Tháng Mười Một 21, 2017, 11:59:46 am -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 361
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / MẬT TÔNG / Nhị thập ngũ (25) bộ chú vào lúc: Tháng Mười Hai 10, 2014, 12:54:31 am

NHỊ THẬP NGŨ   BỘ  CHÚ

二十伍部  咒
*****

1/ NHƯ Ý   BẢO  LUÂN  VƯƠNG  ĐÀ LA NI :


Nam mô Phật đà da--Nam mô Đạt mạ da--Nam mô Tăng già da
Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát ,cụ đại bi tâm giả .Đát điệt tha
Án chước yết ra phạt để ,chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế,rô rô rô rô ,để sắc tra ,thước ra a yết rị ,sa dạ hồng phấn ta ha .Án,bát đạp ma chấn đa mạc ni ,thước ra hồng. Án ,bát lặc ;đà bát đẳng mế hồng .

2/ TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ :

Nẳng mồ tam mãn đa ,mẫu đà nẫm A bát ra để ,hạ đa xá ta nẳng nẫm .Đát điệt tha ,Án khê khê ,khê hế, khê hế ,hồng hồng ,nhập phạ ra ,nhập phạ ra ,bát ra nhập phạ ra ,bát ra nhập phạ ra ,để sắc sá ,để sắc sá ,sắc trí rị ,sắc trí rị ,ta phấn tra ,ta phấn tra ,phiến để ca,thất rị duệ ,ta phạ ha .

3/ CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ :

Nam mô Phật đà da--Nam mô Đạt ma da--Nam mô Tăng dà da
Án ,Tất đế hộ rô rô,tất đô rô,chỉ rị ba ,kiết rị bà ,tất đạt rị ,bố rô rị ,ta phạ ha .

4/ PHẪT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ :


Khế thủ quy y tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất cu chi .
Ngã kim xưng tán đại Chuẩn Đề ,duy nguyện từ bi thùy gia hộ .
Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề ,cu chi nẫm ,đát điệt tha .
Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ,ta bà ha .

5/ THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ  QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI :


Án, nại ma ba cát ngoả đế ,a ba ra mật đạp ,a ưu rị a nạp ,tô tất nể ,thiệt chất đạp ,điệp tả ra tể dã,đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế tam dược tam bất đạt dã đát nể dã tháp .
Án, tát rị ba ,tang tư cát bị,bót rị thuật đạp ,đạt ra mã đế ,cả cả nại tang mã ngột cả đế ,ta ba ngoã ,tỷ thuật đế ,mã hắt nại dã ,bát rị ngoã rị tá hắt .

6/ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN :

Nam mô bạt dà phạt đế,bệ sát xả, lư rô thích lưu ly,bát lặc bà,hắc ra xà dã ,đát tha yết đa da, a ra hắc đế ,tam miệu tam bột đà da .Đát điệt tha . Án ,bệ sát thệ ,bệ sát thệ ,bệ sát xả ,tam một yết đế tá ha .

7/ QUÁN ÂM  LINH  CẢM  CHƠN NGÔN :

Án, ma ni bát di hồng ,ma hắc nghê nha nạp ,tích đô đặc ba đạt ,tích đặc ta nạp ,vi đạt rị cát ,tát nhi tán nhi tháp ,bốc rị tất tháp cát nạp ,bổ ra nạp ,nạp bốc rị, thưu thất ban nạp,nại  ma lô kiết ,thuyết ra da ,tá ha .

8/ THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN :

Ly bà ly bà đế,cầu ha cầu ha đế,đà ra ni đế ,ni ha ra đế,tỳ lê nể đế ,ma ha dà đế,chơn lăng càn đế, ta bà ha .

9/ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ :


Nam mô a di đà bà dạ ,đa tha dà đa dạ,đa điệt dạ tha.A di rị đô bà tỳ ,A di rị đa tất đam bà tỳ,A di rị đa tỳ ca lan đế,A di rị đa tỳ ca lan đa.Dà di nị dà dà na.Chỉ đa ca lệ ta bà ha .

10/ THIỆN THIÊN NỮ CHÚ :

Nam mô Phật đà, nam mô Đạt mạ, nam mô Tăng dà. Nam mô thất rị, ma ha đề tỷ dã, đát nễ dã tha, ba rị phú lâu na, giá rị tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, sa ma ha ca rị dã, ba nễ, ba ra, ba nễ, tát rị phạ lặc tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na  đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà a tha a nậu, đà la ni.

11.- ĐẠI BẢO QUẢNG BÁC LÂU CÁC THIỆN TRỤ BÍ MẬT ĐÀ LA NI


Nam mô tát phạ đát tha nghiệt đà nẫm, ngàn nĩ bổ lã nghiệt bệ, mô nĩ bó lai bệ, đa tha đa nễ, nại sá nẫm, mo nĩ mo nĩ, tô bô lai bệ nĩ mo lê, bà nghiệp lai nghiêm tỉ lệ. Hồng hồng nhập phạ lã, nhập phạ lã, mẫu đà nỉ lồ chỉ đế. Húng hê dạ, điệp sát sỉ đa nghiệt bệ ta bà ha.

12.- CHÚ NO CƠM ẤM ÁO

ÚM A  VỊ  RA  HÙM, KHƯ TÁ  RA  (3 lần)

13.-  KIM CANG TÂM CHƠN NGÔN
(Hàng phục ma chướng)

ÁN, Ô  LUÂN  NI,  TA  BÀ  HA   (3 lần)

14.- BÁT  NHÃ VÔ TẬN CHƠN NGÔN (Sanh trí tuệ)

Nam mô bạt già phạt đế, bát rị nhã, ba la mật đa duệ, đát  điệt tha. Án,  hột rị địa rị, thất rị, thú rô tri, tam mật lật tri, phạt  xả duệ  tá ha.

15.- TRỪ ĐỊNH NGHIỆP CHÚ
 
Án, bát ra mạt lân đà nãnh, ta bà ha  (3 lần)

16.- DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG  CHÚ

Án, a  lỗ  lặc kế, ta bà ha (3 lần)
 
17.- ĐẠI QUÁN ĐẢNH QUANG  ĐÀ  RA NI

Án,  a  , mô già vĩ, lô ta nẵng, ma hạ mẫu nại  ra, ma nĩ bát nạp ma, nhập phạ lã bát ra, mạt đa dã hồng.

18.- GIẢI OAN NGHIỆP CHÚ

Án, tam đà ra, dà  dà, ta bà ha   (3 lần)

19.- A-DI-ĐÀ  TÂM  CHÚ
  (Cầu về Tây phương)

Án, a  mật lật, đát  đỉnh  tĩnh, hắc ra, hồng hộc rị . (càng nhiều càng tốt)

20.- NGŨ  BỘ  CHÚ     (Trừ  tà  ma)

*Phật bộ:- Án xỉ lâm, án bộ lâm, án phổ hùng, án giang, án  a .
*Bồ Tát bộ:- Án  lãm, án già hồng hộc rị.
-Án xỉ lâm,  bộ lâm, hồng phấn tra.
-Án ma ha tát đát tha, bác đát ra.
-Án ma ni  bát  di hồng.
-Án, chiếc lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề  ta bà ha.


21.- BẠCH Y THẦN CHÚ


a/-Tịnh Thân Nghiệp Chân Ngôn :- Tu rị  tu rị  ,ma ha tu rị ,tu tu rị  ,ta bà ha (3 lần )
b/-Tịnh Khẩu  Nghiệp Chân Ngôn :-Tu đa rị  ,tu đa rị  ,tu ma rị  ,tu ma rị  ,ta bà ha (3 lần )
c/-An Thổ Địa Chân Ngôn :-Nam mô tam mãn đà ,một đà nẫm ,án, tô rô tô rô,địa vĩ ,ta bà ha (3 lần )
d/- Bạch y Quán Thế Âm Đại Sĩ Linh Cảm Thần Chú :

Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn ,quảng đại linh cảm bạch y Quán Thế Âm Bồ Tát . (3 lần )
Nam mô Phật ,nam mô Pháp ,nam mô Tăng ,nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát .
Đát chỉ đá,án dà la phạt đá ,dà la phạt đá ,dà ha phạt đá ,la dà phạt đá ,la dà phạt đá ,sa ha. Thiên la thần ,địa la thần ,nhân ly nạn ,nạn ly thân , nhất thiết tai ương hóa vi trần .  ( 3 lần )

22.- CẦU PHẬT TIẾP DẪN

Nam mô ra đát nẵng, đát ra đa dã. Án na ma bà đế, dĩ nhã duệ tất địa tất dà lật đế, ta bà ha.

23.- CẦU  BIỆN  TÀI


Án, phạ nhựt ra mãnh, đảm phá duệ, ta bà ha.

24.- PHÁT BỒ ĐỀ TÂM  ĐẠI ĐÀ-RA-NI   (Chuyển đủ oai đức, khiến tu hành bất thối chuyển)

Án, bồ địa, thất đa mưu chế, bà đa già nhi.

25.- HOA  NGHIÊM CHÚ  (Bồi bổ trí tuệ)

A dà ba, ta na la. Đà bà trà, sa ba đa. Da sắc tra  ca, ta ma cà. Tha  thả ta,  dà sa khư. Xoa ta đa như, hạt la đa bà xa.
Ta ma ha bà ta, cát ra noa. Ta pha ta ca dã ta, thất ta sa đà.


*HT Thiền sư Thích Từ Quang (Chơn Đức Thiền Viện)
Khẩu truyền ngày Phật Đản 2528 (1984)



2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 09:57:45 am


DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT

(xin học thuộc lòng)

Diệu Pháp Giải Thoát gồm có hai bước khắng khít : bước một là pháp nhiếp niệm, bước hai là pháp hóa niệm.


Thực hành bước một khoảng ba tháng, cảm thấy trong tâm không muốn mặc niệm danh hiệu Phật nữa, chuyển sang bước hai.Qui vị mới bắt đầu xin nhớ thật kỹ, không thể cùng lúc dùng hai thứ đâm ra rối loạn, chẳng được kết quả gì.


1.   Pháp nhiếp niệm (pháp tiêu nghiệp)

Tức nhiếp muôn niệm thành một niệm. Cũng là thu hút, thống nhất, chiếm lĩnh, cải tạo, tẩy rửa, trị liệu, tịnh hóa những tạp niệm trong tâm linh.

Phương pháp như sau:Nhắm hai mắt vừa khít, mặc niệm trong tâm bốn chữ “Quan Âm Bồ Tát” (hoặc thánh hiệu khác), mỗi chữ một giây đồng hồ. Không động môi, không quán tưởng, không nhớ Phật, không lần chuỗi, không gián đoạn, thu hút và tẩy rửa những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ không tiếng không hơi trong tâm linh.

Vừa mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, vừa chú ý tìm xem “điểm niệm Phật” ở chỗ nào ? Lúc đầu khó nhận ra, sau nước tâm hơi lóng trong sẽ thấy rõ điểm niệm Phật này trong thân một cách chắc chắn. Dù không nghe tiếng, chẳng thấy hình nó nhưng không thể nào phủ nhận cái điểm niệm Phật trong thân này được.

Lại tiếp tục mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, lại vừa chú ý vào điểm niệm Phật này, chăm chăm như mèo rình chuột vậy. Nếu thấy điểm này di động đến đâu, sức chú ý cũng chuyển sát theo đến đó. Như vậy, kiến phần (sức chú ý) và tướng phần (điểm niệm Phật) sẽ cân đối tác dụng với nhau, chẳng bao lâu liền được tâm mở ra ý cởi trói (ý giải tâm khai).

Cũng có trường hợp người dụng công trước sau vẫn không tìm thấy điểm niệm Phật một cách rõ ràng, cũng chẳng hề gì. Cứ không ngừng mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, tẩy rửa tâm linh, trong ba tháng nhất định được an lạc.

Nếu không nhắm hai mắt hoặc dùng miệng niệm Phật, thánh hiệu sẽ không đi sâu vào trong tâm. Còn nếu ngừng mặc niệm thì thánh hiệu trong tâm mất đi. Cả hai đều không đem lại kết quả.

Người mới bắt đầu, mỗi lần dụng công không nên lâu quá nửa giờ, mỗi ngày tổng cộng thời gian công phu không ít hơn hai giờ nhưng không được quá ba giờ. Giờ nào ngồi cũng được, không kể Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu gì cả. Tư thế ngồi nào cũng được miễn đạt yêu cầu thoải mái và ngồi được lâu là tốt.

Không được cong lưỡi để lên nóc giọng, không bắt ấn hoặc để tay trên đầu gối. Những thứ phụ tùng như mắt kính, đồng hồ đeo tay, dây chuyền, đồ trang sức… nếu cảm thấy trở ngại cho việc dụng công, thì nên tháo cất hết. Mục đích tránh đi những dính mắc, quấy nhiễu của thân để tâm hoàn tòan an ổn trong khi công phu.



2.   Pháp hóa niệm (pháp chứng vô sanh)


Sau khi qua bước một, nhiếp muôn niệm về một niệm, tức là đã vào được cảnh giới nhất tâm bất loạn.

Nhưng tâm linh cũng giống như tròng mắt, dù lọt cát vàng bụi ngọc trong đó, cũng phải loại bỏ mới thật an ổn. Do đó, phải tiến thêm một bước thứ hai, dùng pháp hóa niệm để chuyển hóa nhất tâm bất loạn thành vô niệm, tức nhập vô sanh nhẫn.

Kinh nghiệm lúc dụng công cho thấy, khi trong tâm còn mặc niệm thánh hiệu, gom muôn niệm thành một niệm được rồi, nhưng khi dừng mặc niệm, bỏ rơi chỗ níu giữ, muôn niệm lại tiếp tục nổi lên. Do đó, tâm linh rơi vào trạng thái giữa muôn niệm và một niệm, giao xen lẫn nhau, khó tiến sang trạng thái vô niệm. Vì thế, phải dùng pháp hóa niệm mới có thể khiến tâm linh trở lại chính thường, vào diệu cảnh vắng lặng tròn đầy.


Phương pháp như sau:

+   Mọi người đều biết, thân thể chúng ta là vật chất vì nó làm thành do máu thịt. Đã là vật chất thì nó phải tuyệt đối im lặng, tuyệt đối không thể biết niệm thánh hiệu. Nhận thức rõ ràng chắc chắn như vậy rồi, khi nhắm mắt mặc niệm Quan Âm Bồ Tát, phát hiện trong thân có điểm niệm Phật, liền cảm thấy lạ lùng. Tại sao trong thân đáng lẽ không có cái đó mà nay thực tế lại có, thật chẳng thể nghĩ bàn. Đang lúc cảm thấy kỳ lạ như vậy, ngưng mặc niệm, tạp niệm không thể nổi lên nữa, vì bấy giờ tâm linh đã bị những cảm giác thú vị chiếm lĩnh nên không tái phát tự ngôn tự ngữ được.

+   Hoặc chúng ta không mặc niệm thánh hiệu, chỉ nhắm mắt chú ý trong thân, thật lạ lùng, trong thân thể máu thịt thuần vật chất này phải tuyệt đối im lặng, thế mà rõ ràng hiện nay trong đó có những thứ tự ngôn tự ngữ, trùng điệp không ngớt, quả thật thú vị vô cùng. Đang lúc ta cảm thấy thú vị này, trong tâm linh liền “sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền” rồi.


Trường hợp nếu bạn không thể phát hiện được trong thân thể có những thứ tự ngôn tự ngữ, hoặc do “nước tâm” chưa trong, hoặc vì “con mắt tâm” (tâm nhãn) chưa sáng. Cách giải quyết là phải kiên trì ngồi tiếp, dùng thời gian đổi lấy sự xuất hiện của nó.

+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân thể những thứ tự ngôn tự ngữ không hơi không tiếng, nó đang nói gì thì nhại theo nó để nói. Thí dụ nó đang chữi người, ta theo nói chữi người; nó đang ca hát, ta theo nói ca hát. Chỉ cần nói theo nó một vài câu, nó liền không tái phát nổi cuồng nữa. Trong tâm linh hoàn tòan vắng lặng, bạn thấy được Chân Như rồi.

+   Hoặc chúng ta chú ý trong thân máu thịt đang tán hươu tán vượn gì đó. Những điều nó nói đó, nhiều cái ta đâu muốn nói, thậm chí không cho phép nó nói, thế mà nó cứ nói ngay trong thân thể này, chẳng phải là kỳ lạ lắm sao? Đang lúc chúng ta cảm thấy kỳ lạ, nó liền không thể tiếp tục nói, tâm linh lại được an tịnh, bạn đã ngộ được thanh tịnh pháp thân.

+   Hoặc đang lúc nhớ lại thân thể vật chất phải tuyệt đối im lặng, lại nhắm mắt chú ý nhìn vào trong thân, phát hiện ra những bóng dáng lăng xăng, liền cảm thấy khó hiểu; nếu có nói thêm những thứ tự ngôn tự ngữ thì càng khó hiểu thêm vì nó xảy ra ngoài ý muốn. Trong thân thể đâu có chứa những thứ này, vậy nó ở đâu hiện ra đây? Thật quái gở quá! Ngay lúc bạn thấy quái gở, tạp niệm liền bị tiêu diệt, bạn vào được thành Niết Bàn rồi.

Nếu bạn phát hiện trong thân có những thứ tự ngôn tự ngữ mà không cảm thấy thú vị, là vì hoặc hiểu biết về thân xác chưa thật đủ mạnh, hoặc thuộc loại tê mất cảm giác. Phải cố gắng duyệt lại từ đầu, dùng thời gian kiên trì thu đổi kết quả.

+   Nếu tạp niệm trong tâm linh chỉ còn như sương mỏng khói nhẹ, lảng vảng không tan, sửa lại dùng pháp nhiếp niệm, niệm ít câu thánh hiệu, thu hút và tẩy rửa cho hết những tạp niệm tàn dư đó. Kế dừng mặc niệm, tâm linh lại rỗng rang không một vật, thấy được Bản Lai Diện Mục.

+   Nếu biết tâm linh đã vô niệm, phải ngưng sử dụng bất cứ phương pháp nào để tâm linh nghĩ ngơi thoải mái, đừng khởi mong cầu được vô niệm lâu dài. Chắc chắn nó sẽ tái khởi niệm, có hy vọng cũng bằng thừa. Tốt nhất là dụng công thêm nhiều nữa.
Pháp hóa niệm giúp bạn đạt được vô niệm từng lúc trong tâm. Chúng ta phải nỗ lực thêm để giúp tăng gia khuếch đại số lần vô niệm, nối các điểm vô niệm thành đường vô niệm, thành mặt phẳng vô niệm và thành khối thể vô niệm. Lúc ấy bạn đã là Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn đủ cả mười danh hiệu rồi.

Những điều cần chú ý

Mục đích tối thượng duy nhất của chúng ta là được tâm linh vô niệm, tức là tiêu diệt sạch sẻ những tâm ngữ ồn ào mất trật tự nằm sâu trong tâm chúng ta. Ngoài mục tiêu đó, những thứ khác không quan hệ gì đến tâm linh vô niệm thì không đáng giá một xu. Do đó, nếu có bất cứ huyễn giác hay thác giác nào, cũng đều không thèm lưu ý đến nó.

Huyễn giác, như thấy Tiên thấy Phật giáng lâm, nghe nhạc trời nổi dậy, thấy khắp thân tỏa hào quang, thân có mùi hương hoặc hương thơm tứ phía; hoặc nghe tiếng khóc, ma quỷ rên rỉ, hoặc nằm mơ thấy lành, dữ… Nói chung là tất cả cảnh vật vui buồn mà không có vật thực, nguyên nhân thực tạo ra, dù hiện ra lúc nào, ở đâu đều chẳng thèm để ý gì cả.

Thác giác là nhìn lầm vật thực, như thấy gốc cây cho là người, là ma quỷ; thấy sợi dây tưởng là con rắn; thấy khối đá cho là cọp; tiếng gõ cửa cho là tiếng chuông; tiếng gió hú cho là thần kêu quỷ hú… Tất cả cũng đừng thèm lưu ý đến.

Đồng thời, phải ghi nhớ dụng công không gấp không hưỡn, có làm có nghĩ, lưu ý đến những phản ứng của thân tâm, công phu thường xuyên không gián đoạn hoặc bỏ dở, ngay đời này thành Phật làm Tổ, không phải là chuyện khó nữa.


BIỂU GHI TIẾN ĐỘ LỢI ÍCH TRONG KHI TU DIỆU PHÁP GIẢI THOÁT

+   Tháng thứ nhất: được khinh an (yên ổn nhẹ nhàng)

Mỗi ngày dụng công không trên hai giờ và không quá ba giờ (cộng 60 – 80 giờ/tháng), mỗi lần khoảng 20 -30 phút. Phải làm thường xuyên không gián đoạn.

+   Tháng thứ hai trở đi: thấy được điểm niệm Phật, giảm bớt tạp niệm, tăng gia an lạc.

Mỗi ngày dụng công ba giờ, chia nhiều lần, mỗi lần 30 phút.

+   Sau năm tháng: được tâm mở ra, ý được cởi trói (ý giải tâm khai), được vô niệm từng lúc (gọi là ngộ pháp vô sanh).

+   Sau sáu tháng: vào đất thanh lương, thường sanh hỷ lạc.
Mỗi ngày cũng dụng công ba giờ, mỗi lần 45 phút.

+   Năm năm đến bảy năm: vô niệm vĩnh viễn tức tâm linh chính thường, được giải thoát lớn.
Nên từ bỏ muôn duyên đời, chọn chỗ yên tĩnh tu hành.

Mỗi ngày từ 6 - 8 giờ dụng công, mỗi lần tùy chọn.


Phụ ghi:


Qua kết quả thực nghiệm nhiều năm cho thấy, tùy căn cơ mỗi người có nhanh có chậm (lợi độn), nhưng trước sau vẫn đạt kết quả.

Tỷ lệ bình quân : lợi  1/ độn 3 thời gian.

Pháp môn Nhiếp hoá được lợi ích nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng mọi người. Nếu chưa tin, bạn hãy tu thử để rút kinh nghiệm.
Pháp môn này nếu được phổ biến rộng rãi, lớn nhỏ đều được lợi lạc. Hẹp thì bản thân an vui, gia đình hoà thuận, trật tự xã hội tốt đẹp; rộng thì khiến cả thế giới hoà bình, cõi Ta Bà này trở thành Cực Lạc.

CHÁNH NGUYÊN

3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 09:49:16 am
(tt)

  B.-THẾ NÀO LÀ “KHU XÁC QUAN NIỆM”? (軀殻觀念)


         (QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC)

*****

   Tâm con người cũng giống như tròng con mắt, không thể chấp nhận bất cứ một vật gì trong đó dù quý giá như mạt vàng, bụi ngọc, cũng phải loại bỏ sạch mới yên ổn.

   -Khi câu niệm Phật đã đạt MỘT NIỆM (=Nhất Tâm Bất Loạn), dù là rất quý, nhưng vẫn còn mắc kẹt ở chỗ :

         “Một đoá mây trắng che ngang miệng hang
         Bao nhiêu chim bay mờ mịt tổ”


      (Nhứt đóa bạch vân hoành cốc khẩu, kỷ đa phi điểu tận mê sào)

   - Do đó, phải tiến lên bước nữa, bỏ cái MỘT NIỆM kia đi để vào cảnh giới chân thường, tức là tiến vào Tổng Cơ Quan Ao Bí Của Vũ Trụ vạn vật.

   -Việc biến đổi trạng thái, từ chỗ tạp niệm lăng xăng lộn xộn trở thành ra Vô Niệm, là một ải quan cực kỳ quan trọng và rất khó khăn. Từ xưa cho đến nay, trong và ngoài nước, muôn muôn ngàn ngàn người thực sự muốn tu hành, đều bị “hao binh tổn tướng” nơi cửa ải nầy. Biết bao người đã hao phí rất nhiều tâm lực, mà vẫn không vượt qua được, nghĩa là không sao dừng bặt được tâm cuồng (tâm vọng tưởng). Thế rồi, có người thất vọng, xoay về tu theo TỊNH ĐỘ để vớt vát, tay lần chuỗi, miệng niệm Phật, cầu Đức PHẬT DI ĐÀ thương xót, giúp đỡ, để đến lúc trút hơi thở cuối cùng, được Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Và cũng có lắm kẻ bỏ PHẬT luôn!

   -Từ Vũ Trụ Tương Đối (vũ trụ cảm giác) muốn tiến vào Vũ Trụ Tuyệt Đối (Vũ trụ Tri Giác) nếu như không có được Pháp tu đúng và tốt, thì hẳn là một tấc không đi, một li không nhóm bước. Nghĩa là, những vọng tưởng tạp niệm liên tục hiện ra trong tâm linh, tất cả đều là bóng dáng của 6 trần : Sắc, Thanh, Hương, Vị, xúc và pháp. Nào núi sông, đất lớn, trời, trăng, sao, mây, nước… nối nhau hiện ra. Đúng là những thứ quái ác đáng ghét, những vị khách không mời mà đến, kết tụ đan xen thành mảng lưới vô hình to lớn, trói buộc ta vào biển khổ Luân hồi. Chẳng lẽ nào chúng ta đành bó tay cam chịu thua nó hay sao ?

   Muốn phá toang mảng lưới lục trần trên bề mặt tâm linh nầy, ta phải biết khéo léo vận dụng một công cụ rất đổi thường tình, nhưng vô cùng hiệu quả là tấm thân bảy thước nầy.

   Quí Vị ngạc nhiên ư ? Bao người từng than thở rằng, muốn trị được bất kỳ bộ phận nào của thân thể, hiện nay và tương lai sắp tới, đã có đủ các phương tiện, dụng cụ y khoa để xử lý điều trị nhanh chóng, hiệu quả; còn muốn trị được bệnh của tâm linh, thì hiện nay tìm đỏ mắt, cũng chưa ra thứ nào công hiệu thật sự !

Đâu đã đến nông nổi thế! Nếu như Quí Vị bình tâm lại, bớt nóng vội đã, liền thấy ngay món công cụ trị liệu miễn phí mà cha mẹ đã cho không quí vị, ta sẽ mượn giả để tu chơn. Quả thật, nếu chúng ta muốn thực tâm cầu dạo Giải Thoát, không thể thiếu công cụ trị liệu nầy được.

Tôi xin nói ngay để quí vị đở sốt ruột, công cụ ấy là “KHU XÁC QUAN NIỆM”(=Quan Niệm về thân xác), một thứ thường thức, chẳng những bình thường mà lại hết sức tầm thường; nhưng dùng đúng lúc, đúng chỗ, lại trở thành vô cùng phi thường, có thể xé toang mảng lưới LỤC TRẦN nói trên.

-Có rất nhiều ngưòi viết thư hỏi về cứu cánh của cái gọi là QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC đó, vì thuật ngữ nầy rất xa lạ, chưa từng thấy xuất hiện trong Phật Học ?   

Khu xác quan niệm là một vỏ từ mang những thuộc tính nội hàm như sau :

1.- Trong thân máu thịt không thể Niệm Phật.
2.- Trong thân máu thịt không thể có Tự ngôn Tự Ngữ (=vọng tương tạp niệm)
3.- Trong đó phải tuyệt đối tỉnh chỉ (=im lặng), vì nó thuần là vật chất, tương tự như gỗ đá mà thôi.


Chúng ta lợi dụng Quan Niệm Về Thân Xác nầy, để dẫn phát ra KỲ TÌNH, là thứ thuốc đặc hiệu, một Phật-dược chuyên trị tâm bệnh (Tạp niệm). Bất kể chúng là “Vô Minh sinh cùng lúc với thân”, hoặc đáng sợ hơn, gọi là “áo đẫm mồ hôi dính sát mình”(triêm thể hãn sam) v.v… gì gì đi nữa, khi đụng vào Quan Niệm Về Thân Xác nầy, đều lập tức như nước sôi tan đá tuyết, đèn pha quét sạch bóng tôí. Dù Vô Minh thô lớn, hay vi tế như sương mỏng khói nhạt, chắc chắn đều biến mất tất cả.

Khi tâm Linh quí vị, thoát khỏi được sự khống chế những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (vọng tưởng tạp niệm), liền được trở lại trạng thái chính thường. Lúc ấy, quí vị đã NGỘ ĐẠO và sau đó sẽ tiếp tục CHỨNG ĐẠO.
                        
NGỘ ĐẠO, Thiền Tông đã dùng một thuật ngữ khác là KHAI NGỘ. Thuật ngữ nầy phát sinh có lẽ do vì quan niệm truyền thống đối với ĐẠO quá phức tạp, cầu ky, khó hiểu; rất khó cho việc nhận định chính xác về NGỘ ĐẠO.


Ngộ Đạo chân chính phải là :TÂM ĐIÊN CUỒNG DỪNG BẶT TỨC KHẮC.


Từ vô thủy đến nay, tâm linh chúng ta lăng xăng lộn xộn, chưa từng được nghỉ ngơi thực sự bao giờ. Khi nào trải qua thời gian công phu tốt, đúng cách, tâm linh hoàn toàn dừng bặt những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm) không hơi không tiếng kia, dứt hẳn “ồn ào náo nhiệt một cách âm thầm” trong Tâm Linh, từ 5 phút đến khoảng một tiếng đồng hồ thì mới thực sự được gọi là NGỘ ĐẠO .(nhưng phải nhắm mắt nhìn thật kỹ vào trong tâm để kiểm tra thành thật). Lúc đó, ta sẽ không còn thấy hình bóng, câu nói nào (của muôn vật) lăng xăng, lộn xộn trong Tâm Linh, biết rõ chính đây là nguồn gốc chung của muôn vật (tổng căn nguyên vạn vật).
Nếu quí vị được trạng thái như thế rồi, quí vị đã vào được lĩnh vực BIẾN CẢI MUÔN VẬT và chắc chắn sẽ SÁNG TẠO ĐƯỢC MUÔN VẬT.



HẾT

4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 09:43:52 am
(tt)

4.- DIỆU  PHÁP GIẢI THOÁT CỦA QUAN ÂM THIỀN TỰ
(Úc Châu)


Những pháp tu nói trên, về mặt lý thuyết rất hay, lý luận không có gì sai, nhưng về mặt thực hành thì chắc « khó đạt kết quả thực sự ». Vì sao ?

Vì tất cả chỉ là những “lời lẽ suông”, ai muốn hiểu sao thì hiểu, tự nghĩ ra cách thức dụng công rồi kết quả thế nào thì mặc tình “trăm hoa đua nở”.


Đây là căn bệnh chung của kinh sách xưa nay, không có sự trình bày “kỹ thuật cụ thể” nên dẫn tới “những hậu quả không lường”.
Nay, Quan Âm Thiền Tự chúng tôi hướng dẫn huynh đệ thực hành một cách cụ thể, chắc chắn “Diệu pháp giải thoát” như dưới đây:-

A.- Thực hành diệu pháp:-

Làm thế nào để Tâm Linh chúng ta có thể sản sinh ra thứ năng lực trí tuệ to lớn để tạo phúc lợi cho chúng sinh ?
Trong Kinh PHÁP BẢO ĐÀN, Đức LỤC TỔ đã có lời khai thị rất rõ ràng chính xác rồi. Muốn được trí năng đó, chẳng cần phải lễ lạy cầu nguyện, luyện tinh, khí, thần hay uống linh đơn …gì gì cả, mà chỉ cần :

      “Tà chánh tận đả khước,
      Bồ Đề tính uyển nhiên”


(Niệm tà niệm chánh đều bỏ dứt, tính Bồ Đề sáng tỏ)


  Như thế, muốn ngộ Đạo phải làm công phu ngay ở nơi Tâm, trừ bỏ toàn bộ niệm tà hay niệm chánh, khiến cho tâm linh sáng rỡ như gương, như trời quang mây tạnh. Ngay lúc đó, vật báu vô giá trong vũ trụ nầy, đã thuộc về quí vị rồi !

   Có người hiểu méo mó hai chữ “đả khước”(dẹp bỏ dứt) là “đả tảo” (quét dọn), cho nên chủ trương : “Phật đến thì quét Phật, Ma đến thì quét ma” bận bịu trong chỗ RƠI VÀO KHÔNG suốt cả mấy mươi năm trời, chưa tùng thấy được tính Bồ Đề, mà đã chui thân vào mồ lạnh !.

   Cái sai lầm nghiêm trọng bậc nhất ở chỗ, tạp niệm (=vọng tưởng) trong Tâm Linh KHÔNG HỀ Sợ quét dọn, mà chỉ Sợ SỰ HẤP THU (thu hút). Do đó, nếu quí vị nhắm hai mắt lại, mặc niệm 4 chữ : A DI ĐÀ PHẬT ở trong tâm, mỗi tiếng khoảng một giây, liên tục không gián đọan, lại chú ý nhìn chăm chăm vào ĐIỂM NIỆM PHẬT ở trong Thân (ngực bên trái), tất cả những Tâm Ngữ  khó khống chế kia liền bị thu hút bởi câu mặc niệm trên, không còn bỏ sót chút tạp niệm nào !

   Tác dụng của mặc niệm không gián đoạn, là để hấp thu tẩy rửa, giải độc Vọng-tưởng Tạp-niệm. Dù là người sơ căn sơ cơ, lần thứ nhất áp dụng phương pháp nầy, cũng chỉ cần năm phút dụng công đúng cách, là đạt được Nhứt Tâm Bất Loạn ngay.

   Khi thực hành pháp nầy cần tuyệt đối :

1.-Nhắm hết hai mắt, nếu không, câu mặc niệm không vào được sâu trong tâm
2.-Mặc niệm liên tục, mới gây tác dụng chẳng dứt của câu niệm.
3.-Mặc niệm không nhanh không chậm, mỗi tiếng khoảng một giây. Chậm thì bị Vọng xen, nhanh thì không hấp thu hết Tạp niệm.
4.-Không được lần chuỗi để tránh bị phân tâm, làm sao cho sức tâm chảy đúng vào biển TA BÀ HA.
5.-Dùng tâm nhãn (con mắt tâm) chăm chăm chú ý vào ĐIỂM NIỆM PHẬT, khiến cho Định Huệ cân bằng nhau.

Làm đúng như vậy, nhất định chẳng bao lâu sẽ được Ý GIẢI TÂM KHAI (tâm mở ra ý được cởi trói) một sự an lạc tuông trào không ngớt trong tâm, không cách chi ngăn nó được !



(ct)
5  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 09:40:09 am
(tt)

14.  Sự vô tri của Chơn Tâm


        Chơn tâm và vọng tâm khi đối cảnh làm sao biết chơn vọng? Vọng tâm đối cảnh sanh ra hữu tri (có biết), biết chỗ thuận nghịch của cảnh rồi sanh lòng tham sân si. Như thế, trên cảnh mà khởi tâm độc là vọng tâm. Tổ sư nói: "Nghịch thuận tranh nhau đó là tâm bệnh." Như thế, đối đãi được và không được là vọng tâm. Chơn tâm là vô tri (không biết) mà biết, luôn luôn soi sáng, nên khác với cỏ cây, không sanh thương ghét, nên khác với vọng tâm. Đối với cảnh luôn luôn rỗng sáng, không ghét, không thương, không theo phân biệt, mà lúc nào cũng biết gọi là chơn tâm. Triệu Thiền sư nói: Thánh tâm là triệt để mầu nhiệm, không có tướng mạo, không thể có, lúc ứng dụng di động không thể không, vì không phải có nên biết mà không biết, vì không phải không nên không biết mà biết. Đây là dùng không biết mà biết, nên không thể nói khác với tâm Thánh nhân được. Lại nữa, vọng tâm ở có chấp có, ở không chấp không, thường ở hai bên, không biết trung đạo. Vĩnh Gia tập nói: "Bỏ vọng tâm lấy chơn lý, tâm còn lấy, bỏ thành dối trá, người nay không hiểu dùng tu hành, rõ ràng nhận giặc làm con quý." Chơn tâm ở chỗ có không mà không rơi vào có không, thường ở nơi trung đạo. Tổ sư nói: "Không đuổi hữu duyên, đừng trụ không nhẫn, một hướng bình đẳng, tự nhiên dứt sạch." Triệu Thiền sư nói: "Chỗ của Thánh nhơn ơ, có mà không có, ở chỗ không mà chẳng không, tuy không chấp hữu vô mà không bỏ hữu vô, vì thế hòa ánh sáng vào chốn trần lao, khắp trùm năm nẽo, lặng lẽ mà qua lại tự do, nói không làm mà không có chỗ nào là không làm. Đây chính là Thánh nhân ứng hiện năm đường tiếp dẫn chúng sanh, tuy qua lại mà không có tướng qua lại. Vọng tâm thường nhiễm nên cùng chơn tâm không đồng."

        Chơn tâm là tâm bình thường, vọng tâm là tâm không bình thường. Tất cả mọi người chúng ta đều có tánh linh minh, lặng lẽ như hư không, trùm khắp cả chỗ, đối với tục đế, giả danh là lý tánh, đối với vọng thức, quyền hiệu là chơn tâm, dù ở tục hay chơn mảy may không khác. Chơn tâm gặp duyên không mê muội, không có một niệm lấy bỏ, gặp vật đều yên, không đuổi theo muôn cảnh, dù có ở trần cũng chẳng nhiễm, vẫn lìa đương xứ, vẫn lặng lẽ bình an, muốn tìm nó thì không thể thấy, chỉ khéo nhận ra, đó chính là chơn tâm bình thường.

        Tâm chẳng bình thường vì có thánh phàm, nhiễm tịnh, cảnh có đoạn thường, lý sự, cảnh có sanh diệt, động tịnh, tới lui, cảnh có tốt xấu, thiện ác, nhân quả, luận cho kỷ có ngàn sai muôn khác. Những cảnh kể trên được gọi là cảnh không bình thường. Tâm theo cảnh chẳng bình thường mà sanh, sẽ theo cảnh không bình thường mà diệt, tâm không bình thường này, gọi là vọng tâm. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có nhơn khác, tại sao Phật lại nói nhân quả báo ứng làm gì? Vọng tâm chạy đuổi theo mỗi thứ cảnh giới, không hiểu các cảnh, theo đuổi khởi ra các thứ tâm. Vì chơn tâm không chạy đuổi các thứ cảnh và không khởi các thứ tâm, nên Phật không nói một pháp. Có người hỏi: Chơn tâm bình thường không có sanh khởi sao? Chơn tâm có khi hiện diệu dụng, không phải chạy theo cảnh mà sanh, không mê muội nhơn quả.
 
15.  Chỗ nương gá của chơn tâm


        Người chưa đạt chơn tâm, do tâm mê, nên làm những nhơn thiện ác, do gây nhơn thiện, sanh về cõi thiện, do gây nhơn ác, sanh về cõi ác, theo nghiệp thọ sanh, lý đó không còn gì nghi. Nhưng người đạt chơn tâm, vọng tình đã cạn, khế chứng chơn tâm, không còn nhơn thiện ác, như thế, thần thức sẽ nương gá về chỗ nào? Chúng ta đừng cho rằng, người có chỗ nương gá tốt hơn người không có chỗ nương gá, vì người ta quan niệm rằng: người không có chỗ nương gá, như những chàng lãng tử nổi trôi, như cô hồn không nơi nương tựa, vì vậy nên họ mới hỏi để tìm chỗ nương gá. Thực ra, người đạt tánh không phải thế, vì tất cả chúng sanh mê tánh giác, mê tình ái, nhờ kết nghiệp làm nhơn, sanh vào trong sáu nẻo, chịu quả báo thiện ác. Như gây nhơn thiện, cao nhất chỉ được quả Trời, trừ việc thích nghi với chỗ sanh, ngoài ra không được thọ dụng thêm vật gì! Các nẻo đều như thế vì bị nghiệp lực sai sử trói buộc. Chỗ sanh thích hợp cho là vui, chỗ sanh không thích hợp cho là không vui, nơi sanh hợp với chỗ mình nương gá, nếu có vọng tình thì có vọng nhơn, nếu có vọng nhơn thì có vọng quả, có vọng quả thì phải có chỗ nương gá, có chỗ nương gá thì sanh ra tâm bỉ thử, sanh bỉ thử thì có chỗ được và không được.

Người đạt chơn tâm, khế hợp với giác tánh vô sanh diệt, khởi diệu dụng vô sanh diệt. Từ thể sanh dụng, dụng tức là thể, làm sao có sanh diệt. Người đạt chơn như là chứng chơn thể, thì sanh tử nào có can hệ gì? Như nước lấy tánh ướt làm thể, sóng làm dụng. Tánh ướt vốn không sanh diệt, sóng ở trong tánh ướt, làm sao có sanh diệt. Sóng không thể rời nước mà có, do đó, nguồn gốc của sóng vốn không sanh diệt. Vì thế, Cổ nhơn nói: 'Tất cả người trong đại địa đều là Sa môn đắc đạo, tất cả đại địa đều là già lam, đó chính là chỗ an thân lập mạng của người ngộ đạo".

Người đã đạt chơn tâm, bốn đường sáu nẻo đồng thời tiêu diệt, núi sông đại địa đều thật chơn tâm. Không thể lìa chơn tâm mà có chỗ nương gá được. Nếu không có vọng nhơn tam giới, chắc không có sáu nẻo vọng quả; vọng quả đã không, làm gì có chỗ nương gá, bỉ thử; bỉ thử đã không làm sao có được và không được, lúc ấy mười phương thế giới chỉ có chơn tâm, thọ dụng toàn thân không có chỗ nương gá, trong lúc thị hiện, tùy ý vãng sanh, không chỗ chướng ngại. Nên trong truyền đăng lục, Ôn Tháo hỏi ngài Khuê Phong: Người ngộ chơn tâm, đến khi mạng chung, nương gá vào chỗ nào? Tất cả chúng sanh đều có đủ giác tánh linh minh, cùng Phật không khác, nếu ngộ tánh ấy chính là pháp thân. Pháp thân vốn vô sanh, đâu có chỗ nào để nương gá. Tánh linh minh không tối, thường biết rõ ràng, không từ đâu đến, không đi về đâu, chỉ lấy không tịch làm tự thể. Đừng nhận lầm sắc thân làm linh tri, rồi chạy theo vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi, ta không chạy theo, khi lâm chung, nghiệp không thể trói buộc. Tuy có trung ấm thân mà chỗ muốn đến được tự do, trên trời dưới đất, theo ý mình muốn mà đến. Đó là chơn tâm qua lại tự do, tùy ý nương gá.


(ct)
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 07, 2014, 09:36:09 am
(tt)

12.  Công đức của chơn tâm.


        Hữu tâm tu nhơn, chắc có công đức, vô tâm tu nhơn công đức làm sao có được? Hữu tâm tu nhơn có hữu vi quả, vô tâm tu nhơn hiển lộ tánh công đức. Vì các công đức này xưa nay vẫn đủ, nhưng do vọng tâm che lấp, nên nó không hiển lộ, nay trừ được vọng tâm, công đức sẽ hiện tiền, nên Vĩnh Gia tập nói: "Ba thân bốn trí, thể vẫn đủ, tám giải sáu thông an tâm địa." Đây chính là trong thể chơn như đủ các công đức.

Cổ nhơn cũng tụng: "Nếu người tịnh tọa trong giây lát, hơn tạo bửu tháp số hàng sa, bửu tháp rốt cuộc tan thành bụi, một niệm tịnh tâm chánh giác thành." Nên biết công đức vô tâm lớn vô cùng so với hữu tâm.

Vĩnh Liêu Hòa Thượng tham Mã Tổ: Ý chỉ của Tổ sư từ Ấn Độ sang thế nào? Bị Mã Tổ đạp ngã lăn, bỗng nhiên đại ngộ, đứng dậy múa tay cười lớn nói: "Lạ thay! Lạ thay! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa, chỉ trên đầu sợi lông, liền ngay đó biết được nguồn gốc." Liền làm lễ mà lui. Căn cứ vào sự kiện trên, thì công đức không phải tự ngoài mà vào, vốn nó vẫn có đủ.

Tứ Tổ gọi Lai Dung Thiền sư dạy: " Trăm ngàn pháp môn đều về một tất vuông (tâm), công đức như cát sông Hằng đều ở nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa đều tự mình có đủ, không gì ở ngoài tâm mình."

Căn cứ vào lời Tổ sư, vô tâm công đức rất lớn. Người ham công đức sự tướng, so với công đức vô tâm thực xa một trời một vực.

13.  Làm thế nào biết chơn tâm thành thục vô ngại

        Người học đạo khi được chơn tâm hiện tiền, nghiệm thấy tập khí chưa trừ xong, nếu gặp xúc cảnh, có khi mất chánh niệm, như chăn trâu, tuy trâu đã điều phục, dẫn đâu tùy ý, nhưng chưa dám bỏ dây và roi, phải để tâm coi chừng từng bước, không cho trâu dẫm đạp và ăn lúa mạ người. Đợi khi trâu thuần thục, không còn hại lúa mạ nữa, mới dám lõng tay. Đến địa vị ấy, người chăn trâu không cần roi và dây nữa, vẫn không hại lúa mạ.

Người tu, sau khi được chơn tâm, cần phải dụng công nuôi dưỡng, có lực dụng lớn, mới nên lợi sanh. Nếu muốn thí nghiệm chơn tâm, nên lấy cảnh tham ái sâu đậm trong đời sống, tưởng như nó ở trước mắt, nếu từ đó khởi lòng thương ghét là tâm đạo chưa thuần thục, nếu không sanh lòng thương ghét là tâm đạo đã thuần.

Tuy vậy, việc thuần thục này cũng chưa phải là tự nhiên, không khởi thương ghét, phải nghiệm lại tâm. Nếu khi gặp cảnh thương ghét, đột nhiên khởi lòng thương ghét, nếu nghiệm nhiều lần mà tâm không khởi nữa, là tâm được vô ngại. Như trâu trắng đi đường thẳng, không hại lúa mạ.

Đó là lúc công năng tu hành chơn tâm đã thành tựu.


(ct)
7  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:51:29 am
(tt)


10. Chơn tâm thoát sanh tử


        Thường nghe người thấy tánh là thoát ly sanh tử, nhưng từ xưa, chư Tổ là bậc kiến tánh, đều có sanh tử và người tu thế gian đều có sanh tử, sao lại nói được thoát ly sanh tử? Sanh tử gốc nó vốn không vọng, chấp thành có. Như người đau mắt thấy trong hư không có hoa đốm, nếu người mắt không bệnh nói trong hư không không có hoa đốm, người bệnh không tin. Nếu mắt bệnh hết rồi, hoa đốm tự diệt, mới tin hoa đốm vốn không. Khi hoa chưa diệt, tự thể nó vẫn không, vì người bệnh vọng chấp là hoa, kỳ thực nó không có thực thể. Như người vọng nhận sanh tử là có, người thoát khỏi sanh tử nói sanh tử vốn không, người kia một ngày vọng dứt sanh tử sẽ không còn, nên biết sanh tử từ xưa nay vốn không. Khi sanh tử chưa dứt, cũng không phải thực có, vì vọng nhận sanh tử cho là có.

Kinh nói: "Này thiện nam tử! Tất cả chúng danh từ vô thỉ đến nay có nhiều thứ điên đảo, cũng như người mê chạy ruổi bốn phương, thay đổi không dừng, vọng nhận bốn đại làm tướng của tự thân, bóng duyên của sáu trần làm tướng của tự tâm. Ví như người bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không, cho đến khi hoa đốm diệt trong hư không, cũng không thể nói có chỗ định diệt. Vì sao? Vì nó không có chỗ sanh ra. Tất cả chúng sanh ở chỗ vô sanh, vọng chấp có sanh diệt, nên gọi luân chuyển sanh tử". Căn cứ vào lời kinh trên, nên biết người đạt ngộ chơn tâm vốn không có sanh tử. Thể sanh tử vốn không, mà không thoát được sanh tử, vì công phu chưa đến.

 Nên kinh dạy: Âm Ba Nữ hỏi Ngài Văn Thù: Biết rõ sanh tử là pháp vô sanh, thì làm gì bị sanh tử kéo lôi? Văn Thù đáp: Vì sức chưa thuần. Tân Sơn Chủ hỏi: Biết sanh tử là pháp vô sanh, thì làm sao bị sanh tử trói buộc? Tu Sơn Chủ đáp: Viết xong rồi ném bút đi, còn lấy gì để căn cứ. Biết không sanh tử không bằng thể không sanh tử, thể không sanh tử không bằng khế hợp không sanh tử, khế hợp không sanh tử không bằng dụng không sanh tử. Người nay, thường không biết vô sanh, mong thể vô sanh, khế hợp vô sanh, dụng vô sanh vì nhận sanh tử và không tin pháp vô sanh tử.


 
11. Chánh và trợ của chơn tâm

        Như trên nói dứt hết vọng là chơn tâm hiện tiền, khi vọng chưa dứt, phải dùng công phu vô tâm để dứt, như thế còn pháp gì để đối trị với vọng không? Có chánh và trợ không đồng. Lấy vô tâm dứt vọng làm chánh, lấy chứa nhóm các việc lành làm trợ. Như kiến sáng bị bụi bao phủ, tuy dùng năng lực của bàn tay lau chùi, nhưng cũng cần có thuốc chùi tốt thì ánh sáng mau hiện. Bụi nhơ là phiền não, năng lực của tay là công phu vô tâm, thuốc chùi là các việc lành, kiến hiển lộ ánh sáng là chơn tâm.

Luận Đại Thừa Khởi Tín nói:  "Lại nữa, tín phát tâm thành tựu có ba thứ:

a)Trực tâm là chánh niệm chơn như pháp.
b) Thâm tâm là chứa nhóm tất cả pháp lành.
c) Đại bi tâm là nhổ tất cả khổ não cho chúng sanh."


Có người hỏi: Như trên nói, pháp giới có một tướng, thể của Phật không hai, vì sao không chỉ niệm chơn như, lại muốn việc cầu học các pháp lành? Như châu đại ma ni, thể tánh vốn sáng suốt mà vẫn còn những khoáng chất làm dơ. Người tuy niệm chơn tánh, không dùng các thứ phương tiện mài dũa, trọn không thanh tịnh, vì phiền não vô lượng trùm khắp tất cả pháp; tu tất cả hạnh lành, vì chơn như thể tánh không tịch mà bị vô lượng phiền não nhuộm làm dơ. Người niệm chơn như không dùng phương tiện để huân tập, cũng không được thanh tịnh, vì cấu nhiễm khắp tất cả pháp nên cần dùng thiện hạnh để đối trị. Nếu người tu hành các pháp lành thì tự nhiên trở về chơn như.

Căn cứ vào các lý luận trên, dứt vọng là chánh, tu các pháp lành là trợ. Người tu thiền phải cùng tương ưng với vô tâm, không chấp trước nhơn quả. Nếu chấp trước nhơn quả, liền lạc vào quả báo nhơn thiên, dù chứng chơn như vẫn không thoát khỏi sanh tử. Nếu cùng vô tâm tương ưng, mới thực là phương tiện chứng chơn như và là yếu thuật thoát sanh tử, phước đức vô cùng rộng lớn.

 Kinh Kim Cang nói: "Này Tu Bồ Đề! Bồ tát không trụ tướng bố thí, phước đức ấy không thể suy lường." Đời nay có người tham học, vừa biết có bổn lai Phật tánh, liền tự ý vào tự tánh thiên chơn, không chịu làm việc lành, chẳng những không đạt được chơn tâm mà trở thành giải đãi, đường ác còn chưa chắc thoát, mong gì thoát khỏi sanh tử luân hồi.


(ct)
8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:49:02 am
(tt)

8.  Bốn oai nghi thể hiện chơn tâm



        Muốn dứt vọng, chư Tổ thường dạy tập ngồi, vì ngồi dễ thành tựu định lực, dứt vọng. Nhưng các Ngài vẫn chỉ rõ, cần phải dứt vọng trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, tập lâu thuần thục lúc nào cũng ở trong đại định. Luận Khởi Tín nói: "Người tu chỉ ở nơi vắng vẻ, ngồi ngay, ý chánh, không y theo hơi thở, hình sắc, nơi không, nơi đất nước gió lửa, cho đến không y theo kiến văn giác tri. Tất cả các tướng theo niệm đều trừ sạch, vì tất cả pháp xưa nay vốn vô tướng. Mỗi niệm không sanh, mỗi niệm không diệt, cũng không được ngoài tâm mà niệm cảnh giới, sau lấy tâm trừ tâm. Tâm nếu chạy loạn, cần phải thu về trụ ở chánh niệm. Chánh niệm là chỉ có tâm, không có cảnh bên ngoài, và tâm này không có tự tướng, mỗi niệm không thể được. Nếu từ chỗ ngồi, tới lui, đứng dậy, làm việc, ở tất cả thời gian, đều nhờ phương tiện, tùy thuận để quán sát, tập lâu thuần thục, tâm ấy sẽ an trụ. Tâm an trụ lần lần được mạnh mẽ, tùy thuận được chơn như tam muội, hàng phục hết phiền não, lòng tin tăng trưởng, mau được bất thối. Chỉ ngoại trừ người nghi hoặc, không tin Tam bảo, bài báng chánh pháp, ngã mạn, giải đải, là không thể vào chơn như tam muội. Căn cứ vào đó, bốn oai nghi thể hiện chơn tâm thật rõ ràng.

       Kinh Viên Giác nói: “Trước tiên ý hành tu CHỈ của Như lai, kiên trì cấm giới, yên ở cùng chung, ngồi yên trong tịnh thất, đó là bước đầu tu tập chơn như tam muội”.

Vĩnh Gia Tập nói: "Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh thể an nhiên", căn cứ vào đó, đủ biết tu thiền gồm bốn oai nghi.

Người tu thuần thục, dù muôn Thánh đến trước mặt cũng không động, muôn loài yêu ma kêu chẳng quay đầu, huống chi đi đứng nằm ngồi, không thực hiện được công phu sao? Ở đời, người có oán hận trong lòng, mọi việc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước, động dụng, tất cả thời gian đều không quên. Người yêu thương cũng thế, trong tâm có thể dung chứa bất cứ thời gian và hành động nào. Như thế, người công phu thực hành vô tâm, làm sao trong bốn oai nghi không thường hiện tiền, chỉ sợ lòng tin không chắc, không chịu thực hành, nếu tin bốn oai nghi, chơn như tam muội sẽ không mất.


9.  Chỗ ở của chơn tâm

        Dứt vọng thì chơn tâm hiện, như thế, thể dụng chơn tâm ở chỗ nào? Diệu thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ. Vĩnh Gia tập nói: "Chẳng lìa đương xứ, thường vắng lặng, tìm dò biết Ông không thể thấy." Kinh nói: "Chơn tâm là tánh hư không thường không động, trong Như Lai Tạng không có khởi và diệt".

Đại Pháp Nhãn nói:"Mỗi chỗ là đường bồ đề, mỗi đầu mối là rừng công đức". Đó chính là chỗ diệu thể chơn tâm đang  ở. Diệu thể của chơn tâm tùy cảm tùy hiện, như tiếng vang, như hình và bóng. Pháp Đăng nói: "Xưa nay chẳng thay đổi, rõ ràng trước mặt mình, mảnh mây làm tối cốc, hạc cội cách xa trời."

Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phật pháp ở chỗ dùng hàng ngày, chỗ đi đứng nằm ngồi, chỗ ăn cơm, uống nước, chỗ đối đáp lẫn nhau, chỗ hành động làm việc, chỗ khởi tâm động niệm." Thể chơn tâm trùm khắp tất cả chỗ, tất cả nơi đều có thể khởi dụng, do nhơn duyên có hoặc không hay bất định. Diệu dụng không định, tất cả đều có thể khởi dụng. Người tu tâm muốn vào bể vô vi, thoát sanh tử, đừng nhận lầm thể dụng và chỗ ở của chơn tâm.



(ct)
9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:42:31 am
(tt)

7.  Chơn tâm dứt vọng


        Chơn tâm ở trong vọng là phàm phu, làm sao dứt vọng để thành Thánh được? Cổ Đức dạy: "Vọng tâm không chỗ gá tức Bồ đề, Sanh tử và Niết bàn vốn bình đẳng." Trong Kinh dạy: "Thân huyễn của chúng sanh diệt, thì tâm huyễn cũng diệt, vì tâm huyễn diệt, nên trần huyễn cũng diệt, vì trần huyễn diệt, nên huyễn diệt cũng diệt, như chùi gương hết bụi, ánh sáng hiện ra".

Huyền Giác Thiền sư cũng nói: "Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ cũng như vết nhơ trên kiến, khi vết nhơ hết rồi, ánh sáng mới hiện. Tâm và pháp hai cái đều quên, tánh liền thành chơn. Đó chính là bỏ vọng để thành chơn vậy. Muốn trị vọng tâm, trong Tông môn thường dùng "Vô Tâm" để trị. Có người thắc mắc rằng, nếu nói vô tâm giống như cây cỏ, làm sao trị được vọng tâm? Thực ra vô tâm ở đây luôn luôn có tâm thể,  nên gọi vô tâm, vì trong tâm không có vật nhiễm, nên gọi vô tâm, như gương không có vết nhơ, như nói chén không vì trong chén không có vật gì, chứ không phải không có chén.
Nên Tổ sư nói: Ông chỉ ở trong tâm không có vật gì (không phân biệt) và không có vật gì đối với tâm, tự nhiên trong tâm rỗng sáng, vắng lặng, mầu nhiệm. Đó là tôn chỉ của Tâm. Căn cứ ý trên, chúng ta thấy không có vọng tâm gọi là vô tâm, chứ không phải không có diệu dụng của chơn tâm. Theo chư Tổ sư dạy, công phu tu tập vô tâm không đồng, nay tóm đại ý gồm có mười thứ:


a- Giác Sát:
Khi công phu bình thường phải dứt niệm, đề phòng niệm khởi, nếu có một niệm vừa sanh ra, liền giác ngộ để phá, vọng niệm đã bị phá, sau khi giác ngộ, niệm sẽ chẳng còn sanh. Trong giác ngộ này, trí cũng chẳng cần dùng, vọng niệm và giác đều quên, gọi là vô tâm. Nên Tổ sư nói: "Chẳng sợ niệm khởi, chỉ lo giác chậm". Không cần cầu chơn, chỉ cần dứt chấp, đó là công phu dứt vọng.

b- Hưu hiết (thôi dứt): Khi công phu, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, tâm khởi liền thôi, gặp duyên liền dứt. Cổ nhơn dạy: "Không cho dính mãi tơ, mùa đông đất lạnh lẽo, như hương ở miếu hoang." Tâm không dính mắc, liền được xa rời vọng tâm phân biệt, hoàn cảnh mặc hoàn cảnh, ta vẫn là ta, như thế mới được một phần thôi dứt.

c- Dẫn tâm tại cảnh (Mất tâm còn cảnh): Khi công phu, tất cả vọng niệm đều dứt, không cần ngoại cảnh, chỉ phải dứt từ trong tâm, vọng tâm đã dứt, cảnh có hại gì! Đó là phương pháp cổ nhơn dạy" Đạt người không đạt cảnh. Nên có câu: "Cõi ấy có cỏ quy, đầy thành chẳng người qua." Bàng Công cũng nói: "Tự mình không tâm cùng vạn vật, lo gì vạn vật thường quấy phá." Đó là công phu mất tâm còn cảnh, làm cho tâm dứt được vọng.

d- Dẫn cảnh tại tâm (mất cảnh còn tâm): Khi công phu, đem tất cả cảnh trong và ngoài đều quán là không tịch, chỉ còn một tâm độc lập cô phiêu. Vì thế, cổ nhơn nói:"Không cùng muôn pháp làm bạn, không còn đối với các trần." Tâm nếu chấp cảnh, tâm liền bị vọng, nay đã không còn cảnh, vọng làm sao có? Chừng ấy chơn tâm chiếu sáng, không trở ngại đạo, tức là người xưa đạt cảnh không đạt người. Rõ ràng: "Ba ngàn kiếm khách còn đâu nữa! Chỉ Kế Trang Chu định thái bình." Đó chính là mất cảnh còn tâm, dùng công phu này để dứt vọng.

e- Dẫn tâm dẫn cảnh
(mất tâm mất cảnh): Khi công phu, trước vắng lặng ngoại cảnh, sau diệt nội tâm, nếu trong ngoài tâm và cảnh đều yên lặng, cứu cánh vọng còn do chỗ nào mà sanh. Ngài Quán Khê nói: "Mười phương không vách đổ, bốn phía cửa cũng không, sạch làu làu, đỏ chói chói." Đó là pháp môn nhơn cảnh đều đạt của Tổ sư, nên có câu: "Mây tan nước trôi xuôi, lặng lẽ đất trời cùng một sắc." Cũng nói: "Người trâu đều chẳng thấy, chỉ còn nguyệt trên không." Đây chính là công phu mất tâm mất cảnh để dứt vọng.

f- Tồn tâm tồn cảnh (còn tâm còn cảnh): Khi công phu, tâm ở chỗ tâm, cảnh ở chỗ cảnh. Có khi tâm và cảnh đối nhau thì tâm
không chấp giữ cảnh, cảnh không đến tâm, đều không có đối đải, tự nhiên vọng niệm không sanh, ở nơi đạo không còn gì chướng ngại. Kinh nói: "Pháp ấy ở nơi địa vị của nó, tướng của thế gian vẫn thường trụ." Đó là pháp môn nhơn cảnh đều không đạt của Tổ sư. Nên có câu: "Một mảnh trăng soi biển, trên lầu ngắm mấy ai!" Lại nói:" Núi hoa ngàn muôn đóa, Du-Tử chẳng trở về." Đây chính là công phu còn cảnh còn tâm diệt vọng tưởng.

g- Nội ngoại toàn thể (thể suốt trong ngoài): Khi công phu nơi núi sông, đại địa, mặt trời, mặt trăng, vật trong thân và ngoài thân, tất cả các pháp cùng thể với chơn tâm, lặng lẽ rỗng sáng, không mãy may sai khác, nên đại thiên thế giới đập thành một khối, thì chỗ nào vọng tâm có thể đến. Nên Triệu Pháp Sư nói: "Trời đất với ta cùng gốc, muôn vật với ta cùng thể." Đây là công phu toàn thể trong và ngoài đều diệt vọng.

h- Nội ngoại toàn dụng (Dụng suốt trong ngoài): Khi công phu, đem tất cả các pháp ngoài thân, trong tâm và tất cả động tác thực hành đều quán làm diệu dụng của chơn tâm. Tất cả tâm niệm vừa sanh, đều là diệu dụng hiện tiền. Đã được tất cả đều là diệu dụng, thì vọng tâm làm sao có thể sanh, nên Huyền Giác Thiền sư dạy: "Thật tánh của vô-minh là Phật tánh, thân vô thường huyển hóa là pháp thân". Trong Thập nhị thơ ca, Hòa Thượng Chí Công dạy: "Buổi sáng giờ dần, người cuồng trong chùa Đạo Nhân than, ngồi nằm không biết đó là đạo, chỉ cứ mê mang chịu khổ tân." Đó là công phu toàn dụng cả trong lẫn ngoài để dứt vọng.

k- Tức thể tức dụng
(Chính thể là dụng): Khi công phu, tùy hợp với chơn thể, chỉ có một vị không tịch, nhưng trong chứa linh minh thể tức là dụng. Trong linh minh chứa dụng không tịch, nên dụng tức là thể. Vỉnh Gia Tập nói: "Sáng suốt lặng lẽ, cái sáng suốt ấy không có cái quấy vọng tưởng. Lặng lẽ sáng suốt, cái lặng lẽ ấy không có lỗi vô ký. Trong cái lặng lẽ không dung nạp vô ký, trong cái sáng suốt không dung nạp vọng tưởng, như thế vọng tâm làm sao sanh." Đó chính thể là dụng dứt vọng tưởng.

l- Thâu xuất thể dụng (rõ suốt thể và dụng): Khi công phu, không phân trong ngoài, không chia Đông Tây Nam Bắc. Bốn phương tám hướng chỉ còn là một cửa lớn giải thoát tròn sáng vắng lặng. Thể dụng không cần phân chia, phiền não không cần mãi múng, toàn thân đập thành một khối, vọng tưởng khởi từ chỗ nào? Cổ nhơn dạy: "Toàn thân không tỳ vết, trên dưới sạch tròn vo." Đây là công phu rõ suốt thể và dụng để diệt vọng.

        Mười phương pháp công phu trên đây, không cần phải dùng hết, chỉ cần thành tựu một phương pháp là có thể dứt vọng, chơn tâm hiển lộ. Người công phu, tùy theo căn cơ, đã có tập nhơn đời trước, hợp với pháp nào là có thể tu tập. Công phu này, lấy cái không công phu làm công, không phải dụng tâm lực gì cả. Pháp môn diệt vọng tâm này rất quan trọng, người tu nên cố gắng thực hành.



(ct)
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:39:01 am
(tt)

5.  Thể dụng của chơn tâm một hay khác?


        Nếu nói về tướng, thì thể dụng của chơn tâm không phải một, nếu nói về tánh, thì không phải khác, nên thể và dụng của chơn tâm không phải một và không phải khác.

Chúng ta thử suy nghiệm sau đây thì rõ: Diệu thể của chơn tâm không động, tuyệt các đối đãi, lìa tất cả tướng, nếu người không đạt được thể tánh, chứng chơn thường, thì không thể so lường lý ấy; còn diệu dụng tùy theo duyên, ứng hợp nhiều loại, vọng lập các hư tướng, có hình trạng. Tóm lại diệu dụng có tướng, diệu thể vô tướng, nên không phải là một. Lại nữa, dụng từ thể mà phát khởi, nên dụng chẳng rời thể; thể thường phát ra dụng, nên thể chẳng rời dụng. Tóm lại thể và dụng, lý chẳng lìa nhau, nên không phải khác. Như nước lấy tánh ướt làm thể, thể nó không lay động, sóng lay động làm tướng, vì gió thổi, nhưng ngoài nước không có sóng, ngoài sóng không có nước. Tánh ướt là một, nên không phải khác. Từ đó suy ra, chúng ta có thể biết được thể và dụng của chơn tâm.


6.  Chơn tâm ở chỗ mê



        Thể dụng của chơn tâm, mọi người đều có, nhưng sở dĩ có kẻ thánh, người phàm không đồng, vì phàm phu chạy theo vọng tâm, nhận lầm ngoại cảnh, nên mất tánh thanh tịnh, do đó mà bị ngăn che. Sở dĩ phàm phu, chơn tâm không được hiện tiền, như bóng cây trong tối, suối nước ngầm dưới đất sâu, nó sẵn có mà không ai biết.

Kinh Viên Giác nói: Này thiện nam tử! Như hạt Ma Ni bảo châu chiếu ra có năm sắc, tùy theo chỗ mà hiện, người mê thấy có châu Ma Ni kia năm mầu sắc thật, nhưng thật ra chỉ là đối cảnh hiện sắc thôi. Này thiện nam tử! Tánh Viên Giác hiện ở thân tâm, tùy loài mà có, như ở mắt thấy, tai nghe..., người mê nói Viên Giác ở trong thân tâm, nhưng không hề hay biết. Trong Kiền luận nói: Trong càn khôn và vũ trụ có một cái núi báu bí mật, núi ấy chính là nơi chơn tâm có mặt.

Ngài Từ Ân nói: Pháp thân vốn có chư Phật cộng đồng, phàm phu do bị che ngăn mà không biết, phiền não chôn lấp Như Lai Tạng. Bùi Hưu nói: Suốt ngày có tánh Viên Giác, mà chưa từng sống với tánh Viên Giác, nên gọi phàm phu. Nên biết, chơn tâm tuy ở trong trần lao, mà không bị trần lao nhiễm, như ngọc trắng rơi vào bùn, nhưng sắc ngọc vẫn không thay đổi.


(ct)
11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 06, 2014, 02:36:05 am
(tt)

3.  Diệu thể của chơn tâm


        Kinh Phóng Quang Bát Nhã nói: Bát Nhã không có tướng sở hữu, không có tướng sanh diệt. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: Tự thể của chơn như ở tất cả phàm phu, Thinh văn, Duyên giác, Bồ tát, chư Phật, không hề có thêm hoặc bớt, không có sanh diệt, rốt ráo thường hằng, từ trước đến sau nó vẫn tự đầy đủ tất cả công đức.

        Căn cứ vào kinh và luận kể trên, bản thể chơn tâm vượt khỏi nhơn quả, thông suốt xưa nay, không lập thánh phàm, không có đối đải, như bầu thái hư trùm tất cả chỗ. Thể nó mầu nhiệm, lặng lẽ (ngưng tịch), dứt hết tất cả hí luận, không sanh, không diệt, chẳng co, chẳng không, chẳng động, chẳng lai, vắng lặng (trạm nhiên) thường trụ gọi là CỰU NHẬT CHỦ NHƠN ÔNG hay OAI ÂM NA BẠN NHƠN, lại gọi KHÔNG KIẾP TIỀN TRI KỶ. Nó là một vật sáng rỡ, lặng lẽ, không có gì che ngăn, làm lấm lem. Tất cả núi sông, đất liền, cỏ cây, rừng rậm, muôn sắc muôn màu, các pháp nhiễm và tịnh đều từ trong ấy mà lưu xuất.

Kinh Viên Giác dạy: Này thiện nam tử! Vô Thượng Pháp Vương có môn Đại Đà La Ni tên là Viên Giác, nó lưu xuất tất cả thứ, như Thanh tịnh Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và Ba la Mật, có khả năng dạy bảo các Bồ tát. Khuê Phong Thiền sư dạy: Tâm vốn rỗng rang, vắng lặng, sáng chói rõ ràng, không tới không lui, rõ suốt ba mé, không ở trong, không ở ngoài, thấu suốt mười phương, không diệt không sanh, không cái gì có thể làm hại, lìa tánh lìa tướng, năm sắc ấm không thể làm mờ, nên trong Duy Tâm Quyết của ngài Vĩnh Minh nói: Tâm này là nơi tụ tập tất cả những điều mầu nhiệm và những điều linh ứng, là vua của muôn pháp, là nơi để các hàng tam thừa, ngũ tánh đều nương về, là mẹ của chư Thánh. Độc tôn, độc quý, không thể lấy gì để so sánh, chính là nguồn gốc của đại đạo, là chỗ cốt yếu của chơn pháp. Người tin có nó thì ba đời Bồ tát cùng học, vì học tâm này; ba đời chư Phật đồng chứng, vì chứng tâm này; Đại Tạng Kinh giáo đồng thể hiện, vì thể hiện tâm này; tất cả chúng sanh mê vọng trầm luân, vì mê tâm này; tất cả người tu được ngộ, cũng chỉ ngộ vào tâm này; tất cả chư Tổ truyền nhau, cũng truyền tâm này; chư Tăng khổ công tham phỏng khắp thiên hạ, cũng vì tham cứu tâm này. Đạt được tâm này, thì tất cả đầu mối đều mở tỏ, mê tâm này, thì mọi chỗ đều điên đảo, mỗi niệm đều si cuồng. Tâm này là bản thể sẳn có của tất cả chúng sanh, là căn nguyên sanh ra tất cả thế giới. Vì thế, đức Thế Tôn trên Hội Linh Thứu, đưa cành hoa sen lặng lẽ quên lời. Tổ Đạt Ma quán vách ở Thiếu Thất lặng lẽ nhiều năm không nói. Tất cả đều muốn phát minh diệu thể của tâm này. Vì thế, người muốn vào cửa Thiền, cần phải biết diệu thể và diệu dụng của nó.

4.  Diệu dụng của chơn tâm

        Cổ nhơn có bài kệ:

Gió đông lay cây cỏ,
Mây che tánh khởi trần.
Việc ngày nay hiểu rõ,
Xưa đã mê bao lần.


        Diệu thể của chơn tâm xưa nay vốn không động, an ổn chơn thường. Từ chơn thể khởi ra diệu dụng hiện tiền, chứ không phải từ đâu mà được diệu. Nên Tổ sư có bài tụng:

"Theo tâm muôn cảnh chuyển,
Chỗ chuyển thật u huyền.
Theo dòng nhận được tánh,
Không vui cũng không lo".

 Vì thế, việc làm của các ngài, trong tất cả thời, qua tây, lại đông, ăn cơm, đắp y, quay qua, ngoảnh lại, đều có diệu dụng của chơn tâm hiện rõ mặt. Phàm phu mê hoặc điên đảo, lúc mặc áo bị chấp trước theo mặc áo, lúc ăn cơm đắm trước theo ăn cơm, tất cả việc đều bị tướng chuyển, vì hằng ngày dùng Nó (Phật tánh) mà không biết, Nó ở trước mặt mà không hay, nếu người biết được thể tánh No, thì động, tịnh, có làm, không làm, đều không bị mê muội. Nên Tổ sư dạy: Lúc ở trong bào thai gọi là thân, lúc ở trong cõi đời gọi là người. Ở nơi mắt thì quán sát, ở nơi tai thì nghe, ở nơi mũi thì ngửi mùi thơm, ở nơi miệng thì đàm luận, ở nơi tay thì cầm giữ, ở nơi chân thì chạy đi, Nó biến hiện thì khắp cả pháp giới, thâu vào chỉ bằng hạt bụi trần. Biết được No, chính là Phật tánh, không biết được Nó, gọi là linh hồn. Vì thế, ngài Đạo Ngộ xòe quạt, ngài Thanh Chương trương cung, ngài Cu Đê chặt ngón tay, ngài Tịnh Châu đập đất, ngài Vân Nham rống như sư tử, tất cả đều muốn phát minh cái đại dụng ấy, nếu ở trong việc dùng hằng ngày không mê, tự nhiên ngang dọc không ngại.



(ct)
12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:37:49 am
(tt)

3.- PHÁP  TU CHỈ RA  CHƠN TÂM CỦA NGƯỜI XƯA:-

Chỉ Chơn Tâm

1.  Tin chắc có Chơn Tâm.

        Chơn Tâm là chủ tể của sự sống, nó hằng lưu lộ ở sáu căn. Muốn nhận ra nó, bước đầu ta phải tin chắc chơn tâm hằng hữu. Dẫn một số kinh văn để chúng ta dễ dàng tin chắc. Kinh Hoa Nghiêm dạy: "Tin là gốc đạo, là mẹ của các công đức, tin có thể nuôi dưỡng các căn lành, tin có thể thành tựu quả Bồ đề". Duy Thức nói: "Tin như hạt thanh châu, có khả năng làm nước đục hóa trong. Vì thế, muôn việc lành phát sanh, tin luôn luôn đi tiền đạo, nên trong tất cả kinh Phật đều đề “như thị ngã văn” (ta nghe như vầy) để mọi người sanh lòng tin trước nhất.

        Có người hỏi: Tin ở Giáo môn khác với tin ở Tổ môn thế nào? Giáo môn và Tổ môn dạy nhiều chỗ chẳng đồng: Giáo môn dạy người tin nhơn quả, ưa phước lạc, tin mười thiện là diệu nhơn mà cũng là lạc quả của nhơn thiên. Nếu có vui không tịch, tin sanh diệt, nhơn duyên là chánh nhơn, Khổ, Tập, Diệt, Đạo là chánh quả. Có vui Phật quả tin ba kiếp sau đó làm đại nhơn, bồ đề, niết bàn là chánh quả. Chánh tín của Tổ môn không đồng ở trên: Không tin tất cả nhơn quả hữu vi, chỉ tin tự mình xưa nay là Phật. Tự tánh thiên chơn, mỗi người đều có đủ; Niết bàn diệu thể, mỗi cái đều tròn, không muốn nhờ ai, tự mình có đủ, vì bởi thủ xã nên chẳng thấy được! Chí Công dạy: Có không thân tướng trong thân tướng, con đường vô minh cũng chính là con đường vô sanh. Vĩnh Gia Thiền sư dạy: Thật tánh vô minh tức Phật tánh, thân thể huyễn hóa là pháp thân. Nên biết, chúng sanh xưa nay vẫn là Phật. Nếu muốn có lòng tin, chúng ta cần phải hiểu rõ, nên Vĩnh Gia Tập có câu: Tin mà không hiểu thêm lớn vô minh, hiểu mà không tin thêm lớn tà kiến. Nếu người có cả tin lẫn hiểu chắc sẽ được vào Đạo.

        Có người hỏi: Người mới có lòng tin, chưa được vào đạo, có lợi ích gì? Luận Khởi Tín nói: Nếu người nghe pháp này rồi không sanh lòng sợ sệt, nên biết người đó sẽ nối tiếp giống Phật, chắc được chư Phật thọ ký cho. Nếu có người dạy tất cả chúng sanh, trong tam thiên đại thiên thế giới, thực hành trọn mười điều lành, không bằng có người ở trong một niệm chánh tư duy chơn như, công đức người ấy hơn người dạy thực hành mười điều lành trên không thể thí dụ. Kinh Bát Nhã nói: Nếu người một niệm sanh lòng tin trong sạch, Như lai đều thấy biết hết, các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức. Muốn đi ngàn dặm, bước đầu phải đúng hướng, bước đầu đã lầm, ngàn dặm cũng lầm. Người vào nước vô vi, lòng tin ban đầu cần yếu phải đúng. Lòng tin ban đầu đã mất, muôn việc thiện đều lui. Nên Tổ sư dạy: Sai một ly xa ngàn dậm. Chính là lý này.

2.  Những tên khác của chơn tâm


        Đã sanh lòng tin chắc, chơn tâm sẳn trong mọi người, nhưng nó vốn không có tên và hình tướng, nên có nhiều tên khác nhau, chúng ta cần phải biết tường tận. Kinh Lăng Nghiêm phát minh được tâm này, vì nó lìa tất cả hư vọng gọi là chơn, linh minh tịch chiếu gọi là tâm, nên gọi là chơn tâm. Tâm này chỗ lập danh của Phật và Tổ không đồng nhau: Phật dạy trong Bồ Tát Giới gọi là TÂM ĐỊA vì nó sanh ra các pháp lành. Kinh Bát Nhã gọi là BỒ ĐỀ vì cùng thể giác. Kinh Hoa Nghiêm gọi là PHÁP GIỚI vì nó dung nhiếp thấu suốt. Kinh Kim Cang gọi là NHƯ LAI vì không từ đâu đến. Tâm Kinh gọi là NIẾT BÀN vì là chỗ về của tất cả Thánh. Kinh Kim Quang Minh gọi NHƯ NHƯ vì chơn thường không biến đổi. Kinh Tịnh Danh gọi PHÁP THÂN vì để báo thân và hóa thân y chỉ. Khởi Tín Luận gọi CHƠN NHƯ vì không sanh diệt. Kinh Niết Bàn gọi PHẬT TÁNH vì gốc của bathân. Kinh Viên Giác gọi TỔNG TRÌ vì lưu xuất của công đức. Kinh Thắng Phát gọi NHƯ LAI TÀNG vì ẩn chứa dụng. Kinh Liễu Nghĩa gọi VIÊN GIÁC vì phá chỗ tối, soi sáng tất cả chỗ. Do đó, Diên Thọ Thiền Sư trong Duy Tâm Quyết nói: Một pháp có ngàn tên, hợp theo duyên mà lập hiệu.

        Tổ sư tuyệt cả nói năng, văn tự, tên còn không lập ra, làm gì có nhiều tên, nhưng vì chỗ ứng và cảm theo căn cơ, nên tên ấy cũng nhiều. Có lúc các Ngài gọi là TU CƠ vì chỉ bản tánh chúng sanh. Có lúc gọi CHÁNH NHÃN vì quan sát các cái có tướng. Có lúc gọi DIỆU TÂM vì hư linh tịch chiếu. Có lúc gọi CHỦ NHƠN ÔNG vì trách nhiệm gánh vác. Có lúc gọi là VÔ ĐỂ BÁT vì tùy chỗ mà sinh nhai. Có lúc gọi là MỘT HUYỀN CẦM vì NGHE được tiếng "đàn không dây" lúc ấy. Có lúc gọi là VÔ TẬN ĐĂNG vì chiếu phá kẻ mê tình. Có lúc gọi VÔ CĂN THỌ vì gốc rễ bền bỉ. Có lúc gọi XUY MAO KIẾM vì dứt sạch căn trần. Có lúc gọi VÔ VI QUỐC vì bể lặng sóng êm. Có lúc gọi MÂU NI CHÂU vì giúp người nghèo khổ. Có lúc gọi VÔ NHU TỎA vì đóng kín sáu tình. Có khi gọi TRÂU BÙN, NGỰA GỖ, TÂM NGUYÊN, TÂM ẤN, TÂM CẢNH, TÂM NGUYỆT, TÂM CHÂU, nhiều thứ tên khác nhau không thể chép hết. Nếu người nào đạt được chơn tâm, các tên đều hiểu rõ. Mê chơn tâm, các tên đều vướng mắc. Vì thế đối với chơn tâm, cần phải hiểu rõ diệu thể của nó.


(ct)
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:30:48 am
(tt)

*CÂU HỎI ĐỂ THAM KHẢO :-


   1.-Làm thế nào, để tự mình phát hiện bản thân của mình cũng nằm trong tông tộc   “đánh mất TA THẬT” ?

   2.-Đánh mất TA THẬT có thể phát sinh những tai họa gì ?

   3.-Vì sao dám khẳng định, những nhân vật nổi tiếng nhất trên thế giới vẫn nằm trong tông tộc “đánh mất TA THẬT” ? Xin lược thuật lý do ?   4.-Ông René DESCARTES lấy “Tư Duy” cho là TA, là đã căn cứ vào lý do gì ? Nó sai lầm ở chỗ nào ?

5.-Người đời ngày đêm đang vất vả chết sống để làm việc, thực sự họ vì CÁI GÌ ?

6.-Tại sao lấy tấm thân bảy thước cho nó là TA lại không đúng ?

7.-Thân thể và Ý Niệm, cái nào quan trọng hơn, nêu lý do ?

8.-Dùng cách gì để phủ định được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” hiện thực đang có trong thân ta ? Quan niệm về thân xác tuyệt đối yên lặng có tác dụng quan trọng như thế nào đối với pháp môn giải thoát (Vô Niệm) ?

9.-Làm thế nào để có thể chuyển hóa những ý niệm chính, niệm tà, niệm không chính không tà, thành ra cảm giác kỳ bí lạ lùng, thanh lương an lạc ?

10.-Giả sử, nhóm nhà khoa học của cơ quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA) biết được tầm quan trọng của việc phát hiện ra “đánh mất TA THẬT”, để nghiên cứu thêm việc đó, nhân loại sẽ được những lợi ích lớn lao thực sự gì ?

TRẢ LỜI :-

1.-Tự mình xoay sức CHÚ Ý vào trong thân để thấy rõ những Vọng tưởng Tạp niệm lăng xăng lộ xộn, hoặc vẫn tự lấy thân cho là TA, thì mình là thành viên của tông tộc “Đánh mất TA thật” rồi.

2.-Tai họa không kể hết, tóm tắt mấy nét chính :

-Chịu sự dày vò của sinh, già, bệnh, chết.
-Luôn luôn ưu bi khổ não.
-Cắt đứt quan hệ với “THƯỜNG, LẠC NGÃ, TỊNH.

3.-Bài nầy cũng như các sách khác cùng tác giả đều có đề cập đến những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử : PLATON, ALEXANDRE, GENIS KHAN v. v… Căn cứ vào hành động, lời nói, các học thuyết họ nêu ra… đủ để kết luận họ vẫn còn thuộc về tông tộc “đánh mất Ta thật”.

4.-Vì ông René DESCARTES biết chắc, thân đã chẳng phải là TA, vật lại càng chẳng phải là TA, chỉ còn có TƯ DUY mà thôi. Ngoài nó ra chẳng còn có gì khác. Sai lầm cơ bản khi lấy TƯ DUY cho là TA ở chỗ nó thường xuyên biến đổi, không làm chủ được nó nên trái với thuộc tính cơ bản đúng đắn của TA THẬT.

5.-Trả lời gọn và đúng nhất là, để đáp ứng cho hai yêu cầu bản năng cần thiết không ngừng của thân thể là ăn uống và tình dục, cho nên con người mới phải làm việc ngày đêm, đến cháy da phỏng trán.

   6.-Vì thân thể hoạt động ngoài sự chỉ đạo và mong muốn của TA. Nếu muốn biết thêm chi tiết, có thể tham khảo thêm quyển LIFE AFTER LIFE” của Dr. RAYMOND MOODY (USA).

   7.-Thân thể vật chất chỉ là công cụ do Ý NIỆM chỉ huy mà hành động. Không có Ý Niệm, thân thể giống như gỗ đá mà thôi.

   8.-Trên phương diện cảm giác, ta “cảm thấy” trong thân có những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”. Phải dùng góc độ thân thể là thuần vật chất, nghĩa là phải tuyệt đối im lặng, để dễ tạo ra KỲ TÌNH, có lợi cho việc giải thoát.

   9.-Khẳng định những niệm Chánh, niệm Tà, niệm không chánh không tà… đều là những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (=Vọng tưởng Tạp niệm) đang xảy ra trong thân.
   Khi đó, thân thể lại phải tuyệt đối yên lặng, như thế là vô lý, chuyện lẽ ra không có mà bây giờ lại có, cảm giác kỳ bí lạ lùng (Kỳ Tình) sẽ sanh ra. -Vọng tưởng Tạp niệm (=Tự Ngôn Tự Ngữ) liền tiêu mất, Tâm Thanh Tịnh luôn thanh lương an lạc.
   Do đó, dù khi dấy khởi lên bất cứ thứ niệm nào, cũng đều phát khởi
Kỳ Tình được cả.

   10.-Chinh phục Không Gian chỉ là để mưu cầu vật chất cho loài người và tránh né tai họa của loài người. Trong khi mầm móng chính của tai họa lại còn dính chặt trong con người, vật chất không sao xóa trừ được tai họa, thì đi đến bất cứ đâu, khổ đau vẫn còn bám dính.

   Nếu như họ chịu nghiên cứu, phát hiện ra việc “đánh mất TA THẬT”, để góp phần trong việc chữa lành căn bệnh Khổ cho nhân loại, lợi ích nhất định không sao tả hết./.

   *Chú Thích:-    TA THẬT : không tướng, không động, và không sinh diệt, Phật học gọi là Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Pháp Giới Tánh, Bản Lai Diện Mục…

   (**) KỲ TÌNH : trước kia gọi là NGHI TÌNH, nay sửa lại cho thích nghi hơn./.



(ct)
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:25:47 am
(tt)


   Nói cho sát sườn hơn, giá trị của những người máy ROBOT làm được những việc khó khăn hơn con người, đích thực chẳng phải là những dữ liệu Ý NIỆM tàng trữ trong bộ trung tâm điện não, hay là ở đống sắt vụn bên ngoài ?

   Để trả lời cho câu hỏi, vì sao nhân sinh cứ mãi chẳng được như ý, ngày qua tháng lại vẫn cứ trôi lăn trong biển khổ mênh mông ? Dĩ nhiên, có rất nhiều nguyên nhân, nhưng rốt ráo nhất vẫn là một cái, đó chính là :”Thiếu sự quan sát một cách miên mật những Ý Niệm của mình, nên chẳng thế nào biết được rằng, trong TÂM THANH TỊNH (=Tâm chính thường), tức cái TA đích thực, đã chứa sẳn vô vàn vật báu !”

   Phản ứng chung của loài người xưa nay, khi mong mỏi lìa khổ được vui, đã làm hết sức mình vẫn thấy “lực bất tòng tâm”(kết quả chẳng theo ý) thì chỉ còn có một cách duy nhất là, hướng về Thần Linh (Thượng Đế) hoặc Linh Giới hay Tịnh Giới để cầu xin trợ giúp mà thôi. Việc nầy các nhà Tôn giáo hiện nay có rất nhiều, sẵn sàng hướng dẫn cho quý vị hết sức cặn kẻ, và hết sức vui lòng “trao đổi hai chiều” với quý vị về tất cả những diệu pháp, bí pháp (?) mà họ có được !.

   Tuy nhiên, chúng tôi cũng không ngại gì nói thẳng, nói thật với quý vị, là đừng nên đặt hoàn toàn hy vọng vào việc đó. Bởi vì, sự giao lưu giữa  loài người và Thần Linh quả là không đơn giản chút nào, tính hiệu quả của nó lại không có gì bảo đảm đến một phần ngàn (1/1000) nữa là !?

   Cho nên, phương pháp “Ai tin sâu sẽ được cứu rỗi” chẳng phải là liều thuốc “Linh Dược Ngàn Năm” để cải tử hoàn sanh đâu. Cho dù từ Đức GIÁO HOÀNG LA MÃ, PHẬT SỐNG  cho đến  đồng cốt siêu cấp… đi nữa, bản thân của họ cũng chưa khẳng định chắc chắn có thể cùng nhân vật Linh Giới, Tịnh Giới kia, giao lưu tư tưởng thông suốt không ngăn ngại thay. Hà huống gì nói đến việc hỗ trợ, giúp đỡ cho quý vị !?

   Nói cho công bằng, tác dụng về Tôn Giáo đối với loài người, cũng đạt đến nửa tốt nửa xấu, không nên phủ định sạch trơn sự cống hiến của nó. Nhưng muốn chắc ăn thực sự, chúng tôi đề nghị, CẦN và RẤT CẦN thêm vào đó phương pháp TRỊ TÂM BỆNH” khi nào chúng ta biết rõ được cái “Tâm Thanh Tịnh”(=Tâm Thể Vô Niệm) mới là TA THẬT. Làm được như vậy, chúng ta đã tạo đủ cả hai bánh của một chiếc xe, hai cánh của một con chim… không thiếu một như lâu nay. Có như thế, Tôn giáo mới có thể phát huy được ánh sáng rực rỡ của nó.

   Già trẻ lớn bé trên thế giới, ngày chạy đêm  lo, từ khâu nuôi lớn, học hành thành đạt, kết hôn, sanh con đẻ cháu… hết sức lao đao vất vả, chỉ vì mục đích chung nhất là muốn “lìa khổ được vui”. Mấy ngàn năm loài người sống chết chiến đấu với mục đích ấy, nhưng đau đớn thay, ai nấy cũng thực lòng nhận ra rằng, nó chỉ “ở  thế khả năng”(nhìn đến) mà “không thể nào thực hiện” được !.

   Nếu như quý vị đã nhận chân được lẽ thực không có lối thoát ấy, tại sao quý vị không chịu kiểm điểm lại thân tâm, có chỗ nào chưa ổn thỏa ? Mà thân thể đã là thuần vật chất, chẳng có gì để kiểm điểm qui trách nhiệm cho nó cả, tại sao quý vị không ra sức chú ý xoay về cái Tâm, tức Ý Niệm, cái mà hàng ngày quý vị xem nó chẳng đáng giá một xu nầy, ngay nơi đó để biết được những thứ “tâm ngữ” cuồng loạn, khó khống chế…, rồi làm sao đó để cho nó dừng bặt (ngừng dứt), để được an vui ra sao… và v.v… Đó mới thật là :-

“Sơn cùng thủy tận, nghi vô lộ,
Liễu ám  hoa minh, biệt nhứt thôn”.

T Ạ M  D Ị C H :

“Non cùng nước tận, ngờ không lối,
Vượt khóm liễu hoa, lại thấy làng”.


Nhưng, làm thế nào để vượt qua cho được khỏi rặng liễu mờ ảo và hoa đẹp chập chờn kia ?

   Không có gì khó cả, chỉ xin quý vị trang bị cho đầy đủ những hành trang sau đây :

  1.-Phải thể hội sâu sắc thân thể thuần là vật chất, giống như gỗ chạm đất nặn một thứ, bên trong nó phải tuyệt đối yên lặng (100%), không thể có những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”. (Ghi chú :Cần lưu ý, máu huyết lưu thông, cơ quan trong thân hoạt động… đều không phải là “Tự Ngôn Tự ngữ”).

   2.-Phải hết sức CHÚ Ý quan sát, những Tạp Niệm (nghĩ bậy tưởng bạ) nó đang nói cái gì, phân biệt rõ ràng từng câu, từng tiếng (Ghi chú : Điểm nầy rất quan trọng). Cụ thể là mỗi phút phải phát hiện ít nhứt là 3 câu “tâm ngữ” một cách thật đầy đủ.

   3.-Ngay lúc phát hiện trong thân có những “tâm ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm) như thế, lại đã biết chắc lẽ ra nó phải hoàn toàn yên lặng, liền xuất hiện một cảm giác kỳ bí lạ lùng, ào ạt trào ra, không cách gì ngăn được. Điều đó gọi là KỲ TÌNH (**).

   4.-Khi KỲ TÌNH sinh ra, tâm cuồng nhiều đời bỗng nhiên dừng bặt, trong tâm thanh lương an ổn thú vị không thể tả. Ngay đó gọi là CHÂN NHƯ (CHÂN TÂM, PHẬT TÁNH) hiện ra.

   5.-Nếu trường hợp thấy được “tâm ngữ” mà không thể sanh ra cảm giác thú vị, thì dùng pháp “NHẠI NÓI THEO TÂM”(Học Tâm Thuyết Thoại). Nó nói những câu thượng lưu, ta cũng nói theo thượng lưu; nó nói những câu hạ đẳng, ta cũng nói theo hạ đẳng. Lúc ta và nó một xướng một họa như thế, lại đã biết chắc là đang xảy ra trong thân thể phải yên lặng tuyệt đối, tâm cuồng cũng phải dừng nghỉ.


   Cái TA THẬT (Chân Như) nầy có thể sáng tạo, cải biến muốn vật, là vật báu vô giá, có được là nhờ sự xoay tâm nhãn vào quan sát một cách miên mật bên trong thân, đồng thời, với sự thể hội sâu sắc thân vật chất phải tuyệt đối yên lặng. Chỉ cần đủ thời gian cần thiết là ta có được CHÂN NHƯ (kho châu báu vô giá) vĩnh viễn. Đó mới là cách trị Bệnh khổ chân chính nhất, mong quý vị hữu duyên, quan tâm thực hành tích cực, để sớm đạt được thành an vui.


(ct)
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / THIỀN TÔNG / Re: MỞ TOANG CHIẾC HỘP ĐEN “CHÂN NGÔ--揭 開 人 類 靈 魂 的 黑 盒 vào lúc: Tháng Chín 05, 2014, 03:21:51 am
(tt)

Việc mê mờ (Si Mê) làm mất đi cái TA THẬT (Chân Ngã), nói ra khó tin, nhưng hầu như đa số tuyệt đối chúng sinh không ai chẳng trải qua đời sống hồ đồ như thế… Đến đây, chắc chắn sẽ có vị nóng nảy phát biểu :”Vậy thì ông chỉ rõ đúng cái TA ở nơi nào, là Ai ? Nếu ông không chỉ tay vào ngực để trả lời, thì chắc là không còn cách khác !”

   Quả thật, ai cũng không ngờ được vấn đề quá giản đơn nầy, lại làm đảo lộn gây khó khăn biết bao cho chúng sanh thiên hạ xưa nay, và có lẽ còn dài dài về sau nầy, nếu như chúng ta chưa thay đổi được nhận thức.

   Nhà khoa học kiêm triết gia lớn : RENÉ DESCARTES (1596-1650) người Pháp cũng nêu ý kiến về TA như sau : “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy tức là tôi hiện hữu). Mặc dầu đáp án trên chưa thật chính xác, nhưng vẫn đạt điểm  trên trung bình. Bởi vì, chỉ có riêng mình ông ở phương Tây, dám phủ định cái thân thể mang đầy đủ mắt, tai mũi, lưỡi… chẳng phải là TA, chỉ nhận TƯ DUY, cái không có hình tướng mới là TA.

   Vì sao đáp án của Ông DESCARTES chưa chính xác ? Bởi sự quan sát của ông về TƯ DUY cũng chưa tường tận lắm. Tư duy (=suy nghĩ) có niệm Thiện niệm Ác, niệm không Thiện không Ác, thường khó khống chế, ta không thể làm chủ thật sự đối với nó… tóm lại, là vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các thuộc tính căn bản của định nghĩa về TA (Pháp Thân hay Chân Như).

   Đúng là ông bị : “Một vầng mây trắng che miệng hang,
                    Bao nhiêu chim bay, mờ mịt tổ”.


   Lẽ dĩ nhiên, những nhân vật nổi tiếng khác như : TẦN THỦY HOÀNG,  HÁN VŨ ĐẾ, ALEXANDRE đại đế, GENIS KHAN (Thành Cát Tư Hản), PLATON, ARISTOTLE, Sir Isaac NEWTON, Albert EINSTEIN…… cũng không thể vượt ra khỏi giới hạn khắc nghiệt của Vũ Trụ Cảm Giác (=Vũ Trụ Tương Đối) nầy được.

   Nói như thế, có người lại lên tiếng RẦY cho, mắc mớ gì lại phải nghiên cứu cái chuyện xa vời là “Mọi Người Quên Mất Cái Ta Thật” làm chi, khi mà ai ai ai cũng đã, đang và sẽ vẫn ăn cơm mặc áo, sanh con đẻ cái đầy đàng đầy đống, nhất là đang trải qua đời sống vui vẻ (?) nầy… Vậy, có thật sự cần thiết phải mất nhiều thì giờ cho công việc nghiên cứu cái thứ triết học hư vô nầy không ?

   Nói thế, dĩ nhiên là “nói cùng”, đó là thái độ thụ động chẳng hay ho, không thể giải quyết được những điều có liên quan trực tiếp đến cá tính “NHÂN SINH QUAN” của họ. Nhất là vấn đề Gìa, Bệnh, Chết, tất cả đều bó tay chịu trói. Cái GÚT CHẾT” về sự Già chết nầy, ngày nào chưa mở ra được, thì ngày ấy cuộc sống của con người đều vẫn hoàn toàn vô ý nghĩa, thậm chí nguy hiễm, vô lý là khác ! Phần lớn đều cảm nhận ra rằng, gió xuân một trận thổi qua, chớp mắt thành không…. Suy cho cùng, tất cả đều có liên quan đến vấn đề mê mờ (Si Mê) đánh mất cái TA THẬT của con người mà thôi.

Hiện nay, cơ quan Không gian NASA (Mỹ) tập hợp các nhà khoa học ưu tú với số hàng vạn người, tập trung ra sức nổ lực vào công tác chinh phục Không Gian. Nhìn ở một góc độ sâu kín, động cơ của công tác nầy chính là để tìm kiếm một nơi, một địa điểm an toàn cho tương lai nhân loại, gọi đó là “công tác lúc chưa mưa”.

   Nhưng suy cho cùng, cho dù nhóm nhà khoa học nầy có thể chinh phục cả những hành tinh xa nhất trong Thái Dương Hệ như  các sao TỬ VƯƠNG, HẢI VƯƠNG… đi nữa, để cho con người của quả địa cầu nầy lên đó ở cả triệu triệu người, xây dựng hàng triệu tòa nhà chọc trời kiểu EMPIRE STATE BUILDING đi nữa, điều chắc chắn là, không thể nào bảo đảm những con người nầy được “tâm hoa đua nở” luôn có nụ cười tươi tắn trên môi !

   Vì sao tôi dám khẳng định như thế ? Bởi vì, cái hạnh phúc do vật chất mang lại chỉ có thể phát triển đến giới hạn tối đa của nó mà thôi. Quý Vị chỉ cần lấy chuyện ăn uống của nhà nghèo nhà giàu mà suy ra là đủ thấy ? Cho nên, công tác chinh phục Không Gian rút cục vẫn không thể bằng công tác phải làm sao phát hiện cho được cái TA THẬT. Đó mới là việc tối quan trọng của loài người. Quý vị hãy nhìn xung quanh xem, vật chất phong phú có phải là yếu tố quyết định cho sự an ổn vui sướng của con người không ?

   Việc hưởng thụ vật chất đã bị cái giới hạn tất yếu của sự cần thiết về sinh lý. Một khi đã vượt quá tiêu chuẩn về nhu cầu của cơ thể, trên phương diện cảm nhận, sự hưởng thụ sẽ trở nên hết sức mờ nhạt. Thí dụ như, lúc ông đang rất đói khát, chỉ cần một củ khoai, cốc nước lạnh cũng ngon như sơn hào hải vị, không bút mực nào tả xiết ! Nhưng, nếu như ngày nào ông cũng ăn những bửa tiệc của Vua Chúa, thì chắc chắn ông chẳng những không thích thú mà còn coi như là một cực hình ! Lẽ thật ấy, ai đã có trải qua rồi đều biết rõ.

   Tương tự, khi còn là một dân nghèo, sống chui rúc trong ổ chuột, khi được vào ở trong lầu gác hoa viên, tưởng chừng như lạc vào cảnh Tiên. Nhưng, nếu tiếp tục ở thêm năm thứ hai, năm thứ ba… thì sao  ? Thực tế, là nó cũng sẽ lợt lạt chán nãn vô cùng. Tại sao vậy ?

   Nguyên nhân chủ yếu là vì trong Tâm Linh của con người, dù sang  hèn giàu nghèo… vẫn còn mang chứng bệnh trầm kha VỌNG TƯỞNG. Đời sống vật chất đầy đủ, không phải là liều thuốc để trị lành căn bệnh tiên thiên khí nầy. Trái lại, càng đề cao sở thích vật chất, nước dâng thuyền cao lên, càng đòi hỏi nhiều thứ hơn nữa, thử hỏi đến bao giờ mới cùng !?

   Thật sự, Tâm Linh con người có bệnh không ? Quý vị chỉ cần tự mình nhắm mắt ngồi yên chừng vài phút, xoay sức CHÚ Ý quan sát bên trong tâm, quý vị sẽ thấy trùng trùng điệp điệp những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, tuy không nghe được tiếng, không thấy được hình tướng của nó, nhưng nó nói những gì, quý vị đều có thể dùng bút ghi chép lại được. Đó gọi là “TÂM BỆNH”. Dưới sự soi sáng của Phật Pháp, nó đã lộ nguyên hình.

   Có người cãi lại, những thứ “Tự Nói Tự Rằng” đó, sở dĩ  có là tại mình nghĩ ngợi mà ra, có gì phải nhấn mạnh đề cao sự lo sợ quá đáng như thế ? Xin thưa, đó là tại vì hằng ngày ông không lưu ý tới nó thôi, nên mới phát biểu như vậy. Nếu ông thực sự quan tâm, chú ý quan sát, theo dõi chặt chẻ, sẽ dễ dàng nhận ra sự thật, là hơn 90% nội dung của những thứ “Tự Ngôn Tự ngữ” đều là những thứ trò chơi “không mời mà đến, chẳng từ biệt mà đi ( rút lui)”.

   Tâm là cái gì ? Phần trước có nói, TÂM chính là TA (Tâm giả ngã dã). Cho nên, nói một cách rốt ráo rằng, tất cả những ai trong Tâm còn có Vọng Tưởng Tạp Niệm đều là những người bị bệnh “Mắc Thằng Bố” cả thảy ! Chỉ có điều nó nói lảm nhảm ở bên trong chứ chưa phát tác ra bên ngoài như những người bị bệnh nặng mà thôi !.

   Đã như thế, cho dù vật chất có cao hơn núi EVEREST cũng không thể giúp cho họ an ổn vui sướng. Trái lại, vật chất chính “TỔ ẤM” của tất cả những tai nạn khác !? Chẳng những tự hại cho bản thân, gia đình mà còn có khi mang tới đại họa cho loài người. Lịch sử đã nêu rõ, nào HITLER ADOLF, TOJO HIDESEKI, MUSSOLINI BENITO… đều là những con người điên cuồng nầy, cũng bởi chính do những “thằng bố âm thầm” trong Tâm Linh họ xúi dục đấy.

   Xưa nay, trong và ngoài nước (TQ), có rất nhiều phần tử tinh anh biết thương người, đều có lòng mong muốn giải trừ tai nạn cho nhân loại, đã đề xuất rất nhiều lý luận và phương pháp, thành các trường phái triết học, chính trị… có lúc cũng được đề cao là “bách chiến bách thắng” v. v… Nhưng kết quả thực tế thì ai nấy đều biết rõ :”có cũng như không”. Mấy ngàn năm nay, trên thế giới vẫn loạn lạc như cũ, còn có thể phát triển ngày càng thêm rộng lớn hơn ! Nguyên nhân thất bại là vì họ đã trị lầm căn bệnh, không xác định được chính xác nguyên nhân thực sự của căn bệnh, cho nên đau đầu mà chỉ trị tay chân, hay khá hơn, thì đau đầu trị đầu, đau chân trị chân… chứ chưa có cách nào trị toàn diện, tổng thể của căn bệnh !?

   Lại có rất nhiều người, xem những thứ “Tự Ngôn Tự ngữ” trong thân thể là chẳng có gì quan trọng, vì cho đó là tác dụng phản xạ của làn sóng điện bộ não sanh ra, toàn là chuyện không đáng kể. Đó cũng là một sai lầm, vì họ không biết được cái TA THẬT (Pháp Thân) của mình nên mới có thứ thác giác nầy. Ở trong những bài phát biểu trước, chúng tôi đã phân tích rõ ràng về sự không chính xác của nhận thức đó rồi.

   Tóm lại, trên thế giới hiện nay, các sách nghiên cứu về thân thể con người chất cao như núi, rộng như biển, nhưng quả thật chúng tôi chưa phát hiện ra có bộ sách nào, đi sâu vào phát hiện về lĩnh vực Ý NIỆM một cách chính xác. Như thế, mọi người đã cho rằng, vấn đề đó chẳng có gì quan trọng so với việc hiểu biết về thân thể. Bây giờ, chúng ta lại nói rằng, việc nghiên cứu về Tâm cực kỳ trọng yếu hơn về Thân, chắc chắn mọi người sẽ bịt mũi lắc đầu.

   Nhưng, quý vị hãy bình tâm, chịu khó bỏ ra một chút suy nghĩ phân tích xem, cái thân thể thuần vật chất nầy tạo tác ra được hành động, cử chỉ, ngôn ngữ… có phải do Ý NIỆM chỉ đạo không ? Nếu lìa bỏ Ý NIỆM, cái thây ma nầy có còn xử dụng được chăng ?

(ct)
Trang: [1] 2 3 ... 361
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.259 seconds với 20 câu truy vấn.