Tháng Mười 19, 2018, 09:01:18 am -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: 1 ... 359 360 [361]
5401  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 12, 2008, 03:07:38 pm

BÀI GIẢNG THỨ BA

Một trong những pháp tu thịnh hành nhất của Thiền Tông Trung Hoa gần ngàn năm nay là pháp Tham Thoại Đầu. Số lượng thoại đầu không thể kể hết, tiêu biểu nhất như là: “ý Tổ sư từ phương Tây sang là gì?”, “con chó không có tính Phật”, “muôn pháp về một, một về chỗ nào?”, “mặt thật lúc cha mẹ chưa sanh?”, “kéo thây chết là ai?”, “niệm Phật là ai?”… Người học được thiền sư giao cho một thoại đầu, ngồi trên bồ đoàn tham thiền nghiên cứu.
Giống như con chó gặm cái bánh bao bằng sắt, tuy không thể ăn được nhưng ráng tham cho ra được một mùi vị, khiến trong tâm muôn niệm đều tiêu. Chỉ luôn tham cứu sống chết với câu thoại đầu, như một tướng giữ cửa ải, ngàn muôn người khó mở ra được.
Về nguyên tắc, pháp Tham Thoại Đầu được coi là chính xác ở chỗ biết dùng một niệm thay cho muôn niệm, nhưng về phương pháp còn chờ nghiên cứu, thảo luận lại. Mặc dù nó đã có chiều dày lịch sử khá lâu, nhưng bản thân cái gọi là thoại đầu đã chưa thật ổn rồi! Thoại đầu là gì? Một số giải thích là “nguồn gốc của lời nói”, hay nói cách khác là chân tâm.
Nhưng nếu xét câu “ý Tổ từ phương Tây sang là gì?”, đâu phải là chân tâm, mà muốn từ nó để tham ra chân tâm. Tương tự, câu “niệm Phật là ai?” cũng chỉ để từ nó tham ra thoại đầu thôi! Vậy là vấn đề lớn đã rõ ràng, đã nhận ra cái công cụ đào ra thoại đầu cho là chính thoại đầu. Thế thì, mục tiêu tuy có chính xác nhưng phương pháp thật không ổn. Như thế, tuy muốn giải thoát mà lại “khắc vào cứt trâu để làm gỗ chiên đàn” vậy!
Trong các câu thoại đầu trên, ngoại trừ câu “niệm Phật là ai?” còn có chút sinh khí, dùng tàm tạm, tất cả đều là câu thoại đầu chết, cọp ăn không hết. Nếu quý vị không tin, thử tham đi xem đãlãng phí biết bao nhiêu thì giờ vàng ngọc chăng? Thiền lâm có khai thị rằng, phải tham thoại đầu chứ không phải tham thoại vĩ (đuôi câu nói). Thoại đầu được giải thích là lúc một niệm chưa sinh, còn khi một niệm đã sinh liền thành thoại vĩ.
Riêng hai chữ thoại đầu đã khiến bao nhiêu chướng khí che lấp rồi, nay lại thêm thoại vĩ, đủ cả đầu đuôi khiến ta có cảm tưởng là đang tham cầu nghiên cứu con chó Bắc Kinh của Thiền sư Triệu Châu xưa kia đang nuôi dưỡng.
Thực ra, khi một niệm chưa sanh thì có gì để tham, mà đâu cần phải tham chỗ này. Cái cần tham chính là sau khi một niệm sanh ra, mới có thể tham được chứ. Chắc chắn có người phê phán tôi là quá chủ quan, vì sự thật nhờ tham thoại đầu mà có người đã phát khởi “nghi tình” (gọi đúng là kỳ tình), cũng có người đã khai ngộ. Nhưng ngộ có muôn thứ, chúng taa không thể phủ nhận những câu thoại đầu đó, cũng có chỗ sở ngộ của nó. Nhưng thực chất, những thứ sở ngộ đó chỉ lý luận trong lúc trà dư tửu hậu để đánh giặc miệng thôi, đâu có quan hệ gì đến giải thoát.
Cũng có người cho lời lẽ tôi nêu lên là “bới lông tìm vết”, tìm xương gà ở trong trứng gà, mất tư cách trung hậu với người xưa. Người có quan niệm đó chắc chắn là người quá dính mắc tư tưởng hoài cổ, sùng bái cá nhân xưa cũng như nay. Chúng ta hãy bình tâm phân tích đoạn nói thẳng trong “chứng đạo ca” của Tổ Huyền Giác:
“Viên đốn giáo, một nhân tình
Hữu nghi bất quyết trực tu tranh
Bất thị sơn tăng sính nhân ngã
Tu hành pha lạc đoạn thường khanh”
Dịch:
“Pháp viên đốn, vượt tình thường
Mọi niềm ngờ vực quyết không vương
Sãi tôi đâu sính bàn nhân ngã
Sợ lạc đường tu, hố đoạn thường”
Trong việc xã giao, có thể chẳng cần hiểu thấu rõ ràng cũng được. Nói năng khách sáo một chút cho tất cả đều vui vẻ cũng tốt. Thế nhưng trong Phật pháp, cần phải làm cho rõ, nước chảy lộ đá ra. Nếu không, chẳng những không “phổ độ” (cứu giúp) chúng sinh mà còn “phổ đồ” (bịt lấp, ngăn cản) chúng sinh là khác! Quả như, trên con đường lớn giải thoát của chúng sinh, lại bị người bịt lấp, ngăn trở, nước không chảy lọt qua được, tội lỗi lớn này về ai?!
Câu “niệm Phật là ai?” là thoại đầu tương đối khá, nhưng vẫn còn phải lưu ý đến phương pháp và kỹ thuật. Chẳng may không gặp được phương pháp tốt, e dẫn đến “thoại đầu chết” chẳng chơi. Thí dụ như niệm ra tiếng, mở mắt niệm, lần chuỗi niệm, nhớ Phật niệm… bảo đảm thoại đầu này không sống được. Cho dù có mặc niệm trong tâm, niệm được vài câu A Di Đà Phật, rồi ngưng lại để tham cũng không thể nào phát khởi được “nghi tình” thật sự, nếu có nghi chăng cũng chỉ là loài chồn nghi, thỏ nghi vậy thôi! Vì khi cái năng niệm đã mất, lấy gì để y cứ mà tham!
Cho nên, phải vừa niệm Phật vừa tham, thấy được thật rõ ràng điểm niệm Phật trong thân. Lại tham tiếp, vì sao trong thân máu thịt lại có vật này? (điểm niệm Phật), như vậy mới có thể tham được phần kết quả.
Nhưng tốt hơn cả là, thay vì tham “niệm Phật là ai?”, ta đổi thành “niệm Phật là vật gì?”, vì vật niệm Phật trong thân thể tuy có động đậy thật nhưng lại vô hình, không thấy được mặt mày nó ra sao cả. Như thế chính xác hơn, vì nếu nói “ai” thì bắt buộc phải có mặt mày người đó, còn nếu nói “vật gì” thì được, vì vật có vô hình và hữu hình.
Các pháp kể trên đều mang tính “sợ vọng tưởng”, vì vậy nên tìm cách bài trừ hoặc tránh né nó. Đó là không phải pháp hay, chứa đựng tính tiêu cực, bị động. Để khắc phục tất cả những nhược điểm nêu trên, tôi xin hân hạnh nêu lên “Pháp Nhiếp Hoá”, xin quý vị chú ý theo dõi để áp dụng tu hành sớm đạt kết quả.
Con người có hai thành tố cơ bản: thân thể và tâm linh. Rất nhiều người chỉ hiểu tu hành là tu tâm, liền bỏ qua phần thân thể đi. Thực ra, chính thân thể là cửa ải quan trọng nhất, trấn giữ địa đầu. Nếu cửa ải này mà không phá được thì nói gì đến quan các ải khác. Dù ai có liều mạng đến đâu, cũng chỉ phí công vô ích.
Có lẽ quý vị khởi nghi về câu nói trên của tôi, cái túi da thúi này có gì quan trọng để tu? Nhưng không phải là ta làm công phu gì ngay trong thân thể này, mà chỉ cần thủ tiêu hết cái nhận thức sai lầm cơ bản về thân, có được quan niệm về thân xác thật đúng đắn là đủ.
Mấy hôm trước, có hai sinh viên đại học đến Giảng đường Viên Thông để Quy Y Tam Bảo, tôi đưa vấn đề này ra hỏi họ, có phải là:
1.   Thân thể của chúng ta là không thể hoạt động.
2.   Nó không thể nói chuyện và niệm Phật.
3.   Nó không thể sanh ra vọng tưởng.
4.   Nó phải tuyệt đối im lặng chăng?
Họ suy nghĩ một hồi vẫn chưa ra, vì những điều tôi nói đó tương phản với thực tế của họ.
Tôi hỏi tiếp, có phải thân thể chúng ta làm ra bằng máu thịt chăng? Nếu thân máu thịt thì có giống với thân bằng gỗ bằng đất không? Họ liền giác ngộ, công nhận bốn điểm tôi nêu trên là đúng. Đó là đã thấy được cái người khác chưa thấy, nói được cái người khác chưa nói!
Thực ra, tư liệu nói về thân thể xưa nay quá nhiều, kể ra không hết, nào là: túi da thúi, cái túi da, nhà bằng thịt, tử thi sống…, nó không đáng giá một xu, chỉ tiếc là không ai thấy được thường thức quý báu ngay chính nó cả.
Chỉ biết tấm thân bảy thước này là “túi da thúi” thì chẳng ích lợi gì cả, mà biết thêm trong đó phải tuyệt đối im lặng mới là điều quý báu vô giá:
1.   Trong thân không thể niệm Phật.
2.   Trong thân không thể có tự ngôn tự ngữ.
3.   Trong thân phải tuyệt đối im lặng.
Ba điểm này không phải là thứ kiến thức đại học cao siêu gì, rất thông thường cạn cợt, trẻ con lên ba cũng hiểu thông. Thế mà nó lại là thứ vũ khi siêu đẳng, đầy đủ uy lực, đánh đâu thắng đó trên con đường cầu đạo giải thoát. Khi quý vị nhắm mắt tĩnh tọa, trong tâm mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật; kế chú ý bên trong thân, phát hiện ra có điểm niệm Phật liền khởi nghi lớn khó giải thích. Trong thân thể máu thịt sao lại có vật này? Một mặt, tiếp tục niệm Phật, một mặt vẫn tham cứu. Ngay đó, thú vị sinh ra, an lạc tràn đầy đến nỗi muốn thôi mà chẳng được. Đó là “Kỳ Tình”, món quý báu nhất trong Thiền học đã thất truyền từ lâu. Kỳ Tình là món thuốc hoá học trung hoà được vọng tưởng, hóa hủ nát thành thần kỳ, chuyển phiền não thành trí tuệ. Đương lúc chúng ta thấy trong thân máu thịt có những tự ngôn tự ngữ, lập tức bỏ vào đó quan niệm về thân xác, nó thuần vật chất thì trong thân phải tuyệt đối im lặng chứ, không lý do gì lại có vật này cả. Vọng tưởng liền trở thành vật báu, hết sức thần bí. Khi vọng thành ra thú vị rồi, gây tác dụng rất lớn, niệm sau không thể khởi lên nữa. Đó là “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện ra” vậy!
Người mới bắt đầu tu, trạng thái tịch diệt an lạc này không thể duy trì được lâu. Chỉ khoảng vài ba phút sau, vọng tưởng lại len lén chui ra. Nếu nó như mây trôi xen sắc đậm, nhẹ mà lại mỏng, chỉ dùng pháp quán chiếu trừ nó. Còn nếu thô và nặng nề, dùng pháp niệm Phật, tái liên tưởng quan niệm về thân xác thì vọng tưởng không còn chỗ đứng, tự biến mất, Bản Lai Diện Mục lại hiện ra.
Chúng ta y theo Pháp Nhiếp Hóa này để tu, chỉ vài tháng công phu là có thể được tâm linh vô niệm, ngộ được pháp thân thanh tịnh. Cứ tiếp tục dụng công thêm, tăng dần số lần và số giờ ngộ pháp thân này để thành mặt phẳng rồi thành khối. Suốt 24 giờ, đi đứng nằm ngồi, trong thân thể không còn có những thứ tự nói tự cười, tức tâm ngữ trùng điệp không ngớt như ngày trước nữa.
Lúc đó, quý vị đã là pháp thân đại sĩ, biết ăn bánh mì rồi vậy!

5402  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 11, 2008, 10:23:34 am

BÀI GIẢNG THỨ NHÌ

Phật giáo có ngàn kinh muôn điển, trăm màu nghìn vẻ, nhưng mục đích chung nhất của nó là giúp tất cả chúng sanh “ngộ và nhập được tri kiến Phật của chính mình”. Tri kiến Phật là gì? Là chân tâm. Nhưng chân tâm là gì? Đức Phật đã phải làm việc liên tục suốt 49 năm, nói kinh hơn 300 hội, không gì khác hơn là để giúp chúng sinh thấy được chân tâm này.
Những đặc điểm tính chất của chân tâm đã được mô tả rất nhiều trong nhà Phật như : tâm trùm cả hư không, phủ cả châu sa giới (cảnh giới nhiều như số cát), dừng bặt ngôn ngữ, đi khắp nơi nơi, thọ nhận cùng ba tế, biến rộng mười phương, tùy duyên có cảm, biến hoá cùng khắp… Tất cả những câu nói đó đều không phải là sai, nhưng quá mơ hồ huyền ảo khiến người nghe có cảm tưởng nó ở tận đâu đâu, trên nóc nhà của Ngọc Hoàng Thượng Đế, những kẻ tục tử phàm phu làm sao biết và chứng cho được.
Thực ra, muốn chứng được chân tâm của quý vị rất là đơn giản. Chỉ cần dùng phương pháp nào đó có thể làm cho những thứ rần rần rộ rộ ẩn núp trong thân thể quý vị phải dừng bặt lại tất cả. Liền đó, chân tâm sáng rỡ hiện ra, Thường Lạc Ngã Tịnh cũng theo đó mà có, các phước báu, trí vô sư, sáu thần thông cũng không mời mà tự đến. Những lý luận này là do kết quả thân chứng của người tu nêu ra, không thể giải thích cho người còn đang mê man giữa đám sương mù lạc tối có thể hiểu hết được, mà chỉ có thể giúp cho họ một số khái niệm thôi.
Phật pháp là một khoa học tối cao cấp, trọng tại sự thân chứng của thực tu, chỉ vì truyền bá đã lâu, phương pháp bị lệch lạc nên dẫn đến tu mà không kết quả cụ thể. Từ đó, Phật học trở thành nơi cửa miệng, giống như triết học, huyền bí học, thần học…, chỉ giảng nói bằng lời chứ không nặng về thực hành nữa. Nhưng cho dù quý vị có nói hay đến nỗi hoa trời rơi đầy đất cũng khó được lợi ích thực sự bên trong.
Có lẽ mọi người sớm đã hiểu rằng Phật pháp xem nặng việc tu, không cần tôi nhắc lại làm gì. Hiện đang có rất nhiều vị đang dụng công, lễ Phật, ăn chay, tụng kinh, quán tưởng, trì chú, kiết ấn, tham thiền, niệm Phật… Hằng ngày đã có vô số nam, nữ gắng sức không mệt mỏi để tranh đấu với sanh tử, kết quả tu được thế nào? Chắc chỉ có tự mình hay biết. Nhưng theo chỗ tìm hiểu kết quả, riêng tôi thấy dường như không được phấn khởi mấy. Ít ra, cũng có hàng vạn người không biết được cửa vào nên gần như lãng phí suốt mấy mươi năm trời. Tại sao thế? Có lẽ họ quên mất câu nói của Lục Tổ: “Chẳng rõ tâm mình, học đạo vô ích”, cũng không nắm vững mục tiêu cứu cánh “quét sạch sanh tử, thu được giải thoát”.
Bản lề cánh cửa giải thoát không phải đẩy ra (push) mà là kéo vào (pull), nên dùng phương pháp ráng sức quét cho kỳ sạch những vô minh, phiền não trong tâm linh là sai. Phải gom vào tất cả những tạp niệm chứa đủ ba độc tham, sân, si để thanh lọc tẩy rửa nó. Lâu dần sẽ được tất cả đều là vật báu, các pháp đều là thân.
Tôi đã đưa thường thức tu hành đơn giản nhất để hỏi người tu, “chúng ta tu đây là tu tâm hay tu thân?”, mọi người không hẹn cùng trả lời “tu tâm”.
“Tại sao không tu thân?”, tôi lại hỏi.
“Vì thân thể sẽ biến đổi hư hoại mất, nó chỉ tồn tại rất ngắn ngủi thôi”.
“Vậy thì, đã là tu tâm, chúng ta phải biết tâm ở đâu chứ? Quý vị hãy chỉ cho tôi biết tâm quý vị ở chỗ nào?”
Có người do dự một lúc, rồi đáp: “Trong thân thể”.
Tôi hỏi tiếp: “Chỗ nào trong thân? Đầu, mình, tay, chân, ở đâu?”
Câu hỏi gắt này khiến họ không thể trả lời, chỉ không ra tâm.
Có vị khá sáng suốt, đáp: “Tâm, tức tri giác. Đang lúc ta thấy một vật gì, tâm ở nơi đó. Như khi thấy non xanh, tâm ở non xanh, thấy nước biếc thì tâm ở nước biếc”.
Tôi hỏi tiếp: “Vậy tâm ông chạy lung tung, làm sao để tu nó cho được?”. Ông ta không đáp. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã bác cái quan niệm “tùy nơi riêng trụ, tâm theo đó có” này rồi, quý vị hãy đem kinh ra kiểm tra lại xem?!
Tại sao chúng ta không lưu ý đến mấy câu quan trọng cho việc tu hành, như là khi Đức Thế Tôn thành đạo, đã nói: “Kỳ thay! Kỳ thay! Chúng sanh khắp nơi đều có đầy đủ phước đức, trí huệ Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng che đậy, không thể chứng được. Nếu diệt vọng tưởng, các phước báu, trí vô sư sẽ tự đến, các thứ năng lực lớn sẽ tha hồ dùng”.
Đọc đi đọc lại đoạn kinh này, tự ta khắc biết là tu cái gì rồi. Đã thấy rõ mục tiêu, phương pháp, con đường đi rồi, lên đường đâu sợ nhầm lẫn nữa. À, thì ra chỉ cần diệt vọng tưởng dính mắc nơi tâm mà thôi!
Vọng tưởng là luân hồi, trói buộc, là Hoặc, Nghiệp, Khổ hải. Chúng ta phải dùng pháp tu để tiêu diệt nó, hiện ra tâm chân (chân tâm), lúc bấy giờ, phước huệ và thần thông sẽ cuồn cuộn chảy tới.
Vọng tưởng là sản vật của chân tâm mất đi chính thường. Vì vậy, quan hệ của nó với chân tâm chẳng phải một, chẳng phải hai. Chẳng phải một, vì về mặt tác dụng mà nói, một cái là khổ não trói buộc, một cái là diệu lạc giải thoát. Chẳng phải hai, là vì hai cái là một thứ, như nước và sóng, không thể tách ra. Vì thế, muốn tiêu diệt vọng tưởng, phải hạ thủ công phu ngay ở tâm. Nếu tu hành mà xa lìa tâm là đã gãi ngứa ngoài giày rồi. Do đó, đã tu tâm mà không dùng pháp nhập lưu (vào dòng) thì không thể thành công.
Tâm là môi trường giới hạn cho việc gọi là xuất lưu hay nhập lưu. Hễ ngoài tâm, bất kể là lỗ mũi, đan điền, hai mạch Nhâm và Đốc… vẫn là xuất lưu. Kể cả lục diệu pháp môn: sổ, tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh, dụng công sâu vào tới tạng phủ, thì vẫn còn nhảy nhót ở vũ trụ vật chất chứ chưa vào được đến tâm nên vẫn còn là hình thức xuất lưu. Thế nên, đã sai lệch nguyên tắc rồi thì dù ta có lấy hết sức chín trâu hai cọp, đem tinh thần tập trung lại một chỗ, hết sức ròng, hết sức thuần nhất cũng chỉ mở được vàng đá (vật chất) chứ không thể mở được cửa lớn giải thoát.
Tu vào trong tâm gọi là nhập lưu, thấy được bệnh của tâm (vọng tưởng) nên dễ đối trị, có rất nhiều pháp tu của các đạo tràng đã dùng pháp quán tưởng để tiêu diệt vọng tưởng, bảo người học quán tưởng một vật gì mình yêu thích nhất, giữ chặt nó ở tâm khiến vọng tưởng không có đất dụng võ, đạt được hiệu quả của chế tâm một chỗ. Kinh nói: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (chế tâm một chỗ, không việc gì chẳng xong).
Các tông đại thừa như: Thiên Thai, Duy Thức, Tịnh Độ, Mật Tông cũng thường dùng pháp quán tưởng này. Thực chất pháp trên chỉ là uổng công ngày tháng, không thể đạt kết quả giải thoát. Chân như và pháp thân đã bị cái tướng đẹp của quán tưởng che lấp đi, khác nào “một cụm mây trắng che trước hang, biết bao chim bay mờ mịt tổ”.
Pháp môn khởi quán cũng vậy, nếu cho đó là diệu pháp cơ bản, tu tới cũng sợ rằng có trục trặc?!
Thử xét pháp quán tưởng 32 tướng tốt của Phật mà nói, khi quán thành công rồi thì sao? Cuối cùng, có phải bỏ đi hay không? Nếu phải bỏ thì cần gì phải bỏ công ra để quán? Nếu không bỏ thì suốt ngày, nơi nào cũng thấy Phật: ở tô canh, ở trên tường, ở mọi nơi…, e rằng không tốt đẹp gì lắm!
Trong đại thừa cũng có một pháp nhập lưu, đó là pháp tảo niệm (quét niệm) để quét sạch các vọng niệm chảy mãi, vì chính vọng niệm này khiến tâm phát cuồng, mất đi trí huệ, lại hay sinh ra ưu bi khổ não. Đại Sư Thần Tú cũng như các vị cổ đức chủ trương: “giờ giờ thường lau chùi, chớ để dính bụi bặm”. Nhưng cứ lau hoài mà lau không hết thì làm sao đây? Bởi vì sáu cửa mở lớn, trần cảnh xâm nhập tạo thành biết bao vọng tưởng. Lau được một phần lại vào chín phần. Kết quả, vọng tưởng thắng thế, phí công vô ích.
Người tu rút kinh nghiệm thêm một chút, biến cải pháp quét thành pháp mặc kệ (nhậm do). Vọng đến không đón, vọng đi không đưa. Tự mình đứng qua một bên, tha hồ vọng đến, đi bao nhiêu cũng kệ. Gọi là “núi xanh mãi chẳng động, mây trắng tự lại qua”. Giá trị pháp này cũng anh em với pháp quét, chỉ dùng kiến phần chứ thiếu tướng phần, trở thành một bàn tay khó vỗ kêu, một chân khó bước tới.



5403  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 11, 2008, 10:20:47 am

MƯỜI BÀI GIẢNG
 VỀ GIẢI THOÁT HỌC
(Giảng từ ngày 08-04-1978
 tại Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Hoa
 Thành Phố Sydney-Australia)

BÀI GIẢNG THỨ NHẤT

Thưa quý vị Đại Đức,
Hôm nay, chúng tôi rất hân hạnh cùng quý vị nghiên cứu Phật pháp ở hội này.
Phật pháp như biển cả to lớn không bờ, chúng ta phải bắt đầu từ chỗ nào?
Hôm nay, chúng tôi chỉ xin lựa chọn một pháp có liên hệ lợi ích thiết thực nhất cho quý vị, đó là pháp “giải thoát” để trình bày phân tích, giúp quý vị có thể ứng dụng tu hành, vào cửa giải thoát, đến chỗ tự tại lớn.
Thưa quý vị,
Pháp giải thoát chính là thiền học đã được tu chính, sở dĩ không gọi là Thiền mà gọi là Giải thoát vì gần đây, việc tu Thiền đã không mang lại kết quả giải thoát như trước nữa. Nên nay, vì mục tiêu tối thượng ấy mà chúng tôi đưa ra pháp tu này, nếu siêng năng y theo để tu, chắc chắn cánh cửa giải thoát sẽ rộng mở đón quý vị.
Xưa nay, Thiền Tông Phật giáo đã hấp dẫn rất nhiều học giả và nhân sĩ có chí hướng cầu đạo giải thoát.
Nhưng số chẳng ít người đã tu Thiền nhiều năm mà không đạt lợi ích cụ thể nào, lại còn sinh ra một số việc không hay, tạo nên mặc cảm tâm lý cho mọi người “kính trọng Thiền mà không dám đến gần”, vừa kính lại vừa sợ là thế.
Thiền Tông của Tổ Đạt Ma truyền thừa, gọi là chính pháp nhãn tạng. Chính pháp là Phật pháp chính thống, nhãn tạng là vì Thiền Tông là cặp mặt sáng của ba tạng, mười hai bộ kinh Phật. Giống như Ngô Đạo Tử vẽ ra rồng thần, hết sức sinh động nhưng mắt lại thiếu con ngươi nên không thể bay lên, nay chỉ điểm thêm con ngươi vào, liền thoát khỏi tờ giấy, vọt thẳng lên không.
Tông chỉ của Thiền Tông là “Trực, Tiếp, Liễu, Đương”. Trực, Tiếp là không quanh co, nhánh nhóc, phương pháp đơn giản. Liễu, Đương là được cứu cánh và an tòan. Nhưng lại có số người tu Thiền lại bị bệnh là tại sao? Đó không phải do Thiền mà chỉ vì phương pháp tu thiếu chính xác thôi!
Thiền ở Ấn Độ có hai phái lớn là Nam truyền và Bắc truyền. Nam truyền chủ trương chế tâm một chỗ, khiến muôn niệm quy về một niệm. Bắc truyền tiến thêm một bước nữa, khiến một niệm hoá thành vô niệm. Nam truyền chỉ giải quyết lợi lạc cho chính bản thân người học sao cho được nhất tâm bất loạn. Giáo pháp tùy theo mỗi vị vận dụng, trăm màu nghìn vẻ, không đủ thời gian để trình bày hết ở đây. Thiền của Bắc truyền như trăm hoa đua nở, nhưng được ưa thích nhất là Thiền của Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Tổ Bồ Đề Đạt Ma riêng giương ngọn cờ “ chỉ thẳng tâm người sáng tâm thấy tính, thấytính thành Phật”. Phương pháp này rất khoa học, trước phải tìm ra cho được tâm, rồi hạ thủ công phu ngay tâm đó.
Lục Tổ Huệ Năng cũng nói: “Không biết tự tâm mình, học Phật vô ích”. Phật pháp là trị liệu bệnh của Tâm, nên biết được tâm là điều kiện quan trọng nhất. Rất nhiều người tu nếu hỏi họ tu cái gì, tất cả không hẹn đều đáp là tu tâm. Nhưng nếu hỏi tiếp, Tâm ở đâu, vì sao phải tu Tâm, không tu tâm có hại gì, tu tâm thành công được lợi ích gì…; chắc chắn là họ sẽ trợn mắt cứng lưỡi không thể trả lời. Người nào đã học Lăng Nghiêm sẽ bắt chước nói: “Tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa”, tuy nói thuộc lòng vậy chứ thật sự họ đã hiểu tâm đâu!
Trong thư trả lời câu hỏi cho một pháp sư ở Hồng Kông mấy hôm trước, tôi đã nhấn mạnh Phật pháp chân chính không phải chỉ nói ở miệng, cũng không phải trình bày phân tích dài dòng trên giấy trắng mực đen, mà phải là chân dẫm ngay trên đất thật, từng bước vững chắc tiến tu.
Cho đến ngày nay, khuyết điểm lớn nhất của Phật giáo là nói nhiều hơn tu, hoặc tu mà không hiểu rõ, không đúng cách, kết quả rơi vào không. Vì thế, một tông giáo cao cả thần thánh như Phật giáo hiện chỉ còn là một cái vỏ đẹp đẽ, còn bên trong đã mục rỗng dần từ lâu.
Ai cũng nằm lòng, mục đích của học và tu Phật là trước cầu đạo giải thoát cho bản thân, sau giúp đỡ cho người khác cũng được giải thoát như mình.
Con người, có hai thành tố cơ bản là thân xác và tâm linh. Tiến sĩ Vật lý Pereschovski (Tlepecroboku), trưởng đoàn phi công vũ trụ Liên Xô gọi là khung vật chất (material body) và túi thông tin (information bag), đấy là quan niệm đúng đắn nhất của các nhà khoa học hiện tại. Tấm thân bảy thước này chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên nên có sinh, lão, bệnh, tử không thể cưỡng lại được. Vậy mà, cũng có người lại muốn luyện nó thành kim cang chẳng hoại, thọ ngang trời đất. Nhưng thực tế, quả đất này cũng có ngày phải tan hoại, vậy sau khi nó bị diệt rồi, viên kim cương chẳng hoại ấy sẽ phải đặt nơi nào?
Chỉ có tâm linh là vật hình nhi thượng, không sanh diệt theo sự biến đổi của thân. Vậy hợp lý nhất là phải công phu ngay chính ở tâm. Nhưng quan trọng hơn cả là trước tiên phải tìm cho ra được tâm ở chỗ nào? Chứ đánh giặc mà không biết kẻ địch ở đâu, tu tâm mà chẳng biết tâm ở chỗ nào, thế mà đòi thắng trận giải thoát, có phải là việc “leo cây bắt cá” chăng?
Thực ra, tìm tâm cũng không phải là việc quá khó gì, chỉ xin quý vị nhắm hai mắt lại, chú ý vào bên trong thân, phát hiện trong đó có những thứ tự ngôn tự ngữ, có nói có cười, đó là thấy được tâm rồi. Nhưng cái tâm thấy được này, nhà Phật gọi là Vọng tâm (tâm vọng tưởng), cũng gọi là Niệm hay Sanh Diệt, là cái tâm không chính thường đang phát cuồng đó. Tâm vọng tưởng này, trong kinh ví như trăng trong nước, nó không ở một chỗ. Chính vì thế, nó là nhân của luân hồi, trôi lăn trong biển khổ của con người. Nhưng, người muốn cầu đạo giải thoát, trước phải nương vào đó để tìm sâu vào trong, sẽ thấy vầng trăng sáng soi khắp mười phương. Tiếp theo là khởi tâm niệm Phật. Nhắm hai mắt lại, mặc niệm bốn chữ Dược Sư Như Lai (hay Thánh hiệu khác), xoay sức chú ý lại vào bên trong tâm (hồi quang phản chiếu), vừa niệm vừa chú ý. Khi đã quen, nước tâm lắng trong sẽ phát hiện ra trong thân có một vật là”điểm niệm Phật”, tuy không thấy hình hay nghe tiếng của vật này nhưng trên phương diện cảm giác không thể phủ nhận nó được.
Cái tâm niệm Phật này trong kinh gọi là mặt trăng thứ hai, nhân dụi mắt mà thấy lệch ra kế bên, cách mặt trăng thật không xa. Thấy được tâm vọng là việc bất cứ ai hễ nhắm mắt lại, chú ý vào bên trong thân là có thể thấy nó. Nhưng nó lại có đặc điểm là rối loạn, có nói có cười chứ không yên lặng như người ta tưởng.
Còn muốn thấy được tâm niệm Phật, phải có công phu chút ít. Nếu không, dù quý vị nhắm mắt mặc niệm danh hiệu Phật vẫn chưa thấy ngay đâu. Phải sau thời gian vài giờ, nước tâm lóng trong, điểm niệm Phật mới bắt đầu thấy hiện. Chân tâm (mặt trăng thật) tức là tâm linh vô niệm, rõ ràng thường biết, là tâm đã khôi phục được trạng thái chính thường. Nó có vô số tên gọi khác, đến hàng trăm tên: Bản Lai Diện Mục, Bản Địa Phong Quang, Ông Chủ, Chân Như, Thực Tướng, Tính Viên Giác, Hải Ấn, Yêm-ma-la-thức… Giới khoa học thì gọi là Vũ Trụ Tri Giác, Vũ Trụ Phi Vật Chất, Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ.
Chúng ta không phải đang thuyết giảng suông, dù cho có đọc thuộc lòng cả trăm tên gọi của chân tâm trong kinh cũng không thể mang lại lợi ích thiết thực, là cái mà chúng ta đang rất cần biết rõ. Thêm nữa, phải dùng phương pháp nào để thấy được chân tâm, sống với nó liên tục mãi mãi?
Đó là mục tiêu phải đạt đến trong việc nghiên cứu ở đây.


5404  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / PHÁP NGỮ KHAI THỊ VONG LINH vào lúc: Tháng Tư 10, 2008, 07:49:52 pm

PHÁP  NGỮ
KHAI THỊ CHO NGƯỜI  QUÁ CỐ
----OOO----
Vong linh ơi hỡi vong linh
Lắng nghe pháp nhũ những lời sáng soi
Bây giờ ngươi đã lìa đời
Đừng nên sợ hãi nghe lời tôi đây
Từ đâu ngươi đến kiếp nầy
Xác thân nương gá phút giây sống đời
Gian lao lửa dậy bời bời
Trăm năm nào có chắc gì nước non
Tấm thân nhỏ bé hao mòn
Bây giờ đã tắt chẳng còn sống đâu
Vậy nên buông bỏ ưu sầu
Lắng tâm niệm Phật hàng đầu nhớ cho
Đừng nên tủi phận một sò
Trầm luân đau khổ, hẹn hò tái sanh
Vong linh  ơi hỡi  vong linh  !
Bây giờ ngươi đã biết mình biết ta
Âm dương đôi ngã bóng tà
Khác miền dương thế những là biệt tăm
Phía trước bao cảnh dễ lầm
Ngươi nên cẩn thận , kẻo nhầm lối đi
Ngươi sẽ trải qua những gì
Nghe đây lời nhắc khắc ghi chớ buồn
Bốn phương mây đổ gió cuồng
Gầm rung giông bão những luồng khiếp ghê
Biết đâu đe doạ bốn bề
Hang sâu thăm thẳm miệng kề sát bên
Hoặc là lửa cháy vang rền
Khói đen bốc toả từng giề phủ che
Cùng là những cảnh hăm he
Lửa nào cháy dậy chuôn che chuyện mình
Vong linh  ơi hỡi vong linh !
Hãy đừng lo sợ niệm kinh đuổi tà
Di-Đà ánh sáng phóng ra
Nương theo cảnh Phật lòng ngươi an lành
Chớ nên quyến luyến ngọn ngành
Âm dương đôi ngả phải đành nhận ra
Xác thân nào phải của ta
Bà con quyến thuộc chỉ là tạm nhau
Dương trần chẳng có bao lâu
Bây giờ ngươi đã ra mầu cách xa
Nghìn năm vĩnh biệt ta-bà
Ngươi đừng tiếc nuối hồn ma đoạ đày
Phải nên xả bỏ kiếp nầy
Đừng nên luyến tiếc mà gầy thân sau
Luân hồi mang mãi lao đao
Ích gì nối lại tơ hào tử sanh
Đã bao kiếp sống chạy quanh
Sống lên thác xuống đành hanh mấy lần
Giờ đây xả bỏ dương trần
Mà về Cực-Lạc một lần thiên thu
Chớ nên luyến  ái ngục  tù
Tái sanh đây đó mịt-mù hồn hoa
Bao lần gởi xác tha ma
Thì nay dứt gọn chẳng là khoẻ sao ?
Dứt tình tưởng nhớ lao xao
Định tâm tưởng Phật mà vào vô sanh
Vong linh  ơi hỡi vong linh  !
Những lời pháp nhũ đinh ninh dặn dò
Ngươi nên nhẹ gót qua đò
Đừng sầu đừng tủi đắn đo uổng đời
Trăm năm vật đổi sao dời
Nào ai tránh được gọi mời ra đi
Dương trần mê muội nhiều khi
Những là khóc kể  ích  gì cho ngươi
Ngươi nay đã bỏ kiếp người
Thì nên niệm Phật một lời ra đi
Nương theo ánh sáng trường kỳ
Di-Đà thệ nguyện còn chi lớn bằng
Chỉ nên nhớ Phật nằm lòng
Tâm tư  chí nguyện  thẳng trong một đường
Mong về Cực-Lạc Tây phương
Sen thơm bảy báu mùi hương đành rành
Vong linh  ơi hỡi vong linh !
Gắng thêm chút nữa giữ mình định tâm
Thẳng về Cực-Lạc gởi mầm
Định tâm chẳng lạc chẳng lầm quỉ ma
Luân hồi vĩnh viễn  bước  xa
Mừng nên thắng  ích hương hoa kiếp nầy
Quan Âm,  Thế Chí các ngài
Cùng là bạn lữ rao bày pháp âm
Bồ-đề toả cánh tay cầm
Mừng say chơn tánh hoa tâm nở tròn
Vô sanh quả Phật đã tròn
An vui vĩnh kiếp hết còn tử sanh.

HẾT

CHÁNH NGUYÊN
( sưu  tầm)
5405  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 10, 2008, 10:58:56 am

NGÀY THỨ BẢY

“Phật pháp vô đa tử” (pháp Phật không có nhiều con cái) là ý thế nào?
Đó là muốn nhấn mạnh điều quan trọng nhất là sợ người tu hành nắm không được trọng điểm, xa rời nguyên tắc, trở thành “anh mù cưỡi ngựa đui”, chạy càn đụng bậy, chẳng những tu không thành công mà còn gặp nguy hiểm lớn lao. Cho đến nay, có ngàn ngàn muôn muôn người muốn tới được thế giới Cực Lạc vàng ngọc sáng rỡ (tu Tịnh), không ít người muốn lập địa thành Phật (tu Mật), tôi đều dám bảo lãnh cho họ chắc chắn đạt như sở nguyện nếu họ chịu trang bị thêm chiếc áo giáp “tâm linh vô niệm”.
Có lẽ quý vị ấy sẽ phản đối rằng tâm linh vô niệm là quan điểm của Thiền Tông, chúng tôi tu Tịnh và Mật nên không thể vui theo lý luận đó được. Cái các ông muốn là không (trống vắng), còn cái muốn của chúng tôi là bất không (chẳng trống vắng).
Nên hiểu rằng, cái Không (trống vắng) của Thiền Tông cũng chính là cái Hữu (có) của Tịnh và Mật, đó là trống vắng tất cả tạp niệm để đạt tất cả pháp lành. Ngược lại, Hữu của Tịnh, Mật cũng chính là Không (trống vắng) của Thiền Tông, vì muốn đạt được tất cả pháp lành, đòi hỏi đầu tiên là phải Không (trống vắng) tất cả tạp niệm đã. Nôm na dễ hiểu là “dọn kho cho trống để chứa đồ và muốn chứa đồ phải dọn kho cho trống”.
Cách nói tuy khác nhưng mục đích nguyên tắc vẫn chỉ là Một: giải thoát tất cả, được tự tại lớn.
Hiện nay, đáng tiếc trong sách Tịnh Độ đã thêm mắm dặm muối rất nhiều, khiến mặt mày đã đổi khác như : “ chỉ cần niệm mười danh hiệu Phật A Di Đà cũng chắc chắn được vãng sanh không nghi”. Đáng sợ nhất là câu này lại từ cửa miệng của Đại sư X. (thật lòng từ bi của ông quá vô lượng), ai dám bảo là sai?
Đến khi làm công (tu) mãi mà không nhận được tiền mặt (kết quả), thắc mắc thì được đại sư khéo léo giải thích, cầm tờ chèque này về thế giới Cực Lạc lãnh tiền mặt, ông bây giờ hoài nghi làm gì?
Được lời như cởi tấc lòng, mọi người vỗ tay hoan hô, ngợi khen nức nở, tiếng vang dội khắp nơi. Nhưng nếu hỏi lại “chữ ký bảo chứng ở đâu?” thì chính ngay đại sư cũng không trả lời được. Điều khiến người tu Tịnh hài lòng vui vẻ hơn cả, ở chỗ được xí xái “mang nghiệp vãng sanh” nên hiện nay chẳng cần phải tích cực trả nợ (tu pháp lành) làm gì, vì trong tương lai còn có người bảo lãnh để “khất nợ mà đi” cơ mà! Thực ra, nghiệp có hai loại: tịnh nghiệp (nghiệp sạch) và nhiễm nghiệp (nghiệp dơ). Chỉ có tịnh nghiệp ông mới có thể mang theo để vãng sanh, nếu mang được nhiễm nghiệp và niệm 10 Phật hiệu cũng được vãng sanh theo sức đại từ đại bi đại nguyện đại lực của Phật, Bồ Tát, thì trên thế gian này đã không còn đến chim muông, trùng, cá nữa thay, huống gì là con người.
Thực tế, nếu trong tâm ông vẫn còn tạp niệm tuôn trào, dẫu có đến được thế giới Cực Lạc đi nữa, chắc gì ông đã được vui? Ông không thấy bao nhiêu người ngồi trong xe hơi hiện đại, gắn máy lạnh, bóng láng mới mẻ kia mà lấy nước mắt để rửa mặt sao? Hoặc trong những tòa nhà lầu cao ngất, những biệt thự diễm lệ kia vẫn có những người Không Thích Sống nữa à? Vì cớ sao? Chỉ vì trong tâm họ đang thét gào những dòng niệm đau khổ tuôn chảy.
Dòng niệm chính là Hoặc, Nghiệp, Khổ. Nếu không nhổ sạch tận gốc của nó, ở ngay nước Cực Lạc mà chỉ có người ta cực lạc (rất vui), còn ông thì cực khổ (rất khổ). Người tu Tịnh Độ, nghe đến đây chắc chắn sẽ sinh lòng tức giận, cho là tôi chống đối, tạt gáo nước lạnh vào mặt họ, nào thì là tôi quá độc ác, chẳng có chút lòng giúp chúng sanh lợi lạc.
Chẳng lẽ, những câu dạy “chí bảo” của nhiều đời tổ sư đều là giả dối cả sao? Xin chân thành thưa rằng, phần trên tôi đã nói, bản thân tôi cũng là người tu Tịnh, nhưng mà là tịnh nghiệp, cùng đứng chung tuyến với tất cả quý vị tu niệm Phật. Nhưng chỉ xin góp ý là, muốn đạt được chí hướng to lớn đó của quý vị, phải cần sửa đổi phương pháp lại đã:
Trước hãy nhắm đôi mắt lại, mặc niệm trong tâm bốn chữ A Di Đà Phật để thay thế muôn niệm, ra sức chú ý vào điểm niệm Phật trong thân, chỉ sau năm phút là quý vị sẽ được nhất tâm bất loạn. Kế đó, phải tiếp tục chú ý vào điểm niệm Phật như mèo rình chuột vậy, đồng thời lại liên tưởng đến tại sao có điểm này ở ngay trong thân máu thịt? Lúc đó, quý vị cảm thấy vô cùng thú vị, cái chìa khóa mở cửa thế giới Cực Lạc ở phương Tây đã nằm trong tay quý vị rồi đó. Ở nước ngoài, có chẳng ít đạo hữu tu Mật, nói nào là được “tam nghiệp gia tri” (ba nghiệp hộ tri) thì chỉ cách có gang tấc (tam quân tề hạ chi thế) là sẽ “lập địa thành Phật” ngay. Nhưng tu hành đâu có phải như rải nước mà vung vảy khắp nơi. Gốc bệnh của Mật Tông là ở chỗ phân tán tâm linh ở ba nghiệp một lúc này!
Như thế thì chưa đạt đến chế tâm một chỗ, làm gì nói đến giải thoát? Tôi đã từng gặp một vị nổi tiếng về truyền Mật pháp, tôi hỏi ông ta có bị phân tâm trong khi hành phương pháp tam nghiệp gia tri này không? Ông không phủ nhận, nhưng nói dò: “khi Chín rồi (thục)  thì khỏi”.
Nhưng, “chín” là thế nào? Trải qua thời gian phát triển đủ chất, chín ở trên cây, hay luộc chín ở trong nồi rồi dọn lên? Chữ chín của ông nói không biết thuộc loại nào?
Nghĩa đúng đắn nhất của câu “khi chín rồi thì khỏi” (thục liễu bất hội) là, trước tiên phải tu pháp không phân tâm cho đến lúc đủ trình độ vững vàng (lửa lò thuần xanh) thì tu bất cứ pháp nào cũng không bị phân tâm, như Đại sư Lục Tổ Huệ Năng bảo:
“Giả sử thiết luân đỉnh thượng tuyền, Định huệ viên minh câu bất thất” (trên đầu, bánh xe sắt xoay, Không làm định huệ tròn đầy mắt đi). Nghĩa là bất luận cảnh giới nào cũng không phân được tâm của Ngài!
Có một phái Mật Tông ở nước ngoài lại rất cẩn thận đề ra pháp mở đỉnh đầu. Phải chuẩn bị mở sẵn như thế để khi tử thần giá lâm, tránh khỏi tay chân rối loạn, linh hồn sẽ chạy thoát qua đỉnh đầu để phi thăng. Sợ nó chạy bậy qua ngực hay chân sẽ bị rơi vào cõi người hay cõi địa ngục. Thận trọng đến thế là cùng!??
Con người có tổng cộng sáu cửa lớn: mắt, tại, mũi, lưỡi, thân, ý. Suốt ngày đêm đều mở ra toang toác, ánh sáng tâm không ngừng phóng ra, sáu trần không ngừng thâm nhập vào, lại không để ý đến việc quan trọng ấy. Nay lại xây cất thêm một cái động nhỏ kế bên thân thể để phòng khi bất trắc. Việc làm ấy có cần và có đáng lắm không? Xem đó, đã biết người, biết trí huệ của họ ra sao rồi!
Đã thế, lại có ngươi thêm râu ria vào, bảo rằng khi đã mở được đỉnh đầu “có kiết tường” (?) có điều kiện cắm vào da đầu để hết khổ, đó chẳng phải là diệu kế sao? Ba sợi dây to lớn Hoặc, Nghiệp, Khổ đã trói buộc chúng ta từ lâu, giả sử người mở đỉnh đầu có cắt đứt dây khổ đi nữa, vẫn còn hai dây Hoặc, Nghiệp giữ chặt. Đừng nói là có kiết tường, cho dù là cây đại thọ kiết tường được trồng lên đỉnh đầu cũng còn chưa chắc giải thoát nữa là. Vả lại, trồng cỏ kiết tường như thế nếu đã được lợi ích không thể nghĩ bàn, thì những màn biểu diễn hấp dẫn khác như đi trên than hồng, ngồi kiệu đao, xâm kim đồng, cắt đầu lưỡi… tại sao lại chẳng thể nghĩ bàn?
Tóm lại, ông có muốn lập địa thành Phật thì trước hết cũng phải dọn kho cho trống, tiêu diệt hết tạp niệm, những thứ tự ngôn tự ngữ hoàn tòan không còn trong thân rồi, thì mười phương Như Lai sẽ khác miệng đồng lời tán thán ông, các Ngài sẽ chuẩn bị tòa trống để chờ đợi ông ngồi.
Cũng có người cho rằng, vì tôi tu thiền nên ra sức bài bác các tông khác, chỉ đề cao pháp hướng thượng này. Như thế là quý vị ấy đã hết sức cục bộ rồi. Nói cho đúng theo lương tâm, cho đến nay, Thiền Tông chỉ còn sót lại một cái vỏ đẹp đẽ, còn linh hồn đã mất từ lâu.
Không ai có thể phủ nhận được vị trí đứng đầu các tông của Thiền, vì lý luận của Thiền hết sức cô đọng, sắc sảo. Chính Pháp Sư Thánh Nghiêm, Tiến sĩ Phật học ở giảng đường Phật giáo quốc tế tại New York, cũng đã công nhận trong Phật giáo Chánh Tín “Thiền Tông là cốt tuỷ của Phật giáo”. Thật thế, chẳng những trong Phật giáo đã ca tụng mà Nho gia thi sĩ cũng rất nhiều người đề cao các câu như:
“Cao cao sơn đỉnh lập
Thâm thâm hải để hành”
(Đứng trên đỉnh núi cao thật cao
Đi dưới đáy biển sâu thật sâu)
“Tàng thân xứ mạc tung tích
Mạc tung tích xứ mạc tàng thân”
(Nơi giấu thân chẳng tung tích
Nơi không tung tích chẳng giấu thân)
“Không thủ bả sử đầu
Bộ hành kỵ thủy ngưu
Nhân tùng kiều thượng quá
Kiều lưu thủy bất lưu!”
(Tay không, cầm chắc cuốc
Đi bộ, lại cỡi trâu
Người đi trên cầu qua
Cầu trôi nước chẳng trôi)
“Vô niệm niệm, tắc chánh
Hữu niệm niệm, thành tà”
(Cái niệm khi đã vô niệm là chánh
Cái niệm lúc còn hữu niệm là tà)
“Mạc thuyết vô tâm tiện thị đạo
Vô tâm do cách nhất trùng quang”
(Chớ bảo vô tâm chính là đạo
Vô tâm còn cách một lớp rào)
Những câu trên rất thâm thuý về đạo lý, nhiều người thuộc và hay nhắc. Nhưng vì quá chú trọng đến “biện pháp tu từ” của nghệ thuật nên đã bị lệch Tông chỉ Thiền “chỉ thẳng tâm người”. Ngoài ra, có số ngược lại, đã quá thô kệch, vụng về, đem chân tâm mà cho là cục cứt khô, ba cân mẻ, cây bá trước sân, củ cải đất Hồ Châu… khiến đầu óc người học mơ màng đen tối. Diệu pháp thẳng, mau, rõ, đúng đã trở thành “bờ biển vịnh Thái Lan” có chín mươi chín khúc cong vậy!
Về phương pháp tu Thiền cũng đã có không ít những “quái chiêu”. Có người tham một chữ Vô suốt mấy chục năm, lại cũng có người suốt mấy mươi năm lại chỉ tham một chữ Thuỳ (Ai). Thật là lạ lùng! Thay vì tham chữ Vô, chữ Thuỳ, ta dùng pháp “quán tượng Phật”, tuy cả hai đầu che lấp tâm thể, cắt đứt với duyên giải thoát, nhưng cái sau còn vớt vát chút ít phước đức cõi trời, cõi người nhờ quán 32 tướng tốt của Phật, có phần đỡ hơn chứ?
Tham cả câu “niệm Phật thị thuỳ?” (niệm Phật là ai?) đã là có khuyết điểm rồi, huống nữa chỉ tham một chữ Thuỳ, thật là mộng tưởng mở cửa trời. Vị học nhân này, nếu quả tình tham được ra điều mong mỏi thì thật trên đời này không ai có phước bằng ông ta!
Nói rút lại, mục tiêu chính xác của giải thoát là TÂM LINH VÔ NIỆM!
Nếu quả thật quý vị phát hiện được một pháp nào thẳng, mau, rõ, đúng hơn pháp Nhiếp hoá mà vẫn đạt đến mục tiêu trên thì khỏi cần theo pháp này làm gì. Nhưng theo chỗ tôi biết, cho đến nay vẫn chưa có pháp nào hay hơn pháp Nhiếp hoá này. Dĩ nhiên, chúng ta cũng sẽ không ngừng hướng vào trong tâm, tiếp tục tìm tòi, phát minh ra pháp tối tân hơn để phổ biến cho mọi người sử dụng.
Lần mở thiền thất này cũng có một số thành tích vượt bậc, có vài vị học nhân đã được lợi ích lớn, xin thành thật chúc mừng quý vị đó. Nhưng tôi thành tâm khuyên quý vị này không nên cho thế là đủ, vì sự vô niệm trong tâm quý vị còn rời rạc, chưa đủ để chứng minh là ra khỏi sanh tử. Cần phải “đầu sào trăm trượng, thêm bước nữa” để được vô niệm suốt 24 giờ trong ngày, ở bất cứ đâu và làm bất cứ việc gì, trong tâm vẫn không tạp niệm. Ấy mới gọi là nhảy khỏi luân hồi, chứng quả vị Bồ Tát cao địa rồi!

       Bangkok, ngày 25-02-1976.
                                   Thích Quang Tông



5406  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 09, 2008, 05:12:34 pm

NGÀY THỨ SÁU

Hai chữ tu hành, tôi đề nghị nên đổi thành Trị Tâm Bệnh mới rõ nghĩa.
Vì tu hành gây cho người ta ấn tượng hư ảo, mờ mịt, xa xăm, không giới hạn. Sở dĩ có thứ ấn tượng trên là vì có nhiều sự thật nói lên điều đó. Như có người tiếng là tu hành mấy mươi năm vẫn không sửa đổi một chút gì ở mình. Những thuộc tính như thông minh, tài trí, tính nết, nói năng, hành động… cũng chẳng có gì khá hơn, dù đã gọi là tu nhiều năm.
Tại sao tu hành là trị tâm bệnh? Kinh nói “Phật nói tất cả pháp vì trị tâm chúng sanh” (Phật thuyết nhất thiết pháp, vị trị chúng sinh tâm). Nếu tu hành mà xa rời nguyên lý trị tâm bệnh này, cho dù có kết quả gì đi nữa đều chẳng phải là tu Phật, hoặc rơi vào không mà thôi!
Nói trị bệnh, cho người ta có ấn tượng là thời gian ngắn, là hiện thực, là có lợi ích.
Xưa nay, tu hành là một công tác hết sức hiện thực, chỉ có điều khác là đối tượng của nó ở phần hình nhi thượng là tâm linh. Giới khoa học mũi nhọn hiện nay cũng công nhận vô hình sinh ra hữu hình. Vô hình thần diệu và vĩ đại hơn hữu hình, vì “vật báu” bên trong của nó vô lượng vô biên (xem lý luận về Trường Quy Phạm Quanta Du Champ nói về 4 thứ lực). Để hoàn chỉnh và phát huy vận dụng những vật hữu hình,  yêu cầu cao nhất là phương pháp. Còn đối với vật vô hình, muốn điều động nó để có lợi ích, yêu cầu trước hết là phát hiện ra sự tồn tại của nó (hạt tối cơ bản Quark không thấy được nhưng vẫn tồn tại quan trọng), sau đó mới nói đến lý luận và phương pháp.
Tâm linh là vật vô hình, nhưng không thể không có nó. Tuy mắt thịt không thể thấy hình dạng của nó, nhưng chúng ta vẫn có cách nhận biết tính chất và vị trí của nó. Dùng nguyên tắc “mở mắt thấy vật, nhắm mắt thấy tâm”, ai cũng biết cách để nhận ra tâm (tâm vọng). Đã thấy được nó, ta vận dụng kỹ thuật đặc biệt, đi sâu vào trong nó, chuyển hóa nó trở lại chính thường, đó không phải còn là chuyện khó khăn nữa.
Các nhà tôn giáo trên thế giới sở dĩ chưa phát huy được khả năng cứu đời to lớn của tôn giáo là vì chưa thật chú ý đến điểm này, khiến cho tôn giáo ngày càng xa rời xã hội. Lý luận và pháp tu của tôn giáo ngày nay đã lỗi thời, không mang lại lợi ích cụ thể cho loài người như lợi ích của trường học, bệnh viện và các đoàn thể từ thiện xã hội.
Cũng chính vì đi lệch trọng điểm tâm linh (tâm hồn) dẫn đến sai sót về quan niệm và kỹ thuật trong tôn giáo, thành quả đóng góp cho nhân loại chỉ được một nửa, tạo thành mặc cảm sâu sắc cho những người theo chủ nghĩa giá trị, đánh giá thấp về tôn giáo. Tình trạng bi đát này không thể chỉ tuyên truyền nói suông mà được, phải có thực chứng mới biến cải nổi.
Quan niệm tu của tôn giáo hiện nay là cầu nguyện, kỹ thuật dùng để cầu nguyện là “hết lòng thành” (kiền thành). Giả sử việc cầu nguyện hết lòng thành này có thể cảm ứng được Trời Phật chăng nữa, những kết quả lợi ích mang lại thường thấy là gì, như tai qua nạn khỏi, gặp nạn thoát nguy, bình an mạnh khỏe… Nghiêm túc mà nói, những thứ đó chỉ là hết sức nông cạn, điện xẹt, đá chạm ra lửa mà thôi (tạm thời). Tại sao không vận dụng khai thác biết bao lợi ích to lớn, phong phú và trường cửu ở trong tâm linh. Nếu chúng ta biết được phương pháp tốt để phổ biến ra, xác định mục tiêu rõ ràng, cùng nhau hạ thủ công phu thì tất cả vật báu ẩn tàng vô số sẽ thuộc về chúng ta, không còn sức bên ngoài nào ngăn cản nôỉ (xem Thần Kỳ Học).
Hôm trước, có một vị cư sĩ cho biết, người thân ông ta mấy năm về trước nhân tu Thiền mà sinh bệnh, sau đó phải bỏ cuộc. Tôi hỏi ông ấy tu cách nào? Vị này bảo, thầy ông ấy chỉ dạy ngồi chứ không dạy phương pháp. Tôi đáp, vậy thì thầy ông ấy phải hoàn tòan chịu trách nhiệm.
Nhắm mắt tĩnh tọa, người nào cũng có thể làm được, nhưng có người ngồi thành công, có người không, duyên cớ tại sao? Đó là vì phương pháp khác nhau vậy. Kinh Phật giải thích ba chữ “Pháp Vương Tử” là người nghe được pháp từ miệng Phật nói ra. Pháp thân đại sĩ chẳng phải trời ban mà là nghe được Phật pháp chính xác, vào sâu trong tâm để làm cho tâm cuồng loạn dừng bặt an ổn trở lại mới chứng đại sĩ; chứ không khi nào có kiểu “trời sanh Di Lặc, tự nhiên có Thích Ca” được cả. Chư Phật trước khi thành Phật nào khác gì chúng ta, trong thân cũng cuồn cuộn tạp niệm chảy, thấy như thế là không ổn, phát tâm tu hành, gần gũi thiện tri thức lớn, công phu đình chỉ được vọng tưởng yên ổn, liền thành Phật đạo. Điểm khác biệt cơ bản giữa Phật, Bồ Tát và chúng sinh chỉ là chỗ tâm linh này thôi. Tâm của chúng sinh vì thiếu sự trị liệu, mất cả tự chủ, rối rắm không ngừng. Phật, Bồ Tát thì đã trải qua một phen công phu trị tâm tiêu diệt sạch sẽ hết những tâm ngữ mà ai cũng phát hiện được đó. Nhờ thế, mới lại được thường, lạc, ngã, tịnh vốn có, thành ra bật tòan trí tòan năng vậy. Vậy hiện nay chúng ta tu thiền, nói cách khác, là làm công phu trị tâm, điều phục cái vượn tâm ngựa ý (tâm viên ý mã) khiến chúng không còn gây họa nữa, để dùng cho tốt. Hiện nay, đạo tràng tu thiền trên thế giới rất nhiềum giáo pháp cũng mỗi nơi một kiểu không giống nhau, nhưng theo chỗ tôi biết, thành tích tốt cũng chưa thấy chỗ nào. Các đạo tràng đại thừa phần lớn dùng pháp quét niệm (tảo niệm pháp) để quét trừ tất cả những tạp niệm đáng ghét kia đi. Nhưng đó chẳng phải là pháp có hiệu quả chắc chắn, phải có nhiếp niệm và hoá niệm mới là thượng sách.
Tâm linh cũng giống như đôi mắt trong sáng, không thể chứa một vật nào khác. Một vật dù quý đến đâu khi lọt vào mắt cũng làm cho chảy nước mắt, khó chịu, phải dùng mọi cách lấy nó ra mới bình thường dễ chịu.
Giáo pháp của giảng đường Viên Thông này phổ biến giúp cho mọi người được tâm linh vô niệm, vào cửa giải thoát. Chúng ta nếu được giải thoát mới có thể dọc ngang đông, tây, nam, bắc. Còn nếu tâm linh còn có niệm, dù chỉ là nhất niệm, hoặc là chánh niệm đi nữa cũng không thể tự tại tung hoành.
Kết quả giải thoát không đặt nặng ở vấn đề tư thế ngồi có chính xác hay không, mà quan trọng là sự khai thị có đủ lực lượng giải thoát hay không? Nhưng dù lời khai thị tốt 100% đi nữa, quý vị cũng phải hết sức lắng nghe cho kỹ, vì theo kết quả của thí nghiệm sinh lý học, khả năng nghe hiểu của con người trung bình chỉ đạt khoảng từ 30% đến 40% nội dung lời nói. Khả năng nhìn xem còn thấp hơn nữa. Cho nên nội dung khai thị của tôi chắc gì quý vị nắm hết. Giả sử như quý vị có hiểu tòan bộ đi, nhưng kết quả hay không là do quý vị phải tu, chứ cho bằng nghe mà không làm thì có khác gì không nghe.
Pháp tu của giảng đường chúng ta là “tiến thêm một bước nữa”, nghĩa là đã chế tâm một chỗ rồi, phải tiến thêm vào cảnh giới vô niệm. Bất cứ ai muốn vào sâu ba tạng, trí huệ như biển đều phải qua cảnh giới này.
Lâu nay, tỷ lệ người tu thiền được vô niệm chỉ đạt phần ngàn, thậm chí phần vạn. Đâu phải cảnh giới vô niệm giấu ở tầng trời thứ 33 đâu, mà vì người tu đã không có pháp tốt nên công phu thất bại là phải. Giáo pháp của chúng ta là lượm những đồng vụn, sắt mảnh của người ta để tinh chế lại, đem nó đúc thành thánh tượng Như Lai, hiến cho mọi người lễ bái, tạo phước điền cho chúng sinh.
Thật vậy, quan niệm về thân xác này ư? Ối chà, xưa nay biết bao cổ đức đã nói nhiều về thân xác, chê nhiều hơn khen, nói nó không đáng đồng xu. Chúng ta lại kiếm mà lượm lấy nó, sửa chữa lại để làm thuốc đặc hiệu tốt nhất mà tiêu diệt muôn niệm biến mất. Không có cái quan niệm về thân xác này, giải thoát chỉ là hoa trong gương, trăng trong nước mà thôi, chỉ có thể ngắm chứ không thể sờ mó được.
Truyền thống xưa nay hay cho là người tu thiền hoàn tòan dựa vào tự lực, thật sự chỉ đúng phân nửa. Những thiền sư tài cao đến đâu cũng không thể từ trên trời rơi xuống mà đều cũng phải nhờ sự quang minh của đức Phật, pháp vô niệm vi diệu của Ngài để lại họ mới theo đó mà làm, để có thể đạt thành giải thoát hưởng quả phước huệ to lớn chứ. Người tu Tịnh Mật cũng chẳng phải hoàn tòan nhờ vào tha lực. Vì nếu, nơi đạo tràng của Tịnh Mật người đến đăng ký rồi không tu, hoặc không có được pháp hay, chỉ trông cậy hoàn tòan vào Phật từ bi tiếp dẫn, dắt đưa ra khỏi biển khổ, những người có tư tưởng như thế chắc chắn sẽ bị thất vọng lớn.
Tóm lại, dù tu Thiền, tu Tịnh hay tu Mật, vẫn phải một nửa nhờ vào Phật lực, một nửa dựa vào tự lực. Có mục tiêu chính xác, phương pháp tốt đủ cộng với thời gian và quyết tâm thì sẽ thành công không nghi vậy.
Có nhiều người tu hành, lúc mới vào đạo, đầy tâm hoan hỉ, mạnh mẽ siêng năng. Vài năm sau, tâm đạo mòn bớt, đó là nguyên nhân gì? Vì tu ngoài tâm hay tu phân tâm nên không đạt ích lợi của sự tu hành, nên rơi vào quỹ đạo, lúc đầu “trống giục tiến lên, kế yếu dần, sau ngã gục” (nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt), chuyển qua lễ bái hai ngày rằm và mồng một, sau cùng quên luôn. Sớm tối chỉ thắp ba cây nhang cũng xem là gánh nặng. Pháp môn tu vào trong tâm, chẳng phải pháp nào cũng tốt cả, như pháp quét niệm, pháp mặc kệ, pháp quán tưởng, pháp tham thoại đầu… đều không bảo đảm chắc chắn được giải thoát. Xét về mặt kỹ thuật đã thấy trục trặc rồi làm sao có thể khiến trong tâm trong lặng được sáng rỡ như gương. Cửa lớn giải thoát vẫn đóng kín như cũ. Pháp nhiếp hoá hiện nay quý vị đang thực hành, dùng bốn chữ A Di Đà Phật để hấp thu tự ngôn tự ngữ trong thân, kế thêm vào quan niệm về thân xác, chuyển vọng tưởng thành kỳ tình là một pháp muôn người tu muôn người đạt. Đặc điểm của nó ở chỗ rất đơn giản mà hiệu quả cao. Càng tu càng sung sướng, càng tiến càng thú vị đến nỗi muốn thôi cũng chẳng được.
Các bậc tu hành hiện nay, quá ít vị có gan lớn phát minh sáng kiến, thực nghiệm kiểm tra cẩn thận. Phải phân tích đánh giá về mặt lý luận cho thật chặt chẽ, thông suốt, giá trị to hay nhỏ, kế đề ra phương pháp có diện có điểm, thứ lớp từng phần ăn khớp với nhau, không để chút gì sơ sót rồi mới đem ra dùng. Nếu không làm thế, cho dù nói thông mà tu không thông, biết làm sao đây?
Tệ hại nhất của việc tu hành là rơi vào không mà chẳng tự biết, vì quá sùng bái ngẫu tượng (thần tượng của mình), không bao giờ dám nghi ngờ, đánh giá “những lời vàng ngọc” của ngẫu tượng.
Đáng thương thay, khi tôi giới thiệu pháp nhiếp hoá này cho vài vị tu hành có chí cầu đạo giải thoát, nhưng họ vẫn bảo thủ nghi ngờ, cho là giáo pháp này không có trong kinh sách xưa nay nên không dám theo. Tôi cố gắng động viên, q   uý vị cứ thực nghiệm thử để kiểm tra xem trong thời gian ngắn có mang lại lợi ích cụ thể chăng? Họ vẫn khư khư từ chối, thà nguyện lãng phí thời gian hai ba mươi năm cũng được chứ không dám bỏ ra một vài tháng để thử nghiệm kiểm tra. Lẽ nào thật sự là mạt pháp chăng?
Quý vị ngược lại không sợ bị gạt, chịu đến đây dụng công là gốc phước đầy đủ từ xưa của quý vị. Người ta cứ nghĩ, người này sao bằng người xưa? Rõ ràng, xưa kia có quá nhiều tổ sư tài giỏi, nhân tài tràn ngập, đời nay kiếm đỏ mắt không tìm được nửa người.
Những tôn giả có thứ quan niệm này là tự ý chấp nhận một thiệt thòi rất lớn, thà chịu thấp đèn dầu chớ không chịu bật công tắc đèn điện. Từ góc độ tiến hoá mà nhìn, người xưa thật không sánh bằng người nay, thực tế đầy rẫy ngoài xã hội thế gian đã chứng minh. Đó chẳng phải là kết quả của óc cầu tiến sao? Phải luôn tin rằng: “thập bộ chi nôi, tất hữu phương thảo” (trong vòng mười bước, ắt có cỏ thơm). Quan trọng ở chỗ quý vị có hiểu rõ và nắm bắt được nó không?!

5407  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 09, 2008, 02:34:30 pm

NGÀY THỨ NĂM

Tôi đã hỏi một học nhân ở đây, ông có ý kiến gì đối với giáo pháp giảng dạy này không? Ông ta bảo: phương pháp rất hay, rất đặc biệt. Nhất là phương pháp phát khởi kỳ tình quả xưa nay hiếm có. Cái thân thể máu thịt của chúng ta, trong đó sao lại có tự ngôn tự ngữ? Thật cảm thấy kỳ lạ vô cùng.
Tôi lại hỏi: “khi ông cảm thấy kỳ lạ, trước đó có thấy những tự ngôn tự ngữ trong tâm ông chăng?” Ông đáp “không”. Tôi nói: “vậy là không đúng. Không thấy vọng tưởng mà thấy kỳ lạ thì kỳ lạ này chính là vọng tưởng, chứ không phải kỳ tình thực sự!” (vì chỉ có kiến không có tướng).
Tham thiền là cảnh hiện lượng, đối mặt với sự thật chứ không phải hư cấu tưởng tượng. Chúng ta thực sự nhắm đôi mắt lại, nhìn thấy trong thân rõ ràng có vọng tưởng đang di động, có những tự ngôn tự ngữ đang nói cười… Tiếp đó, nghĩ đến thân thể nó là vật chất, trong đó phải 100% im lặng, tại sao có vật này? Chuyện không thể có mà có, tự nhiên cảm thấy kỳ lạ, pháp thân thanh tịnh theo đó mà hiện ra.
Người mới bắt đầu, tốt nhất là trong tâm niệm bốn chữ A Di Đà Phật để hấp thu muôn niệm, tẩy rửa tâm linh. Sau ba bốn tháng mới chuyển dùng pháp hóa niệm. Vì có số người mới đến dự thính nên tôi xin được phép nhắc lại, ai đã biết nghe thêm cho nhớ kỹ; ai chưa biết thì nghe cho biết. Đang lúc chúng ta phát hiện có điểm niệm Phật ở trong thân, liên tưởng đến quan niệm về thân xác. Theo lý, trong thân không thể niệm Phật, hiện giờ lại phát hiện có vật niệm Phật đang ở trong chứ không phải ngoài thân, tự nhiên cảm thấy thú vị, kỳ tình tự sinh đầy tràn không thể cản ngăn. Chính lúc kỳ tình sinh ra, tạp niệm hoàn tòan bị tiêu diệt. Bốn phía của điểm niệm Phật bỗng nhiên mở sáng. Chúng ta hãy ngưng niệm Phật, tâm như mặt nước yên lặng, không còn gợn sóng, chân như đã sáng tỏ.
Người Australia (Úc) tu thiền không quen niệm Phật, hỏi tôi tu thiền không cần niệm Phật được không? Tôi cười: “cũng có thể, cũng không thể”. Phải biết mục đích niệm Phật của chúng ta chủ trương mặc niệm trong tâm, có ba tác dụng: một là hấp thu muôn niệm, hai là tẩy rửa tâm linh, ba là chế tạo vật niệm Phật trong thân, để thành cái không nên có mà có, nhờ vậy mới dẫn đến thú vị, đạt đến giải thoát. Vì vậy, không nhất định phải niệm Phật, có thể mặc niệm A, B, C, D hay 1, 2, 3, 4 gì cũng được, miễn là làm sao cho xuất hiện “điểm đang niệm” là được. Nhưng niệm Phật vẫn được thêm phước đức, nhất cử lưỡng tiện. Hơn nữa, đây là thực tướng niệm Phật, tạo nên công đức so với phước đức của niệm Phật bằng miệng, bằng đôi môi to lớn khó sánh.
Cũng có người than với tôi rằng, ông mặc niệm Phật hiệu liên tục trong tâm mà vẫn không phát hiện được điểm niệm Phật ở chỗ nào cả. Tôi hỏi, ông có vừa niệm vừa chú ý tìm không? Ông đáp, sau khi niệm vài câu, tôi ngưng lại để tìm thì không thấy vật niệm trong thân. Tôi nhắc, đang khi ông chú ý tìm đó, không được ngưng niệm. Phải vừa niệm vừa chú ý, vừa chú ý vừa niệm mới được. Cũng có khi lúc đầu không thấy, nhưng lần lần nước tâm lắng trong, điểm niệm Phật mới hiện rõ ra.
Có lần, tôi nói với một vị cư sĩ cao tuổi đã từng giảng kinh thuyết pháp lâu năm, rằng ở giảng đường Viên Thông này đã có được mấy vị ngộ pháp thân. Ông không hỏi nhưng ánh mắt đầy vẻ nghi ngờ. Tôi biết trong đầu ông thế nào cũng la lên “ đồ láo khoét, chưa chứng nói chứng, chưa đắc bảo đắc! Phàm phu phước mỏng này muốn ngộ pháp thân, ít ra cũng phải trải qua nhiều năm vô kể. Mấy người mới ngồi thiền được vài ngày mà bảo là ngộ pháp thân. Quả là láo khoét không ai bằng, thật đáng xấu hổ!”.
Kỳ thực, ngộ pháp thân cũng chẳng có gì quá đáng, ai ai cũng có thể làm được. Đó là chuyện xử lý nội bộ, tức là làm cho tâm linh khôi phục chính thường thôi. Ngặt vì, trên thế gian đã phát sinh quá nhiều anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa (Kinh Thủ Lăng Nghiêm, người chạy đi tìm đầu). Do đó, nảy sinh ngàn ngàn muôn muôn kẻ ôm đầu chạy đi tìm đầu, hễ thấy ai không đi tìm đầu như mình liền cho đó là chuyện thiếu sót, quá đáng kinh dị. Âu cũng là chuyện thường tình.
Phương pháp tu thiền là không cứ phải làm cho được những chuyện đảo lộn cuộc đời, hiểu sâu ba tạng giáo điển, hay phải là chúng sinh có trí tuệ như biển… đâu, mà ai cũng biết hễ tâm cuồng ngừng lặng, lặng tức bồ đề, tâm linh vô niệm, tức được giải thoát. Rất nhiều người cũng biết như vậy, nên năm này tháng nọ hướng về mục tiêu đó để tiến tới, kết quả xếp giáp lui binh, tuyên bố bỏ cuộc, chuyển sang tu Tịnh Độ. Lịch sử Phật giáo cũng đã ghi, vài vị thiền sư danh lớn lẫy lừng (?), khi râu đã bạc, mới xuống đệm ngồi, cầm chuỗi tràng hạt niệm Phật, khá thương ôi! Phương pháp tu thiền là hiện thực nhất, có thể gạt người khác chứ không thể gạt được mình. Có giải thoát chăng, tự mình dạ biết lòng hay, khỏi cần phải thỉnh giáo người này người nọ.
Nếu tu không đến tâm linh vô niệm, kiếp sau khó trốn thoát “túi da bụng của mẹ ông”.
Phần trên tôi đã có nói, muốn tu hành trước phải rõ mục tiêu, kế đó là chọn phương pháp đúng. Ví như muốn lóng cặn một lu nước đục, chỉ cần một cục phèn chua quậy vào (hiện nay dùng thuốc lóng cặn Trừng Thanh Tễ), liền có tác dụng, bùn nước tách ra. Nếu không làm như thế mà lại đổ vào lu cả một hộp châu báu cũng không làm sao cho nước trong được.
Quan niệm về thân xác giống như phèn chua vậy, dùng vào chỗ khác thì không đáng một xu, nhưng trong tu Thiền lại trở thành vật báu vô giá. Để đối trị với vọng niệm cuồn cuộn trong thân, không dùng nó thì không thành công. Đang lúc vọng tưởng dấy khởi mà liên tưởng đến quan niệm về thân xác, tức thời mù tán mây tiêu, muôn dặm sáng tỏ.
Trong quá khứ, rất nhiều người tu Thiền sở dĩ càng đánh càng bại, vì sai lầm to nhất là không biết dùng quan niệm về thân xác này. Họ cứ đinh ninh rằng, tấm thân bốn đại giả hợp này có sanh có diệt, đâu có chi quý mà dùng. Không ngờ rằng, quan niệm về thân xác lại là một thứ Baze (chất kiềm) mạnh nhất để trung hòa sạch những Acid vọng tưởng. Bao nhiêu thứ phiền não khi đụng tới nó đều xảy ra phản ứng trọn vẹn để sinh ra Vô Niệm và Kỳ Tình đầy Thanh Lương An Lạc. Tóm tắt công thức dễ hiểu như sau:


Acid + Baze                                                                        Muối + Nước
Vọng tưởng + Quan niệm về T.X (điểm niệm Phật)      Vô Niệm + Kỳ Tình

Nếu chẳng phải người tự thân được ích lợi này, thì dù quý vị có nói đến khô môi cũng khó khiến cho họ tin được.
Trên đây, tạm mượn chút hình thức hóa học để minh họa phương pháp, chứ không phải giống như một số nhân sĩ hoằng pháp cứ phải đem khoa học để chứng minh Phật học, nếu đoán Phật học này mà cùng vui với khoa học có quan hệ, liền tin tưởng mười phần, như là có người bảo chứng vậy. Thực ra những vị ấy lại quên rằng “khoa học chỉ là cháu nhỏ của Phật học”.
Tiến sĩ vật lý Lý Chính Đạo (người Mỹ gốc Hoa) khi lãnh giải thưởng Nobel vật lý đã phát biểu: “rất nhiều người đều nghĩ rằng khoa học là hay nhất, có thể lên trời xuống đất giống như Tôn Ngộ Không đầy thần thông quảng đại vậy. Nhưng chân lý thì lại giống như Phật Tổ Như Lai, dù Tôn Ngộ Không có bản lĩnh đến mấy chăng nữa vẫn không thể nào nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai được”.
Phật pháp chứa đựng chân lý tối cao và lợi ích thực tiễn. Người nghiên cứu Phật pháp lại chưa đủ kinh nghiệm và dụng cụ để khai thác sử dụng, lại không nắm vững nguyên tắc, mù quáng theo đuôi người khác, nghe họ nói gì thì chỉ biết nói theo thôi. Tu Tịnh thì nói Tịnh Độ hay, tu Thiền thì bảo Thiền Tông vi diệu, học Mật lại nói Mật Tông không thể hiểu hết. Nhưng mà hay, vi diệu, không thể hiểu hết… chỗ nào, đều không thể nêu rõ ràng, công bằng, hợp lý được. Do đó, tu mấy mươi năm mà vẫn là “người già đau khổ”. Tất cả công đức đều gởi nơi hư vô mờ ảo, tự mình chẳng biết một chút nào.
Pháp môn nào có thể giúp cho quý vị đạt tâm linh vô niệm thì mới là “thật vi diệu”. Vô niệm là giải thoát, là tự tại. Tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông đều là của quý vị. Mười phương cõi Phật, mặc tình ngao du. Còn nếu tạp niệm vẫn cuộn chảy thì đều “không đi đến được” đến bất cứ nơi nào!
Cũng có người muốn hỏi, sau khi tạp niệm tiêu diệt còn có niệm phân biệt chăng? Nếu biết rằng, niệm của Hữu niệm là vọng niệm, không mời tự đến, không đuổi tự đi; còn khi tâm linh vô niệm, lúc đối cảnh vẫn biết, vẫn là niệm nhưng đó là niệm của trí tuệ, bụi bặm đều là vật báu, mọi pháp đều là chân. Chỗ đó, thi hào Tô Thức đã diễn tả:
“Vô nhất, vật trung, vô tận tạng
Hữu hoa, hữu nguyệt, hữu lâu dài”
Dịch:
“Trong không một vật, chứa vô tận
Có hoa, có nguyệt, có lâu dài”
Có người bảo: “con nít lên ba cũng biết tu hành là tu phước và tu huệ, chưa từng nghe ai nói tu tâm linh vô niệm, đây có phải lý luận mới chăng?”
Nói chung, tu phước như Lương Võ Đế cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai đàn…, tu huệ thì phải gặm kinh sách, nói cái gì như vào sâu ba tạng, trí huệ như biển… Công việc này đương nhiên là quan trọng, nhưng nếu không đắc được tâm linh vô niệm, thì vẫn còn là “quả nhỏ trời người, nhân của phước hữu lậu” thôi. Khi rời bỏ cõi đời này, kiếp sau chỉ có thể làm một nhân vật xuất sắc, vẫn còn lúc nổi lúc chìm trong biển khổ mà thôi!

“Tĩnh tọa nhất tu du
Thắng tạo thất phù đồ”
Dịch:
“Tọa thiền trong chốc lát
Hơn tạo bảy kiềng chùa”
vì trong đó đã đầy đủ phước huệ rồi.
Quý vị hãy nhắm mắt lại để tu pháp vô niệm của chúng ta nhé.
Để thêm phần sách tân, chúng ta hãy luôn ghi nhớ câu nói của Tổ sư Lâm Tế Nghĩa Huyền:
“Mười phương Như Lai chẳng có gì kỳ đặc, chỉ vì các Ngài vào sâu được pháp môn vô niệm vi diệu, tin nhận vâng làm, liền được vô thượng chánh đẳng chánh giác!”



5408  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 08, 2008, 04:20:19 pm

NGÀY THỨ TƯ

Mục đích của tu hành là cầu giải thoát. Tôi thường hỏi nhiều vị tu hành lâu năm, được biết họ không có lòng tin vào giải thoát ngay kiếp này. Đa số đều bảo đâu có đơn giản như thế, ít nhất cũng phải bao nhiêu kiếp sau mới có thể đạt được mục đích. Phật Thích Ca còn phải tu đến ba a-tăng-kỳ kiếp, chúng ta là hạng nào, hiện nay lại bàn đến chuyện lớn giải thoát, thật quá sớm!
Ôi chu choa! Một tiểu kiếp là mười sáu triệu tám trăm ngàn năm (16.800.000 năm), một đại kiếp bằng 80 tiểu kiếp (1.344.000.000 năm). Chỉ nói tới một tiểu kiếp thôi, con số đã thấy chóng mặt rồi. Như vậy, có khác nào gián tiếp bảo chúng ta: đừng có hy vọng hão huyền giải thoát.
Trong Phật giáo từ lâu đã ẩn nấp căn bệnh “nói ngọng” này nên người tu hành có muôn muôn ngàn ngàn, chưa ai dám đặt vấn đề giải thoát ngay đời này cả. Kể cả người tu Tịnh Độ cũng không dám khẳng định mình vãng sanh về thế giới Cực Lạc trong hiện kiếp. Vì sao? Vì không có chút tin tức gì ở phía người bảo lãnh cả. Có ai dám đảm bảo trong lúc họ trút hơi thở cuối cùng, Phật A Di Đà nhất định không quên họ chăng?
Thật ra giải thoát là gì? Đa số đều không hiểu rõ, nghĩ rằng đó phải là cái gì ở ngoài trời tứ-không, xa vời vợi không thể với tới. Nay tôi thẳng thắn nói cùng quý vị, giải thoát là tâm linh vô niệm tức tâm cuồng dừng bặt. Nói khác một chút, là làm sao cho cái tâm loạn động hiện nay khôi phục trở lại chính thường mà thôi. Nếu nói như thế đâu cần phải tính thời gian dài dằng dặc như trên.
Nhưng mà nghe rồi, quý vị vẫn còn hoài nghi thất vọng, muốn làm cho vọng tưởng trong tâm linh dừng bặt còn khó hơn cắp núi Thái Sơn nhảy qua biển Bắc. Sự thật chứng minh có rất nhiều người muốn đạt đến kết quả này đều phải rớt lông gãy cánh, giương cờ trắng đầu hàng. Nhưng dù đã có ngàn muôn người thất bại, vẫn chưa đủ để khẳng định là con đường đến mục tiêu đó bị bế tắc.
“Không có việc gì khó, chỉ sợ người dụng tâm”
(Thiên hạ vô nan sự, chỉ phạ dụng tâm nhân)

Hai câu thơ này dùng ở nơi nào cũng thích đáng, lại càng đúng cho việc tu hành. Chúng ta không phải đang dụng tâm đó sao?
Khi ở Sydney, tôi được xem ở “vườn thú hoang dã” một màn biểu diễn hết sức khéo léo ngoạn mục của chú cá heo. Việc này đã khai thị cho tôi một niềm tin mạnh mẽ “bất cứ ai gắng tu đều có thể thành công được cả!”.
Tu hành là điều phục tâm của mình, khiến cho cái tâm bất thường loạn động khôi phục trở lại chính thường, tự làm chủ lấy mình, thật vẫn không có pháp nào ư? Việc huấn luyện cá heo đến độ làm chủ được thân tâm của nó, khiến nó làm bao nhiêu trò biểu diễn khéo léo khó khăn như thế, họ còn làm được kia mà. Muốn điều khiển cá heo làm theo ý muốn, hẳn họ đã trải qua biết bao thời gian và công sức cả thân lẫn tâm, nhưng đã quyết và biết là phải được.
Trong chúng ta, lấy tâm để chế ngự thân không đến nổi khó khăn vất vả, đi đứng ngồi nằm hoàn tòan theo ý lệnh của tâm (trừ ngoại lệ: già, bệnh, chết). Còn lấy tâm để chế ngự tâm phải khó khăn gấp bội. Thậm chí có người không biết hoặc tìm không thấy tâm, cố tìm được lại thấy nó như ngựa rừng hay vượn hoang, không nghe theo sự chỉ huy của mình. Vấn đề này cũng không có gì đáng kể, vì phần ta chưa quen, phần thì chưa biết được phương pháp hữu hiệu thôi!
Để tạo thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp sau này, trước hết chúng ta phải hủy bỏ cái thác giác nhiều đời “thân là ta” mà khẳng định “thân là công cụ của ta”, nó chỉ là cái vỏ xác không hơn không kém, trong đó không thể tự nói tự rằng được vì nó thuần là vật chất. Cái quan niệm về thân xác (khu xác quan niệm) này trong việc khiến tâm khôi phục chính thường đã tỏ ra có hiệu quả lớn lao ngoài sức tưởng tượng (có thực hành mới thấy giát trị). Đang lúc quý vị phát hiện trong thân có những tự ngôn tự ngữ liền cảm thấy kỳ quái, ngay đó tất cả vọng tưởng đều bị biến mất, vô cùng thú vị. Vọng tưởng phía sau cũng tự giác rút lui, không dám ló mặt ra nữa. Tâm cảnh đang gào thét như mưa to gió lớn, phút chốc trở thành trời quang mây tạnh, liền thuộc về của ta.
Người mới bắt đầu, tịch diệt chỉ xuất hiện tạm thời, chỉ sau từ một đến năm phút, vọng tưởng lại len lén nổi lên. Chúng ta lại phải rầy nó, thân xác này không thể có trò đùa tự ngôn tự ngữ như thế được, vọng tưởng vừa đứng lên liền bị té ngã xuống hết.
Bởi vậy, có món vũ khí quan niệm về thân xác này để dẹp loạn vọng tưởng, chắc chắn đánh đâu thắng đó, tợ nước sôi tiêu băng vậy. Cho dù nó có được người ta sợ hãi gọi nó là “áo đẫm mồ hôi dính sát mình” hay thứ “vô minh có từ lúc mới sanh”… cũng đều bị diệt sạch!
Một lần nữa, chúng ta nhắc lại cho thật nằm lòng cái quan niệm về thân xác này: một là bên trong nó không thể niệm Phật, hai là không thể có tự ngôn tự ngữ, ba là tuyệt đối im lặng. Thứ thường thức này đơn giản như chuyện dựng đứng trứng gà của ông Christophe Colomb vậy, đã nói ra rồi thì ai cũng đều làm được.
Chắc rằng sẽ có người nói, cổ đức đã nêu biết bao tư liệu về thân thể rồi, nào là đáy da thúi, cái túi da, cái vỏ sắc tướng…, vậy có gì mới mẻ?
Đúng là có nói thêm nhiều tên nữa cũng chẳng ích lợi gì, nhưng việc quan trọng hơn cả là hiểu thật rõ và nhớ thật kỹ ba tính chất nêu trên mới có lợi ích lớn lao để tạo ra kỳ tình như đã nói. Cách tạo nghi tình cổ điển rất khó và không đủ mạnh, thiếu mạch khởi động (starter) và nhất là thiếu yếu tố thần bí thú vị.
Kỳ tình một khi phát khởi, bao nhiêu tạp niệm vọng tưởng cũng tiêu tan, lập tức được vô sanh pháp nhẫn, thấy được thành Niết Bàn rồi.
Quý vị sẽ có hai thắc mắc. Một là A Na hàm tu mấy kiếp còn chưa có pháp để thấy Niết Bàn thay, huống là chúng ta chỉ tu có mấy tuần mà kêu là đã thấy, có khác nào mới ăn ba miếng đậu hủ mà bảo thành tiên chăng? Hai là, Niết Bàn mà chúng ta thấy đây có phải là Niết Bàn trong kinh nói không, hay là hàng giả mạo? Niết Bàn, dịch âm tiếng Phạn NIRVHÂNA, dịch nghĩa là bất sanh bất diệt, tròn vắng lặng; ý là tâm linh vô niệm, tâm ngữ tiêu diệt. Niết Bàn chỉ chia ra lớn, nhỏ chứ không có thật, giả gì hết. Nếu hiện nay chúng ta được tâm linh vô niệm, xuất hiện diệu lạc thì cái Niết Bàn ngộ được đó chính là Niết Bàn của mười phương Như Lai đã ngộ lúc đầu.
Tâm linh vô niệm, thường gọi là khai ngộ hay ngộ pháp thân, thật ra cũng chẳng phải công phu quá khó khăn gì. Nhưng trước nay đã khá lâu, ít thấy người khai ngộ trong thiền lâm nên nay nghe có người như thế, phần đông không dám tin, cho là vọng ngữ hoặc có dụng ý gì đây, cũng phải.
Phần lớn người cũng còn chưa rõ giữa cái biết (tri giác) và cái phân biệt (cảm giác) khác nhau ra sao, như trường hợp sau:
Có một người tu Phật đã khai ngộ đến đạo tràng kia, thưa với vị pháp sư: “trong khi tọa thiền, tâm linh tôi được vô niệm khoảng hơn mười phút”. Vị pháp sư này la lên: “vậy ông làm sao biết được tâm linh ông vô niệm?” Ý vị này muốn nói “ông vẫn còn tâm phân biệt mà! Phân biệt thì còn là niệm, còn sinh diệt chứ”.
Thật đáng thương! Phải rõ cái giới hạn của biết và phân biệt. Biết (tri giác) là cái tự biết, đứng một mình. Phân biệt (cảm giác) là hai cái biết khác nhau lại giao xen với nhau, bù đổi nhau. Kinh Lăng Nghiêm đã nói rõ “tri kiến lập tri, tức vô minh bổn” (cái thấy biết mà khởi phân biệt là gốc của vô minh). Vậy nếu cho rằng cái biết có biết không đó là phân biệt, là sanh diệt quả là chuyện quá tức cười. Đó là lý do ta đừng trách quý Thiền sư đời trước không chịu  diễn tả cảnh giới này. Vì nó lìa tướng chữ nghĩa, tướng lời nói, tướng duyên theo của tâm sao có thể nói cho hàng tục nhân hiểu được. Có lẽ tốt nhất là câu “đã qua được cổng thì không cần hỏi người gác cổng”.
Cũng cần biết sự khác nhau giữa ngộ và chứng. Ngộ là được tâm linh vô niệm ngắn, chỉ năm phút sau là hết, vọng tưởng lại đến thế chỗ; phải làm lại công phu để hóa vọng, tái hiện tịch diệt, liên tục như thế. Còn chứng là khi nào ngộ (vô niệm) từ một giờ trở lên.
Được biết, trong quý vị ở đây, đã có người ngộ được bản lai diện mục của chính mình, đó là tin mừng lớn báo cho biết sắp ra khỏi luân hồi đó. Xin quý vị quý tiếc thời gian, không ngừng dụng công, tăng thêm số lần và số giờ của ngộ để rồi những đoạn thẳng ngộ thành đường thẳng ngộ. Cho dù chưa leo lên được bửu tòa Như Lai, quý vị cũng đã thành pháp thân đại sĩ biết ăn bánh mì rồi!
Quý vị được pháp môn vi diệu này thật đáng quý. Đừng hoài nghi thời kỳ mạt pháp sao lại có pháp này? Cứ dốc lòng tu hành kết quả kiểm chứng từng bước, giúp quý vị an tâm đi tới.
Mười phương Như Lai sẽ vỗ tay hoan nghênh khen ngợi quý ví!

5409  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 06, 2008, 08:16:19 pm
(tiếp theo)

NGÀY THỨ BA

Cho đến nay, trong thiền lâm vẫn còn phổ biến rộng rãi pháp “Tham Thọai Đầu”.
Thoại đầu là gì? Chúng ta thường nghe những câu quen thuộc như “Ý tổ sư từ Tây sang là gì?”, “con chó không có Phật tính”, “muôn pháp về một, một về chỗ nào?”, “thế nào là mặt thật lúc cha mẹ chưa sanh?”, “kéo thây chết này là ai?”, “niệm phật là ai?”… Thậm chí, có người tham một chữ “vô” (không) hoặc chữ “ai”, trăm màu ngàn vẻ kể không hết.
Hai chữ Thoại Đầu, nếu như không cần tìm cầu giải thích, cho chỉ là cái tên gọi suông thôi thì những câu trên có thể gọi là thoại đầu cũng tạm chấp nhận. Còn nếu giải thích thoại đầu là đầu của câu nói thì liền có vấn đề nảy sinh.
Nếu hiểu theo nghĩa này, quả thật thiền lâm xưa nay đã phạm phải một sai lầm lớn, như trong Kinh Lăng Nghiêm đã chỉ ra “như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác xem, người đó nương theo ngón tay để thấy mặt trăng là đúng. Nếu người đó chấp ngón tay là mặt trăng, như thế là sai, người ấy chẳng những không thấy mặt trăng mà còn mất luôn ngón tay nữa”. Nghĩa là, lâu nay họ đã lấy cái phương tiện khai quật thoại đầu, cho là thoại đầu. Như vậy, đã không thể phân biệt rõ ràng “năng” (người) và “sở” (ta) còn nói gì đến việc hạ thủ công phu nữa! Có lẽ, đó là nguyên nhân chính làm thiền tông bị suy sụp chăng?
Cũng bởi chấp ngón tay là mặt trăng nên tạo ảnh hưởng không tốt, dẫn đến sự dạy đạo sai lầm về Nghi Tình. Chúng tôi đã bỏ rất nhiều thời gian tìm tòi nhiều Kinh sách Thiền để tìm những giải thích về Nghi Tình, nhưng thật quả là hiếm hoi. Nếu có chăng nữa, thì cũng là lầm lẫn trong vấn đề đồng âm, giống như kiểu (Tì bà: một loại trái cây) với (Tì bà: cây đàn bốn dây) vậy thôi. Phần lớn lối giải thích đều dính với chữ Nghi là phiền não căn bản thứ năm (tham, sân, si, mạn, nghi), chẳng có gì rõ ràng cả.
Điều đó cũng không có gì đáng trách vì chọn cái tên Nghi Tình đã là thiếu sáng suốt rồi, tên không rõ thì làm không xuôi (danh bất chánh, tắc hành bất thuận). Cái năng lực khiến quý vị  có thể thấy được “bản lai diện mục” là Kỳ Tình, chứ không phải là Nghi Tình. Vì Kỳ Tình mới diễn tả được những thuộc tính thần bí, thú vị, thứ tình chẳng thể nghĩ bàn, là loại thuốc hóa học có khả năng trung hòa vọng tưởng được.
Thiền tông Trung Quốc, từ khi dấy lên phong trào Tham Thoại Đầu là dấu hiệu của suy thoái, xa lìa nguyên lý (đường cái) “chỉ thẳng tâm người” mà đi vào con đường rẽ. Chúng ta không phủ nhận thoại đầu có thể tham ra đạo lý, nhưng thứ đạo lý này nghe thì hay mà dùng chẳng được. Đó là phải là dạy đạo sai lầm mà là rơi vào Không (giá không), vì pháp Thiền đã từ tâm dời chuyển lên cái miệng (nói nhiều), càng lúc càng xa rời cánh cửa giải thoát.
Có rất nhiều người hiểu lầm chữ Tâm trong câu “chỉ thẳng tâm người” (trực chỉ nhân tâm) là chân tâm. Cho nên, thứ bản lĩnh này chỉ có Tổ sư Đạt Ma và mấy vị thiền sư kiệt xuất mới có thể làm nổi thôi. Đó là vì họ quá sơ sót, không chú ý đến nghĩa chứa của Nhân Tâm. Tâm người là gì, là thứ tâm rối rối rít rít, bất cứ ai nhắm mắt lại, chú ý vào trong thân đều tức khắc thấy nó.
Chủ trương của thiền tông là muốn ngay ở trong lĩnh vực tinh thần rối loạn chẳng yên, trôi nổi chẳng dừng này (vọng tâm), quyết kế thừa và phát huy tinh thần của cụ Bàn Cổ, quét trừ trạng thái hỗn độn, mở mang ra một vùng đất trời sáng tỏ.
Cũng có nhiều người cho rằng nhân tâm không có gì đáng tu cả, mà chân tâm mới là thứ  có giá trị. Luận điệu này, thoạt nghe cũng hay nhưng hoàn tòan tương phản với sự thật. Trọng điểm của tu hành lại là ở nhân tâm chứ đâu phải chân tâm (chưa tốt mới phải tu sửa chứ). Đã là Phật tâm, chân tâm rồi còn tu thêm vào nữa, khác nào vẽ rắn thêm chơn.
Phải phăng nắm được đầu mối nhân tâm rồi, dù nó có rối loạn nhảy nhót đến đâu, niệm niệm dời đổi biến hóa đến đâu là ta cũng đủ niềm tin trị lành cho nó. Nhưng với điều kiện là phải có phương thuốc hay (phương pháp tốt, chính xác) thì trị mới mau lành. Nếu không có pháp chính xác thì chỉ kéo dài thời gian, cho dù mệt sức vô ích mà chẳng có công hiệu gì, đành chịu thua bỏ cuộc.
Phương pháp tu hành, nếu so với kỹ thuật khoa học thì quá ư đơn giản, nhưng tại sao có người lại không thông? Nguyên nhân chủ  yếu đối với công phu của đất tâm, thật là trừu tượng và vì chưa quen công việc (mạch sanh). Cũng do chỗ trừu tượng, khó hiểu đó mà loài người dễ chú ý đến vật chất có hình dáng cụ thể, tập trung tinh thần vào việc phát triển vật chất, chinh phục vũ trụ, đổ bộ mặt trăng…, còn đối với tinh thần vô hình, cho là không có gì quan trọng, đã ăn không được, dùng cũng không được thì để ý đến nó làm gì. Không khéo muốn đem tinh thần chi phối vật chất lại bị phản tác dụng, vật chất chi phối ngược lại, đen trắng chẳng phân, nặng nhẹ lộn lạo (tu sĩ hiện nay), không cách nào phát huy được lực lượng tinh thần cả.
Trong khi chính lực lượng tinh thần mới là vô lượng vô biên, còn lực lượng vật chất dù cho có khả năng chẻ làm hai trái đất này đi nữa, so với tinh thần vẫn là chuyện trẻ con nhỏ nhít.
Chúng tôi nói, tâm linh vô niệm tức giải thoát. Đó là thường thức một cộng một bằng hai, thế mà vẫn có nhiều người chưa hiểu rõ và cũng không tin vào thường thức này. Còn nói tới dụng công lại càng chẳng biết làm sao hạ thủ, thậm chí càng tu càng loạn, vì họ thiếu may mắn chẳng gặp được pháp tốt. Nhưng vị đó, nếu chịu tin nhận “Pháp Nhiếp Hóa”, sử dụng thích hợp, không gấp không hưỡn, bám chặt không bỏ dỡ sẽ có thể giải quyết được việc khó làm.
Cũng có người phê phán những ý kiến của chúng tôi là có tính cách đề cao Thiền, chê ép Tịnh, là thành kiến quá lệch lạc, không công bằng. Thực ra, tôi cũng là tín đồ hết sức trung thành của Phật A Di Đà, vì cảnh Tây Phương trải vàng dát ngọc đó mà ai không muốn tới! Nói cụ thể là tôi vẫn hàng ngày niệm A Di Đà Phật không gián đoạn bao giờ. Nhưng tôi cũng thấy rõ những pháp tu Tịnh Độ hiện nay đều có vấn đề (nhược điểm), nhiều người tu nhưng sợ tương lai không thể nào đến được Tây Phương. Vì sao? Vì quý vị ấy chỉ làm công phu ngoài tâm chứ không làm thẳng trong tâm, đó chỉ là “gãi ngứa ngoài giày” mà không tự biết để phản tỉnh. Muốn được Phật tiếp dẫn cũng phải có đủ điều kiện theo kinh A Di Đà là: phước đức căn lành lớn, niệm Phật được nhất tâm bất loạn từ một đến bảy ngày, lúc lâm chung tâm không mất chính niệm. Kinh đã dạy rõ như thế, tôi nào có áp đặt gì đâu. Thêm một điểm nữa, nếu quả chỉ trông cậy vào đại từ, đại bi, đại nguyện, đại lực của Đức Phật, thì đến nay đã hơn hai ngàn năm, đã không còn ai kể cả chim, thú, trùng, cá… ở trên thế gian này nữa.
Hai chữ Thiền Tịnh, về mặt kết cấu hình thức không giống nhau, nhưng nội dung lại không có hai. Do đó, tôi không bao giờ hạ thấp Tịnh Độ mà chỉ hết sức mong mỏi người tu Tịnh Độ hiện nay, phải sáng suốt, hết sức sáng suốt, sửa đổi lại pháp tu trong tâm cho thật đúng thì ước vọng vãng sanh Tịnh Độ mới có thể như nguyện được.
Có người bảo, niệm Phật đến nhất tâm bất lọan chẳng phải là đã giải thoát sao? Xin thưa, Phật chỉ nói đó là điều kiện vãng sanh chứ đâu nói đó là giải thoát. Vì thực ra, nhất tâm bất loạn còn ở trạng thái “một vầng mây trắng che miệng hang, bao nhiêu chim bay mờ mịt tổ” thì làm sao gọi là giải thoát cho được. Bằng chứng rõ ràng trong kinh Tịnh Độ nêu rõ, được nhất tâm bất loạn rồi còn phải vãng sanh về Tây Phương, gần gũi Di Đà, nghe Phật nói pháp, nỗ lực tu hành tiếp nữa mới mong được hoa nở thấy Phật, ngộ vô sanh nhẫn. Đúng thế không? Đó là điều kiện nhập học chứ đâu đã tốt nghiệp.
Thực ra, câu “hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh” này bị người hiểu sai rất nhiều. Hoa nói ở đây không phải là hoa sen, mà là Tâm Hoa mới đúng. Vì vô sanh pháp nhẫn ở trong tâm hoa chứ đâu ở hoa sen.
Niệm Phật đến nhất tâm bất loạn cũng phải có phương pháp đúng, chứ nếu cứ nghĩ đông tưởng tây, miệng không dứt niệm Phật, dù có niệm đến trăm ngàn năm vẫn chỉ hướng mà không thể đạt tới nhất tâm bất loạn được, chỉ vì cách tu chưa vào trong tâm.
Giảng đường Viên Thông này cũng chủ trương niệm Phật nhưng là niệm vào trong tâm. Phương pháp như sau: nhắm đôi mắt lại, trong tâm mặc niệm A Di Đà Phật, đồng thời chú ý điểm niệm Phật nằm chỗ nào trong thân, lại liên tưởng thân máu thịt sao lại có vật này? Thế là ta bỏ được nhất tâm, chỉ còn lại cái bất loạn. Lúc ấy, tâm hoa đã nở, vô sanh pháp nhẫn hiện ra rõ ràng, pháp thân Phật đã cùng bạn chung chỗ.
Nhưng vẫn có người cãi: chúng tôi tu Tịnh Độ, muốn tới thế giới Cực Lạc để thấy được chính báo thân của đức Phật A Di Đà, tức là phải “ba kiếp làm tăng tu phước huệ, trăm đời tướng tốt được trồng luôn” mới gọi là tu thành công. Còn các ông tu Thiền là chỉ thấy pháp thân Phật, chỉ có thể gọi là được minh tâm kiến tánh thôi. Giá trị hai Phật đâu có tương xứng mà bàn bạc?
Đúng là cãi chày! Mọi người đều biết, pháp thân là thể, báo thân là tướng, hóa thân là dụng. Thể tướng dụng không thể chia cắt ra. Xin lấy thí dụ nhỏ là cái bình hoa bằng thủy tinh ở ngay trên bàn đây mà nói. Thủy tinh là thể, bình là cái tướng, có ai chỉ thấy thủy tinh mà không thấy cái bình chăng? Hoặc có ai chỉ thấy bình mà không thấy thủy tinh chăng? Cái bình hoa này và thủy tinh, quý vị có thể cho là cái nào quý cái nào kém chăng?
Cũng có thể có người lại phát biểu, mục đích tu hành của ông là đạt tới tâm linh vô niệm, cả giá trị của nhất tâm bất loạn mà cũng đánh giá thấp, lại bỏ nhất tâm chỉ lấy bất loạn thôi. Như vậy là ông đã vô tâm rồi. Cổ đức có câu “chớ bảo vô tâm chính là đạo, vô tâm còn cách một lớp rào”, phải thế chăng?
Phải biết tâm linh có hai trạng thái nên có tên khác. Mất đi chính thường gọi là tâm vọng, hay là niệm, cũng gọi là sinh diệt. Khôi phục chính thường gọi là tâm chân, tên gọi tâm chân này có hàng trăm cách khác nhau. Tâm thể thì còn mãi chẳng đổi, nhưng trên mặt tướng và dụng, đã không vọng thì là chân, như tối và sáng đối đãi nhau, không tối là sáng, không sáng là tối, chứ đâu thể không sáng mà cũng không tối được. Dù là trạng thái hỗn độn thì cũng là hỗn hợp của sáng và tối.
Vô tâm trong câu nói trên không có nghĩa là vô niệm mà muốn nói đến vô ký hay vô tri, đó hoàn tòan là tưởng tượng của kẻ học giả hành bên ngoài. Chính những người đã mang cái quan niệm đó, không chỉ cách một lớp rào, mà cách cả mười muôn cửa ải đối với đạo!
Tổ sư của Thiền Tông, có nhiều vị chữi Phật mắng Tổ, chẳng hiểu sao lại vô lễ đến thế ? Có lẽ đấy là trường hợp giải quyết cho người học cá biệt, tránh mê đắm ngẫu tượng, nhắm mắt chạy theo ngẫu tượng một cách mù quáng chăng? Đồng thời, cảnh tỉnh chúng ta đừng quá tin vào lời nói của ngẫu tượng, cho tất cả đều là khuôn vàng thước ngọc mà phải suy nghĩ cẩn thận, biện biệt rõ ràng, sàng sảy chọn lấy tinh hoa mà dùng, có thể việc tu hành mới có thể thành công.
Những việc làm kỳ đặc ấy tuy có chỗ hay nhưng đã sai với nguyên lý cơ bản của Thiền Tông, tạo thành thứ tư tưởng quanh co làm suy sập Thiền Tông sau đó. Thiền Tông ban đầu đã nêu tông chỉ “trực tiếp liễu đương” (thẳng, mau, rõ, đúng), nhưng về sau đã dần dần biến chất, từ trực tiếp biến thành quanh co, liễu đương cũng không còn thấy nữa. Sao không thẳng thắn nói ra “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện ra”, nghĩa là khi tâm ngữ đã trừ sạch, hiện ra cái rõ ràng thường biết?
Cho dù có nói thẳng như mở cửa thấy núi cho họ nghe, chưa chắc ai cũng hiểu rõ không còn nghi, huống nữa còn quanh co, nào bảo là “cục cứt khô, ba cân mè, cây bá trước sân, củ cải đất Hồ Châu…”, khiến người sau phải nhức đầu chuyển hướng. Lại cũng bởi những câu nói trên xuất phát từ miệng của những vị tổ hoặc thiền sư lớn nên người sau không dám xem thường. Chẳng lẽ quý Ngài lại nói sai hay sao, mình tu không tới chỗ đó được, chắc là tại nghiệp chướng nặng nề quá thôi, đành tìm cách khác.
Lỗi này do ai?
Thiền tông sợ nhất là những câu, bài thơ của các nhà thi sĩ. Họ xưa nay ít khi thực sự ngồi lên bồ đoàn để công phu, chỉ nghiên cứu trên giấy trắng mực đen, tìm những tư liệu để viết thành thơ, trộn lẫn vào nhà Thiền. Thật vô cùng rủi ro khi quý vị xem những thứ đó là vật báu. Như trường hợp thi sĩ Tô Đông Pha được người ta truyền tụng là “ngũ tổ tái sinh” đã có bài thơ tuyệt tác:
“Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên”
Dịch:
“Cúi lạy đấng tối cao (Phật)
Ba cõi chiếu hào quang
Tám gió thổi không động
Ngồi vững sen tía vàng”
Ôi! Chữ nghĩa thật là khéo léo mỹ miều tuyệt đẹp, nhưng Thiền Sư Phật Ấn phê vào “đánh rắm”. Đó là vì Ngài còn vị nể chỗ bạn bè, chứ nếu gặp Tổ Lâm Tế chắc chắn đã cho ăn ít nhất 30 gậy, vì trong bài thơ ấy, chẳng có chút “mùi Thiền” nào cả, lại còn phạm vào đại kỵ của Thiền gia.
Bây giờ, quý vị trở lại nhắm đôi mắt đi, trong tâm mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật. Chú ý trong thân có điểm niệm Phật chăng? Vừa niệm vừa chú ý, nếu phát hiện có, quý vị cảm thấy kỳ lạ chăng? Thân thể bằng máu thịt của chúng ta, sao lại có  cái niệm Phật này?
Đang lúc quý vị cảm thất thần bí thú vị, tâm đã mở rồi đó, ngưng niệm Phật, quý vị đã “Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt hiện ra”, thấy được bản lai diện mục của chính mình.


5410  Phật Giáo Tư Tưởng Học / TỊNH ĐỘ TÔNG / NGUYÊN TÁC CỦA PHẦN DỊCH -MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM-LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI vào lúc: Tháng Tư 03, 2008, 09:18:39 pm
Từ trước, chúng ta hay gặp phần dịch "Mười điều tâm niệm " nói là trích từ "Luận Bảo vương tam muội" của Ngài Ngẫu Ích, nhưng ít thấy phần nguyên tác.
Nay tôi vào CBETA tải về, đưa lên đây làm quà ra mắt với huynh đệ. Xin hoan hỉ. Chánh Nguyên

寶王三昧念佛直指--卷下
*四明鄞江沙門妙協集
十大礙行第十七

其十種大礙之行今當說  :

一念身不求無病。
二處世不求無難。
三究心不求無障。
四立行不求無魔。
五謀事不求易成。
六交情不求益我。
七於人不求順適。
八施德不求望報。
九見利不求霑分。
十被抑不求申明。

此十種大礙之行攝一切諸礙。
惟上智者堪任。中下之人不敢希冀。
若有得聞此十句義。於諸礙中一一皆能照察覺悟。
省身體道。持之不失。

何以故。
身無病則貪欲乃生。
世無難則驕奢必起。
心無障則所學躐等。
行無魔則誓願不堅。
事易成則志成輕慢。
情益我則虧失道義。
人順適則內心自矜。
德望報則意有所圖。
利霑分則癡心必動。
抑申明則人我未忘。
以是義故則知十無礙道能生是過。
及成如是一切不吉祥事。為障道因緣。
何以故。
貪欲生必破戒退道。
驕奢起必欺壓一切。
學躐等必未得謂得。
願不堅必未證謂證。
志輕慢必稱我有能。
虧道義必見人之非。
內自矜必執我之是。
意有圖必華名欲揚。
癡心動必惡利毀己。
存人我必怨恨滋生。
是十種過從凡妄生皆名邪見。展轉生起無量惡法。遍虛空界。


...是故大聖化人 :-
-以病苦為良藥。
-以患難為解脫。
-以障礙為逍遙。
-以群魔為法侶。
-以事難為安樂。
-以弊交為資糧。
-以逆人為園林。
-以市德為棄屣。
-以疏利為富貴。
-以受抑為行門。
如是則居礙反通。
求通反礙。於此障礙皆成妙境。
故得之與失自不能知。人奚於中強生取捨。
是以如來於障礙中得菩提道。
至若為半偈時之遇羅剎。
作仙人世之值歌利。瓦石來擊之增上慢比丘。
木盂為孕之大毀謗嬖女。及鴦屈摩羅之輩。
提婆達多之徒。皆來作逆。而佛悉與其記。
化令成佛。豈不以彼逆而為吾之順。
以彼毀而為吾之成也。何況時薄世惡。人事異常。
於學道人豈無障礙。於今若不先居於礙。
則障礙至時莫能排遣。使法王大寶因茲而失。可不惜。
諸愚故依經聊述所知。願勿嫌棄。
倘因聞此義故障礙現前。反能勇進於道。可謂得斯旨焉。


Âm:- Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ --Quyển hạ
*Tứ Minh Ngân Giang Sa  Môn   diệu hiệp    tập
Thập Đại Ngại Hạnh --đệ thập thất

Kỳ thập chủng xung đại ngại chi hạnh kim đương  thuyết   :

1.-nhất niệm thân bất cầu vô bệnh .
2.-nhị xử  thế bất cầu vô nan  .
3.-tam cứu tâm bất cầu vô chướng .
4.-tứ lập hạnh bất cầu vô  ma .
5.-ngũ mưu sự bất cầu dị thành .
6.-lục giao tình bất cầu ích ngã .
7.-thất ư  nhân bất cầu thuận thích .
8.-bát thi đức bất cầu vọng báo .
9.-cửu kiến lợi bất cầu triêm phân  .
10.-thập bị ức bất cầu thân minh .

Thử thập chủng  đại ngại chi hạnh nhiếp nhất thiết chư ngại .
duy thượng  trí giả kham nhậm . trung  hạ chi nhân bất cảm hi  kí  .
Nhược hữu đắc văn thử thập cú nghĩa . ư chư ngại trung  nhất nhất giai năng chiếu sát giác ngộ .
Tỉnh thân thể đạo . trì chi bất thất .

Hà dĩ cố .
1.-thân vô bệnh tắc tham dục nãi sanh.
2.-thế vô nan tắc kiêu xa tất khởi .
3.-tâm vô chướng tắc sở học liệp đẳng .
4.-hành vô ma tắc thệ nguyện bất kiên .
5.-sự dị thành tắc chí thành khinh mạn .
6.-tình ích ngã tắc khuy thất đạo nghĩa .
7.-nhân thuận thích tắc nội tâm tự căng .
8.-đức vọng báo tắc ý hữu sở đồ .
9.-lợi triêm phân tắc si tâm tất động .
10.-ức thân minh tắc nhân ngã vị vong .

Dĩ thị nghĩa cố tắc tri thập vô ngại đạo năng sanh  thị quá .
cập thành như thị nhất thiết bất cát tường sự . vị chướng đạo nhân duyên .
Hà dĩ cố .
1.-tham dục sanh tất phá giới thối đạo .
2.-kiêu xa khởi tất khi áp nhất thiết .
3.-học liệp đẳng tất vị đắc vị đắc .
4.-nguyện bất kiên tất vị chứng vị chứng .
5.-chí khinh mạn tất xưng ngã hữu năng .
6.-khuy đạo nghĩa tất kiến nhân chi phi .
7.-nội tự căng tất chấp ngã chi thị .
8.-ý hữu đồ tất hoa danh dục dương .
9.-si tâm động tất ố lợi huỷ kỷ .
10.-tồn nhân ngã tất oán hận tư sanh.
 
Thị thập chủng quá tùng phàm vọng sanh giai danh tà kiến . triển chuyển sanh khởi vô lượng ác  pháp . biến hư không giới .
Thị cố đại thánh hoá nhân  :-
-dĩ bệnh khổ vi lương dược .
-dĩ hoạn nạn vi giải thoát .
-dĩ chướng ngại vi tiêu dao.
-dĩ quần ma vi pháp lữ .
-dĩ sự nan vi an lạc.
-dĩ tệ giao vi tư lương .
-dĩ nghịch nhân vi viên lâm .
-dĩ thị đức vi khí  tỷ .
-dĩ sơ lợi vi phú quí.
-dĩ thụ ức vi  hạnh môn .
Như thị tắc cư ngại phản thông .
cầu thông phản ngại . ư thử chướng ngại giai thành diệu cảnh .
cố đắc chi dữ thất tự bất năng tri . nhân hề ư trung cường sanh thủ xả .
Thị dĩ như lai ư chướng ngại trung  đắc bồ đề đạo .
chí nhược vi bán kệ thời chi ngộ la sát .
Tác tiên nhân thế chi trị ca lợi . ngoã thạch lai kích chi tăng thượng  mạn tỷ khâu .
Mộc vu vi dựng chi đại huỷ báng bế nhữ. cập Ương Quật Ma La chi bối . Đề Bà Đạt Đa chi đồ . giai lai tác nghịch . nhi phật tất dữ kỳ kí.
hoá lệnh thành phật . khởi bất dĩ bỉ nghịch nhi vi ngô chi thuận .
dĩ bỉ huỷ nhi vi ngô chi thành dã . hà huống thời bạc thế ác  . nhân sự dị thường .
Ư học đạo nhân khởi vô chướng ngại . ư kim nhược bất tiên cư ư ngại . tắc chướng ngại chí thời mạc năng bài khiển . sử pháp vương đại bảo nhân từ nhi thất . khả bất tích .
Chư ngu cố y kinh liêu thuật sở tri . nguyện vật hiềm khí .
Thảng nhân văn thử nghĩa cố chướng ngại hiện tiền . phản năng dũng tiến ư đạo . khả vị đắc tư chỉ yên .
-----OOOOO-----

*Trích  từ :-
(大正新脩大藏經 -第四十七冊 No. 1974《寶王三昧念佛直指》CBETA 電子佛典 V1.17 普及版)
Taisho Tripitaka Vol. 47, No. 1974 寶王三昧念佛直指, CBETA Chinese Electronic Tripitaka V1.17, Normalized Version)
(Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh  -đệ tứ thập thất sách  No. 1974《Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ 》CBETA điện tử  phật điển  V1.17 phổ cập bản )

MƯỜI ÐIỀU TÂM NIỆM
1.   Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sanh.
2.   Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy.
3.   Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
4.   Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.
5.   Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu mạn.
6.   Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7.   Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.
8.   Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp thì thi ân có ý mưu đồ.
9.   Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.
10.   Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch thì nhân ngã chưa xả.
Bởi vậy, ÐỨC PHẬT dạy:
 
•   Lấy bịnh khổ làm thuốc thần
•   Lấy hoạn nạn làm giải thoát
•   lấy khúc mắc làm thú vị
•   Lấy ma quân làm bạn đạo
•   Lấy khó khăn làm thích thú
•   Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ
•   Lấy người chống đối làm nơi giao du
•   Coi thi ân như đôi dép bỏ
•   Lấy sự xả lợi làm vinh hoa
•   Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh
 Nên chấp thuận trở ngại thì thông suốt, mà mong cầu thì thông suốt sẽ bị trở ngại. Ðức Thế Tôn thực hiện huệ giác bồ đề ngay trong sự trở ngại, như Ương Quật hành hung, Ðề Bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi và sự phá hoại làm sự tác thành cho ta.Ngày nay, những người học đạo trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào!
LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI
---o0o---
*Xin tham khảo thêm:-
[url]http://www.quangduc.com/tinhdo/27voluonggy.html[/url]
[url]http://www.quangduc.com/tinhdo/78luansutongtinhdo15.html[/url]
Kính.
CHÁNH NGUYÊN
5411  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 03, 2008, 03:49:40 pm
(tiếp theo)

NGÀY THỨ NHÌ

Hôm qua, tôi thấy tư thế ngồi của quý vị chưa thật phù hợp với yêu cầu. Dĩ nhiên, tu thiền là tu tâm, không cần phải có yêu cầu quá cao đối với tư thế ngồi, cốt sao thoải mái và lâu là tốt rồi. Nhưng vì ở đây là thiền đường, cần phải ngồi chỉnh tề và đồng nhất để được trang nghiêm hơn.
Tư thế ngồi thiền tiêu chuẩn nhất: đầu phải ngay, vai phải bằng, mắt nhắm hết, miệng ngậm lại, lưng đứng thẳng, tay kiết ấn Di Đà, hai chân tréo kiết già. Nếu vị nào tuổi tác quá cao, không thể quen kiết già thì dùng bán già, hoặc ngồi xếp bằng thường hay buông thỏng hai chân (ngồi ghế) cũng có thể được. Chắc chắn quý vị sẽ thắc mắc, trong Phật giáo có tám muôn bốn ngàn pháp môn, cần gì nhất định phải tu thiền, pháp môn khác chẳng cùng kết quả sao?
Tôi xin thành thật thưa cùng quý vị rằng, trừ phi quý vị không muốn giải thoát ngay trong đời này thì quý vị có thể không cần tu thiền. Còn nếu muốn được giải thoát khỏi sanh tử kiếp này, ngoài tu thiền ra, không có con đường nào khác. Các pháp môn khác, dù nói hay đến độ hoa trời rơi cúng, sự thật chỉ là đường ruột dê quanh co, nhỏ nhít khó đi. Câu nói “đường nào cũng về La Mã” là câu nói của kẻ cào bằng, gây ngộ nhận chết người từ xưa đến nay.
Thật ra, tu thiền rất đơn giản, công việc duy nhất là tiêu trừ sạch sẽ những tâm ngữ ồn ào, mà bất cứ ai nhắm mắt lại đều có thể phát hiện trong tâm thôi. Nếu pháp môn nào có thể làm được điều đó, thì các cõi nước mười phương chư Phật đều tùy ý đi lại, tiêu dao du ngoạn; còn không được thì không có cách gì hoặc Đấng nào cứu bạn được cả.
Mà muốn đạt đến chỗ tiêu diệt tâm ngữ cũng không mấy khó khăn gì, nhưng chỉ có duy nhất con đường Thiền mới đến đích được. Tôi khẳng định “chỉ một đường này, tuyệt không nhánh rẽ nào khác”.
Nói như thế không có nghĩa là bất cứ ai tu thiền cũng đều thành công 100%, cũng có số người tu thiền sai hướng đã tổn hại đến thân tâm, vì không xác định rõ mục tiêu. Họ đã như anh mù cưỡi ngựa đui, tới lui đều va chạm, kết cục không thể không rơi xuống hố sâu, bể đầu dập trán hay thương tích tòan thân. Vậy muốn tu Thiền, trước phải xác định mục tiêu chính xác, rồi phải có phương pháp cơ bản tốt cộng với quyết tâm tu nữa thì chắc chắn thuận buồm xuôi gió, khắp nơi cảnh đẹp, hoa tươi liễu uốn, mặc tình thưởng thức.
Nguyên tắc tu Thiền là phải “nhập lưu”, tức là phải xoay tinh thần chúng ta từ chỗ hướng ngoại, quay 1800 trở lại hướng nội trong thân. Bởi lẽ, tinh thần chúng ta từ vô thủy đến nay, quen thói sáu căn luôn hướng ra ngoài, nắm bắt ghi khắc sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đã thành quán tính. Nay muốn giải thoát, phải khẳng định “xuất lưu vào sanh tử, nhập lưu được giải thoát”. Tinh thần từ Ra chuyển thành Vào bằng cách ngồi yên, nhắm hai mắt lại, làm công phu ngay trong nhục thể này.
Dĩ nhiên khi đột ngột thay đổi thói quen, cả tinh thần lẫn thân thể đều chưa kịp thích nghi, nhất định sẽ phải phát sinh phản ứng, ta thường gọi là Cảnh Giới.
Chưa thích nghi về tinh thần, sẽ phát sinh Huyễn Giác và Thác Giác. Thật ra, hai thứ này bình thường ai cũng có, nhưng vì tinh thần không bị gò bó, chúng ít hiện ra mà thôi. Do đó, người tu Thiền nếu có thấy Tiên, Phật đầy trời, muôn đạo kim quang sáng chói, hay thấy lên thiên đàng, dạo địa phủ… đều mặc kệ tất cả. Nếu lại cho đó là thật, theo cảnh chuyển tâm, lúc mừng lúc sợ thì cảnh giới sẽ phát sinh ngày càng thêm, gây biết bao rắc rối lôi thôi về sau.
Việc tu hành của chúng ta là đã xác định rõ mục tiêu, nắm vững nguyên tắc trị tâm bệnh, chứ không cần sinh đông sinh tây gì cả. Tâm linh không bệnh là Ta thật (chân ngã), còn thân thể là công cụ của ta, việc đi đứng nằm ngồi (buồn, vui, thương, ghét) là những biểu hiện vận động của tâm thôi.
Nói chung, những thứ gì không liên hệ với công tác tiêu diệt tâm ngữ, dù là chư Phật giá lâm, hào quang đầy đất… đi nữa, ta xét lại hoàn tòan vô can đối với tâm linh không bệnh, nên nghĩ đến nó làm gì. Bỏ sạch tất cả thứ đó là phải.
Thêm nữa, cũng cần chú ý đến những phản ứng không tốt của thân thể. Có người bảo, chúng ta vốn tu tâm, thân thể đâu quan trọng cần phải nhớ tới. Quả là một sai lầm lớn. Chúng ta đâu đã đạt đến trình độ “như chim sổ lồng”, chưa tách được tâm ra khỏi thân, thì thân tức tâm, tâm tức thân. Phải hiểu rõ, tấm thân bảy thước này là phương tiện hữu hiệu để tu giải thoát, nếu không khéo xử lý, chắc chắn sẽ sanh bệnh. Mặc dù, qua thực nghiệm pháp nhiếp hoá này gây phản ứng ít nhất cho cơ thể, nhưng ít không nghĩa là chẳng có. Tùy theo từng người mà sinh phản ứng khác nhau, đa số là thuộc về dụng công quá sức, cảm thấy nhức nhối trước ngực, cơ bắp đau buốt, chóng mặt, nhức đầu, tim đập mạnh… Nếu phát hiện có rơi vào trạng thái này, tạm ngưng công phu, khỏi cần đi thầy uống thuốc, cũng đừng hoang mang lo sợ ngũ tạng lục phủ bệnh hoạn gì (ngoại trừ những người đã có bệnh sẵn). Sau thời gian ngắn, thân thể bình thường trở lại, tiếp tục dụng công nữa. Những phản ứng không tốt của thân thường chỉ sau một năm là bớt hay hết hẳn. Huyễn giác và thác giác lại không nhất định, có những vị lão tu Thiền vẫn còn phát sinh huyễn giác. Nghĩ cũng lạ, hai thứ huyễn giác và thác giác thật không ích lợi gì đến việc tiêu diệt tâm ngữ, trái lại còn đổ dầu vào lửa cho tâm ngữ bùng lên, vậy mà còn có người thích thú say mê, lấy đó làm kỳ tích. Tâm ngữ mà ai cũng có thể phát hiện đó là nhân của luân hồi khổ hải, nhà Phật gọi là Hoặc, Nghiệp, Khổ. Cho nên, chúng ta phải hết sức cố gắng vận dụng trí tuệ, làm thế nào tiêu trừ sạch sẽ hết thứ đó, mới là đại tự tại.
Tóm lại, khi tu Thiền, khi đã biết rõ thuận lợi và khó khăn của thân và tâm, biết chắc giải quyết đúng, nhất định quý vị đã đứng nơi “vùng đất không thua” (bất bại chi địa) rồi. Con đường bằng phẳng giải thoát trải ra trước mắt, quý vị hãy an tâm tiến bước.
Nhân đây, cũng xin phá một nghi nữa, có người bảo khi tâm ngữ dừng bặt, biến thành “vô tri” sao? Đó là cái lo không đúng, thật sự nếu trong tâm mà còn những tâm ngữ ẩn ẩn núp núp là còn sản sinh ra đau khổ, luân hồi. Hết tâm ngữ, mới là trạng thái chính thường của tâm, chẳng những không hề vô tri như họ nghĩ mà còn đủ đầy phước huệ tột bực là khác.
Vì sao? Tâm không còn tự ngữ, tức không còn sự quấy nhiễu nữa thì ở trạng thái “lặng lặng thường biết” (liễu liễu thường tri) tức là “biết thẳng cùng khắp” (chánh biến tri) chứ đâu phải “không biết gì” (vô tri). Còn tâm linh có tự ngôn tự ngữ là mất chính thường, bị những cái biết nhỏ, cái thấy nhỏ che mất cái biết khắp (tòan tri), ánh mắt nhỏ như hạt đậu, giống như nhìn con báo qua cái ống nhỏ vậy.
Tóm lại, tâm linh vô niệm là được “gương sáng tròn lớn” (đại viên cảnh trí), không gì chẳng biết, không gì chẳng xong.
Đã tu thực thì không nên nói nhiều, lại càng không nên nói bậy. Đã không nói đúng lẽ thực rồi thì dù nói hay ho đến độ hoa trời đầy đất vẫn không thoát khỏi gông cùm sanh tử, đêm ba mươi tháng chạp, Diêm Vương không thể bỏ qua đâu.
Nhớ, công việc trước mắt quý vị là làm công phu diệt tạp niệm đi. Tôi nhắc lại: nhắm con mắt lại, trong tâm mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật để thu hút muôn niệm, đồng thời theo dõi cái điểm niệm Phật này ở đâu? À, nó ở trong thân. Thân thể này thành ra từ máu thịt, là vật chất phải tuyệt đối im lặng chứ, tại sao lại có điểm niệm Phật này? Kỳ lạ thật!


5412  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 02, 2008, 03:43:30 pm
GIẢI THOÁT HỌC (tiếp theo)
PHẦN 3
LỜI KHAI THỊ Ở THIỀN THẤT
Tổ chức tại Giảng Đường Viên Thông
Bangkok – Thailand
                           (giảng từ ngày 19/2/1976)

NGÀY THỨ NHẤT

Thưa quý Đại Đức,
Hôm nay, quý vị đến Giảng Đường Viên Thông để tham dự nghi thức Thiền Thất ở đây, là một phước duyên nhiều đời của quý vị nên được cùng ở cùng tu.
Bây giờ, tôi xin được hỏi mục đích đến đây của quý vị là gì? Có lẽ quý vị sẽ trả lời nhiều câu khác nhau, người nói muốn lìa sanh tử, người bảo ra khỏi luân hồi, cũng có người bảo muốn thành Phật làm Tổ…
Tất cả những câu trả lời trên đều rất đúng đắn, rất quang minh chính đại. Nhưng theo cách nói hơi nghiêm khắc của tôi thì những câu đó chưa đạt yêu cầu thoát tục. Tôi đề nghị nên nói thẳng, rõ ràng, cụ thể là “làm cho tâm linh vô niệm”, nghĩa là phải tiêu diệt sạch sẽ những thứ tâm ngữ ồn ào, trùng điệp không ngớt phát ra từ chỗ sâu kín trong tâm linh mỗi người.
Viên Thông này là một đạo tràng Thiền Tông, nhưng lại cũng có thể bảo là một đạo tràng Tịnh Độ Tông chân chính. Phương pháp tu hành ở đây hoàn tòan không dùng những cành lá nhánh nhóc, cách thức tu hành lỗi thời đã qua mà là chỉ thẳng pháp tu đạt đến chỗ vô niệm trong tâm. Đó là điều kiện tiên quyết của giải thoát. Có giải thoát mới được muôn điều như ý. Vậy chưa vô niệm mà đòi giải thoát thì thật là “leo cây bắt cá”. Tôi xin nói thẳng, bất luận tu theo Tông phái nào: Tịnh Độ, Thiên Thai, Mật Tông, Luật Tông, Hoa Nghiêm… nếu không hướng về mục tiêu này mà tu thì không pháp nào gọi là thành tựu đạo Phật cả.
Có lẽ quý vị tin chắc không nghi ngờ gì những điều tôi vừa nói, nhưng vẫn còn chút thắc mắc là muốn cho tâm linh vô niệm đâu phải là chuyện dễ. Từ xưa đến nay, cũng có người biết đến cảnh giới vô niệm đặc biệt thù thắng này, nhưng ngàn muôn kẻ tu hành hướng về mục tiêu đó để tu, kết quả lãnh lấy thất bại, chịu thua bỏ cuộc.
Đồng ý là thế, nhưng chúng ta cũng biết pháp thế gian và pháp xuất thế gian vẫn có những đạo lý thông nhau. Tu hành giống như mở cánh cửa một nhà kho, nếu quý vị biết rõ cách thức thì chỉ cần nhẹ nhàng ấn xuống nút điện, cửa lớn sẽ mở ra ngay. Còn nếu không biết, đập đẩy loạn xạ, dù ráng hết sức chín trâu hai cọp vẫn khó làm cho nó chuyển động được chút nào.
Hiện nay là thời đại trăm hoa đua nở, về mặt tôn giáo cũng tranh nhau xuất hiện biết bao thứ đạo, rất nhiều “bí pháp” ra đời. Trong Phật giáo, cũng lại muôn hình ngàn vẻ như là ăn chay, tụng kinh, lễ lạy cầu nguyện, niệm Phật, trì chú, quán tưởng, sổ tức, kiết ấn… và thấp hơn một bậc là đốt đỉnh đầu, đốt ngón tay, dùng máu chép kinh…
Việc tu hành phải rất khoa học, quan trọng nhất là phải nêu lên được mục tiêu rõ ràng, chính xác, rồi cần có phương pháp, kỹ thuật thích nghi, mạnh dạn hướng đến mục tiêu mới có thể thành công. Nếu không, biển Phật học mênh mông, quý vị biết đi từ đâu và về chỗ nào?
Cho dù quý vị có mong cầu điều gì, như hoa nở thấy Phật, lập địa thành Phật, thấy tánh thành Phật (Tịnh, Mật, Thiền) nhưng đều cùng chung một nguyên tắc: tâm linh vô niệm. Nếu gắng sức dụng công mà trái với nguyên tắc này, có muốn thấy Phật cũng không thấy tới, muốn thành Phật cũng thành không được.
Tu Phật là Tu Tâm, đáng ngại nhất là công phu lạc ở ngoài Tâm, hoặc tu phân tâm, vất vả cả đời vô ích. Phật giáo đại thừa có rất nhiều pháp môn, xác định đúng mục tiêu công phu trong tâm nhưng thiếu phương pháp tốt nên rất khó thành công, không thể đạt đến giải thoát.
Chúng tôi xin tạm nêu một số pháp môn tiêu biểu như sau:
Pháp quét niệm (tảo niệm pháp): dùng công thức xử lý tâm linh là “giờ giờ hằng lau chùi, chớ để dính bụi bặm” (thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai).
Lau chùi bằng cách nào – bằng hồi quang phản chiếu. Pháp môn này chủ trương “chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm” và “niệm khởi liền biết, biết nó liền không”.
Pháp mặc kệ (nhậm do pháp): đây là pháp cải tổ của pháp quét niệm vì thấy sự bất lực của nó là “cắt không đứt, gỡ càng thêm rối, muôn thứ vọng tưởng ẩn trong tâm”. Chủ trương pháp mặc kệ là không lưu ý đến vọng tưởng, không đưa không đón nó. Giống như ông chủ tiệm ngồi trên quầy cao nhìn thấy anh A quen, chị B lạ, cũng cứ mặc kệ họ tới lui, chẳng hỏi han chào đón gì. Hoặc diễn tả một cách văn vẻ hơn “núi xanh mãi chẳng động, mây trắng tự lại qua”.
Hai pháp này có nhược điểm gì? Xin thưa tâm chúng ta có hai phần (năng lực) là kiến và tướng phần. Hai pháp trên chỉ sử dụng có kiến phần nên vọng tưởng còn có thể lợi dụng tướng phần để hoạt động, do đó không mang lại kết quả. Tương tự nhà có 2 cửa, chỉ giữ một cửa, kẻ trộm vẫn có thể theo cửa trống vào nhà, lấy cắp vật quý đi.
Pháp chiếm lĩnh: là chiếm giữ trọn tâm linh, không để chỗ nào trống khiến vọng tưởng không có chỗ chui xen vào, đó gọi là chế tâm một chỗ.
Pháp này lại phân ra mấy nhánh:
Pháp quán tưởng: nhắm mắt quán tưởng sự vật mình ưa thích khiến cho hình ảnh đó thật giống hệt sự vật, thấy rõ ràng phân minh. Hình ảnh ấy chiếm tòan bộ tâm linh, không để vọng tưởng dấy phát.
Pháp tham thoại đầu: tự chọn hoặc thầy giao cho một câu thoại đầu rồi linh hoạt tham cứu chặt chẽ nó. Càng tham càng thấy thú vị, đà tham mạnh đến nỗi muốn thôi mà chẳng được khiến tâm linh làm việc không ngừng, chẳng còn rãnh để phát khởi vọng nữa.
Pháp niệm Phật: ngồi yên, nhắm mắt lại, mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật thay cho muôn niệm. Ra sức chú ý vào điểm niệm Phật (chỗ phát ra niệm Phật), vừa niệm vừa chú ý, vừa chú ý vừa niệm. Như thế, vọng tưởng tự nhiên không phát khởi. Trong thân thể lúc ấy chỉ còn có “cái niệm Phật”. Chỉ cần thời gian 5 phút làm đúng như thế, liền được nhất tâm bất loạn rồi.
Pháp nhiếp hoá: mặc niệm trong tâm bốn chữ Phật hiệu để hấp thu những tự ngôn tự ngữ trong đầu. Lại nhớ biết rõ thân thể thuần là vật chất liền hoá giải hết vọng tưởng, như nước nóng tan băng, như đèn sáng phá tối. Vọng tưởng tự nhiên lập tức biến mất, thú vị vô cùng.
Điểm quan trọng của pháp này ở chỗ “quan niệm thân xác” (khu xác quan niệm, trước đây gọi là thân giác hay thân chính giác) phải đủ mạnh, rõ, chắc chắn là thân máu thịt vật chất, trong đó phải tuyệt đối im lặng, không thể có tự ngôn tự ngữ. Dùng thứ quan niệm này tiêu diệt tức khắc vọng tưởng. Niệm sau không tái khởi, tức “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện ra” vậy.
Hiện nay, trong Phật giáo đại thừa vẫn còn phổ biến thường xuyên hai pháp quét niệm và mặc kệ. Đã có không biết bao nhiêu người thất bại, có số vì tự ái giấu đi nên lại rất có nhiều người khác nôí tiếp theo. Kẻ trước đã té ngã mà người sau vẫn tiếp tục, ý chí rất đáng khen. Nhưng thật tiếc thay, như đã nói trên, hai pháp ấy hoàn tòan không thể nào làm cho những tâm ngữ khó khống chế trong tâm, dừng bặt chẳng ổn được.
Pháp quán tưởng, dù có rất nhiều người ngày đêm không biếng trễ công phu này, muốn đem cái hình ảnh mà mình quán tưởng đó chiếm trọn tâm linh. Mức độ khó khăn của pháp này khó gấp trăm lần so với pháp quét hay chế ngự vọng tưởng. Cho dù quý vị có quán được rõ ràng, phân minh, thấy Phật ở tô canh, thấy Phật trên vách tường… Nhưng bản chất của nó vẫn là huyễn giác trống rỗng, xoay lưng lại với tâm linh vô niệm mà đi, nên càng xa rời với giải thoát.
Pháp tham thoại đầu, trong thiền lâm Trung Quốc (và Việt Nam) gần đây, phổ biến sử dụng pháp này để tu. Nhưng vì pháp môn này đã có nhược điểm quá lớn (sẽ nói kỹ phần sau), đã uổng phí không biết bao nhiêu thời gian và tâm huyết của những người có ý chí xuất trần. Đến nỗi, có người phải than rằng: “Sau Tổ Hoàng Bá, không có Thiền”, cũng có người sáng suốt hơn cho rằng “ không phải không có Thiền, mà là không có thầy”. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này vài ngày sau.
Pháp niệm Phật nói trên là phương pháp nơi giảng đường chúng tôi đang áp dụng và truyền đạt, dựa trên nguyên lý “định tuệ cân bằng”. Người tu buộc phải nhắm mắt để ánh sáng tâm không bị phóng ra ngoài. Trong tâm, mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật, đó là đã dùng “định”, một mặt chú ý nhìn kỹ điểm niệm Phật trong thân, đó là dùng “tuệ”. Định tuệ cân bằng thì tâm mới không loạn.
Pháp nhiếp hóa (tức pháp giải thoát) là pháp tối thượng thừa, mau thẳng rõ ràng, có công dụng đặc biệt hoá hủ mục thành thần kỳ. Các phương pháp nêu trước đều có mang chút sợ vọng tưởng, nằm ở thế bị động tiêu cực. Pháp nhiếp hoá lại hoan nghênh vọng tưởng, trước nhiếp sau hoá nó, mang tính chủ động tích cực.
Kể ra, có điều lạ ở chỗ, đối với vọng tưởng, nếu quý vị có vẻ sợ nó thì nó liều mạng tấn công quý vị; còn khi hoan nghênh nó, nó lại biến đi đâu mất, lâu lâu cũng  chẳng dám ló mặt ra.
Xin nhấn mạnh một lần nữa về tầm quan trọng của “quan niệm về thân xác” đối với tấm thân bảy thước này, dựng nên một nhận thức chính xác:
Thân thể này là vật chất, không thể niệm Phật.
Thân thể này là không thể có tự ngôn tự ngữ.
Thân thể này là phải tuyệt đối im lặng.
Vì nó là thân máu thịt, thuần vật chất. Đã là vật chất thì không thể có khả năng tạo các hiệu quả động nói trên. Đây chẳng phải là kiến thức lớn lao gì, nói sơ qua mọi người đều biết. Giá trị nó xem ra hình như là chuyện trẻ con, không có gì đặc sắc. Nhưng khi quý vị đã thể hội sâu chắc nó rồi thì nó sẽ trở thành vật cực quý không gì sánh nổi trong việc tu hành tiêu diệt vọng tưởng.
Chúng tôi cũng xin được phép trùng tuyên lần nữa để quý vị nắm chắc pháp nhiếp hoá này.
Chúng ta phải thật ghi nhớ quan niệm thân xác này, đừng cho là nó quá nông cạn dễ hiểu mà lơ là. Nhắm hai mắt lại, trong tâm mặc niệm bốn chữ A Di Đà Phật hoặc bất cứ thánh hiệu nào mà bạn ưa thích để thay thế cho những tự ngôn tự ngữ vốn có. Đang lúc quý vị chú ý vào điểm niệm Phật trong thân, lại liên tưởng đến quan niệm thân xác trên, liền cảm thấy nghi hoặc khó hiểu, trong thân thể sao lại có cái thứ này? Chúng ta niệm Phật không ngừng tạo thành thứ lạ lùng này, cái đáng lẽ không có mà hiện giờ lại tồn tại rõ ràng khiến ta càng tưởng càng kỳ lạ, thú vị.
Cảm giác kỳ thú này gọi là Kỳ Tình (trước đây gọi là nghi tình), một vật báu vô giá trong Thiền học.
Kỳ tình khởi sanh, tạo thành kết quả “gỡ hết liên kết dính mắc bên trong” (thoát niệm nội phục), kéo dài độ cách biệt giữa thân và tâm (tách tâm ra khỏi thân), trong đó điểm niệm Phật là trung gian liên kết, nằm giữa bốn bên. Không lâu, liền biết đã khai mở, vào đất thanh lương.
Lúc đó quý vị ngưng niệm Phật, trong thân hoàn tòan rỗng vắng, Chân Như tròn sáng hiện ra. Trong thiền lâm thường gọi đó là Khai Ngộ.
Sau này, công phu đã quen, quý vị không cần niệm Phật nữa, chỉ nhắm mắt xem vào bên trong thân có cái gì không? Đáng lý trong thân phải im lặng, nhưng lạ kìa, trong đó lại có những tự ngôn tự ngữ, có cười có nói. Lúc đó, quý vị liên tưởng đến “quan niệm về thân xác” thì không thể không cảm thấy thần bí và thú vị. Những tự ngôn tự ngữ kia liền lặng mất, tâm linh vô niệm.
“Ông chủ” đã xuất hiện!
Cũng cần nói thêm điểm này, khi phát hiện ra điểm niệm Phật hay tự ngôn tự ngữ trong thân, tuyệt nhiên không đưa ra câu trả lời “tâm của ta mà”. Vì mục đích chúng ta không phải muốn biết tên nó là gì, mà là hoài nghi thứ này tại sao có ở cái chỗ không thể có này?
Pháp nhiếp hóa là diệu pháp duy nhất đem muôn niệm hoá thành vô niệm. Nếu đã thuần thục, trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi, tâm linh quý vị đều “rỗng rang không một vật” thì quý vị là pháp thân đại sĩ rồi đó.
Đặc điểm pháp này rất hay mà lại đơn giản, kết quả nhanh chóng, mọi người đều có thể tu thành công. Thực tế, đã có rất nhiều người được lợi ích lớn nhờ pháp này. Đây là bông hoa ngàn năm một thuở, quý vị nên nắm lấy cơ hội, đừng bỏ qua rất uổng.

(còn tiếp)
CHÁNH NGUYÊN


5413  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 02, 2008, 03:36:15 pm
GIẢI THOÁT HỌC (tiếp theo)
PHẦN 2

DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT
(xin học thuộc lòng)

Diệu Pháp Giải Thoát gồm có hai bước khắng khít : bước một là pháp nhiếp niệm, bước hai là pháp hóa niệm.
Thực hành bước một khoảng ba tháng, cảm thấy trong tâm không muốn mặc niệm danh hiệu Phật nữa, chuyển sang bước hai.Qui vị mới bắt đầu xin nhớ thật kỹ, không thể cùng lúc dùng hai thứ đâm ra rối loạn, chẳng được kết quả gì.
1.   Pháp nhiếp niệm (pháp tiêu nghiệp)
Tức nhiếp muôn niệm thành một niệm. Cũng là thu hút, thống nhất, chiếm lĩnh, cải tạo, tẩy rửa, trị liệu, tịnh hóa những tạp niệm trong tâm linh.
Phương pháp như sau:Nhắm hai mắt vừa khít, mặc niệm trong tâm bốn chữ “Quan Âm Bồ Tát” (hoặc thánh hiệu khác), mỗi chữ một giây đồng hồ. Không động môi, không quán tưởng, không nhớ Phật, không lần chuỗi, không gián đoạn, thu hút và tẩy rửa những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ không tiếng không hơi trong tâm linh.
Vừa mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, vừa chú ý tìm xem “điểm niệm Phật” ở chỗ nào ? Lúc đầu khó nhận ra, sau nước tâm hơi lóng trong sẽ thấy rõ điểm niệm Phật này trong thân một cách chắc chắn. Dù không nghe tiếng, chẳng thấy hình nó nhưng không thể nào phủ nhận cái điểm niệm Phật trong thân này được.
Lại tiếp tục mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, lại vừa chú ý vào điểm niệm Phật này, chăm chăm như mèo rình chuột vậy. Nếu thấy điểm này di động đến đâu, sức chú ý cũng chuyển sát theo đến đó. Như vậy, kiến phần (sức chú ý) và tướng phần (điểm niệm Phật) sẽ cân đối tác dụng với nhau, chẳng bao lâu liền được tâm mở ra ý cởi trói (ý giải tâm khai).
Cũng có trường hợp người dụng công trước sau vẫn không tìm thấy điểm niệm Phật một cách rõ ràng, cũng chẳng hề gì. Cứ không ngừng mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, tẩy rửa tâm linh, trong ba tháng nhất định được an lạc.
Nếu không nhắm hai mắt hoặc dùng miệng niệm Phật, thánh hiệu sẽ không đi sâu vào trong tâm. Còn nếu ngừng mặc niệm thì thánh hiệu trong tâm mất đi. Cả hai đều không đem lại kết quả.
Người mới bắt đầu, mỗi lần dụng công không nên lâu quá nửa giờ, mỗi ngày tổng cộng thời gian công phu không ít hơn hai giờ nhưng không được quá ba giờ. Giờ nào ngồi cũng được, không kể Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu gì cả. Tư thế ngồi nào cũng được miễn đạt yêu cầu thoải mái và ngồi được lâu là tốt.
Không được cong lưỡi để lên nóc giọng, không bắt ấn hoặc để tay trên đầu gối. Những thứ phụ tùng như mắt kính, đồng hồ đeo tay, dây chuyền, đồ trang sức… nếu cảm thấy trở ngại cho việc dụng công, thì nên tháo cất hết. Mục đích tránh đi những dính mắc, quấy nhiễu của thân để tâm hoàn tòan an ổn trong khi công phu.
2.   Pháp hóa niệm (pháp chứng vô sanh)
Sau khi qua bước một, nhiếp muôn niệm về một niệm, tức là đã vào được cảnh giới nhất tâm bất loạn.
Nhưng tâm linh cũng giống như tròng mắt, dù lọt cát vàng bụi ngọc trong đó, cũng phải loại bỏ mới thật an ổn. Do đó, phải tiến thêm một bước thứ hai, dùng pháp hóa niệm để chuyển hóa nhất tâm bất loạn thành vô niệm, tức nhập vô sanh nhẫn.
Kinh nghiệm lúc dụng công cho thấy, khi trong tâm còn mặc niệm thánh hiệu, gom muôn niệm thành một niệm được rồi, nhưng khi dừng mặc niệm, bỏ rơi chỗ níu giữ, muôn niệm lại tiếp tục nổi lên. Do đó, tâm linh rơi vào trạng thái giữa muôn niệm và một niệm, giao xen lẫn nhau, khó tiến sang trạng thái vô niệm. Vì thế, phải dùng pháp hóa niệm mới có thể khiến tâm linh trở lại chính thường, vào diệu cảnh vắng lặng tròn đầy.
Phương pháp như sau:
+   Mọi người đều biết, thân thể chúng ta là vật chất vì nó làm thành do máu thịt. Đã là vật chất thì nó phải tuyệt đối im lặng, tuyệt đối không thể biết niệm thánh hiệu. Nhận thức rõ ràng chắc chắn như vậy rồi, khi nhắm mắt mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, phát hiện trong thân có điểm niệm Phật, liền cảm thấy lạ lùng. Tại sao trong thân đáng lẽ không có cái đó mà nay thực tế lại có, thật chẳng thể nghĩ bàn. Đang lúc cảm thấy kỳ lạ như vậy, ngưng mặc niệm, tạp niệm không thể nổi lên nữa, vì bấy giờ tâm linh đã bị những cảm giác thú vị chiếm lĩnh nên không tái phát tự ngôn tự ngữ được.
+   Hoặc chúng ta không mặc niệm thánh hiệu, chỉ nhắm mắt chú ý trong thân, thật lạ lùng, trong thân thể máu thịt thuần vật chất này phải tuyệt đối im lặng, thế mà rõ ràng hiện nay trong đó có những thứ tự ngôn tự ngữ, trùng điệp không ngớt, quả thật thú vị vô cùng. Đang lúc ta cảm thấy thú vị này, trong tâm linh liền “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền” rồi.
Trường hợp nếu bạn không thể phát hiện được trong thân thể có những thứ tự ngôn tự ngữ, hoặc do “nước tâm” chưa trong, hoặc vì “con mắt tâm” (tâm nhãn) chưa sáng. Cách giải quyết là phải kiên trì ngồi tiếp, dùng thời gian đổi lấy sự xuất hiện của nó.
+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân thể những thứ tự ngôn tự ngữ không hơi không tiếng, nó đang nói gì thì nhại theo nó để nói. Thí dụ nó đang chữi người, ta theo nói chữi người; nó đang ca hát, ta theo nói ca hát. Chỉ cần nói theo nó một vài câu, nó liền không tái phát nổi cuồng nữa. Trong tâm linh hoàn tòan vắng lặng, bạn thấy được Chân Như rồi.
+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân máu thịt đang tán hươu tán vượn gì đó. Những điều nó nói đó, nhiều cái ta đâu muốn nói, thậm chí không cho phép nó nói, thế mà nó cứ nói ngay trong thân thể này, chẳng phải là kỳ lạ lắm sao? Đang lúc chúng ta cảm thấy kỳ lạ, nó liền không thể tiếp tục nói, tâm linh lại được an tịnh, bạn đã ngộ được thanh tịnh pháp thân.
+   Hoặc đang lúc nhớ lại thân thể vật chất phải tuyệt đối im lặng, lại nhắm mắt chú ý nhìn vào trong thân, phát hiện ra những bóng dáng lăng xăng, liền cảm thấy khó hiểu; nếu có nói thêm những thứ tự ngôn tự ngữ thì càng khó hiểu thêm vì nó xảy ra ngoài ý muốn. Trong thân thể đâu có chứa những thứ này, vậy nó ở đâu hiện ra đây? Thật quái gở quá! Ngay lúc bạn thấy quái gở, tạp niệm liền bị tiêu diệt, bạn vào được thành Niết Bàn rồi.
Nếu bạn phát hiện trong thân có những thứ tự ngôn tự ngữ mà không cảm thấy thú vị, là vì hoặc hiểu biết về thân xác chưa thật đủ mạnh, hoặc thuộc loại tê mất cảm giác. Phải cố gắng duyệt lại từ đầu, dùng thời gian kiên trì thu đổi kết quả.
+   Nếu tạp niệm trong tâm linh chỉ còn như sương mỏng khói nhẹ, lảng vảng không tan, sửa lại dùng pháp nhiếp niệm, niệm ít câu thánh hiệu, thu hút và tẩy rửa cho hết những tạp niệm tàn dư đó. Kế dừng mặc niệm, tâm linh lại rỗng rang không một vật, thấy được Bản Lai Diện Mục.
+   Nếu biết tâm linh đã vô niệm, phải ngưng sử dụng bất cứ phương pháp nào để tâm linh nghĩ ngơi thoải mái, đừng khởi mong cầu được vô niệm lâu dài. Chắc chắn nó sẽ tái khởi niệm, có hy vọng cũng bằng thừa. Tốt nhất là dụng công thêm nhiều nữa.
Pháp hóa niệm giúp bạn đạt được vô niệm từng lúc trong tâm. Chúng ta phải nỗ lực thêm để giúp tăng gia khuếch đại số lần vô niệm, nối các điểm vô niệm thành đường vô niệm, thành mặt phẳng vô niệm và thành khối thể vô niệm. Lúc ấy bạn đã là Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn đủ cả mười danh hiệu rồi.
Những điều cần chú ý
Mục đích tối thượng duy nhất của chúng ta là được tâm linh vô niệm, tức là tiêu diệt sạch sẻ những tâm ngữ ồn ào mất trật tự nằm sâu trong tâm chúng ta. Ngoài mục tiêu đó, những thứ khác không quan hệ gì đến tâm linh vô niệm thì không đáng giá một xu. Do đó, nếu có bất cứ huyễn giác hay thác giác nào, cũng đều không thèm lưu ý đến nó.
Huyễn giác, như thấy Tiên thấy Phật giáng lâm, nghe nhạc trời nổi dậy, thấy khắp thân tỏa hào quang, thân có mùi hương hoặc hương thơm tứ phía; hoặc nghe tiếng khóc, ma quỷ rên rỉ, hoặc nằm mơ thấy lành, dữ… Nói chung là tất cả cảnh vật vui buồn mà không có vật thực, nguyên nhân thực tạo ra, dù hiện ra lúc nào, ở đâu đều chẳng thèm để ý gì cả.
Thác giác là nhìn lầm vật thực, như thấy gốc cây cho là người, là ma quỷ; thấy sợi dây tưởng là con rắn; thấy khối đá cho là cọp; tiếng gõ cửa cho là tiếng chuông; tiếng gió hú cho là thần kêu quỷ hú… Tất cả cũng đừng thèm lưu ý đến.
Đồng thời, phải ghi nhớ dụng công không gấp không hưỡn, có làm có nghĩ, lưu ý đến những phản ứng của thân tâm, công phu thường xuyên không gián đoạn hoặc bỏ dở, ngay đời này thành Phật làm Tổ, không phải là chuyện khó nữa.


BIỂU GHI TIẾN ĐỘ LỢI ÍCH TRONG KHI TU DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT

+   Tháng thứ nhất: được khinh an (yên ổn nhẹ nhàng)
Mỗi ngày dụng công không trên hai giờ và không quá ba giờ (cộng 60 – 80 giờ/tháng), mỗi lần khoảng 20 -30 phút. Phải làm thường xuyên không gián đoạn.
+   Tháng thứ hai trở đi: thấy được điểm niệm Phật, giảm bớt tạp niệm, tăng gia an lạc.
Mỗi ngày dụng công ba giờ, chia nhiều lần, mỗi lần 30 phút.
+   Sau năm tháng: được tâm mở ra, ý được cởi trói (ý giải tâm khai), được vô niệm từng lúc (gọi là ngộ pháp vô sanh).
+   Sau sáu tháng: vào đất thanh lương, thường sanh hỷ lạc.
Mỗi ngày cũng dụng công ba giờ, mỗi lần 45 phút.
+   Năm năm đến bảy năm: vô niệm vĩnh viễn tức tâm linh chính thường, được giải thoát lớn.
Nên từ bỏ muôn duyên đời, chọn chỗ yên tĩnh tu hành.
Mỗi ngày từ 6 - 8 giờ dụng công, mỗi lần tùy chọn.
Phụ ghi:
Qua kết quả thực nghiệm nhiều năm cho thấy, tùy căn cơ mỗi người có nhanh có chậm (lợi độn), nhưng trước sau vẫn đạt kết quả. Tỷ lệ bình quân : lợi  1/ độn 3 thời gian.
Pháp môn Nhiếp hoá được lợi ích nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng mọi người. Nếu chưa tin, bạn hãy tu thử để rút kinh nghiệm.
Pháp môn này nếu được phổ biến rộng rãi, lớn nhỏ đều được lợi lạc. Hẹp thì bản thân an vui, gia đình hoà thuận, trật tự xã hội tốt đẹp; rộng thì khiến cả thế giới hoà bình, cõi Ta Bà này trở thành Cực Lạc.
(còn tiếp)
CHÁNH NGUYÊN


       




















5414  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / XIN GIỚI THIỆU SÁCH-GIẢI THOÁT HỌC- CỦA THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG-ÚC CHÂU vào lúc: Tháng Tư 02, 2008, 03:34:01 pm
Tác giả : Thiền Sư Thích Quang Tông
Dịch giả : Cư Sĩ Chánh Nguyên

GIẢI THOÁT HỌC

解脫學




Nơi phát hành : Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán
Lần đầu : Ngày 01/03/1986
Lần hai  : 1987
Lần ba   : 1988

















PHẦN 1

LỜI NÓI ĐẦU CỦA
“VĂN KHỐ MỌI NGƯỜI”

“Văn khố mọi người” (nhân nhân văn khố) được thành lập vào tháng 7 năm thứ  55 Dân quốc (1966).
Lúc đầu chỉ phát hành được số ít sách, chia ra hai thứ: đơn ngữ và song ngữ. Tháng 7 năm 1969, bắt đầu thêm những số đặc biệt, đến tháng 12 năm 1979 đã phát hành tổng cộng 2251 quyển, gồm có 657 quyển đơn ngữ, 909 quyển song ngữ, 685 quyển đặc biệt. Ngoại trừ tháng 3 và 4 năm 1974, vì khan hiếm giấy nên tạm ngưng, còn các tháng khác đều có từ 10 đến 20 quyển không đồng.
Văn khố chúng tôi do lão bối Vương Vân sáng lập, tuyển chọn những kiến thức, phát minh mới đăng tải trên hai loại sách của EVERYMANS LIBRARY (thư viện mọi người) và HOME UNIVERSITY LIBRARY (thư viện đại học gia đình) của nước Anh để phổ biến rộng rãi cho mọi người (ở Đài Loan).
Mặc dù đến nay, ông Vương Vân không còn sống, nhưng chủ trương và tôn chỉ của văn khố vẫn y theo chí hướng của ông, củng cố và phát triển thêm để xuất bản liên tục đều đặn hàng tháng. Mặt khác, luôn tìm cách đổi mới nội dung, cải tiến việc in ấn để khỏi phụ lòng chiếu cố của quý độc giả dành cho văn khố chúng tôi.

           Hội đồng biên tập của Đài Loan
                 Thương Vụ Ấn Thư Quán
      Ngày 01/01/1980 (năm 69 Dân quốc)

MỤC LỤC
Lời tựa.
Diệu pháp giải thoát.
Biểu ghi tiến độ lợi ích trong khi tu Diệu Pháp Giải Thoát.
Lời khai thị ở Thiền Thất tổ chức tại Giảng đường Viên Thông Bangkok-Thailand (giảng từ ngày 19/2/1976).
Mười bài giảng về Giải Thoát Học tại Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Hoa – Thành phố Sydney – Australia (08/4/1978).
Lời khai thị ở Thiền Thất tổ chức tại Quan Âm Thiền Tự Thành phố Sydney – Australia (08/12/1982).
Kệ hồi hướng.




Tóm tắt tiểu sử
THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG
Thế danh: Trần Tá Minh, sinh năm 1919 tại Quảng Đông.
Tốt nghiệp ở hai viện: Học viện Tam Tạng Phật giáo Trung Quốc và Viện nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc.
Từng giữ chức vụ:
Tổng biên tập tạp chí Phật giáo Trung Quốc.
Chủ nhiệm tập san Tuệ Đăng song chu.
Ủy viên kiểm soát Hội Phật giáo Trung Quốc.
Giáo thọ Học viện tam tạng Phật Giáo Trung Quốc.
Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Trung (Việt Nam – Trung Hoa).
Đạo sư của Bát Nhã Thiền Tự ở Hàn Quốc.
Đạo sư của Phân Hội Từ  Âm / Hội Phật giáo Thế giới.
Trụ trì giảng đường Viên Thông-Bangkok-Thailand.
Trụ trì Quán Âm Thiền Tự – Sydney - Australia.
Trụ trì Pháp Vũ Giảng Đường – Australia.
Đạo sư Trung Tâm Thiền Đại thừa – Australia.
Đạo sư Trường hàm thụ Thiền học Thế giới – Australia.
Các trước tác:
Thiền học.
Lăng Nghiêm Kim Giải – Giảng luận về chứng đạo ca của Đại sư Vĩnh Gia.
Thành Phật diệu pháp – Giải Thoát học – Thiền học chính tu – Thần kỳ học – Tuyệt đối luận.
12 bài giáo trình Thiền học hàm thụ.
Rất nhiều bài thuyết pháp ngắn …

LỜI TỰA
(lần xuất bản năm 1986)
Tên sách Giải Thoát Học này, cho dù quý vị tìm khắp Bách khoa tòan thư của nước Anh và Trung Quốc cũng không thể thấy được. Lý do đơn giản là danh từ này mới ra đời sau các sách trên, đến nay chưa lâu.
Sách này còn là con tàu cứu sanh, có những cống hiến vô cùng to lớn đối với chúng sanh đông đúc nơi biển khổ mênh mông này. Nó hướng dẫn bạn biết cách vượt thoát tất cả những thứ quấy rối tinh thần bạn, đến chỗ giải thoát lớn. Thêm nữa, thực tế đã có rất nhiều người theo phương pháp này đã đạt được lợi ích, sẽ minh chứng cho giá trị sách.
Tòan bộ quyển sách chỉ có khỏang trăm ngàn chữ, nhưng chim sẻ tuy nhỏ mà năm tạng vẫn đầy đủ, tất cả tinh hoa đại, tiểu thừa Phật giáo đều gom chứa trong đó.
Sách này không chuộng loại văn chương hoa mỹ, âm điệu bổng trầm để thoả mãn người đọc, mà là kết quả tổng hợp của khoa học, triết học và Phật giáo thượng thừa. Do đó không chấp nhận người đọc theo kiểu “cỡi ngựa xem hoa”, mà chỉ dành cho người nghiên cứu, thực hành tốt, nó sẽ là những mũi tên chỉ đường, dẫn dắt bạn thoát khỏi cung mê chúng sanh.
Phương pháp sách nêu là, riêng giương ngọn cờ “Nhiếp muôn niệm thành một niệm, hóa một niệm thành vô niệm”. Người thực hành mạnh mẽ sẽ có kết quả trước, người yếu hơn sẽ có kết quả sau, chắc chắn được lợi ích ngay trong đời này. Sách quả thật là người ân của kẻ có phước, ai tin nhận và thực hành theo nhất định sẽ được cứu thoát.
Sách này đem lại lợi ích chẳng những trong giới Phật giáo mà còn cho tất cả tôn giáo hay nhân sĩ, công nông thương, kỹ nghệ gia… khác, nếu họ biết áp dụng tu tập. Trong thời gian ngắn, tất cả sẽ được bốn đức “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”, là hạnh phúc chân thật ai nấy đều mong mỏi.
Vì sách mới ra đời chưa lâu, còn rất mới mẻ, người viết xin thành thật đón nhận tất cả ý kiến đóng góp, xây dựng, phê phán, bàn bạc… của quý vị để có thể đạt kết quả sáng tỏ hơn.
Chúng tôi hết sức hoan nghênh việc dịch ra tiếng nước khác để truyền bá rộng rãi, khỏi cần xin ý kiến tác giả. Chỉ mong một điều là, nếu có thể được, xin in kèm nguyên tác Hoa văn để mọi người dễ đối chiếu, khỏi lệch chân ý người viết, tránh được nạn người học bị rơi vào “ao nước chết”.
Sách này hướng dẫn đủ để dụng công, khỏi cần người chỉ bảo. Nhưng phải thực hành một cách trung thực đầy đủ, đừng tự ý thêm bớt (có nghi, nên hỏi chính tác giả). Việc này tránh đi tại họa tắc nghẽn đường lành, không phát ra kết quả nóng sáng của sách.
Dù bạn ở thành thị hay đồng ruộng, núi rừng; dù là tại gia hay xuất gia, đã có sách này, y theo dụng công, lợi ích thiết thực đem lại người ngoài không thể biết được. Sách này nếu được các trường học Phật giáo mang dùng làm sách giáo khoa sẽ mang lại lợi ích thực tiễn cho thân tâm học viên rất nhiều.
Chúng tôi cũng đã chỉ rõ ra ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ; đồng thời hướng dẫn phương pháp rõ ràng để giải quyết nhanh chóng những thứ đó, tợ dao bén phát sạch cỏ hoang, dọn dẹp sạch sẻ chúng dễ dàng, các sách Phật trước nay chưa nói đến.
Sách cũng đã gan dạ nêu lên những sai lầm và rơi vào không của những phương pháp tu Phật trước nay, để giúp người tu biết được mà sửa đổi. Việc làm này tất nhiên sẽ phát sinh một số va chạm với các pháp tu truyền thống. Nhưng người viết hoàn tòan do thiện ý phê bình pháp chứ không phê bình cá nhân ai. Do đó, xin hoan hỷ đón nhận tất cả những ý kiến chất vấn hoặc phản đối của quý vị một cách chân thành và giải thích đầy đủ.
Sau khi sách này phát hành, chắc chắn sẽ tạo ra hai nguồn kết quả trái nghịch: một số người sẽ hết sức mừng rỡ, xem đây là vật quý hiếm có; số khác thì không mấy hài lòng, cho là chúng tôi thổi lông tìm vết, hạ thấp người khác xuống để tự đề cao mình… Nhưng hy vọng đây chỉ là thiểu số đặc biệt cực đoan mà thôi.
Việc cải chính một số pháp tu và lý luận của các tông phái Phật giáo hiện nay, chúng tôi không nhằm gây ân oán với ai, mà chỉ mong mỏi sao cho Phật giáo ngày càng rực rỡ hơn trong thời đại khoa học mũi nhọn này. Thêm nữa, đoàn thể nhân sự Phật giáo cũng sẽ phát triển, giống như lăn trái cầu tuyết, càng lăn càng lớn dần cho đến lớn vô hạn.
                                     Sydney, ngày 01 tháng 03 năm 1986
                             THÍCH QUANG TÔNG
(còn  tiếp)
CHÁNH NGUYÊN



































Trang: 1 ... 359 360 [361]
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 1.022 seconds với 20 câu truy vấn.