Tháng Năm 26, 2018, 08:55:44 pm -
 
  Trang chủ Trợ giúp Feedback Tìm kiếm Đăng ký Trợ giúp  
 
Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. Đã đăng ký nhưng quên email kích hoạt tài khoản?

 
Các ngày Lễ - Vía Âm lịch Tra ngày
闡 舊 邦 以 輔 新 命,極 高 明 而 道 中 庸
Xiển cựu bang dĩ phụ tân mệnh, cực cao minh nhi đạo Trung Dung
Làm rõ [học thuật] của nước xưa để giúp vận mệnh mới; đạt đến chỗ tối cao minh mà giảng về Trung Dung.
  Xem các bài viết
Trang: [1] 2 3 ... 18
1  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / @@@4.-Làm sao để được giàu mãi, sang mãi, vui mãi và sống mãi vào lúc: Tháng Chín 13, 2016, 03:05:01 am
4.-LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC GIÀU MÃI,
SANG MÃI, VUI MÃI VÀ SỐNG MÃI ?

************

Vì sao con người ai cũng ở trong trạng thái mê mờ? Đó là do họ không hiểu được mình từ đâu tới, chết sẽ đi về đâu. Mỗi ngày bóng dáng bạn thấy khi tự soi gương nào phải là bạn. Nếu bạn muốn biết BẢN LAI DIỆN MỤC (=Chân Tâm) thì phải quay mặt soi lòng, tìm nơi Tự tâm. Người đời thì bị ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) làm mê mờ, ngày ngày bị tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ kềm tỏa đến ngột ngạt khó thở, song họ vẫn cứ muốn cam tâm tình nguyện làm nô lệ cho những thứ ấy !.

Lòng tham của ta thì cao hơn trời, dầy hơn đất. Nó như cái thùng không đáy, đồ bỏ vào đó bao nhiêu cũng chẳng đầy !.

Con người không có Đạo đức mới thật là nghèo cùng !.

Phải tìm đâu cho ra ngọc ngà châu báu mà mình đã sẵn có ? Hãy tìm ở nơi “Tâm Thể Vô Niệm”(=Tâm Thanh Tịnh).  Có câu rằng: “Không có Tâm Thể Vô Niệm, hay cái “Tâm Thanh Tịnh” thì không biết được sự giàu có của Chư Phật. Tâm Thể Vô Niệm là Vua của tất cả các vị vua kinh điển (tức là kinh đứng hàng đầu của những bộ kinh tuyệt diệu nhất mà Phật đã thuyết).

Nếu dùng Vọng niệm tức “tham sân si” để xử lý mọi việc thì kết quả là trời đất sẽ u ám, sinh đủ tai nạn. Nếu như dùng Vô Niệm tức Giới Định Huệ để giải quyết vấn đề thì lúc bấy giờ trời đất trong sáng, mọi sự kiết tường. Nên nói : “Nơi nào nhiều kẻ ác, nơi ấy nhiều tai nạn; chốn nào nhiều người thiện, chốn ấy thường an vui. Tai nạn hay an bình đều do người mà ra cả.

Người ta tu mà không thành Phật là bởi vì họ cứ dụng công nơi ngoài miệng (nói mà không tu, không thực hành).

Mọi sự, mọi việc gì cũng đều là Phật pháp, cũng đều là thứ không thể chấp trước, không thể nắm bắt. Trên đời vạn sự, vạn vật, chuyện gì xảy ra cũng chính là thuyết pháp (=hiển bày chân lý), chính là giảng kinh. Chúng ta mỗi người ai cũng nên đem bộ kinh của cuộc đời mình ra đọc cho kỷ, học cho thuộc, chớ làm việc sai lầm với đạo lý “Nhân Quả”. Đời ta mới chính là bộ kinh điển chân chính nhất.

Nếu bạn cứ nhìn thấy lỗi lầm của kẻ khác hoài thì bạn vẫn còn khổ. Nếu bạn đã hết khổ thì bạn nhìn ai cũng thấy họ là Phật. Nhìn người nào, bạn cũng thấy họ y hệt như Phật không khác. Thật là đơn giản, thật là cạn cợt : Vậy mà bạn làm không xong!

Con người ta không phải sống để mà ăn. Sống: là ta phải lập công với đời,
phải có đức với người, phải làm lợi cho thiên hạ. Mình phải : Từ Bi thay trời dạy dỗ; trung hiếu vì nước cứu dân.

Một ngày chẳng sửa lỗi lầm là một ngày chẳng tạo Công đức.

“Phiền Não Tức Bồ Đề”. Nghiã là, ngay lúc có phiền não mà mình có thể chẳng sinh phiền não, mình có thể nhận biết được nó, thì ngay lúc đó gọi là Bồ Đề.
Chẳng phải rằng : Vất bỏ phiền não đó đi rồi, sau đó tìm một cái Bồ Đề nào khác. Bịnh AIDS là một thứ bịnh làm diệt chủng, và làm mất nước. Tôi hy vọng người Trung Hoa không muốn mất nước, không nên học hành động của người Tây Phương.
Người học Phật pháp, cần phải biết tiết dục, giữ lòng trong sạch, ít ham muốn. Chớ nên có nhiều dục vọng. Đó là điều quan trọng, vì nó là gốc rễ của vấn đề sức khỏe.
Các bạn có thể ngày nay Quy y TAM BẢO là vì các bạn đã trồng căn lành to lớn trong quá khứ. Ngày nay khi họp mặt với nhau, đại chúng nên phát tâm Bồ Đề, cầu đạo Vô Thượng. Không nên làm loài sâu bọ trong Phật giáo, không nên làm kẻ hư đốn bại hoại. Hễ bạn thấy ai hủy báng Phật giáo, bạn chớ cùng họ tranh biện. Bạn hãy tu hành với hành động chắc thật. Dùng sự tu hành để hiển minh lời Phật dạy. Đừng nên dùng lời nói ngoài miệng (khẩu đầu thiền) để làm họ tin mình. Phải nên chân thật tu hành.
Chiến tranh ở trên thế giới đều bắt đầu từ những chiến tranh nho nhỏ trong tâm mình phát khởi. Cổ nhân nói: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (Sự thịnh suy của một nước, ngay kẻ tầm thường cũng phải có trách nhiệm). Chẳng nên nghĩ rằng: Đó là chuyện của người khác, chẳng phải chuyện của mình. Nếu mỗi người ai cũng chẳng có chiến tranh, thì chiến tranh thế giới sẽ chấm dứt.
Đừng nên đem ánh sáng chiếu rọi bên ngoài. Lúc nào cũng phải biết xoay ánh sáng lại rọi lòng mình. Chiếu soi xem coi mình là súc vật?  là quỷ?  là gì ?
Thế nào là Đạo Đức? Tức là lấy sự lợi lạc của chúng sinh làm chủ, lấy sự không cản trở người khác làm Tông chỉ. Đạo đức cũng có nghĩa là trong lòng mình tràn ngập lòng nhân từ, nghĩa khí, lễ độ, trí huệ và thành tín.
Vì sao, mà mình không tương ưng với Đạo? Vì tâm cuồng chưa ngừng, chưa dừng bặt”. (tâm cuồng là tâm đầy ấp Vọng tưởng Tạp niệm).
Việc tốt là do tâm khởi đầu. Việc xấu cũng từ tâm khởi đầu.
Ba thứ độc Tham Sân Si so với nha phiến, rượu mạnh hay với độc dược cực độc, thì nó lợi hại hơn gấp bội. Những thứ thuốc, rượu, độc dược chỉ là độc tố hữu hình, hại thân thể người. Còn Tham Sân Si thì hại pháp thân huệ mạng của ta, đó mới là thứ tối chướng ngại cho việc tu Đạo.

Tu hành pháp Phật tức là: Đừng làm việc ác, làm toàn việc thiện.

Nhìn xuyên thủng thì mình sáng tỏ; hễ buông bỏ thì mình Giải thoát. Giải thoát là được tự tại. Khi tự mình không tại (không ở đây) thì giặc cướp sẽ xâm phạm, mình sẽ bị cảnh giới lay chuyển.

Sự khoái lạc chân chính thì chẳng có gì mong cầu. Khi tới chỗ không còn mong cầu thì ta sẽ chẳng có âu lo. Khi bạn chẳng mong cầu điều gì thì đó mới là sự vui sướng chân chính, cũng là sự an vui yên ổn thật sự của Tự Tánh.
Cái tật xấu lớn nhất của chúng sinh là lòng Si ái (tham ái, yêu đương si mê). Ngày đêm ở trong vòng Si ái mà chẳng giây phút nào buông bỏ cho đặng. Nếu mình có thể đem lòng háo sắc biến thành lòng ham học Phật, giờ phút nào cũng chẳng quên dụng công, thì rất mau có thể thành Phật.

Hãy đem sự thông minh, trí huệ nhỏ bé để qua một bên. Đừng nên nghĩ rằng chuyện gì mình cũng biết, cũng hiểu. Nếu bạn nghĩ rằng việc gì mình cũng biết thì bạn không phải là người chân chính hiểu biết Phật pháp.

Không  ai được phép nịnh hót, nói những lời dua nịnh, vuốt ve kẻ khác.

Trong chùa, nơi đạo tràng, việc xấu xa nhứt là ta chẳng chịu dụng công. Ai chẳng tu hành thì tương lai sẽ phải bị đọa lạc !.

Tu hành cần ta phải dưỡng nục, nghĩa làm ra vẻ khù khờ. Càng ngu ngơ khù khờ càng tốt. Khù khờ đến chỗ mà một Vọng tưởng cũng chẳng còn.

Người tu hành đừng nên có cái TA. Vất (liệng) cái Ngã vô thùng rác. Đến đâu cũng vì người khác, vì việc công mà phục vụ. Phải biết hòa quang (hòa đồng với mọi người), dùng sự nhượng bộ làm bước tiến. Việc gì cũng giữ gìn, chẳng đua đòi tranh giành, chơi nổi. Một khi chơi nổi thì bạn sẽ gặp rắc rối ngay !.

Ai là kẻ thù của người tu ? Chẳng phải Ma Vương đâu, chính là lòng ích kỷ. Làm việc với lòng ích kỷ thì vạn sự chẳng thành; dẫu có thành công cũng chỉ là hư vọng mà thôi.

Người dụng công tu Đạo thì một tích tắc cũng không thể khởi Vọng tưởng. Rằng: “Đại sự chưa xong, khổ như có tang”. Việc sinh tử đại sự chưa giải quyết xong thì cũng bi ai đau khổ giống hệt như người con có cha mẹ mới chết vậy.

Phật pháp sâu rộng như biển lớn : “Phải dũng mãnh tinh tấn, siêng năng
tu tập thì lúc bấy giờ mới có thể thành tựu được”.

Người tu Đạo cần phải có sự hiểu biết đúng đắn và có cái nhìn đúng đắn (chính tri chính kiến). Không nên điên đảo thị phi. Trắng đen phải phân cho rõ, chẳng thể lầm mắt cá là hạt ngọc. Chẳng thể làm qua loa, làm cho có. Nếu làm vậy thì bạn sẽ có sự hiểu biết và cái nhìn lệch lạc (=tà tri tà kiến) vĩnh viễn chẳng thể nào thành Phật đặng.

Suy Nghĩ Vẩn Vơ : Nếu bạn biết chắc chuyện đó chẳng thể làm được thì sao cứ cố ý nghĩ đến nó hoài? Nếu biết đó là Vọng tưởng, suy nghĩ vẩn vơ, thì sao bạn không dẹp nó qua một bên? Đây là thói quen tật xấu của nhiều người : “Biết là sai mà cứ cố ý làm”. Nói trắng ra thì đó là bạn không nhìn thủng, chẳng buông bỏ (chấp trước). Bạn không chấp trước bên này thì cũng chấp bên nọ; không trước món này lại trước món khác; không chấp đàn ông thì cũng trước đàn bà. Thế là bạn lãng phí hết thời gian quý báu.

Lòng Từ Bi bắt nguồn từ nơi Tự Tánh. Nó chẳng cần bất kỳ sự tạo tác gì mới có. Mình không cần phải nịnh hót (mới có lòng từ bi); nịnh hót là việc giả dối. Người ta từ từ trưởng thành, thế nào họ cũng sẽ hiểu đạo lý này. Khi ấy tâm họ sẽ tự nhiên phát sinh lòng Từ Bi, mà không cần phải cố ý làm bất kỳ việc gì. Cố ý làm ra vẻ Từ Bi thì bạn sẽ rơi vào chỗ yếu mềm, nịnh bợ. Cố ý làm ra vẻ không Từ Bi, thì bạn sẽ trở nên rất lạnh lùng, xa cách. Làm quá mức thì cũng chẳng khác làm chưa đủ. Chuyện gì cũng phải giữ trung đạo, tức là Vô Tâm , Vô Niệm.

Là một đệ tử của Phật, mình phải cẩn thận chuyện Nhân Quả. Chớ tùy tiện hủy báng, chửi rủa người khác.

Khi một niệm chẳng sinh, quỷ gì cũng chẳng có. Tới lúc chẳng còn thứ gì (hết tham sân si, vọng tưởng phiền não) thì lúc ấy, cái gì cũng có : Phật Bồ Tát đều tới. Vì sao?

Vì rằng bạn chẳng có gì cả thì Phật mới tới. Nếu bạn còn có một thứ gì (phiền não, chấp trước), thì Phật sẽ chẳng đến. Lúc tới cảnh không thì bạn phải hết tuyệt tánh (phiền não, chấp trước) của mình, cũng tới tận cùng lý tánh của con người, lý tánh của vạn vật, lý tánh của trời đất. Chư Phật chính là bạn, mà bạn cũng là Chư Phật. Khi bốn tướng chấp trước (Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ giả) đều hết thì còn gì để mà phiền não?

Khi tu hành, nếu bạn không hiểu Đạo (không Kiến Tánh), thì một mặt tu, một mặt tiêu (mất công đức). Ví như nói bạn đừng nổi lòng tham dục, bạn lại nổi tham dục nhiều hơn. Từ sáng đến chiều cứ nghĩ yêu người này, thèm khát người kia. Toàn là những ý nghĩ không chân chánh, và không thanh tịnh. Trong tâm bạn nước Trí huệ sẽ vẫn đục, bạn sẽ chẳng còn trí huệ nào nữa, vì sự ô trược bị quấy lên rồi. Do vì bạn chẳng hiểu đạo nên cứ tu mãi mà chẳng chứng quả, chẳng thấy Đạo. Đó là vì sao ? Bởi vì bạn có lòng “Ái dục” (=tham ái). Nếu không có lòng ái dục thì bạn sẽ thấy Đạo, rất mau.

Khi bạn không dụng công, không tu hành thì bạn cũng giống như cục đá mài dao. Tuy không thấy cục đá bị hư hao gì, nhưng để lâu ngày, mới hay là cục đá ngày càng nhỏ lại !!!./.
***

Thiền sư Kuang Tsung Chen (Thích Quang Tông)

2  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / @@@3.-Thành Đạo theo tinh thần Thiền tông vào lúc: Tháng Tám 26, 2016, 11:01:30 am
3.-THÀNH ĐẠO theo tinh thần
THIỀN TÔNG
Sau khi vượt thành xuất gia, Sa môn Cù Đàm đã phải trải qua 5 năm lặn lội học đạo và 6 năm khổ hạnh nơi rừng già, mục đích tìm ra con đường thoát ly sinh tử. Ngài đã thọ giáo với các Tiên nhân nổi tiếng như Kalama,Ramaputta, đã đạt đến trình độ tâm linh như các vị ấy. Tuy nhiên, Ngài biết rằng ngay ở cõi Trời cao nhất là Phi tưởng Phi Phi tưởng, cũng chưa phải là cứu cánh giải thoát vì còn ở trong Tam giới. Cuối cùng Ngài nhận ra rằng, chỉ nên tìm học ở ngay nơi chính mình chứ không thể tìm cầu ở bên ngoài mà được. Miệt mài Thiền Định dưới cội Tất Bát La, Ngài chứng quả vị tối thượng vào đêm thứ 49, khi sao Mai vừa mọc. Từ đó, Sa môn Cù Đàm trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và đêm lịch sử ấy được gọi là Đêm Thành Đạo.

*
VẬY THẾ NÀO LÀ THÀNH ĐẠO ?
Theo nghĩa thông thường, đạo là con đường, như “độc đạo” là con đường duy nhất. Đạo cũng có nghĩa là “đường lối, nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội”(*). Trong tôn giáo, Đạo vừa là một tổ chức quản lý, vừa là nội dung học thuyết của tôn giáo ấy, như Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi... có tổ chức Giáo Hội và hệ thống giáo lý hướng dẫn môn đồ tu hành. Bài pháp đầu tiên Đức Phật dạy cho năm anh em Kiều Trần Như là TỨ DIỆU ĐẾ, trong đó chi phần sau cùng là Đạo Đế. Đó là phương pháp chân chính, có hiệu quả chắc chắn đưa hành giả đến cảnh giới an lạc, giải thoát sinh tử.

Với những ý nghĩa trên, đạo bị lệ thuộc bởi ý thức nên vẫn còn trong vòng đối đãi: Ví dụ Đạo làm người thay đổi theo tập quán của từng vùng miền, theo từng thời kỳ, từng xu hướng xã hội. Ở các nước phương Tây, con đến tuổi thành niên thường ra ngoài sống tự lập, cha mẹ già bị đưa vào Viện Dưỡng Lão; nhưng người Đông phương thì quan niệm “Tam tứ đại đồng đường” (Ba bốn đời ở chung một nhà) là phước đức của gia đình. Ngày xưa, phụ nữ theo lễ giáo Tam Tùng Tứ Đức, chỉ biết việc nội trợ hầu hạ chồng con; nhưng ngày nay, phụ nữ tham gia việc chính trị, kinh tế, khoa học cũng thành công không kém nam giới. Trong giai đoạn đầu hoằng pháp, Đức Phật dạy về Ngũ thừa (**), tựu trung là tránh ác làm thiện, bỏ phiền não cầu an lạc, giải thoát sinh tử tu chứng Niết Bàn. Như thế, còn phân biệt việc xấu dỡ phải tránh, điều thiện lành phải làm, sinh tử là điều đáng chán và Niết Bàn là cảnh giới thanh tịnh đáng hướng về.

Riêng đối với nhà Thiền, Đạo có thêm một ý nghĩa khác, một chân trời khác. Trong hội Linh Sơn, khi Đức Phật cầm cành sen xanh giơ lên, dùng đôi mắt màu sen xanh nhìn quanh đại chúng, tất cả đều ngơ ngác, chỉ riêng Tôn giả Ca Diếp mỉm cười. Đức Phật ấn chứng cho Tôn giả trở thành Sơ Tổ Thiền tông từ lúc ấy. Thiền sinh Nghĩa Huyền trong pháp hội Tổ Hoàng Bá, một hôm hỏi Tổ “Thế nào là đại ý Phật pháp?”. Tổ không trả lời mà đập cho một gậy. Ba lần thưa hỏi, ba lần đều bị đánh. Đến khi ngộ đạo qua Hòa thượng Đại Ngu, Ngài Nghĩa Huyền trình kiến giải bằng.... một cái thoi vào hông người khai thị! Và tông Lâm Tế do Ngài khai sáng truyền mãi không dứt cho đến ngày nay. Có phải chăng, Đạo trong nhà Thiền biểu hiện bằng một cành hoa, bằng những cái đánh, bằng lời nói thoạt nghe không có nghĩa lý gì? Và có phải chăng, “Thành đạo” là có một cái Đạo để thành tựu; trước khi tu ta không có, khi tu đến mực độ chín muồi thì Đạo sẽ hiện ra? Lúc chưa thành đạo, ta là kẻ phàm phu; khi thành đạo rồi, ta biến thành con người khác hẳn với hình tướng thoát tục, hào quang sáng ngời? Hẳn nhiên, không thể hiểu theo sự tưởng tượng bay bổng như thế.

Phật dạy, tất cả chúng sanh đều có Tánh Giác, tức bản tâm chân thật vượt mọi đối đãi. Tánh giác bình đẳng ở muôn loài, hiển lộ qua sáu căn. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng... mà không khởi niệm phân biệt đẹp xấu hay dỡ, thì tánh giác hiện tiền, không phải tìm cầu đâu xa. Chạm mắt tức Bồ đề là như thế. Phàm phu chúng ta luôn chạy theo ngoại trần, tạo nghiệp thiện ác rồi quanh quẩn trong sáu đường sinh tử, nhà Phật gọi là phan duyên. Ngược lại, Nhị thừa sợ ngoại trần lôi kéo nên tìm mọi cách tránh duyên, đè nén vọng tưởng. Bồ tát không sa vào hai cực đoan ấy. Các Ngài biết rõ các duyên không thật có, nên vì chúng sanh mà thị hiện vào các cõi, trục loại tùy hình, tùy duyên hóa độ. Các Ngài không phan duyên, không tránh duyên mà liễu tri các duyên, đồng thời nhận ra cái chân thật hằng hữu, bình đẳng tuyệt đối, nơi Thánh không thêm nơi phàm chẳng bớt. Cái chân thật ấy không có hình tướng nên không thể nắm bắt, không phải sản phẩm của ý thức nên không thể tưởng tượng hay diễn tả, không thể tìm trong sách vở Kinh lục hay giải quyết bằng cách tranh biện luận đàm. Nó chính là mình nên không tìm thấy bên ngoài mà chỉ nhận ra bằng trực giác, khi tâm thanh tịnh mà hằng tri. Tùy theo tính chất, diệu dụng và cảm nhận của người thực chứng mà gán cho một tên gọi (Phật Tánh, Chân Tâm, Ông Chủ, Bản Lai Diện Mục...), thật sự nó không có tên. Và ở đây, chúng ta gọi đó là ĐẠO.

Ngày xưa, Thiền sư Văn Hỷ tìm Bồ Tát Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn, nhưng gặp mặt Bồ Tát mà không biết. Đến khi ngộ đạo, thấy Bồ Tát hiện ra trên nồi cháo đang sôi, Ngài lấy dầm đập chứ không đảnh lễ. Bởi vì, khi đã thấy Phật tâm của chính mình thì không cầu Phật bên ngoài nữa. Người tu chúng ta cũng thế, lúc đầu phải sửa chữa tâm mình từ hư dở trở thành hiền thiện, nhưng mục đích cuối cùng là nhận được Phật tâm hằng hữu ấy. Đạo của nhà Thiền chỉ có ở trong tâm, nhận ra và sống trọn vẹn với bản tâm là Thành Đạo. Cho nên, tu đạo là Tu tâm, ngộ đạo là Ngộ tâm, chứng đạo là Chứng tâm, và thành đạo cũng là thành tại tâm chứ không đâu khác. Từ trước đến sau cũng chỉ một người ấy, không thay đổi gì về hình tướng, chẳng ngồi tòa sen phát hào quang, nhưng tâm lại có một biến đổi diệu thường. Đó là “rắn hóa rồng không đổi vảy”.

Phật dạy, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Lời dạy ấy là đứng trên Phật quả. Nhưng theo tinh thần kinh Lăng Già thì “Chúng sanh đã là Phật”, tức nhắm trên Phật nhân. Đã là Phật, vì chúng sanh nào cũng có trí tuệ đức tướng Như Lai. Như kẻ ăn mày trong kinh Pháp Hoa không biết mình có hạt châu trong chéo áo, cứ phải sống đời lang thang cơ nhỡ. Đến lúc được bạn nhắc nhở, lấy ra dùng thì trở nên giàu sang phú quý. Hạt châu có sẵn như Đạo sẵn đủ tại tâm, chỉ vì ta quên nên mê, còn nhớ ra là Ngộ Đạo.

Đức Phật thành đạo nơi cội Tất Bát La cách đây gần 26 thế kỷ, nhưng câu chuyện tìm đạo của Ngài vẫn luôn là bài học lớn cho hàng đệ tử Phật chúng ta. Khi mới phát tâm tu, chúng ta cần có thầy hướng dẫn đường lối đúng đắn để khỏi lạc lầm. Đang trong giai đoạn dụng công, ta cũng cần thầy bạn sách tấn và sửa chữa những sai sót, để khỏi sa vào những cám dỗ của ngoại ma. Nhưng vấn đề Ngộ Đạo lại khác, tự thân hành giả phải nỗ lực công phu, phải tự nhận ra Phật tâm (=Tánh giác) nơi chính mình chứ không ai làm thay cho ai được.

Hiểu và tin mình có đủ khả năng thành Phật, chúng ta sẽ có sự vững vàng trên đường tu. Ta không tìm cầu Phật bên ngoài, không tin có một quyền năng ban phước giáng họa, mà chỉ tin chính tâm mình có chánh nhân thành Phật, ta cứ một lòng một dạ tiến bước trong chánh pháp mà không khởi ý niệm mong cầu, thì khi đủ thời tiết nhân duyên, tất nhiên trổ ra chánh quả. Đến lúc ấy, ta mới thấm thía và biết ơn vô cùng lời - dạy - vô - ngôn của Đức Bổn Sư khi cầm cành sen xanh, hay gậy Tổ Hoàng Bá khi đập cho đệ tử xuất cách Nghĩa Huyền ba gậy.

Vậy thì rốt cuộc, thành đạo là nhận ra và hằng sống với con người chân thật của chính mình./.
*
Thiền sư Kuang Tsung Chen (Thích Quang Tông)
3  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / @@@2.-Làm thế nào để "tâm cuồng " của bạn dừng nghỉ? vào lúc: Tháng Tám 09, 2016, 08:56:17 am

 
2.-LÀM THẾ NÀO
ĐỂ  “TÂM CUỒNG” CỦA BẠN DỪNG NGHỈ ?
***
Sai một ly, đi một dặm, khi phát tâm tu Đạo hành giả không được bê bối tùy tiện. Nếu bạn khởi Vọng Tưởng, không nghiêm chỉnh học Đạo, không dụng công, thì có thể bạn sẽ lập tức chiêu cảm lấy quả báo hay sự trừng phạt vô cùng nghiêm trọng đấy !.

Bạn chớ nên quá chấp trước, cứ đeo trên người mấy thứ gồng gánh mãi. Gồng gánh những gì ? Tức là những thứ thói hư tật xấu. Nếu bạn có những thứ luộm thuộm đó thì chẳng thể nào rút chân ra khỏi bùn lầy, chẳng thể nào tới đặng Bờ Bên Kia (=Bờ Giác).

Người tu đạo chân thật thì đi tới đâu cũng chẳng mong mõi người ta cúng đồ ăn ngon, có nhà ở tốt. Mình chẳng nên có những tư tưởng như thế vì nó là hạt giống làm cho ta đọa lạc. Tới đâu, hễ có đồ vật bình thường là đủ rồi, chớ nên tham cầu hưởng thụ. Chớ nên có thái độ ân cần vui vẻ đối với người đối xử tốt với mình, còn đối với kẻ đối xử không tốt với mình thì chẳng vui lòng chút nào.

Hễ ai không nổi nóng tức giận thì người ấy sẽ tương ưng với đạo lý Phật dạy, và sẽ thành Phật rất dễ dàng.

Con người mình ai cũng bỏ gốc theo ngọn : Đem việc tu hành sắp tại hạng nhì, còn việc kiếm tiền thì nâng lên hạng nhất, quên mất đạo lý căn bản làm người, chỉ dụng công nơi cái ngọn. Lo làm ăn kiếm tiền thì chỉ duy trì sinh hoạt cuộc sống. Còn học tập Phật pháp thì nuôi dưỡng Pháp thân huệ mạng, tăng trưởng trí huệ của mình.

Trong tự tánh quang minh của mình, chẳng hề có chút tham lam. Mà trong sự linh cảm, trong trí huệ cũng không hề tồn tại mảy may tham lam. Do đó, khi mình nổi lòng tham thì cũng như nơi mặt gương bổng hiện lên một lớp bụi. Vì vậy, chúng ta là những kẻ dụng công tu hành phải luôn ghi nhớ: “Chớ tham nhiều, chớ tham mau, chớ tham tiện nghi, dễ chịu”.

Nếu trong tâm người ta có quỷ thì người ta mới sợ quỷ. Nếu trong tâm người ta không có quỷ thì quỷ sẽ sợ người.

Bây giờ mình đắc (có) được thân người, nếu không mượn nó để tu hành thì chờ tới lúc nào? Chờ tới lúc thân này mất rồi, lúc ấy muốn tu thì đã quá trễ rồi !.

Các bạn chẳng nên tìm cầu ở chỗ xa xôi, chẳng cần phải tìm pháp môn cao thâm làm gì. Hãy biết rõ chắc chắn “TẤM THÂN BẢY THƯỚC” của quí vị, bên trong nó phải là hoàn toàn yên lặng vì nó là thuần vật chất, giống như gỗ, đá vậy.

Kế đó, đem những thứ Tạp niệm nghĩ sai tưởng bậy ở trong tâm linh của quí vị, coi chúng là “TỰ NÓI TỰ RẰNG” (=Tự ngôn tự ngữ). Sự thật, chúng chính là tự nói tự rằng, không giả chút nào.

Do đó, tất cả những ý niệm móng khởi lên trong tâm, dù là niệm chánh, niệm tà, niệm không chánh không tà (=vô ký), đều lập tức biến thành tể thuốc THÔI SINH (thúc đẩy sự sống) đầy vui tươi sung sướng cho quí vị. Bởi vì, trên mặt cảm giác, những “VẬT” khiến người ta phải phát phiền đó, đều xuất hiện bên trong cái thân máu thịt, đáng lẽ phải hoàn toàn yên lặng của quí vị. Cảm giác thú vị tương tự như khi quí vị phát hiện trên mặt trăng có một bầy thỏ con đang vui đùa vậy. Cảm giác thú vị ấy gọi là “KỲ TÌNH”.

Như thế, bất cứ niệm nào khởi lên từ tâm của quí vị, đều có thể phát khởi ra Kỳ Tình. Cảm giác thú vị lạ lùng một khi đã sanh ra, thì Vọng tưởng sẽ biến mất, tâm hoa rộ nở, nụ cười thường nở trên môi của quí vị.

Những người muốn hưởng thụ thứ “PHÁP ÍCH” (ích lợi do pháp đem đến) nầy, không cần phải có trình độ văn hóa nhiều ít gì cả. giả sử mỗi chữ to bằng trái dưa hấu, vị nào biết được chừng hai giỏ thì cũng đủ điều kiện rồi. Nhưng phải cần trang bị cho đầy đủ :

1.-Có thể phát hiện trong thân hiện đang có “TỰ NÓI TỰ RẰNG”. Đồng thời, cũng hiểu rằng đó là những thứ lẽ ra không có, mà hiện đang có.
2.-Có thể biết được trong thân hiện đang nói năng những lời lẽ gì, lại cũng không quên rằng trong đó vốn phải hoàn toàn yên lặng.
Hai pháp nầy sẽ dẫn đến phát khởi Kỳ Tình, vọng tưởng lập tức tiêu tan.

3.-Trường hợp vẫn không phát khởi được “KỲ TÌNH”, đó là do sự hiểu biết về thân thể tuyệt đối yên lặng (quan niệm về thân xác) chưa thật sâu khắc thể hội, hãy cải đổi sang phương pháp “NHẠI NÓI THEO TÂM NGỮ” (Học tâm thuyết thoại). Giả sử nó nói “XUÂN TƯƠI TUYẾT TRẮNG”, quí vị hãy nhại nói theo “XUÂN TƯƠI TUYẾT TRẮNG”, nếu nói “NGOÀI SÂN CÓ NGƯỜI”, quí vị hãy cũng nhại nói theo “NGOÀI SÂN CÓ NGƯỜI”…

Chỉ cần nhại nói theo hai, ba câu thôi, thì tâm cuồng nhiều kiếp của quí vị liền đột nhiên dừng lặng (=ngừng dứt) tất cả. Ngay đó, trong tâm quí vị sẽ trong sáng an ổn, và vào được cảnh giới Chân thường, muôn việc vừa ý./.
*
Thiền sư Kuang Tsung Chen (Thích Quang Tông.

4  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / @@@1.-Điều nghịch lý ngày nay vào lúc: Tháng Tám 03, 2016, 10:51:52 am
1.-ĐIỀU NGHỊCH LÝ NGÀY NAY
***
Điều nghịch lý của thời đại ngày nay là chúng ta có những toà nhà bin-đing cao hơn nhưng sự kiên nhẫn của mình lại ngắn hơn, ta có những đại lộ rộng lớn hơn, nhưng cái nhìn của mình lại nhỏ hẹp hơn. Chúng ta tiêu xài nhiều hơn, nhưng có được ít hơn, mua sắm thêm hơn, nhưng thưởng thức lại kém hơn. Ta có căn nhà to rộng hơn, nhưng gia đình nhỏ bé hơn, có nhiều tiện nghi hơn nhưng thời giờ ít ỏi hơn. Chúng ta có nhiều bằng cấp hơn nhưng hiểu biết lại giảm đi, ta dư thừa kiến thức, nhưng lại thiếu sự xét suy, ta có thêm nhiều nhà chuyên môn và cũng thêm bao nhiêu là những vấn đề, có thêm thuốc men nhưng sự lành mạnh lại càng sụt giảm.
Thời đại ngày nay chúng ta uống rượu và hút thuốc quá nhiều, tiêu pha không tiếc nuối, thiếu vắng tiếng cười, lái xe quá nhanh, nóng giận rất dễ, thức rất khuya, đọc sách rất ít, xem ti vi quá nhiều, và hiếm khi nào ta biết ngồi lại trong tĩnh lặng! Tài sản của ta tăng lên gấp bội phần, nhưng giá trị chúng cũng sụt giảm theo. Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít, và thù ghét thì lại quá thường.
Chúng ta biết cách kiếm sống, nhưng không mấy ai biết sống. Một đời người được kéo dài hơn, nhưng chỉ là cộng thêm những năm tháng mà thôi. Chúng ta đã lên đến mặt trăng và trở về lại trái đất, nhưng rất khó bước qua bên kia đường để chào người hàng xóm mới. Ta chinh phục được thế giới bên ngoài, nhưng không biết gì về thế giới bên trong. Chúng ta đã làm được rất nhiều những việc rất lớn lao, nhưng rất ít việc tốt lành.
Không khí chung quanh ta được trong sạch hơn, nhưng tâm hồn ta lại càng thêm ô nhiểm. Chúng ta chia cắt được một hạt nguyên tử, nhưng chưa phá được thành kiến của chính mình. Chúng ta viết nhiều hơn, nhưng học được ít hơn. Chúng ta có nhiều dự án hơn, nhưng hoàn tất lại ít hơn. Chúng ta biết cách làm việc thật nhanh chóng, nhưng không biết cách để đợi chờ. Chúng ta thiết kế nhiều máy điện toán, chứa thật nhiều dữ kiện, in ra bao nhiêu tài liệu, nhưng sự truyền thông giữa con người lại càng sút kém đi.
Ngày nay là thời đại của mì ăn liền, tiêu hoá chậm, con người to lớn nhưng chí khí rất nhỏ, lợi nhuận thì rất sâu mà tình người thì rất cạn. Đây là thời đại của hai đầu lương nhưng trăm ngàn ly dị, nhà cửa khang trang nhưng đổ vở trong gia đình. Đây là thời đại của những mặt hàng trưng bày ngoài cửa tiệm thì rất nhiều, nhưng trong nhà kho lại không có một đồ vật nào. Đây là thời đại mà kỷ thuật có thể mang lá thư  này đến thẳng với bạn, và bạn cũng hoàn toàn có tự do để chọn đọc nó hay xoá bỏ đi...
Nhưng xin bạn hãy nhớ bỏ thì giờ của mình ra với người thương, vì họ sẽ không có mặt với ta mãi mãi. Hãy nhớ chọn những lời dễ thương với những ai đang ngước nhìn bạn nhiều ngưỡng phục, vì cô hay cậu bé đó rồi cũng sẽ lớn lên và rời xa ta. Hãy nhớ ôm chặt người gần bên, vì đó là một món quà vô giá mà ta có thể ban tặng cho người khác, khi nó được xuất phát từ đáy tim mình. Hãy nhớ nắm tay nhau và trân quý phút giây này, vì biết rằng thời gian sẽ không ở với ta mãi mãi. Hãy có thì giờ để thương nhau, để lắng nghe nhau, và nhất là hãy chia sẻ với nhau những ý tưởng đẹp nhất trong tâm mình.
Và nhất là bạn hãy luôn nhớ rằng, cuộc sống không phải được đo lường bằng con số hơi thở của mình, mà bằng những giây phút kỳ diệu trong cuộc đời đã mang hơi thở ấy bay cao. /.       
***
Thiền sư Kuang Tsung Chen (Thích quang Tông)
5  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###19.-Lợi ích bạn đồng tu vào lúc: Tháng Sáu 07, 2016, 10:39:07 am
19.- LỢI ÍCH BẠN ĐỒNG TU
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)
*

“Ăn cơm có canh, tu hành có bạn” là câu nói của người xưa đã để lại. Nó có giá trị ở mọi lúc, mọi nơi và mọi thời đại. Do đó, người tu ở vào thời buổi hiện nay chớ có nên xem thường câu nói đó. Bởi vì, hồi Đức Phật còn tại thế, trong một pháp hội Đức Phật có hỏi các thầy Tỳ Kheo như sau :

“Trong công việc tu hành, nếu như có một người bạn tốt, thì người nầy sẽ giúp cho các Thầy chừng bao nhiêu trên bước đường tiến tu ?
- Có Thầy Tỳ Kheo đáp : “Một phần ba đoạn đường”.

Đức Phật lắc đầu không chấp nhận.

- Một vị Tỳ Kheo khác nói : “Phân nữa con đường tu”.

Đức Phật cũng lắc đầu không chấp nhận.

Một vị Tỳ Kheo khác nói : “Hai phần ba con đường”.

Đức Phật cũng lắc đầu không chấp nhận.

- Cuối cùng có một vị Tỳ Kheo bạch với Đức Phật rằng :

“Theo con, trên bước đường tiến tu, nếu có được một người bạn lành, thì người nầy sẽ giúp cho mình đi đến hết con đường”.
Đức Phật gật đầu và nói : “Đúng vậy”.

Đọc Thiền sử, chúng ta đều biết Thiền sư Trí Tạng (Tây Đường 735 – 814) họ Liệu, quê ở Kiền Hóa, xuất gia lúc 8 tuổi, 25 tuổi thọ giới Cụ Túc. Có ông thầy tướng thấy tướng Sư nói : “Thầy cốt cách phi phàm sẽ làm phụ tá cho vị pháp vương”.

Sư tìm đến tham vấn Thiền sư Mã Tổ, được Mã Tổ chấp nhận chỉ dạy. Sư đồng nhập thất với Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)… cũng đồng được ấn ký.

Một hôm, Thiền sư Huệ Tạng (Thạch Cũng) cùng với Trí Tạng (Tây Đường) đi dạo chơi. Thiền sư Huệ Tạng hỏi Trí Tạng : “Sư đệ có biết bắt Hư Không chăng ?

Trí Tạng đáp : “Biết bắt”.

-   Làm sao bắt được ?

Trí Tạng lấy tay chụp Hư Không.

Huệ Tạng bảo : “Làm thế ấy đâu bắt được Hư Không”.

-   “Sư huynh làm sao bắt được ?”

Huệ Tạng liền nắm mũi Trí Tạng kéo mạnh.

Trí Tạng đau quá la lên : “Giết chết lỗ mũi người ta ! Buông ngay !”

Huệ Tạng bảo : “Phải làm như thế mới bắt được Hư Không”.

Về chùa, đến khuya Trí Tạng mới nhận ra được ý chỉ đó !

Hai huynh đệ Nham Đầu và Tuyết Phong Nghĩa Tồn đi đến Ngao Sơn gặp lúc trời trở tuyết, nên cả hai vào trong cái miếu nhỏ ở tạm. Mỗi ngày Tuyết Phong đều lo ngồi Thiền, còn Nham Đầu thì không ngồi, mà lại còn quở Tuyết Phong tại sao ngồi Thiền mãi vậy.

Tuyết Phong nói : “Tôi thật còn chưa ổn”.

Nham Đầu bảo : “Nếu huynh thật như thế, cứ chỗ thấy của huynh mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho huynh, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì huynh đuổi dẹp”.

Tuyết Phong kể lại : “Khi xưa, tôi mới đến chỗ Thiền sư Diêm Quan, thấy Ngài thượng đường nói về nghĩa Sắc Không, ngay đó tôi liền được cửa vào”.

Nham Đầu bảo : “Từ đây đến 30 năm sau rất kỵ không được nói đến”.

Tuyết Phong kể tiếp : “Tôi thấy bài kệ của Ngài Động Sơn khi qua cầu Ngộ Đạo (khi Động Sơn qua cầu, nhìn dưới dòng suối thấy bóng của mình, ngay đó Ngài ngộ liền làm bài kệ :

“Thiết kỵ tùng tha mích
  Điều điều dữ ngã sơ
  Cừ kiêm chánh thị ngã
  Ngã kim bất thị cừ”.

(Theo HT. Thiền sư Thích Thanh Từ, bài kệ nầy có nghĩa là : rất tối kỵ, chẳng tìm nơi khác mà được. Vì nếu tìm nơi khác thì đã cách xa, không phải là mình. Cừ kiêm chánh thị ngã :  Nghĩa là (hay là nó) chính là mình. Ngã kim bất thị cừ : là mình thì không phải nó. Bởi vì Ngài Động Sơn đi trên cầu, nhìn dưới suối thấy bóng của mình. Cái bóng thì đâu phải là mình, nhưng nó có rời mình không ? Bởi vậy, nên nói nó cũng chính là mình (Cừ kiêm chánh thị ngã). Nhưng mà mình không phải nó, tức nói mình không phải bóng, Ngài Động Sơn do nhận thấy bóng của mình liền Ngộ Đạo).

Ngài Tuyết Phong nghe thấy được bài kệ nêu trên nên cũng có tỉnh. Bởi tỉnh nên trình với Ngài Nham Đầu, nhưng Ngài Nham Đầu lại bảo rằng : “Nếu chừng ấy tự cứu cũng chưa tột”.

Ngài Tuyết Phong kể thêm : “Một hôm, tôi hỏi Ngài Đức Sơn việc tông thừa con có phần chăng, Ngài Đức Sơn đánh một gậy hỏi tôi nói cái gì ? Tôi khi ấy như thùng lủng đáy”.

Ngài Nham Đầu nạt : “Huynh chẳng nghe thấy từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà sao !?”.

Sau đó Tuyết Phong hỏi thêm : “Về sau làm thế nào mới phải ?”.

Ngài Nham Đầu bảo : “Về sau, muốn xiển dương đại giáo mỗi mỗi từ trong hông ngực lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời che đất đi”.
Ngay nơi câu nói nầy, Ngài Tuyết Phong liền được Khai Ngộ, nên nói là Ngộ Đạo ở Ngao Sơn.

Tóm lại, tu Thiền bắt buộc phải được như thực Kiến Tánh (Giác tự tâm hiện lượng) mới có được lợi ích thiết thực trong việc tu hành. Và để làm cho được công việc nầy, người tu phải có Minh Sư hay Thiện Tri thức hướng dẫn đưa đường chỉ lối cho mới được. Do đó, Trí Tạng (Tây Đường) thì sống y chỉ với Thiền sư Mã Tổ (Đạo Nhất), còn Tuyết Phong thì lặn lội đến học hỏi với Thiền sư Diêm quan và Thiền sư Đức Sơn. Nhưng rốt cuộc, Trí Tạng và Tuyết Phong vẫn chưa thấy hay nhận ra cho được cái “Tâm Thể Vô Niệm” hay cái “Tâm tĩnh lặng mà biết” của chính mình. Nói cách khác, là cả hai người vẫn chưa được như thực Kiến Tánh hay Giác tự tâm hiện lượng. Tại sao ?

Tại vì, người xưa dạy đạo bằng cách đem cái Dụng của tâm ra để chỉ cho người đi học Đạo mà không giải thích. Còn người đi học Đạo, phải biết nương vào cái Dụng đó, để thấy hay thể hội cho được cái thể của Tâm, thì sẽ được Khai Ngộ hay Kiến Tánh. Thế nên, cách thức dạy Đạo của người xưa, chỉ và chỉ có những ai thuộc vào bậc siêu nhân hoặc bậc thượng căn, thượng trí mới có thể lãnh hội nổi mà thôi. Bằng cớ là hồi Đức Phật còn tại thế, trong một pháp hội ở Linh Sơn, Đức Phật cầm cành hoa đưa lên mà không nói một lời làm cho đại chúng ngơ ngác không hiểu ý Đức Thế Tôn ra sao. Trong khi đó, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp ngộ được yếu chỉ, hướng về Đức Phật mĩm cười.

Đức Phật liền bảo với đại chúng :

“Ta có pháp môn vi diệu, con mắt của chánh pháp, tâm diệu của Niết Bàn, là tướng thực không tướng; không lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, nay giao phó cho Ma Ha Ca Diếp”.

Từ đó, Tôn giả Ca Diếp được xem là vị Tổ thứ nhứt của Thiền Tông ở Ấn Độ một cách danh chánh ngôn thuận.

Thế là Chư Tổ trước kia đều dạy Đạo theo kiểu cách đó, nên ít có ai được Kiến Tánh. Cuối đời Đường đầu nhà Tống. Tổ Hoàng Bá đã phải than rằng : “Có Thiền chớ không có Sư”, và pháp Tham Thoại Đầu (không rõ ai là người đã phát minh) mới có cơ hội để phổ biến tràn ngập Thiền lâm thuở đó !.

Chính vì thế cho nên, Trí Tạng và Tuyết Phong phải lâm vào hoàn cảnh chưa được như thực Kiến Tánh. Giả sử, các Ngài không có hai người bạn lành là Huệ Tạng và Nham Đầu nhổ đinh tháo chốt dùm cho, thì liệu các Ngài có hy vọng gì được như thực Kiến Tánh hay Triệt Ngộ không ?

Nhưng, chỗ Ngộ của Ngài Tuyết Phong như thế nào ?

Trước hết, chúng ta nên biết rằng, người xưa dạy Đạo không bao giờ chịu nói huỵch otẹt ra cho người học Đạo dễ hiểu đâu. Cho nên, khi nghe Tuyết Phong hỏi : “Về sau làm thế nào mới phải ?”, thì Ngài Nham Đầu liền bảo rằng :

“Về sau muốn xiển dương Đại giáo mỗi mỗi đều từ trong hông ngực mà lưu xuất, sau nầy sẽ cùng ta che trời che đất đi”.

Qua sự Khai thị của Nham Đầu, chúng ta nên biết rằng : “Muốn xiễn dương Đại giáo mỗi mỗi đều từ trong hông ngực mà lưu xuất” có nghĩa là : Muốn dạy Đạo Nhất Thừa hay Tối Thượng Thừa, người dạy phải có Vô Sư Trí hay Phật Tri Kiến mới có thể dạy người ta được. Mà muố có Vô Sư Trí hay là Phật Tri Kiến (Vô Sư Trí ở trong tâm, thuộc về Vũ Trụ Tri Giác), người tu phải nắm bắt Thiền hoặc là dừng bặt (ngừng dứt) cho được Vọng tưởng Tạp niệm ở trong Tâm Linh. Vì Đức Phật có dạy như sau :

1)- “Có Thiền Trí Tuệ sanh,
       Không Thiền Trí Tuệ diệt.
       Hai nẽo sanh  diệt ấy nếu biết,
       Hãy nỗ lực viên thành Trí Tuệ”.

2)- “Lạ thay ! Lạ thay ! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai. Nhưng vì Vọng tưởng trói buộc, nên không chứng được. Nếu lìa Vọng tưởng, thì Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí và các năng lực to lớn khác sẽ hiện bày, tha hồ mà lấy dùng”.
Nhưng như thế nào là Thiền ?

Đức Lục Tổ nói : “Sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính mắc và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền”. Còn Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn, sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử thì nói : “Đối cảnh vô tâm, chớ có hỏi Thiền”.

Như vậy, Vô Tâm hay Vô Niệm là : Thiền. Thiền là một vật báu vô giá ở bờ bên kia (Bờ Giác) thuộc về Vũ Trụ Tri giác (Vũ Trụ Tuyệt Đối). Chớ không phải là thứ Thiền : Tịnh Lự và Tư Duy Tu ở bên nây (Bờ mê) thuộc về Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối, Vũ Trụ Vật Chất) mà người ta thường hay nói đến đâu. Nếu như không khéo hiểu biết, sai hào ly đất trời ngăn cách đấy.

Tóm lại, muốn được Vô Sư Trí (Phật Tri Kiến) hay muốn được Khai Ngộ hay Kiến Tánh, chúng ta phải có Thiền hoặc phải dừng bặt hay Lìa cho được Vọng tưởng Tạp niệm ở trong Tâm Linh, thì lúc bấy giờ chúng ta mới có hy vọng được toại nguyện. Bởi vì, khi có Thiền hay dừng bặt được Vọng tưởng Tạp niệm, thì chúng ta đã mở ra được Cánh Cửa giải Thoát, đã qua được Bờ Giác, đã tiến nhập vào được Vũ Trụ Tuyệt Đối (Vũ Trụ Tri giác, Vũ Trụ Phi Vật Chất, Tổng Cơ Quan áo Bí Của Vũ Trụ), và đã được tiếp cận hay giáp mặt với Ông Phật của chính mình rồi vậy.

Chúng ta có thấy được chỗ Ngộ của Ngài Tuyết Phong chưa ? Nếu chưa, chúng ta phải dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong Tâm Linh từ 5 phút trở lên cho đến một tiếng đồng hồ, thì lúc bấy giờ chúng ta sẽ được như thực thấy biết Ngài Tuyết Phong được Ngộ Đạo là Ngộ cái gì.

Nhưng làm thế nào để dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tâm Ngữ” không hình tướng khõ khống chế ở trong Tâm Linh ?
Chỉ có Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát mới có thể giúp cho chúng ta làm được công việc đó, để cho Quý Vị được Khai Ngộ hay Kiến Tánh mà thôi !

Lẽ dĩ nhiên, đã có nhiều người nhờ Diệu Pháp nầy mà thấy được cái Bản Lai Diện Mục của chính mình một cách dễ dàng. Nên người viết hy vọng và ước mong người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay nên đặc biệt lưu ý. Nếu như không khéo hiểu biết trong việc chọn lấy pháp tu để tu tập, thì nhất định sẽ mất thời giờ, tốn công nhọc sức vô ích mà thôi.

Sau hết, chúng ta hãy nghe Tổ Hoàng Bá nói :

Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Cũng phải mấy phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngữi mùi hương.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước
6  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###18.- Quán sát đạo lý vô thường vào lúc: Tháng Năm 01, 2016, 11:23:15 am
18.- QUÁN SÁT ĐẠO LÝ VÔ THƯỜNG
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

Trong kinh sách PHẬT có nói : “Bố thí, cúng dường PHẬT và Tăng chúng thì có phước đức rất lớn. Song có phước đức lớn hơn là xây cất một Tu Viện cho Tăng chúng. Có phước đức lớn hơn là xây cất một Tu Viện cho Tăng chúng  là “thọ Tam Quy”, quy y PHẬT, PHÁP, TĂNG. Có phước đức lớn hơn thọ tam quy là “Giữ ngũ giới”. Và có phước đức lớn hơn giữ ngũ giới là “giữ tâm niệm từ bi”, dù chỉ trong giây phút. Nhưng, có phước đức lớn hơn tất cả là “Quan sát sâu sắc đạo lý vô thường” của sự vật”.


Thật vậy, “Quán sát đạo lý vô thường” thì sẽ có phước rất lớn, cho nên khi còn tại thế Tổ A NAN có nói rằng :

“Người sống trăm tuổi mà không biết pháp sanh diệt,
Không bằng người sống một ngày biết được pháp đó”.

Do đó, những ai muốn chấm dứt mọi nỗi đau và phiền não ở trên cõi đời nầy hay muốn ra khỏi nhà lửa (=Tam giới) để được “liểu sanh thoát tử” đều phải “Quán sát đạo lý vô thường” mới có hy vọng được toại nguyện. Và để làm cho được cái công việc nầy, người tu chúng ta nên tìm hiểu cho thật kỹ lời dạy của Đức Phật dưới đây :

“Nếu cái nầy có, cái kia có, do cái nầy sanh, cái kia sanh, nếu cái nầy không có, cái kia không có, do cái nầy diệt, cái kia diệt, tức là Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh. Do duyên Sanh, Lão, Tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não sanh khởi.

Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẫn nầy.

Nhưng, do sự diệt trừ, sự ly dục hoàn toàn của chính Vô Minh nầy, các Hành diệt. Do các Hành diệt, Danh Sắc diệt. Do Danh Sắc diệt Lục Nhập diệt. Do Lục Nhập diệt Xúc diệt. Do Xúc diệt Thọ diệt. Do Thọ diệt Ái diệt. Do Ái diệt Thủ diệt. Do Hữu diệt Sanh diệt. Do Sanh diệt Lão, Tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não đoạn diệt.

Như vậy, là đoạn hoàn toàn của khổ uẫn nầy".

Sao, qua lời dạy của Đức Phật nêu trên, các bạn cảm thấy thế nào ? Có phải chăng, cũng chỉ vì hai chữ “Vô Minh” nên chúng ta mới bị trầm luân trong biển khổ sanh tử từ vô thỉ nhẫn nay !? Và giờ đây, nếu muốn tiêu diệt cho được Vô Minh để được “liểu sanh thoát tử” hay chuyển phàm thành Thánh, các bạn phải tu tập như thế nào đây ? Có phải chăng, ngoài việc tụng kinh, lễ bái, sám hối  và cầu nguyện ra, các bạn còn phải “Quán Sát sâu sắc Đạo Lya Vô Thường” mới có hy vọng được mãn nguyện ?

Nhưng Vô Minh là cái gì và làm thế nào để tiêu diệt Vô Minh ?

Trong kinh A Hàm, Đức Phật có dạy : “Nếu không biết rõ TỨ DIỆU ĐẾ như thật là Vô Minh (Ghi chú : Bất tịnh, Khổ, Vô Thường, Vô Ngã mà lại thấy là : Tịnh, Lạc, Thường, Ngã tức là Vô Minh). Còn trong kinh VIÊN GIÁC, Đức Phật lại dạy như sau : “Nếu thấy thân ngũ uẫn và sáu trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) có thật là Vô Minh”. Riêng Thiền tông thì nói : “Vọng tưởng tạp niệm” hay những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” hay “Nghĩ bậy Tưởng bạ” chính là Vô Minh. Và cái Vô Minh nầy còn được gọi là : “Căn bản vô thủy sanh tử”, “Hoặc + Nghiệp + Khổ”. “Vô Minh Nguyên Thủy”, “Vô Minh Trụ Địa Phiền Não” và “Biến Dịch Sanh Tử” (Ghi chú : Biến dịch sanh tử tức là cái chết của bậc Thánh).

Người tu theo Tam Thừa (Thinh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, Bồ Tát Thừa) nếu muốn tiêu diệt Vô Minh phải “Quán sát đạo lý vô thường” về cái thân ngũ uẫn nầy cũng như tất cả các pháp ở trên thế gian nầy, thì sẽ được toại nguyện. Bởi vì, Đức Phật có dạy rằng :

1)-Do Ái sanh Ưu
     Do Ưu sanh Bố
     Nhược ly tham Ái
     Hà Ưu hà Bố
DỊCH :

    
 Do Ái sanh Lo
      Do Lo sanh Sợ
      Nếu lìa tham Ái
     Nào Lo nào Sợ !

2)-“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẫn giai không, độ nhứt thiết khổ ách” (Bồ Tát Quán Tự Tại quán chiếu thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa (tức diệu pháp trí độ, soi thấy thân ngũ uẫn đều “Không”, liền vượt được mọi khổ nạn).

Do đó, người có ý chí xuất trần thời nay nên biết rằng :
1)-Khi Đức Phật còn tại thế, Tỳ Kheo Na Tiên là một vị Thánh Tăng nên được bốn chúng Phật tử kính mến và ái mộ. Vua NALANDÀ biết dược việc nầy nên đi đến gặp Tỳ Kheo NA TIÊN và hỏi :

- “Ngài có phải Tỳ Kheo NA TIÊN không ? – Tỳ Kheo NA TIÊN liền đáp: “Tâu Bệ hạ ! Ở đây, không có ai thật là Tỳ Kheo Na Tiên”. Nhà vua nghe Tỳ Kheo Na Tiên nói như thế có vẻ không hài lòng, nên Tỳ Kheo Na Tiên liền hỏi nhà vua : “Tâu Bệ hạ, bệ hạ đến đây bằng gì ?”. nhà vua đáp : “Ta đến đây bằng xe”. Tỳ Kheo Na Tiên liền hỏi nhà vua : “Như thế nào là xe ?”. nhà vua liền nắm lấy tay Tỳ Kheo Na tiên dẫn đi đến chỗ chiếc xe song mã, rồi nhà vua chỉ và nói với Tỳ Kheo Na tiên rằng : “Chiếc xe đấy”. Tỳ Kheo Na Tiên liền chỉ con ngựa hỏi : “Cái nầy có phải xe không ?”. nhà vua nói : “Cái đó là gọng xe, chớ không phải là xe”. Tỳ Kheo Na Tiên chỉ cái mui xe hỏi : “Cái nầy có phải xe không ?. nhà vua nói : “Cái đó là cái mui xe”. Sau cùng, Tỳ Kheo Na Tiên chỉ cái bánh xe hỏi : “Cái nầy có phải xe không ?. nhà vua đáp : “Cái đó là bánh xe, chớ không phải là xe”… Lúc bấy giờ, Tỳ Kheo Na Tiên liền nói : “Con ngựa, gọng xe, mui xe và bánh xe… không phải là xe, vậy cái gì là xe ?. Và qua câu hỏi nầy của tỳ Kheo Na Tiên, Vua Nalandà liền tỏ ngộ được giáo lý vô thường nên rất hoan hỷ, lễ tạ và cáo từ ra về.

2)- Tỳ Kheo CHÂU LỢI BÀN ĐẶC là một người rất tối dạ, chỉ có hai chữ : “TẢO TUỆ” mà học hoài vẫn không thuộc, hễ nhớ chữ Tảo thì quên chữ Tuệ. Còn nhớ chữ Tuệ thì quên chữ Tảo. Nên Đức Phật đứa cho ông ta một cái khăn tay trắng để quán sát. Và sau một thời gian dài quán sát cái khăn, Tỳ Kheo Châu Lợi Bàn Đặc trở nên một bậc Thánh nhân.

Tuy nhiên, biết được đạo lý vô thường là một chuyện, còn “Quan sát sâu sắc đạo lý vô thường” được như Bồ Tát Tự Tại, thì có thể nói là từ xưa đến nay không có mấy người, đặc biệt là những người tu ở vào thời buổi hiện nay !? Bằng cớ, là có rất nhiều người tu hành hễ mở miệng là nói cái gì cũng “Giả” cũng “Không”, nhưng khi xúc duyên chạm cảnh thì lúc bấy giờ thấy cái gì cũng “Có” cũng “Thiệt” hết trơn !. Do vậy, cho nên Tổ HOÀNG BÁ (Thiền sư HY VẬN ở Trung Hoa) có dạy rằng :

“Một vật chia ra làm thành 100 phần, nếu như quán chiếu thấy 99 phần là Giả, là Không. Còn lại một phần, nếu thấy là Thiệt là có, thì còn nguyên con”.

Thế nên, người tu ở vào thời buổi hiện nay nên như thật biết rằng :
-Đại Tự nhiên tức Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối = Vũ Trụ Vật chất). Đại tự nhiên tuy có bao la muôn tượng, muôn màu ngàn vẽ, thiên sai ngàn biệt, nhưng nếu nói gom lại thì chỉ có ba thứ : Thân, Tâm và Vật làm đại biểu cho tất cả. Và qui luật vận động của chúng là :

- Thân thì : Sanh, Già, Bệnh, Chết.
- Tâm thì : Sinh, Trụ, Dị, Diệt.
- Vật thì : Thành, Trụ, Hoại, Không.

Do vậy, cho nên những gì mà mắt chúng ta có thể thấy, tay có thể chỉ ra được là một hiện tượng mà thôi ! Chúng tuy có đó, nhưng sớm hay muộn gì rồi chúng cũng sẽ mất đi, chớ không thể nào tồn tại mãi được.

Nên trong kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy rằng :
A.- Nhứt thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh.
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.

DỊCH :

Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng.
Như sương cũng như điện,
Nên quán sát như thế.

b.- “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến NHƯ LAI” (Phàm cái gì có tướng đều giả dối không thật. Nếu thấy cái Không tướng của các tường tức thấy Phật).

Lại nữa, trong kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN cũng có một bài kệ thật hay như sau :

Chư hạnh vô thường,
Thị sanh diệt pháp.
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc…

DỊCH :

Các hạnh vô thường,
Là pháp sanh diệt.
Sanh diệt diệt rồi,
Tịch diệt là vui.

“Chư hạnh vô thường” là một trong “Tam Pháp Ấn” của nhà Phật, nên người tu Thiền (Thiền tông) cũng phải “Quán sát sâu sắc đạo lý vô thường” để nắm bắt cho được Thiền, thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được như thực Kiến Tánh (Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo. Bằng cớ, là Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG khi nghe Đức Ngũ Tổ HOẰNG NHẪN giảng kinh Kim Cang đến câu : “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sinh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, thì Ngài liền được Khai Ngộ hay Kiến Tánh. Vả sau đó, Thiền sư DUY TÍN đời nhà Tống cũng nói rằng : “Khi chưa đi tu, tôi thấy núi sông là núi sông. Khi tu được mười lăm năm rồi, tôi thấy núi sông không phải là núi sông. Khi tu thêm mười lăm năm nữa, tôi thấy núi sông là núi sông”.

Nói tóm lại, muốn ra khỏi Vũ Trụ Cảm Giác để được “liểu sanh thoát tử” hay muốn Đại Tự Tại và Giải Thoát Lớn (thành Phật làm Tổ) hành giả phải “Quán sát sâu sắc đạo lý vô thường” thì lúc bấy giờ mới có hy vọng được mãn nguyện. Bởi vì, Thiền sư MINH CHÁNH, một Thiền sư Việt Nam có cảnh giác người tu chúng ta như sau :

Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng biết bản lai vô nhứt vật,
Công phu luống uổng một đời ai.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước

7  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###17.-Cánh cửa giải thoát vào lúc: Tháng Tư 02, 2016, 11:22:52 am

17.- CÁNH CỬA GIẢI THOÁT
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

Một con chim bị nhốt trong một cái lồng thật xinh đẹp có đầy đủ thức ăn ngon và nước uống, nhưng con chim không hề quan tâm tới, mà chỉ nghĩ đến việc làm sao thoát ra khỏi lồng mà thôi. Thế nên, nó cứ bay qua, nhảy lại trong lồng suốt cả ngày lẫn đêm để tìm cách thoát thân.

Nhưng vì nó không biết cái cửa lòng ở chỗ nào cũng như không biết làm sao để mở cho được cái cửa lồng đó. Nên, sau đó vài ngày người ta thấy con chim đứng ở trong lồng ăn, uống và rỉa lông một cách tỉnh bơ, coi như không có gì xảy ra cả ! Thật rất đáng thương và cũng thật tội nghiệp cho con chim vô cùng!

Người tu thiền (Thiền tông) thời nay nên biết rằng :
1.- Mục tiêu và người tu Thiền nhằm tiến đến là : “TÂM THỂ VÔ NIỆM”. Vì “Tâm Thể vô Niệm” là cái “Tâm Thanh Tịnh” hay cái “Tâm Chính Thường”. Nếu ai nắm bắt hay đạt được “Tâm Thể Vô Niệm”, thì người này sẽ được “Kiến Tánh Thành Phật”.

2.- Nguyên tắc tu Thiền là “NHẬP LƯU” (Hướng nội). Vì “Xuất Lưu” là chạy theo sanh tử, còn “Nhập Lưu” mới được giải thoát. Nói cách khác : “Xoay đầu lại là bờ giác” hay “Trông ra khơi thì biển hận muôn trùng, còn ngó ngoáy lại là đứng kế bên bờ giác”.

Muốn được “Kiến Tánh thành Phật”, mà người ta tu Thiền lại không biết cái cửa “Ra Vào Dòng Luân Hồi” (mấu chốt của định luật Luân Hồi) hay cái “Cánh Cửa Giải Thoát” ở chỗ nào, cũng như không biết phải làm như thế nào để mở ra cho được cánh cửa đó thì nên biết rằng mình không thể nào thoát ra khỏi nhà lửa (Tam giới) để được Đại Tự Tại và Giải Thoát Lớn (Thành Phật) được !

Nhưng, cái cửa “Ra Vào Dòng Luân Hồi” hay cái “Cánh Cửa Giải thoát” ở chỗ nào và phải làm sao để được “Kiến Tánh” ?

Cánh cửa “Ra Vào Dòng Luân Hồi” hay “Cánh Cửa Giải Thoát” không có ở trên trời xanh mây trắng hay ở trên nóc nhà của Ngọc Hoàng Thượng Đế, mà nó ở ngay trong cái thân tứ đại ( vật chất) hay cái thân ngũ uẫn của chúng ta. Thật vậy, nếu như ai muốn thấy cái cánh cửa đó, chỉ cần tìm một nơi thanh vắng ngồi yên, nhắm kín hai con mắt thịt (nhục nhãn) lại, rồi dùng hai con mắt tâm (tâm nhãn) quan sát từ trong thân (từ hai vai tới rún) cho thật kỹ xem coi ở trong đó im lặng như tờ hay ồn ào náo nhiệt như cái chợ một thứ ? Nếu như ai phát hiện ở trong đó có nói, cười, chửi mắng, đua thuyền, đá banh hay “nghĩ đến cái này”, “nhớ đến cái nọ” hoặc “nghĩ bậy tưởng bạ” hay thì thì thầm thầm, rối rối rít rít suốt cả ngày đêm không bao giờ chịu ngừng dứt… thì nên biết rằng mình đã phát hiện (thấy) được cái “tâm điên đảo” (tâm mất chính thường) của chính mình ở chỗ nào trong cái thân vật chất này rồi vậy.

Lại nữa, nếu thấy biết được cái “tâm điên đảo” của mình ở chỗ nào rồi, thì lúc bấy giờ, thì lúc bấy giờ sẽ thấy (biết) :

a).- Chân Tâm (Phật Tánh) cũng ở chỗ đó, bởi lẽ, hễ nơi nào có Sóng thì nơi đó có Nước. Nói cách khác, Chân Tâm với cái “tâm điên đảo” của chúng ta cũng giống như một bàn tay có hai bề vậy, nếu như không phải là bề sấp, thì là bề ngửa.

b).- Những ý niệm tham, sân hay những ý niệm chánh hay tà hoặc những thứ “nghĩ bậy tưởng bạ”… (tất cả đều là sản phẩm hay con đẻ của VÔ MINH) khởi lên ở cánh cửa “Ra Vào Dòng Luân Hồi” hay “Cánh Cửa Giải thoát” cũng ở chỗ đó.

(Chú ý : Có người chỉ cần quan sát một lần là thấy được cái tâm điên đảo và Cánh Cửa Giải Thoát ở chỗ nào trong cái thân vật chất. Nhưng cũng có người phải quan sát nhiều lần, vì phải đợi cho nước tâm (tâm thủy) lóng trong, mới có thể thấy được).

Ngày xưa, Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG có nói rằng : “Phật nói tất cả pháp để trị tất cả tâm. Ta không tất cả tâm, nên không cần tất cả pháp”. Cho nên, ngày nay chúng ta có thể nói tu Thiền chỉ là cái công việc “Trị Tâm Bệnh” chớ không có gì lạ lùng hay huyền bí chi cả. Nếu như ai không tất cả tâm (không tham, sân, si, mạn, nghi và tà kiến…) như Đức LỤC TỔ, thì người nầy khỏi cần phải tu Thiền, mà vẫn được thành Phật, làm Tổ như thường, có phải vậy không ?

Tại sao, tâm của chúng ta điên đảo hay mất chính thường ?

Tại vì VÔ MINH (Hoặc + Nghiệp + Khổ) trói buộc, nên tâm của chúng ta điên đảo hay mất chính thường. Do đó, nên chúng ta mới bị trầm luân trong biển khổ sanh tử từ vô thỉ nhẫn nay ! Người tu thời nay nên biết rằng, sáu cái căn bản là : Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Tà Kiến (Ác kiến) đều là con đẻ hay sản phẩm của VÔ MINH đấy. Và tên khác của Vô Minh là “Hoặc + Nghiệp + Khổ” hay Vô Minh Trụ Địa Phiền Não và Biến Dịch Sanh Tử.

Nhưng làm thế nào tiêu diệt cho hết Vô Minh ?

Việc “Trị bệnh của tâm” và việc “Trị bệnh của thân” tuy có khác về phương pháp nhưng lại rất giống nhau về nguyên lý :
THUỐC ĐÚNG BỆNH + DÙNG ĐỦ LƯỢNG + THỜI GIAN

Do đó, để tiêu diệt Vô Minh (Biến dịch sanh tử) người tu phải dùng Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp GIẢI THOÁT star để tu tập, nếu dừng bặt (ngừng dứt) được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” (Vọng tưởng tạp niệm) để cho tâm linh được “Vô Niệm” chừng một hoặc hai phút thôi, cũng đã là quí lắm rồi ! Bởi vì, lúc bấy giờ người tu đã mở ra được “Cánh Cửa Giải Thoát”, đã thoát ra khỏi Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối=Vũ Trụ Vật Chất), đã tiến vào được Vũ Trụ Tuyệt Đối (Vũ Trụ Tri Giác=Vũ Trụ Phi Vật Chất=Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ) để được tiếp cận hay giáp mặt với cái Chân Tâm (Phật Tánh) hay cái Bản Lai Diện Mục của chính mình rồi vậy !

Người tu Thiền ở vào thời buổi hiện nay có biết không ?

Năm 1967, Tiến sĩ ANDREY DMITRIYEVICH SKAROV cha đẻ của trái bom khinh khí (H.Bomb) Liên Xô cũ, đã long trọng tuyên bố với thế giới :

“Vũ Trụ Vật Chất do Vũ Trụ Phi Vật Chất sinh ra. Vũ Trụ Phi Vật Chất là cái có trước, Vũ Trụ Vật Chất là cái có sau”.

Ngày 20.3.1983, Tiến sĩ LÝ CHÁNH ĐẠO (NOBEL Vật lý, người Mỹ gốc Hoa) đã trả lời câu hỏi của Ông HOÀNG THIÊN TÀI, đặc phái viên tại Nhật Bản của tờ Trung Ương Nhật Báo, tại phi trường NARITA (Thành Điền) Nhật Bản như sau :

“Mục tiêu của các nhà khoa học mũi nhọn hiện nay, là tìm cho ra TỔNG CƠ QUAN ÁO BÍ CỦA VŨ TRỤ. Nếu tìm được Tổng Cơ Quan nầy rồi, có thể giải thích được tất cả những sự việc thần bí ảo diệu mà nhà khoa học hiện nay chưa giải thích được… Cũng giống như muốn trị nạn lụt cho hai con sông Hoàng Hà, Trường Giang gây ra, không thể giải quyết ngay tại địa khu bị lũ lụt, mà phải theo dòng sông, phăng tìm đến nơi phát nguyên là THANH HẢI mới xử lý vấn đề một cách trọng vẹn”.

Nhưng mãi đến giờ phút nầy rồi (2007) mà các nhà khoa học mũi nhọn vẫn còn dặm chân ở bức tường PLANCK (**), chớ chưa tiến nhập vào được cái Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ ! Đó là điều mà người tu Thiền thời nay nên biết, để tự sách tấn trong khi tu tập.

Trong khi tu tập, nếu ai dừng bặt được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, “Tự Nói Tự Rằng” (Vọng tưởng tạp niệm) để cho  tâm linh được Vô Niệm từ 5 phút trở lên cho đến một tiếng đồng hồ, thì người nầy sẽ được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo. Bởi vì, khi vừa mới thành Đạo, Đức PHẬT đã từ bi khai thị như sau :

“Kỳ tai ! Kỳ tai ! Đại địa chúng sanh cụ hữu NHƯ LAI trí tuệ đức tướng. Chỉ nhân vọng tưởng triền trước, cố bất khả chứng đắc. Nhược ly vọng tưởng, Vô Sư Trí, các đại năng tức giai hiện chi, nhậm vận tự như !”.

(Lạ thay ! Lạ thay ! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ tướng phước đức trí tuệ NHƯ LAI. Chỉ vì Vọng Tưởng trói buộc nên không chứng được. Nếu LÌA vọng tưởng, thì VÔ SƯ TRÍ và các năng lực to lớn sẽ hiện ra, tha hồ dùng hoài không hết !”).
Và Kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng có nói : “Cuồng tâm ký yết, yết tức Bồ Đề” “ (tâm ngừng nghỉ, ngừng nghỉ tức Bồ Đề).

Còn Đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG thì lại dạy rằng : “Tà chánh tận đã khướt, Bồ Đề tính uyễn nhiên” (Niệm tà niệm chánh đều dẹp sạch, tánh Bồ Đè hiện rõ ràng).

Tóm lại, người tu nào đã dừng bặt được “Vọng tưởng tạp niệm” để cho tâm linh được Vô Niệm từ 5 phút trở lên cho đến một tiếng đồng hồ, mà vẫn chưa đủ niềm tin rằng mình đã được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo, thì nên biết rằng:

1.- Ngày xưa, Nhị Tổ HUỆ KHẢ thấy tâm mình không an (loạn động hay điên đảo) nên bạch với Tổ Bồ Đề Đạt Ma rằng :
 “Bạch Hòa  Thượng ! Tâm con không an, kính xin Hòa Thượng ban cho con “Pháp An Tâm” ?

Tổ ĐạT MA bảo : “Con đưa tâm đây Thầy an cho”.

Nhị Tổ tìm lại tâm mình thì không thấy, nên thưa rằng :
“Con tìm tâm không thấy”.

Tổ ĐẠT MA liền nói : “Ta đã an tâm cho con rồi đấy”.

Thế là Nhị Tổ liền được Khai Ngộ hay Kiến Tánh !

2.- Tổ BỒ ĐỀ ĐẠT MA cũng có nói : “Nếu thấy tâm không là thấy PHẬT”.

3.- Thiền Sư VÔ NGÔN THÔNG ở dưới hội của Tổ BÁ TRƯỢNG HOÀI HẢI đã 3 năm rồi mà vẫn chưa thưa hỏi một lời. Một hôm, Ngài nghe Tổ BÁ TRƯỢNG dạy chúng, nói :
“Đất tâm nếu không, huệ nhựt tự chiếu”.

Thế là, Ngài liền được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo.

4.- Quốc Sư VIÊN CHỨNG (một Thiền Sư Việt Nam) nói :
“Trong núi không có PHẬT, PHẬT ở ngay trong tâm.
Tâm tĩnh lặng mà “Biết”, đó là ông PHẬT thật”.

5.- Thiền Sư HUỆ HẢI tác giả của quyển ĐỐN NGỘ NHẬP ĐẠO YẾU MÔN LUẬN thì nói : “Nếu tự biết rõ ràng, tâm mình chẳng trụ tất cả chỗ (***) tức là đã thấy được Bổn tâm, đã kiến được Bổn tánh”.

6.- HT.K.C.CHEN (T.Quang Tông) Viện Trưởng kiêm Đạo Sư Trường Dạy Thiền Học Hàm Thụ ở Úc Châu (Australia) nói :
“Chân nghĩa của việc Ngộ Đạo là tâm cuồng dừng bặt”.

Nói tóm lại, khi đã được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo rồi, thì hành giả đã vượt qua được cửa ải ngặt nghèo nhất trên bước đường tiến tu rồi đấy, nhưng chỉ mới là người thấy được Đầu đường về Niết Bàn, chứ chưa phải là người đã về đến hà (Bảo Sở). Do đó, hành giả cần phải biết quý trọng thời giờ và tinh tấn tiến tu để tiêu diệt cho sạch hết “Vọng tưởng tạp niệm” (Biến dịch sanh tử=Vô Minh=Hoặc=Nghiệp=Khổ) ở trong tâm linh, thì lúc bấy giờ mới có thể được Đại Tự Tại và Giải thoát Lớn (thành Phật). Bởi vì, Tổ LÂM TẾ NGHĨA HUYỀN có dạy rằng : “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”.

Chú thích :
star Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát : là thần dược để “Trị Tâm Bệnh”. Bằng cớ là đã có nhiều người nhờ pháp tu nầy mà được “Nhất Tâm Bất Loạn” (Vô Sanh Nhẫn) và được Kiến Tánh (Vô Sanh Pháp Nhẫn) một cách dễ dàng !
(**) PLANCK là tên của một nhà bác học được dùng để đặt tên cho lằn ranh giới ngăn cách Vũ Trụ Tương Đối và Vũ Trụ Tuyệt Đối.
(***) Tâm chẳng trụ tất cả chỗ: Tâm Linh Vô Niệm hay Thiền. Vì Đức Lục Tổ có nói : “Khi 6 căn không dính mắc với 6 trần và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền”.
***
Thiền sư Thích Thanh Phước

8  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###16.-Cứ làm thinh từ trong ruột đi chừng nào tới hãy hay! vào lúc: Tháng Ba 01, 2016, 11:17:07 am

16.- CỨ LÀM THINH TỪ TRONG RUỘT ĐI CHỪNG NÀO TỚI HÃY HAY!
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

Trên đường đi thỉnh kinh, một hôm thầy Tam Tạng đã phải mở miệng than rằng: - Các trò ơi! từ đây đến Tây Phương còn xa diệu vợi, mà trên đường thì yêu ma quỷ quái quá chừng, biết đi chừng nào mới tới được!

Nghe thầy than thở như vậy, Tôn Ngộ Không liền hỏi:
Thầy có thuộc Bát Nhã Tâm Kinh không?

Tam Tạng liền nói: - Cái thằng, thầy chùa mà không thuộc Bát Nhã Tâm Kinh sao, tao đọc ngược còn được nữa là!

Tôn Ngộ Không nói: - Con chỉ sợ thầy đọc mặt chữ thôi!

Thế là, Trư Bát Giới liền xen vào hỏi Tôn Ngộ Không:
-   Sư huynh có thuộc hôn mà làm tàng?

Vì đâu có thuộc chữ nào cho nên Tôn Ngộ Không đành phải làm thinh. Do đó, Tam Tạng liềm đở lời cho Tôn Ngộ Không bằng cách nói với Trư Bát Giới rằng:
-    Nó làm thinh là nó thuộc rồi đó con!

Thế nên, Tôn Ngộ Không cao hứng nói rằng:
-   Cứ làm thinh từ trong ruột, đi chừng nào tới hãy hay!
Theo Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân

LỜI BÌNH :

Qua cuộc  đối thoại nêu trên của ba thầy trò ông Tam Tạng trong Tây Du Ký, người tu chúng ta nên biết rằng:

   1.- Ngô Thừa Ân – tác giả quyển Tây du Ký, quả thật là một người hiểu biết giáo lý của Đức Phật rất thâm sâu!

   2.- Thời nay cách Phật quá xa lại còn rơi vào thời kỳ mạt pháp nữa, cho nên cái việc muốn thoát ly biển khổ sanh tử hay muốn thoát ra khỏi nhà lửa (Tam giới) không phải dễ như ăn cơm bửa hay như lấy đồ trong túi đâu! Bằng cớ là hiện nay có rất nhiều người tu theo Tịnh Độ cầu Vãng Sanh về Tây Phương Cực Lạc Thế giới của Đức Phật A Di Đà mà lại Niệm Phật không được “Nhất Tâm Bất Loạn”! Còn những người tu Thiền thì cũng không thấy có ai được Như Thực Kiến Tánh (Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo!?

   3.- Mục đích của việc tụng đọc kinh sách, là để biết Đức Phật đã dạy tu tập như thế nào, rồi y cứ theo lời dạy đó mà thực hành, thì lúc bấy giờ người tu mới có được lợi ích thiết thực trong việc tu hành. Còn như người tu chỉ tụng đọc mặt chữ suông thôi hay đọc cho Phật và Bồ Tát nghe, thì có thể nói chỉ tốn công nhọc sức vô ích mà thôi!

    Ngày xưa, Đức Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã nói :
   - Lũ chúng bây từ sáng cho đến tối cứ lo lễ bái và cầu nguyện. Bổn tánh, nếu bỏ quên thì phước nào mà cứu được.

4.- Trên bước đường tiến tu, nếu gặp phải những khó khăn hay chướng ngại nào đó, người tu phải biết Nhẫn Nhục (kham nhẫn) để vượt qua cho được mới có hy vọng “liểu sinh thoát tử”. Chính vì thế cho nên Tôn Ngộ Không mới nói :
-“ Cứ lặng thinh từ trong ruột đi chừng nào tới hãy hay !”.

Nhưng, muốn “làm thinh từ trong ruột” hay "nhẫn nhục” cho được đâu phải là chuyện dễ làm ! Nếu như người tu không có Bát Nhã Trí (Trí tuệ Bát Nhã) hay Vô Sư Trí thì làm sao có thể “làm thinh từ trong ruột” hay “nhẫn nhục” cho nổi !

Thế nên, Đức Phật mới có những lời dạy quý báu như dưới đây :

1.- Bồ Tát bố thí mà trụ tướng, thì không phải là Bồ Tát.

2.- Muốn thể hiện lòng từ bi phải nhẫn nhục. Mà muốn nhẫn nhục cho được phải có Trí Tuệ (Trí tuệ nói ở đây : Vô Sư Trí) (Nguyên văn trong kinh là : “Vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai)”.

Nhưng, như thế nào là : “Bố thí mà không trụ tướng ?”. Và phải tu tập như thế nào mới có được Vô Sư Trí ?

A.- “Bố thí mà không trụ tướng” : không thấy có mình bố thí cũng như không thấy có vật bố thí và người thọ thí. Và lẽ dĩ nhiên, chỉ có những vị Bồ Tát đã thân chứng được hai cái không là : “Ngã Không” Và “Pháp Không” mới có thể bố thí mà không trụ tướng mà thôi.

B.- Muốn có Vô Sư Trí, người tu phải được như thực Kiến Tánh hay Ngộ Đạo. Còn như muốn được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo, người tu phải nắm bắt cho được Thiền hoặc là phải dừng bặt (ngừng dứt) cho được những thứ “Tự ngôn Tự ngữ” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh từ 5 phút trở lên cho đến một tiếng đồng hồ. Vì, Đức Phật có dạy hai cách dưới đây :

1.- Có Thiền trí tuệ sanh,
Không Thiền trí tuệ diệt.
Hai nẽo sanh diệt ấy nếu biết,
Hãy nỗ lực viên thành trí tuệ.

(Chú ý : Thiền tịnh lự hay tư duy tu hay Thiền Minh Tư của ngoại đạo không đủ khả năng làm được việc này. Và chỉ có thứ Thiền mà Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông Sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử đã nói như sau : “Đối cảnh vô tâm chớ có hỏi thiền” mới có thể thành công.

2.- “Lạ thay ! lạ thay ! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ tướng phước đức trí tuệ Như Lai. Chỉ vì vọng tưởng trói buộc nên không chứng được. Nếu lìa vọng tưởng thì Vô Sư Trí và các năng lực to lớn khác sẽ hiện bày, tha hồ dùng hoài không hết !”.

(Nguyên văn trong kinh “Kỳ tai ! Kỳ tai ! đại địa chúng sanh cụ hữu Như Lai trí tuệ đức tướng. Chỉ nhân vọng tưởng triền trước, cố bất khả chứng đắc. Nhược ly vọng tưởng, Vô Sư Trí, các đại năng tức giai hiện chi, nhậm vận tự như !).
(Chú ý : hiện nay chỉ và chỉ có Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát mới có đủ khả năng dừng bặt (ngừng dứt) được vọng tưởng tạp niệm mà thôi.)

Nói tóm lại, khi gặp phải cảnh thuận hay cảnh nghịch, người tu phải có Bát Nhã Trí hay Vô Sư Trí mới có thể “làm thinh từ trong ruột” hay “nhẫn nhục” được. Và trong khi chờ đợi có được một trong hai thứ trí tuệ nói trên, người tu chúng ta phải học hỏi “Sự Nhẫn Nhục Của Đức Phật” được trình bày dưới đây để ý mà tu tập.

SỰ NHẪN NHỤC CỦA ĐỨC PHẬT

Là một vị Thái tử sống trong nhung lụa, thế mà Ngài đã trở thành một kẻ không nhà, lặn lội hết khu rừng này đến ngọn núi khác, chịu lạnh, chịu nóng, nhịn đói nhịn khát, tìm học với tất cả mọi người, không sợ nhục nhã, xấu hổ khi phải hỏi những điều mà mình chưa biết. Khi tu khổ hạnh với 5 anh em Kiều Trần Như, Ngài thấy không có kết quả, Ngài liền rời họ, trở lại ăn uống như thường, nên bị họ chế diễu, khinh bỉ; nhưng Ngài vẫn điềm nhiên như không, chỉ một dạ quyết tâm tu học mà thôi.

Khi đắc Đạo và trở thành một đấng chí tôn, Ngài bị Đề Bà Đạt Đa (anh em chú bác) nhiều lần quấy phá, nào thả voi dữ, nào lăn đá từ sườn núi cao xuống để hãm hại Ngài, nhưng không một lần nào Ngài tỏ vẻ phẩn nộ, bực tức. Khi bị thương nhẹ nơi chân vì hòn đá của Đề Bà Đạt Đa lăn xuống, Đức Phật đã điềm nhiên bảo với các đệ tử rằng : Đề Bà Đạt Đa là thiện hữu tri thức của Ngài, nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài mau thành Phật.

Khi bị ngoại đạo âm mưu sai người đến nhục mạ Ngài giữa đại chúng, Phật lặng thinh để cho người ấy nhiếc mắng. Cuối cùng, Ngài chỉ hỏi lại một câu nhưng hàm bao nhiêu ý nghĩa thâm thúy, mà chúng ta phải nhớ lấy nằm lòng trong khi tu tập nhẫn nhục. Ngài hỏi người nọ : “Khi Ngài đem cho ai một món gì mà họ không nhận, thì Ngài làm thế nào ?”.

- Thì tôi đem về !

- Ở đây cũng vậy, Ta không nhận những lời nhục mạ của người. Người hãy đem về đi !

Hơn ai hết. Ngài hiểu rõ công dụng lớn lao của sự nhẫn nhục, cho nên trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã căn dặn các đệ tử của Ngài rằng :
“Nếu có người đến chặt tay chân các ông, hoặc xẻo mũi cắt tay v.v… các ông phải nhiếp trì tự tâm, chớ nên móng niệm sân hận mà làm trở ngại Bồ Đề của các ông, và chớ thốt ra lời nói hung ác, mà bị lửa sân hận đốt thiêu rừng công đức của các ông… “.

Đức Phật lại còn tán thán những lời nhẫn nhục với một câu nói đẹp đẽ như sau:
-“Người nào ngăn được sự phẩn nộ sắp phát ra, như dừng được chiếc xe đang chạy nhanh, như thế mới được gọi là “thiện ngự”, ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương mà thôi”.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước

9  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###15.- Ông Sư Rỗng vào lúc: Tháng Giêng 04, 2016, 05:00:35 am

15.- ÔNG SƯ RỖNG
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)


Hồi Đức Phật còn tại thế, có một vị Tỳ Kheo rất là thông minh và uyên bác, nhưng ông ta chỉ quan tâm đến pháp học, chớ ít khi lưu ý đến pháp hành. Thế nên, ông ta được Đức Phật cho làm Giáo Thọ Sư, để dạy cho 500 chúng mới xuất gia tu học. Vị Giáo Thọ Sư nầy, tuy có biện tài vô ngại, nhưng ông ta lại là người “chưa thấy được Đạo”. Nói cách khác, là chưa được Như Thực Kiến Tánh hay Giác Tự Tâm Hiện Lượng. Chính vì lẽ đó cho nên Đức Phật thường hay gọi Giáo Thọ Sư nầy là: “Ông Sư Rỗng”.


Một hôm, trong một pháp hội, khi thấy vị Giáo Thọ Sư nầy đến, Đức Phật liền nói với đại chúng:
- Ông Sư Rỗng đến đấy.
- Ông Sư Rỗng ngồi xuống.
- Ông Sư Rỗng phát biểu…

Ngang đây, dám hỏi Quý vị : “Giả sử, Quý vị là Ông Sư Rỗng đó, thì lúc bấy giờ Quý vị cảm thấy thế nào, có thấy xấu hổ và nhục nhã lắm không, khi Đức Phật hoặc người nào đó gọi hoặc nói mình là “Ông Sư Rỗng” trước mặt mọi người ?”.

Nếu như Quý vị cảm thấy khó chịu trong lòng, dù ít hay nhiều, thì Quý vị nên biết rằng : Ông Sư Rỗng không có cái thấy cạn cợt và kém cõi như Quý vị đâu. Trái lại, ông ta thấy Đức Phật đã thể hiện lòng từ bi của mình đối với ông ta như thế nào đấy. Do đó, Ông Sư Rỗng mới phát nguyện đi vào rừng tu tập, nếu không như chứng được đạo quả Bồ Đề, quyết không gặp lại một ai dù người đó là Đức Phật.

Lúc bấy giờ, trong pháp hội có kẻ tăng người tục không hiểu rõ sự việc ra sao, nên thỉnh cầu Đức Phật giải nghi.

Đức Phật liền bảo rằng : “Biết được nơi nào đó có giếng nước là một việc. Còn việc đi đến đó (giếng nước) dùng cách thức nào như : gàu, dây hoặc thùng để lấy nước từ dưới giếng lên để dùng lại là một việc khác”.

Qua lời dạy nêu trên của Đức Phật, Quý vị thấy thế nào, có khó hiểu lắm không ? Trong kinh có nói : “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Điều nầy, bốn chúng Phật tử thời nay đều biết, nhưng ít ai thấy biết rõ Tánh Phật hay Phật Tánh của mình là cái gì, ở đâu và làm sao để có thể tiếp cận hay giáp mặt được cái báu vật vô giá đó !? Sự việc đó, quả thật là một tổn thất hết sức lớn lao đối với những ai phát tâm tu hành ở vào thời buổi hiện nay !

Phàm những ai tu Thiền cần phải biết rằng, Vũ trụ có hai thứ : Vũ trụ cảm giác (Vũ trụ tương đối – Vũ trụ vật chất) và Vũ trụ  tri giác (Vũ trụ phi vật chất = Tổng cơ quan áo bí của vũ trụ). Nếu đem so sánh hai thứ vũ trụ nầy với nhau, thì Vũ trụ cảm giác chỉ là một hòn bọt nhỏ bé của biển lớn Vũ trụ tri giác mà thôi. Tuy nhiên, những vấn đề hết sức quan trọng như : Sanh Lão Bệnh Tử, Sinh Trụ Dị Diệt và Thành Trụ Hoại Không lại thuộc về Vũ trụ cảm giác (=Vũ trụ tương đối), và mấu chốt của chúng lại nằm ngay bên trong thân thể của chúng ta. Nếu quý vị nhắm kín hai con mắt thịt lại, rồi chú ý nhìn cho kỹ vào chỗ phát ra những thứ “Tự ngôn Tự ngữ” (= Nghĩ bậy tưởng bạ) ẩn ẩn hiện hiện ở trong thân (tâm), thì quý vị sẽ phát hiện ra được mấu chốt của chúng ngay. Cửa Ra và Vào vòng luân hồi hoặc Cánh cửa Giải thoát cũng ở ngay tại mấu chốt đó. Phàm những ai phát tâm tu Thiền, nếu như không thấy, không biết cũng như không vượt qua được cửa ải ngặt nghèo nầy, thì nên biết rằng mình đã ký thêm một hợp đồng 3 A Tăng Kỳ Kiếp nữa rồi vậy !

Còn Vũ trụ tri giác (=Vũ trụ tuyệt đối=Vũ trụ phi vật chất=Tổng cơ quan áo bí của vũ trụ) Phật học gọi là Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Pháp Giới Tánh, Bản Lai Diện Mục, Phật Tri Kiến, Ông Chủ, Thiền và Đạo v.v… Vũ trụ tri giác có những đặc điểm là : không có hình tướng, không động và không sinh diệt. Nếu nói nó to lớn thì không có gì ngoài nó. Nó là cái ở bờ bên kia (bờ giác) và cũng là nơi mà người tu Thiền phải tiến nhập vào mới có thể thoát ra khỏi sự chi phối của định luật Đại Tự Nhiên.

Do vậy, khi vừa thành Đạo, Đức Phật đã phải thốt lên rằng : “Lạ thay ! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai. Nhưng vì  Vọng tưởng chấp trước trói buộc nên không chứng được. Nếu lìa Vọng tưởng thì Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí và các năng lực to lớn  khác sẽ hiện bày, tha hồ mà lấy dùng”.

Qua lời dạy của Đức Phật nêu trên, Quý vị thấy thế nào ? Có phải chăng, muốn thoát khỏi sự chi phối của Định Luật Đại Tự Nhiên, người tu chúng ta phải lấy dùng một phương pháp nào đó làm cho tâm cuồng nhiều đời dừng bặt từ 5 phút trở lên thì sẽ được Như Thực Kiến Tánh ? và lẽ dĩ nhiên, chỉ và chỉ có khi nào những thứ “Tự ngôn Tự ngữ”, “Tự nói Tự rằng” (=Vọng tưởng tạp niệm) khó khống chế ở trong tâm linh bị tiêu diệt sạch hết, thì lúc bấy giờ Quý vị mới có thể thoát ra khỏi sự chi phối của ddingj luật Đại Tự Nhiên mà thôi.

Tóm lại, muốn được “Liểu sanh thoát tử” hoặc thành Phật làm tổ, người tu phải tiến nhập vào Vũ trụ tri giác (=Vũ trụ phi vật chất) mới có được Như Thực Kiến Tánh và thoát ra khỏi định luật Đại Tự Nhiên. Để làm cho được công việc nầy, người tu phải có một Pháp tu cho thật tốt có đủ khả năng dừng bặt và tiêu diệt sạch hết những thứ “Tự ngôn Tự ngữ” (=Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong tâm linh, thì mới có hy vọng đượcmãn nguyện.

Chính vì tầm mức quan trọng của vấn đề, cho nên khi Ông Sư Rỗng hạ quyết tâm vào rừng sâu để hạ thủ công phu, thì Đức Phật liền xuất hiện đến để sách tấn ông ta bằng bài kệ dưới đây:

Có thiền trí tuệ sanh
Không Thiền trí tuệ diệt
Hai nẽo sinh diệt ấy, nếu biết
Hãy nỗ lực viên thành trí tuệ.

Nhưng, Quý vị có biết như thế nào là Thiền không ? Đức Lục Tổ đâu không nói : “Sáu căn (Nhãn, Nhĩ, tỉ, Thiệt, Thân, Ý) không dính mắc với sáu trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) và không kẹt nơi cảnh Thuận hoặc cảnh Nghịch là : Thiền”. Còn Điều Ngự Giác Hoàng Sơ Tổ phái Trúc Lâm Yên Tử thì nói : Đối cảnh vô tâm, chớ có hỏi Thiền.

Tại sao vua Trần Nhân Tông lại nói như vậy ?

Quý vị nên biết rằng, mỗi khi sáu căn của chúng ta tiếp xúc với sáu trần, thì tâm thức của chúng ta liền khởi niệm phân biệt : tốt hay xấu, lớn hay nhỏ, ngon hay dở, thơm hay thối v.v … Thế là chúng ta đã bị dính mắc với trần cảnh mà còn đang dậm chân nơi Vũ trụ cảm giác chứ chưa tiến vào được Vũ trụ tri giác.

Nếu như Quý vị muốn tiến vào Vũ trụ tri giác, để thấy hay để giáp mặt với cái gọi là Thiền đó, thì khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, Quý vị chớ nên khởi niệm phân biệt, mà phải vô tâm cùng vạn vật. Nghĩa là : lúc bấy giờ Quý vị vẫn có thấy, có nghe … mà cũng như không thấy không nghe gì cả. Nhưng … chẳng có gì mà chẳng thấy, chẳng nghe. Và để làm cái công việc hết sức quan trọng nầy, Quý vị nên tư duy và quán chiếu cho thật kỹ lời dạy của Thiền sư Minh Chánh, một Thiền sư Việt Nam như sau :

Chẳng biết bản lai vô nhứt vật,
Công phu luống uổng một đời ai !

Ngày xưa, khi Đức Lục Tổ đến Huỳnh Mai nghe Đức Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng kinh Kim Cang đến chỗ nầy, thì liền được Đại Ngộ và được truyền y bát làm Tổ thứ 6 Thiền Tông Trung Hoa.

Ngày nay tuy có cách Phật quá xa lại còn rơi vào thời kỳ Mạt pháp nữa ! Thế mà giờ đây, Quý vị vẫn còn đủ phúc duyên để được nghe lời Đức Phật dạy cho Ông Sư Rỗng :

“Có Thiền trí tuệ sanh
Không Thiền trí tuệ diệt”

Trí tuệ ở đây là chỉ cho Vô Sư Trí hay Phật Tri Kiến đều là những vật báu vô giá ở trong Vũ trụ tri giác. Ai muốn có được nó, phải có Thiền. Vậy, dám hỏi Quý vị có thể hội hay biết được Thiền là như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy kiểm nghiệm cho kỹ xem coi Đức Lục Tổ đã được Khai Ngộ hay Ngộ Đạo như thế nào, để rồi bước theo dấu chân của Ngài. Trong trường hợp, nếu Quý vị thấy đường lối mà Tổ đã đi qua trơn trợt quá không thể đi được, thì lúc bấy giờ Quý vị hãy xem lại lời dạy của Đức Phật khi mời vừa thành Đạo đã nói ở trên rồi dùng Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát star để dừng bặt cho được những thứ “Tự ngôn Tự ngữ”, “Tự nói Tự rằng” (Vọng tưởng Tạp niệm) ở trong tâm linh từ 5 phút cho đến một tiếng đồng hồ, tôi cam đoan rằng Quý vị sẽ được Như Thực Kiến Tánh hay Ngộ Đạo. Bởi vì, “Ý nghĩa của việc chơn chánh Ngộ Đạo là tâm cuồng dừng bặt:.

Tin hay không còn tùy ở chỗ Quý vị có chịu làm và làm đúng hay không mà thôi.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước
10  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###14.-Tam pháp ấn vào lúc: Tháng Mười Hai 01, 2015, 04:28:49 am

14.- TAM PHÁP ẤN

(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

TAM PHÁP ẤN CỦA NHÀ PHẬT LÀ:
CHƯ HẠNH VÔ THƯỜNG,
 CHƯ PHÁP VÔ NGÃ
 VÀ NIẾT BÀN TỊCH TĨNH.

I.- CHƯ HẠNH VÔ THƯỜNG

Chư hạnh hay chư hành vô thường có nghĩa là tất cả mọi hiện tượng (mọi sự vật) mà mắt chúng ta có thể thấy, tay chúng ta có thể sờ đều là vô thường cả. Thí dụ như cái bình trà là một hạnh. Vì cái bình trà nầy do đất, nước, gió, lửa, người thợ, thời gian, không gian tổ hợp lại mà thành, cho nên nó là một hạnh. Cái bông hoa kia cũng là một hạnh, tại vì trong cái hoa đó có đám mây, có mặt trời, có đất, có nước, những điều kiện phối hợp lại làm ra bông hoa.

Bình trà và bông hoa là hai hạnh thuộc về sắc, về vật chất. Nhưng, cơn giận hoặc những nổi buồn của mình cũng là những hạnh, chúng cũng vô thường. Giận và buồn gọi là tâm hạnh hay tâm hành.

Tóm lại, các sự vật ở trên thế gian nầy đều thoáng qua như khói mây bay trước mắt, bổng chốc mất đi. Người tu nào cũng có thể biết được điều nầy, nhưng người thể hội sâu sắc (biết tận bản chất) thì chẳng được bao nhiêu.

II.- CHƯ PHÁP VÔ NGÃ

 Chư pháp vô ngã nghĩa là các pháp không có tự thể. Chữ ngã, nghĩa là tự thể; các pháp là chỉ cho tất cả sự vật ở trên thế gian nầy, cả thảy đều do đủ nhân đủ duyên hợp lại mà thành, bản thân nó không có cái gì gọi là “tự thể” được.

Chúng tôi đều biết, núi Côn Lôn cực kỳ hùng vĩ, cao ngất trời xanh, nhưng tự thể của nó vẫn là “không”. Bởi vì nó do những thứ như đất, đá và cây cối hợp lại mà có, nếu loại bỏ tất cả những thứ đó ra, thì không thể tồn tại được ngọn núi to lớn nầy. Huống hồ gì những thứ nhỏ nhoi yếu đuối khác.

Biển Thái bình mênh mông không bờ bến, sóng cả ba đào, che phủ trời trăng. Cái vĩ đại ấy, cũng là do tất cả nước của những con sông lớn nhỏ khắp nơi trên trái đất chảy ra thành biển. Nếu loại bỏ số nước của những con sông nầy, chắc chắn biển Thái bình sẽ khô cạn, nó sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới ngay.

Hai sự vật to lớn đó đại biểu cho toàn thể sự vật trên thế gian nầy, tự thể của chúng đã là KHÔNG, thì những sự vật khác có thể nào vượt ra khỏi tính chất ấy chăng?

Do vây, nên trong kinh Kim Cang có nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm cái gì có hình tướng đều là giả dối không thật). Hoặc nói:

      Nhứt thiết hữu vi pháp
      Như mộng, huyễn, bào, ảnh
      Như lộ diệc như điện
      Ưng tác như thị quán

      DỊCH:

      Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bọt, bóng
Như sương cũng như điện
Nên quán sát như thế.

Thế nhưng, biết là một việc, còn khi chạm cảnh mà không mê muội lại là một việc khác. Đó là người tu chúng ta phải nên đặc biệt để ý đến. Bởi vì, Thiền sư Đàm Thanh Minh Chánh (Thiền sư Việt Nam) có cảnh giác người tu chúng ta như sau:

“Công danh cái thế màn sương sớm,
Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.
Chẳng biết bản lai vô nhất vật,
Công phu luống uổng một đời ai.”

III.- NIẾT BÀN TỊCH TĨNH

Niết Bàn (Nirvăna) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là: Diệt, bất sanh bất diệt hay viên tịch.

- Diệt là chỉ cho tất cả những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh bị tiêu diệt hoàn toàn.

- Bất sanh bất diệt là chỉ cho sau khi áp dụng một phương pháp đặc thù nào đó để thể nhập vào một thế giới chẳng sinh chẳng diệt khác hẳn với thế giới còn sinh diệt.

- Viên tịch: Ngũ trụ ¬(*)¬ hay Vô Minh Trụ Địa Phiền Não đã sạch hết, nên gọi là “viên”, và hai cái chết (nhị tử) của những kẻ phàm phu và bậc thánh nhân là: “Phân đoạn sanh tử” và “Biến dịch sanh tử” đã được vĩnh viễn xa lìa nên gọi là “TỊCH”.

Người tu Thiền thời nay nên biết:

1.- Thế giới có sinh có diệt được gọi là Vũ Trụ Tương Đối, Vũ Trụ Cảm giác, Vũ Trụ Vật chất. Còn thế giới chẳng sinh chẳng diệt thì được gọi là Vũ Trụ tuyệt Đối, Vũ trụ tri Giác, Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tổng Cơ Quan Áo bí Của Vũ Trụ.

Phật học gọi thế giới chẳng sanh chẳng diệt là Niết Bàn, Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Pháp Giới Tánh, Ông Chủ, Bản Lai diện Mục, Vô Sư Trí và Phật Tri Kiến…

2.- Phân đoạn sanh tử gồm có 3 thứ: Thời gian phân đoạn, Không gian phân đoạn và Thân thể phân đoạn.

a).- Thời gian phân đoạn: chỉ ra kiếp trước, kiếp hiện tại và kiếp sau.

b).- Không gian phân đoạn: Tức kiếp trước sanh tại Trung Quốc, kiếp nầy ở Việt Nam và kiếp sau tại Hoa Kỳ.

c).- Thân thể phân đoạn: Kiếp trước  là con voi lớn, kiếp nầy là thân gái, kiếp sau là con trai.

Các vị thánh như: A La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát đều là những người đã đoạn được thân phân đoạn sinh tử, nên các Ngài được giải thoát từng phần và an trụ vào cảnh giới Hữu dư niết bàn.

3.- Biến dịch sanh tử (¬**)¬ là tâm pháp gồm có: Quá khứ niệm, hiện tại niệm, vị lai niệm, niệm niệm thiên lưu, bất đoạn biến dịch.

Nếu người tu chúng ta đem “biến dịch sinh tử” hay những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” ở trong tâm linh tiêu diệt cho sạch, thì “phân đoạn sinh tử” cũng theo đó mà tiêu vong. Thế là người tu chúng ta được đại tự tại và giải thoát lớn, đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề (thành Phật) và an trụ vào cảnh giới Vô Dư Niết Bàn. Vì trước khi nhập diệt, Đức Phật có dạy rằng:

      “Chư hạnh vô thường
      Thị sanh diệt pháp
      Sanh diệt diệt dĩ
      Tịch diệt vi lạc.

DỊCH:

      “Các hạnh vô thường
      Là pháp sanh diệt
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui”.

Nhưng như trên có nói, để thể nhập vào thế giới chẳng sinh chắng diệt (Vũ Trụ Tri Giác hay Niết Bàn) để người tu thiền cần phải có một phương pháp đặc biệt nào đó để hạ thủ công phu, hoặc là phải thể hội hay nắm bắt cho được Thiền (¬***) mà Đức Phật và chư Tổ chỉ dạy thì lúc bấy giờ mưới có hy vọng được “Kiến Tánh Thành Phật”.

(Chú ý:Thiền tịnh lự và tư duy tu của ngoại đạo không có đủ khả năng làm được việc nầy).

Thiền Sư Thích Thanh Phước
-------------------------   

Chú thích: (¬*) Ngũ Trụ: gồm có 5 thứ:

1.- Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não: tức là tất cả kiến giải mê lầm của tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới).

2.- Dục ái trụ địa phiền não:  tức là những tư tưởng mê lầm của Dục giới; trong tư tưởng mê lầm, nặng nhất là cái lỗi “tham ái”, nên đề ra cái chánh để bao gồm tất cả phiền não khác.

3.- Sắc ái trụ địa phiền não: tức tất cả mê lầm của Sắc giới.

4.- Hữu ái trụ địa phiền não: là tất cả tư tưởng mê lầm của Vô sắc giới. Vô sắc giới dù chẳng có sắc thân, nhưng còn chấp A LẠI DA THỨC làm ngã, còn ngã là còn có ÁI, nên gọi là “hữu ái”.

5.- Vô minh trụ địa phiền não: gọi tắt là “Ngũ Trụ”. Nói trụ địa vì năm pháp nầy là chỗ sanh khởi tất cả tội lỗi, cũng là chỗ dựa căn bản của hằng hà sa số phiền não.

(¬**) ¬Biến dịch sanh tử:  là sự sanh tử của bậc Thánh đã chứng quả tam thừa, như bỏ A LA HÁN biến BÍCH CHI PHẬT, bỏ BÍCH CHI PHẬT biến BỒ TÁT SƠ ĐỊA, bỏ BỒ TÁT SƠ ĐỊA biến BỒ TÁT NHỊ ĐỊA…

(¬***) Thiền: Sáu căn không dính mắc với sáu trần và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền (Kinh Pháp Bảo Đàn).

Sơ Tổ Phái Trúc Lâm Yên Tử nói: “Đối cảnh vô tâm chớ có hỏi Thiền”. Do đó, chúng ta có thể nói Vô Tâm hay Vô Niệm là Thiền.
11  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###13.-Thể, Tướng, Dụng của tâm vào lúc: Tháng Mười Một 01, 2015, 03:54:51 am

13.- THỂ, TƯỚNG, DỤNG CỦA TÂM
(Đã đăng trên báo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
của TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM)


Mục tiêu mà người tu Thiền nhằm tiến đến là: “Tâm Thể Vô Niệm”. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn, là phải nắm bắt cho được cái “Tâm Thanh Tịnh”, vì cái “Tâm Thanh Tịnh” là tâm Phật. Và để làm cho được cái công việc nầy, bắt buộc người tu phải được Như thực Kiến tính (giác tự tâm hiện lượng), thì mới có hy vọng chứng đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề hay thành Phật.

Cũng bởi lẽ đó cho nên, trước hết người tu chúng ta cần phải hiểu biết cho thật rõ: Thể, Tướng và Dụng của tâm linh. Nhưng Thể, Tướng và Dụng của tâm linh là cái gì và ở đâu?

Muốn thể hội (hiểu biết) cho được Thể, Tướng và dụng của tâm linh, lấy ví dụ về cây đèn. Ban đêm, có ánh sáng tỏa ra khắp nhà là nhờ cây đèn. Nếu là đèn điện, thì cái bóng đèn là Tướng, và ánh sáng tỏa ra khắp cả nhà là cái Dụng của cây đèn.

Còn cái Thể của đèn là gì?

Xin hỏi: Trong khi đèn đang chiếu sáng, nếu như có ai đó cúp điện, thì lúc bấy giờ cái ánh sáng đó có còn tồn tại được hay không? Do đó, “điện” là cái “thể” của cây đèn

Lại hỏi: nếu có điện, mà không có bóng đèn (cây đèn) hoặc bóng đèn đã bị hỏng, thì lúc bấy giờ liệu có ánh sáng tỏa ra không? Chắc chắn là không rồi! Nhưng điện là cái không có hình tướng (vô tướng) giống như hư không vậy, nên chúng ta không thể bằng hai con mắt (nhục nhãn) mà nhìn thấy được. Nếu muốn biết cây đèn có điện hay không, phải dùng dụng cụ thử điện, chớ đừng dại dột đưa tay tiếp xúc, thì sẽ bị điện giật.

Tóm lại, chúng ta có thể nói Thể, Tướng và dụng của cây đèn không bao giờ rời nhau.

Còn Thể, Tướng và Dụng của tâm linh thì như thế nào?

Một khi biết được cái Thể, Tướng và dụng của đèn như thế nào rồi, quý vị sẽ biết được cái Thể, Tướng và Dụng của tâm một cách dễ dàng, vì nó cũng tượng tự như thế. Thí dụ như, cái thân ngũ uẩn của chúng ta là “tướng” (có hình tướng), nên mọi người đều có thể trông thấy và biết ngay. Còn cái “Thể” và cái “Dụng” của tâm, thì chúng ta hãy nghe kinh Lăng Nghiêm nói:

“Nguyên dĩ nhất tinh minh, phân lục hòa hợp” (Gốc là một tinh minh chia ra sáu hòa hợp”. Một tinh minh nầy là cái Tâm Linh hay Tổng cơ quan áo bí của vũ trụ, mà Phật học thường hay gọi là: Chân tâm, Phật tính, Pháp thân, Pháp giới tính, Chân như, Bản lai diện mục, Phật tri kiến, Vô sư trí, Thiền và Đạo v.v… Còn người tu thiền ở vào thời buổi hiện nay, lại gọi cái “nhất tinh minh” nầy là cái “biết”. Tại sao?

Tại vì, cái Chân tâm, Phật tính hay cái “biết” nầy là bản thể của vạn Pháp, nguồn cội của muôn vật. Nó gồm có 3 đặc tính: không tướng, không động và không sinh diệt (thường hằng). Vì nó không có tướng (vô tướng), nên không dài ngắn, vuông tròn, xanh vàng, đỏ trắng, giống như hư không, mà không phải là hư không. Đó là điều mà quý vị hoặc người tu ở vào thời buổi hiện nay chớ có lầm lẫn. Nếu như sai một ly, thì đất trời ngăn cách đấy!

Với cái “biết” nầy, trong kinh có nói đến như sau:

- “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính” (Tất cả chúng sinh đều có Phật tính)

- “Bát nhã vô tri, vô sở bất tri” (Bát nhã không biết, mà chẳng có gì là chẳng biết).

- “Vô sở bất tri, vô sở bất năng” (Chẳng có gì mà chẳng biết, chẳng có gì mà chẳng làm được).

Nhưng như thế nào là sinh (phân) lục hòa hợp?

Cũng như, nhờ có điện là cái thể nên cây đèn mới có ánh sáng tỏa ra, cây quạt máy mới có thể xoay và cái bàn ủi mới có thể nóng lên.

Nhờ có cái “biết” (Tâm linh) nên mắt biết (thấy) sắc, tai nghe tiếng, mũi biết mùi, lưỡi biết vị, thân biết xúc cảm, ý phân biệt các pháp liền biết. Những cái biết như thế của sáu căn đều là cái “dụng” của tâm linh. Do đó, người tu chúng ta cần phải phân biệt cho rõ cái “biết” nào là cái “Thể” và cái “biết” nào là cái “Dụng”.

Tóm lại, Thể, Tướng, Dụng của tâm linh không bao giờ rời nhau. Nếu như cái “biết” hay cái tâm linh của quý vị rời khỏi cái thân ngũ uẩn nầy, thì sáu căn của quý vị còn có đó, nhưng mắt của quý vị không thể thấy, tai không thể nghe, mũi không thể ngửi nùi… được nữa. Tại vì, thọ mạng của quý vị ở kiếp nầy đã chấm dứt, để có thêm một bà mẹ nữa ở kiếp sau rồi vậy !!!

Nếu muốn kiếp sau không có một bà mẹ nữa, phải làm sao?

Nếu tu thiền, quý vị phải được Như Thực Kiến Tính (Giác tự tâm hiện lượng) thì sẽ không có thêm một bà mẹ nữa. Và để làm cái công việc nầy, nếu chỉ nghe chúng tôi trình bày về Thể, Tướng, Dụng của tâm linh như nêu trên thôi là chưa đủ, mà phải tu bằng phương pháp hay cách thức nào đó như: nắm bắt cho được Thiền (1)  hoặc dừng bặt những thứ “tự ngôn tự ngữ, tự nói tự rằng” (Vọng tưởng tạp niệm) ở trong tâm linh, để được giáp mặt hay tiếp cận với cái “biết” là cái Thể của tâm linh, tức là cái tâm thanh tịnh hay cái tâm thể vô niệm, mà người tu thường gọi là Chân tâm, Phật tính hay cái Bản lai diện mục của chính mình, thì lúc bấy giờ nhất định quý vị sẽ được mãn nguyện. Bởi vì, Quận Châu Đông Sơn, Ngộ Bản Thiền Sư là ngài Lương Giới sơ tổ Tông Tào Động có lưu ý người tu chúng ta bằng mấy câu kệ như dưới đây:

Quả thật kỳ! Quả thật kỳ!
Vô tình thuyết pháp (2)  bất tư nghì.
Nếu chỉ nghe tai sao biết được,
 Phải bằng cả mắt mới toàn tri.

-------
Chú thích :

(1)   Thiền: Sáu căn không dính mắc với sáu trần và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch. Chớ không phải thứ Thiền Tịnh Lự  Tư Duy Tu hay Thiền Minh Tư của ngoại đạo. Nói cách khác, “Tâm không loạn động là Thiền” – Đức Lục Tổ Huệ Năng.

(2)   Vô tình thuyết pháp: Thí dụ như nghe chim hót hay thấy hoa nở…

***

Thiền sư Thích Thanh Phước
12  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###12.-Diệu pháp tiến vào vũ trụ tuyệt đối vào lúc: Tháng Mười 01, 2015, 06:41:28 am

12.-DIỆU PHÁP TIẾN VÀO VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI
(Đã đăng trên báo TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
của TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM)

Đến đây, chúng tôi xin được giới thiệu một diệu pháp đặc biệt, để quí vị thoát ra khỏi Vũ Trụ Tương Đối (vũ trụ cảm giác), hầu chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối, giải trừ tất cả khốn khổ và tai nạn cho chúng sinh.

Diệu pháp đó như thế nào, mà có thể giúp chúng ta có được Trí năng và Lực năng một cách không gì sánh kịp, mà tùy ý muốn vận dụng lúc nào cũng được?

Vũ trụ tuyệt đối (Vũ trụ tri giác) vốn sẵn có trong Tâm linh, nhưng do Vọng tưởng tạp niệm ngăn bít, che lấp đi. Phương pháp duy nhất là phải tiêu diệt sạch sẽ những Vọng tưởng tạp niệm (tự ngôn tự ngữ) trong Tâm linh, khiến cho cái tâm điên đảo (cuồng tâm) phải dừng bặt. Dĩ nhiên phương pháp hay nhất là: thu hút trọn vẹn tất cả những Vọng tưởng tạp niệm trong tâm linh, sau đó từng bước tiêu diệt nó. Những pháp trước đây, chỉ dùng cách quét trừ tạp niệm (tự ngôn tự ngữ), phạm vào sai lầm về kỹ thuật nên không có kết quả. Quí vị có lẽ sẽ tự hỏi pháp gì lạ quá, vọng tưởng tạp niệm đã không hình tướng, lại không biết vị trí chính xác, làm thế nào để thu hút chúng? Quả đúng như thế ! Xưa nay những vị hạ thủ công phu để diệt vọng tưởng tạp niệm đã không chịu đi sâu vào trong tâm, chỉ “Tu tâm ở ngoài tâm”, nên tu mấy mươi năm mà chẳng được gì là phải rồi !

Bây giờ chúng tôi giới thiệu phương pháp chính xác như sau:

- Những người mới bắt đầu, tốt hơn hết là dùng tư thế tĩnh tọa (ngồi thiền) của Phật giáo, giúp cho  tâm linh dễ an định hơn. Đành rằng, tu Định chẳng phải chỉ có duy nhất tư thế ngồi, mà cả đi, đứng, nằm, ngồi bốn tư thế uy nghi lớn nầy đều có thể dùng được cả. Nhưng đó là cách dụng công của người đã thuần thành, còn người mới bắt đầu vẫn chọn dùng tư thế “Tĩnh tọa” là hay nhất.

Tư thế ngồi: đầu phải ngay, vai phải bằng, thân mình phải thẳng, ngồi kiểu kiết già, bán già hay xếp bằng trên bồ đoàn đều tốt cả, miễn dựa theo nguyên tắc ngồi được lâu và thư thái là tốt, áo quần mặc không quá chật, gây sức ép cho thân tâm. Những thứ phụ tùng như: mắt kính, vòng đeo tay, đồng hồ, dây chuyền v.v… nếu cảm thấy có chứng ngại thì nên tháo gỡ cất đi, sao cho thân tâm đừng bị một thứ gì trói buộc mới dụng công dễ dàng. Nhắm hai mắt vừa kín một cách tự nhiên. Có truyền thống cho rằng: “mở mắt dễ tán loạn, nhắm mắt hay hôn trầm, nên dùng phương pháp trung đạo là mở 1/3 mắt”. Hoặc là: “Mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm v.v…”. Đó là phép dạy đạo sai lầm, vì làm thế sẽ mất đi sự thích hợp tự nhiên và dễ bị phân tâm. Phải biết rõ điề nầy nữa, muốn xem xét sự diễn biến của sự vật bên ngoài, thì phải dùng “con mắt thịt” (nhục nhãn), còn muốn tìm kiếm cái ảo bí của Vũ Trụ Tuyệt Đối, mà không dùng “con mắt tâm” (tâm nhãn), thì không bao giờ đạt được kết quả tốt.

1.-PHÁP NHIẾP NIỆM
(Gom muôn niệm làm thành một niệm)

Nếu quí vị là tín đồ Phật giáo thì mặc niệm trong tâm Hồng Danh Đức Phật A Di Đà (hoặc bất cứ Phật hiệu khác), mỗi chữ khoảng một giây đồng hồ. Dùng câu Thánh hiệu nầy để vừa thế chỗ cho những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm), vừa thu hút chúng gom lại. Một mặt tâm niệm, một mặt chú ý vào trong thân xem coi “Điểm Niệm Phật” ở chỗ nào? Phải như mèo rình bắt chuột luôn chú ý hết sức kỹ lưỡng, không lơ là gián đoạn vừa mặ niệm vừa chú ý, vừa chú ý vừa mặc niệm, không bao lâu sẽ được ý giải tâm khai (tâm mở ra, ý được cởi trói) thường được an lạc.

Trường hợp không phát hiện được “Điểm niệm Phật” là vì công phu chưa sâu, hoặc sức chú ý còn yếu. Cứ tiếp tục dụng công, thời gian sau nước tâm lắng trong sẽ nhận thấy nó. Cần chú ý lúc mới đầu dụng công, tạp niệm như gió dữ mưa cuồng, trong tâm dầy đặc mây đen che phủ. Song qua thời gian niệm Phật liên tục sẽ tẩy rửa bớt dần tạp niệm. Trung bình khoảng hơn tháng sau, tạp niệm chỉ còn như làn khói nhẹ hay đám mây mỏng hơi hiện ra chút ánh sáng, khi đó tâm linh đã bắt đầu mở sáng rồi đó.

Trong lúc mặc niệm, không được quán tưởng bất cứ cái gì như: tướng mạo, công hạnh, sự vĩ đại của Ngài v.v… chỉ giữ cho mặc niệm không gián đoạn là vọng tưởng tạp niệm sẽ vắng bóng dần.

Không được mặc niệm nhanh hay chậm quá. Chậm thì bị tạp niệm chen vào, nhanh quá thì sức hút không mạnh, thu gom không hết tạp niệm. Lúc đầu thời gian dụng công một lần không quá 30 phút, tổng số thời gian dụng công các lần trong một ngày không ít hơn 2 giờ, nhưng không quá 3 giờ. Thời gian và địa điểm dụng công không câu chấp: ngồi trên xe, trên tàu hoặc  ở phòng làm việc v.v… đều được, miễn thời gian đừng quá ít.

Điều quan trọng là người dụng công chú ý đến phản ứng của Thân và Tâm để kịp thời giải quyết thỏa đáng. Cần phải “không mau không chậm, có làm có nghỉ, bám chặt không boe dở”, nhất định ai cũng sẽ thành công.

II.- PHÁP HÓA NIỆM
(Hóa một niệm thành Vô Niệm)
 Thực nhành Pháp Nhiếp Niệm một thời gian, lâu hay mau tùy người, người dụng công sẽ cảm thấy không muốn Mặc Niệm danh hiệu Phật nữa, hoặc khi niệm cảm thấy vất vả, thì chuyển sang dùng Pháp Hóa Niệm.

Pháp Nhiếp Niệm đã dùng câu Thánh hiệu để thu hút tẩy rửa, tiêu diệt những Tạp niệm để chỉ còn một “câu Thánh hiệu mà thôi”. Nhưng tâm linh của chúng ta cũng giống như tròng con mắt, không chấp nhận một cái gì tồn đọng, dù quí như vàng ngọc, vẫn phải mau mau mà bỏ mới yên. Vì vậy, một niệm “câu Thánh hiệu” dù rất quí hiếm, vẫn phải bỏ đi mới vào được cảnh viên tịch (tròn lặng), nhà Phật gọi đó là “Chứng Niết Bàn”.

Có người hiểu lầm rằng, chỉ có thể Niết Bàn sau khi chết. Kẻ phàm phu tục tử (người tầm thường) khi chết, chỉ là kết thúc sinh hoạt của thân, chứ tâm linh của họ vẫn còn vọng tưởng tạp niệm rối ren, không có cách nào thoát khỏi sự ràng buộc của tạp niệm vọng tưởng. Chúng không thể chết mất theo thân được.

Tạp niệm (vọng tưởng) chính là Nghiệp Lực, là Vô Minh, là động cơ dẫn chúng ta vào (vòng luân hồi) biển khổ mênh mông. Còn nghiệp lực là còn đi đầu thai, vì mình không thể  hoàn toàn làm chủ mình được, tiến vào tử cung của một bà mẹ mới. Sau gần 10 tháng, lìa khỏi bụng mẹ để bắt đầu sinh mệnh của giai đoạn kế tiếp.

Nhân đây, trước khi đi vào Pháp  Hóa Niệm, chúng ta cũng cần nên mổ xẻ thật kỹ vấn đề tạp niệm (tức Nghiệp) cho thật sáng tỏ để quí vị khỏi còn thắc mắc hay nghi ngờ.

Có số người đặt vấn đề: “Những tạp niệm đã có từ lâu trong tâm linh, đâu thấy có tai hại gì so với những tế bào gây bệnh ung thư trong thân thể, sẽ chết không cứu được, cái nào nghiêm trọng hơn?”.

Đối với người bình thường, tâm linh có vọng tưởng tạp niệm quả là không đáng lưu ý, vì nó đã có mặt từ lúc lọt lòng mẹ đến nay, chưa từng gián đoạn, vẫn chưa từng thấy nó gây tai họa gì. Còn nếu chẳng may trong thân có những tế bào ung thư, bản thân và cả gia đình người đó đều buồn rầu, sợ hãi, than khóc. Sở dĩ có cảnh đó là vì con người đã bị những Thác giác (hiểu biết sai lầm) tạo nên từ khi mới sinh, không phân biệt đúng cái nào thực, cái nào giả, nặng nhẹ lộn lạo nhau. Thực ra, cái Ta chân chính là Tâm linh mà con mắt thịt không nhìn thấy được, còn tấm thân vật chất nầy chỉ là công cụ của Ta, mắt thịt dễ nhìn thấy. Trong thời gian khoảng 200 năm, mỗi con người được ít nhất là ba cái thân. Dù thân có to  nhỏ, lớn bé như thế nào, đem so với cả dòng sinh mệnh thì có thể nói nó chỉ là giọt nước bé tí xíu trong biển cả mênh mông, không có gì đáng kể.

Không thể chỉ vài ba câu mà đủ sức phá tan đám mây mờ nầy của loài người, vì gốc rễ thác giác nầy quá sâu dầy, bám chắc Vô minh, khó lòng tỉnh ngộ. Nhưng trong thiên hạ không hiếm gì những việc lạ thường, giúp cho những người chết đi sống lại có kinh nghiệm thân chứng về cái chết, hiểu rõ đoạn đạo lý nầy. Nếu quí vị muốn biết rõ và kỹ hơn, xin vui lòng xem quyển “LIFE AFTER LIFE” (Đời sống sau cái chết) của Dr RAYMOND AMOODY, qua sự đúc kết hết sức khách quan và khoa học trong quyển sách nầy, quí vị có đủ tư liệu để xác minh.

Mấy hôm trước đây, có một thanh niên đầu óc tỉnh táo, nói với tôi: “Rất nhiều người  hết sức mơ hồ về bản thân mình”. Cùng với câu nói nầy, mấy năm trước tại Hội Phật Học Trung Hoa ở thành phố SYDNEY, tôi cũng đã có nghe một thanh niên khác bảo: “Phật giáo nhất định có những phương pháp tu rất tốt, nhưng đã bị thất truyền. Đâu phải cứu kính chỉ có bằng nầy !”.  Đủ thấy là “Hậu Sinh Khả Úy” rồi.

Đừng nói ở thời điểm hiện tại mà nhìn, một cái thân đang bị bệnh Nan Y thì quả là đại bất hạnh. Nhìn nếu nhìn suốt cả dòng sinh mệnh từ vô thủy đến nay, nó chẳng có gì đáng bận tâm. Hơn nữa, cái quả bệnh nan y của thân cũng là do nhân bệnh của tâm tạo nên mới phát tác ra, đâu phải tự nhiên mà thân mắc bệnh. Nếu như tâm linh trong lặng (thanh tịnh), mạnh khỏe, hết sạch các thứ vọng tưởng tạp niệm quấy nhiễu, thì dù thân có bị tác động lây nhiễm các bệnh từ bên ngoài vẫn có thể dùng thuốc chữa trị lành mạnh được, không thể gọi là Nan Y.

Vọng tưởng tạp niệm là loài kiến bò trong Tâm linh, thực sự nguy hiểm gấp vạn lần toàn thân bị kiến bâu cắn. Nhưng thử hỏi có mấy ai tỉnh ngộ được điều nầy?

Nay muốn trừ sạch những con kiến bò trong Tâm linh nầy, dù chỉ còn một con, chúng ta cũng phải dùng đến Pháp Hóa Niệm theo trình tự sau đây của một trong những pháp nầy:

1.- Trước hết, phải thật biết rằng, thân thể của chúng ta là do máu thịt làm thành, trong đó phải tuyệt đối im lặng (tĩnh chỉ) vì nó thuần vật chất. Trong đó, không thể có những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (tạp niệm) không hình không tiếng nầy được; cũng không thể nào có cái “Hình nhi thượng” là điểm niệm Phật đang hoạt động. Nếu thông suốt và nhớ kỹ được cái “Quan Niệm Về thân Xác” (Khu xác quan niệm) nầy, ta sẽ được một lợi ích vô cùng hiệu quả cho việc tiêu diệt vọng tưởng tạp niệm. Và đây là điều cực kỳ quan trọng không thể thiếu.

Trong khi chúng ta nhắm mắt lại và dùng tâm nhãn chú ý quan sát trong thân, phát hiện ra đáng lẽ ở đấyp phải tuyệt đối im lặng, nhưng sao lại có những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (hay Điểm Niệm Phật) nầy, liền cảm thấy kỳ quái. Những thứ đó, bất kể là cái gì, đều không thể có, thế mà tại sao hiện lại có, quả không thể nghĩ bàn! Lúc ấy, trong tâm linh sinh ra Kỳ Tình (trước gọi là Nghi Tình), ngay lúc ấy, Tâm linh liền vào trạng thái Vô Niệm. Dù chỉ Vô Niệm trong khoảng thời gian là 1 phút hoặc 2 phút cũng đã quí hiếm lắm rồi.

Quí vị cứ tiếp tục công phu để đạt số thời gian Vô Niệm tăng thêm sẽ nối liền được những điểm vô niệm, thành đường thẳng, mặt phẳng và khối thể Cô Niệm. Lúc bấy giờ, trong cả đi, đứng, nằm, ngồi, tâm linh đều yên tĩnh như nước ngừng chảy. Từ đó trở đi, dù có khởi tâm phát niệm để xử lý công việc, thì tất cả niệm đó chỉ là Linh Cảm, phát mà không động, tâm linh vẫn không bị quấy nhiễu: Quí vị đã chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối rồi đó.

2.- Nhắm mắt chú ý vào trong thân, xem những tạp niệm nầy đang lăng xăng nói cái gì? Nó đang mắng chửi người khác, ta cũng nhại theo nó mắng chửi, nó ca hát ta cũng nhại theo ca hát v.v… Chỉ cần theo nó vài ba câu như thế, tâm linh bèn yên tĩnh xuống, không còn lăng xăng lộn xộn nữa: Bạn đã Ngộ được Pháp Thân thanh tịnh.

3.- Phải nhớ thật kỹ: thân thể làm từ máu thịt giống như gỗ đá một thứ, trong đó phải tuyệt đối im lặng hoàn toàn, không khả năng có một cái gì khuấy động. Nhắm mắt lại tìm xem trong đó hiện đang nói cái gì? Nếu phát hiện thấy có một cái gì đang làm ồn, liền cảm thấy lạ lùng. Trong thân tại sao lại có và cần có những thứ nầy chăng? Đang lúc chúng ta cảm thấy “chẳng thể có mà có” bỗng sinh ra thú vị, tạp niệm tự động bị diệt hết, Chân Như hiện ra.

4.- Nếu phát hiện có trong Tâm linh, như làn khói nhẹ, lớp sương mỏng, mà nó cứ bay qua lướt lại chẳng tan mắt hết. Dùng 3 cách trên vẫn không kết quả, thay đổi dùng pháp Nhiếp Niệm trở lại, hoặc niệm Phật hiệu để thu hút, gột rửa và sau đó dùng pháp Hóa Niệm trở lại.

5.- Khi biết rõ trong tâm không còn chút tạp niệm gì, chân thường sáng rỡ, thì “Bất Cứ Phương Pháp Nào”  đều phải dừng lại, không dùng nữa để Tâm Linh ngừng nghĩ tự nhiên. Lúc ấy đừng khởi tâm mong muốn Vô Niệm dài lâu hơn. Nếu công phu chưa đủ sức, chỉ ít phút sau là tạp niệm lại tái khởi. Quí vị cứ cố gắng dụng công thêm cũng như cày cấy thêm nhiều, kết quả được mùa càng lớn.

Thời gian tức Trí Năng, một phần cày cấy, thì thu hoạch một phần, ai cũng biết: “dây kéo mãi, gỗ phải đứt, nước chảy luôn đá bị xuyên” (thằng cứ mộc đoạn, thủy trích thạch xuyên).

Nếu đã có phương pháp chính xác rồi, thì thời gian là điều kiện quan trọng bậc nhất dẫn đến kết quả. Đây là pháp môn hết sức thù thắng, vi diệu, như hoa ngàn năm mới nở một lần, xin quí vị lưu tâm thực hành cho tốt.

Để dễ nhớ, chúng tôi tóm tắt lại công thức như sau:

 Kiến phần (sức chú ý, tâm nhãn) + Tướng phần (tự ngôn tự ngữ, điểm niệm Phật) + Quan niệm về thân xác (tuyệt đối im lặng) = Kỳ tình (thú cảm).

nKỳ tình (Điểm Vô Niệm)  + nthời gian (cần thiết) = Tâm linh chính thường (mở ra Tổng cơ quan áo bí của vũ trụ).

Ghi chú: Thay vì hướng ra bên ngoài, bây giờ sự chú ý hướng vào bên trong tâm (thân), vì độ xoay lại quá lớn: 180 độ, cho nên có thể có 2 thứ phản ứng. Đó là: phản ứng của Thân và phản ứng của Tâm.

1.- Phản ứng của Thân: là khi tĩnh tọa, có thể thân hành giả bị dao động, nghiêng qua ngã lại hay lắc lư; đừng sợ hãi, cứ tiếp tục dụng công: Có nhiều người nhờ việc nầy mà trị được bệnh Nan Y. Còn như thấy đau đầu, nhức răng hoặc đau buốt ở ngực, khi dụng công, thì hành giả nên tạm nghĩ vài ngày, khỏi cần đi thầy uống thuốc gì cả, nếu thấy hết đau tiếp tục dụng công.

2.- Phản ứng của Tâm: gồm 2 loại Thác giác và Huyễn giác.

a).- Thác giác: như nhìn sợi dây mà thấy là con rắn, phiến đá mà tưởng con cọp, khúc cây mà thấy như người nào đứng đó v.v… Nghĩa là có một sự vật, một vật, chúng ta nương vào sự vật đó để mà thấy, nhưng thấy không chính xác nên gọi là Thác giác.

b).- Huyễn giác: như thấy chiêm bao, hào quang, rồng hút nước, mùi hương thơm, Phật và Bồ Tát… giáng lâm, đừng thèm để ý đến, vì lẽ những thứ đó toàn là huyễn giác (từ không ra có). Kinh Kim Cang nói: “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”.

III.- CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI CỦA CHƯ TỔ VÀ CÁC THIỀN SƯ

1.- Hỏi: Đồ tể thì có nghiệp sát sinh, Cư sĩ thì còn có nghiệp dâm dục, làm sao mà “Kiến tính thành Phật” được?
Tổ Bồ Đề Đạt Ma đáp: Ở đây không luận đến nghiệp sát, nghiệp dâm gì cả, mà chỉ luận việc kiến tính, một khi được kiến tính rồi thì nghiệp sát, nghiệp dâm tự dưng rỗng lặng.

2.- Hỏi: Giáo pháp tối thượng thừa mà Hòa thượng giảng nói đây là để cho người xuất gia tu tập, vậy chúng con đều là những cư sĩ có tu tập được không?
Đức Lục Tổ Huệ Năng đáp: Ở đây không nói Tăng hay tục gì cả, mà chỉ nói đến việc kiến tính mà thôi. Hễ ai được “như thực kiến tính” là được.

3.- Hỏi: Như thế nào là pháp môn Đốn ngộ của Đại thừa?
Tổ Bá Trượng Hoài Hải đáp: Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu (Đát tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu).

4.- Hỏi: Phải tu pháp gì chóng được giải thoát?
Thiền sư Huệ Hải đáp: Chỉ có một môn Đốn ngộ là chóng được giải thoát.

-   Thế nào là đốn ngộ?
Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.

-   Từ cái gì mà tu?
Từ căn bản mà tu.

-   Thế nào là từ căn bản mà tu?
Tâm là căn bản.

-   Làm sao biết tâm là căn bản?

Kinh Lăng Già nói: “Tâm sinh thì các pháp sinh, tâm diệt thì các pháp diệt”. Kinh Duy Ma nói: “Muốn được Tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy tịnh là Phật độ tịnh”. Lại nữa kinh nói: “Thánh nhân cầu tâm chẳng cầu Phật, trí nhân điiều tâm chẳng điều thân, ngu nhân điều thân chẳng điều tâm” . Kinh Tịnh Danh nói: “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt”. Thế nên biết, tất cả thiện ác đề do tâm mình, do đó nên nói: “Tâm là căn bản”.

5.- Hỏi: Tu căn bản (tu tâm) phải lấy pháp gì để tu?
Đáp: Chỉ tọa thiền, Thiền Định là được. Kinh Thiền Môn nói: “Cầu trí thánh của Phật, cốt phải Thiền Định. Nếu không Thiền Định, thì niệm tưởng (vọng niệm) xao động, phá hoại căn lành kia”.

6.- Hỏi: Thế nào là Thiền? Sao là Định?
Đáp: Vọng niệm chẳng sinh (vô niệm) là Thiền. Ngồi thấy bản tính là Định. Bản tính là tâm vô sinh (tâm linh vô niệm) của ông vậy. Định là đối cảnh tâm không sinh, tám gió thổi chẳng động. Tám gió là tài (tài lợi), suy (suy hao), hủy (hủy nhục), dự (đề cao), xưng (khen ngợi), cơ (chê bai, khổ (đau khổ), lạc (vui vẻ). Nếu người được Định như thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. Người được như thế gọi là giải thoát, cũng gọi là đến bờ kia, hơn Lục độ, vượt khỏi tam giới, là Bổ Tát đại lực, là bậc tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.
***
---Tâm trụ chỗ nào là trụ?
---Tâm trụ chỗ không trụ là trụ.

---Thế nào là chỗ không trụ?
---Chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là trụ chỗ không trụ.
---Thế nào là chẳng trụ tất cả chỗ?

---Chẳng trụ tất cả chỗ là: chẳng trụ nơi lành dữ, có không, trong ngoài, chẳng giữa, chẳng trụ không, chẳng trụ định cũng chẳng trụ chẳng định. Chỉ cái chẳng trụ tất cả chỗ, ấy là chỗ trụ. Người được như thế, gọi là tâm không trụ. Tâm không trụ là tâm Phật.

---Tâm ấy giống vật gì?
---Tâm ấy chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải dài, ngắn, tới, lui, chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng sinh, chẳng diệt, yên tịnh thường lặng lẽ. Đó là hình tướng của bản tâm, cũng là bản thân. Bản thân là thân Phật.

---Thân tâm nầy lấy cái gì để thấy? Lấy mắt thấy, lấy tai, mũi và thân tâm v.v… để thấy chăng?
--Cái thấy nầy không phải như  các thứ thấy đó.

---Đã không như các thứ thấy đó, là lấy cái gì thấy?
---Là tự tính thấy! Vì sao? Vì tự tính (tính của mình) xưa nay trong sạch yên tịnh không lặng, chính trong cái thể không lặng ấy hay sinh cái thấy nầy.

---Cái thể không lặng ấy còn không thể có, thì cái thấy nầy từ đâu mà có?
---Ví như trong cái gương sáng tuy không có hình tượng, mà có thể thấy tất cả hình tượng. Vì sao? Vì gương sáng không tâm. Người học Đạo nếu tâm không có chỗ nhiễm, vọng tâm chẳng sinh, tâm ngã sở (tâm chấp mình và sự vật của mình) diệt, tự nhiên được không lặng, vì không lặng hay sinh cái thấy nầy.
Kinh Pháp Cú nói: “Trong cái cứu kính không rõ ràng dựng lập, ấy là Thiện Tri Thức”

---Kinh Niết Bàn trong phẩm Kim Cang Thân nói: “Không thể thấy mà thấy rõ ràng, không có biết mà không chẳng biết” là thế nào?
---Không thể thấy, vì cái thể của tự tính không hình tướng, không thể có, nên nói: “không thể thấy”, song cái thấy không thể được đó, thể nó yên tịnh lặng lẽ, không tới lui, chẳng lìa dòng đời, mà dòng đời không lôi cuốn được nó, thản nhiên tự tại, tức là thấy rõ ràng.
Không có biết vì tự tính không hình vốn không phân biệt, nên nói “không có biết”. Không chẳng biết vì trong cái thể không phân biệt ấy đầy đủ hằng sa diệu dụng. Nếu cần phân biệt tất cả, thì không việc gì chẳng biết, nên nói “không chẳng biết”. Kệ Bát Nhã nói: “Bát Nhã không biết, không việc gì chẳng biết (Bát Nhã vô tri, vô sở bất tri); Bát Nhã không thấy, không chỗ nào chẳng thấy”.

---Kinh nói: “Chẳng thấy cái có không là chân giải thoát”. Thế nào là chẳng thấy có không?”.
---Khi chứng tâm thanh tịnh gọi là có, trong đó chẳng sinh cái tưởng được tâm thanh tịnh, gọi là chẳng thấy có. Được cái không sinh không trụ, mà không khởi tưởng được không sinh không trụ, gọi là chẳng thấy không.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Biết thấy lập biết là gốc vô minh, biết thấy không thấy, đây là Niết Bàn (Tri kiến lập tri tức vô minh bản, tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn)”, cũng gọi là giải thoát.
***

7.-Hỏi: Vô niệm thì pháp có, không chăng?
Thiền sư Thần Hội (Hà Trạch) đáp:
---Chẳng có chẳng không?

---Khi ấy thế nào?
---Cũng không khi ấy, ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật. (Chú ý: Hành giả nên đặc biệt lưu ý câu nói nầy).

***
8.-Hỏi: Người được đốn ngộ có tu chăng?
Thiền sư Linh HỰU (Qui Sơn) đáp: Nếu người thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí (thói quen) nhiều kiếp từ vô thỉ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lý, nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại, “chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp” (Thực tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Phật như như.
***
9.- Hỏi: Sao là phương tiện?
Thiền sư Hoàng Biện đáp: Phương tiện là ẩn che tướng thật, là cửa khéo léo tạm thời để giáo hóa bậc trung, hạ căn, chiều uốn dẫn dụ họ gọi là phương tiện. Dù bậc thượng căn nói bỏ phương tiện chỉ nói đạo vô thượng, đây cũng gọi là nói phương tiện. Cho đến Tổ sư dùng lời huyền diệu quên công bặt lời, cũng không ngời dấu vết phương tiện.

10.- Hỏi: Tổ sư đã khế hội tâm ấn, kinh Kim Cang nói “không có pháp sở đắc” là sao?
Thiền sư Hoằng Biện đáp: Phương pháp giáo hóa của Phật thật không có một pháp cho người. Chỉ vì dạy cho mọi người, mỗi người đều có một kho pháp bảo. Chính khi Phật Nhiên Đăng ấn chứng cho Phật Thích Ca không có sở đắc mới khế hội bản ý của Phật Nhiên Đăng. Cho nên kinh nói: “Không ngã, không nhân, không chúng sinh, không thọ giả, pháp ấy bình đẳng, tu tất cả pháp lành mà chẳng trụ nơi tướng”.

11.- Hỏi: Thiền sư đã hội ý Tổ, lại có lễ Phật tụng kinh chăng? Và sao là đốn ngộ, sao là tiệm tu?
Thiền sư Hoăng Biện đáp:
A.- Sa môn thích tử lễ Phật tụng kinh là pháp thường của trụ trì, có bốn quả báo vậy. Song y Phật giới để tu thân, tìm học với các bậc Thiện tri thức để tập tu hạnh thanh bạch, bước theo dấu Như Lai đã đi.
B.- Chóng thấy tự tính cùng Phật đồng bậc, song còn có tập nhiễm từ vô thỉ nên mượn tiệm tu để đối trị, khiến theo tính khở dụng. Như người ăn cơm không thể một miếng được no.
***
12.- Hỏi: Con chó có Phật tính không?
Thiền sư Tùng Thẩm (Triệu Châu) đáp:
---Có.

---Đã có Phật tính vì sao chui vào đãy da?
---Vì biết cố phạm.
***
13.- Hỏi: Như thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo xin thầy chỉ dạy?
Thiền sư Nghĩa Huyền khai Tổ Tông Lâm Tế đáp: Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là chỗ không ngại. Tịnh, sáng… tuy ba mà một, đều là danh từ suông không thật có. Người chân chính đạo nhân niệm niệm tâm không gián đoạn. Đại sư Đạt Ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Nhị tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Hiện nay sơn tăng chỗ thấy cùng Phật Tổ không khác. Nếu trong đệ nhất cú tiến được, kham cùng Phật Tổ làm thầy. Nếu trong đệ nhị cú tiến được kham cùng trời người làm thầy. Nếu trong đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong.

14.- Hỏi: Thế nào là Phật, là Ma?
Thiền sư Nhĩa Huyền đáp: Người vừa khởi được một niệm tâm nghi ấy là ma. Nếu người đạt được muôn pháp không sinh, tâm như huyễn hóa, không có một hạt bụi, một pháp, ngay đó liền thanh tịnh là Phật. Song, Phật và Ma là hai cảnh nhiễm tịnh. Nếu chỗ thấy của sơn tăng, không Phật, không chúng sinh, không xưa không nay, được liền đó được, chẳng trải qua thời tiết, không tu, không chứng, không được không mất, trong tất cả thời lại không có một pháp riêng. Dù là một pháp vượt hơn cái nầy, ta nói như mộng như hóa.

Sơn tăng nói ra đều phải, hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Người nầy nơi nơi chẳng kẹt, thấu suốt mười phương, tự tại trong tam giới, vào tất cả cảnh sai biệt không thể lôi kéo, trong khoảng sát na (1/90 giây) vào tột pháp giới, gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La Hán nói La Hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ, đi tất cả chỗ, dạo các cõi nước, giáo hóa chúng sinh, mà chưa từng lìa một niệm, tùy chỗ thanh tịnh, ánh sáng thấu mười phương, muôn pháp nhất như. Đạo Lưu! Kẻ đại trượng phu hiện đây mới biết xưa nay vô sự. Chỉ vì các người chẳng tin đến, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi, như các vị Bồ Tát viên đốn mà vào trong pháp giới hiện thân. Nhằm trong tịnh độ chán phàm mến thánh, bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết.

Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng cũng được.

Đạo lưu! Chớ chấp lấy, sẽ bị các bậc Lão Sư đập cửa mặt. Nói rằng ta hiểu thiền hiểu đạo, biện luận thao thao như nước chảy, đều là người tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người chân chính học đạo, chẳng tìm lỗi của thế gian, cấp bách cầu “kiến giải chân chính”, mới mong tròn sáng xong xuôi.

---Như thế nào là kiến giải chân chính?
---Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, vào cõi nước chư Phật, vào lầu các Đức Di Lặc, vào pháp giới Tỳ Lô Giá Na, chỗ chỗ đều hiện, cõi nước thành, trụ, hoại, không, Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết Bàn, chẳng thấy có tướng đi lại, tìm cái sinh tử của Ngài trong không thể được, liền vào pháp giới vô sinh; nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới Hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không thật pháp, chỉ có Đạo Nhân vô y (không chỗ nương) sinh. Nếu ngộ vô y (không chỗ nương), Phật cũng không thể được. Nếu người nào thấy được như thế, là kiến giải chân chính.

Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại. Do đó, chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra cốt hiển bày lẽ nầy. Học giả không hội, bèn nhắm trên danh cú sinh hiểu biết, đều là nương tựa tại nơi nhân quả, chưa khỏi sinh tử trong tam giới.

Ai muốn trong sinh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp nầy (cái Biết). Y không hình tướng, không cội, không gốc, không chỗ ở, mà hoạt bát rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi là bí mật!.

Đạo lưu! Các người chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn (thân tứ đại), trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các người đến trong thế giới nầy tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bửa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tìm tri thức. Chớ đuổi theo thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước gió lửa ép ngặt, tế thì bị sinh trụ dị diệt bức bách.

Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh lôi kéo.

---Thế nào là bốn cảnh vô tướng?
---Các người một niệm tâm Nghi bị đất làm ngại. Các người một niệm tâm Ái bị nước nhấn chìm. Các người một niệm tâm Sân bị lửa đốt cháy. Các người một niệm tâm Hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì bốn đại như mộng huyễn.

Đạo lưu! Các người hiện nay nên biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái Biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế, là đi đứng tự do. Chỗ thấy của Sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Các ngươi nếu mến Thánh thì, Thánh chỉ là tên Thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn, tìm Văn Thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn Thù. Các ngươi muốn biết Văn Thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn Thù sống. Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quán Thế Âm. Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thời đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh.

---Ý Tổ sư từ phương Tây sang thế nào?
---Nếu có ý tự cứu chẳng xong.

---Đã không ý làm sao Nhị tổ được pháp?
---Được đó là chẳng được.

---Nếu đã chẳng được, thế nào là ý chẳng được?
---Vì nhằm tất cả chỗ tìm kiếm tâm không thể thôi.

Do đó, Tổ Sư nói: “Dốt thay! Đại trượng phu đem đầu tìm đầu”. Ngươi ngay lời nói nầy liền tự hồi quag phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật Tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp. Đại đức! Sơn tăng hôm nay sự bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của Sơn tăng, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Các nơi nói Lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Sơn tăng nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Cho đến trì trai giữ giới như bưng đầu chẳng nghêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Vì sao như thế? Vì học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mươi mốt, cây kia chẳng sinh nhỉ. Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bửa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Những hàng Bồ Tát thập Địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị nầy trọn không thể được. Do đó, chư Thiên vui mừng, Địa Thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngượi. Bởi sao như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước
13  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###11.-Vô niệm vào lúc: Tháng Tám 31, 2015, 09:51:56 am

11. VÔ NIỆM
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

Tại sao người tu Thiền phải nắm bắt cho được cái “Tâm Thể Vô Niệm” ?

Tại vì chúng sanh và Phật chỉ khác nhau ở cái tâm mà thôi. Tâm của chúng ta thì điên đảo và mất chính thường (bị bệnh). Còn tâm của Phật thì chính thường, thanh tịnh và Vô Niệm (Vô là không vọng tưởng, niệm là Chân Như khởi niệm – Đức Lục Tổ -). Thế nên, nếu ai tu hành nắm bắt được “Tâm Thể Vô Niệm”, thì người nầy sẽ đắc đạo quả Vô Thượng Bồ Đề (thành Phật).

Nhưng làm sao để thấy (nhận ra) hay nắm bắt cho được cái “Tâm Thể Vô Niệm” hay Chân tâm, Phật Tánh?

Để làm cho được cái công việc nầy, trước hết các bạn phải học thuộc lòng và hiểu cho sâu lời dạy của Đức Thế Tôn khi vừa thành Đạo:

“Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí tuệ Như Lai. Nhưng vì vọng tưởng che lấp, nên không chứng được. Nếu lìa vọng tưởng, thì Vô Sư Trí và các năng lực to lớn khác sẽ hiện bày, tha hồ mà lấy dùng”.

Kế đó các bạn phải cố gắng tìm hiểu cho thật kỹ xem Nhị Tổ Huệ Khả, Thượng tọa Minh (kinh Pháp Bảo Đàn) và tổ Vô Ngôn Thông… có phải chăng, nhờ dừng bặt hay dừng được Vọng tưởng Tạp niệm ở trong Tâm linh, nên các Ngài được khai ngộ hay Kiến Tánh?

Nhân đây, tôi nói cho các bạn thấy Đức Lục Tổ được Đức Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng kinh Kim Cang cho nghe đến câu:

“Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp sinh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. (Chảng nên trụ sắc sinh tâm, chẳng nên trụ Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sinh tâm. Nên không có chỗ trụ mà sinh tâm), thì Ngài liền được Đại Ngộ, nên thốt lên rằng:

-Không ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh.
-Không ngờ tự tánh vốn không sanh diệt.
-Không ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ.
-Không ngờ tự tánh vốn không lay động.
-Không ngờ tự tánh có khả năng sanh ra vạn pháp.

Qua câu chuyện Ngộ Đạo của Đức Lục Tổ nêu trên, các bạn cảm thấy thế nào, có thấy biết được chỗ ngộ của Ngài chưa?

Nếu chưa thì các bạn nên biết rằng, kinh Lăng Nghiêm có nói: “Sáu căn là gốc của Luân hồi, sáu căn cũng là gốc của Giải thoát”. Tại sao sáu căn là gốc của Luân Hồi?

Khi sáu căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần, thì cái thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) của các bạn liền khởi niệm phân biệt là: tốt hay xấu, hay hoặc dở, thơm hay hôi, ngon hay dở, thô hay mịn, như ý hay bất như ý, phải hay quấy…

Thế là các bạn đã bị sức hút của Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối) nó chi phối rồi đấy, khó mà thoát ra khỏi Vũ Trụ Cảm Giác được, nên nói sáu căn là gốc của Luân hồi! Vì sao? Vì khi thấy: tốt hay thơm, ngon mịn và như ý, thì các bạn sẽ khởi tâm Ưa Thích (Ái, Thơm) còn ngược lại khởi tâm Ghét Bỏ (Sân). Mà Tham (cõi Dục) và Sân (cỏi Sắc) là 2 trong 6 cái căn bản phiền não ở trên đời nầy. Nếu có sự hiện diện của chúng, thì các bạn làm sao thoát ra khỏi ba cõi sáu đường được!?

Tại sao sáu căn là gốc của giải thoát?

Muốn được tự tại đối với trần cảnh ở bên ngoài, hoặc muốn thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cảm Giác để tiến nhập vào Vũ Trụ Tri giác, các bạn phải như thật rõ biết, cái thân ngũ uẩn nầy và tất cả các pháp ở trong cái Vũ Trụ Cảm Giác (Vũ Trụ Tương Đối), chỉ là hiện tượng mà thôi. Chúng có đó chỉ là giả có, chớ không phải thật có. Do vậy, nên Bát Nhã Tâm Kinh nói:

“Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” (soi thấy năm uẩn nầy là không, thì vượt được mọi khổ nạn). Và kinh Kim Cang cũng có nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Phàm cái gì có hình tướng, đều giả dối không thật).

Hoặc nói:
“Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệt như điện
Ưng tác như thị quán”

Lại nữa, Thiền sư Minh chánh (một Thiền sư Việt Nam), cảnh giác người tu chúng ta:

“Chẳng biết Bản Lai Vô Nhất Vật,
Công phu luống uổng một đời ai”

Thí như, giờ đây các bạn đã được như thật rõ biết “xưa nay không có một vật”, thì khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần, các bạn sẽ không còn vọng tưởng để khởi niệm phân biệt: tốt xấu, to nhỏ, dài ngắn, hay dở, thơm hôi… như trước đây nữa. Như vậy là các bạn đã được Vô Tâm cùng vạn vật, đã được Vô Niệm, đã thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cảm Giác (3 cõi), đã vào được vũ Trụ Tri giác (Vũ Trụ Tuyệt Đối) và đã đắc Thiền rồi vậy. Bởi vì, Đức Lục Tổ nói: “Sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính mắc và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là Thiền”. Còn diều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn, Sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử thì nói: “Đối cảnh Vô Tâm, chớ có hỏi Thiền”.

Tóm lại, khi sáu căn tiếp xúc với  sáu trần mà các bạn không khởi niệm phân biệt (tức là dừng bặt hay ngừng dứt được vọng tưởng tạp niệm), thì các bạn sẽ thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cảm Giác để tiến vào Vũ Trụ Tri giác (Vũ Trụ Tuyệt Đối, Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tâm Thể Vô Niệm) mới có thể tiếp cận hay giáp mặt với Thiền.

Có thể nói, Thiền là một báu vật vô giá ở trong Vũ Trụ Tri Giác (Tổng Cơ Quan Áo Bí của Vũ Trụ). Nếu ai có thể hội hay nắm bắt được Thiền, thì người nầy sẽ được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo giống y như Đức Lục Tổ Huệ Năng đã Ngộ vậy!

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho biết, cách thức Kiến Tánh hay Ngộ Đạo như đã trình bày trên, người tu ở vào thời buổi hiện nay khó mà có người làm được. Vì sao? Vì muốn được như thật biết “xưa nay không có một vật” (Bản Lai Vô Nhất Vật) để đắc Thiền không phải là chuyện dễ dàng mà là hết sức khó khăn! Bằng cớ là đã có rất nhiều người tu hễ mỡ miệng ra là nói cái gì  cũng Giả cũng Không. Nhưng khi va chạm với sự thật, thì lúc bấy giờ họ lại thấy cái gì cũng Thiệt cũng Có hết trơn! Với cái thấy biết cạn cợt của họ như thế đó, thì họ làm sao có thể thoát ra khỏi sức hút của Vũ Trụ Cảm giác (Vũ Trụ Tương Đối) cho được, để thể hội hay có Thiền? Đức Phật có dạy như sau:

Có Thiền trí tuệ sanh,
Không Thiền trí tuệ diệt.
Hai nẻo sanh diệt nếu biết,
Hãy nổ lực viên thành trí tuệ.

***
Thiền sư Thích Thanh Phước

14  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###10.-Làm sao ra khỏi nhà lửa? vào lúc: Tháng Tám 03, 2015, 03:19:17 am

10.-LÀM SAO RA KHỎI NHÀ LỬA?
(Đã đăng trên báo VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK)

Người tu chúng ta nên biết rằng, thế  giới chúng ta có hai thứ: Thế giới chẳng sinh chẳng diệt chính là Niết Bàn, và thế giới có sinh có diệt chính là cõi Ta Bà nầy.

Và theo lời dạy của Đức thế tôn, thì có ba cách thức giúp cho người tu chúng ta thoát khỏi nhà lửa (thế giới có sinh và có diệt) để được giải thoát từng phần hoặc được đại tự tại và giải thoát lớn (thành Phật) như dưới đây:

I. CÁCH THỨ NHỨT: TU THEO TAM THỪA:
A.   Người tu theo Tiểu Thừa phải thấy (giác ngộ) cái thân ngũ uẩn hay cái thân tứ đại vật chất nầy là Không (Bát Nhã Tâm Kinh nói: chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách), để tiêu diệt cho hết tất cả những kiến giải mê lầm của Tam Giới (Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não hay Tham, Sân, Si), đồng thời tiêu diệt được cái thân “phần đoạn sanh tử” chứng quả vị A La Hán, ra khỏi Tam Giới (Dục, Sắc và vô Sắc giới) và vào Hữu Dư Niết bàn.

B.   Người tu theo Trung Thừa phải thấy (giác ngộ) tất cả các pháp (những gì mà mắt chúng ta có thể thấy, tay có thể chỉ ra được) ở trong cái Vũ Trụ Cảm Giác hay Vũ Trụ Tương Đối nầy đều Không, để đoạn cho được cái ÁI (sản phẩm của Vô Minh) hay những kiến giải mê lầm của Tam Giới (Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não) thì lúc bấy giờ sẽ tiêu diệt được cái thân “phân đoạn sinh tử” để thân chứng quả vị BÍCH CHI PHẬT và vào Hữu Dư Niết Bàn.

C.   Người tu theo Đại Thừa hay Bồ Tát thừa, phải như thực thấy (giác ngộ) hai cái Không: Ngã Không và Pháp Không, tức là thấy (giác ngộ) xưa nay  không có một vật (Bản lai vô nhứt vật), thì lúc bấy giờ sẽ tiêu diệt được được những kiến giải mê lầm của Tam Giới và đoạn được cái thân “phân đoạn sinh tử”, thân chứng quả vị BỒ TÁT, để vào Hữu Dư Niết Bàn. Vì kinh Kim Cang có nói: “Bồ Tát bố thí mà trụ tướng, thì không phải Bồ Tát”.

II. CÁCH THỨ HAI: TU THEO THIỀN TÔNG:
Tu theo Thiền Tông, bắt buộc người tu phải được  như thực Kiến Tánh (Giác tự tâm hiện lượng) hay Ngộ Đạo thì lúc bấy giờ mới có được lợi ích thiết thực trong công việc tu hành. Thế nên, người tu phải nắm bắt cho được những vấn đề hết sức quan trọng dưới đây:

1.   Phải biết Tâm là gì và ở đâu?
2.   Phải biết rõ Thể, Tướng và Dụng của Tâm.
3.   Phải biết tu cái gì trong Tâm?
4.   Không nên lìa Tâm hay phân Tâm mà tu.
5.   Phải biết Đại tự nhiên tức Vũ Trụ Cảm Giác hay Vũ Trụ Tương Đối, hoặc Vũ Trụ Vật Chất là thế giới có sinh có diệt ở bờ bên nầy (Bờ Mê), thuộc về thế gian.
Còn Vũ Trụ Tri giác, Phật học gọi là Vũ Trụ Tuyệt Đối, các nhà khoa học gọi là Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ là thế giới chẳng sinh chẳng diệt ở bờ bên kia (Bờ Giác), thuộc về xuất thế gian.
Nếu như đem Vũ Trụ Cảm giác so sánh với Vũ Trụ Tri Giác, thì Vũ Trụ Cảm Giác chỉ là hòn bọt bé nhỏ trong biển lớn Vũ Trụ Tri Giác mà thôi!
Tên khác của Vũ Trruj Tri Giác hay Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ, Phật học gọi là: Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Bản Lai Diện Mục, Ông Chủ, Vô Sư Trí, Niết Bàn v.v…
6.   Mấu chốt của định luật Đại Tự Nhiên hay Định luật luân hồi không ở trên trời xanh mây trắng, mà nó ở ngay trong cái thân vật chất máu mũ nầy. Và lẽ dĩ nhiên cửa Ra và Vào vòng luân hồi ở chỗ nào, thì nó cũng ở chỗ đó. Cho nên, hễ còn thấy có  Vọng tưởng, Tạp niệm khởi lên, thì nên biết rằng mình vẫn còn dính mắc, còn kẹt trong vòng Luân hồi. Còn như thấy Vọng Niệm, Tạp Niệm đã bị dừng bặt không còn khởi lên được nữa, thì nên biết rằng mình đã thoát khỏi vòng Luân hồi, đã tiến nhập vào Vũ Trụ Tri Giác rồi vậy.
7.   Muốn được Khai ngộ hay Kiến tánh, người tu phải có một pháp tu cho thật tốt để dừng bặt cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm), để tiến nhập vào Vũ Trụ Tri Giác. Và chỉ khi nào vào được Vũ Trụ Tri Giác rồi, người tu mới có thể thấy hay thể hội được cái “Tâm Tĩnh Lặng Mà Biết”, đó chính là Ông Phật thật (Pháp thân). Thế là người tu đã được Khai Ngộ hay Kiến Tánh rồi vậy!.
Tuy nhiên, kinh nghiệm cho biết, có một số người tu đã ngừng dứt hay dừng bặt được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm), đã vào được cảnh giới Vô Niệm, tức là đã vào được Vũ Trụ Tri Giác rồi, nhưng họ vẫn chưa nhận ra hay chưa thể hội được cái Bản Lai diện Mục của chính mình, nếu gặp phải trường hợp nầy, người tu phải nhờ người có cặp mắt sáng là thầy hay bạn nhổ đinh tháo chốt giùm cho.
Xưa kia, Nhị Tổ HUỆ KHẢ và Tổ VÔ NGÔN THÔNG… nhờ dừng bặt được Vọng tưởng Tạp niệm, mà được Minh Tâm Kiến Tánh.
Thế nên, người tu Thiền thời buổi hiện nay nên biết rằng: “Tâm cuồng dừng bặt là Ngộ Đạo”. Vì kinh Lăng Nghiêm và kinh Đại Bát Niết Bàn có nói như sau:
-Cuồng tâm ký yết, yết tức Bồ Đề” (cuồng tâm ngừng nghĩ, ngừng nghĩ tức Bồ Đề).
-“Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (sanh diệt (vọng tưởng) diệt rồi, tịch diệt (Niết Bàn) là vui).
Hiện nay có rất nhiều người tu Thiền nương vào cái Dụng (của tâm) để suy đoán, so lường hay nhận định về cái Thể (của Tâm) như thế nào đó, rồi bèn có kết luận rằng mình đã được Kiến Tánh. Cái hiểu Kiến Tánh hay Ngộ Đạo đó không có gì bảo đảm cả.
8.   Sau khi được Kiến Tánh hay Ngộ Đạo rồi người tu còn phải thể nhập Pháp Thân hay Niết Bàn bằng cách lần hồi tiêu diệt cho sạch hết những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng Tạp niệm hay biến dịch sanh tử tức là cái chết của bậc Thánh) ở trong tâm linh, để được ba cái Định: Đại Định, Diệu Định, Viên Định.
9.   Khi được Viên Định rồi, người tu nên biết mình đã được Đại tự tại và Giải thoát lớn (thành Phật hay là vào Vô Dư Niết Bàn) ngay trong hiện kiếp rồi vậy!.

III. CÁCH THỨ BA: TU THEO TỊNH ĐỘ:
Trong kinh Tiểu bổn A DI ĐÀ, Đức PHẬT có dạy như sau:
Muốn được vãng sanh về Tịnh Độ của Đức Phật A DI ĐÀ, người tu phải đáp ứng đủ ba điều kiện dưới đây:

1.   Phước đức căn lành phải lớn (nguyên văn: Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên dắc sanh bỉ quốc).
2.   Niệm Phật cho được “Nhất Tâm Bất Loạn” từ một ngày cho đến bảy ngày (Nguyên văn: chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt “Nhất Tâm Bất Loạn”).
3.   Khi sắp lâm chung tâm không loạn động (Nguyên văn: Kỳ nhân lâm mạng chung thời. A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo (không loạn động) tức đắc Vảng sanh A Di Đà Phật, cực lạc quốc độ).

Có thể nói, đa phần trong bốn chúng Phật tử ở vào thời buổi hiện nay, muôn người như một đều rất muốn được Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới của Đức Phật a Di Đà, để rồi sau đó tu tiếp cho đến ngày thành Phật mới thôi. Nhưng, khổ nổi họ lại chẳng biết phải niệm Phật như thế nào để được “Nhất Tâm Bất Loạn”!? Thật rất đáng tiếc và cũng đáng thương thay!.

Thực ra, muốn niệm Phật cho được “Nhất tâm bất loạn” người tu phải có phương pháp để Niệm chứ không phải ai muốn niệm sao thì niệm. Thời gian gần đây chúng tôi có giới thiệu với bốn chúng Phật tử “Phương pháp niệm Phật để được nhất tâm bất loạn” đăng trên tờ Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 5 năm 2004 (Hà Nội) và đăng trên tờ Nội san vô Ưu (tỉnh Daklak)  số 19 tháng 8 năm 2004.

Với phương pháp niệm Phật nói trên, người tu chỉ cần dụng công vài ba tuần lễ là được “Nhất tâm bất loạn” ngay. Chúng tôi dám cam đoan như thế.

Tóm lại, muốn ra khỏi nhà lửa để chấm dứt mọi nổi khổ đau và phiền não ở trên đời nầy, người tu thời nay tùy theo sở thích chọn lấy một trong ba cách thức tu nêu trên để tiến tu, nhất định sẽ được mãn nguyện. Tuy nhiên, người tu chúng ta cũng nên biết rằng, cái việc niệm Phật để được Vãng sanh về Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà là dễ tu nhất. Còn tu Thiền, thì phải có Minh Sư đưa đường chỉ lối và một pháp tu có đủ khả năng “Diệt vọng tưởng, hiện chân như” mới có hy vọng được mãn nguyện.

***
Thích thanh Phước
15  Phật Giáo Tư Tưởng Học / Tư Duy Học Phật / ###09.-Như thế nào là pháp môn đốn ngộ? vào lúc: Tháng Bảy 06, 2015, 05:04:02 am

09.-NHƯ THẾ NÀO LÀ PHÁP MÔN ĐỐN NGỘ?
(Đã đăng trên báo NỘI SAN VÔ ƯU
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO TỈNH DAKLAK )

Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG khi còn là một học Tăng ở trong pháp hội của Tổ BÁ TRƯỢNG HOÀI HẢI đã ba năm, mà vẫn chưa thưa hỏi một lời. Một hôm, trong giờ tham vấn có một vị Tăng hỏi tổ BÁ TRƯỢNG: -“Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa?”

Tổ BÁ TRƯỢNG đáp:
-“Tâm địa nhược không, huệ nhựt tự chiếu” (đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu).

Nghe câu nầy, Sư VÔ NGÔN THÔNG liền được đại ngộ.

Đọc qua Công án nầy, Quý Vị thấy thế nào? Có thể hội được như thế nào là Đốn Ngộ chưa? Nếu chưa hãy đọc tiếp được đoạn văn dưới đây của Thiền sư HUỆ HẢI viết trong quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn sẽ rõ:

Hỏi: “Phải tu pháp gì chóng được giải thoát?”
Đáp: Chỉ có một môn đốn ngộ là chóng được giải thoát.
-   Thế nào là đốn ngộ?
-   Đốn là chóng trừ vọng niệm. Ngộ là ngộ không chỗ được.
-   Từ cái gì mà tu?
-   Từ căn bổn mà tu.
-   Thế nào là từ căn bổn mà tu.
-   Tâm là căn bổn.
-   Làm sao biết tâm là căn bổn?
-   Kinh Lăng già nói: “Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt”. Kinh Duy Ma nói: “ Muốn được Tịnh độ, phải tịnh tâm ấy, tùy tâm ấy tịnh là Phật độ tịnh”.
Lại nữa, kinh nói: “Thánh nhơn cầu tâm chẳng cầu Phật, ngu nhơn cầu Phật chẳng cầu tâm, trí nhơn điều tâm chẳng điều thân, ngu nhơn điều thân chẳng điều tâm”. Kinh Phật danh nói: “Tội từ tâm sanh lại từ tâm diệt”. Thế nên biết, tất cả thiện ác do tâm mình, do đó nói tâm là căn bổn.
Do vậy, người cầu đạo giải thoát trước phải biết căn bổn. Nếu không đạt lý nầy, luống uổng nhọc công, từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, thật không thể được. Kinh Thiền Môn nói: “Từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, dù trải qua nhiều liếp trọn không thể thành. Từ giác quán (xét soi) bên trong (trong tâm) mà tu, bằng khoảng một niệm liền chứng Bồ Đề”.
-Tu căn bổn (tu tâm) phải lấy pháp gì để tu?
-Chỉ tọa thiền, thiền định liền được. Kinh Thiền Môn nói: “Cầu trí thánh của Phật, cốt phải Thiền Định. Nếu không Thiền Định, thì niệm tưởng xao động, phá hoại căn lành kia”.
-Thế  nào là Thiền? Sao là Định?
-Vọng niệm chẳng sanh là Thiền. Ngồi thấy bổn tánh là Định. Bổn tánh là tâm vô sanh (Tâm linh vô niệm) của ông vậy. Định là đối cảnh không tâm sanh, tám gió thổi chẳng động.
Tám gió là: lợi (tài lợi), Suy (suy hao), Hủy (hủy nhục), Dự (đề cao), Xưng (khen ngợi), Cơ (chê bai), Khổ (đau khổ), Lạc (vui vẻ).
Nếu người được Định như thế, tuy là phàm phu mà liền vào vị Phật. Vì sao? Vì kinh Bồ Tát Giới nói: “Chúng sanh thọ giới Phật, liền vào ngôi vị chư Phật”. Người được như thế được gọi là giải thoát, cũng gọi là đến bờ kia, hơn Lục Độ, vượt khỏi Tam Giới, là Bồ Tát Đại lực, là bậc Tôn vô lượng lực, là đại trượng phu.

Sau khi, đọc đi đọc lại và kiểm nghiệm kỷ lời chỉ dạy nêu trên của Thiền sư HUỆ HẢI, Quý Vị thấy thế nào, có thấy thích thú đường lối tu nầy lắm không? Nếu muốn tu theo đường lối “thẳng, mau, rõ, đúng” nầy. Quý Vị có biết tâm của mình là cái gì và ở đâu chưa? Nếu như chưa, Quý Vị hãy tham khảo bài pháp mang tên “###02 Tu thiền là trị tâm bệnh” thì sẽ rõ. Bởi vì Thiền sư HUỆ HẢI có nói: “Người cầu đạo giải thoát trước phải biết căn bổn (tâm). Nếu chẳng đạt lý nầy, luống uổng nhọc công, từ nơi tướng bên ngoài mà cầu, thật không thể được”.

Khi biết được tâm mình là cái gì và ở đâu rồi, Quý vị còn phải Tọa Thiền nữa. Nhưng , như thế nào là Tọa Thiền?

Đức LỤC TỔ nói: “Ngoài đối với tất cả cảnh hoặc thuận hoặc nghịch tâm niệm chẳng khởi gọi là TỌA; trong thấy tự tánh chẳng động gọi là THIỀN”. Ngài cũng có nói: “Bên ngoài sáu căn (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý) không dính mắc với sáu trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) và không kẹt nơi cảnh thuận hay cảnh nghịch là THIỀN. Bên trong, Tâm không loạn động là ĐỊNH”. Ấy thế mà, Thiền sư HUỆ HẢI lại nói: “Vọng niệm chẳng sanh là THIỀN, ngồi thấy bổn tánh là ĐỊNH”. Vậy, Quý Vị thấy thế nào, có gì nghi không? Chớ còn theo chỗ thấy chỗ tôi, thì cách nói của hai vị TỔ nầy tuy có khác nhau, nhưng ý nghĩa của lời nói đó thì cũng như nhau mà thôi. Bởi vì, khi tu tập cho đến lúc trong tâm không còn loạn động tức là được ĐỊNH. Khi được ĐỊNH, người tu sẽ được KIẾN TÁNH. Tại sao? Tại vì, ĐỊNH chính là cái Thể của Tâm, nó còn được gọi là Tâm Thanh tịnh, Tâm chính Thường, Tâm Thể vô Niệm hay Chân Như, Chân Tâm, Phật Tánh và Bản Lai Diện Mục… Đó là lý do tại sao Thiền sư HUỆ HẢI nói: “Ngồi thấy bổn tánh là ĐỊNH”.

Cách đây một tháng, có một Phật tử viết thư cho tôi nói rằng muốn tu Thiền, nhưng sợ không được Kiến Tánh, vì nghe người ta nói tu Thiền khó lắm! Tôi đã trả lời thư cho vị đó như sau:

-“Ngày xưa, nếu có ai nói đi lên cung trăng để thăm viếng chị Hằng, thì người ta nói đó chỉ là câu chuyện nằm mơ nói mớ của những kẻ trà dư tửu hậu mà thôi. Chứ làm gì có chuyện đi đi lên trên đó được, có phải vậy không? Nhưng, ngày nay mọi người đề biết, các phi hành gia đi lên trên đó như chúng ta đi chợ một thứ. Bởi vì, họ có phi thuyền và hỏa tiển, thì liệu họ có lên tới trên đó được không? Chắc chắn là không thể được rồi.

Cũng vậy, xưa kia tu Thiền mà muốn được Khai Ngộ hay Kiến Tánh, quả thật là thiên nan vạn nan! Cho nên, chỉ có những ai thuộc vào bậc thượng căn, thượng trí mới có hy vọng được toại nguyện? Còn những người thuộc vào bậc trung hoặc hạ căn hạ trí thì chỉ có cách là “kính trọng Thiền mà xa lánh Thiền” mà thôi! Nhưng, thời nay tuy có cách Phật quá xa lại còn rơi vào thời kỳ Mạt pháp nữa, nhưng tôi có thể nói cái công việc đó chỉ ở trong tầm tay chúng ta mà thôi, nếu như chúng ta có được Nhiếp Hóa Pháp hay Diệu Pháp Giải Thoát trong tay, để dừng bặt cho được những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ” (Vọng tưởng  Tạp niệm = Hoặc + Nghiệp + Khổ) ở trong Tâm linh, thì nhất định sẽ được Minh Tâm Kiến Tánh một cách dễ dàng. Nhưng không biết đạo hữu ấy có tin nổi lời nói đó của tôi hay không, thì tôi chưa được biết.

Tại sao phải dừng bặt cho được Vọng tưởng tạp niệm? Tại vì, kinh Thủ Lăng Nghiêm nói: “Cuồng tâm ngừng nghỉ, ngừng nghỉ tức Bồ Đề” (Cuồng tâm ký yết, yết tức Bồ Đề). Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui” (Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc). Còn Đức LỤC TỔ thì nói: “Tâm không loạn động là ĐỊNH”.

Tu Thiền mà không dừng bặt được Vọng tưởng Tạp niệm, thì thử hỏi Quý Vị làm sao mở ra được Cánh Cửa Giải Thoát, làm sao tiến vào được VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI (=Vũ Trụ Tri Giác = Vũ Trụ Phi Vật Chất hay Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ) để được tiếp cận hay giáp mặt với cái gọi là ĐỊNH hay Chân Tâm, Phật Tánh…? Chỉ và chỉ có khi nào Quý Vị tiến vào được Vữ Trụ Tuyệt Đối hay Vũ Trụ Tri Giác rồi, lúc bấy giờ Quý Vị mới có hy vọng được ĐỊNH hay Ngộ Đạo hoặc Kiến Tánh mà thôi.

Nhân đây, tôi nói cho Quý Vị thấy. Nếu đem Vũ Trụ Tương Đối (= Vũ Trụ Cảm Giác) so sánh với Vũ Trụ Tuyệt Đối (=Vũ Trụ Tri Giác), thì nó cũng như hòn bọt trong biển cả vậy thôi. Do vậy, các nhà khoa học lớn trên thế giới đã hạ quyết tâm khám phá cho được cái Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ (=Vũ Trụ Tuyệt Đối hay Vũ Trụ Tri Giác) nầy. Nhưng, mãi cho tới ngày hôm nay họ vẫn còn đang loay hoay hoặc xê dịch nơi bức tường PLANK mà thôi.

Từ PLANK là từ mà các nhà khoa học đã nói ra để chỉ cho lằn ranh giới ở giữa hai Vũ Trụ Tương Đối (=Vũ Trụ Cảm Giác ở bờ bên nầy) và Vũ Trụ Tuyệt Đối (=Vũ Trụ Tri Giác ở bờ bên kia). Nếu có người nào đó vượt qua được bức tường PLANK, và tiến vào được Vũ Trụ Phi Vật Chất (=Vũ Trụ Tuyệt Đối) thì chúng ta nên biết rằng người đó đã được ĐỊNH, và được KIẾN TÁNH rồi vậy.

Được Kiến Tánh rồi, thì vấn đề sanh tử có ngày dừng! Nhưng, chưa phải là xong việc đâu, vì hành giả vẫn còn phải nắm bắt cho được ba cái Định dưới đây mới có thể về tới NHÀ (=BẢO SỞ).:

1.   Đại Định: Tâm Linh Vô Niệm (= tâm không loạn động) từ 30 phút trở lên. Được yên vui lớn, có đôi khi được số linh cảm nhỏ và lớn  dần theo thời gian được Vô Niệm.
2.   Diệu Định: Tâm linh Vô Niệm (Tâm không loạn động) đạt được từ 1 đến 2 giờ đồng hồ, nhưng vọng niệm còn tái khởi. Được cái vui vi diệu. Có trí năng cải biến chi phối muôn vật.
3.   Viên định: Tâm linh Vô Niệm vĩnh viễn, trụ thường trực ở Vũ Trụ Tuyệt Đối. Tâm lượng bao la rộng lớn như hư không, tĩnh lặng hoàn toàn, trong suốt như gương dù trong trạng thái động hay tịnh. Có trí năng sáng tạo muôn vật.

Thế mới biết: “Trong vòng mười bước, ắt có cỏ thơm”.

***
Thiền sư Thích thanh Phước

Trang: [1] 2 3 ... 18
Powered by MySQL Powered by PHP Copyright © 2009 | hocthuatphuongdong.vn | admin@hocthuatphuongdong.vn Valid XHTML 1.0! Valid CSS!
Trang được tạo trong 0.801 seconds với 20 câu truy vấn.