Tháng Mười Hai 16, 2018, 10:12:16 pm -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 4
1  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỘI VIÊN GIAO LƯU - OFFLINE / Re: [TẶNG SÁCH] CÁC BẠN CÓ NHU CẦU vào lúc: Tháng Năm 02, 2016, 09:39:41 am
Bạn SCC tốt bụng lắm
2  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỎI GÌ - ĐÁP NẤY / XIN HỎI THÔNG TIN CỦA NHÀ SƯ GIÁC ĐÀNG vào lúc: Tháng Năm 01, 2016, 10:54:07 am
Xin quý vị cho vankhuc hỏi thăm thông tin về nhà sư GIÁC ĐÀNG, nhà sư là người tu ở núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh, trên núi có 1 cái hang, nhà sư đã trồng dây Thanh Long tại hang này nên đặt tên hang này là động Thanh Long.
3  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỎI GÌ - ĐÁP NẤY / Re: XIN NHỜ DỊCH GIÚP CHỮ HÁN TRÊN TẤM BIA MỘ NÀY vào lúc: Tháng Tư 18, 2016, 10:13:22 am
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN BẠN SCC
4  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / HỎI GÌ - ĐÁP NẤY / XIN NHỜ DỊCH GIÚP CHỮ HÁN TRÊN TẤM BIA MỘ NÀY vào lúc: Tháng Tư 15, 2016, 09:31:26 am
XIN NHỜ DỊCH GIÚP CHỮ HÁN TRÊN TẤM BIA MỘ NÀY
5  Đạo Gia Tư Tưởng Học / TIÊN GIA ĐẠO LÝ / Re: Ấn Ngọc Hoàng vào lúc: Tháng Ba 15, 2012, 02:11:26 pm
Ấn Ngọc Hoàng

6  Đạo Gia Tư Tưởng Học / ĐỒ HÌNH HỌC / Re: giúp gấp ạ! vào lúc: Tháng Ba 08, 2012, 07:33:25 am
Mình đã hướng dẫn trong thư gửi bạn rồi đó minhtamvl

Câu này tặng bạn đó. Đạo Phật đơn giãn dễ hiểu là vậy
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Pháp cú Kinh)
7  Đạo Gia Tư Tưởng Học / ĐỒ HÌNH HỌC / Re: giúp gấp ạ! vào lúc: Tháng Ba 06, 2012, 08:47:59 am
Mình đã trả lời trong hộp thư tin nhắn của bạn rồi đó minhtamvl
8  Á ĐÔNG HỌC THUẬT / NGHIÊN CỨU - NHẬN THỨC - BIÊN KHẢO / BÍ KÍP BÌNH AN vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2011, 08:08:13 am
BÍ KÍP BÌNH AN


Sống một kiếp . Bình An là được .
2 bánh 4 bánh, đi được là được.
Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được
Người xấu người đẹp, dễ coi là được

Người già người trẻ, miễn khỏe là được
Nhà giàu nhà nghèo, hòa thuận là được
Ông xã về trễ, miễn về là được.
Bà xã càu nhàu, chăm lo là được.
Khi con còn nhỏ, dạy dỗ thật nghiêm
Tiến sỹ cũng được, bán rau cũng xong.
Sau khi trưởng thành, ngoan ngoãn là được.
Nhà to nhà nhỏ, có chỗ ở là được.

Hàng hiệu hay không, mặc được là được.
Tất cả phiền não, biết xả là được.
Kiên trì cố chấp, biết bỏ buông là được
Sống một kiếp người, bình an là được.

Không phải có tiền, muốn gì cũng được.
Tâm tốt việc tốt, có thể thay đổi số mệnh。
Ai đúng ai sai, Trời biết là được.
Tu phúc tu thân, kiếp sau càng tốt.

Thiên địa vạn vật, tùy duyên là tốt
Có rất nhiều việc, nhìn xa trông rộng
Mọi người đều tốt, ngày ngày đều tốt
Anh tốt tôi tốt, thế giới sẽ tốt

Nói tóm lại, tri thức là quan trọng nhất.
Nói nhiều như vậy, hiểu được là tốt,
Vẫn còn chưa hiểu, xem lại 2 lần

(Sưu tầm trên internet)

9  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / Miền Nam - Hoa Kiều - Khmer / TÍN NGƯỠNG THỜ ÔNG TÀ vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2011, 01:21:53 pm
Tín ngưỡng thờ Neak Tà trong cộng đồng người Khmer tỉnh Trà Vinh
Ông Tà được thờ trên đỉnh núi Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Hiện nay, tỉnh Trà Vinh có dân số khoảng 1,1 triệu người. Đây là vùng đất tụ cư lâu đời của người Khmer, người Việt, người Hoa và một số ít người Chăm. Trong đó, về dân tộc ít người, người Khmer chiếm một phần ba dân số toàn tỉnh Trà Vinh, còn người Hoa có khoảng 15.000 người và người Chăm có khoảng 100 người (1). Văn hóa dân gian của người Khmer Trà Vinh mang nhiều nét độc đáo, trong đó có tín ngưỡng thờ Neak Tà. Tín ngưỡng này được xem là một giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh nói riêng và Nam bộ nói chung.

 

1. Thần Neak Tà là ai ?

Người Khmer ở Campuchia có tục thờ Neak Tà (còn gọi là Nak Tà) trong các phum của họ và xem đó là thần bản thổ (2). Họ còn có cả một câu chuyện dân gian giải thích về nguồn gốc của Neak Tà (3). Trên đường đi vào các phum sóc của người Khmer ở Trà Vinh có nhiều Sala (4) và miếu thờ Neak Tà. Neak Tà thường được thờ tượng trưng bằng vài hòn đá to và nhiều hòn đá nhỏ hình bầu dục nhẵn bóng tự nhiên.

Vậy Neak Tà là ai? Đã có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Moura (1883) cho rằng Neak Tà là những vị thần các cánh đồng hay khu vực mà người ta cầu xin khi có công việc và Neak Tà có nguồn gốc Bà La Môn giáo. Ông đặt các vị thần này trong vũ trụ quan của tôn giáo đó : “Những Neak Tà có từ khi các xứ sở được thành lập và chính Preak In (Indra) đã giao cho họ công việc trông coi các xứ sở này”. Adhémar Lecclère (cuối thế kỷ XIX) cho Neak Tà “là hồn của những người đã chết từ lâu”. Monod (1931) lại cho Neak Tà “là các vị thần đồng áng hay thần ở trong rừng mà người ta phải cầu xin khi có công việc liên quan đến khu vực này”. Quan niệm cho rằng Neak Tà có nguồn gốc Bà La Môn giáo cũng được L.Malleret (1946) tán thành. Ông lấy vị thần Neang Khmau (Bà Đen) trong tín ngưỡng của người Khmer làm minh chứng. Éveline Porée Maspéro khác những ý kiến trên và dẫn chứng có trường hợp Neak Tà là một con vật.Theo Phan An thì có thể tục thờ Neak Tà ở người Khmer là tàn dư của tín ngưỡng thờ đá có ở Nam Á. Tóm lại, những quan niệm trên về Neak Tà của các học giả trong và ngoài nuớc, tuy có nhiều chỗ khác nhau, nhưng đều có chung một quan niệm Neak Tà là thần bảo hộ (5).

Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia đều cho rằng Neak Tà là thần bảo hộ phum sóc (6)- giống như Thành Hoàng ở các làng của người Việt. Neak Tà được phân thành nhiều dạng khác nhau mà dễ dàng nhận thấy ở giá trị của các lễ vật được cúng tế. Người Khmer tổ chức cúng Neak Tà Méchas Srok (Ông Tà chủ xóm) bằng đầu heo, còn cúng Neak Tà xóm rạch bằng gà, vịt. Neak Tà nào cũng có miếu thờ ở trung tâm phạm vi ảnh hưởng.Về tên gọi Neak Tà hay Nat Tà (người Việt gọi là Ông Tà) thì Neak hay Nat là con người nói chung và Tà là người đàn ông đứng tuổi. Có nhiều dạng Neak Tà được thể hiện bằng tên động vật, thực vật, địa vực (bến đò…) hay tên nhân vật lịch sử, nhân vật trong truyện cổ tích, huyền thoại, có khi là tên của vị thần thuộc Bà La Môn giáo…

2. Thần Neak Tà trong đời sống văn hóa người Khmer tỉnh Trà Vinh

Ở Trà Vinh, cũng có nhiều dạng Neak Tà như : Neak Tà Xam rông (cây Trôm), Neak Tà Dom Chey (cây Đa), Neak Tà bến đò, Neak Tà giếng vẹo, Neak Tà bến Bình An. Ngoài ra, còn có một số Neak Tà ở ngã ba, ngã tư sông như Neak Tà Ok và Neak Tà Rumpotmia. Còn Neak Tà Wat được thờ ở các khuôn viên chùa như : Chùa Ông Mek (Phường 1, Thành phố Trà Vinh), chùa Chim (Phường 7, Thành phố Trà Vinh), Neak Tà chùa Phướn (Phường 7, Thành phố Trà Vinh), chùa Xoài Xiêm (Xã Ngãi Xuyên, huyện Trà Cú), chùa Bãi Xào Dơi (Xã Thanh Sơn, huyện Trà Cú)… Đặc biệt, ngoài hình tượng Neak Tà là những hòn đá theo kiểu thờ truyền thống giống như nhiều nơi khác ở Đồng bằng sông Cửu Long (Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau…), thì riêng tại Phường 8 và Phường 9 (Thành phố  Trà Vinh), Ấp Quy Nông A, Quy Nông B (Xã Hòa Lợi, Huyện Châu Thành), Neak Tà được đắp tượng và thể hiện là một ông già tay cầm gậy hoặc cầm chày, cối giã thuốc…Điều này phản ánh sự thay đổi quan niệm, tư duy của con người, cụ thể là từ trừu trượng chuyển sang cụ thể của người Khmer ở những nơi này.  Vậy, Neak Tà ở đây không còn là một vị thần chung chung, mà đã mang một dáng dấp cụ thể, phù hợp với quan niệm của người dân tại các địa phương khác nhau. Phải chăng đây là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa do quá trình tiếp xúc tộc người (Việt, Hoa, Khmer) và sự phát triển kinh tế, xã hội ở những địa phương trên ?

Neak Tà đối với người Khmer Trà Vinh không chỉ là thần bảo hộ mà còn là thần ban phúc, giáng họa, thần xét xử, thần chữa bệnh... Trước kia, khi có xích mích, khiếu kiện, nghi kị lẫn nhau họ đến miếu Neak Tà để giải quyết bằng cách thề thốt trước sự chứng dám của Ông. Người bị bệnh thường đến đây khấn và hứa trả lễ khi lành bệnh. Ai mất mát đồ đạc gì cũng khấn Neak Tà nhờ tìm và chỉ giúp. Lời khấn, qua tư liệu sưu tầm thực tế, về đại thể như sau:

- Phần khấn: Vái Neak Tà… cho tôi… (điều mà người Khmer mong ước),

- Phần hứa trả lễ : Nếu được như lời khấn, tôi sẽ cúng… (vật phẩm). Lễ vật là nải chuối hoặc con gà, con vịt hoặc đầu heo…,tùy thuộc vào mức độ quan trọng của sự việc cầu xin và lời khấn.

Người Khmer Trà Vinh có hai loại tín ngưỡng phổ biến: Arăk và Neak Tà. Cả hai đều là thần bảo hộ, nhưng trong tâm thức của họ, thì Neak Tà có vị trí cao hơn hẳn Arăk, bởi phạm vi ảnh hưởng của Neak Tà thường là cả cộng đồng trong phum sóc. Có trường hợp còn mở rộng ra đối với nhiều phum sóc, còn phạm vi ảnh hưởng của Arăk chủ yếu trong gia đình, dòng họ. Đối với người Khmer, Neak Tà được coi là vị thần cai quản có quyền lực nhất trong phum sóc tương tự như Thành Hoàng Bổn Cảnh của người Việt. Tuy nhiên, mỗi phum sóc của người Khmer có thể có nhiều Neak Tà, trong đó Neak Tà Méchas Srok (ông Tà chủ xóm) là thần bảo hộ có địa vị cao nhất.

Miếu thờ Neak Tà của người Khmer ở Trà Vinh có nhiều loại. Loại miếu thờ đơn giản được làm bằng tre, lợp lá dừa nước trầm, nhà sàn hoặc nhà đất, thường làm dưới gốc cây trong khuôn viên một phum nhỏ hay dựng ở một góc ruộng. Loại miếu lớn hơn, thường được xây bằng gạch ở hướng đông bắc trong khuôn viên chùa, hay một điểm nào khác trong phum sóc. Loại miếu này dành cho Neak Tà Wat (Neak Tà chùa) và Neak Tà Méchas Srok (Neak Tà chủ xóm).

Hàng năm, người Khmer trong mỗi phum sóc cúng Neak Tà một lần vào trước mùa mưa, khoảng tháng 4 âm lịch. Hiện nay, nếu so với các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu thì ở Trà Vinh có nhiều miếu thờ Neak Tà hơn và có nghi thức thờ cúng khá phức tạp với thời gian hành lễ kéo dài từ 2 - 3 ngày. Điều này đã được Nguyễn Xuân Nghĩa ghi nhận từ năm 1978 (7).  Qua quan sát của chúng tôi vào năm 2008, một số nơi tiêu biểu ở Trà Vinh tổ chức cúng Neak Tà như : Miếu Neak Tà tại xã Lương Hòa cũ (nay là Phường 8, Thành phố Trà Vinh) vào ngày 14 tháng 4 âm lịch, miếu Neak Tà gần chùa Phướng (Khóm 8, Phường 9, Thành phố Trà Vinh) vào ngày 16 tháng 4 Âm lịch, miếu Neak Tà tại Ấp Phố Giữa (Xã An Quảng Hữu, Huyện Trà Cú) vào ngày 17 tháng 4 Âm lịch.... Tín ngưỡng thờ Neak Tà ở Trà Vinh là yếu tố liên kết, tập hợp cư dân trong phum sóc. Cúng Neak Tà có sự tham gia của toàn cộng đồng. Họ tự nấu những thức ăn theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, thường là một món canh, một món mặn - rồi lần lượt đem thức ăn đến miếu Neak Tà dâng cúng. Cúng xong, các vị sư không trở về chùa mà dùng bữa tại miếu. Sau đó, đến lượt mọi người trong phum sóc cùng ăn. Trong khi ăn, họ bàn bạc với nhau về công việc, về sức khỏe và chia sẻ với nhau nhiều kinh nghiệm về việc đồng áng, việc làm ăn…Người Khmer Trà Vinh gọi bữa cơm này là bữa cơm đoàn kết (samaky). Đặc biệt, tính cộng đồng và dân chủ được thể hiện rõ trong buổi lễ này. Việc phụ nữ cùng ăn chung, ngồi chung trong miếu với đàn ông, hay  việc trẻ con có quyền ngồi ăn mâm riêng với đầy đủ thức ăn như người lớn là một điều không bị cấm đoán, không hề bị la rầy. Việc mời một hay nhiều khách tình cờ tham dự cùng ăn chung bữa cơm, uống chung ly rượu với họ là một việc rất bình thường.

Nếu ngày xưa, khi cộng đồng bị uy hiếp, bị thiên tai, địch họa, dịch bệnh hay những việc hệ trọng khác như cầu mưa đầu mùa thì các con sóc (từ của người Khmer gọi những người cùng sóc) họp nhau làm lễ Bon ban chan Neak Tà (nhập xác Neak Tà) để hỏi ý kiến về nguyên nhân của tai họa cũng như hướng giải quyết. Còn ngày nay, việc nhập xác Neak Tà ở Trà Vinh không còn nữa một phần do xã hội ngày càng tân tiến, một phần do tín ngưỡng này bị Phật giáo lấn át. Trong nghi thức cúng Neak Tà của người Khmer Trà Vinh hiện nay thường có các vị sư tụng kinh và lễ này được coi là lễ cầu an của Phật giáo. Nhưng nếu quan sát kỹ, ta thấy đó chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài, còn thực chất các thức cúng trên bàn thờ là những lễ vật cúng cho thần chứ không phải cho Phật. Bởi ngoài cơm, canh, thịt mặn xào, người ta còn để chai rượu trắng là một trong những thứ thuộc giới cấm của Phật giáo. Rõ ràng có sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Neak Tà của người Khmer, thông qua vai trò chính của các vị sư trong các buổi lễ cúng Neak Tà từ tụng kinh, thuyết pháp, cầu an đến cầu mưa. Các vị sư chỉ nhường vai trò cho các Achar ở phần  cúng  sau cùng. Nếu quan sát kỹ ở  phần sau này, tuy là chiếm thời lượng rất ít trong chương trình cúng tế, nhưng nó mang đậm chất dân gian, diễn tả một cách chân thực các nghi thức cúng Neak Tà trước khi chịu ảnh hưởng Phật giáo. Thức cúng cho Neak Tà như đã nói là cơm, rượu, thịt và đặc biệt là đầu heo (thông thường là luộc chín, nhưng có nơi để sống). Khi cúng xong, các vị sư tụng kinh dẫn đầu đoàn người trong phum, sóc kiệu (có nơi các thanh niên thay nhau khiêng trên vai) Neak Tà (là một hòn đá to nhất trong miếu) đi vòng phum, sóc trong tiếng reo hò, hoan hỉ của mọi người. Các con phum, con sóc tranh nhau chạm tay vào Neak Tà, vì họ tin rằng làm như thế sẽ được Neak Tà ban bình an, phúc lộc và may mắn.

Ngày nay, có một điều cần ghi nhận là sau gần ba  thế kỷ cùng cộng cư ở Trà Vinh, thông qua quá trình giao lưu văn hóa với người Việt và người Hoa, mà nhất là người Hoa, tín ngưỡng Neak Tà của người Khmer đã có sự pha trộn với tín ngưỡng thờ Thần, thờ Quan công của người Hoa. Trong một số miếu thờ Neak Tà của họ, ngoài thờ những hòn đá tượng trưng cho Neak Tà thì ở phía sau là một tấm vải đỏ viết chữ Thần (hoặc được sơn đỏ lên vách phía sau và viết chữ thần lên đó). Bên cạnh những hòn đá tượng trưng cho Neak Tà còn có ảnh Quan Công là vị nhân thần rất được người Hoa sùng kính. Hình thức thờ có tính hỗn dung văn hóa trên đây được thấy ở nhiều nơi tại Trà Vinh như : Các miếu Neak Tà ở xã Lương Hoà cũ (nay là Phường 8, Thành phố Trà Vinh), ở xã An Quảng Hữu, huyện Trà Cú. Trong quá trình cộng cư, tiếp xúc sẽ dẫn đến quá trình giao thoa văn hóa lẫn nhau. Vì vậy, người Khmer ở Trà Vinh lần hồi đã dung nạp các hình thức tín ngưỡng dân gian của người Việt, người Hoa. Ngược lại, người Việt, người Hoa địa phương cũng tiếp nhận, tôn thờ tín ngưỡng Neak Tà trong đời sống tinh thần, tâm linh của họ. Quan sát ở những nơi cư trú của người Việt và người Hoa trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cho thấy những miếu thờ Neak Tà của người Khmer trước đó được tôn tạo và dung hợp với tín ngưỡng thờ thổ thần, phúc thần. hoặc thờ cô hồn…. Rồi tín ngưỡng thờ Neak Tà tồn tại trước cổng đình thần ấp Ngã Ba, xã An Quảng Hữu (Bắc Trăng) ở huyện Trà Cú.

3. Kết luận

Qua tìm hiểu bước đầu về tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer tỉnh Trà Vinh, chúng tôi có một vài nhận xét như sau:

_ Thứ nhất, tín ngưỡng thờ Neak Tà là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh của người Khmer ở Trà Vinh. Đồng thời, loại hình tín ngưỡng dân gian này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với Phật giáo Theravada của cộng đồng Khmer Trà Vinh nói riêng và Nam bộ nói chung. Qua quá trình cộng cư với người Việt và người Hoa, tín ngưỡng thờ Neak Tà, ngoài bảo lưu các yếu tố văn hóa truyền thống và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Theravada, còn tiếp nhận và ảnh hưởng một số hình thức tín ngưỡng dân gian của người Việt và người Hoa tại địa phương. Đây là một biểu hiện cụ thể, sinh động về quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người này ở Trà Vinh.

_ Thứ hai, loại hình tín ngưỡng dân gian này, như đã khẳng định, mang nhiều giá trị văn hóa của người Khmer. Vì vậy, cần bảo tồn, tôn tạo, chỉnh trang những cơ sở tín ngưỡng tiêu biểu của phum sóc, gắn liền với các lễ hội truyền thống của người Khmer ở Trà Vinh, phục vụ cho việc phát triển du lịch văn hóa hiện nay ở địa phương.

_ Thứ ba, cần phải nhanh chóng xóa bỏ tệ mê tín dị đoan, điển hình là việc lên đồng, xin xăm, bói toán ở miếu Neak Tà Ao Bà Om - một địa điểm linh thiêng và là nơi tổ chức nhiều lễ hội truyền thống của người Khmer, thu hút sự tham gia đông đảo của cư dân các dân tộc trong và ngoài tỉnh Trà Vinh và khách du lịch nước ngoài.

_ Thứ tư, với tư cách là hình thức tín ngưỡng của cộng đồng, nên tục thờ Neak Tà có ý nghĩa văn hóa đối với cộng đồng, đặc biệt là sợi chỉ để kết nối cộng đồng lại với nhau, là một gạch nối giữa truyền thống và hiện đại của đồng bào Khmer Trà Vinh hiện nay. Do vậy, nếu biết phát huy vai trò của tín ngưỡng, của lễ cúng Neak Tà trong kết hợp với việc tuyên truyền những chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước thì rất tốt. Chẳng hạn, qua thực tế điền dã của chúng tôi,  trong lễ cúng Neak Tà  vào tháng 5 năm 2007 tại Khóm 4, Phường 8, Thành phố Trà Vinh cũng như nhiều miếu khác trong tỉnh, chính quyền địa phương đã biến những nơi này thành buổi lễ tuyên truyền cổ động và thùng phiếu cũng được đặt tại đây để bà con đi bầu cử Quốc hội Khoá XII.

 

Th.s. Lâm Quang Vinh (Trường Đại học Trà Vinh)

 

 

 

Chú thích

(1): Theo www.travinh.gov.vn.

(2): Cao Xuân Phổ, “Sức mạnh của văn hóa truyền thống Khmer”, in trong: Viện Văn hóa, Tìm hiểu lịch sử  văn hoá Campuchia (tập1 ), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983, trang 140.

(3): Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Khmer, Truyện cổ tích Khmer (tập 8), Nxb. Giáo Dục Thanh Niên và Thể Thao Campuchia, Phnompenh, 2001, trang 63-68 (Tiếng Khmer).

(4): Một ngôi nhà sàn hoặc nhà nền đất, làm ở ngả ba đường nơi đông người qua lại, để khách vào nghỉ ngơi lúc lao động và tránh mưa nắng. Nơi đây cũng có miếu thờ Ông Tà (Neak Tà) trong đó bàn thờ Ông Tà tượng trưng bằng mấy cục đá.

(5): Viện Văn hoá, Người Khmer Cửu Long, Sở VHTT Cửu Long, 1987, trang 64-65.

(6): Nguyễn Bặc, Bước đầu tìm hiểu phong tục tập quán Campuchia. In trong: Viện Văn hóa, Tìm hiểu lịch sử- văn hóa Campuchia (tập 2), NXb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1983, trang 171.

(7): Nguyễn Xuân Nghĩa,  Tàn dư các tín ngưỡng Arak và Neak Tà ở người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Dân tộc học số 3/1979.

 

Nguồn: Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 4/2010

10  Đạo Gia Tư Tưởng Học / TIÊN GIA ĐẠO LÝ / Re: KINH KIM CANG VẬN CHUYỂN-- 運 轉 金 剛 經 vào lúc: Tháng Chín 22, 2011, 07:58:28 am


Theo tôi được biết, HĐTK có tới 30 quyển bàn về các nội dung có liên quan. Gồm:
-     Thái thượng huỳnh đình nội kinh.
-     Thái thượng huỳnh đình nội cảnh ngọc kinh.
-     Thái thượng huỳnh đình nội cảnh ngọc kinh.
-     Huỳnh đình bí ngôn nội cảnh kinh.
-     Huỳnh đình nội cảnh kinh.
-     Huỳnh đình nội cảnh báo sinh diên thọ quyết.
-     Thái thượng huỳnh đình ngoại cảnh kinh.
-     Huỳnh đình bí ngôn ngoại cảnh kinh.
-     Huỳnh đình trung cảnh kinh.
-     Huỳnh đình ngoại cảnh ngọc kinh chú quyết.
-     Huỳnh đình nôi ngoại ngọc cảnh kinh.
-     Thái thượng huỳnh đình nội ngoại cảnh kinh.
-     Huỳnh đình ngọc cảnh nội thiên.
-     Huỳnh đình ngọc cảnh thiên.
-     Huỳnh đình nhị cảnh tam hoàng nôi phổ.
-     Huỳnh đình ngũ tạng đạo dẫn ngọc trục kinh.
-     Huỳnh đình ngũ tạng đồ.
-     Lão tử Huỳnh đình nội thị đồ.
-     Huỳnh đình nội tạng nội cảnh đồ.
-     Huỳnh đình ngoại cảnh đồ.
-     Huỳnh đình ngũ tạg đạo dẫn đồ.
-     Huỳnh đình đồ chứng quyết.
-     Huỳnh đình tập quyết.
-     Huỳnh đình kinh quyết tụng.
-     Huỳnh đình ngũ tạng luận.
-     Huỳnh đình ngũ tạnh kinh.
-     Huỳnh đình nội cảnh chân hình lục.
-     Huỳnh đình dưỡng thần kinh.
-     Huỳnh đình nội cảnh ngũ tạng lục phủ đồ.
-     Huỳnh đình nội cảnh ngũ tạng lục phủ bổ tả đồ.
Ngoài ra Minh Sử Ngệ Văn Chí Bổ biên còn bổ sung thêm hai quyển, đó là:
-     Nội cảnh trung hoàng kinh.
-     Vô tiên tử san chính Huỳnh đình kinh.
Huỳnh đình kinh là một đạo kinh rất nổi tiếng và được các Đạo gia xem trọng. Các tác phẩm huỳnh đình kinh nói trên đều thể hiện quan điểm: “Thân thể con người có thần linh”. (Có nhiều ý kiến nói rằng nếu trì tụng hàng ngàn lần có thể bước vào hành ngũ tiên, thánh). Được biết ở Việt Nam năm 1977 huỳnh đình kinh đụơc phát hành ở dạng Ronéo của BS Nguyễn Văn Thọ. Năm 2003, Nhà xuất bản VHTT cho xuất bản quyển Lược khảo Huỳnh đình kinh do Lê Anh Minh dịch từ nguyên tác Đức ngữ của Dr. Rolf Homann.
11  QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG / Tìm người thân / TÌM LẠI THẦY BỊ THẤT LẠC vào lúc: Tháng Tám 09, 2011, 02:40:46 pm
Vankhuc hiện đang tìm 3 người Thầy với những thông tin dưới đây. Bạn nào biết thông tin gì về 3 thầy này thì liên hệ với mình. Xin chân thành cảm ơn các bạn.

1. Thầy Trương Minh Hiến - tuổi Hợi - Trước năm 1975 làm việc tại Hải Đội 1 - Đà Nẵng. Quê ở Cai Lậy - Tiền Giang.

2. Thầy Nguyễn Yên - tuổi Dậu hoặc Tuất (không nhớ rõ) Trước năm 1975 làm việc tại Trung Tâm Hành Chánh - Tài chánh ở Thanh Bình - Đà Nẵng.

3. Thầy Ngô Văn Ngàn - tuổi Thìn - Quê ở Định Trường - Long An.

Thông tin để xác định: "Sư Hường (trước 1975 làm thanh tra Hải Quân ở Đà Nẵng) nhắn tìm các Thầy"
12  Á Đông Dưỡng Sinh Thuật / NHÂN ĐIỆN - CẢM XẠ - YOGA / Re: MA ÁM VÌ MỞ LUÂN XA vào lúc: Tháng Bảy 22, 2011, 01:49:27 pm
VẬY , PHẢI THẬN TRỌNG VỚI VIỆC HỌC MỞ LUÂN XA NÀY. BẠN LOC82 ĐỌC BÀI NÀY CHƯA.
13  TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ / VĂN HÓA - PHONG TỤC - TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC / Re: GÓP PHẦN SƯU TẦM "SẤM TRẠNG TRÌNH" CHỮ HÁN vào lúc: Tháng Bảy 13, 2011, 09:11:35 am
(tiếp theo)
*Bài  3:-
Bài nầy đọc được bằng hai cách, vì chữ Hán cổ đọc theo thứ tự  từ trên xuống dưới và từ phải qua trái.

*Cách 1:- Đọc từ trên xuống:-

寶玉君明天越阮
山中師道地南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

*Âm:-

Bửu ngọc quân minh thiên việt nguyễn
Sơn trung sư đạo địa nam tiền
Kỳ niên trạng tái tân phục quốc
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên

*Chú thích từ:- (không dịch được)
-Bửu ngọc quân:- ông vua quí như viên ngọc báu
-Minh thiên:- ngày mai
-Việt:- vượt qua, nước Việt.
-Nguyễn:- họ Nguyễn
-Sơn trung:- trong núi
-Sư đạo:- ông thầy nói rằng
-Địa nam tiền:- trước phương Nam của đất
-Kỳ niên:- vào năm lạ kỳ
-Trạng:- tình trạng, ông Trạng nguyên
-Tái:- lần nữa
-Tân phục quốc:- mới phục quốc , làm mới lại đất nước.
-Hương xuất:- Mùi thơm bay ra
-Trình:- tâu lên, Trạng Trình
-Sanh:- sinh ra
-Tạo nghiệp:- làm nên sự nghiệp
-Yên:- vậy (tiếng đệm cuối câu)

*Cách thứ hai:- đọc ngang từ phải sang trái thành câu bốn chữ:-


寶山奇香
玉中年出
君師狀呈
明道再生
天地新造
越南復業
阮前國焉

*Âm:-
Bửu sơn kỳ hương
Ngọc trung niên xuất
Quân sư Trạng trình:-
Minh Đạo tái sinh
Thiên địa tân tạo
Việt Nam phục nghiệp
Nguyễn tiền, Quốc yên.

*Tạm dịch:-

Núi quí hương thơm lạ
Ngọc trong năm mà ra
Vua hỏi thì Trạng đáp:-
Minh Đạo lại  sinh ra
Trời đất sẽ đổi mới
Phục nghiệp nước Việt Nam
Trước :- Nguyễn;  sau :- Quốc vậy !

(có liên hệ đến Nguyễn Ái Quốc ?)

*Chú thích:- “Minh Đạo” :- là một học thuyết mang tính cách mạng, đổi mới, có nhiều mục tiêu canh tân cải tiến đất nước do Hồ Quí Ly chủ trương thời nhà Hồ. (Hồ Quí Ly cho chế tạo thuyền hai đáy, tiền bằng giấy v.v..)

(còn tiếp)
Thưa bác nhuocthuy.
Bài trên cái VK thấy còn có đổi một chút ở dòng thứ hai như sau:

Thứ 1
寶玉君明天越阮
山中師命地南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

Câu này sẽ biến thành
Sơn trung sư mạng địa nam tiền

Nếu đọc dọc từ trên xuống sẽ là:
Quân sư trạng trình
Minh Mạng tái sanh (Quân Sư Trạng TRình và Vua Minh Mạng tái sanh, )
Thiên địa tân tạo


Thứ 2
寶玉君明天越阮
山中師命道南前
奇年狀再新復國
香出呈生造業焉

Câu này sẽ biến thành
Sơn trung sư mạng đạo nam tiền.

Nếu đọc dọc từ trên xuống sẽ là
Minh Mạng tái sanh
Thiên đạo tân tạo

Vankhuc.
14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / NAM TÔNG / KINH NGỤY TẠO vào lúc: Tháng Sáu 21, 2011, 01:05:26 pm
KINH NGỤY TẠO – Apocrypha

Tác giả Prof. KYOTO TOKUNO, Ph.D (hình trên)
Dịch sang Việt: PHẠM DOÃN

Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ APOCRYPHA – KINH ĐIỂN NGỤY TẠO để gọi văn học Phật giáo phát triển ở nhiều khu vực Á châu giả mạo những văn bản Phật giáo có gốc từ Ấn độ. Mớ bong bong của ngụy thư có nhiều nét chung, nhưng chúng không bao giờ thống nhất bằng cùng một kiểu mẫu (style) văn học hay cùng một nội dung.

Kinh điển ngụy tạo (Apocrypha) có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển.Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thày có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Một số kinh ngụy tạo tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng giác ngộ ở Ấn Độ hoặc là người được truyền thừa tuệ giác đó từ một dòng phái chính thức, ví dụ như trường hợp “các bộ Thánh Thư Quí Báu” (Gterma) của Tây Tạng cho là đã được dấu kín và rồi được khám phá lại bởi những người đủ cơ duyên. Một số kinh ngụy tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, ví dụ như trường hợp bộ “Tiền thân Đức Phật” (Jataka) của khu vực Đông Nam Á. Như vậy cái phân biệt kinh ngụy tạo với Phật học bản xứ là kinh ngụy tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Sự tạo ra các văn bản ngụy tạo có mối liên hệ với bản chất của các bộ kinh Phật thật trong từng mỗi truyền thống. Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

Những đặc điểm chung ở trên đem đến một chỉ dẫn cho chức năng và mục đích của kinh ngụy tạo: Tích hợp tư liệu Ấn Độ vào những nội dung bản địa – đó có thể là tôn giáo, văn hóa xã hội, hoặc chính trị – bằng cách ấy nó xóa bỏ ý niệm rằng làm đồng hóa Phật giáo rất khó hoặc là không thể. Tác quyền trong văn bản truyền thống chính thức được mặc nhiên công nhận và thông qua để làm cho tôn giáo địa phương trở thành dễ hiểu đối với con người đương thời của vùng đất mới, nơi Đạo Phật được đưa vào. Thực tế lịch sử cho thấy, một vài văn bản giả đã đóng vai trò làm nhân tố phát triển nền văn hóa Phật giáo cục bộ địa phương, khi nó trở thành một phần của văn bản trong hay ngoài của kinh điển thực. Không phải tất cả kinh giả chỉ thuần túy nhằm mục đích phổ biến Phật giáo. Ví dụ, vài kinh giả Trung quốc đều cố ý đồng hóa những phong tục và cách thực hành tôn giáo có tính cục bộ địa phương bằng cách mạo nhận đấy là giáo pháp của Đức Phật.. Những ví dụ đó cho thấy (sức mạnh từ) thẩm quyền của thánh điển đã khiến sản sinh ra mảng văn học vượt ra ngoài giáo pháp thực sự của Đạo Phật, đồng thời tạo ra một loại hình văn bản thể hiện những nội dung tôn giáo cục bộ địa phương.

Trong bộ sưu tập các kinh giả, phải nói “kinh dị” nhất là các kinh giả của Đạo Phật Đông Á. Các kinh này mạo nhận cấp bậc cao nhất của truyền thống Ấn Độ bằng cách tự nhận là lời nói của chính Đức Phật. Hiển nhiên khi kinh ngụy tạo mạo nhận là thánh điển, nó không thể không bị phát hiện bởi các nhóm bảo thủ hay tư do trong cộng đồng Phật tử. Trong thời kỳ trung cổ các kinh giả trở thành đối tượng bị khinh bỉ nhưng ngược lại chúng cũng đã trở nên công cụ và lực lượng vật chất làm biến đổi ý nghĩa của Phật giáo.

Như vậy kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc là hình ảnh thu tóm tất cả sự phức tạp xung quanh các vấn đề lịch sử, lí lịch và chức năng của nó bao gồm một lãnh vực rộng hơn trong kinh điển Phật giáo.
Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung Quốc được viết hầu như đồng thời với lúc khởi đầu các hoạt động dịch thuật kinh Phật vào giữa thế kỉ thứ 2 sau công nguyên. Theo ghi chép của Đại Tạng kinh Phật giáo, con số kinh ngụy tạo gia tăng liên tục qua các thế hệ cho đến ít nhất vào thế kỉ thứ tám. Các nhà làm danh mục phê bình kịch liệt các ngụy kinh, theo chuẩn mốc của họ, là “không có nguồn gốc rõ ràng” hoặc “đầy nghi vấn” hoặc lên án các ngụy kinh đã làm sói mòn sự toàn vẹn việc truyền bá kinh điển Phật giáo tại Trung quốc. Bất kể sự phối hợp của tập thể các nhà soạn danh mục, đồng thời với hội đồng của triều đình cố gắng loại bỏ các ngụy kinh bản xứ, mãi tận đến lúc kết tập cho lần in kinh lần thứ nhất (tại Trung Quốc) tức ấn bản của nhà Bắc Tống (971-983) thì việc tạo ngụy kinh mới giảm xuống rồi ngưng lại. Sự xuất bản các ngụy thư ở Trung quốc như vậy đã làm nên “hiện tượng” của thời kì gọi là “kinh điển viết dưới dạng bản thảo”. Khi những bản thảo viết tay có nguồn gốc địa phương lại có thể được chấp nhận là kinh và được xếp vào bộ thánh điển, thì giữa ngụy thư và kinh điển đã trở thành một phạm trù mơ hồ (không phân biệt được).

Khám phá của chuyên gia thời hiện đại về các kinh điển ngụy tạo cho thấy tính phức tạp và khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo kiến thức, cũng như khả năng làm nhái các văn bản Phật giáo, của tác giả các ngụy kinh. Thật không dễ dàng cho các chuyên gia thư mục xác định được tính chính thống của kinh điển. Phải có kiến thức rất rộng về Phật học mới có thể truy tìm những văn bản ngụy tạo đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những loại người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật giáo, nhất là người đó lại có thêm kỉ năng văn chương. Ngoài ra, trong nghiệp vụ đã có lúc phải cần đến sự thỏa thuận trong cẩn trọng, ví dụ trường hợp của Bộ Lịch Đại Tam Bảo Kí (Lidai Sanbao Ji – Record of the three Treasures) xuyên suốt các triều đại; 597- vì không có lí do khác hơn là một cuộc tranh cãi cần để tẩy uế bộ thánh điển sạch các yếu tố ngoại lai có thể làm Đạo Phật vướng vào sự chí trích của các đối thủ tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng.

Vì khi tranh luận trong việc loại bỏ các yếu tố ngoại lai ra khỏi thánh điển có thể đưa Đạo Phật vướng vào sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng. Bộ Lịch Đại Tam Bảo Chí đã thêm vào nhiều nguồn tư liệu về tác giả và dịch giả không có thực, nhằm mục đích làm các văn bản của nó giống như của một bộ kinh thực sự chính thống. Và một khi các thuộc tính giả mạo được chấp nhận bởi bộ Thư Mục của triều đình (the Da-Zhou kanding zhongjing mulu – Danh mục kinh tạng, công bố bởi nhà Đại Chu năm 695) thì truyền thống Trung quốc buộc phải nhận thêm rất nhiều các văn bản giả tạo kiểu như thế vào bộ Đại Tạng Kinh. Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (Kaiyuan Shijiao Lu Record of Sakyamuni’s teaching), soạn vào đời Khai Nguyên năm 730- được cho là hay nhất trong tất cả các bộ Danh Mục Đại Tạng – Bộ này chỉ trích cả hai bộ Đại tạng trước đó. Nhưng chính bộ Khai Nguyên cũng không thể loại trừ tất cả những điều không chính xác trong quá khứ, điều này một phần cũng do ảnh hưởng nặng nề của truyền thống. Kinh ngụy tạo là một ví dụ lý tưởng cho sự lệch lạc giữa sự vận động và thỏa hiệp đạt được trong quá trình hình thành ra một truyền thống tôn giáo (bản xứ). Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc một phần nhờ sự tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc.

Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ. Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Di (538-597) [1], người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó. Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc. Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.
Văn bản và nội dung

Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích vừa trần gian vừa tâm linh. Một số các nhà chuyên môn đã dự định thực hiện “phân loại hệ thống” (Typological classification) đối với tất cả các ngụy thư còn tồn tại, nhưng điều này sẽ còn khó khăn cho đến khi đã nghiên cứu toàn thể các ngụy thư và thấu hiểu các nội dung tôn giáo và văn hóa xã hội của chúng. Sau đây là những phê bình có chọn lọc về những nguyên cớ cho sự xuất hiện của các kinh giả tạo, điều này phản ánh cái cách mà giáo pháp của Đức Phật đã bị đóng khung và bị suy diễn.

Chúng ta bắt đầu bằng hai ví dụ kinh ngụy tạo từ học thuyết Đại Thừa ủng hộ một lý thuyết hay một cách thực hành không có phiên bản tương ứng trong Phật giáo Ấn Độ. Thứ nhất cuốn Khởi Tín Luận (Dasheng Qixin lun) tái tạo Phật giáo chính thống bằng cách tổng hợp ba khuynh hướng chính của học thuyết Ấn Độ: Tánh không (Sunyata), A Lại Da Thức (Alayavijnana) và Thai Tạng giới (Tatha Gatagarbha). Kinh này nhằm đặt ra một bản thể luận cho tâm trí con người, theo đó Tâm trí có thể đồng thời vừa vô minh vừa có giác tánh nội tại. Sau khi xuất hiện ở thế kỉ thứ sáu, bộ Luận Khởi Tín có lẽ đã trở nên ví dụ nổi bật của sự tác động của kinh ngụy tạo vào sự phát triển của hệ tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, vì nó đã trở nên chất xúc tác cho sự hình thành các học thuyết của các giáo phái (pháp môn) bản xứ như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền Tông (TQ). Văn bản ngụy thư cũng là ví dụ chủ yếu cho phương cách của một tác giả bản xứ chọn lọc phù hợp và tổng hợp một cách thông minh những văn bản Ấn Độ sao cho thích nghi hoàn hảo với bản chất tôn giáo Trung Quốc. Trường hơp thứ hai, cuốn Kinh Kim Cang Định (Jin’gang sanmei jing, Vajrasamadhi sutra) được tạo ra bằng sự pha trộn hỗn tạp tất cả các học thuyết Đại Thừa, nhằm cung cấp một nền tảng cho một hệ thống thực hành thiền và khẳng định hiệu quả giải thoát của hệ thống đó. Đây là một trong những những bản kinh lâu đời nhất của Thiền Tông của Trung Quốc và Đại Hàn, vì vậy có tính tiêu biểu lịch sử. Không giống trường hợp của các kinh ngụy tạo khác đã bàn đến trong bài viết này, một nghiên cứu cho rằng kinh này thực sự là tác phẩm của Đại Hàn từ thế kỉ thứ 7 (theo Buswell 1989). Bản ngụy kinh này, cùng với ngụy kinh tại Nhật bản đã đề cập ở phần trước, chính là thước đo cho mối liên hệ hữu cơ có được giữa Phật Giáo Trung Quốc với phần còn lại của Đông Á, và cũng cho thấy có sự kích động lan tràn của việc tạo tác kinh bản xứ ở khắp khu vực.

Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như Kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nổ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt. Cũng phải nói đến những vấn nạn phát sinh khi đặt để những trói buộc có tính thế gian lên tăng đoàn và tăng sĩ. Sự pha trộn giữa giáo pháp và các mối quan tâm trần tục chính là điểm tiêu biểu cho các kinh ngụy tạo, như ta sẽ thấy dưới đây.

Có loại kinh ngụy tạo đưa ra giới luật nhấn mạnh một cách đặc biệt vào giới cư sĩ. Loại kinh như thế gồm các kinh như Piluo sanmei jing – the Scripture of the absorption of Piluo, Tiwei Jing – The scripture of Tiwei và Chingjing Faxing Jing – the Scripture of pure religious cultivation. Các ngụy kinh này dạy hướng dẫn đạo đức cơ bản cho cư sĩ, như ngũ giới, thập thiện, sự quan trọng của cúng dường tất cả được dựng trong học thuyết của Nghiệp và Tái sanh. Năm giới cư sĩ được cho là điều kiện đủ để đạt tới giác ngộ của Phật, một con đường cực kì đơn giản vạch ra để động viên sự tham gia của cộng đồng cư sĩ vào thực hành Đạo Phật. Những giới đó còn thường được coi như tối cao hơn năm đức của Khổng Giáo, hơn sự rối rắm siêu hình của thế giới quan cổ đại của người Trung Quốc, kể cả hệ thống âm dương, ngũ hành và năm tạng của Y học Lão Giáo. Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

Luật nghiệp và tái sanh được đề cập ở trên là một chủ đề có khắp mọi nơi hay một hậu cảnh của kinh ngụy tạo. Văn bản được biết một cách phổ biến ví dụ như kinh Thập Điện Diêm Vương (the Shiwang Jing, the Scripture of the Ten Kings) minh họa giáo lý Đạo Phật Ấn Độ cho độc giả Trung Quốc bằng cách mô tả sự thanh tẩy sau khi chết. Sau khi chết, mỗi người phải lần lượt đi qua mười cửa địa ngục, mỗi địa ngục cai quản bằng một phán quan; số phận của của môt người sau khi chết tùy thuộc vào sự xét xử hành động của người đó lúc còn trên trần thế. Địa ngục kiểu phong kiến này là một sự đổi mới để phản chiếu cấu trúc chính trị-xã hội Trung Quốc. Ảnh hưởng rộng khắp của kinh này có thể được chuẩn hóa từ nhiều tranh ảnh, đá điêu khắc và tượng về Thập Điện Diêm Vương- với chuẩn mực trang phục, mũ mão truyền thống của các quan chức Trung Quốc- tất cả thấy ở nhiều nơi trong thời Trung cổ.

Các kinh ngụy tạo là sản phẩm ở những không gian và trong những thời gian đặc biệt, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có sự phê phán tình trạng tôn giáo đó, hay sư phê phán toàn thể xã hội, cả cấp quốc gia mà chính sách của nó đã thực hiện đối với Đạo Phật. Những phê phán như thế đã thường thể hiện trong khái niệm về thuyết Mạt Thế gọi là Thời Mạt Pháp truyền vào từ các nguồn Ấn Độ.. Kinh Nhân Vương (Renwang Jing, Humane King sutra) mô tả sự thoái hóa tất cả các tầng lớp xã hội, thiên tai, dịch bệnh, quyền kiểm soát đất nước, sự suy đồi biến dạng Đạo Phật, buông lơi giới luật của Phật tử. Giải pháp được đề xuất cho khủng hoảng này là sự hoàn thiện Tuệ giác (trí huệ bát nhã), cái được tin là có thể khôi phục trật tự tôn giáo xã hội và ngay cả bảo vệ được sự diệt vong của đất nước. Kinh được phổ biến rộng trong thời Trung cổ của khu vực Đông Á, đặc biệt là trong giới cầm quyền ít nhất cũng là vì nó cũng khẳng quyết về việc bảo vệ quốc gia. Kinh Tỳ kheo Nguyệt Quang (Shoulo biqiu Jing – Scripture of Bhiksu Shoulo) đưa ra một giải pháp khác cho thời Mạt Pháp: Nó tiên tri một đấng cứu thế xuất hiện, Nguyệt Quang, vào lúc khủng hoảng và suy đồi đã đến lúc cực điểm. Một thông điệp cứu thế như vậy dĩ nhiên không thể không có cội nguồn từ Phật Giáo Ấn Độ- giáo phái thờ phật tương lai Di Lặc là một ví dụ- nhưng sự đề xuất một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại có thể dễ bị giải thích như một sự lật đổ chính trị và là một thách thức cho nhà cầm quyền của chế độ thế tục. Kinh này là một kinh ngụy tạo đã bị thất lạc được tìm thấy tại Đôn Hoàng 1400 năm sau lúc có bằng chứng là nó được sáng tác.

Phần bài viết tới đây chỉ chạm đến một phần rất nhỏ câu chuyện về Kinh Phật Giáo ngụy tạo. Ngay cả khi đã được làm rõ, Kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hộ bản địa Trung Quốc. Tuy vậy chúng cũng cung cấp tài liệu vật chất cho các nghiên cứu liên văn hóa và nghiên cứu đối chiếu các thánh điển, các kinh trong các truyền thống tôn giáo khác nhau.
Chú thích của người dịch

[1] Trí Di (chữ Hán: 智顗; Wade-Giles: Chih-i; 538 – 597) được coi là Tổ thứ tư của Thiên Thai tông; đệ tử của Huệ Tư, Tổ thứ ba của Thiên Thai tông.
Ông tu trên núi Thiên Thai thuộc tỉnh Chiết Giang 22 năm cho đến khi mất để nghiên cứu Phật học. Tùy Dưỡng Đế đã ban cho ông danh hiệu Trí Giả, nên ông được người đời tôn xưng là Trí Giả đại sư hay Thiên Thai đại sư.
Hầu hết các sách tiếng Việt đều phiên tên ông là “Trí Khải“. Tuy nhiên tên đúng của ông phải là Trí Di. Encyclopædia Britannica (Từ điển Bách khoa Britannica) đã viết rõ về vấn đề này như sau, trong mục từ Chih-i:
Pinyin Zhiyi, also called Chih-k’ai Buddhist monk, founder of the eclectic T’ien-t’ai (Japanese: Tendai) Buddhist sect, which was named for Chih-i’s monastery on Mount T’ien-t’ai in Chekiang, China. His name is frequently but erroneously given as Chih-k’ai.
Source
[/color]
15  Thư Viện / Tôn Giáo - Tâm Linh / KINH THIÊN LÔI vào lúc: Tháng Tư 22, 2011, 02:31:32 pm
KINH THIÊN LÔI
(sưu tầm)



Ông hét ra lửa, Ông sửa trái sai - Thiên binh Thiên tướng xuất tài - Giữa hai bảy Tết các Ngài điều binh - Vẳng nghe tiếng dục Thiên Đình - Bút Thần xuất Tướng viết KInh gửi đời - Ầm ầm pháo nổ trên Trời - Hét ra tiếng nói gọi người Trần gian - Lệnh của Trời Đất đã ban - Gieo mưa xuống thế khỏi than kêu Trời

Lệnh Ông Sấm Sét Thiên Lôi

Thiên Đình cho thét vang trời Kỷ Nguyên

Trần gian nhốn nháo chẳng yên

Thấy sự kiện lạ hiển nhiên ở đời

Mùa Đông có sấm vang trời

Báo tin thay đất đổi đời từng phương

Tâm linh vũ đạo chiến trường

Roi Sắt Mắt Sắt diệt phường bất nhân

Mà buông mưa xuống cõi Trần

Để cho nước uống, thần dân mong chờ

Bấy nay đến tháng hẹn giờ

Có Thơ Trời giáng có Cờ Tiên trao

Kể từ người khó, kẻ nghèo

Giàu sang, cậu mợ chẳng theo Lệnh này

Của cải sẽ mất trắng tay

Nhà cao cửa rộng cũng bay lộn nhào

Phút giây giông tố ào ào

Hôm nay Sấm Sét gửi vào Bút Tiên

Trên Trời cho phận con yên

Còn ai có đức kêu lên mà cầu

Cầu Ông Sấm Sét trên đầu

Ông cầm Tầm Sét đã lâu quá rồi

Nay đây thay đất đổi đời

Ông về Trần thế ra lời gửi con

Gửi cho Thơ lạ nổ giòn

Gửi cho tiếng gọi tu tròn Đạo Tiên

Gửi cho Kinh Sách Thượng Nguyên

Gửi cho lời nói tự nhiên đó mà

Đây là ngày Tết năm Gà (2005)

Nhắn cho trai gái trẻ già cõi Dương

Thu gom cho đúng con đường

Một Nhà một Cội một Phương Tiên Rồng

Để làm Cuộc Đại Đồng thành công tốt đẹp

Xem Kinh này Ta dẹp gian tham

Ăn trên ngồi trốc an nhàn

Chẳng biết Tiên Tổ, ngang tàng báng danh

Linh Ta ngự ở núi Đanh

Đầu Rồng của Mẫu màu xanh thượng ngàn

Nghe lời Trời Đất đã ban

Hôm nay có tiếng sấm vang lạ kỳ

Trần gian ai biết tý gì

Chỉ biết bia rượu tỳ tỳ sướng vui

Ăn trên ngồi trốc đủ mùi

Của ngon vật lạ do Trời sinh ra

Chẳng ai lại biết đến Ta

Là Ông Sấm Sét diệt tà âm dương

Bút Thần cốt cách quân vương

Chỉ huy Trần thế, chỉ đường Đạo Tâm

Bút Thần Bà Chúa Sơn Lâm

Ngàn Tay Ngàn Mắt xuất thần cứu nhân

Bút Kinh Sấm Sét xuất thần

Mưa giây chớp giật xuống Trần diệt phi

Diệt quân vô đạo bất nghì

Năm châu bốn bể đang thì lọc nhân

Thét vang xuống chốn cõi Trần

Ai mà tu trọn Ta phần Thơ cho

Cho dòng Thơ lạ sang đò

Kỷ Nguyên độc lập tự do thái bình

Bây giờ mới có dòng Kinh

Thả về cõi Thế rung rinh Thơ Thần

Gửi cho con cháu cõi Trần

Có tâm tu trọn Thánh Thần chở che

Che cho con cháu làng quê

Vì đại nghĩa lớn chẳng hề kêu ca

Dù là rong ruỗi đường xa

Mang tâm trọn đức cho tà khiếp kinh

Ở ăn có lý có tình

Thủy chung lại có Hành Tinh chứng lòng

Ta mang Tầm Sét ruỗi rong

Thiên Đình hạ lệnh nhập vong xuống Trần

Để Ta lại dẹp Tà Thần

Không tu nhân đức không tâm tín Trời

Bây giờ rõ rệt mười mươi

Đã ra Sắc Lênh đổi đời năm phương

Có Âm rồi lại có Dương

Có cả con đường lịch sử Thần Tiên

Có Thơ Sấm Sét lưu truyền

Có tiếng vang động trận tiền tâm linh

Có Đất có Nước, lại có Hành Tinh

Có Bút Thánh chứng minh đất trời

Việc làm của triệu muôn người

Âm Dương nhất lý đổi đời từ đây

Còn nhiều chớp giật mưa giây

Có Tâm mới biết Thơ này của Ta

Mới biết năm Dậu Thơ ra

Buông về cõi Thế năm Gà tỏ thông

Để Cuộc Cách Mạng Đại Đồng

Để trồng cây Nhân cây Đức

Để trồng cây Tâm sáng rực Hoàn Cầu

Có bốn bể lại có năm châu

Hồn thiêng Sấm Sét mở đầu Kỷ Nguyên

Ai là con cháu Rồng Tiên

Biết Kinh Sấm Sét mới yên cửa nhà

Mới cầu Thần Sấm năm Gà

Vuốt ve, che chở cho là chúng con

Đã tu quả đức vuông tròn

Trèo đèo chín suối véo von nhạc Trời

Bây giờ thay đất đổi đời

Mới có Thơ Trời buông Sấm mùa Đông

Đang khô hạn hán ruộng đồng

Ông về cho nước cùng Rồng điều mưa

Để con cấy hái cày bừa

Có cơm có gạo con nhờ Trời cao

Hai bảy Tết mưa đổ rào rào

Là chúng con đã ước ao bao ngày

Hôm nay lại lạ kỳ thay

Tiếng sấm hét nổ có tay Ông cầm

Cân phúc cân tội chẳng nhầm

Nông thôn thành thị người dân mọi miền

Thật là toại giấc mơ Tiên

Có Kinh Sấm Sét con yên tâm rồi

Lỡ khi nước cuốn nhà trôi

Có Kinh kho báu, con ngồi cầu đây

Nhà con ăn ở đủ đầy

Biết Nguồn biết Cội biết Trời sinh con

Sinh ra vật lạ thứ ngon

Có cơm có gao Trăng non trên Trời

Sinh ra vạn vật ở đời

Sinh ra Trái Đất đồng thời Tự Nhiên

Sinh ra sông cả biển thiên

Sinh ra kỳ thú mọi miền năm châu

Là do Thiên Địa Mẹ Âu

Sơ khai từ thủa ban đầu sinh con

Hôm nay tiếng Sấm nổ giòn

Kỳ Nguyên mới lạ đã tròn thử nhân

Trời sinh ra Thánh ra Thần

Sinh Ông Sấm Sét xoay vần Kỳ Nguyên

Ông cầm Thiên Lệnh Kinh Thiên

Truyền về cõi Thế Thơ Tiên cứu Trần

Trời cao Đất Mẹ xoay vần

Những sự kiện lạ âm phần Tổ Tiên

Kinh Văn vạn đại lưu truyền

Về sau con cháu sẵn nền theo chân

Dòng Kinh Sấm Sét xuất thần

Ai tin Ông sẽ để phần cho Thơ

Trời làm Cách Mạng Thiên Cơ

Đại Đồng Thế Giới đợi chờ đến nay

Nơi nào có phúc gặp may

Xin Ông Sấm Sét trao tay Thơ Thần

Vuốt ve con ở cõi Trần

Con tu đức trọn mười phân vẹn mười

Xin Ông răn dạy cho đời

Buông dòng Kinh Thánh đất trời bao la

Đất là Mẹ, Trời là Cha

Sinh dòng máu huyết, sinh ra loài người

Mẹ cho Sấm Sét Thiên Lôi

Nổ vang Vũ Trụ báo đời rủi ro

Nếu mà không có sự lo

Thân mình Mẹ đón sang đò Kỷ Nguyên

Mẹ cho con có Kinh Thiên

Thơ Rồng Sấm Sét con yên tâm rồi

Nay Ông Sấm Sét Thiên Lôi

Thả Kinh dạy bảo loài người Trần gian

Biết Thơ Thánh Chỉ đã ban

Biết về Nguồn Cội diệt tham cứu hiền

Đất Trời của nước non Tiên

Biết Nguồn Trời Đất mới yên cửa nhà

Biết bao tia chớp Ngân Hà

Ầm vang Vũ Trụ phát ra Kinh này

Kinh này dữ tợn ghê thay

Kinh này ai có thoát tai ở Trần

Lũ to sấm chớp mưa dầm

Trời cho con có Thơ Thần tinh thông

Được nhìn ánh chớp trên không

Mà thấy vô lượng thần thông anh tài

Kinh Thơ Thần Sấm sao dài

Thiên Lôi Lệnh Chỉ tượng đài chiến công

Ghi cho Thế Giới Đại Đồng

Ghi cho chín Ông Rồng điều binh

Ghi ra Lệnh của Thiên Đình

Ghi ra dòng chữ nghĩa tình nước non

Thơ này Ông gửi cháu con

Đạo Tâm Chính Pháp nở giòn như hoa

Như là đây một món quà

Quà Non quà Nước Trời ra Kinh này

Nhà ai có phúc gặp may

Mới có Kinh này mà đọc độ thân

Độ cho từng bước cõi Trần

Để Trời che chở cho Xuân năm Gà

Cho đất Thánh nở hoa mãi mãi

Để dạy cho kẻ dại người ngu

Biết đường Chính Pháp mà tu

Dù cho gian khổ đền bù kiếp sau

Cõi Trần khe khẽ bảo nhau

Đừng bỏ Trời Đất làm giàu bất nhân

Đừng bảo không Thánh không Thần

Thiên Đình lãnh đạo cõi Trần đấy thôi!

Kinh của Sấm Sét Thiên Lôi

Kiểm tra xét duyệt chỗ ngồi các con

Đã tu quả phúc nên hòn

Núi cao chót vót, suối giòn reo ca

Ông trông nay xuống mọi nhà

Chẳng ai biết được năm Gà sang canh

Quả Cầu quay mãi chòng chành

Gọi là Trái Đất phúc lành gửi con

Lời Thơ Vũ Trụ quay tròn

Lời Thơ như suối nở giòn như hoa

Lời Thơ nay của Ông Cha

Lời Thơ Thần Sấm kiểm tra cõi Trần

Thơ đây lời gọi rất cần

Tới người tâm đức xoay vần Kỷ Nguyên

Kinh đây con đọc con tuyên

Xin Trời xin Đất thiên nhiên đồng hòa

Tâm Linh Vũ Trụ giao thoa

Cho người tâm đức lời ca Lạc Hồng

Cho Cuộc Cách Mạng Đại Đồng

Năm ngàn năm ấy Ông trông Cha chờ

Cho nên thầm luyện nhà thơ

Bút Thần là của Thiên Cơ giáng về

Đêm nay Trời rộng Sông Ngân

Mồng mười năm Dậu khai Xuân năm Gà

Thiên Lôi cầm Bút trị gia

Vần Thơ Kinh Sử thiết tha cứu Trần

Mà lo cho được bản thân

Biết Kinh Trời Đất cứu dân đồng bào

Có Kinh của Đức Nam Tào

Sổ Sinh Sổ Tử ghi vào Sổ Sang

Con ơi đãi cát thành vàng

Núi cao chót vót mơ màng cảnh Tiên

Gặp Thầy con mới có duyên

Nối cầu Vũ Trụ Thơ Tiên về Trần

Có Tâm Trời mới để phần

Dòng Kinh Sấm Sét lại gần các con

Mong sao tu trọn đức tròn

Đại Đồng Thế Giới không ngừng tiến công

Nam Tào cầm bút thần thông

Nay Ông xóa số mà không có ngừng

Kể từ dưới bể trên rừng

Nông thôn thành thị, lại từng vùng nơi

Đổi thay tất cả vùng trời

Để làm Cách Mạng đổi đời Trần gian

Người nào mà biết kêu van

Thì Ông che chở băng ngàn cũng qua

Kinh Văn xuất Tướng năm Gà

Quân nào Tướng ấy đi ra đổi đời

Nay con đã biết Lệnh Trời

Ngày đêm sám hối con thời tòng y

Kinh Văn con đọc duy trì

Để Ông Bắc Đẩu ghi tên Sổ Vàng

Tên con cho được nhẹ nhàng

Xin Ông Sấm Sét động vang Đất Trời

Kinh này con gái con trai

Không biết Nguồn Cội vạ tai đủ điều

Con cầu sáng sáng chiều chiều

Đêm thâu Thế Kỷ có nhiều lạ thay

Xin Ông Sấm Sét nương tay

Đã có Kinh này con đọc cầu may

Càng cầu con thấy càng hay

Thơ Rồng Trời Đất đã bay cõi Trần

Có Kinh này được độ thân

Để con cầu nguyện thêm phần thiết tha

Mong Ông Sấm Sét diệt tà

Để cho thế giới vang ca thái bình

Đất Trời lại có Thiên Binh

Bảo vệ hòa bình Trái Đất tự do

Phận con hôm sớm phải lo

Thân mình được hưởng sang đò Kỷ Nguyên

Hết
Trang: [1] 2 3 4
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.345 seconds với 20 câu truy vấn.