hỗn độn, ta quên bẵng những gì nên làm. Hãy từ bỏ xứ sở chánh quán. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

3. Xa lánh các đối tượng xấu, phiền não sẽ dần giảm thiểu. Gìn giữ không để thất niệm, các pháp thiện sẽ tự nhiên tăng trưởng. Với sự  tỉnh giác trong suốt, tín tâm kiên cố vào giáo lý sẽ phát khởi. Hãy tu tập nơi thanh vắng. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

4. Thân bằng quyến thuộc lâu năm vẫn sẽ phải chia tay. Tài sản tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt cũng sẽ phải bỏ lại. Tâm thức, khách trọ trong căn nhà thân xác, rồi sẽ phải ra đi.  Đừng bám víu vào kiếp sống này. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

5. Liên hệ với họ (ác tri thức) sẽ làm tam độc gia tăng trong những lúc ta học hỏi, suy tư và tu tập. Và họ sẽ làm tâm từ-bi của ta thối thất. Hãy tránh xa bạn xấu. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.

6. Nương cậy nơi họ (thiện tri thức), lỗi lầm của ta sẽ tiêu trừ, và đức hạnh của ta sẽ viên mãn (tiến triển như trăng tròn). Hãy quý trọng các vị đạo sư hơn cả thân xác của mình. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo.
 
7. Bị trói buộc trong ngục tù của luân hồi sinh tử, làm sao những vị trời phàm tục có thể mang lại sự hộ trì cho ta được? Bởi vậy, có quy y thì quy y nơi Tam Bảo, nơi nương tựa chân thật. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo.

8. Đấng Điều - Ngự Trượng - Phu từng nói tất cả những nỗi thống khổ không thể tả trong ba đường ác đều là hậu quả của ác nghiệp. Bởi vậy dù có mất mạng, ta quyết không làm điều ác. Đấy là pháp hành Bồ-tát  Đạo. 

9. Như giọt sương trên đầu ngọn cỏ, lạc thú trong ba cõi chỉ trong thoáng chốc rồi tan biến. Hãy phấn đấu đạt đến trạng thái tối thượng vĩnh hằng của giải thoát. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo. 

10. Khi những bà mẹ từng yêu thương ta từ vô thủy đang chịu khổ đau, thì hạnh phúc của riêng mình có ích lợi gì? Bởi vậy muốn cứu độ vô lượng chúng sinh, phải đào luyện chí hướng vị tha. Đấy là pháp hành Bồ-tát Đạo.
Trang: [1] 2 3 ... 13
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.218 seconds với 20 câu truy vấn.