Tháng Mười Hai 19, 2018, 10:40:21 pm -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 6
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Re: Các thần chú đeo giữ trên người vào lúc: Tháng Năm 07, 2018, 05:42:13 pm
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
Các thần chú đeo giữ trên người
2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Lesson of time - karma vào lúc: Tháng Năm 29, 2013, 08:33:57 pm


Khi con chim còn sống, nó ăn kiến. Khi chim chết, kiến ăn nó.

Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào,

Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này.

Bạn có thể đầy quyền lực ngày hôm nay, nhưng đừng quên rằng,

Thời gian còn nhiều quyền lực hơn bạn.

Một cây có thể làm được hàng triệu que diêm,

Nhưng một que diêm cũng có thể thiêu hủy được hàng triệu cây.

Hãy là người tốt và làm những điều tốt.
3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Biến ổ cứng máy tính thành bánh xe cầu nguyện vào lúc: Tháng Năm 14, 2013, 06:05:41 pm
Bánh xe cầu nguyện( kinh luân): làm từ những cuộn giấy ( ngày nay người ta cho vào các bản Vi Phim , vì làm như vậy chứa được nhiều thần chú hơn )




Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói rằng:

Rằng Thần Chú khi nó quay trong ổ cứng ( máy Tính ) của bạn thì cũng tương tự như trong Bánh Xe cầu nguyện .

Và như vậy , đĩa cứng quay 100 ngàn lần trong 1 giờ đồng hồ , và trong nó có thể chứa cả Triệu tỉ thần chú và các kinh sách khác nhau .
Hình ảnh chư Phật bồ tát cũng có thể chứa trong này , lại thêm một tiện lợi cho bạn.

Những người thực hành pháp, có thể tự làm cho mình 1 bánh xe nhỏ , hay bằng điện tử , kĩ thuật . Tùy ý///



Ngài Lạtma bảo rằng 1 giờ ổ cứng máy tính quay khoảng 100 ngàn vòng, vậy khi ta copy OM MANI PADME HUM trong văn bản word đến 10789 trang, mỗi trang 55 hàng, mỗi hàng 5 câu chú thì 1 trang word có 275 câu chú và 1 tập tin word sẽ có 2.966.975 câu chú (tốn chừng 100Mb),

Copy tập tin này lên 9 lần thì sẽ có 26.702.775 câu chú trong ổ cứng rồi.(tốn khoảng 1Gb)

1 giờ quay được 100 ngàn vòng, 1 vòng quay được 26.702.775 câu chú ,vậy sau 1 giờ để máy tính chạy trong khi ta làm việc, thì đã có 26.702.775.000.000 câu chú OM MANI PADME HUM được phát ra rồi, huống gì là chuyên trì trì đọc tụng thần chú nửa và trong máy còn có kinh sách đại thừa, hình chư Phật, Bồ Tát.

Quá tốt phải không, ta không có phương tiện được có pháp cụ là bánh xe cầu nguyện thì dùng cách này mà làm lợi lạc cho bao nhiên chúng sanh như vậy còn gì bằng, đừng sợ tốn ổ đĩa, thay vì ta để trống như vậy hoặc cài game, hình lung tung thi chỉ với 1Gb thôi mà chính ta và mọi pháp giới chúng sanh đêu thấm nhuần từ bi cùa Bồ Tất quan Âm thì sao ta ko làm, chúc các bạn thực hành tốt và đạt được nhiều công đức lành.


Lạt ma Zopa Rinpoche nói:


Nếu bạn có một Bánh Xe Cầu nguyện trong nhà bạn, căn nhà của bạn sẽ giống như Potala, cõi tịnh độ của Đức Phật Bi mẫn. Nếu bạn có một bánh xe cầu nguyện ở bên cạnh khi bạn chết, bạn không cần tới pháp powa.4 Việc có Bánh Xe Cầu nguyện tự nó trở thành một phương pháp để chuyển di tâm thức bạn tới một cõi tịnh độ. Chỉ nghĩ tưởng tới một Bánh Xe Cầu nguyện là đã trợ giúp cho một người hấp hối phóng tâm thức của họ lên kinh mạch trung ương và thoát ra đỉnh đầu để tái sinh trong cõi tịnh độ của Đức Phật Amitabha và Đức Phật Bi mẫn. Chỉ chạm vào một Bánh Xe Cầu nguyện là đã đem lại một sự tịnh hoá to lớn những nghiệp tiêu cực và các che chướng. Việc quay một Bánh Xe Cầu nguyện có chứa 100 triệu thần chú OM MANI PADME HUNG tích tập công đức tương tự như khi trì tụng 100 triệu thần chú này.


Cách làm ổ cứng bằng đĩa cứng .

Bây giờ , bạn hãy tạo 1 file văn bản copy thật nhiều nhiều Thần CHú Om Mani Padme HUm mỗi văn bản chứa cang nhiều thần chú càng tốt.
Lại copy file này thành nhiều nhiều .
Kinh điển cũng như vậy
Copy những hình ảnh chư Phật bồ tát vào ....
Xóa những file rác không cần thiết.





Digital Prayer Wheels
Lời dạy về những lợi ích của bánh xe cầu nguyện



4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / LỜI DẠY VỀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA BÁNH XE CẦU NGUYỆN vào lúc: Tháng Năm 14, 2013, 06:02:39 pm
...... ...   ..    .   ..    .    .   
LỜI DẠY VỀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA BÁNH XE CẦU NGUYỆN
Nguyên tác: “Advice on the Benefits of Prayer Wheels”
Bản dịch Việt ngữ: Liên Hoa


                                                                                 
              Lạt ma Zopa Rinpoche
                                Giảng dạy tại Xứ Đức Phật  Dược Sư,2 tháng 6 năm 1994


       Ở Solu Kumbu mọi người lớn tuổi đều quay Bánh Xe Cầu nguyện mỗi ngày. Khi họ ở nhà vào buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ, họ cầm một mala (chuỗi hột) trong bàn tay trái, một Bánh Xe Cầu nguyện trong bàn tay phải, và trì tụng thần chú OM MANI PADME HUNG. Và khi họ đi vòng quanh, họ liên tục quay Bánh Xe Cầu nguyện và tụng OM MANI  PADME  HUNG.

      Tôi thường suy nghĩ: “Làm thế nào việc quay Bánh Xe Cầu nguyện trở thành sự thực hành Pháp?”  Trong đầu tôi có câu hỏi này chỉ vì tôi không biết về những lợi ích của sự  thực hành. Tôi không hiểu một thực hành quan trọng là gì và lợi ích ra sao trong phạm vi tịnh hoá. Chỉ cần chạm vào và quay tròn một Bánh Xe Cầu nguyện là đủ đem lại sự tinh hoá phi thường và sự tích tập công đức khó có thể tin được.

      Ở Lawudo tôi đã tìm thấy nhiều bản viết tay cổ, những bản văn viết tay của Lạt ma Lawudo. Lạt ma Lawudo trước đây, được gọi là Lạt ma (Kunsang) Yeshe; và một vài người cho rằng ngài có liên quan với đời tôi. Lạt ma Lawudo không có tu viện, nhưng sống trong ẩn thất tại một hang động. Ngài dành rất nhiều nỗ lực để sao chép những bản văn về việc thực hành những Bổn Tôn Kim Cương thừa khác nhau. Vào thời đó những bản văn như thế rất hiếm có, vì thế ngài đã chép tay nhiều bản văn.

      Do chúng được lưu giữ trong hang động ẩm thấp, các văn bản bị ẩm ướt, và tôi thường phơi chúng dưới ánh nắng. Nếu bạn không phơi chúng, các bản văn sẽ bị nấm và sau đó bị sâu trùng huỷ hoại. Những con sâu tái sinh trong những bản văn và tạo thành một vài lỗ thủng đáng kể trong đó.

      Một hôm khi đang phơi những bản văn, tôi thấy một bản cổ văn có tựa đề “Mani Kabum.” Nó gồm có toàn bộ lịch sử tiến hoá của thế giới, kể cả việc Giáo Pháp xuất hiện trong thế giới ra sao và làm thế nào chúng sinh ở Tây Tạng, Xứ Tuyết, trở thành những đối tượng đặc biệt cho sự điều phục của Đức Phật Bi mẫn Avalokiteshvara (Quán Thế Âm.) Đức Amitabha (A Di Đà) và Đức Phật Bi mẫn thì đồng nhất trong bản chất và liên kết với nhau rất chặt chẽ. Và trong hơn hai mươi năm, Đức Phật Bi mẫn và Đức Amitabha đã dẫn dắt không chỉ xứ Tây Tạng và Trung Hoa, mà cả những quốc gia Tây phương, đặc biệt bằng cách truyền bá Giáo Pháp.

      Trong Mani Kabum tôi tìm thấy một giáo lý ngắn về của thực hành bánh xe cầu nguyện và ít hàng về cách quán tưởng và thiền định khi bạn thực hành. ỞÙ Tây Tạng, và bất  kỳ nơi đâu có giáo lý Đại thừa của Kim Cương thừa, việc thực hành Bánh Xe Cầu nguyện đãphổ biến. Đức Nagarjuna (Long Thọ) đã ban thực hành Dakini3 Đầu Sư tử, Ngài ban nó cho Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), sau đó vị này đem nó vào Tây Tạng.

      Sau khi đọc quyển sách này, tôi phát triển niềm tin rằng thực hành không phải là điều vô nghĩa, mà có những điểm quy chiếu có giá trị và rất quý báu, đầy ý nghĩa. Từ bản văn này, tôi có một vài ý niệm về việc thực hành Bánh Xe Cầu nguyện có tác động mạnh mẽ ra sao trong việc tịnh hóa tâm thức và tích tập công đức bao la.

      Năm 1987, khi tôi đang ở Viện Chenrezig tại Úc, tôi để ý rằng địa điểm này trở nên an tĩnh kỳ lạ. Nó thanh tịnh tới nỗi bạn muốn được ở đó, sống ở đó. Viện Chenrezig không giống như  trước đây, và tôi tự hỏi tại sao nó thay đổi. Vào lúc đó, Geshe Lạt ma Konchog đang ở đó. Geshe-la đã thực hiện rất nhiều thực hành Pháp. Sau khi trốn thoát khỏi Tây Tạng, ngài nhập thất nhiều năm trong những hang động của Milapera ở rặng Hy Mã Lạp Sơn. Ngài đã thực hành 2000 Nyung-nay, sự nhập thất hai ngày mãnh liệt về Đức Phật Bi mẫn, nó đòi hỏi phải giữ tám Giới luật Đại thừa và thực hành nhiều sự lễ dạy và thần  chú. Geshe Lạt ma Konchog đã tu hành tâm thức rất tốt đẹp trong con đường, vì thế tôi cho là sự an tịnh của viện Chenrezig có thể là bởi Bồ Đề tâm của ngài.

      Tuy nhiên, một hôm gần kết thúc những ngày tôi ở đó, một tư tưởng xuất hiện trong tâm tôi: “Ồ, sự biến đổi có lẽ là nhờ Bánh Xe Cầu nguyện – mà trước đây nó không có ở đó.” Bánh Xe Cầu nguyện ở nơi đó nhỏ hơn cái ở đây, tại Xứ Đức Phật Dược Sư này, nhưng nó cũng chứa nhiều thần chú trên vi-phim và được chế tạo rất đẹp. Một thời gian sau, khi tôi ở Brazil theo lời mời của một trung tâm thiền định ở đó, một học viên tặng tôi một cuốn sách do một trong những đệ tử chính của Tarthang Tulku biên soạn về những kinh nghiệm của ông khi ông đảm nhiệm việc xây dựng những stupa (tháp) và Bánh Xe Cầu nguyện trong các trung tâm của Tarthang Tulku. Trong một đoạn ông nói rằng sau khi một Bánh Xe Cầu nguyện được xây dựng xong, vùng đất hoàn toàn được chuyển hoá, trở nên hết sức an bình, hỉ lạc và hấp dẫn tâm thức.

      Điều này đã xác nhận niềm tin của tôi, dựa trên lý lẽ của tôi là Viện Chenrezig đã trở nên an bình là bởi Bánh Xe Cầu nguyện mới của nó. Một vài người khác kinh nghiệm một tác dụng tương tự từ việc xây dựng Bánh Xe Cầu nguyện đã trợ giúp cho việc củng cố niềm tin của tôi.

CÁC LOẠI BÁNH XE CẦU NGUYỆN

       Có những Bánh Xe Cầu nguyện đất, nước, lửa và gió. Một trong những lợi ích của Bánh Xe Cầu nguyện là nó hiện thân mọi hành động của thập phương chư Phật và Bồ Tát. Để làm lợi lạc chúng sinh, chư Phật và Bồ Tát hiển lộ trong Bánh Xe Cầu nguyện để tịnh hoá mọi nghiệp tiêu cực và những che chướng của chúng ta, và làm cho ta thể nhập những chứng ngộ của con đường đưa tới giác ngộ. Tất cả chúng sinh (không chỉ có con người mà cả những côn trùng nữa) trong miền nơi Bánh Xe Cầu nguyện được xây dựng đều được cứu thoát khỏi việc tái sinh trong các cõi thấp; họ thọ nhận một thân tướng chư thiên hay con người, hoặc được sinh trong một cõi tịnh độ của Đức Phật.

      Nếu bạn có một Bánh Xe Cầu nguyện trong nhà bạn, căn nhà của bạn sẽ giống như Potala, cõi tịnh độ của Đức Phật Bi mẫn. Nếu bạn có một bánh xe cầu nguyện ở bên cạnh khi bạn chết, bạn không cần tới pháp powa.4  Việc có Bánh Xe Cầu nguyện tự nó trở thành một phương pháp để chuyển di tâm thức bạn tới một cõi tịnh độ. Chỉ nghĩ tưởng tới một Bánh Xe Cầu nguyện là đã trợ giúp cho một  người hấp hối phóng tâm thức của họ lên kinh mạch trung ương và thoát ra đỉnh đầu để tái sinh trong cõi tịnh độ của Đức Phật Amitabha và Đức Phật Bi mẫn. Chỉ chạm vào một Bánh Xe Cầu nguyện là đã đem lại một sự tịnh hoá to lớn những nghiệp tiêu cực và các che chướng. Việc quay một Bánh Xe Cầu nguyện có chứa 100 triệu thần chú OM MANI PADME HUNG tích tập công đức tương tự như khi trì tụng 100 triệu thần chú này.

Bánh Xe Cầu nguyện ở đây, tại Xứ Đức Phật Dược Sư có chứa 11,8 tỉ thần chú, vì thế việc quay nó một lần thì tương tự như đã trì tụng số thần chú đó. Trong ít giây phút đó, bạn thực hiện rất nhiều sự tịnh hóa và tích tập mạnh mẽ; rất nhiều công đức. Việc quay Bánh xe Cầu nguyện một lần thì tương tự như tu hành nhập thất nhiều năm. Điều này được giải thích là một trong những lợi ích của Bánh Xe Cầu nguyện.

Với Bánh Xe Cầu nguyện nước, nước được ban phước khi chạm vào bánh xe. Khi dòng nước đó đổ vào một cái hồ hay đại dương, nó mang theo năng lực để tịnh hóa hàng tỉ thú vật và côn trùng sống trong đó.

Tôi đã có một ước nguyện mà gần đây trở nên mạnh mẽ hơn, đó là xây dựng một Bánh Xe Cầu nguyện trong đại dương. Bởi tôi được yêu cầu trợ giúp rất nhiều dự án Phật sự khác nên ý tưởng thực hiện một Bánh xe Cầu nguyện nước bị trì hoãn. Tuy nhiên, khi tôi ở một trung tâm tại Đài Loan mới đây, trong một cuộc trò chuyện về Bánh Xe Cầu nguyện, tôi đề cập tới ý tưởng này. Một trong những tín chủ là người đã nuôi gia đình bằng việc kinh doanh trong vài năm, rất hoan hỉ thực hiện một Bánh Xe Cầu nguyện vì thân phụ của anh đã khởi nghiệp kinh doanh bằng nghề buôn bán cá. Bởi gia đình thịnh vượng từ việc đánh bắt cá, anh ta cảm thấy gia đình mình đã mắc nợ loài cá rất nhiều, và anh đã dự định trong lòng là sẽ làm điều gì đó để đền đáp hay làm lợi ích cho loài cá.

Khi tôi nói tới ý tưởng Bánh xe Cầu nguyện nước, anh ta gần như la lên, và sau đó hỏi tôi: “Vì sao thầy bảo con xây dựng Bánh xe Cầu nguyện này?” Sau khi tôi giải thích các lý do, anh ta rất hoan hỉ với việc xây dựng một Bánh Xe Cầu nguyện nước. Tôi nói tới ý tưởng xây nó trong vùng biển gần Đài Loan, nhưng anh ta cho rằng xây nó ở Hawaii là nơi nước Thái Bình Dương sẽ chạm vào Bánh Xe Cầu nguyện và mang lại lợi ích to lớn.

Một Bánh Xe Cầu nguyện lửa được quay nhờ hơi nóng của một cây nến hay ánh sáng điện. Ánh sáng phát ra từ Bánh Xe Cầu nguyện rồi tịnh hóa những nghiệp tiêu cực của các sinh loài mà nó chạm vào. Với một Bánh Xe Cầu nguyện quay bằng gió thì cũng thế. Gió chạm vào Bánh Xe Cầu nguyện được ban phước bởi năng lực của bánh xe này và sau đó có năng lực tịnh hóa các nghiệp tiêu cực và những che chướng của bất kỳ chúng sinh nào nó xúc chạm.

Bởi Bánh Xe Cầu nguyện rất hữu hiệu trong việc tịnh hóa những nghiệp tiêu cực nên tôi nghĩ rằng việc sử dụng nó là một ý tưởng hết sức tốt đẹp.

THỰC HÀNH QUÁN TƯỞNG


 Sau khi tôi giảng về những lợi ích của nó vài năm trước ở Kopan, Lorna và Terry đã tình nguyện nhận chế tạo Bánh Xe Cầu nguyện để sẵn sàng cho những học viên khác muốn thực hành. Thật hào phóng, họ làm nhiều Bánh Xe Cầu nguyện nhỏ và tặng chúng cho nhiều học viên, kể cả tôi.

Sau đó tôi tặng Bánh Xe Cầu nguyện của tôi cho Đức Vua Nepal. Khi tôi nói với ngài là Bánh xe Cầu nguyện sẽ trợ giúp ta khi chết, ngài thình lình trở nên dè dặt. Tôi cho là đó không phải là vấn đề để trò chuyện một cách bình thường với ngài. Ngài hỏi: “Tôi có phải giữ cái này không?” Vì thế tôi nói: “Có.”

Bánh Xe Cầu nguyện cũng được nói là sẽ ngăn chặn những họa hại từ các tinh linh và chúng sinh khác và cũng chặn đứng bệnh tật, vì thế tôi có ý tưởng sử dụng chúng để chữa bệnh. Những người bị mắc những bệnh như AIDS hay ung thư, dù họ có hiểu về Pháp hay không, có thề sử dụng Bánh Xe Cầu nguyện cho việc thiền định và chữa bệnh. Ví dụ như người bệnh có thể tới đây, Xứ Đức Phật Dược Sư này vài giờ mỗi ngày để quay Bánh Xe Cầu nguyện và thực hành quán tưởng.

Có hai loại quán tưởng. Với loại thứ nhất, bạn quán tưởng những tia sáng xuất phát từ các thần chú trong Bánh Xe Cầu nguyện, chiếu sáng bạn và tịnh hóa bạn về mọi bệnh tật và những nguyên nhân bệnh tật của bạn, những tư tưởng tiêu cực và những dấu vết của những niệm tưởng này để lại trên dòng tương tục của tâm thức bạn. Sau đó bạn quán tưởng ánh sáng chiếu rọi tất cả chúng sinh và tịnh hóa mọi đau khổ của họ, cũng như những nghiệp tiêu cực và các che chướng của họ.

Với sự quán tưởng thứ hai, những tia sáng được phóng ra từ các thần chú và, giống như một chân không hút bụi đất lên, chúng móc lên mọi bệnh tật và những họa hại của tinh linh, và tối quan trọng, nguyên nhân của bệnh tật, những nghiệp tiêu cực và các che chướng. Tất cả những thứ này được hấp thu và rút vào Bánh Xe Cầu nguyện. Trong khi trì tụng năm hay mười chuỗi thần chú, bạn quán tưởng bản thân bạn được tịnh hóa theo cách này.

Vào lúc kết thúc hãy tụng một vài chuỗi trong khi quán tưởng rằng các tia sáng phát ra từ Bánh Xe Cầu nguyện tịnh hóa mọi đau khổ và che chướng của chúng sinh trong sáu cõi. Những tia sáng này hấp thu vào Bánh xe Cầu nguyện và trở thành Đức Phật Bi Mẫn (bạn cũng có thể đi nhiễu với cũng những quán tưởng đó.)

Nếu có người bị bệnh AIDS, ung thư hay một vài bệnh tật khác thiền định như thế và mỗi ngày, trong vài giờ càng nhiều càng tốt, thì chắc chắn là có kết quả nào đó. Tôi biệt khá nhiều người hoàn toàn khỏi bệnh ung thư giai đoạn cuối nhờ việc thiền định. Cho dù những người có thể không hiểu biết về Giáo Pháp, về sự tái sinh hay nghiệp,  nhưng bởi họ quan tâm tới việc có một thân thể khỏe mạnh và một tâm hồn lành mạnh, họ nên sử dụng phương pháp chữa bệnh cực kỳ hữu hiệu và đầy ý nghĩa này.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng mọi Bánh Xe Cầu nguyện lớn và nhỏ đều có thể được người bệnh sử dụng để chữa trị. Thục hành này rất thực tiễn và hết sức ý nghĩa. Hai năm trước, tôi yêu cầu Jim Mc Cann xây dựng Bánh Xe Cầu nguyện ở đây, tại Xứ Đức Phật Dược Sư, không chỉ để mọi người thực hành mà còn là để ban phước cho xứ sở. Nó giúp cho mọi côn trùng và thú vật cũng như con người. Jim và vợ của anh là Sandra đã để nhiều thì giờ và nỗ lực vào việc thực hiện Bánh Xe Cầu nguyện tuyệt đẹp này, mặc dù tôi quả quyết là nhiều người khác đã trợ giúp họ. Tận đáy lòng, tôi muốn cảm ơn họ rất nhiều về sự thành tựu của họ. Một Bánh Xe Cầu nguyện làm cho địa điểm trở nên hết sức linh thiêng và quý báu, giống như một cõi tịnh độ./.

                                                                                                 Lạt Ma Zopa Rinpoche

 Nguyên tác: “Advice on the Benefits of Prayer Wheels”

www.dharma-haven.org/tibetan/benefits-of-prayer-wheels.html

Bản dịch Việt ngữ: Liên Hoa

 Chú thích:

Bánh Xe Cầu nguyện: những Bản sao thần chú “Om Mani Padme Hung,” càng nhiều càng tốt, được in trên giấy lụa rất mỏng (hay ngày nay in trên vi phim,) được quấn quanh một trục quay và được bao phủ bằng một ống hình trục bảo vệ. Những Bánh Xe Cầu nguyện được chế tạo để quay bằng tay hay gió, nước, hay năng lực của lửa.
Xứ Đức Phật Dược Sư: trung tâm giảng dạy, thực hành và nhập thất gần Santa Cruz, California.
Dakini; vị nữ trì giữ trí tuệ. Những bạn đồng hành của chư Phật và các thiền giả, có thể truyền dạy sự thấu suốt đặc biệt khi người nhận ở trong trạng thái dễ lĩnh hội một cách đúng đắn và thời gian cùng nơi chốn truyền dạy thích hợp.
powa: một thực hành thiền định đặt nền trên việc chuyển di tâm thức ra khỏi thân xác. Powa có thể được sử dụng để chuyển di tâm thức tới một cõi tịnh độ vào lúc chết.


[url]http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/banhxe_caunguyen.htm[/url]
5  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / KHẢO SÁT TÂM BỆNH vào lúc: Tháng Tám 24, 2012, 09:57:49 am
Người học Thiền lúc mới đến chỗ thầy, thầy nên hỏi rằng: “Ngươi giữ giới thanh tịnh chăng? Có phạm tội trọng, tà ác chăng?” Nếu đáp: “năm giới thanh tịnh, không phạm tội trọng, tà ác”, thứ mới dạy đạo pháp. Nếu đáp: “phạm giới”, nên hỏi lại rằng: “Ngươi phạm giới nào?” Nếu đáp: “trọng giới”, thầy bảo: “Như người bị cắt tai, xẻo mũi không thể soi gương, ngươi nên trở về chuyên cần tụng kinh, khuyến hóa làm phước để gieo giống nhân duyên đạo pháp đời sau, đời này coi như đã bỏ. Ví như cây đã khô, dù gắng tưới nước cũng không sanh hoa, lá và trái được.” Nếu phạm các giới khác, thầy nên dạy như pháp sám hối. Sám hối đã thanh tịnh, thầy nếu được thiên nhãn, tha tâm trí xem qua, tùy bệnh nói pháp tiến đạo. Nếu thầy chưa được thông, nên xem tướng mạo đoán bệnh, hoặc lại hỏi người ấy rằng: “Trong ba độc ngươi nặng cái nào? Dâm dục nặng ư? nóng giận nặng ư? ngu si nặng ư?”

Thế nào là xem tướng?

Tướng người đa dâm.- Người lanh lẹ, nuôi nhiều vợ, hầu, nói nhiều, tin nhiều, nhan sắc vui vẻ, nói năng dễ dàng, ít giận hờn, ít ưu sầu, giỏi kỹ thuật, ưa nghe, thích biết, yêu thích văn thơ, có tài đàm luận, hay xét biết tính người, nhiều chuyện kinh sợ. Người ấy ở trong phòng ưa mặc đồ mỏng, khát khao nữ sắc, màn, trướng, ưa trang sức hương hoa, tâm nhỏ nhẹ khiến người thương mến, nói lời bóng bẩy, ưa làm phước nghiệp, ý thích sanh cõi trời, ở trong chúng không chống kẻ tốt, xấu, tín nhiệm phụ nữ, lửa dục hừng thịnh, tâm nhiều hối hận, biến đổi, thích tự trang sức, ưa xem tranh ảnh, luyến tiếc vật của mình, ước ao đồ của người, ưa kết bạn bè, không chịu ở một mình, chỗ ở thích giống thế tục, chợt kinh chợt sợ, chí như khỉ vượn. Kẻ ấy nhìn rất thiển cận, làm việc không suy nghĩ, nhẹ dạ nên làm việc mong được thích ý, ưa kêu, ưa khóc, thân thể mềm yếu không kham chịu lạnh, khổ, dễ nản, dễ vui, không thể nhẫn việc, được ít vui to, mất ít sầu lớn, tự bày tự giấu, mồ hôi trong thân hôi, da mỏng, tóc mềm, nhiều nếp nhăn trắng, thường cắt móng tay, cạo râu, đánh răng trắng, đi ra thích mặc đồ thật sạch, học không chuyên cần, ưa dạo vườn cảnh, nhiều tình, nhiều cầu, ý chấp thường kiến, gần người có đức vồn vã thăm hỏi, ý nhận lời nói của người, gắng tỏ vẻ vui tươi, nghe việc mau hiểu lấy làm sự nghiệp, phân biệt tốt xấu, thương người khổ nạn, tự đại, háo thắng, không chịu người người lấn hiếp, ưa làm việc cứu giúp, tiếp dẫn người lành, có những thức ngon chia người cùng ăn, chí thích xa lớn, mắt xem sắc dục không bao giờ chán, không lo xa, biết thế gian phương tục, xem xét nhan sắc đoán được lòng người, nói lời khôn khéo, kết bạn không bền, đầu tóc ít, thưa, ít chịu ngủ nghỉ, nằm, ngồi, đi, đứng dung mạo đường hoàng, có tiền của liền đem cứu cấp về sau hối tiếc, thích nghĩa muốn chóng đặng, sau lại mau quên, chấp những hành động khó tự cải đổi, khó được ly dục, làm tội nhỏ, nhẹ. Những tác phong như thế là tướng đa dục.

Tướng người nóng giận.- Người nhiều giận, buồn, thân miệng thô xẵng, hay nhẫn các thứ khổ, gặp việc không khiếp sợ, nhiều buồn, ít vui, có thể làm việc đại ác không có lòng thương xót, thích sự tranh đấu kiện thưa, nhan mạo khô héo, mày nhăn mắt trợn, khó nói, khó vui, khó làm việc, khó thành công, tâm mình như ghẻ lở mà ưa nói lỗi người, luận nghĩa vững chắc khó chiết phục được, khó làm khuynh động, khó thân thiện, khó ngăn trở, ôm lòng độc khó bỏ, nhận lời hứa không quên, tài giỏi khéo léo, tâm không chịu lười biếng, làm việc mau chóng, ôm kỳ vọng không nói, ý sâu sắc khó hiểu, thọ ân liền lo đền, có tài chinh phục được chúng làm việc, không thể phá hoại, việc làm được trọn vẹn, khó ai can phạm, ít sợ khó ví như sư tử không thể khuất phục, một phen quyết định không hề thay đổi, thẳng tiến tạo tác, nhớ dai và nhiều suy nghĩ, chuyên cần học tập, hay bố thí, không màng lợi nhỏ, làm thầy thì khôn ngoan, ly dục ưa ở một mình, ít sự dâm dục, tâm thường nghiêng về đoạn kiến, nhìn ngay ngó thẳng, nói năng chân thật, trình bày rõ ràng, ít có bạn thân, làm việc hay chấp chặt, nhớ lâu không quên, ưa làm việc bằng tay chân, vai ngực nở to, trán rộng tóc bằng, tâm cứng rắn khó điều phục, mau được mà khó quên, có thể tự lìa dục mà ưa gây tội nặng. Những tướng trạng như thế là tướng người nóng giận.

Tướng người ngu si.- Nhiều nghi ngờ, nhiều hối hận, lười biếng không nhận thức, tự mãn không tuân theo, kiêu mạn khó dạy bảo, chuyện đáng tin không tin, không đáng tin lại tin, không biết chỗ nào đáng kính, ở đâu cũng tin theo, thường bị thầy quở không biết hổ thẹn mà cứ càn bướng, làm việc không suy nghĩ, có ai chỉ dạy lại chống đối, không biết chọn bạn, không biết trang sức, thầy lành, đạo lạ cũng không phân biệt tốt, xấu, căn tánh ngu độn chậm lụt, khó nhớ mà dễ quên, chê bai người làm việc bố thí, không có tâm thương xót, phá hư cây cầu chánh pháp, gặp việc không hiểu biết, con mắt lờ đờ không có trí tuệ, nhiều mong cầu, nhiều trông đợi, nhiều nghi ngờ, ít chánh tín, ganh ghét người tốt, cho rằng không có quả báo tội phước, không phân biệt lời lành, không biết lầm lỗi, không vâng lời khuyên bảo, xa lìa kẻ thân lại sanh oán trách, không biết lễ phép, ưa nói lời ác khẩu, râu tóc móng tay dài, răng áo nhơ nhớp, bị người sai khiến, chỗ sợ lại không sợ, chỗ vui thì âu sầu, chỗ sầu lại vui, chỗ buồn thì cười, chỗ cười lại buồn, đợi lôi mới đi, hay chịu những sự khổ nhọc, không phân biệt mùi vị, khó thể lìa dục, làm tội sâu nặng. Đó là những tướng trạng của người ngu si.


Trích: TỌA THIỀN TAM-MUỘI
[/i]
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Biểu tướng của Tăng Đồ trong đời mạt pháp vào lúc: Tháng Sáu 04, 2012, 10:40:34 am
Người thế tục có câu:

- Tú tài là tội nhân của Khổng Tử. Tăng sĩ là tội nhân của Phật đà.

Lời của người xưa thật rất thâm thúy. Làm mất sáu nước là do người của sáu nước, chứ chẳng phải do người nước Tần. Làm nước Tần tan rã là do thân tộc nhà Tần, chứ chẳng do thiên hạ. Diệt Phật pháp là do tăng sĩ. Hôm nay, để bày tỏ nỗi lòng uẩn khúc, tôi tự hỏi tự đáp những lời như sau.

Hỏi: Hiện tại có thể sửa đổi năm tháng Phật lịch, tức không dùng mồng tám tháng tư là ngày làm lễ Phật đản sinh được không?

Đáp: Vận pháp của Phật Thích Ca có ba thời kỳ là chánh pháp, tượng pháp, và mạt pháp. Đời chánh pháp có một ngàn năm, và đời tượng pháp cũng có một ngàn năm.

Mạt pháp có mười ngàn năm. Đời chánh pháp và tượng pháp đã qua. Hiện nay là đời mạt pháp và đã qua chín trăm năm tám mươi hai năm. Thật ra, không có mạt, vì pháp làm sao mạt được? Nếu thường được nhiều người ủng hộ, thì Phật pháp trường tồn muôn năm. Sự tướng có phân biệt là chánh pháp, tượng pháp, và mạt pháp. Song, nếu con người chân chánh thì thời mạt pháp cũng là chánh pháp. Nếu tự sanh thối thất, thì tuy là đời chánh pháp, nhưng đã trở thành mạt pháp.

Kinh Mạt Pháp thuyết rất nhiều biểu tướng suy vi, mà hiện nay đã xuất hiện: Tăng cưới vợ; ni lấy chồng; sắc y ca sa biến thành màu trắng. Người bạch y (cư sĩ) ngồi trên tòa, còn tỳ kheo ngồi dưới tòa. Lúc con người thọ mạng khoảng ba mươi tuổi, thì pháp Đại Thừa sẽ bị diệt mất. Lúc con người thọ mạng chỉ còn hai mươi tuổi, pháp tiểu thừa cũng bị diệt luôn. Lúc thọ mạng của con người là mười tuổi, thì chỉ còn sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật". Trong đời mạt pháp, tất cả pháp của Phật thuyết ra, đều bị hoại diệt, mà đầu tiên là kinh Lăng Nghiêm, rồi đến kinh Ban Chu Tam Muội. Ví như ông Âu Dương Cảnh Vô dùng kiến giải của mình, viết trăm lời ngụy thuyết, để phản đối bộ kinh Lăng Nghiêm. Tại Hồng Kông, có ông pháp sư nọ, bảo rằng kinh Hoa Nghiêm, Viên Giác, Pháp Hoa, Đại Thừa Khởi Tín Luận, v.v... đều là ngụy giả. Đây là biểu tướng của đời mạt pháp.

Đời quá khứ, Phật Ca Diếp vừa nhập diệt, chư thiên liền thu góp ba tạng thánh giáo của Ngài, mà kết thành tam tạng kinh điển, rồi lập tháp cúng dường. Trong đời Đường, chư thiên xuống mách bảo luật sư Đạo Tuyên là thánh giáo tam tạng cùng kinh tượng của Phật Ca Diếp vẫn còn lưu giữ tại kho tàng thánh tích ở núi Chung Nam, tức Nam Cao Tứ Đài. Hiện tại, có mười ba vị Bồ Tát hàng Viên Giác, đang thủ hộ trong đó. Ngày nay, vào mỗi tháng chạp, dân chúng địa phương thường nghe tiếng chuông khánh vang dội trên hư không.

Lúc trước, liên hội Phật Giáo Trung Quốc vừa được thành lập. Trong những lần luận nghị, có người bảo Phật pháp đã diệt tận. Thật ra, đó là người Phật tử tự diệt. Chánh phủ không màng Phật tử đã diệt hay không, chỉ phái người đến làm chủ tọa các buổi thảo luận. Trong những buổi thảo luận, có các Phật tử phân vân rối rít bàn tán rằng trong kinh giáo, có các bộ kinh hại chết rất nhiều thanh niên nam nữ như kinh Phạm Võng, Tứ Phần Luật, Bá Trượng Thanh Quy, nên phải hủy diệt thủ tiêu. Họ lại bảo rằng ba y ca sa, vốn là áo quần của dân chúng đời Hán, chứ chẳng phải là tăng y. Hiện tại, tăng sĩ nên cải cách, chẳng cần đắp ba bộ ca sa. Nếu vẫn còn đắp mặc, tức là bảo thủ phong kiến, chống đối lại chế độ mới. Họ lại bảo rằng vì tín giáo tự do, nên tăng ni có quyền tự do lập gia đình, ăn thịt uống rượu. Vừa nghe qua những lời ngược ngạo, tà tri tà kiến, tôi phản đối dữ dội, chẳng nệ hà họ là người gì. Họ lại không thừa nhận ngày Phật đản sinh là mồng tám tháng tư. Tôi liền căn cứ theo bổn pháp nội truyền, cùng những lời đối đáp giữa pháp sư Ma Thắng và vua Minh Đế để cải chánh như sau:

- Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sanh vào mồng tám tháng tư, thuộc năm giáp dần, tức nhằm đời Chu Chiêu Vương thứ hai mươi bốn tại Trung Thổ.

Theo sách vở đời Ngụy, sa môn Đàm Mô Tối bảo:

- Phật giáng sanh vào mồng tám tháng tư năm thứ hai mươi bốn của triều vua Chu Chiêu Vương, và nhập diệt vào ngày mười lăm tháng hai năm thứ năm mươi hai của triều vua Mục Vương. Năm tháng Phật đản sanh và nhập Niết Bàn, hầu hết các triều đại quân chủ đều tuân phụng như nhau mà không sửa đổi.

Đời vua Chu Chiêu Vương, năm Giáp Dần, cách ngày nay (1952) khoảng hai ngàn chín trăm tám mươi hai năm. Hiện tại, họ muốn sửa thành hai ngàn năm trăm lẻ hai năm. Ông Khổng Tử vốn sanh sau Phật, nhưng họ lại muốn sắp đặt ngày sanh của Khổng Tử trước Phật. Trong buổi hội nghị đó, tôi cùng họ tranh luận về giới luật, niên hiệu, tăng y và bảo rằng không thể hủy hoại. Hai tôn giả Mã Thắng và Trúc Pháp Lan đem giáo lý của Phật đà từ Thiên Trúc sang Trung Thổ. Khi đó, Phật mới vừa diệt độ. Đương thời, phía đông chùa Bạch Mã có ánh sáng lạ kỳ chiếu vào ban đêm. Tôn giả Mã Thắng bảo rằng xưa kia vua A Dục đã từng sai người mang xá lợi của Phật đặt để nơi đó. Nghe điều này, vua Minh Đế liền sai người dựng tháp cúng dường. Bấy giờ tăng sĩ cùng đạo sĩ thi thiết pháp thuật. Tôn giả Mã Thắng hiện thần thông biến hóa quảng đại, phi thân trên không trung.

Ngài Trúc Pháp Lan xuất đại pháp âm, tuyên dương Phật pháp. Thần thông trí huệ diệu dụng của hai tôn giả, dầu kể suốt bao năm tháng cũng không thể hết. Chư cao tăng sau này như ngài Cưu Ma La Thập, Huyền Trang, Đạo Tuyên, v.v... tuy thuyết pháp bao ngôn từ, mà không bao giờ xác quyết sửa đổi cải biến ngày Phật đản sinh. Vào năm Dân Quốc thứ hai, cư sĩ Chương Thái Đàm cùng các vị khác, chiêu tập khai mở đại pháp hội Vô Giá tại chùa Pháp Nguyên, Bắc Kinh. Trong lần đó, họ cũng thảo luận về ngày Phật đản sinh, và đồng nghị quyết rằng mồng tám tháng tư là ngày Phật đản sinh. Hiện tại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng dương lịch. Song, chánh phủ cũng chưa bảo rằng Phật giáo đồ nên sửa đổi từ âm lịch sang dương lịch.

Tôi chủ trương là chúng ta phải ứng dụng theo Phật Lịch, vậy có được hay không? Đó là tôn kính giới luật và giáo pháp của bậc cổ nhân, mà không thể sửa đổi. Họ lại ương ngạnh bảo rằng mồng tám tháng hai, mồng tám tháng tư, ngày mười lăm tháng hai, vốn là ngày kỶ niệm tổ tiên. Họ muốn đổi ngày Phật đản sinh từ mồng tám tháng tư qua rằm tháng tư. Kinh Phạm Võng thuộc thời Hoa Nghiêm và Tứ Phần luật thuộc thời A Hàm. Họ đều muốn hủy bỏ. Thanh Quy của Tổ Bá Trượng, từ đời Đường cho đến ngày nay, thiên hạ đều phụng hành, mà họ lại muốn sửa đổi. Tăng y ca sa từ đời Hán đến nay, họ cũng muốn cải đổi. Quý vị xem coi, có phải là đời mạt pháp không? Vì vậy, tôi phải tranh luận với họ, mà bảo rằng nếu các ông muốn cải đổi thì phải tự cải đổi chính mình.

Phật đà vốn là người Ấn Độ. Ở Ấn Độ, một năm chia làm ba quý. Mỗi quý là bốn tháng. Nước Tàu mỗi năm chia làm bốn quý. Mỗi quý chia làm ba tháng. Nước Tàu có phân hiệu niên giáp, mà nước Ấn Độ lại không có. Vì vậy, chớ nên hàm đồ thay triều đổi niên đại không rõ ràng. Ngài Huyền Trang ở Ấn Độ mười tám năm, mà chưa từng xác định niên đại. Trải qua hơn hai ngàn năm, người xưa thường cử hành lễ Phật đản vào mồng tám tháng tư. Nếu sửa đổi thì rất bất tiện. Chúng ta là ai, mà lại dám tự sửa đổi?

Tôi bàn luận với Lý Nhậm Triêu là những Phật tử xấu xa này, muốn cải đổi giáo chế của Phật đà. Nếu chánh phủ không tự chủ, dung túng những kẻ này, tạo những việc xằng bậy, thì Phật tử quốc tế sẽ sanh tâm hồ nghi.

Đối với những kẻ manh tâm xằng bậy cải đổi quy chế giới luật Phật giáo, Lý Nhậm Triêu cùng các người khác khuyên tôi hãy nên nhẫn nhục với họ. Chánh phủ thấy việc tranh cãi lộn xộn, liền hỏi han về lý do muốn sửa đổi giới luật quy chế Phật giáo. Có người bảo rằng tăng ni phải nên mặc y hoại sắc. Chánh phủ hỏi rằng y hoại sắc là như thế nào? Năng pháp sư đáp rằng ca sa vốn là y hoại sắc, còn những y phục khác thì không phải. Mọi người nghe lời phân trần rõ ràng này, quyết định giữ lại y ca sa hoại sắc, hủy bỏ ý kiến của những kẻ muốn cải đổi tăng bào. Tôi bảo rằng lời nói của Năng pháp sư là không sai. Tiếng Phạn gọi là Ca Sa. Tiếng Tàu gọi là y hoại sắc. Y ca sa có ba loại là y năm điều, y bảy điều, và đại y. Lại có một khỏa y và một cái quần. Chư tăng Ấn Độ dùng ba y và một cái quần tức là y khố chúng ta đang mặc ở nước Tàu.

Những y ca sa và quần này luôn luôn mặc trên thân. Ngủ cũng mặc, mà chết cũng không rời. Tại Ấn Độ khí hậu nóng nực nên chỉ cần có ba y ca sa là đủ. Tại Tàu khí hậu lạnh lẽo, nên trong mình còn phải mặc thêm y phục thế tục, nhưng không được mặc y phục có nhiều màu sắc rực rỡ, mà phải nhuộm thành y hoại sắc. Nếu đi ra ngoài làm việc Phật sự thì phải đắp y ca sa. Y ca sa không thường đắp, nên khiến người nhìn khởi tâm tôn kính. Các triều đại như Tống, Kim, Nguyên đều sửa đổi y phục khác với đời Hán. Tăng nhân đến hôm nay vẫn chưa từng sửa đổi, tức dùng y ca sa đời Hán làm tăng y. Đó gọi là đại y ca sa, cũng là y hoại sắc. Nếu cho rằng mặc loại y ca sa này khiến đi đứng bị hạn chế, thì không nên cải đổi. Nếu cải đổi tăng y thì ranh giới giữa tăng nhân kẻ tục khó phân định. Nghe những lời tôi phân trần, chánh phủ đồng ý tán trợ, và lại bảo rằng Phật luật Tổ quy không thể sửa đổi, mà phải giữ gìn bảo hộ.

Sau đó, chánh phủ gọi tôi vào kinh đô, tiếp đãi các thân hữu Phật giáo quốc tế.

Tạm cáo kết cuộc. Quý vị thấy không, có phải là tăng sĩ tự hủy hoại Phật pháp chăng? Lão già Hư Vân này vô lực khuông phò Phật pháp. Ngưỡng vọng đoàn thể tăng già chánh tri kiến, đồng tránh khỏi những phong ba bão táp, thì Phật pháp mới không bị hủy diệt.



Thiền Sư Hư Vân
[/b][/i][/color]
7  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật vào lúc: Tháng Tư 20, 2012, 04:24:22 pm
Hôm nay là ngày giỗ kỷ niệm lão pháp sư Ấn Quang vãng sanh về cõi Tây Phương lần thứ mười hai. Quý vị đều là đệ tử của Ngài. Uống nước phải nhớ nguồn, nên quý vị tụ hội tại giảng đường này, làm lễ giỗ truy niệm thầy mình. Trong đạo lý nhà Phật, thầy tức là cha mẹ pháp thân của mình. KỶ niệm thầy, tức là nhắc lại bổn phận hiếu thảo của mình đối với cha mẹ pháp thân. So sánh về sự hiếu thảo nhỏ nhặt ở thế gian thì việc này có rất nhiều ý nghĩa thâm trầm hơn.

Nhớ thuở xưa, lần đầu tôi gặp lão pháp sư Ấn Quang tại núi Phổ Đà vào năm Quang Tự thứ hai mươi. Lúc đó, lão hòa thượng Hóa Văn thỉnh Ngài lên tòa giảng kinh A Di Đà tại chùa Quảng Tế. Giảng xong, Ngài ở lại chùa, đọc hết ba tạng kinh điển. Qua hơn hai mươi năm, Ngài chưa từng rời núi một bước mà đóng cửa ẩn tu. Tuy Ngài hiểu rõ giáo nghĩa rất thâm sâu, nhưng chỉ lấy một câu A Di Đà Phật làm sự tu trì hằng ngày. Tuyệt đối không cho mình thông hiểu kinh giáo thâm sâu mà coi nhẹ pháp môn niệm Phật. Lời dạy của Phật là thuốc dùng để trị bịnh khổ cho chúng sanh. Pháp môn niệm Phật, được gọi là thuốc A Già Đà, trị hết tất cả bịnh.

Thật vậy, vô luận tu pháp môn nào, cần phải có niềm tin kiên cố, giữ gìn mãi mãi, thực hành ngày một thâm sâu, thì mới mong đạt được lợi ích đầy đủ. Nếu có niềm tin kiên cố thì trì chú, tham thiền, niệm Phật đều thành tựu. Nếu tín căn không thâm sâu mà chỉ cậy nhờ chút ít thiện căn, học thức cạn cợt, hoặc nhớ được vài ba danh tướng công án, rồi đi nói chuyện vô ích tạp nhạp hay bàn việc đúng sai thì chỉ tăng trưởng nghiệp chướng và tập khí xấu xa. Dẫu có bàn về việc sống chết, cũng vẫn bị nghiệp thức dẫn dắt. Có thật đáng thương lắm không !

Quý vị là đệ tử của pháp sư Ấn Quang. Hôm nay làm giỗ lễ kỶ niệm, thì cũng phải kỶ niệm sự hành trì chân thật của Ngài. Ngài là một vị chân tu thực thụ vì bước trên đường các bậc cổ đức đã đi. Ngài hiểu rõ thâm ý của chương Bồ Tát Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông. Y theo đó mà khởi tu, nên đạt được niệm Phật Tam Muội. Từ đó, Ngài hoằng dương tông Tịnh Độ, làm lợi ích cho chúng sanh, trải qua bao thập niên mà cũng vẫn như một ngày, chưa từng từ nan thối bước, dẫu có bịnh tật ốm đau. Hiện tại, thật hiếm có ai như Ngài, chân thật tu hành không khởi kiến chấp phân biệt mình người, chỉ nghe một danh hiệu Phật rồi y theo đó mà tu trì. Sáng niệm Phật. Tối niệm Phật. Đi đứng nằm ngồi, trong mười hai thời niệm niệm không quên mất. Thầm thầm lặng lặng, công phu thuần thục chín mùi, cảnh tịnh Tây Phương Cực Lạc hiện trước mặt, được lợi ích vô biên, tự mình quán thấy.

Điều quan trọng nhất là tín tâm phải kiên cố. Tín tâm nếu không kiên cố, thì muôn sự không thể thành. Hôm nay tăng, ngày mai giảm; nghe người nói tham thiền hay thì bỏ ngay công phu niệm Phật, chạy qua tu thiền. Nghe người nói học kinh điển rất tốt thì lại bỏ thiền, qua học kinh giáo. Học kinh giáo không thành lại chạy đến trì chú, nhưng chẳng hiểu chi hết. Tâm bị chướng ngại vì không thanh tịnh. Không tự trách mình tín tâm không định, lại cho rằng Phật Tổ dối gạt chúng sanh. Chửi Phật báng Pháp, tạo nghiệp vô gián. Vì thế, tôi khuyên đại chúng rằng phải nên tin tưởng kiên cố sự lợi ích của pháp môn niệm Phật, học theo hạnh "Chân Thật Niệm Phật" của lão pháp sư Ấn Quang, rồi lập chí vững chắc, phát tâm dũng mãnh, lấy việc vãng sanh cõi Tây Phương làm việc lớn trong đời.

Tham thiền cùng niệm Phật, đối với người mới phát tâm tu học thì thấy có khác, nhưng đối với người tu hành lâu năm thì chỉ là một. Tham thiền đề cử thoại đầu, chặt đứt dòng sanh tử, cũng từ tín tâm kiên cố mà được. Nếu thoại đầu giữ mãi không được thì tham thiền không thể thành tựu. Nếu tín tâm kiên cố thì đến chết cũng phải tham khán câu thoại đầu. Uống trà không biết đang uống trà. Ăn cơm không biết đang ăn cơm. Như thế, công phu mới thuần thục, thoát khỏi căn trần, đại dụng hiện tiền, cùng cảnh tịnh của công phu niệm Phật, giống nhau không khác. Đạt đến cảnh giới đó, sự lý viên dung, tâm cùng Phật không hai. Phật như như bất động. Chúng sanh cũng như như bất động. Một như như bất động mà không có hai như như bất động, thì sai biệt chỗ nào ? Quý vị là những người tu pháp môn niệm Phật. Tôi hy vọng tất cả hãy lấy một câu niệm Phật làm chỗ y tựa cho đời mình. Hãy chân thật mà niệm !


Bài "Phải Hiểu Rõ Sự Niệm Phật" nhân ngày giỗ thứ mười hai của tổ Ấn Quang, năm 1952

HT Hư Vân
8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Quyết định hành trì một pháp môn vào lúc: Tháng Ba 28, 2012, 11:12:14 pm
Có tín tâm đầy đủ rồi, thì phải chọn lựa ra một pháp môn để tu trì. Không thể sáng qua nước Tần, tối lại đến nước Sở. Niệm Phật cũng được. Trì chú cũng hay. Tham thiền cũng tốt. Nói chung, điều quan trọng là phải quyết chọn một pháp môn, rồi vận dụng hết tài năng mà tu tập, mãi mãi không thối thất hay hối hận. Hôm nay chưa thành công, nhưng ngày mai sẽ được. Năm nay chưa thành công, nhưng năm sau sẽ thành. Đời nay chưa thành tựu, nhưng đời sau sẽ thành. Ngài Quy Sơn bảo:

- Đời đời nếu không thối chuyển thì quả vị Phật chắc chắn sẽ có kỳ.

Có nhiều người không chú ý điều này. Hôm nay nghe thiện tri thức này bảo niệm Phật rất hay, liền đi niệm Phật hai ngày liền. Kế đến, nghe vị thiện tri thức khác bảo tham thiền rất tốt, thì liền ngồi thiền thêm hai ngày nữa. Đùa giỡn bên đông, lại giỡn cợt bên tây. Đùa giỡn cả đời cho đến chết. Mãi giỡn chơi khinh nhờn, có uổng đời tu lắm không !

Thiền Sư Hư Vân
[/color]
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Thỉnh cầu khai thị vào lúc: Tháng Ba 28, 2012, 09:14:03 am
    Thiệt tình út suy nghĩ,tìm tòi.....vậy mà không thông 109.Thiệt tình út xấu hổ khi nói mình dốt....nhưng phải đành chịu......Kính mong có Thầy,cô Bác nào giãng thêm một chút cho út hiểu không?
   
    Kính. party

Nhất thiết duy tâm tạo, do tâm này mà tạo ra muôn hình vạn cảnh. Từ vui, buồn, yêu, ghét ... cho đến thập pháp giới. Nếu ngộ bản tâm này thường hằng vẵng lặng, biết được ngũ uẫn vốn không. Thì tự tại, dạo chơi sanh tử. Ngộ bản tâm ấy thì đồng với chư phật không khác. Khi đã ngộ được bản tâm này rồi thì không còn những phiền não, sanh tử, luân hồi trói buộc nữa.
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / Quý tại nhất tâm vào lúc: Tháng Ba 27, 2012, 09:28:34 pm
Tu hành trong Phật thất quý tại nhất tâm. Tâm nếu không chuyên nhất thì mắt nhìn đông, hay tai nghe tây. Tu hành cách đó, cho đến Phật Di Lặc hạ sanh, nghiệp chướng vẫn còn ràng buộc nơi thân. Phật pháp hay thế gian pháp cũng đều giống nhau. Chẳng chú tâm làm việc pháp thế gian còn không được, hà huống tu Phật pháp ! Đối với người niệm Phật, từ đầu đến cuối, phải liên tục niệm thầm lặng; phải niệm rõ ràng mỗi câu mỗi chữ, không thể lầm lộn. Phật đến cũng niệm hay ma đến cũng niệm. Niệm đến lúc gió thổi không vào thân, hay mưa rơi không ướt mình thì mới có ngày thành tựu. Tại sao ? Phật là bậc giác ngộ. Nếu muốn giác ngộ thì phải tự biết dùng sự chuyên tâm mà niệm. Ma tức là phiền não. Chúng não hại huệ mạng của chúng sanh. Biết ma vốn thường não hại huệ mạng, đương nhiên phải nên dụng công lực, chuyên tâm niệm Phật để hàng phục chúng. Thế nên, khi giác ngộ viên mãn thì thường thấy Phật. Khi bị tổn hại thì đó là gặp ma.

Trong đạo tràng niệm Phật, nếu ngồi bất động và liên tục niệm Phật thì chắc chắn sẽ gặp Phật. Khi tôi đến, quý vị ra đón tiếp lễ bái. Quý vị đón tiếp để làm gì ? Thật có uổng phí thời gian lắm không ? Làm sao chứng đắc được gì ? Có phải khi tôi đến, khiến làm não hại tịnh nghiệp nhất tâm của quý vị không ? Việc này, cũng vì quý vị đặt tôi vào điện Diêm Ma La. Thật buồn thay !

Thương thay cho người thế tục ! Họ không biết cung kính Tam Bảo. Họ đem heo quay, gà quay, cá nướng đến cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm; đó là phạm giới giết hại, lại không biết cung kính Ngài. Lần nọ, tôi ở Thượng Hải, gặp lúc bọn ca múa hát xướng đến ca diễn. Một vị cư sĩ nọ mua vé cho vài chỗ ngồi, mất cả trăm đồng. Ông ta mời tôi đi xem ca diễn. Tôi bèn bảo ông ta rằng hãy nói thử xem, đệ tử tại gia khi thọ tám giới quan trai, không được đi xem ca diễn, hà huống tôi là người xuất gia ! Ông mời tôi đi xem diễn kịch, cũng giống như đem heo quay cúng Bồ Tát. Ông ta liền cúi đầu sám hối, và thưa rằng hôm nay bỏ ra cả trăm đồng mới được nghe lời giáo huấn, cùng biết cách thức cung kính chư tăng.

Phật pháp vô thượng, quý tại dụng tâm.


THIỀN SƯ HƯ VÂN [/i]
Khai thị trong kỳ Phật thất tại Phước Kiến Công Đức Lâm, năm 1933
(Trích PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ HƯ VÂN )



p/s: Để phù hợp nên S thay đổi tên Khai thị trong kỳ Phật thất tại Phước Kiến Công Đức Lâm, năm 1933 thành Quý tại nhất tâm, mong quý vị hỷ xã bỏ qua cho.

A Di Đà Phật
11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Tham thiền cùng niệm Phật vào lúc: Tháng Ba 27, 2012, 09:09:03 pm
Người niệm Phật, ai ai cũng hủy báng tham thiền. Người tham thiền, ai ai cũng hủy báng niệm Phật. Ví như khi đối đầu với cái chết, chúng ta lại muốn đối phương sớm chết theo mình. Đây là hiện tướng xấu xa trong nhà Phật, thật rất đau lòng ! Thế tục có câu: "Gia đình hòa hợp thì muôn sự đều hưng thịnh. Gia đình ai oán thì miệng chẳng ngon."

Huynh đệ chửi mắng lẫn nhau, chẳng lẽ không bị người đời cười chê cùng khinh khi hay sao ! Tham thiền, niệm Phật cùng các pháp môn khác đều do kim khẩu của Phật Thích Ca thuyết ra. Đạo vốn không hai, chỉ do căn khí nghiệp duyên của chúng sanh không đồng, nên Phật tùy theo bịnh mà cho thuốc. Vì phương tiện nên đức Phật thuyết ra nhiều pháp môn để nhiếp thọ giáo hóa quần sanh. Sau này, chư đại đức y theo giáo lý mà phân tông phái; bất quá chỉ do tùy căn cơ mà thuyết pháp. Nếu người muốn tu trì để trở về tự tánh thì chỉ cần bước vào một cửa là có thể nhập đạo diệu môn, vì bổn gốc vốn không phân biệt cao thấp. Các pháp xưa nay vốn hỗ tương lẫn nhau và viên dung không ngại.

Nếu như niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì có khác gì với tham thiền ! Tham thiền đến độ cả hai năng và sở đều mất thì có khác gì với thật tướng niệm Phật ! Thiền tức là Thiền trong Tịnh Độ. Tịnh Độ tức là Tịnh trong Thiền. Thiền và Tịnh Độ vốn tương trợ lẫn nhau. Sao người đời khởi tâm chấp trước một bên, thấy cửa này nhà nọ, tự tán thán mà hủy báng kẻ khác, giống như nước với lửa chẳng bao giờ tương dung, khiến phản lại thâm ý phân tông khác giáo của Phật Tổ ! Lại nữa, có thể vô ý phạm trọng tội hủy báng Phật pháp. Thật có đáng thương lắm không ! Hy vọng quý vị đồng nhân, không luận tu trì pháp môn nào, đều phải thể hội thâm sâu yếu chỉ vô tranh của Phật Tổ, chớ múa gậy đánh nhau trong nhà. Mọi người phải hợp lực đồng tâm, cứu độ con thuyền Bát Nhã trên sóng ba đào.

Thiền Sư Hư Vân
(Trích trong Pháp ngữ của Hòa Thượng Hư Vân- Thích Hằng Đạt dịch)
12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Re: Khẩu nghiệp rất mãnh liệt vào lúc: Tháng Ba 04, 2012, 11:41:36 am
"... Cách vô lượng kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật ấy sau khi hóa duyên đã mãn, vào Niết Bàn. Trong thời tượng pháp của ngài, có một quốc gia tên Ba La Nại, trong nước đó có người Bà La Môn nghèo, chỉ sanh được một con trai rồi qua đời sớm. Cậu bé ở với mẹ đến khi khôn lớn, được giao cho việc nông tác ngoài đồng. Bà mẹ ở nhà, tảo tần lo thức ăn, mỗi ngày đem ra ruộng cho con. Một hôm, cơm nước đưa đến trễ, đứa con đói khát, sanh lòng hờn giận, dùng lời ác độc mắng rằng: "Mẹ tôi còn thua loài súc sanh! Tôi thấy mấy con: heo, chó, chồn, khỉ, rắn, kên kên, quạ, còn biết thương lo cho con của nó. Tại sao bà để cho tôi đói khát mà không đem cơm nước đến?" Do lòng đợi chờ hờn giận, đứa con nói như thế ba lần. Giây lát bà mẹ với dáng điệu vội vã đem cơm nước tới, và nói nhiều lời an ủi khiến cho con vui mừng hết cơn buồn giận. Đứa con vừa ngồi xuống sắp dùng cơm, bỗng thấy giữa hư không có vị Bích Chi Phật, hình tướng sa môn, bay từ phương Nam qua phương bắc. Người con thấy rồi, sanh lòng kính ngưỡng, đứng lên chắp tay cúi đầu đảnh lễ, thỉnh vị Bích Chi Phật giáng lâm. Bích Chi Phật nhận lời thỉnh, từ từ đáp xuống. Đứa con vui mừng, trải tranh trắng làm tòa ngồi, dâng hiến hoa sạch đẹp, giảm phần ăn của mình, đem cúng dường vị Sa môn. Sau khi thọ thực xong, Bích Chi Phật lại vì nói pháp yếu khiến cho được vui mừng.

Về sau người con xuất gia, chư tăng cử cho làm chức Tri Sự. Lúc ấy có người Bà La Môn xây cất tăng xá vừa xong, ngày khánh thành khách tăng hội đến, lại có thí chủ đem nhiều tô du và sữa đặc cúng dường. Ông Tri Sự hiềm khách tăng làm phiền rộn, nên không đem tô du và sữa ra thết đãi. Mấy vị khách tăng hỏi: "Những thức ăn đó là của đàn việt cúng dường hiện tiền tăng, sao không thấy dọn ra?" Ông Tri Sự tánh nóng vội, liền cả tiếng mắng rằng: "Bộ mấy ông đui mù hết sao? Có tô du và sữa đâu mà bảo tôi cất giấu? Nếu muốn đòi thêm, chỉ có phẩn và nước tiểu cho các ông ăn mà thôi!"

Đức Phật bảo Đế Thích:

- Đứa con của người Bà La môn nghèo đó là Thiện Trụ thiên tử hiện nay. Do kiếp trước hờn giận, dùng lời ác gọi 7 tên loài cầm thú mắng mẹ, nên phải chịu 7 phen làm cầm thú. Bởi khi làm Tri Sự thốt ra những lời nhơ uế mắng chư tăng, nên nghiệp cảm thường ăn đồ bất tịnh. Do bỏn xẻn giữ riêng thức ăn của hiện tiền tăng nên bị quả báo địa ngục và chịu nghèo hèn thô xấu trong kiếp người. Bởi mắng chư tăng là đui mù nên bảy trăm đời phải bị mù đôi mắt, sống trong cảnh tối tăm chịu nhiều khổ não. Nên biết những tội nghiệp như thế, đã có nhân, tất phải trả quả, ảnh hưởng không tiêu mất.

Lại nữa Thiên Đế! Thiện Trụ thiên tử được hưởng sự vui thắng diệu ở cõi trời, là do kiếp trước trải tòa, dâng hoa, cúng dường thức ăn cho vị Bích Chi Phật, và nhờ sức ảnh hưởng của sự nghe chánh pháp. Lại do đời trước chắp tay ngửa lên hư không, hết lòng kính thỉnh, cúi đầu đảnh lễ vị Bích Chi Phật, bởi công đức ấy nên được nghe giữa hư không có tiếng mách bảo cho biết trước. Đó là tiếng vị thần giữ cung điện của Thiện Trụ thiên tử vậy! ..."
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Khẩu nghiệp rất mãnh liệt vào lúc: Tháng Ba 04, 2012, 11:41:15 am
Kinh văn có ghi:


Trích dẫn
- Trong 10 nghiệp ác, khẩu nghiệp rất mãnh liệt, phải biết lời ác còn quá hơn lửa dữ. Lửa dữ chỉ đốt tiêu tài sản của báu ở thế gian. Lửa giận ác khẩu chẳng những đốt hết thất thánh tài (4) và tất cả công đức xuất thế mà còn chiêu cảm ác báo về sau. Như Thiện Trụ chỉ vì nóng giận mắng mẹ và chư tăng, mà tổn bớt phước trời, phải chịu thân cầm thú và địa ngục.

Cho nên, đối với cha mẹ và chư tăng, lẽ ưng tôn trọng cung kính cúng dường, dùng lời dịu dàng khen ngợi, thường nghĩ đến ân đức, chớ không nên khinh hủy. Lòng từ ái giữa trần gian chỉ có cha mẹ, ruộng phước trong ba đời không chi hơn chúng tăng. Các bậc chân tăng hiền thánh, nếu cúng dường thì công đức không mất. Như tiến thêm, muốn cầu pháp xuất thế, lại có thể thành đạo. Đâu nên đối với chúng tăng vội thốt lời khinh hủy! Còn cha mẹ công sanh dưỡng rất khó nhọc, 10 tháng cưu mang khổ nặng, 3 năm bú sữa, mớm cơm. Trải đủ sự lo lắng gian lao, nuôi con khôn lớn, dạy dỗ, cho học hành, mong con được thành lập, tài đức hơn người. Nếu con xuất gia, lại mong cho con đắc đạo, thoát vòng sanh tử. Ân niệm ấy cao rộng như biển trời, khó đền trả. Vì thế, ta đã bảo A Nan: - Nếu có người vai bên trái cõng cha, vai bên mặt cõng mẹ, đi quanh núi Tu Di trăm ngàn vòng, huyết chảy ngập 2 bàn chân, còn chưa thể báo công ơn sanh dưỡng, huống chi lại khởi niệm hờn giận, buông lời khinh mắng ư!
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / Thỉnh cầu khai thị vào lúc: Tháng Ba 01, 2012, 07:26:07 pm
Nói về thỉnh cầu khai thị thì lúc Phật còn tại thế cũng có. Việc này trọng đại, thế gian chẳng thể so sánh được. Như một hôm, ngoại đạo mang hoa đến cúng Phật, thỉnh Phật khai thị. Phật bảo :

"Buông hoa xuống". Ngoại đạo buông hoa xuống. Phật bảo : "Buông tay xuống". Ngoại đạo buông tay xuống. Phật bảo : "Buông thân xuống". Ngoại đạo do dự, Phật quở : "Buông chẳng được thì gánh lên đi!" . Ngoại đạo ngay đó đại ngộ. Lợi ích của sự thỉnh cầu khai thị đâu thể kể xiết.

Phật lúc ở nhân địa làm một vị tiên nhân, ở trong núi sâu ngày đêm hành đạo rất là chân thiết. Thiên nhân muốn thử, hóa làm một con quỷ La sát đến bên cửa động nói : "Các hạnh vô thường là pháp sanh diệt". Tiên nhân nghe qua liền bước xuống thiền sàn, ra ngoài xem, thấy một con quỷ hình thù xấu xí, tóc đỏ rối nùi, mặt xanh như chàm, răng đen chỉa ra như đinh sắt, thân hình to lớn, cái bụng lép xẹp, trông qua đáng sợ.

Tiên nhân hỏi : Hai câu kệ vừa rồi do ông nói phải chăng?

Quỷ La sát đáp : Chính là tôi nói.

Tiên nhân thưa rằng : Xin nói câu kế tiếp cho tôi nghe, tôi rất cảm tạ.

Quỷ La sát liền nói : Tôi đang đói bụng, không có sức để nói tiếp. Ông có thể xả thân cho tôi ăn, tôi sẽ nói tiếp.

Tiên nhân tự nghĩ : "Nếu bỏ thân này cho quỷ ăn thì còn ai được nghe pháp?"

Liền bảo quỷ La sát : Viết pháp lên tảng đá, tôi xem rồi liền xả thân.

Quỷ viết tám chữ như vầy : " Sanh diệt đã diệt, tịch diệt làm vui".

Tiên nhân liền từ trên vực nhảy xuống, quỷ La sát đỡ lấy thân tiên nhân rồi hiện nguyên hình là Trời Đế Thích khen rằng :

"Lành thay! Ngài sẽ thành đạo Vô Thượng Bồ Đề. Ngưỡng mong tiên nhân chớ quên độ tôi".

Hãy suy nghĩ xem! Người xưa xả thân cầu pháp vì tám chữ mà bỏ mạng cho quỷ ăn, coi nhẹ thân, kính trọng pháp như thế, e rằng người thời nay khó làm nổi.

Người hành đạo trụ thiền đường dụng tâm chân thiết, muốn công phu thâm nhập nhất định cần phải rộng hỏi bậc Thiện Tri Thức, nên chân thành cung kính năm vóc gieo sát đất, trình bày cái kiến giải trước kia và hiện tại của mình, thành thật thỉnh cầu khai thị.

Nhờ Thiện Tri Thức ấy nhổ đinh tháo chốt, khiến cho đương cơ cảm thấy trời xoay đất chuyển, được quay đầu chuyển não, có người ngay đó đại ngộ. Như đường đi ngàn dậm còn thiếu một bước mới được đến nhà, nhiều người ở chỗ thiếu một bước này, lầm nhận là nhà rồi trụ nơi đó, chẳng muốn tiến lên. Nếu là người trí, ngay đây phải đi thưa hỏi các bậc Thiện Trí Thức, tự suy xét lại có đúng hay không, rồi ngay đó thừa đương thì công phu mới được thâm nhập. Người tin được sự thỉnh cầu khai thị thì động chân là đến nhà, việc dễ dàng như thế, người học đạo nên lấy đó làm mô phạm.



Các hành đều vô thường,
Vì là pháp sanh diệt,
Sanh diệt nếu diệt rồi,
Tịch diệt là an vui.

[RIGHT]
Lai Quả Thiền S
[/b][/color]
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHẬT GIA TỔNG LUẬN / THAY CHÚNG SANH CHỊU KHỒ vào lúc: Tháng Hai 29, 2012, 08:43:32 pm
Kinh Phạm võng nói : "Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta". Đâu chẳng lo hiếu dưỡng, phải nên thay thế chịu khổ. Đã là cha mẹ, sao lại gọi là chúng sanh.

Phải biết, hai chữ "chúng sanh" là đương nhiện để cho Phật, Bồ Tát gọi. Chúng ta gọi "chúng sanh" dường như chẳng cung kính, vì chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ là chư Phật vị lai> Từ nay, về sau, có ngưới đánh ta là cha mẹ quá khứ đánh ta, có người mắng ta là chư Phật vị lai mắng ta. Ta thấy người gánh không nổi cái gánh nặng, ta mau đến gánh giúp. Thấy người đẩy xe không nổ, ta mau đến đẩy giúp. Thấy người giết heo de gà chó, ta khuyên người sát sanh hãy dừng tay. Nếu họ chẳng, dừng ta có tiền thì chuộc con vật, nếu không tiền thì khuyên họ. Khuyên chẳng được thì dùng tâm cung kính quy y cho con vật, tìm mọi phương tiện để cứu độ. Thấy người té xuống soông, mau đem thuyền bè cứu vớt. thấy người gặp tai nạn mau đem tiền giúp đỡ. Thấy trâu ngựa heo dê, lấy bi tâm truyền giới quy y cho chúng. Thấy con trùng con kiến, mau dùng tâm thống thiết quy y cho chúng. Thấy người phỉ báng Tam Bảo thì dùng lời lành an ủi họ. Thấy người khinh khi Tăng Ni, liền hết sức khuyên giải họ. Lại phát đại nguyện thay người địa ngục để họ thoát khổ sanh lên trời, người, thay thế ngạ quỷ để chúng hết đói được no, thay thế mọi người chịu khổ để họ được vui. Đây gọi là thay thế chúng sanh chịu khổ.



Lai Quả Thiền Sư
Trang: [1] 2 3 ... 6
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.425 seconds với 20 câu truy vấn.