Tháng Chín 20, 2021, 03:59:37 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: 1 ... 3 4 [5] 6
61  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tiêu diêu tửu lầu / Re: TIÊU DIÊU TỬU LÂU vào lúc: Tháng Năm 30, 2011, 01:59:30 AM

Chú Kasumi cũng có nhiều bài hát hay như là chú Ongdia, Tsunami góp với chú 1 bài của nhạc sĩ Trịnh nè :  angel

Cám ơn Công chúa Tsunami đóng góp 1 bài của nhạc sĩ Trịnh trong Chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần kỳ này  big grin ....mong Công chúa sẽ tiếp tục đóng góp xây dựng trong Chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần sắp tới nhe  angel rose
Thân tặng Công chúa Tsunami , byphuong và khán giả 1 Liên Khúc nhạc Trịnh Công Sơn .Hope you enjoy them.
Kasumi Yêu chị Mỹ Tâm nhứt... Chị đánh đàn hay quá  big grin

Liên Khúc nhạc Trịnh Công Sơn
<a href="http://www.youtube.com/v/MaqdlVwbLqI&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/MaqdlVwbLqI&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


<a href="http://www.youtube.com/v/UyzVDL0TNts&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/UyzVDL0TNts&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>






Kasumi

62  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tiêu diêu tửu lầu / Re: TIÊU DIÊU TỬU LÂU vào lúc: Tháng Năm 28, 2011, 01:55:53 PM
Chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần kỳ này:

Hát cho người ở lại-Mỹ Tâm
<a href="http://www.youtube.com/v/yJ4gVXqJd6E&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/yJ4gVXqJd6E&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>






Be Happy
Kasumi
rose
63  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô vào lúc: Tháng Năm 28, 2011, 01:22:05 PM
Huynh Kasumi cám ơn Công chúa Tsunami đã nhắc nhở ...
Dù sao đi nữa ....Tsunami hẹn với chú để vài bữa nữa rảnh rang, Tsunami sẽ cùng bàn với chú về bài viết của "vị Ni-Cô" này nhé.....đối với huynh Kasumi lúc nào cũng đc  big grin

Cho Kasumi hỏi 1 một chút - Công chúa Tsunami và bác byphuong là 2 anh em à.

64  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / SƯU TẦM / Lạ lùng ngôi đền thờ... chuột vào lúc: Tháng Năm 28, 2011, 02:27:40 AM
Lạ lùng ngôi đền thờ... chuột

Ngôi đền này có thể khiến bạn “chết ngất” với hơn 20.000 con chuột thờ, được gọi là Kabbas.

Nằm phía Tây bắc Ấn Độ, thành phố nhỏ Deshnoke là một nơi thờ tự không giống bất kỳ nơi nào trên thế giới, nổi tiếng với đền Karrni Mata. Có rất nhiều du khách viếng thăm nơi này để bày tỏ lòng thành kính.

Đối với chúng ta điều này có vẻ kì dị và ghê rợn khi thấy ở một nơi thờ tự lại có mặt loài động vật chuyên gắn liền với dịch hạch và bệnh tật. Tuy vậy, điều ngạc nhiên hơn cả là từ khi ngôi đền xây dựng chưa hề có một bệnh dịch nào bùng phát do những chú chuột tại đây cả.

Ngôi đền thờ Hindu được trang trí công phu này được xây dựng bởi Maharaja Ganga Singh trong những năm 1900 như là một cống nạp cho các nữ thần chuột, Karni Mata. Nếu như không quá lo lắng về lũ chuột thì kiến trúc với những tấm đá cẩm thạch, đồ bạc, vàng trang trí sẽ khiến bạn ngưỡng mộ ngôi đền này rất nhiều.

Theo truyền thuyết, Karni Matta là hóa thân của Durga – vị thần sức mạnh và chiến thắng. Một lần vì cố gắng mang lại sự sống cho một đứa trẻ trong dòng họ, cô đã nói với Yama – thần chết rằng chính ông cũng đã từng được tái sinh. Karni Mata thỏa thuận với Yama rằng từ thời điểm đó, tất cả bộ lạc của cô sẽ được tái sinh làm chuột cho đến khi họ được tái sinh lại trong chính dòng họ.

Trong Ấn Độ giáo, cái chết là đánh dấu một chương và bắt đầu con đường mới, do đó tại đây chuột được tôn kính như hoàng gia.













Theo Giadinh.net.vn
65  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tiêu diêu tửu lầu / Re: TIÊU DIÊU TỬU LÂU vào lúc: Tháng Năm 27, 2011, 05:02:04 AM




Nhạc Cuối Tuần rose

 Khi nghe nhạc Trịnh nó làm cho ta có cảm giác thấy miên man khó tả, ngôn từ thì có ý nghĩa rất sâu xa, thường gợi cảm giác nhớ nhung, mang âm hưởng buồn ...nói chung là rất khó tả, nhưng chính vì lẽ đó mà nó lại có sức cuốn hút kỳ lạ....





Viết cho những kỉ niệm không thể nào quên của tôi...
 Và khi ai đó đồng cảm với những dòng  này
thì cũng là lúc tôi tìm thấy niềm an ủi
trong sự  thông cảm...





Tuổi đá buồn
<a href="http://www.youtube.com/v/ryvA02W0tM8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/ryvA02W0tM8&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>






Be Happy
Kasumi
66  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tiêu diêu tửu lầu / Re: TIÊU DIÊU TỬU LÂU vào lúc: Tháng Năm 27, 2011, 04:54:46 AM
   Cám ơn Bác Kasumi cho nghe bài hát rất là  113.
   Bác có dịch ra tiếng Việt được không vậy  confused.
   Kính. party


Cám ơn huynh byphuong thưởng thức nhạc cuả Kasumi tuyển chọn .
Sau này gọi Kasumi bằng huynh dc  rồi. big grin

Bản nhạc La Plus Belle Pour Aller Danser (1964) > Phụ Đề Tiếng Việt là "Em đẹp nhất đêm nay ".
<a href="http://www.youtube.com/v/-bZgQK6_NG4&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/-bZgQK6_NG4&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>






Kasumi
67  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ? vào lúc: Tháng Năm 26, 2011, 01:45:01 PM
Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ?

Chính trị

Thể chế chính trị rõ ràng có ảnh hưởng đến sự giầu nghèo. Kinh tế gia đoạt giải Nobel người Ấn Độ Amartya Sen nghiên cứu về nghèo đói và dân chủ đã đưa ra một lời tuyên bố nổi tiếng: “Không bao giờ có một nạn đói nào đáng kể xẩy ra ở một nước độc lập, dân chủ và có tự do báo chí” . Nhân loại đã chứng kiến nhiều nạn đói khủng khiếp, nhưng hầu hết xẩy ra dưới những chế độ độc tài: (1) Ireland dưới sự đô hộ độc đoán của người Anh (1845-1850). Hậu quả: 1 triệu ngưới Ái Nhĩ Lan chết và 2 triệu người di dân qua Mỹ châu; (2) Nga Sô dưới chế độ Cộng Sản và hạn hán (1921). Hậu quả: 5.1 triệu người chết; (3) Ukraine do kế hoạch nông trường tập thể của Cộng Sản Liên Sô (1932-1933). Hậu quả: 7-10 triệu người chết; (4) Ethiopia dưới chế độ Cộng Sản và hạn hán (1984-1985). Hậu quả: 8 triệu người chết; (5) India: liên tục trong thời gian người Anh chiếm đóng cho tới khi Ấn Độ được độc lập vào năm 1947; (6) Trung Quốc do kế hoạch “Bước Nhẩy Vọt” (1958-1961). Hậu quả: 30 triệu người chết; (7) Somalia dưới chế độ độc tài (1992). Hậu quả: 1.5 triệu người chết đói; (8) Bắc Hàn dưới chế độ Cộng Sản (1996 đến nay). Đây không phải là thiên tai mà tất cả là tai họa do con người tạo ra.
 
Riêng tại Việt-Nam nạn đói xẩy ra hai lần kể từ Đệ Nhị Thế Chiến đến nay: (1) dưới sự đô hộ tàn bạo và độc tài của quân phiệt Nhật và thực dân Pháp (1945). Hậu quả: một triệu người chết; (2) trong thời kỳ kinh tế xã hội chủ nghĩa (1975-1986). Kết quả: nạn đói đe dọa từ Bắc vào Nam, trầm trọng hơn hết là những vùng núi xa xôi hẻo lánh. Nhà nước phải lên tiếng kêu gọi Liên Hiệp Quốc giúp thực phẩm và một triệu người vượt biên.
 Chế độ kinh tế chỉ huy tại những nước Cộng Sản đã làm cho hầu hết những nước này trở nên nghèo đói. Nổi bật nhất là Liên Bang Sô Viết và Đông Đức. Một số các nước Cộng Sản trước đây sau khi trở thành những nước tự do dân chủ đã trở nên giầu có hơn trong hơn một thập niên vừa qua: Czech Republic, Estonia, Poland, Hungary, Slovakia, và Slovania. Trung Quốc và Việt-Nam một mặt cải tổ kinh tế, mặt khác vẫn chủ trương độc tài về phương diện chính trị. Chế độ kinh tế chỉ huy tuyệt đối đã được hủy bỏ nhưng nhà nước vẫn chủ trương đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Tham nhũng, hiệu năng thấp kém, và khu vực tư nhân bị đối sử phân biệt là những hàng rào cản cho sự phát triển. Mức sống của dân chúng đã được cải thiện một phần nhưng chậm chạp và mất quân bình. Sự chênh lệch giầu nghèo mỗi ngày một gia tăng. Cuba mới đây chuẩn bị chuyển sang kinh tế thị trường. Cả thế giới chỉ còn một nước duy nhất còn tuyệt đối trung thành với chế độ chuyên chính vô sản là Bắc Hàn. Tổng sản lượng nội địa cho mỗi người tính theo mãi lực quân bình của Bắc Hàn là 1,800 Mỹ kim vào năm 2009, một trong những nước nghèo nhất thế giới.

Kết luận
Tuổi tác của quốc gia, tài nguyên thiên nhiên, và sắc tộc không phải là những yếu tố sống chết định đoạt sự tiến bộ của một quốc gia. Căn bệnh nghèo đói có những nguyên nhân trực tiếp như thể chế chính trị, chính sách kinh tế, xã hội và giáo dục của mỗi quốc gia. Nhưng chính trị và chánh sách bị chi phối bởi địa lý và văn hóa. Như sẽ được trình bầy trong bài “văn Hóa Chậm Tiến”, văn hóa là yếu tố sâu sa làm cho một quốc gia chậm tiến.
 Nếu một dân tộc có một bản chất vững mạnh, một nhân sinh quan đúng đắn, dân tộc đó có thể vượt qua được những hoàn cảnh khó khăn và những nguyên nhân trực tiếp của sự nghèo đói.

Nguyễn Quốc Khải
Trích từ Tổng hợp Internet.
68  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ? vào lúc: Tháng Năm 26, 2011, 01:41:08 PM
Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ?

Kiến thức

Sự khác biệt giầu nghèo một phần do sự chênh lệch về kiến thức. Người có kiến thức rộng, học lên trình độ cao, ra trường thường có việc làm tốt. Tuy nhiên trên bình diện quốc gia, yếu tố này cũng không có một tầm quan trọng đặc biệt.
 
Ấn Độ, Trung Quốc, và ngay cả Việt-Nam sản xuất nhiều nhà trí thức, khoa học gia mà kiến thức của họ không thua gì những đồng nghiệp của họ ở những nước Tây phương. Những quản trị gia của các nước giầu nhận định rằng không có sự khác biệt sâu xa về kiến thức của những đối tác viên của họ tại những những nước nghèo và thường những chuyên viên ngoại quốc lại phải học hỏi Kinh nghiệm địa phương từ những chuyên viên bản xứ vì sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng thiếu kinh mghiệm về quản trị là một yếu tố quan trọng.
 
Phần lớn những phát minh khoa học trên thế giới từ trước đến nay đều do những người Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, và Ý thực hiện. Phát minh mới cần rất nhiều thời gian. Tuy nhiên học hỏi những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật ngày nay không phải là một vấn đề khó khăn. Người Nhật và Đaị Hàn và hiện nay là Trung Quốc đã mau chóng hấp thụ và áp dụng những tiến bộ khoa học vào bộ máy sản xuất của họ. Ngoài ra, chính sách đầu tư nước ngoài đã giúp cho việc chuyển giao kỹ thuật cho các nước chủ trở nên dễ dàng. Thêm vào đó, hàng năm cả trăm ngàn sinh viên từ các nước Á châu, Phi châu, Châu Mỹ Latin du học tại các cường quốc kỹ nghệ. Không những các sinh viên này học về những môn khoa học và kỹ thuật mà còn cả về những ngành quản trị, kinh tề và tài chánh nữa. Với các phương tiện thông tin tân tiến hiện nay, kiến thức được phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới. Sự cách biệt về kiến thức ngày càng thu hẹp.

Sắc tộc
Sự khác biệt giầu nghèo cũng phải do sự khác biệt về sắc tộc hay mầu da. Một cách tổng quát người ta nhận thấy những quốc gia ở Bắc Mỹ và Châu Âu là những nước giầu hơn cả. Mặt khác, những nước ở Phi châu tương đối nghèo nhất, rồi đến các nước Á châu, Trung và Nam Mỹ. Nhưng không phải nước nào ở Âu châu cũng giầu có. Liên Bang Nga, Serbia – Montenegro và Moldova là những nước nghèo. Mặt khác không phải nước nào ở Á châu cũng nghèo. Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, và Tân Gia Ba là những nước giầu.
 
Nhìn về Tây Bán Cầu, từ Mexico trở xuống Cape Horn ở cực nam, không kể Virgin Islands và Puerto Rico của Hoa-Kỳ, tổng sản lượng nội địa hàng năm cho mỗi đầu người tính theo mãi lực quân bình của những quốc gia trong vùng này ở trong từ khoảng 1,200 Mỹ kim tới 15,500 Mỹ kim. Nhưng có nước tương đối giầu hơn là Barbados và Bahamas. Đây là hai nước nhỏ mà đa số là dân da đen với tổng sản lượng nội địa theo mãi lực quân bình trung bình hàng năm cho mỗi người lần lượt là 21,700 Mỹ kim và 28,600 Mỹ kim.
 
Như vậy người ta không có thể kết luận rằng dân thuộc sắc tộc sống ở miền Bắc thường giầu có hơn dân thuộc sắc tộc sống ở miền Nam. Nhìn một cách tổng quát, người ta có thể có cảm tưởng rằng cách phân biệt này có phần đúng. Các nhà kinh tế học thường hay dùng đến danh từ “North-South Trade” để chỉ sự buôn bán giữa hai khối giầu và nghèo Bắc và Nam. Nhưng xét kỹ hơn cũng có một số trường hợp không theo định luật này. Liên Bang Nga, Mongolia, và Trung Quốc ở miền cực Bắc, nhưng là những nước nghèo. Nếu so sánh những quốc gia lân bang với nhau, người ta cũng thấy có những nước miền Bắc nghèo hơn nước láng giềng ở phương Nam như Bắc Hàn so với Nam Hàn, Miến Điện so với Thái Lan, Bắc Việt so với Nam Việt (trước 1975), Nepal so với Ấn Độ, hoặc Afghanistan so với Pakistan. Úc châu và Tân Tây Lan ở miền Nam Bán Cầu là hai trường hợp đặc biệt vì công dân của hai nước này phần lớn thuộc gốc người miền Bắc là Anh quốc.
69  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ? vào lúc: Tháng Năm 26, 2011, 01:39:06 PM
Vì Sao Có Nước Giầu và Nước Nghèo ?


Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) với sự cộng tác của Oxford University, đã thực hiện một nghiên cứu về nghèo đói và phát triển con người trong những năm gần đây tại 104 nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Khoảng 1.75 tỉ người trên tổng số 5.7 tỉ dân của tất cả các nước này, tức khoảng 1/3, sống dưới mức nghèo đói được đo lường theo chỉ số nghèo đa diện (multidimensional poverty index – MPI) bao gồm các khía cạnh như giáo dục, sức khỏe, và dịch vụ. Cũng theo cuộc nghiên cứu này, khoảng 2.6 tỉ người tại những quốc gia này sống bằng dưới 2 Mỹ kim mỗi ngày.
 
Vùng Sub-Sahara của Phi châu có tỉ lệ nghèo đói cao nhất. Tỉ lệ này tăng từ 3% tại Nam Phi đến 93% tại Niger. Tuy nhiên Nam Á châu chiếm 51% dân số nghèo của thế giới (844 triệu người) và Phi châu chiếm hơn 28% (458 triệu người), và Đông Nam Á và Thái Bình Dương chiếm 15% (247 triệu người).
 
Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy là Việt Nam có 12.3 triệu người so với một dân số 86.1 triệu, tức khoảng 14.3%, sống dưới mức nghèo đa diện. Tì lệ số người có lợi tức dưới 2 Mỹ kim mỗi ngày là 48% và theo mức nghèo quốc gia là 29%. Việt Nam xếp hạng thứ Trung Quốc có 165.8 triệu người trên dân số 1,329.1 triệu, tức khoảng 12.5%, sống dưới mức nghèo đa diện. Tì lệ số người có lợi tức dưới 2 Mỹ kim mỗi ngày là 36% và theo mức nghèo quốc gia là 3%.
 
Tình trạng nghèo đói và khác biệt giầu nghèo đáng kể ở trên thế giới nói chung và ở Việt-Nam nói riêng là một đề tài làm cho nhiều nhà xã hội học và kinh tế gia lưu tâm. Chúng ta thử làm một cuộc so sánh nhanh chóng giữa các quốc gia để tìm hiểu những nguyên nhân gây ra sự nghèo đói.

Tuổi tác của quốc gia.
Chắc chắn không phải là vì tuổi tác của những quốc gia này. Trước nhất chúng ta hãy xem xét một số nước trên thế giới. Việt-Nam và Trung Quốc đã có trên 4,000 năm. Ấn Độ và Ai Cập đã thành lập trên 2,000 năm. Nhưng đây lại là những nước nghèo. Mặt khác, Hoa-Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi, và Tân Tây Lan là những nước chỉ mới thành lập dưới 250 năm nay nhưng lại ở trong những nước giầu nhất thế giới. Israel mới lập quốc vào năm 1948 tại phần đất Palestine. Dân số là 7.5 triệu người. Tuy là một quốc gia trẻ trung, nhưng sau một nửa thế kỷ Israel đã mau chóng trở thành một quốc gia giầu có với lợi tức trung bình mỗi đầu người tính theo mãi lực quân bình (purchasing power parity GDP) là 29,500 Mỹ kim. East Timor là một quốc gia mới nhất, thành lập vào năm 2002, với dân số vỏn vẹn có khoảng 1 triệu người, nhưng East Timor là một trong những nước nghèo nhất thế giới với lợi tức trung bình hàng năm mỗi đầu người tính theo mãi lực quân bình là 2,600 Mỹ kim.

Tài nguyên thiên nhiên.
Sự khác biệt giầu nghèo cũng không phải do nguồn tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia. Thật vậy, dân Iraq sống trên mỏ dầu lớn thứ nhì trên thế giới với số dầu dự trữ ước tính là 115 tỉ thùng, gần bằng 43.5% số dầu dự trữ lớn nhất thế giới ở Saudi Arabia. Nhưng mức sống của dân Iraq không hơn gì dân Việt-Nam bao nhiêu. Tổng sản lượng nội địa mỗi đầu người theo mãi lực quân bình của Iraq là 3,600 Mỹ kim, so với con số của Việt-Nam là 3,100 Mỹ kim vào năm 2010.
 
Trái lại, Nhật Bản đất hẹp dân đông. Tổng số diện tích của Nhật bản là 377,835 Km2, hơi nhỏ hơn tiểu bang California. Khoảng 12.1% đất đai là có thể trồng trọt được. Phần còn lại là đồi núi. Tuy nhiên, Nhật Bản có 127 triệu dân, gần gấp 4 lần dân số của California. Mỗi năm Nhật Bản có khoảng 1,500 trận động đất (phần lớn là những chấn động nhỏ). Nước Nhật hầu như không có một khoáng sản nào cả. Quốc gia này phải nhập cảng mọi nguyên liệu từ cát, sát thép phế thải, cho đến dầu thô và thực phẩm từ khắp nơi trên thế giới và sản xuất các sản phẩm chế biến để xuất cảng đến hầu hết mọi quốc gia. Người ta thấy ngay trên đất Mỹ cách xa Nhật Bản một nửa vòng trái đất, những dụng cụ khổng lồ dùng trong kỹ nghệ xây cất và nông nghiệp nặng cả ngàn tấn, mang các nhãn hiệu như Komasu, Hitachi, Mitsubishi, Kubota và Shibaura.
 
Thụy Sĩ là một thí dụ khác. Tổng số diện tích của quốc gia này là 41,300 Km2, tương đương với 12.5% diện tích của Việt-Nam. Tuy nhiên đất đai trồng trọt của Thụy Sĩ được chỉ bằng 10% tổng số diện tích. Không những thế, Thụy Sĩ không có đường thông thẳng ra biển và hoàn toàn bị bao vây bởi năm quốc gia khác là Đức, Áo, Pháp, Ý và Liechtenstein. Dân số của Thụy Sĩ là 7.6 triệu gồm 3 sắc dân chính là Đức, Pháp, và Ý. Vì những giới hạn về thời tiết và đất đai, nông dân Thụy Sĩ chỉ có 4 tháng để trồng trọt và chăn nuôi gia súc ngoài trời. Tuy nhiên, Thụy Sĩ sản xuất kẹo xúc cù là và sữa bò ngon nhất thế giới. Ngoài ra, quốc gia này còn có những sản phẩm công nghệ tinh sảo mà không một ai trên thế giới có thể sánh kịp: đồng hồ, dao kéo, dụng cụ làm vườn, dụng cụ khoa học chính xác và hóa phẩm. Dịch vụ ngân hàng tân tiến của Thụy Sĩ đã thu hút rất nhiều ngoại tệ từ mọi nơi trên thế giới nhờ danh tính của khách hàng và nguồn gốc của tiền tệ được bảo vệ tối đa. Tổng sản lượng nội địa tính theo mãi lực quân bình của Thụy Sĩ là 326.5 tỉ Mỹ kim. Con số tương đương tính theo đầu người là 42,900 Mỹ kim, cao hơn hầu hết các nước ở Âu châu, kể cả Đức và Hoa-Kỳ, ngoại trừ Norway và Luxembourg.
 
Hòa Lan là một nước rất nhỏ ở Âu châu nhưng cũng đáng chú ý, với dân số là 16 triệu người và diện tích là 41,500 Km2 mà một phần nằm dưới mặt nước biển, nên máy bơm phải hoạt động 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần để bơm nước ra khỏi phần đất này. Đất trồng trọt được chỉ chiếm có 26.5%, tuy nhiên Hòa-Lan nổi tiếng về kỹ nghệ nông nghiệp. Quốc gia này xuất cảng hoa tươi, hạt giống và các nông phẩm chế biến đi khắp thế giới. Ngoài ra, Hòa Lan còn sản xuất dụng cụ kim loại, máy móc điện và điện tử, hóa phẩm. Kỹ nghệ xây cất của Hòa Lan rất mạnh. Tổng sản lượng nội địa cho mỗi người (GDP tính theo mãi lực quân bình) là 40,500 Mỹ kim.
 
Chúng ta chắc chắn phải nghĩ ngợi rất nhiều về những nước nhỏ như Bỉ, Đan Mạch, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Tân Gia Ba, và Tân Tây Lan với dân số của tất cả 6 nước cộng lại chỉ bằng 54.6 dân số của Việt-Nam mà phải viện trợ cho một quốc gia với 90 triệu dân.
70  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô vào lúc: Tháng Năm 26, 2011, 04:51:06 AM
Trời ơi  hypnotized một người tu hành xuất thế lại có 4 bằng cấp đại học và toàn văn bằng tiến sĩ đại học mà còn mù mờ vậy sao ta ?  hypnotized
Ni-cô đã giác ngộ thật sao ?

Cái này khi nào rảnh Tsunami sẽ cùng bàn luận với cô Sương Mù (Kasumi) nhé ?  angel

Công chúa Tsunami gọi Kasumi bằng huynhđược rồi  big grin
Tình cờ Kasumi tìm thấy trên trang mạng khoahọc.net một bài viết về Phật Giáo, đọc thấy ngộ ra chút  xíu, nên Kasumi copy và paste cho các bác xem .

Đối với Kasumi - Thật ra tùy duyên nghiệp của mổi người mà ta tiến triển trên đường tâm linh một cách khác nhau.  Không thể dùng thước đời hay đạo mà đo được.  Bạn không hiểu kinh kệ của đạo Phật không có nghĩa là bạn chậm tiến trên đường tâm linh mà tùy cuộc sống của bạn.  Bạn nên nhớ là bạn đang sống là bạn đang tạo nghiệp và với kinh nghiệm sống bạn có thể học hỏi và tiến hóa.  Như ni cô Tuệ Nhi học hành dạy dổ giúp đời - khi cô dìu dắt tốt các sinh viên khác là cô tạo nên sự tốt đẹp cho xả hội sao này.  Sao gọi là không bằng cha mẹ cô chỉ ngồi niệm Phật.

Kính mong Công chúa Tsunami và các bác có cao kiến gì ko .

Kasumi kính   rose
71  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / SƯU TẦM / Omega acid là gì ? vào lúc: Tháng Năm 25, 2011, 01:51:17 PM
Omega acid là gì ?

Các Omega acid là những axit béo được gọi bằng nhiều tên theo từng loại. Ví dụ Omega-3 acid là alpha linoleic acid, Omega-6 acid là linoleic acid, Omega-9 acid là oleic acid. Omega-3 có nhiều trong loại cá béo vùng nước lạnh như cá hồi, cá thu, cá trích; có ít hơn trong hạt lanh, đậu tương, dầu canola.


Omega-3 acid được xem là tốt cho tim mạch do người ta nhận thấy người Eskimo hiếm khi bị bệnh suy động mạch vành (lòng động mạch bị hẹp lại do cặn mỡ) vì họ ăn rất nhiều cá có chứa Omega-3 acid (từ năm 1963-1967 toàn bộ dân Eskimo ở vùng Greenland chỉ có 3 người bị bệnh suy động mạch vành).
 
Cho tới nay đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của nhóm Omega-3 acid, đặc biệt là DHA (Docosahexaenoic acid) và EPA (Eicosapentaenoic acid).
 
DHA: Axit béo không no, chất cấu tạo chính của não (chiếm một phần ba cấu trúc não). Tiền chất DHA/tiền tố DHA – dưỡng chất cung cấp DHA là tên khác của anpha linoleic acid (Omega-3). Quá trình chuyển hóa từ tiền chất DHA thành DHA rất phức tạp và kém ở trẻ em cho nên Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo bổ sung DHA vào sữa bột dùng cho trẻ không được bú sữa mẹ.
 
EPA, một trong 2 axit béo có trong dầu cá Omega-3, chiết xuất từ mỡ ở thân và óc cá biển sâu Alaska. Rất cần thiết vì cơ thể không tự sinh ra , có tác dụng phát triển não bộ thai nhi và trẻ sơ sinh, ngăn ngừa các bệnh tim mạch, tăng cường chức năng gan…
 
Vì vậy những thực phẩm có nhiều axit béo Omega-3 hay axit béo chưa bão hòa đem lại những tác dụng sau:
 
- Giảm nguy cơ tử vong vì nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, hạ huyết áp. Ăn nhiều cá hay dùng dầu cá không có hại gì cho cả nam và nữ dù đã có bệnh tim hay chưa có.
 
- Chống huyết khối: tăng sản xuất chất chống kết tụ tiểu cầu và giảm tổng hợp chất thúc đẩy kết dính tiểu cầu:
 
- Hạ lipit: DHA và EPA làm giảm đáng kể hàm lượng triglycerid trong máu – một chất béo có trong máu, được esther hóa bởi glycerol, cần thiết để cung cấp năng lượng giúp các tế bào hoạt động được. Nồng độ cao triglyceride có liên quan đến nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch (gây xơ mỡ động mạch).
 
- Cải thiện chức năng nội mô: tăng sự giãn mạch do nitric oxyd gây nên.
 
- Giảm và đảo ngược quá trình tạo vữa xơ: các axit Omega-3 ức chế tăng sinh tế bào cơ trơn, do đó có thể giảm phát triển vữa xơ động mạch: uống hàng ngày 1,5g axit béo Omega-3 làm những mảnh vữa xơ ở động mạch vành giảm tiến triển và tăng thoái triển.

Đ.X.D
tài liệu từ internet
72  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tiêu diêu tửu lầu / Re: TIÊU DIÊU TỬU LÂU vào lúc: Tháng Năm 25, 2011, 04:44:24 AM




Wow! Thật là thoải mái quá!
Mở computer, click vào list nhạc chọn bài hát mà mình ưa thích cho bớt căng thẳng. Bài hát vang lên , tự dưng lòng mình thấy nhẹ nhàng, thanh thản quá! Mình lại chợt nhận ra những gì xung quanh mình còn đẹp, và ý nghĩa lắm. Đừng để những nỗi buồn theo mình quá lâu,không thì  mình sẽ chai sạn mất. Rằng cuộc đời này còn đẹp và đáng yêu lắm. Hãy vui lên nhé  ! Đừng buồn nữa, sau cơn mưa trời lại sáng mà. Rồi tất cả sẽ qua nhanh thôi. Bây giờ hãy bắt tay vào làm lại những gì mình thích, và có ý nghĩa cho cuộc sống này. Hãy chọn cho mình mỗi ngày một niềm vui, hãy làm cho cuộc sống thêm ấm ấp và đáng yêu  nhé!


<a href="http://www.youtube.com/v/QkcanI1mvCk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/QkcanI1mvCk&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>






Be Happy  rose





Kasumi
73  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô vào lúc: Tháng Năm 24, 2011, 12:33:06 PM
 Đây là  Lời Tự Thú Của Một Sư Cô .

Tôi là Thích nữ Tuệ Nhi xuất gia tu hành năm 17 tuổi. Lứa tuổi đầy năng động. Sẵn thông minh nhạy cảm tôi theo đuổi sự học hành và được Sư phụ trợ duyên cho ăn học. Sau nhiều năm vừa tu vừa học tôi đã đạt được 4 bằng cấp đại học và tự mãn rằng mình có kiến thức học vị thế gian và cả Phật pháp có thể giúp ích cho Tín đồ.
Cha tôi tên Lại văn Từ một người ít học lại là người Tàu ở Chợ Lớn. Công việc của ông là buôn bán đồ phế thải. Hàng ngày ông bôn ba khắp nơi để thu nhặt những đồ đạc người ta không dùng và bán đi để nuôi sống gia đình.
Phước may cho ông gần cuối đời có người mách bảo phương pháp tu hành niệm Phật. Ông thật thà chất phác nghe tin theo và làm một bàn thờ tại nhà để ngày ngày niệm Phật cầu vãng sanh. Mẹ tôi cũng thế.
Bất ngờ một ngày nọ khi ông ở lứa tuổi 75. Ông tự tuyên bố với gia đình ngày 14 tháng 7 ông sẽ vãng sanh Cực Lạc. Mọi người trong nhà bán tin bán nghi.
Trước khi vãng sanh ông bị một cơn bệnh nặng phải đi cấp cứu tại bệnh viện. Nhưng đến ngày 11 tháng 7 năm đó. Ông bình tĩnh xin được xuất viện về nhà.
Ông hỏi gia đình hôm nay là ngày mấy? Gia đình trả lời là ngày 11 tháng 7. Ông nói ba ngày nữa ba sẽ vãng sanh . Đức Phật đã báo trước rồi. Nấu cho nị ba trái khoai lang cúng Phật. Đúng ngày đấy ông an nhiên niệm Phật ra đi một cách êm nhẹ có đầy đủ ân chứng vãng sanh. Mẹ tôi cũng được vãng sanh sau đó vài năm.
Tôi thấy cha mẹ tôi rất ít học nhưng tin Phật pháp chỉ niệm Phật mà được giải thoát. Nhìn lại tôi đã 50 mươi tuổi học thức đầy đủ, toàn văn bằng Tiến sĩ Đại học nhưng tôi không cảm thấy mình có thể giải thoát bằng cách nào?Bằng cấp tôi đạt được chỉ để giúp truyền đạt kiến thức thế gian. Quả thực không có thực dụng cho sự nghiệp thành tựu trí tuệ thực chứng. Tôi cảm thấy cha mẹ tôi thực sự đã phát minh được trí huệ qua quá trình niệm Phật mà tôi nghĩ quá đơn giản.
Bây giờ tôi mới liễu ngộ được sự thật là học vấn của tôi chỉ là một hình thức vọng tưởng, tôi đã nhét vào đầu những học vị tiến sĩ bằng cấp cao học này nọ chỉ là để thỏa mãn cái ta một cách trơ trẽn thực sự không ích lợi cho tôi về phương diện thực chứng chân lý.
Cha mẹ tôi tuy ít học nhưng hai người biết nhét vào đầu họ những câu niệm Phật đơn giản. Chính vì sự quá đơn giản này mà không ai ngờ nó ẩn chứa trong đó một sức mạnh tâm linh và trí tuệ siêu thoát vĩ đại bởi sức gia trì của chư Phật.
Từ nay với lứa tuổi 50 tôi phải dũng mãnh dừng lại sự giảng dạy, lập tức quay đầu niệm Phật. Đời sống có ý nghĩa gì khi ta không thể nhận thức vòng sanh tử luân hồi vô gián đoạn đã kéo lê kiếp sống vô minh mà ở đó nỗi thống khổ và đau đớn thê lương của mình cùng hàng triệu sinh linh luôn luôn đè nặng.
Tôi không dám dụng ý khuyên mọi người niệm Phật theo tôi. Nhưng tôi muốn bày tỏ sự giác ngộ của mình khi nhìn thấy song thân tôi không có một trình độ chi hết mà được tái sanh nơi cõi Phật trong khi đó tôi là một người tu hành xuất thế lại có nhiều bằng cấp học vị tiến sĩ mà rốt cuộc vẫn mù mờ trong ý niệm siêu thoát tâm linh.
Phải chăng tôi đã làm những cái không cần thiết mà tôi tưởng rằng vinh dự? Tuy cha mẹ tôi là người thế tục lại ít học nhưng đã biết làm những cái cần thiết trong cuộc đời quá ngắn ngủi này. Phải chăng tôi dù học rất nhiều nhưng vẫn không đạt được trí tuệ để hiểu lời dạy rất đơn giản của đức Phật là “hãy tinh tấn lên để giải thoát” (không phải tinh tấn để cầu danh hão thế gian).
Tôi cũng không thực sự hiểu là bản hoài của chư Phật ra đời là để dạy dỗ tâm linh cho mọi người đặng sớm chấm dứt vòng sanh tử chứ không phải để mưu cầu cái gì khác từ thế giới huyền ảo này.
Cái vô minh mà đức Phật thường nhắc đến trong kinh điển phải chăng ám chỉ mọi người không biết MÌNH LÀ AI? PHẢI LÀM GÌ? Và CHẾT ĐI VỀ ĐÂU? trong cuộc đời quá ngăn ngủi này.
Thích Nữ Tuệ Nhi
Nguồn: huongquang.com


74  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô vào lúc: Tháng Năm 24, 2011, 01:45:22 AM
Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô

Nói gọn lại

Đạo Phật hay bất cứ một hình thức tôn giáo nào khác sẽ không có lý do ra đời và có điều kiện tồn tại, phát huy nếu không đóng một vai trò đáp ứng khát vọng tâm linh mới mẽ và tích cực trong một khung cảnh nhân văn nhất định nào đó. Tại một xã hội đa giáo, đa thần như Ấn Độ thời cổ nếu thiếu đi một con đường trí tuệ khác biệt, độc sáng và cao rộng hơn những hệ thống đức tin và lý thuyết tôn giáo đã có mặt lâu đời ở xứ nầy như Bà La Môn, Ấn Độ giáo thì bất cứ một hệ thống tư tưởng tâm linh nào cũng chỉ là một sự lập lại dễ quên, chóng tàn.  Hơn ba nghìn năm, trước khi đức Phật ra đời, dọc con sông thiêng Hằng Hà từ Hy Mã Lạp Sơn xuống tận biển đã có hằng vạn hành giả, pháp môn, hệ phái tôn giáo hành đạo theo cách riêng của mình.  Trong tác phẩm Những Dấu Ấn Tâm Linh Hằng Hà của Krishna Kanvatar, hình ảnh Phật giáo nổi lên nhờ sự giác ngộ Trung Đạo của đức Thích Ca giữa hai bờ đối đãi cực đoan của Bà La Môn giáo, Bái Vật giáo và Phiếm Thần giáo… thời bấy giờ.  Cũng theo Kanvatar thì nếu thiếu đi cái xương sống là sự minh triết trí tuệ mang ánh sáng khai phóng, để chỉ lập lại hay cải biên những nguyên tắc, lý thuyết cổ xưa của Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư… thì đức Phật và đạo Phật về sau cũng đã chìm khuất trong những khu rừng của hàng nghìn đạo sĩ, danh môn và tông phái của Ấn Độ từ hơn hai nghìn năm trước.

Đạo Phật là hình ảnh của một dòng sông tư tưởng và tâm linh không thối chuyển.  Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi khung cảnh quốc gia và xã hội đều có những vấn đề và yêu cầu riêng khác nhau.  Trong xã hội hiện tại, nhất là với bối cảnh đặc biệt của người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, đạo Phật đang có khuynh hướng tiến ra ngoài và vượt lên trên một hình thức thờ cúng, bái vọng mang tính chất “xưa bày nay làm” mang màu sắc thần thánh mặc khải vốn là bản chất của các tôn giáo.  Sự phát triển của đạo Phật trong khung cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là tại các nước Âu Mỹ ngày nay, đậm nét tri thức và trí tuệ hơn là chỉ có niềm tin tôn giáo thuần túy.  Sự đa dạng và phong phú của các pháp môn trong đạo Phật đã đáp ứng được những nhu cầu hiểu biết và tâm linh từ hàng bình dân đến lớp học giả, trí thức.  Bởi vậy, thái độ khư khư chấp chặt vào một pháp môn phương tiện là vô tình bỏ quên “viên ngọc trong chéo áo” để cam chịu nghèo nàn, lu thu cuối bãi đầu ghềnh giữa một biển trời mênh mông lộng gió!  Đạo Phật phát triển, Bắc truyền (Đại thừa) của Việt Nam đã mềm dẽo và tích cực phát huy tinh thần phước huệ tương hành, thiền tịnh song tu.

Dẫu là hiện thực hay hư cấu, kẻ viết những dòng nầy cũng xin đảnh lễ sư cô Thích Nữ Tuệ Nhi, người đã đưa ra vấn đề liên quan đến khía cạnh hoằng pháp độ sanh của đạo Phật thời hiện đại.  Sự phát huy trí tuệ trong tinh thần thanh tịnh và tinh tấn của Phật giáo có khả năng mở ra vạn nẻo quanh co của lý luận và tranh biện. Nhưng cuối cùng vẫn gặp nhau ở một điểm chung là Sự Thật tỏa sáng qua nụ cười giải thoát, an lạc. Tín tâm chân thực bao giờ cũng là biểu tượng của đóa sen thơm ngát trong lòng người Phật tử.

Nếu có những Phật tử xuất gia như sư cô Tuệ Nhi, nửa đường nhìn lại, để từ đó thấy được mình và tìm ra một pháp môn thích hợp với căn cơ của riêng cá nhân mình mà đi tiếp thì cũng có những vị “nửa đường bỏ cuộc... chơi!”.  Nhắc đến trường hợp sư cô Tuệ Nhi không khỏi làm người ta liên tưởng tới trường hợp của cựu Đại đức Thích Huệ Nhật. Trước khi tự thú nhận là “xù Phật theo Chúa” để trở thành một Mục sư – mục sư Nguyễn Huệ Nhật – thầy Huệ Nhật đã viết trong tác phẩm tự truyện “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá" rằng, lý thuyết Phật giáo quá nhiêu khê, với nhiều góc khuất tối tăm khó hiểu; thậm chí có những tín lý mâu thuẫn nhau.  Quả thật, đây cũng là một lời tự thú chân thành nên rất đáng trân trọng.  Nếu nhìn qua lăng kính của lý thuyết thần học phương Tây thì nhị nguyên luận hình thức làm sao lý giải rạch ròi khái niệm “Sắc chẳng khác Không; Không chẳng khác Sắc. Sắc tức là Không; Không tức là Sắc...” của tư tưởng Kim Cương Bát Nhã nhất nguyên luận thể tánh cho được.  Ông Xã Xệ làng ta vừa lên tỉnh lần đầu, dạo phố bị lạc đường, cho là những con đường làm sai.  Những con đường và ông Xã Xệ không có bên nào sai cả; nhưng hai bên đã lạc nhau vì tri thức và thực tại không có cùng mẫu số nhất quán song hành.

Cũng tương tự như thế, pháp môn là phương tiện nên đừng để rơi vào thế Xã Xệ và con đường mà tội.

Rancho Seco, mùa Phật Đản 2011
Trần Kiêm Đoàn
01 tháng 05 năm 2011
nguồn "www.khoahoc.net"




75  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô vào lúc: Tháng Năm 24, 2011, 12:02:55 AM
Nhân đọc lời tự thú của một Sư Cô

Pháp môn Niệm Phật Vãng Sanh:

Đạo Phật là một phương tiện tìm cầu thoát khổ và chứng ngộ. Đức Phật không đóng vai trò của thần linh quá cao viễn và xa vời mà thường tự nhận là một phương tiện khai phóng giác ngộ.  Người giác ngộ là Phật.  Sinh thể mọi loài đều có hạt giống giác ngộ tự thân nên đều có khả năng thành Phật. Dẫu là bậc Thiên Nhân Sư nhưng đức Phật Thích Ca không tự cho mình là cứu cánh.  Ngài luôn luôn tự coi mình là một phương tiện như người thầy thuốc và giáo lý nhà Phật là những vị thuốc chữa bệnh vô minh, đau khổ của trần gian.

Đạo là con đường mà đạo Phật là con đường đi đến giác ngộ. Có vô số cách đi trên con đường ấy – vô lượng pháp môn tu – tùy theo căn cơ, tính giác của từng cá thể không ai giống ai mà đi theo con đường thích hợp.

Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa.  Hai nguồn tư tưởng Vệ Đà và Lão Trang Khổng gặp nhau trên chiếc cầu Phật Giáo kéo theo hai truyền thống văn hóa và xã hội Ấn – Hoa vừa dò tìm nhau vừa tương tác với nhau.  Hoa sen Phật giáo Ấn Độ nở trên hồ Động Đình Trung Hoa nửa thực, nửa hư.  Nguồn tư tưởng tâm linh nầy vừa cao sâu chót vót nhưng cũng vừa chất phác nông dân; vừa bén rễ vào hiện thực nhưng cũng vừa trổ hoa huyền thoại.  Qua hơn hai nghìn năm, Phật giáo Trung Hoa đã lan tỏa tới những vùng lân cận.  Đạo Phật cung đình và thiền lâm tự viện đi vào đại chúng, khế hợp với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng của xứ nầy:

Đạo Phật có gần ba mươi bộ phái, nhưng nổi bật trên đất Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam là các tông phái có luật tắc riêng làm tông chỉ: Thiền (đến thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật),  Mật (lấy Tam Mật – thân, miệng, ý tương ưng – và ấn chú để truyền thừa), Tịnh Độ (một lòng niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương Cực Lạc), Hoa Nghiêm (lìa thế gian, nhập pháp giới), Thiên Thai (mở toang mọi cánh cửa để tìm về cái thấy và cái biết của Phật), Tam Luận (lìa cả hai bên để tìm về Trung Đạo), Luật (hành trì và giữ gìn giới luật nghiêm cẩn), Pháp Tướng (đem vạn pháp về chân Duy Thức)... và vô lượng pháp môn tu.  Sự phóng khoáng và cao viễn của đạo Phật phản ánh qua truyền thống dung hợp và hóa giải tinh thần “vô lượng pháp môn” nầy.  Có vẻ như hành giả tịnh tu càng ngày càng hiếm và con người ồn ào, vọng niệm càng ngày càng nhiều.  Đó là hiện tượng khi người ta không tự an trú trong pháp môn của mình đang theo mà cứ kiểng chân, chỉ tay vào pháp môn của người khác để phản bác hay cho là “tà kiến ngoại đạo”. Pháp môn Tịnh Độ – niệm Phật vãng sanh – mà Sư cô Tuệ Nhi nói đến trong “lời tự thú” là một trường hợp điển hình của tình trạng biên kiến pháp môn nầy.  Phật giáo Trung Hoa và Nhật Bản cũng đã trải qua những thời kỳ tương tự.  Pháp môn Tịnh Độ được xiển dương rầm rộ.  Tu sĩ, hành giả tận dụng hết mọi lời hay, ý cả để nói về sự cao siêu mầu nhiệm của pháp môn Niệm Phật cầu vãng sanh.  Nhưng rất nhiều trường hợp, sự luận giải đã đi quá xa; vô hình chung, tiến gần đến khuynh hướng mê tín dị đoan và cuồng tín.  Thậm chí, họ biến đức Phật A Di Đà thành một hình tượng Thượng Đế toàn năng đang dang tay đưa hết thảy sinh linh quy phục mình về Nước Trời và biến cảnh Tây Phương Cực Lạc thành một thế giới Thiên Đường đầy ảo vọng. Vọng niệm cực đoan là nguyên nhân suy thoái trong sinh hoạt Phật giáo bất kỳ ở xứ nào.  Nhiệt tình đem pháp môn Tịnh Độ, niệm Phật cầu vãng sanh ra để làm cái dù che chắn hết tinh hoa của những pháp môn khác thì chẳng khác gì hành động lấy con đường làm phương tiện cho cổ xe. Trường hợp sư Nhật Liên (Nichiren; 1222-1282), cao tăng Nhật Bản, khai tổ Nhật Liên Tông là một thí dụ điển hình.  Bình sinh, sư Nhật Liên quan niệm rằng, chỉ có bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa mới là tuyệt đỉnh tín lý của đạo Phật.  Chỉ có bộ kinh nầy mới cứu độ được chúng sanh còn tất cả mọi kinh tạng và môn phái khác đều là rơm rác.  Sư muốn đưa Nhật Liên Tông lên làm quốc giáo Nhật và chỉ trích gay gắt chính quyền đương thời đến nỗi bị lên án tử hình; nhưng may sau được thoát trong một trường hợp lạ lùng đặc biệt.  Khuynh hướng độc tôn của sư Nhật Liên đã tạo ra một thời kỳ dao động. Các môn phái chống báng nhau làm ô nhiễm và nghèo đi một chặng đường trong Phật giáo sử Nhật Bản, nhất là thời kỳ giới Samurai thuộc phái Thần Đạo và Thiền Tông mở đường “phản công” cho rằng: Tịnh Độ Tông là một pháp môn dễ dãi, thiếu tri thức văn chương hay triết lý và chẳng phải là một dòng nhánh của Phật giáo chân truyền.  Do vậy, Tịnh Độ Tông chỉ để dành cho đại chúng bình dân ít học, kẻ hạ căn và ông già bà lão “cầu vãng sanh” và chấp trụ vào tha lực  A Di Đà như một sự thoát ly, chạy trốn chính mình và hiện thực mà chẳng cần quán niệm hay động não ... (!)

Tuy nhiên, mọi hình thức cực đoan thể hiện qua lối suy nghĩ mang tính cố chấp và vọng động không có lý do tồn tại trong đạo Phật.  Đại chúng Nhật Bản đã nhận định tương đối công bằng, rằng: “Mật Tông và Thiên Thai Tông thích hợp với hàng quý phái; Thiền Tông thích hợp với giới Võ Sĩ đạo; và Tịnh Độ Tông thích hợp với giới bình dân.  Vì giới bình dân chiếm đa số trong xã hội nên Tịnh Độ Tông thường được nhắc đến nhiều hơn, quảng bá rộng rãi hơn, gây ra cảm giác bề mặt sai lạc như pháp môn Niệm Phật cầu vãng sanh là cao hơn các pháp môn khác trong đạo Phật.  Thế nhưng thuốc hay đâu phải vì nhãn hiệu lớn nhỏ, quí tiện mà vì chữa được bệnh; pháp hay đâu phải vì tiếng đồn cao thấp mà vì hợp với căn tánh, giúp người theo có được tâm từ bi và an lạc.”

Mỗi thế giới Phật có một cõi Tịnh Độ.  Có hàng hà sa số Phật nên cũng có vô số cõi Tịnh Độ.  Tịnh Độ chẳng phải là một Vùng Đất Hứa để khi chết mới được về.  Tịnh Độ là một cõi bản nhiên an lạc, như như thường tại trong chính mỗi sinh thể.  Cõi Tịnh Độ của thế giới Ta Bà nầy có đức Phật A Di Đà thọ chứng.  Hai bên có bồ tát Đại Thế Chí tượng trưng cho sự khai mở trí tuệ chỉ đường giải thoát và bồ tát Quán Thế Âm là biểu tượng của năng lực thần kỳ cứu nguy, giải nạn.  Đức Quán Thế Âm cũng là bồ tát Quán Tự Tại, nghĩa là năng lực cứu nguy, diệt khổ ở tự trong ta.

Chết vãng sanh?

Đối với Phật giáo thì Chết là một hình thức biến tướng xẩy ra trong từng sát na từ vô thủy đến vô chung qua 3 cấp độ: Vi biến, tiểu biến và hệ biến.

Vi biến là trạng thái đổi thay xẩy ra trong chớp mắt như thoáng vui, thoáng buồn, thoáng yêu, thoáng ghét (như: Yêu là chết ở trong lòng một ít - XD).

Tiểu biến là hình thái thay đổi xảy ra trong một giai đoạn ngắn dài nào đó như người khỏe mạnh, giàu có biến thành người bệnh tật, khốn khổ sau một tai nạn hay biến cố (như: Thi đỗ hàn Nho thành quan trạng; mắc lừa Từ Hải chịu vong thân - NT).

Hệ biến là sự biến đổi cả một hệ thống.  Đối với con người là hệ thống tuần hoàn, là sự sống chết, là hình thái biến tướng từ kiếp nầy sang kiếp khác (như: Chết là hết, hết đau, hết khổ.  Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu - LĐ)

Hình thức biểu hiện có khác nhau, nhưng khuynh hướng căn bản của tất cả các pháp môn đều hướng tới một mục đích chính:  Chết về đâu và giải quyết cái chết như thế nào để sau cái chết, nếu có chăng một đời sống mới thì phải khá hay huy hoàng hơn đời sống cũ.

Pháp môn niệm Phật thì đặt trên một niềm tin nhất quán và tuyệt đối rằng, con người ta khi sắp chết, nếu nhất tâm niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì người đó sẽ được Phật Di Đà và thánh chúng tiếp dẫn về cõi Tây Phương Cực Lạc.  Nơi đây họ được sống trong cảnh thần tiên của thế giới Cực Lạc và tiếp tục tu học, tìm cầu nẻo đạo thoát khỏi luân hồi sinh tử.  Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, hay Tịnh Độ Vãng Sanh Luận của bồ tát Thế thân là những kinh điển xương sống của pháp môn Tịnh Độ.  Nhìn chung, đó là những áng văn tả cảnh (cảnh trời Cực Lạc) tuyệt vời.  Vàng ngọc, châu báu vô giá của trần gian cũng chỉ là đất cát tầm thường nơi miền Cực Lạc.  Cuộc sống thần tiên an lạc trong biển hào quang hóa độ của đức Phật A Di Đà và thánh chúng thật là một nơi an nghĩ tuyệt diệu cho kiếp đời sinh diệt tối tăm. Nhiều Phật tử vẫn mường tượng và chấp chặt cảnh Tây Phương Cực Lạc là vùng đất hứa.  Nhưng chỉ cần một khởi niệm chấp chặt thì hành giả niệm Phật đã xa rời Chân Tướng; trong khi Chân Tướng đó mới chính là cảnh trời Cực Lạc Tây Phương.

Thật ra, Niết Bàn, Thiên Đường hay Miền Cực Lạc cũng chỉ là những sản phẩm của sự ước mơ.  Đời sống mà không có sự ước mơ cũng như đất không có hoa và ước mơ quá xa vời với hiện thực cuộc sống thì cũng như có hoa mà không đất.  Đức Phật thường sử dụng biểu tượng ước mơ như những thí dụ làm phương tiện giáo hóa.  Thuốc để chữa bệnh không phải là sự lành bệnh mà phải cần 3 yếu tố: Thầy giỏi, thuốc hay và người bệnh thực hành uống thuốc đúng theo lời chỉ dẫn.

Sự sống chết xảy ra thường xuyên và liên tục ở một trong ba cấp độ vừa trình bày ở trên.  Cái chết nầy là cánh cửa cuối cùng mở ra cho sự sống kia bắt đầu: Nụ cuời hoan hỷ sau khi sự hiểu lầm được giải tỏa, anh học trò nghèo vừa thi đỗ đại khoa, một sinh thể vừa mới được sinh ra... đều là những biểu hiện chết sống diễn ra liên tu bất tận ở mọi cấp độ. Nếu tín lý Đại Thừa xây dựng niềm tin có đức A Di Đà dang tay tiếp dẫn thì không phải chờ đến khi hệ biến (từ trần) mới tới đón mà phải biết tìm cầu Ngài ở ngay chính ta trong chính cái sát na đương niệm hiện tiền nầy.  Niệm “lục đại tự” – Nam Mô A Di Đà Phật – thường xuyên là cốt giúp giữ lòng thanh tịnh để có đủ khoảng trống cần thiết tâm thức của chính hành giả (nhất tâm bất loạn) mà an trú trong hiện tại, không sợ hãi khổ đau, xem nụ cười lành, nhìn chỗ đứng an lạc, được sinh thuận tử an... chính là cõi Tịnh Độ giữa trần gian gió bụi nầy chứ không phải là những ảo vọng “viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết bàn Tam thế chư Phật” hay dựa vào tha lực của thế giới Cực Lạc hữu vi – hoàn toàn trái ngược với tinh thần cốt tủy của Phật giáo – để van vỉ, cầu xin mới thật sự là được vãng sanh Tịnh Độ.

Một thời khắc đại định của vị thiền sư Hoa Nghiêm Tông , một hành động buông dao của người đồ tể và một câu niệm Phật A Di Đà của song thân sư cô Tuệ Nhi đều có năng lực giữ cho nhất tâm bất loạn.  Một bài triết lý xa xôi của môn đồ Socrate trên đỉnh núi Pyrenee chắc gì có tác dụng làm lắng đọng tâm tư cao hơn một tiếng hát tiều phu trên triền núi Trường Sơn mây khói. Vạn pháp bình đẳng, không phân biệt hình thức phương tiện hay hoàn cảnh xuất thân.  Mọi sự chuyển đổi pháp môn không ứng hợp với căn cơ của hành giả sẽ làm cho “đa tâm bấn loạn”.  Sự câu nệ pháp môn, do đó, là biểu hiện một tinh thần cực đoan phi Phật giáo.

( còn tiếp )
Trang: 1 ... 3 4 [5] 6
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.861 seconds với 20 câu truy vấn.