Tháng Tư 18, 2021, 01:43:28 AM -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 22
1  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / GÓC NHÌN CUỘC SỐNG / Re: Một chút niềm tin cuối cùng đã sụp đổ vào lúc: Tháng Ba 20, 2015, 03:16:10 PM
wa. Vô cùng sửng sốt như người dân Hà Nội đang thảng thốt không biết chuyện gì đang xảy khi cây xanh bị đốn hạ hàng loạt.

Dù sao thì cũng là dòng tộc danh giá đấy. Dòng họ Nguyễn Lân sẽ là dòng tổ của cái nghề bằng cấp giả đang phát triển mạnh ở Việt nam

Sự nói dối đã cha truyền con nối rồi chứ đâu có phải "vừa mới biết nói dối" đâu scc
2  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Miền Nam - Hoa Kiều - Khmer / [Ebook] Ăn cơm mới nói chuyện cũ - HẬU GIANG - BA THẮC - Hồi ký Vương Hồng Sển vào lúc: Tháng Ba 26, 2014, 05:12:15 AM
Ăn cơm mới nói chuyện cũ
HẬU GIANG - BA THẮC
Hồi ký: Vương Hồng Sển
(Viết năm 1974 và duyệt lại năm 1978; có thể xem như hồi ký tiếp theo Hơn nửa đời hư vốn rất nổi tiếng của ông.)

Không xa lạ gì với Vương Hồng Sển - Một Man about Town đúng nghĩa! Và hành văn cũng rất đặc trưng, rất Sển! Viết về các món ăn mà người đọc không cầm được nước miếng...!


Trích dẫn
...chợ Phú-Nổ có món “mè-láo” làm bằng mộng nếp mùa lúa sớm mạch-nha, ruột xốp có rễ tre, lớn cỡ chơn cái,dài gần một gang tay, ngoài áo một lớp mè trắng, mà mỗi lần biết tôi về Sốc-Trăng, có chị hàng xóm trước học trường Marie Curie thường gởi tiền, dặn tôi mua cho được “thứ bánh các chú tên gì không nhớ, tạm gọi bánh c...ặc chấm mè!”.

Trích dẫn
...Ấy là khi nói về con cá cháy không trứng. Khi mua được cá mái cá có trứng thì món ngon nhứt là kho mẳn một lửa ăn xổi với bún lớn cọng của chợ Sốc-Trăng có bán, hoặc kho nước dừa nêm vừa miệng để hâm đi hâm lại ăn được lâu ngày, ăn cho đã thèm, hoặc kho khô ít nước để tiện chuyên chở biếu xén họ hàng, khi gởi Sài-Gòn hoặc gởi xa ra Huế chẳng hạn, nếu kịp chuyến bay, còn như bây giờ dẫu gởi đi Tây cũng dễ như chơi.
Tôi thú thật sau nầy có bề nào tôi nhứt định không lên trển đâu vì xét mình không xứng đáng, lại nữa lên làm gì để ngó mặt nhau mà lần chuỗi hột, buồn lắm, thà theo ông theo bà xin được về nằm tại xứ cá cháy trong rẫy mộ nhà, dẫu không ăn vào miệng, nhưng nội cái nhớ thèm và ăn bằng tưởng tượng cũng đủ sướng!

MỤC LỤC:
Nói bắt quàng, lẩm cẩm (thay lời tựa)
• Nhớ cá cháy, thèo-lèo, mè-láo là nhớ Hậu-Giang và nhớ Sốc-Trăng
• Chung quanh những địa danh cũ của Lục-tỉnh Nam-kỳ
• Đất Nam-kỳ khoảng năm chục gần trăm năm về trước
• Anh bạn tốt Cơ-me ở Miền Nam
• Người Việt gốc Miên tỉnh Sốc-Trăng. Tín-ngưỡng và bùa ngải
• Nếp sống của ngoại kiều sinh sống tại Miền Nam
• Người Pháp, Nhựt, Mỹ theo ý-kiến riêng của tôi
• Cánh đồng Cà-Mau, vựa cá mắm thiên nhiên của trời dành cho dân Việt
• Sân chim và Láng U-Minh
• Cảm tưởng riêng về vùng Cà-Mau: thảo-mộc,thú rừng và nhân-vật
• Ba-Thắc, Hậu-Giang, năm mươi năm về trước
• Ba-Thắc, Hậu-Giang bốn chục năm về trước
• Ba-Thắc, Hậu-Giang ba mươi năm về trước
• Cách làm giàu của người lớp trước ở Sốc-Trăng
• Cảnh vật chợ phố Sốc-Trăng mấy chục năm về trước
• Phương pháp làm giàu của vài ông chủ điền lớp trước
• Mánh lới để bán ruộng và chuyện một ả ăn sương ở Sốc-Trăng
3  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC / [Ebook] TÍN NGƯỠNG & VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG Ở VIỆT NAM vào lúc: Tháng Ba 18, 2014, 04:10:22 AM
TÍN NGƯỠNG & VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG Ở VIỆT NAM
Tác giả: G.S Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh
(600 trang)
Trích dẫn
Trong công trình này, ngoài một số quan điểm lý luận và phương pháp liên quan tới tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng, chúng tôi đi vào nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian cụ thể, như thờ cúng Tổ tiên của các gia tộc, dòng họ và sự phóng đại của nó trên bình diện quốc gia - dân tộc là thờ cúng Quốc tổ Hùng Vương. Đây là một hình thức tín ngưỡng nhằm thắt chặt quan hệ huyết thống của gia đình và dòng họ, phổ biến rộng khắp ở người Kinh và một số dân tộc thiểu số.

Nghiên cứu hình thức thờ Thành hoàng làng và hội đình, điển hình cho sự gắn kết cộng đồng láng giềng làng xã, từ đây hình thành và phát triển văn hóa làng, một trong các dạng thức cơ bản của văn hóa Việt Nam.
Nghiên cứu các hình thức tín ngưỡng thờ Thần, kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa giữa các tín ngưỡng bản địa và những ảnh hưởng Đạo giáo Trung Hoa, như các dòng đạo Nội, thờ Mẫu, Đức Thánh Trần và các anh hùng dân tộc khác.

Nghiên cứu các nghi lễ, phong tục liên quan đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, tổ các nghề và làng nghề thủ công truyền thống.
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới khái niệm văn hóa tôn giáo tín ngưỡng, trước nhất biểu hiện trên các hình thức khác nhau của sinh hoạt tâm linh của cộng đồng, như nhạc lễ, hát thờ, múa thiêng, tranh thờ, giáng bút, diễn xướng nghi lễ, lễ hội... Từ đây, xét trên bình diện nguồn gốc của các hình thái nghệ thuật, chúng ta đều nhận ra một điều là giữa các hình thức nghệ thuật tín ngưỡng và nghệ thuật đời thường có mối quan hệ nguồn gốc khá chặt chẽ
.

Mục lục:
Phần thứ nhất
MỘT SỐ HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
Chương I Phác họa tín ngưỡng các tộc người
Chương II Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Chương III Thờ Thành hoàng làng
Chương IV Thờ Mẫu
Chương V Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
Chương VI Nội đạo An Đông (gốc rễ của Nội đạo chính tông)
Chương VII Tứ Bất Tử
Chương VIII Tín ngưỡng nghề nghiệp
Chương IX Tín ngưỡng của người Tày, Nùng
Chương X Then, một hình thức lên đồng
(shaman) của người Tày
Chương X Mẫu thần Pô Inư Nưgar Chăm
Chương XII Bà Chúa Xứ, Mẫu thần đa văn hóa
Chương XIII Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu
Phần thứ hai
VỀ MỘT SỐ HÌNH THỨC “VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG”
Chương I Tín ngưỡng, tôn giáo và ca nhạc cổ truyền
Chương II Múa nghi lễ (múa thiêng)
Chương III Tranh thờ
Chương IV Văn hóa Đạo Mẫu
Chương V Lễ hội cổ truyền
Giáng bút - nhu cầu cảm ứng trong tâm thức tín ngưỡng của người Việt
Thay lời kết
Một cái nhìn tổng quát
Tài liệu tham khảo
4  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC / Re: [Ebook] VIỆT NAM PHONG TỤC - Phan kế Bính (1915) vào lúc: Tháng Ba 15, 2014, 06:01:15 AM
Sách hay quá, tôi đang cần cuốn này. Xin cảm ơn Tác giả và Diễn đàn.
QLC


Bác muốn dow sách thì đủ 10 bài rồi đấy, dow nhanh đi. Chậm chân thì khỏi dow vì bị xử cái tội Spam đấy nhé
(Một lần bị xử là bị trừ mất 50 bài post, coi chừng pác bị âm luôn!)
5  TIN TỨC / TIN TỨC NÓNG HỔI / Re: HÔM NAY 17.2 ! vào lúc: Tháng Hai 25, 2014, 10:53:39 AM
Chép lại nhật kí lính cũ đánh Tàu


Chẳng hơi đâu mà buồn. Gần thất thập rồi, còn vui được mấy nả. Nhưng cái thời phơi phới thì có cố quên cũng không thể nào quên được. Cái thời, tuổi xuân đang phơi phới thì bị ăn cướp. Ăn cướp tuổi xuân. Ai cướp? Giặc cướp! Giặc nào? Còn giặc nào nữa. Chúng mày cướp thì tao giữ. Mà tao giữ có phải cho riêng tao đâu. Ừ, thì đi đánh giặc. Giặc cứ như Phạm Nhan, cứ chặt đầu này thì nó lại mọc ra cái đầu khác.
 
Lại đánh. Đánh cho đến khi nó nhào thì mình cũng nhão luôn. Tưởng được trút áo lính về nhà dưỡng sức để kiếm tí vợ chứ tuổi đã băm đi băm lại mấy nhát rồi. Nhưng cái đất nước mình chi lạ rứa hè! Phía mô cũng có giặc. Lại ra trận. Lần này thì không Nam tiến hay Tây tiến nữa mà là Bắc tiến! Lần này thì lên biên giới đi đánh cái lũ giặc truyền kiếp là các đồng chí đại Hán núi liền núi sông liền sông.

 Đồng chí đéo gì mà lại kéo quân sang xâm lược và giết hại dân lành của một nước láng giềng, những người đã bao năm nay đổ máu ra đánh Mỹ để cho hơn tỉ dân của các đồng chí được ngủ ngon mà thụi nhau, sát phạt nhau, tranh cướp nhau trong trong khúc ca " tung phang hùng"! Thật xấu hổ cho một quốc gia có nhiều người gọi nhau là đồng chí nhất thế giới. Và sẽ là xấu hổ lây cho những ai gọi nhau là đồng chí mà biết thế nào là xấu hổ.

Ba giờ rưỡi sáng, chiếc xe tải Giải phóng trần truồng không mui không bạt vốn là hàng viện trợ của Tàu chở ban tham mưu trung đoàn 52 chạy gấp ra sân bay Quán Hành để đi tiền trạm cho đơn vị lên biên giới đánh Tàu. Xe chạy ì à ì ạch được một hồi, khi đến ngay trước cổng đền Cuông thì chết máy. Trong lúc cậu Trung lái xe đang mở nắp máy hí hoáy tháo bu ji ra sửa mà mặt tái xanh như đít nhái, thì các sĩ quan tham mưu lại pha trò: " Xe anh mà hỏng bu ji / Thì đừng mó máy gì gì với em".

 Thấy vậy, Phó chính ủy Chu Văn Khại làm công tác tư tưởng bằng cách: " Thôi, các đồng chí tranh thủ ăn cơm nắm đi!" Vừa nghe chưa dứt câu, Trưởng ban tác chiến thượng úy Hoàng Văn Đỏ quặc ngay: " Cơm đâu mà cơm. Bo bo nấu vội chưa chín đây chứ cơm nắm đâu ra!" Mọi người lặng im, không ai thốt nên câu nào nữa. Lác đác vài người nhảy xuống xe tìm chỗ đi tiểu. Mình cũng uể oải nhảy xuống. Nhìn thấy tấm biển bê tông đóng khung sơn đỏ chữ vàng: Di tích lịch sử đã xếp hạng - Đền thờ An Dương Vương, mình vội lên tiếng cảnh báo: " Này, mấy bố ơi, cầm vòi đi nơi khác nha, đền thiêng đấy!" Mình lần theo bậc cấp đi lên cổng đền, định bước qua tam quan vào khấn xin ngài phù hộ cho đánh thắng giặc.

 Nhưng nghĩ lại, xưa ngài đã bị bố con nhà lão thông gia Triệu Đà nó đuổi cho chạy thục mạng, đến đây ngài tuốt gươm chém chết ái nữ Mỵ Châu rồi mang mối hận trầm mình xuống biển. Bây giờ mà khấn ông bại vương này thì đi trận chuyến này mình tỏi là cái chắc. Thôi thì đành mượn cổng đền của quý ngài ngả lưng cái đã chứ đêm qua thức trắng. Bụng đói lại buồn ngủ nên mình thiếp đi lúc nào không biết. ( Nếu mình là cán bộ tuyên giáo thì trong dòng nhật kí này có thể mình sẽ bịa ra là mình ngủ mơ thấy Thục Phán An Dương Vương đến trao cho bảo kiếm và bày cho mấy chiêu để đánh thắng giặc đại Hán! Nhưng may, mình không có mả theo cái nghiệp ấy! Nhưng mà mình vẫn viết:

Trước đền thờ An Dương Vương
Lối xưa lông ngỗng không rơi nữa
Đám bụi Triệu Đà khuất nẻo xa
Bia miệng thế gian ghi vạn thủa
Nhắc cái tội vua chứa rể tà
       

Đến khi nắng chiếu vào chói mặt và cọng thêm cái đói nữa mình tỉnh dậy. Ngó quanh các đồng đội cũng đang lấy mũ cối che mặt nằm ngủ vật vạ trước cổng đền. Theo như điện lệnh của sư đoàn thì bọn mình phải có mặt ở sân bay Quán Hành trước 5 giờ sáng để đúng 5 giờ máy bay cất cánh. Thế mà bây giờ đã gần 9 giờ rồi mà cả bộ sậu chỉ huy và tham mưu vẫn đang nằm ngáp ngủ ngáp đói ở đây. Cậu Trung vẫn chưa sửa được cú pan hiểm hóc của cỗ xe giải phóng Tàu, mặc cho Phó chính ủy, rồi cả trợ lý tuyên huấn đã làm công tác tư tưởng rất bài bản, động viên khích lệ rất mùi nhưng cậu Trung vẫn bó tay.
Còn cái xe Tàu này, nó vốn được tạo ra nơi sản sinh ra hằng hà sa số chính trị viên, chính ủy, chủ nhiệm chính trị và hàng đống hàng kho giấy in sách in và cả phim ảnh băng đĩa những bài giảng về kĩ năng, nghệ thuật và kĩ thuật tuyên huấn. Nghe lắm, đến cái xe vô tri giác kia nó cũng nhàm ba cái trò gọi là động viên chính trị. Đã mấy lần anh em xúm nhau chổng khu mà đẩy nhưng cái xe Tàu vẫn lì lợm không chịu nổ máy. Bụng đói, mắt tóa hoa cà hoa cải, đám sĩ quan và mấy cậu vệ binh ngao ngán lắc đầu.

May sao có chiếc xe tải đi cùng chiều ghé lại rồi móc cáp kéo giúp cho một quãng thì cái xe Tàu hộc lên mấy tiếng như vãi rắm phun ra đám khói đen rồi máy nổ đều. Lúc này mọi người mới ớ ra bởi cái trớ trêu nhãn cảnh. Ấy là cái xe kéo giúp kia là xe GMC vốn là xe nhà binh của Mĩ, chắc là chiến lợi phẩm hồi 75. Thật là khôi hài, xe Mĩ kéo xe Tàu cho ta lên đường đi chống cuộc xâm lăng của các đồng chí Trung Hoa!

Ngược với mấy năm trước, các đồng chí Trung Hoa dúi AK và đong gạo cho ta đánh cái quân xâm lược mà chưa bao giờ ta mắc mưu gọi chúng là đồng chí, vì đó là giặc Mĩ. Ta chưa bao giờ mắc mưu Mĩ. Nhưng mắc mưu các đồng chí Trung Hoa thì nỏ đứa mô giám nói là không. Xe đến sân bay lại càng ngao ngán. Sân bay như một vùng hoang mạc. Từng đợt gió mùa thổi mạnh trên đường băng làm cho những ngọn cỏ vốn đã xơ xác héo khô không sức sống càng cúi rạp xuống chịu đựng đến thảm thương. Lác đác vài ba chục bước lại một đám sĩ quan và lính kẻ nằm người ngồi uể oải trên cỏ hoang, có anh ngủ vùi, có anh nằm ngửa nhìn lên bầu trời phủ dày mây xám.

 Thấy các đơn vị bạn nổi lửa bắc nồi, mấy cậu vệ binh 52 cũng đi kiếm củi nấu cơm. Hỏi, gạo đâu ra mà các cậu nấu cơm? Đáp, gạo dân cho chứ đâu! Biết bọn em nhận bo bo để đi trận, các mẹ các chị bí mật trút hết bo bo của lính trong ruột tượng ra rồi thay gạo trắng vào đó. Đến khi ra xe chúng em mới biết. Bưng bát cơm nóng hổi lên, từ quan đến lính đều im lặng, một sự im lặng thành kính thiêng liêng. Bỗng trên sân bay có tiếng còi lệnh gọi tập trung. Trung tá Tiếp thay mặt phòng chính trị sư đoàn phổ biến nghị quyết đảng ủy với mấy câu khẩu hiệu ngắn gọn: quyết tâm chiến đấu giữ vững trận địa, tiêu diệt quân giặc bành trướng xâm lược, bảo vệ vững chắc biên giới của tổ quốc.

 Tiếp đến, trung tá Tiếp thông báo tin chiến thắng, ngày hôm qua không quân ta bắn rơi và bắt sống nhiều máy bay của địch. Trong khi mình chăm chú ghi chép đầy đủ những thông tin quan trọng này thì có người hỏi, nhiều chiếc là bao nhiêu và máy bay địch là loại máy bay gì ạ? Không nghe tiếng trả lời. Mình cũng ghi vào nhật kí: không nghe tiếng trả lời. Độ khoảng 13 giờ thì nghe tiếng máy bay. Mọi người nhỏm cả dậy và hướng lên bầu trời hướng đông bắc. Tiếng máy bay rõ dần, rồi thấy cái chấm đen mốc trên trời to dần.

 Thì ra con chuồn chuồn MI 8. MI 8 thì chở sao hết chừng này lính. Đếm ít cũng phải cả trăm. Cuối cùng theo lệnh của ban chỉ huy hành quân thì đoàn của E 52 mình lên máy bay đầu tiên không sót một ai, kể cả sĩ quan, lính vệ binh, y sĩ, y tá, anh nuôi với đầy đủ soong nồi xủng xoảng. Sư đoàn bộ chỉ có ban tác chiến và một số cán bộ tham mưu được lên máy bay. Còn lại hầu hết cán bộ sĩ quan sư đoàn bộ và đoàn của E 92 do E trưởng thiếu tá Phổ dẫn đầu phải ở lại đi chuyến sau.

Dù rất khẩn trương và nghiêm cẩn nhưng mình cảm thấy cái thời điểm máy bay chuẩn bị và cất cánh sao mà nó dài thế. Cứ mỗi giây, mỗi giây, nó tra tấn thần kinh và tình cảm những người con sắp rời mặt đất lên trời, rời mảnh đất quê hương thân yêu lên đường ra trận. Mình nhìn sang các đồng đội, anh nào mặt mày cũng căng thẳng và có nét thểu não. Anh nào cũng trên ba bốn chục tuổi cả rồi. Anh nào cũng xuất thân bần cố nông thành phần cơ bản cả.

 Sau chiến tranh anh nào giỏi lắm thì báo hiếu cho bố mẹ được chiếc áo tấm khăn, cho vợ được cái khung xe đạp, cho con gái được con búp bê. Rồi hôm nay lại đi. Đi mà không kịp viết lấy một dòng, nhắn lấy một lời với những người thân yêu. À, mà các anh đã có vợ, có con rồi, tức là có tất cả rồi. Còn tôi, tôi đã ngoài ba mươi cái xuân thời rồi mà đã có chi mô. Nếu lúc này mà nói tếu được một câu cho đỡ phần chua chát, rằng nếu trận này tôi có chết thì đất nước tội nghiệp này sẽ bớt đi một vòng khăn tang trên đầu một chinh phụ góa chồng. Nhưng tôi vẫn còn có gia đình, bố mẹ, anh chị em ruột và các cháu gọi tôi bằng bác cả.

 Bố mẹ tôi sinh ra được mười người con, tôi là con trai cả. Trong chiến tranh chống Pháp, bố tôi là chiến sĩ Điện Biên, mẹ tôi không trực tiếp cầm súng nhưng cũng đã từng làm y tá cứu thương. Và trong các cuộc chiến kế tiếp, bố mẹ tôi trao cho đất nước này sáu thằng con cầm súng thì một thằng liệt sĩ, bốn thằng thương binh. Tôi ra trận cũng vì sau lưng tôi còn có cả một gia đình lớn gắn số mệnh với vận mệnh một đất nước ít được hưởng yên bình, thời mô cũng có giặc, thời mô cũng nghèo, nghèo hơn những nước ít bị có giặc. Không biết vì răng? vì mô?

Rồi cũng đến lúc cái con chuồn chuồn MI 8 dù lưu luyến lắm, bịn rịn lắm cuối cùng cũng nhấc mình rời khỏi bãi cỏ vàng úa sân bay Quán Hành. Nhưng mà sao máy bay không bay ra hướng Bắc mà nó vòng vào thành phố Vinh. Nó giảm dần độ cao. Nó bay thấp đến mức cho mình nhìn thấy rõ ga Vinh, bến xe, rồi kia rạp chiếu bóng 12/9, thấy rõ người đi đường. Có rất nhiều người chạy ra khỏi nhà nhìn lên giơ tay vẫy vẫy. Và nhà mình kia rồi, mái nhà nửa ngói cũ nửa giấy dầu, vườn rau, ao cá, cái sân nhỏ sao vắng lặng.

 Bố mẹ ơi, con đây, các em ơi, anh đây, các cháu ơi, thằng Hưng, thằng Hiệp, con Thúy, con Quỳnh ơi, bác Trường đây. Bố mẹ ơi, các em các cháu ơi, con đi rồi con sẽ về. Nhớ mùa hạ năm 1972, trên đường vào Quảng Trị mình cũng được chạy ghé về nhà vài phút chỉ để chào tạm biệt căn nhà trống vắng vì bố mẹ và các em đã đi sơ tán cả rồi. Máy bay vòng qua chợ Vinh rồi tăng dần độ cao bay ra hướng bắc. À, đúng rồi, cậu phi công này chắc là quê nó cũng ở thành phố Vinh. Chắc nó quay vòng vào đây để chào tạm biệt người thân nên mình cũng may mắn hưởng ké.

Khi máy bay hạ cánh giữa đường băng bê tông, hỏi mới biết đây là sân bay Kép. Rời cái bụng của con chuồn chuồn MI 8, bọn mình phong phanh áo lính xuân - hè lảo đảo vừa dựa vào nhau vừa bước. Gió bấc rít từng hồi trên đường băng. Bỗng thượng úy Đỏ hốt hoảng vừa kêu vừa quay lại máy bay: quên, quên khẩu B40! Rất may Đỏ còn kịp lấy lại được vật bất ly thân, nhưng vội với tay cầm dốc ngược nên làm đổ hết nước điếu ra đường băng làm cho cả phi hành đoàn và mấy phi công đang trực chiến được bữa cười thoải mái.

 Đã vậy, Đỏ còn tỏ vẻ không hài lòng và nói, đi máy bay này xóc và ồn bỏ mẹ. Chứ trước đây tớ bay loại kia kìa, êm ru. Thấy Đỏ chỉ cái Mic 21, biết cái thóp của Đỏ, mình hỏi ông đi cái máy bay ấy nó chở được mấy người? Đỏ đáp, hơn ba chục. Mình bắt bài ngay, bốc vừa thôi ông ơi, cái đó là MIC 21 làm sao mà chở được ba chục người. Nhờ tràng tiếng cười của chuyện tếu và nghe tiếng trọ trẹ Xứ Nghệ của bọn mình mà đám phi công quàng chăn chiên ngồi trực chiến dưới cánh máy bay MIC 21 nhận ra đồng hương và gọi, các đồng hương ơi, xách B40 lại đây cho bọn tui bắn nhờ một điếu với.

Bọn mình ùa tới vây quanh mấy chàng phi công cao to đẹp trai. Vừa phà khói thuốc, cậu phi công nói: biết các anh lên tuyến trước là bọn tui yên tâm rồi. Tuyến trước mỏng lắm. Sân này là sân tiền tiêu, cách biên giới và cách thị xã Lạng Sơn không xa đâu. Như một phản xạ, mình vội lôi ngay quyển sổ ghi những dòng ban sáng ở Quán Hành ra hỏi liền: nghe nói hôm qua không quân ta bắn rơi và bắt sống nhiều máy bay của không quân Trung Quốc, vậy... mình đang định hỏi thì cậu phi công cắt ngang liền: bốc phét, làm gì có. Thằng Tàu chưa dùng không quân. Mà không quân ta cũng chưa có xuất kích. Nếu có thì chúng tôi sẽ được quân chủng thông báo ngay. Mình nhìn sang thấy trung tá Tiếp cũng đang nhìn mình với ánh mắt thấy tội tội.
.........
Những lúc buồn lại mở nhật ký lính cũ đánh Tàu ra đọc. Đọc để mà nhớ, nhớ tuổi xuân, nhớ đồng đội, nhớ những ngày đáng nhớ.

Tháng Hai năm nay im lìm như... 35 cái tháng Hai kể từ ngày lên đánh Tàu ở Khánh Khê. Ngày đó, đang đánh nhau thì nghe radio từ Hà Nội đọc ra rả suốt ngày ca ngợi chiến công của chiến sĩ Đoàn Khánh Khê Anh hùng đã dũng cảm kiên cường chặn đứng và đánh lui quân Trung quốc xâm lược trên trận tuyến biên giới Lạng Sơn. Hỏi đồng đội, Đoàn Khánh Khê Anh hùng là đoàn nào? liền bị anh em chê mình "âm lịch".

 Té ra Đoàn Khánh Khê Anh hùng chính là đơn vị mình F 337, mà E mình là E 52 - mang danh Đoàn Tây Tiến thế hệ đàn em, đàn cháu của nhà thơ lính tài hoa Quang Dũng. Bọn mình trận đầu vừa mới tử thủ ở Khánh Khê. Mấy bữa sau, nhân đi họp quân chính trên F, hỏi mấy cha tuyên huấn rằng F ta được Anh hùng sao không thấy ăn mừng khao quân cho anh em được bữa ăn tươi? Mấy cha tuyên huấn lại nói mình đúng là "âm lịch"! Người ta nói mồm chứ có ai quyết định phong anh hùng cho F 337 ta mô! Mà mồm + ( cọng) với mồm là = ( Bằng ) không!

Rứa mà đã 35 năm rồi, hơn một phần ba thế kỷ rồi! Không biết người ta đã lấy được hết tử sĩ trên bình độ 400 chưa? À, mà sư đoàn còn nợ cái vụ bia mộ chí liệt sĩ Dương Xuân Thủy hi sinh trong trận Khánh Khê hồi tháng Hai năm 1979. Sau đó mấy tháng, Viện 108 có điện về trung đoàn 52 đề nghị cử người đưa tiền ăn và tem gạo cho thương binh Dương Xuân Thủy. Lính Thông tin E52 truyền cho nhau trên điện thoại, trên bộ đàm sóng ngắn và cực ngắn từ 2 wat đến 15 wat và cả tuyền mồm nữa, tin Dương Xuân Thủy đang nằm ở viện 108. Rứa là Thủy còn sống?

Rứa thì liệt sĩ nào nằm dưới mộ có cái bia ghi tên Binh nhất Dương Xuân Thủy? Tháng 10.1981 mình rũ bụi chiến hào bình độ 400, rời quân ngũ về với đời thường. Tháng 9.2005 có dịp về Vinh, cùng mấy đồng đội cũ đến thăm Dương Xuân Thủy. Thủy ngồi xe lăn, vẫn nhận ra mình. Nhiều chuyện lính trận ôn lại, nhưng một câu hỏi mà bọn mình không nỡ nhắc lại với Thủy, vì không có ai chịu trách nhiệm trả lời: ai là người nằm dưới tấm bia mộ có ghi tên Binh nhất Dương Xuân Thủy?

Nhớ đồng đội, ngẫm thân phận mình, thế hệ mình, cái thời xuân của mình lại thương cho đất nước giống nòi mình. Một đất nước mà thời mô cũng có giặc. Giặc mô mà lắm rứa. Ngoại xâm có, nội xâm có, viễn xâm có, cận xâm có, thượng xâm có, mà hạ xâm cũng có. Kể cả tung xâm, hoành xâm. Xâm ba chiều. Giặc như vi trùng trong không khí, chỗ mô cũng có giặc.

 Với cái gọi là lập trường kiên định, luôn luôn đề cao cảnh giác cách mạng, chống diễn biến hòa bình và luôn đề phòng các thế lực thù địch. Mình không chức không quyền, không bổng lộc, không cổ phần cổ phiếu, không tài khoản nước ngoài nước lạ, không lời không lãi, không nợ tình nợ tiền, không gây thù chuốc oán với ai, không giết người, không cướp của, không giành chức đoạt quyền, không luồn lọt, không tham nhũng, không phạm pháp, không phá hoại môi trường, không bè phái chia rẽ mất đoàn kết thì mình đéo sợ thằng đếch nào, dù nó là thứ giặc gì, giặc mang áo gì, nhãn mác gì, thậm chí cả những thằng giặc mà một thời mình đã lỡ mồm gọi nó là đồng chí!

Tháng Hai, 2014
Trường An Vina Nhút
Võ Chí Trường
http://chimvie3.free.fr/54/vochitrn054_NhatKi1979DanhTau.htm
6  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / Re: Lễ - của Khổng Tử và Nho gia vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2013, 04:03:26 AM
Chẳng biết hỏi ở đâu, thôi hỏi ké ở đây vậy.

Nhân chuyện bão Hải Yến tàn phá Philipin. Các nước hỗ trợ nhân đạo rất nhiều, trong lúc bão đang tràn vào Việt Nam thì Việt Nam cũng gồng mình lên cứu nạn cho nước bạn 100K usd hàng hóa. Thế nhưng, đám con cháu của Khổng Tử vỗ ngưc xưng bá xưng hùng bấy lâu nay thì im như thóc. Và giờ đây mới dám rụt rè cho 100K usd. Lập tức dân tình phản đối rằng không nên viện trợ cho kẻ thù địch, dân chúng ta còn đói, nhiều trẻ em vẫn chưa đủ ăn đủ mặc..

Trích dẫn
"Trung Quốc có rất nhiều khu vực nghèo khó cần sử dụng tiền viện trợ", một người ký danh C_Q77 viết trên phần ý kiến độc giả của Thời báo Hoàn Cầu, "Nhiều trẻ em Trung Quốc còn đang đói và không đủ quần áo mặc, tại sao chính phủ (Trung Quốc) phải giả vờ làm người tốt với các nước khác khi người dân nước mình còn khổ."

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Hoan-Cau-TQ-nen-giup-Philippines-luc-nay-de-giu-the-dien-quoc-te/325021.gd

Nhân chuyện này lại nhớ đến chuyện kinh điển trong sách Nho. Có người hàng xóm qua bạn xin củ hành nắm dưa hay nước mắm gì đấy, mà nếu bạn không có thì từ chối là không có đừng ra vẻ đạo đức, người tốt mà lại chạy sang nhà hàng xóm khác xin đem về cho lại người vừa xin bạn. Khổng Tử dạy như thế rồi, nên ngày nay hậu duệ của ngài phản ứng như thế. Có đúng vậy không?

Xin được giải đáp
7  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VIỆT NAM DANH THẮNG / Re: Những di tích kỳ bí vào lúc: Tháng Mười 25, 2013, 06:06:30 AM
Bài 5: Khu lăng mộ bí ẩn

Khu di tích Gò Lăng (ở thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, H.Tây Sơn, Bình Định) được các nhà nghiên cứu và người dân địa phương nghi ngờ là khu lăng mộ của nhà Tây Sơn.

Ông Mai Văn Châu bên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn đang bị hoang phế

Lăng mộ 'ông nội vua nước Việt'

Đầu năm 2013, trong lần trở lại viếng lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn (ở thôn Phú Lạc) - ông nội của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn (90 tuổi, ở TP.Quy Nhơn, Bình Định) đã bật khóc khi chứng kiến cảnh hoang phế. Theo cụ Liễn, dù đã được phát hiện hơn 20 năm qua, nhưng ngành văn hóa tỉnh Bình Định ngoài việc công nhận là di tích cấp tỉnh vào cuối năm 2012 vẫn chưa có động thái nào đáng kể trong việc trùng tu, bảo vệ ngôi mộ cổ này.

Tháng 4.1990, trong quá trình đào đất đắp đường, người dân địa phương phát hiện được một tấm bia mộ làm bằng đá (cao 125 cm, rộng 68,5 cm, dày 13 cm) nằm sâu dưới đất ruộng ở làng Phú Lạc. Trên tấm bia có 3 dòng chữ Hán, được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đọc và dịch nghĩa. Dòng chính giữa có 15 chữ lớn đọc là “Việt Cố Hoàng Hiển Tổ Khảo Cang Nghị Mưu Lược Minh Triết Công Chi Lăng”, nghĩa là: Lăng mộ ông nội đã qua đời của nhà vua nước Việt, ông là một vị minh triết, mưu lược, cương nghị. Dòng chữ nhỏ bên phải đọc là “Tuế thứ Kỷ Hợi Trọng Xuân Cốc Nhật”, nghĩa là: Ngày lành tháng hai năm Kỷ Hợi. Dòng chữ nhỏ phía trái là “Ngự Chế”, nghĩa là: Nhà vua lập bia.

Tấm bia này được xác định là của ngôi mộ cổ cách đó khoảng 15 m. Ngôi mộ cổ nằm trên một gò cao khá rộng, chung quanh là ruộng lúa, chính giữa chân mộ còn dấu vết chỗ cắm bia đã bị gỡ từ trước. Mộ có 2 vòng thành trong, vòng ngoài, giữa hai vòng cách nhau 60 cm, cách mộ chừng 4 - 5 m còn dấu vết một vòng thứ ba. Ngôi mộ cổ này nằm cách di tích Gò Lăng, nơi có nền và vườn nhà của ông bà Hồ Phi Tiễn và bà Nguyễn Thị Đồng (được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988) khoảng 500 m.


Tấm bia trên lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn - Ảnh: Hoàng Trọng

Qua nghiên cứu tấm bia và nhiều tư liệu lịch sử khác, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn xác định ngôi mộ cổ là lăng mộ của ông Hồ Phi Tiễn. Lăng mộ này do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc xây dựng vào năm 1779 (năm Kỷ Hợi), sau khi lên ngôi hoàng đế chừng mấy tháng. Tổ tiên của Nguyễn Nhạc là ông Hồ Phi Long, từ xứ Nghệ vào Bằng Châu (Bình Định) phối hôn với bà họ Đinh (người Bằng Châu) sinh ra ông Hồ Phi Tiễn. Ông Tiễn lên Phú Lạc buôn trầu, hôn phối với bà Nguyễn Thị Đồng (con một gia đình giàu có ở Phú Lạc) rồi cất nhà ở luôn bên vợ.

Ông Tiễn và bà Đồng sinh được một con trai là Hồ Phi Phúc, về sau đổi họ thành Nguyễn Phi Phúc. Ông Nguyễn Phi Phúc hôn phối với bà Mai Thị Hạnh (tức bà tổ cô của Mai Xuân Thưởng), sinh hạ được ba con trai là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. “Lý do đổi họ Hồ thành họ Nguyễn không phải vì nguyên nhân chính trị như lâu nay người ta nói mà chính vì lý do kinh tế. Bà Nguyễn Thị Đồng là con gái độc nhất của gia đình, để đủ tư cách kế thừa hợp pháp món gia tài của cha mẹ bà để lại nên bà Đồng bàn với ông Hồ Phi Tiễn đổi họ con từ Hồ thành Nguyễn, nghĩa là theo họ mẹ. Nhiều ý kiến nói bà Đồng là mẹ của 3 anh em nhà Tây Sơn là không chính xác, phải là bà nội mới đúng”, cụ Vũ Ngọc Liễn khẳng định.

Còn nhiều lăng mộ chưa phát hiện ?

Di tích lăng mộ ông Hồ Phi Tiễn và di tích Gò Lăng hiện do ông Mai Văn Châu (62 tuổi, ở thôn Phú Lạc) trông coi. Ông Châu là con cháu dòng họ của bà Mai Thị Hạnh. Theo ông Châu, gia đình họ Mai dời đến ở tại khu vực Gò Lăng đã hơn 4 đời. Khi mới đến, khu vực Gò Lăng vốn bỏ hoang, cây cối rậm rạp, trong quá trình phát dọn thì họ Mai phát hiện được ngôi mộ cổ mà sau này được xác định là của ông Hồ Phi Tiễn. Người họ Mai tự nguyện trông coi và chọn ngày mồng một tết cúng cơm ngôi mộ, tục lệ này tồn tại cho đến ngày nay. “Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã nghe các cơ quan chức năng có kế hoạch trùng tu ngôi mộ của ông (cụ Hồ Phi Tiễn - PV) nhưng đâu thấy động tĩnh gì. May mà người dân chúng tôi rất có ý thức bảo vệ mộ ông chứ không thì nó sẽ bị xâm hại, xuống cấp hơn nữa”, ông Châu nói.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, ngôi mộ ông Hồ Phi Tiễn là ngôi mộ duy nhất của dòng họ nhà Tây Sơn còn tồn tại cho đến ngày nay. Ngôi mộ này đã tránh được những đòn trả thù tàn bạo của vua Gia Long Nguyễn Ánh là nhờ người thời đó có công chôn giấu bia mộ một cách chu đáo. Hiện tấm bia này đã được mang về Bảo tàng Quang Trung để lưu giữ, trưng bày. “Xung quanh khu vực Gò Lăng có thể còn nhiều ngôi mộ cổ khác liên quan đến dòng họ nhà Tây Sơn nhưng đang bị vùi lấp dưới đồng ruộng cũng nên. Dân gian lưu truyền địa danh Gò Lăng mà chỉ có một lăng mộ và một cái miếu cổ nhỏ bé gọi là miếu Gò Lăng thì cũng hơi vô lý. Lăng mộ của cụ Hồ Phi Tiễn ở đây còn lăng mộ của bà Nguyễn Thị Đồng ở đâu? Khu di tích Gò Lăng phải được tiếp tục đầu tư nghiên cứu”, cụ Vũ Ngọc Liễn nói.

Trích dẫn
Tại gò Thỏ (ở thôn Vĩnh Long, xã Cát Hanh, H.Phù Cát, Bình Định), có ngôi mộ “Bà Vua” được xác định là mộ bà Nguyễn Thị Bích, thứ phi vua Quang Trung. Trước kia, mộ "Bà Vua" chỉ là một nắm đất nhỏ, không bia, không rõ danh tính, nhưng họ Nguyễn ở xã Cát Hanh vẫn tổ chức cúng giỗ hằng năm. Năm 1997, sau khi tra cứu gia phả, các nhà sử học khẳng định bà Nguyễn Thị Bích là vợ vua Quang Trung. Theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung (Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế - 2003) của TS Đỗ Bang, bà Bích, quê ở Mỹ Chánh (xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị), mất ngày 10 tháng 9, mộ táng tại gò Thỏ, thôn Vĩnh Ân (nay là thôn Vĩnh Long). Sau khi nhà Tây Sơn mất, bà Bích đến nương náu nhà người anh tên Nguyễn Văn Tuấn. Ông Tuấn làm quan thơ lại ở cửa biển Đề Gi và sống ở quê vợ tại thôn Vĩnh Ân.

Theo Thanh Niên
8  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VIỆT NAM DANH THẮNG / Re: Những di tích kỳ bí vào lúc: Tháng Mười 25, 2013, 06:02:42 AM
Bài 4: Tường thành cổ dưới biển

Đầm Thị Nại (tỉnh Bình Định) là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt, quyết định số phận của các vương triều như: Chămpa, Tây Sơn, triều Nguyễn...

Bờ thành ở vùng biển Nhơn Hải được nhìn thấy khi thủy triều xuống - Ảnh: Ngọc Nhuận

Vùng biển gần bờ xã Nhơn Hải (TP.Quy Nhơn) tồn tại một bờ thành chìm trong lòng biển, chỉ nhìn thấy khi thủy triều xuống. Bờ thành này nối liền vách đá thôn Hải Nam ra đến đảo Hòn Khô của thôn Hải Đông. Bề mặt thành phẳng, rộng hơn 10 m, độ cao của thành chưa xác định được. Những ngư dân làm nghề thợ lặn khẳng định bờ thành này không xây bằng đá hoặc gạch mà bằng hồ vữa đặc nguyên khối.

Thôn Hải Giang (cách bờ thành nói trên hơn 5 km) cũng có bờ thành chìm dưới lòng biển, thủy triều xuống sẽ nhìn thấy đoạn dài hơn 3 km ở gần bờ, người dân địa phương gọi là Rạng Cầu. Hai đoạn bờ thành này có kết cấu giống nhau, nên nhiều người cho rằng đó là một tường thành kéo dài. Tuy nhiên, không ai tính chính xác tường thành này dài đến đâu và được xây dựng từ thời nào.

Vùng núi thôn Hải Giang lại có một lũy đá kéo dài, bao quanh đỉnh núi Tam Tòa (thuộc hệ thống núi Phương Mai) của khu vực Hải Minh (P.Hải Cảng, TP.Quy Nhơn). Lũy được xây dựng bằng cách xếp chồng những viên đá núi có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở những nơi còn nguyên vẹn, chiều cao của lũy đá khoảng từ 1 - 1,5 m, đáy rộng 2 m, bề mặt rộng 1,2 m.

 Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, bờ thành Nhơn Hải và lũy đá trên núi Tam Tòa là những công trình phòng thủ khác nhau. Theo thư tịch cổ để lại thì người Chămpa xây dựng 4 thành lớn tại Bình Định gồm: Thị Nại (H.Tuy Phước), Đồ Bàn (TX.An Nhơn), Chas (TX.An Nhơn), Uất Trì (H.Tây Sơn) và một số thành nhỏ khác. Nhưng đến nay vẫn chưa phát hiện có tư liệu nào nhắc đến bờ thành được xây dựng ở vùng biển Nhơn Hải. “Bờ thành ở Nhơn Hải là một di tích rất lạ, tường thành nằm dưới nước hàng trăm năm qua vẫn còn nguyên vẹn chứng tỏ kỹ thuật xây dựng của người Chămpa rất độc đáo”, TS Hòa nói.

Theo TS Đinh Bá Hòa, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ có ghi chép vào tháng 8 năm Canh Tý (1840), vua Minh Mạng cho xây dựng pháo đài Hổ Ky ở cửa biển Thị Nại, chính quyền địa phương đã huy động trên 500 dân phu tham gia xây dựng. Sau lưng pháo đài Hổ Ky, trên đỉnh núi Phương Mai là một hệ thống thành lũy yểm trợ, được xây dựng tại 2 nơi riêng biệt là gò Vũng Tàu và gò Kinh Để. Phòng tuyến gò Kinh Để có nhiệm vụ ngăn không cho quân địch tiến từ sườn phía đông để tấn công pháo đài Hổ Ky vào phía bên trong cửa Thị Nại. Còn phòng tuyến gò Vũng Tàu để ngăn quân bộ tấn công mặt tây của pháo đài Hổ Ky và chiếm cửa biển Thị Nại.

Những trận thủy chiến nổi tiếng

Đầm Thị Nại là cửa ngõ ra vào Bình Định bằng đường thủy nên triều đại nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ để trấn giữ. Thời Chămpa có xây thành Thị Nại, tháp Bình Lâm. Thời Tây Sơn, thủy quân cũng đóng bản doanh tại đầm Thị Nại và núi Tam Tòa. Thành Thị Nại đóng vai trò là tiền đồn bảo vệ cho kinh đô Đồ Bàn của Chămpa nên các cuộc tấn công bằng đường thủy thường nhắm vào thành này.

Trận thủy chiến đầu tiên tại thành Thị Nại được sử sách ghi lại là trận chiến chống quân Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy xâm lược Chămpa vào cuối năm 1282. Thủy binh do Toa Đô chỉ huy tiến đánh thành Thị Nại quá mạnh, quân Chămpa phải rút lui.

Khoảng thời gian từ năm 1792 - 1801, thủy quân của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đã có 5 lần giao chiến tại đầm Thị Nại. Các trận năm 1792, 1793, thủy quân Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại nhưng đều phải lui binh. Lần thứ 3, năm 1799, đại quân Nguyễn Ánh vượt qua được cửa Thị Nại, đánh chiếm luôn thành Hoàng Đế (cũng là nơi xây dựng thành Đồ Bàn cũ). Năm sau, quân Tây Sơn từ kinh thành Phú Xuân (Huế) do Trần Quang Diệu chỉ huy vào đánh lấy lại được Thị Nại rồi giao cho Võ Văn Dũng trấn thủ, sau đó kéo quân vây đánh thành Hoàng Đế.

Năm 1801, Nguyễn Ánh cho đại binh ra đánh Thị Nại nhằm giải vây cho thành Hoàng Đế. Đây là trận đại chiến lớn nhất từ trước đến nay tại đầm Thị Nại. Trong sách Nhân vật Bình Định, tác giả Đặng Quý Địch dẫn lại tư liệu của ông Barizy (một người ngoại quốc có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh tấn công Thị Nại) khẳng định quân Tây Sơn tại cửa Thị Nại gồm có 557 tàu chiến lớn nhỏ, 1.827 đại bác các cỡ và 53.250 thủy quân. Thủy quân của nhà Nguyễn có 91 thuyền chiến, 91 đại bác, 10.400 lính và lực lượng rất đông quân bộ ở Phú Yên tấn công ra.

Theo ông Barizy, quân hai bên đánh nhau rất dữ dội vào đêm rằm tháng giêng năm Tân Dậu (1801). Quân Nguyễn tập kích rất bất ngờ, đốt rất nhiều thuyền chiến của quân Tây Sơn. Các thuyền chiến và pháo hạm hai bên cầm cự đến chiều ngày 16 tháng giêng thì quân Tây Sơn bị vỡ trận, Võ Văn Dũng dẫn thủy quân rút lui. Trận này, 4.000 quân của Nguyễn Ánh bị tử thương, thuyền quân Tây Sơn bị đốt gần hết. “Lũy đá cổ trên núi Tam Tòa đã được nhắc đến trong sử sách triều Nguyễn nhưng có thể đã có từ các triều đại trước và nhà Nguyễn cho xây dựng lại. Cuối thế kỷ 18, quân Tây Sơn đã thiết lập đồn, đặt đại bác ở núi Tam Tòa, khống chế cửa biển Thị Nại. Ngày nay, người dân và các cơ quan chức năng đã trục vớt 14 khẩu súng thần công tại đầm Thị Nại là những chứng tích còn lại của trận thủy chiến giữa quân Tây Sơn và quân nhà Nguyễn. Chắc chắn trong khu vực đầm Thị Nại còn rất nhiều dấu tích liên quan đến những trận chiến này nên cần phải được nghiên cứu thêm”, TS Đinh Bá Hòa nói.


Trích dẫn
“Thị Nại có âm gốc tiếng Chămpa gọi đầy đủ là Thi Lị Bi Nại, tên phiên âm chữ Cri-Banoi là tên hải cảng của Vương quốc Chămpa. Thời Chămpa và thời Tây Sơn, Thị Nại có vai trò rất quan trọng, vừa là quân cảng và vừa là thương cảng rất sầm uất”.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn (TP.Quy Nhơn, Bình Định)

Theo Thanh Niên
9  Nho Gia Tư Tưởng Học / NHO - KHỔNG LUẬN TÔNG / Re: Lễ - của Khổng Tử và Nho gia vào lúc: Tháng Mười 25, 2013, 05:54:27 AM
Về Tiên học lễ - Hậu học văn
Theo học giả Nguyễn Dư thì câu khẩu hiệu này thời xưa của Nguyễn Dư đã có thập niên 40 thế kỉ trước, còn xưa nữa thì chưa biết bắt đầu từ lúc nào:

Trích dẫn
Thật bất ngờ ! Đang lang thang, dạo chơi tại Nha Trang bỗng thấy câu " Tiên học lễ, hậu học văn " được chăng tại sân chơi của một trường học. Lâu lắm rồi mới thấy lại câu nói của thời xa xưa. Xưa ơi là xưa. Xa lắc xa lơ. " Tiên học lễ, hậu học văn " dắt tôi về thăm lại cái lớp năm trường tiểu học Quang Trung năm 1949-1950 ngoài Hà Nội.
Và thời điểm đó thầy cô dạy gì về câu khẩu hiệu này:
Trích dẫn
Buổi học đầu tiên, thầy Ân cầm thước chỉ vào câu " Tiên học lễ, hậu học văn " dán phía trên cái bảng đen. Rồi thầy giảng nghĩa. Cả lớp há hốc mồm ngồi nghe. Giảng xong, thầy gõ thước xuống bàn, dặn cả lớp :

- Ở nhà phải lễ phép với bố mẹ, ra đường phải lễ phép với mọi người. Học lễ phép trước, rồi mới học những cái khác. Nghe chưa?

Và Nguyễn Dư dựa vào lời của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục mà kết rằng ngày xưa cũng đã có kẻ xấu lợi dụng câu Tiên học lễ hậu học văn:
Trích dẫn
" Tiên học lễ, hậu học văn " ngày xưa đã bị nhiều người xấu lợi dụng.

- Người ta ở đời nhờ có cha mẹ sinh ra mình, lại phải nhờ có thầy dạy cho mình thì mình mới khôn biết việc này việc nọ, mới nên con người, cho nên học trò ở với thầy cũng như con ở với cha mẹ, ấy cũng là một mối luân thường của Á Đông ta.

Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở. Kìa như các bực đáng mặt mô phạm, có công dạy dỗ, có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành. Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trướng, gõ đầu năm ba đứa để hộ khẩu cho qua đời. Vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo, động một tí thì bổ cho đồng môn, nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy có việc mừng vui, nào khi thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là cái mọt của thiên hạ.

Mấy thầy khôn vặt, sinh sống bằng nghề bắt nạt học trò. Thật đốn mạt ! Con sâu làm rầu nồi canh.

Rồi tiếp tục băn khoăn, ra điều không hiểu về câu Tiên học lễ - Hậu học văn là như thế nào mà sao Nguyễn Công Hoan lại chửi vua, gọi vua Khải Định bằng :

Trích dẫn
Người ta không biết rõ Nguyễn Công Hoan hồi nhỏ được các thầy dạy dỗ ra sao. Đến lượt chính mình đi dạy học thì thầy Hoan dạy dỗ học trò những gì ? Người ta chỉ biết Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có tài, tác giả của rất nhiều truyện ngắn, truyện dài nổi tiếng.

Sau này Nguyễn Công Hoan có dịp viết hồi kí. Thể loại khác, bút pháp cũng đổi khác. Viết hồi kí Nguyễn Công Hoan hay dùng lối nói đốp chát thẳng thừng, có lúc quên cả " Tiên học lễ, hậu học văn ". Điển hình là một đoạn viết liên quan đến lịch sử nước ta :

- Khải Định là một thằng vô học, chỉ chơi bời. Năm 1919, nó đã " ngự giá Bắc tuần ".

Nó nghĩ ra cách ăn mặc rất ngộ nghĩnh : Vàng từ đầu đến chân.

Nón lợp vải vàng, có đính long ly quy phượng bằng vàng. Khăn vàng. Áo màu vàng, thêu kim tuyến, ngắn trên đầu gối.

Hai vai đeo ngù quan binh Pháp bằng vàng. Thắt lưng to bản giát vàng. Ghệt đính vàng. Giày tây da vàng, có gài cái sắt thúc ngựa bằng vàng. Tay đeo bốn chiếc nhẫn vàng mặt đá màu lớn.

Ra Hà Nội, nó ngồi cùng xe với toàn quyền Sa-rô. Mình cứ tưởng đống rơm, không biết là người.

(...)

Nó ra Bắc để ký nhường cho Tây Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng làm nhượng địa
".

Trong cùng cuốn sách, ở một trang khác Nguyễn Công Hoan lại viết "Ngộ nghĩnh nhất là bộ quần áo nó (chỉ vua Khải Định) mặc ra thăm Bắc Kỳ năm 1917, gọi là ngự giá Bắc tuần ".

Và cuối cùng bỏ lửng một vấn đề như sau:
Trích dẫn
Nhiều phụ huynh trẻ ngày nay bỡ ngỡ trước câu " Tiên học lễ, hậu học văn ". Ta đã mất nhiều thời gian, nhiều thế hệ mới phá bỏ được tàn tích của phong kiến. Bây giờ lại có người muốn đi giật lùi sao?

Không ai muốn đi giật lùi đâu. Phải tiến, phải " chồm lên phía trước " chứ. Miễn là đừng chồm như ngựa bất kham.

Đọc nguyên bài: http://chimvie3.free.fr/52/nddg117_TienHocLeHauHocVan.htm
10  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VIỆT NAM DANH THẮNG / Re: Những di tích kỳ bí vào lúc: Tháng Mười 23, 2013, 08:04:59 AM
Kỳ 3: Chuyện liêu trai trong ngôi chùa cổ

Chùa Thập Tháp (ở P.Nhơn Thành, TX.An Nhơn, Bình Định) có nhiều câu chuyện truyền miệng hoang đường, nghe đến không ít người phải rùng mình.

Cổng chùa Thập Tháp

Quần thể di tích Phật giáo

Nhà nghiên cứu Lộc Xuyên Đặng Quý Địch khẳng định chùa Thập Tháp (tên đầy đủ là Thập Tháp Di Đà Tự) do thiền sư Nguyên Thiều (1648 - 1728) kiến tạo rồi làm lễ khai sơn vào năm 1683.

Thiền sư họ Tạ, tự Hoán Bích (người Trung Quốc), theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh (nay thuộc tỉnh Bình Định) năm 30 tuổi. Sau chùa Thập Tháp, thiền sư Nguyên Thiều ra đất Thuận Hóa lập chùa Hà Trung, chùa Quốc Ân, tháp Phổ Đồng rồi mất tại đó. Tên chùa Thập Tháp là do nguyên trước đây trên khu đồi xây dựng chùa có 10 ngôi tháp Chăm đã sụp đổ. Ban đầu, chùa Thập Tháp được xây dựng từ gạch của 10 ngôi tháp cổ này.

Chùa Thập Tháp là di tích kiến trúc nghệ thuật thế kỷ 19 đã được công nhận di tích cấp quốc gia từ năm 1990. Hiện chùa còn lưu giữ quần thể kiến trúc rất độc đáo, như ngôi chánh điện do thiền sư Thiệt Kiến Liễu Triệt cho trùng kiến vào năm 1749, nhà phương trượng do Quốc sư Phước Huệ xây vào năm 1924... Thời hòa thượng Minh Lý trụ trì chùa Thập Tháp (1871 - 1889) cũng đã tạo lập rất nhiều tượng Phật đến nay vẫn còn.

Trong khuôn viên chùa có khoảng hơn 20 tháp mộ của các đời trụ trì với kiến trúc rất độc đáo. Năm 1876, trong lúc tổ chức khai khẩn vùng đất hoang sau chùa, gặp rất nhiều hài cốt của lính Tây Sơn và nhà Nguyễn chết trong trận chiến ở thành Hoàng Đế, hòa thượng Minh Lý cho gom lại, xây một tháp để thờ cúng, ngày nay gọi là tháp Hội đồng.

Trụ trì dính nghi án oan tình
Đến nay, các hòa thượng và người dân trong vùng vẫn còn lưu truyền câu chuyện về ông Bạch Hổ đi tu tại chùa Thập Tháp. Sau khi sư phụ là hòa thượng Minh Giác mất, hòa thượng Thiệt Kiến Liễu Triệt đang làm trụ trì chùa Thiên Mụ (ở Huế) được gọi về làm trụ trì chùa Thập Tháp.

Một thời gian sau, trong đêm mưa gió, có hai mẹ con nằm trước cổng chùa Thập Tháp. Người mẹ bị câm nên không ai hỏi được gì. Hòa thượng Liễu Triệt cho xây một cái am gần chùa cho hai mẹ con nương náu. Từ đó, người dân trong vùng đồn đoán rằng trong thời gian làm trụ trì chùa Thiên Mụ, hòa thượng Liễu Triệt thường được chúa Nguyễn Phúc Khoát mời vào cung và đã có tơ tình với một phi tần. Kết quả mối tơ tình này chính là đứa con, còn phi tần kia là người mẹ bị câm. Hòa thượng Liễu Triệt không một lời giải thích.

Cũng trong thời gian này, đêm nào chùa Thập Tháp cũng có một con Bạch Hổ đến ngồi trước chánh điện nghe kinh khiến ai cũng sợ hãi. Hòa thượng Liễu Triệt bảo mọi người đừng sợ vì con cọp này không hại ai rồi ra ngoài nói với con cọp: “Hỡi Bạch Hổ! Vì nghiệp nặng phải làm thân súc sinh, hãy cố gắng nghe kinh tu hành có ngày sẽ được thoát kiếp”.

Thời gian sau, chúa Nguyễn triệu hòa thượng Liễu Triệt ra Huế để giảng dạy Phật pháp. Đêm trước khi đi, hòa thượng nằm mơ thấy một ông lão đến nói: “Xin thầy ở lại vài hôm để làm lễ cho con, tuổi thọ của con còn ngắn, con ở sau chùa”. Vài hôm sau, không thấy Bạch Hổ đến nghe kinh, hòa thượng biết cọp đã thoát kiếp nên sai đệ tử đi tìm và phát hiện được xác cọp sau vườn chùa. Hòa thượng cho mai táng con cọp tại chỗ, xây tháp và làm lễ đúng 49 ngày. Ban đầu, tháp Bạch Hổ được xây dựng bằng gạch Chăm nhưng đã bị sụp đổ, hiện đã được xây dựng lại, còn bộ xương thì bị kẻ gian lấy mất trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Trước khi viên tịch, hòa thượng Liễu Triệt tập trung đệ tử lại dạy dỗ lần cuối và đưa ra lời bảo chứng: “Người đời nói oan cho ta dính án tình với cung phi. Ta một đời tu hành thanh tịnh, sau khi xả bỏ báo thân này, tháp của ta cũng sẽ luôn luôn tinh bạch”. Quả nhiên, cho đến ngày nay, tháp của hòa thượng Liễu Triệt vẫn còn trắng và mọi người quen gọi đó là Tháp Trắng.

Hòn đá chém oán hờn


Hòn Đá Chém - Ảnh: Hoàng Trọng

Tương truyền rằng, sau khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù. Nhiều người ra trình diện thì Nguyễn Ánh nuốt lời, mang ra chém sạch. Tảng đá dùng để kê đầu tôn thất nhà Tây Sơn lên chém được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế. Từ đó, hằng đêm trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, đòi mạng thống thiết, người dân và quan quân nhà Nguyễn không ai dám đi ngang qua cổng thành.

Để cứu chúng sinh, một vị trụ trì chùa Thập Tháp xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, nhà sư cho người mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Hòn đá được đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Nhưng nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng. Vào những đêm mưa gió, người ta thường thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ Hòn Đá Chém. Khi chó trong chùa sủa là bóng người phụ nữ kia biến mất.

Đến thời hòa thượng Phước Huệ làm trụ trì, Hòn Đá Chém được chuyển vào để ngay bậc tam cấp trước khu Phương Trượng, sau lưng Chánh điện của chùa để thường xuyên được nghe kinh kệ, giải tỏa những oan khiên. Theo nhà sư Mật Hạnh, đệ tử của nhà sư Phước Huệ, cách đây vài chục năm, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hằng năm vào lúc giao thừa trước Tết Nguyên đán, đến khi đổ 3 hồi trống chiêng là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi mất.

Ngày nay, Hòn Đá Chém vẫn còn đặt tại cửa khu phương trượng của chùa Thập Tháp (cao khoảng 40 cm, dài 1,5 m, rộng 1,3 m) nhưng chuyện ma quái không còn xuất hiện. Hằng năm, đến ngày giỗ hòa thượng Phước Huệ (18 tháng giêng âm lịch), hàng ngàn phật tử đến dự, nhìn Hòn Đá Chém, không ít người rơi nước mắt nhớ đến những anh hùng, hào kiệt thời Tây Sơn.


Trích dẫn
Không những là quần thể kiến trúc độc đáo, chùa Thập Tháp còn lưu giữ nhiều bộ kinh kệ rất quý, như: 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà sớ sao, Kim Cang trực sớ, Pháp Hoa khóa chú... và bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường, bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan.[/size]

Theo Thanh Niên
11  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VIỆT NAM DANH THẮNG / Re: Những di tích kỳ bí vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 12:56:36 AM
Bài 2: Chuyện ông Đỏ, ông Đen
Chùa Nhạn Sơn (thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, TX.An Nhơn, Bình Định) có 2 pho tượng đá cổ, cao khoảng 2,8 m, được người dân địa phương cho rằng rất linh thiêng.


Hai pho tượng ông Đỏ, ông Đen trong chùa Nhạn Sơn - Ảnh: Hoàng Trọng

Truyền thuyết Song nghĩa tự

Theo hòa thượng Thích Thị Hoàng, trụ trì chùa Nhạn Sơn, hai pho tượng cổ này có từ thời người Chiêm Thành (người Chăm) còn đóng đô ở thành Đồ Bàn (thuộc xã Nhơn Hậu). Do chiến tranh, hai pho tượng đã bị chôn vùi trong lòng đất hàng trăm năm. Sau đó, mưa nắng xói mòn nên hai búi tóc của các pho tượng lộ dần lên khỏi mặt đất. Trẻ con chăn bò thấy lạ đào bới, phát hiện tai, mũi, mắt, miệng, rồi dân làng đào lên được 2 pho tượng liền lập chùa để thờ lấy tên là Thạch tự công, nghĩa là chùa thờ ông Đá. Thời gian sau, người dân biết câu chuyện lý giải về 2 pho tượng đá này nên đổi tên chùa thành Song nghĩa tự, tức là chùa thờ hai anh em kết nghĩa.

Đến thế kỷ 16, vùng An Nhơn bị hạn hán kéo dài, Tuần phủ địa phương cho dân lập đàn tràng cầu mưa. Hòa thượng Chí Mẫn được người dân giới thiệu đứng ra chủ trì việc lập đàn cầu mưa và kết quả đã có mưa giải hạn. Hòa thượng Chí Mẫn được quan Tuần phủ mời ở lại lập chùa và ông đã chọn Song nghĩa tự. Tên chùa được hòa thượng Chí Mẫn đổi thành Nhạn Sơn Linh Tự vẫn còn đến ngày nay, nhưng người dân địa phương thường gọi là chùa Ông Đỏ Ông Đen.

Hòa thượng Thích Thị Hoàng kể: Hai anh em kết nghĩa là ông Đỏ, ông Đen trong câu chuyện được dân gian và nhà chùa lưu truyền có tên là Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền, sống vào đời nhà Trần ở nước Việt. Huỳnh Tấn Công (pho tượng có màu sơn đỏ) là con một nhà nho nghèo ở Quảng Nam. Trên đường ra Thăng Long thi, khi đi ngang qua tỉnh Quảng Bình thì bị bệnh, ngất xỉu giữa đường. Một vị điền chủ giàu nổi tiếng ở Quảng Bình đi thăm ruộng vào sáng sớm phát hiện và đưa Huỳnh Tấn Công về nhà chữa trị. Con của vị điền chủ tên là Lý Xuân Điền (pho tượng sơn màu đen) cũng ra Thăng Long thi nên hai người cùng lên đường.

Trên đường đi, hai người thấy tâm ý hợp nhau nên kết nghĩa làm anh em. Cả hai đều thi đỗ và được làm quan to. “Huỳnh Tấn Công làm quan văn nên tay cầm cây giản (là một cây lịnh), có nghĩa là ra vào trong triều không ai gạn hỏi. Ông Lý Xuân Điền cầm cây kiếm lệnh tức là làm quan võ, được quyền tiền trảm hậu tấu. Điều này chứng tỏ hai ông đều làm quan rất có uy tín trong triều, được nhà vua tin cẩn”, hòa thượng Thích Thị Hoàng phân tích.

Hai ông có thân quen với vua nước Chiêm Thành nên vào thăm. Gặp lúc vua Chiêm Thành bị bệnh, các danh y trong nước không chữa được nên ông Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền dùng thuốc nam chữa khỏi. Lại gặp lúc Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đem quân xâm lấn biên giới nước Chiêm Thành, hai ông xin cầm quân đánh giặc. Dù đánh đuổi được giặc nhưng tướng Lý Xuân Điền lại bị Xiêm La bắt. Sau đó, Hoàng tử Xiêm La cầu hôn em gái ông Huỳnh Tấn Công nên ông yêu cầu dùng Lý Xuân Điền làm lễ vật cầu hôn. Hai người gặp lại nhau và cùng trở về nước Việt. Vua Chiêm Thành thương nhớ, biết ơn hai ông nên tạc hai pho tượng để thờ.

Việt hóa tượng Chăm

Câu chuyện về hai pho tượng trong chùa Nhạn Sơn này được cụ Bùi Văn Lang ghi chép trong sách Địa dư mông học tỉnh Bình Định (xuất bản năm 1933 và tái bản năm 1935). Tuy có vài khác biệt về địa danh và một số tình tiết trong câu chuyện nhưng các dị bản này cũng nhằm mục đích lý giải về nguồn gốc hai pho tượng cổ ở chùa Nhạn Sơn.

Chuyện hai pho tượng ở chùa Nhạn Sơn bị Việt hóa, Phật giáo hóa cũng là đặc điểm chung của rất nhiều tượng Chăm cổ còn sót lại ở Việt Nam. Cũng như tượng vị tu sĩ ở làng Hải Giang (được đề cập ở bài trước) bị người dân “biến” thành tượng bồ tát, hai pho tượng chùa Nhạn Sơn được người dân và nhà chùa mặc áo màu vàng và thờ cúng cùng với các vị Phật, bồ tát.

Trong tín ngưỡng của người dân địa phương, hai pho tượng này rất linh nên họ thường đến cúng bái, cầu tài lộc, bình an, học hành đỗ đạt… Những gia đình có con khó nuôi, bị bệnh tật hay thường khóc đêm đều đem đến chùa Nhạn Sơn “gửi bán Phật và hai ngài”. “Năm 1977, đoàn khảo sát từ Hà Nội vào, sau khi nghiên cứu hoa văn ở thắt lưng tượng và nhiều sử liệu khác đã xác định hai pho tượng này có từ thế kỷ 13, thời nước Chiêm Thành còn đóng đô ở thành Đồ Bàn”, hòa thượng Thích Thị Hoàng nói.


Theo Thanh Niên
12  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VIỆT NAM DANH THẮNG / Những di tích kỳ bí vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 12:53:05 AM
Bài 1: Làng chài được yểm bùa

Làng chài Hải Giang (xã Nhơn Hải, TP.Quy Nhơn, Bình Định) có nhiều dấu tích của người Chăm đến nay vẫn chưa được giải mã. Nhiều người cho rằng đó là những lá bùa để giữ đất, giữ làng.
Pho tượng cổ ở Hải Giang được người dân mặc áo vàng, thờ chung với các vị Phật, bồ tát - Ảnh: Hoàng Trọng

Điểm đến hấp dẫn nhất ở Hải Giang là chùa Linh Sơn, nơi thờ pho tượng cổ bằng đá mà dân gian quen gọi là tượng Phật Lồi. Pho tượng có hình dáng một vị tu sĩ trong tư thế ngồi thiền, tay trái đặt lên đùi, tay phải cầm tràng hạt, mình trần, thân đeo một mảnh vải vắt chéo qua vai trái. Tượng cao 0,82 m, ngang 0,46 m. Đặc biệt, lưng tượng là một tấm bia hình ngũ giác (cao 60 cm, rộng 45 cm), có 12 dòng chữ Chăm cổ đến nay vẫn chưa ai đọc được.

Theo ông Trương Long (81 tuổi, ở Hải Giang), người được giao giữ chìa khóa trông coi chùa Linh Sơn, tượng Phật Lồi lộ ra từ lòng đất khi một người dân Hải Giang cày ruộng canh tác và cả làng cùng nhau lập đền để thờ. Sau nhiều lần di chuyển lên cao dần, vị trí đặt tượng ngày nay cách địa điểm phát hiện pho tượng khoảng 300 m. Chùa Linh Sơn được xây dựng từ đó, nay đã hơn 200 năm. Chùa ngày càng được mở rộng dần, người ta hiến tặng các tượng Phật, bồ tát để thờ chung với pho tượng cổ.

Ông Trương Long kể: Năm 1945, khi quân Nhật chuẩn bị rút về nước, viên sĩ quan chỉ huy quân Nhật tại Quy Nhơn dẫn một toán lính sang chùa Linh Sơn để khiêng pho tượng đi. Nhưng bọn chúng có cố đến đâu, huy động hết sức lực cũng không khiêng được pho tượng nên đành phải bỏ đi. “Do ông hiển linh, muốn ở lại với dân làng Hải Giang nên không ai có thể dời ông đi nơi khác được. Những đối tượng trong làng bị người dân nghi ngờ có tham gia vụ trộm tượng lần lượt nhận cái chết “bất đắc kỳ tử” rất thê thảm sau đó một thời gian”, ông Long kể lại câu chuyện nhuốm màu huyền thoại.

Đến năm 1999, tại Hải Giang xuất hiện vài người lạ đến phối hợp cùng một số người trong làng săn tìm đồ cổ, đồ đồng đen... Một đêm, họ phá khóa gian thờ chính điện, định khiêng tượng Phật Lồi đem đi bán, nhưng mới khiêng tượng được vài mét bỗng dưng không tài nào di chuyển được nữa. Bọn trộm dùng búa đập đứt đầu tượng Phật Lồi thì phát hiện tượng làm bằng đá xanh chứ không phải đồng đen nên bỏ đi. Sáng hôm sau, thấy tượng nằm lăn lóc bên hông chùa nên người dân khiêng vào chánh điện, dùng xi măng gắn đầu tượng lại.

Ngôi làng của người Chăm cổ

Ở phía bắc làng Hải Giang, trên một khối đá nhô ra biển gần hang Bà Dăng có Hòn Đá Chữ giống hệt một tấm bia đá lớn. Hòn Đá Chữ được ngăn thành hai phần riêng biệt, một bên khắc 3 hàng chữ Chăm, bên còn lại khắc 4 hàng chữ Chăm. Những dòng chữ này đã bị đục xóa hoặc bị xi măng trám lên rất mờ, càng khó nhận diện. Có người cho rằng những dòng chữ trên vách núi chỉ dẫn đến kho báu trong hang Bà Dăng nên vào trong hang đào xới. Theo ông Trương Long, các đời trước truyền lại rằng những dòng chữ trên vách núi và trên lưng tượng Phật Lồi có mối quan hệ với nhau, đều là bùa yểm. Pho tượng được phát hiện phía nam của làng, còn các dòng chữ ở phía bắc làng nên có thể là người Chăm dùng nó để trấn yểm, bảo vệ làng Hải Giang.

Người dân Hải Giang cho rằng vùng đất mình đang sinh sống trước kia là khu vực lưu trú của người Chăm. Gần mép biển và trên ngọn núi xung quanh làng Hải Giang có dấu tích của một tường thành cổ được cho là của người Chăm xây dựng nên. Tại các khu vực như Gò Thịnh, Gò Luôn, Ụ Đầm Bé, Gò Giếng Hời... mỗi khi đào đất lên canh tác có rất nhiều gạch Chăm, bình hũ sành... Những khu vực này mùa mưa thì giữ nước dẫn đến sình lầy, mùa nắng thì khô cằn không thể canh tác được do lớp đất canh tác rất mỏng, phía bên dưới là lớp gạch của người Chăm cổ.

Chân núi dưới chùa Phật Lồi có 2 ngôi mộ cổ, khoảng hơn 100 tuổi, có bia bằng chữ Hán, do dân vạn chài từ nơi khác mang đến chôn. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, hai ngôi mộ này không còn ai đến hương khói. “Hai ngôi mộ này đã chiếm mất long mạch của Hải Giang nên người dân trong làng làm ăn không phất lên được. Hiện 2 ngôi mộ này bị đục phá bởi ai đó muốn lấy lại long mạch cho làng Hải Giang hoặc cũng có thể là bọn ăn trộm đồ cổ gây ra”, ông Trương Long nói.


Trích dẫn
“Tượng Phật Lồi ở Hải Giang là tượng thần Shiva do người Chăm tạc, có niên đại khoảng thế kỷ 11 - 13. Viện Viễn Đông bác cổ ở Pháp sang cũng đã lấy mẫu chữ đằng sau pho tượng Phật Lồi về nghiên cứu nhưng vẫn chưa có kết quả.”

(Theo TS Đinh Bá Hòa, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Bình Định)

Trích dẫn
Tại khu vực Hố Giang (ở thôn Thành Sơn, xã Hoài Châu, H.Hoài Nhơn, Bình Định) có hòn đá Chữ, trên đá có khắc 15 hàng chữ của người Chăm cổ đến nay vẫn chưa được các nhà khoa học giải mã. Trong khu vực này, có nhiều di tích như giếng nước cổ, những đoạn tường thành cổ... Nhiều người trong vùng đồn đoán khu vực này có kho báu của nước Chămpa nên đào xới để tìm vàng. Một số nhà sử học có nghi vấn rằng khu vực Hố Giang là nơi vua Indravarman 5 (Vương triều Chămpa) đóng quân bí mật sau khi cho đốt kho lương, bỏ trống kinh thành Đồ Bàn để chống quân xâm lược nhà Nguyên (Trung Quốc) vào cuối thế kỷ 13.

Theo Thanh Niên
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHÁP THOẠI / Re: Nhạc Thiền Yoga Ấn Độ . vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 12:35:10 AM
Viên đá Giác Ngộ.


Nirvana crystal: Những Viên đá thủy tinh này được tìm thấy vào năm 2005...tại dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn Tây Tạng , do sự biến đổi khí hậu thời tiết ...đã xuất hiện dưới chân núi .Người ta cho rằng những Viên đá này có 1 năng lượng rất mạnh bởi vì được tìm thấy cách khoảng mặt đất 18,000 feet.
Trong bí ẩn Tâm Linh thì người ta cho rằng những viên đá thủy tinh này từ cõi tịnh độ Shambhala rơi xuống và trong Ấn Độ giáo những Viên đá thủy tinh này là những
 viên kim cương của Thần Krishna .


Viên đá này  rất tốt trong thiền định ... và biết đâu chừng có thể Giác ngộ trong kiếp này  big hug


<a href="http://www.youtube.com/v/bCmgl8vzkvQ&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0" target="_blank">http://www.youtube.com/v/bCmgl8vzkvQ&amp;ap=%2526fmt%3D18&amp;rel=0</a>


Shambhala = Sambala. Địa danh bí ẩn và E.Muldasvhev cho rằng đã tìm ra nơi này trong bộ 5 cuốn sách của ông. Trong đó có cuốn Trong vòng tay sambala đã post ở đây: http://hocthuatphuongdong.vn/index.php?topic=985.0

Thế nhưng, sao lại gọi địa danh này là Cõi tịnh độ? Cần phải xác định chính xác tên gọi này. Ongdia nên tìm hiểu kĩ hơn về tên gọi này, xuất phát từ đâu, ai gọi là Cõi tịnh độ giúp người đọc với
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / PHÁP THOẠI / Re: Nhạc Thiền Yoga Ấn Độ . vào lúc: Tháng Mười 22, 2013, 12:25:15 AM
Như huynh đã biết giáo lý về Tsa  Lung là trọng tâm của Mật Tông và nhất là của sáu pháp Du Già Naropa. Nếu huynh học trong video clip này cũng không có gì kết quả ...Đây Là Khí Công nội công Mật Tông Tây Tạng - Tsa Lung yoga này nếu không có sự chỉ dẫn tận tình và tường tận của một yogi, đặc biệt là trong lĩnh vực Khí công và Nội công....nếu ko biết cách thở thì  dẫn đến Tẩu Hỏa Nhập Ma .

*đây là 1 tấm hình 1 Tulku của 1 người bạn thân Tây Tạng cách đây 20 năm tặng cho Ongdia.Ánh sáng Kim Cang ... Ko có sử dụng photoshop đâu nha.

 


Huynh có nhiều hình ảnh về ánh sáng kim cang này không, post lên cho 8N nghiên cứu với
TKS!
15  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC / Trong cõi - Trần Quốc Vượng vào lúc: Tháng Tám 27, 2013, 02:50:36 AM
Tác phẩm "Trong cõi" của cố GS Trần Quốc Vượng  bao gồm những bài nói chuyện, phát biểu trong thời gian SG sang Mỹ - tác phẩm hiện chưa phổ biến ở VN nhưng trong giới học giả Phương Tây tác phẩm này được đánh giá khá cao. Đây là cuốn sách hay nói về Văn Hóa VN quá khứ cũng như hiện tại

MỤC LỤC

1. Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
2. Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ
3. Từ huyền tích đến lịch sử (mấy vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể)
4. Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII
5. Đô thị cổ Việt Nam
6. Vị thế địa-lịch sử và bản sắc địa-văn hoá của Hội An
7. Một cách nhìn văn hoá học về Văn Miếu - Quốc Tử Giám
8. Hội hè dân gian
9. Căn bản triết lý người anh hùng Phù Đổng và hội Gióng
10. Triết lý trầu cau
11. Triết lý bánh chưng bánh dày
12. Một thời đã qua, một thời đang tới
13. Dân gian và bác học
14. Việt Nam: 100 năm giao thoa văn hoá Đông-Tây
15. Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (Kinh nghiệm điền dã)
16. Xây dựng một nền văn hoá Việt Nam nhân bản, dân tộc, dân chủ, khoa học
17. Nỗi ám ảnh của quá khứ
Trang: [1] 2 3 ... 22
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.189 seconds với 20 câu truy vấn.