Học Thuật Phương Đông

Đạo Gia Tư Tưởng Học => ĐỒ HÌNH HỌC => Tác giả chủ đề:: nhuocthuy trong Tháng Năm 28, 2011, 01:12:47 pm



Tiêu đề: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 28, 2011, 01:12:47 pm
BÀI TỰA --TRUYỆN THẦN TIÊN

神仙傳•序

  洪著內篇,論神仙之事,凡二十捲。弟子滕升問曰:「先生曰神仙可得不死,可學古之神仙者,豈有其人乎?」答曰:「昔秦大夫阮倉,所記有數百人,劉向所鑽撰,又七十一人。蓋神仙幽隱,與世異流,世之所聞者,尤千不及一者也。故寧子入火而凌煙,馬皇見迎以獲龍,方回咀嚼以云母,赤將茹葩以隨風,涓子餌水以著經,嘯父烈火以無窮,務光游淵以脯薤,仇生卻老以食松,邛疏服石以鍊形,琴高乘鯉於碭中,桂父改色以龜腦,女丸七十以增容,陵陽吞無脂以登高,商丘咀菖蒲以不終,雨師煉五色以厲夫,子光轡虯雷於玄涂,周晉跨素禽於緱氏,軒轅控飛龍於鼎湖,葛由策木羊於綏山,陸通匝遐紀於黃廬,蕭史乘鳳而輕舉,東方飄衣於京都,犢子靈化以淪神,主柱飛行於丹砂,阮丘長存於睢嶺,英氏乘魚以登遐,修羊陷石於西嶽,馬丹迴風以電徂,鹿翁陟險而流泉,園客蟬蛻於五華。余今復抄集古之仙者,見於仙經服食方及百家之書,先師所說,耆儒所論,以為十捲,以傳知真識遠之士,其系俗之徒思不經微者,亦不強以示之矣。則知劉向所述,殊甚簡要,美事不舉。此傳雖深妙奇異,不可盡載,尤存大體,竊謂有愈於向,多所遺棄也。」

  
葛洪撰


Truyện Thần Tiên

神仙傳
   

( Cát Hồng đời Tấn biên soạn)

Lời mở đầu

Cát Hồng soạn nội thiên. Bàn luận những chuyện thần tiên gồm có hai mươi quyển.
Đệ tử Cát Hồng tên Đằng Thăng hỏi Cát Hồng rằng: “ Tiên sanh nói thần tiên có thể đắc bất tử và ta có thể học từ thần tiên xưa là do nơi đâu?”.
Cát Hồng đáp: “Tích xưa đại phu nước Tần Nguyễn Thương đã ghi lại có cả trăm người, Lưu Hướng toàn soạn có bảy mươi mốt người.
Chuyện thần tiên u ẩn theo nhân gian dị lưu, những gì thế gian nghe ngàn chuyện cũng không sánh bằng một chuyện. như chuyện Trữ Tử vào lửa cưỡi khói, Mã Hoàng đón bắt rồng, Phương Hồi nuốt đá Vân Mẫu, Xích Tương ăn hoa mà đi như gió.
 Quyên Tử uống nước mà soạn kinh sách, Khiếu Phu lửa mạnh dùng vô cùng, Vụ Quang dạo chơi Bô giới (hẹ khô?). Cừu Sanh khước lão (đẩy lùi sự già nua)bằng cách ăn cây tùng, Cung Sơ ăn đá mà luyện hình, Cần Cao cưỡi cá chép vọt lên không trung, Quế Phụ dùng Quy não (não rùa) để thay đổi nhan sắc, người nữ uống bảy mươi hoàn có thể làm tăng dung nhan, Lăng Dương nuốt Vô Chi mà bay lên cao, Thương Khâu nuốt cỏ xương bồ mà không chết, Vũ Sư dùng Lệ Phu luyện ngủ sắc. Tử Quang chế rồng ở Huyền Đô, Chu tấn cưỡi Tố Cầm (chim trắng) ở câu Thi. Hiên Viên khống chế Phi long ở Đình hồ, Cát Do sai khiến Mộc dương (dê gổ) ở Tuy sơn, Lục Thông đi quanh quẩn bao nhiêu kỷ (ngày xưa một kỷ 12 năm, ngày nay 100 năm) ở Hoàng Lư, Tiêu Sử cưỡi Phụng nhẹ bay lên, Đông Phương y (áo) bay phấp phới ở Kinh Đô, Độc Tử dùng luân thần mà linh hóa, Chủ Trụ phi hành nhờ Đan sa, Nguyễn Khâu trường tồn ở Tuy Lĩnh, Anh Thị cưỡi cá mà lên mây, Tu Dương lấp đá ở Tây Nhạc, Mã Đan dùng chớp mà về gió, Lộc ông leo trèo nơi hiểm trở mà làm suối chảy, Viên Khách ve sầu lột xác ở Ngủ hoa.

Ta nay phục hồi sao lại tập tiên cổ này. Thấy tiên trãi qua phục thực ta đã cập nhật vào sách bách gia. Chuyện mà tiên sư đã giải thích, Nho gia đã luận bàn được làm thành mười quyển.

Dùng truyện để biết chân tri thức. những kẻ sĩ ở xa những người mà thế tục không thấy biết được sư vi diệu thì không được đưa vào. Tức là cái hướng giải bài rất là giản yếu, không phải ghi ra để khen ngợi.

Truyện tuy thâm diệu, kỳ dị nhưng vẫn không thể chuyên chở hết tất cả, chỉ bảo tồn cái đại thể, riêng nói cái hướng hơn. Đa phần các trường hợp đã không được đưa vào trong tập truyện này”.

Cát Hồng soạn.
(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 28, 2011, 01:15:41 pm
(tiếp theo)

神仙傳•卷一


廣成子

  廣成子者,古之仙人也。居崆峒山石室之中。黃帝聞而造焉,曰:「敢問至道之要。」廣成子曰:「爾治天下,云不待簇而飛,草木不待黃而落,奚足以語至道哉?」黃帝退而閒居三月,復往見之。廣成子方北首而臥,黃帝膝行而前,再拜,請問治身之道。廣成子蹶然而起曰:「至哉!子之問也,至道之精,窈窈冥冥,至道之極,昏昏默默,無視無聽,抱神以靜,形將自正;必靜必清,無勞爾形,無搖而精,乃可長生。慎內閉外,多知為敗。我守其一,以處其和。故千二百歲而形未嘗衰。得吾道者,上為皇;入吾道者,下為王。吾將去汝,適無何之鄉,入無窮之門,游無極之野,與日月齊光,與天地為常,人其盡死,而我獨存焉。」

QUYỂN 1

Quảng  Thành Tử

Quảng  Thành Tử là cổ tiên nhân, cư tại núi Không Động, bên trong thạch thất (căn phòng đá). Hoàng Đế nghe vậy thốt nhiên hỏi rằng: “ Dám hỏi tiên sanh cái yếu (chính yếu) của chí đạo là gì?”

 Quảng  Thành Tử trả lời rằng: “ Ông trị vì Thiên hạ, Mây kia không đợi khi nhiều mới bay, Thảo mộc kia không chờ vàng úa mới rụng, vậy dùng ngôn ngữ đủ để nói đến đạo hay sao?”.

Hoàng Đế lui ra sau đó nhà cư ba tháng rồi lại đến gặp Quảng  Thành Tử. Quảng  Thành Tử đầu nằm hướng hướng bắc, Hoàng đế quỳ xuống phía trước bái lại lần nữa để thỉnh hỏi cái đạo trị nhân.

Quảng  Thành Tử choàng dậy nói: “Lớn lắm thay! Điều con hỏi, cái tinh của chí đạo, yểu yểu minh minh (mờ mịt khôn lường), cùng cực của chí đạo hôn hôn mặc mặc (mờ mờ tĩnh tĩnh), không thể thấy, không thể nghe, bảo thần (ôm giữ lấy thần) thì tỉnh, hình dáng sẽ tự đoan chánh; tất tỉnh tất thanh, không bị lao nhọc hình thể, không lay động nhỏ thì có thể trường sinh.

Cẩn thận bên trong, bế (đóng) bên ngoài, biết nhiều chỉ có hại mà thôi. Ta biết giữ cái nhất này, lấy cái hòa. Nên một ngàn hai trăm tuổi mà hình thể chưa suy vong. Đắc đạo của ta thì thượng vi hoàng (trên làm vua), hạ vi vương (dưới thì làm vương). Ta cùng với con đến nhanh nơi vô hà (nơi không có gì), nhập vào cửa vô cùng, du nơi vô cực như vậy sẽ cùng nhật nguyệt đồng quang, cùng thiên địa làm thường, người mạng chung sẽ chết, chỉ con được trường tồn vậy”.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 28, 2011, 01:19:11 pm
(tiếp theo)

若士

  若士者,古之神仙也。莫知其姓名。燕人盧敖,秦時游於北海,經於太陰,入於玄關,至於蒙谷之山,而見若士焉。其為人也,深目而玄準,鳶肩而修頸,豐上而殺下,欣欣然方迎風軒輊而舞。顧見盧敖,因遁逃於碑下,盧敖仰而視之,方踡龜殼而食蟹蛤。盧敖乃與之語曰:「惟以敖為背群離黨,窮觀六合之外,幼而好游,長而不渝,周行四極。推此陰之為闕,今卒覩夫子於此,殆可與敖為友乎?」若士儼然而笑曰:「嘻,子中州之民,不宜遠而至此,猶光乎日月,而載乎列星,比夫不名之地猶突奧也。我昔南遊乎洞濔之野,北息乎沉默之鄉,西窮乎窈冥之室,東貫乎澒洞之光。其下無地,其上無天。視焉無見,聽焉無聞。其外尤有潑潑之汜,其行一舉而千萬里,吾尤未之能也。今子游始至於此,乃云窮觀,豈不陋哉?然子處矣,吾與汗漫於九垓之上,不可以久住。」乃舉臂竦身,遂入云中。盧敖仰而視之,弗見,乃止,愴恨若有喪者也,曰:「吾比夫子也,尤鴻鵠之與壤蟲也。終日而行,不離咫尺,自以為遠,不亦謬也。悲哉。」


Nhược Sĩ

Nhược Sĩ là cổ thần tiên. Một người Lô ngao nước yên (không biết danh tính) vào thời Tần chu du đến Bắc hải, đã qua thái âm, nhập vào Huyền quan, đến núi Mông Cốc mà gặp Nhược Sĩ.

Người này, mắt sâu nhưng đen huyền, vai như diều hâu mà cổ lại dài, phần thân trên trông tươi tốt, nhưng thân dưới nhìn suy kém.

Đang hớn hở đón gió mĩm cười hứng khởi, ngoái lại trông thấy người Lô Ngao này vì trốn bên dưới tấm bia (đang co quắp như vỏ rùa mà ăn cua sò), Lô ngao ngước lên nhìn rồi nói: “tôi chỉ thích ngao du, đã bỏ bè bạn rời làng, quan sát cùng cực lục hợp bên ngoài.

Lúc nhỏ ham chơi, lớn rồi không đi nữa. Đã đi vòng bốn cực, tìm những mặt còn thiếu xót, nay trọn thấy phu tử ở đây, lại sợ cùng ngao du làm bạn hữu hay sao””.

Nhược Sĩ quảng  nhiên (trang nghiêm) cười nói rằng “ hi hi, con là dân trong châu, không nên đi xa đến đó, như ánh nhật nguyệt mà chở biết bao tinh tú, so với nơi không tên đó cũng thâm sâu như vậy.

Xưa ta Nam du nhiều hang động bên ngoài, ở Bắc thì du đến quê hương của Thẩm  mặc, ở Tây thì là yểu minh chi thất (căn phòng mờ mịt), ở Đông thì quán hống đổng chi quang (ánh sang mờ mịt không bờ bến). dưới nó không có địa, trên nó chẳng có thiên. Xem kỷ cũng không thể thấy, nghe cũng chẳng nghe được. bên ngoài kỳ lạ có dòng nước vọt ra, cái hành này nhất cử ngàn vạn dặm Ta tự trách chưa đủ khả năng. Nay con du bắt đầu đến đó thì mới nói là cùng cực của quan sát, há còn hẹp hay sao?. Con tự nhiên làm. Ta đã đổ mồ hôi đầy tràn trên vùng cửu cai (chổ đất bỏ hoang xa ngoài chín châu gọi là Cửu cai) mà không thể lấy cửu trụ”.

Nói rồi Nhược Sĩ giơ cánh tay lên, bay thỏa thích vào trong mây. Lô Ngao ngước lên thấy vậy, không nhìn mà chỉ than tiếc oán giận như có tang: “ta so với phu tử thì hơn chim Hồng chim Hộc so với loài trùng mềm. đã hành trọn ngày, không rời thước tất mà vẫn tự thấy là xa, chẳng phải tôi đây nói xằng nói bậy, thật buồn thay!”.

沈文泰

  沈文泰者,九疑人也。得江眾神丹土符還年之道,服之有效,欲於崑崙安息二千餘年,以傳李文淵曰:「土符不法服藥,行道無益也。」文淵遂授其秘要,後亦升天。今以竹根汁煮丹黃土,去三屍,出此二人也。

Thẩm văn Thái

Thẩm Văn Thái là người Cửu Nghi, đắc Giang chúng thần đan thổ phù là cái đạo hoàn niên (trở lại tuổi xuân), uống nó thấy hữu hiệu.
Muốn ở núi Côn Lôn an nghĩ hơn hai ngàn năm nên lấy đạo lý dùng lời văn thâm sâu viết lại: “Thổ phù không pháp phục dược (uống thuốc), hành đạo vô ích”. Văn thâm sâu lấy làm toại ý nên trao lại bí yếu này rồi thăng thiên. Nay lấy nhựa gốc trúc nấu đan hoàng thổ, đuổi tam thi, sẽ xuất nhị nhân vậy.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 29, 2011, 12:39:02 pm
(tiếp theo)

ĐÔNG VƯƠNG CÔNG
Đông Vương Công còn gọi là Mộc Công, vốn tên là Nghê, tự Quân Minh.

Lúc thế giới chưa có loài người trở về trước, ông đã hóa sanh ở trên Bích Hải (biển xanh) mênh mang hoang vắng. Tính tình ông trầm  tĩnh, tâm linh thông suốt, tuy bề ngoài vô tác vô vi trên thực tế ngược lại có thể giúp đỡ tạo hóa, dẫn dắt vạn vật. Ông ta làm chủ dương khí ở trên thế gian, trấn ở phương đông do đó có hiệu là Đông Vương Công. Phàm tất cả nam nữ thành Tiên đắc đạo trên trời, trên đất đều trong sự quản lý của ông. Ông thường vào ngày Đinh Mão lên đài trông tình hình tu Tiên đắc đạo ở mọi nơi trong thế gian, phân định làm chín phẩm

Nhất phẩm là Cửu Thiên Chân Hoàng
Nhị phẩm là Tam Thiên Chân Hoàng
Tam phẩm là Thái Thượng Chân Nhân
Tứ phẩm là Phi Thiên Chân Nhân
Ngũ phẩm là Trung Linh Tiên
Lục phẩm là Chân Nhân
Thất phẩm là Linh Nhân
Bát phẩm là Phi Tiên
Cửu phẩm là Tiên Nhân.


Các vị Tiên này ngày thành đạo lên trời đều phải trước bái Đông Vương Công (Mộc Công), sau đó bái yết Tây Vương Mẫu (Kim Mẫu), lễ lạy xong rồi mới có thể thăng lên Cửu Thiên, vào Tam Thanh , tham lễ Thái Thượng Lão Quân mà gặp Nguyên Thủy Nguyên Quân.

Năm đầu triều Hán có một đám trẻ con trên đường vừa chơi vừa hát một bài đồng dao: “Mặc quần xanh lên cửa trời, chào Kim Mẫu, bái Mộc Công”.  Thời đấy chưa có người nghe hiểu được ý nghĩa của bài ấy, chỉ có Trương Lương nghe hiểu được bèn hướng về đám trẻ con lễ lạy, đồng thời bảo người bên cạnh nói: “Đám trẻ con này là Ngọc Đồng của Đông Vương Công”.

-------------------------------   
   
   
TÂY VƯƠNG MẪU

Tây Vương Mẫu tức là Kim Mẫu bài trước đã đề cập đến. Bà từ Tây Thiên đến Diệu Chi Khí hóa sanh ở Y Xuyên, họ thông tục là Câu, (họ Hà hoặc họ Dương) tên Hồi, tự Uyển Linh, một tự nữ là Thái Hư.

 Bà quản lý phương Tây và cùng Đông Vương Công thổng quản hai luồng nguyên khí Đông  Tây, tới hóa sanh trời đất, đào luyện vạn vật. Phàm con gái đã thành Tiên đắc đạo trên trời, trên đất đều do Bà cai trị, quản lý.

Tây Vương Mẫu trụ ở Huyền Phố trên đỉnh núi Côn Lôn (cũng là vườn hoa trên không trung) một ngôi kiệu là vườn hoa lãng phong. Tất cả có lầu ngọc chín tầng, quanh bên trái là Diêu Trì, vòng bên hữu là Thúy Thủy (nước xanh). Bà có năm cô gái hầu tên: Hoa Lâm, My Lan, Thanh Nga, Dao Phi, Ngọc Chi.  Truyền thuyết Châu Mục Công đi xe tám tuấn mã khi tuần phía Tây, từng lấy được báu vật bạch khuê huyền bích, v.v… tới yết kiến Tây Vương Mẫu và còn cùng Tây Vương Mẫu ở trên Diêu Trì bày tiệc rượu.  lúc ấy Tây Vương Mẫu đặc biệt vì Châu Mục Công hát một bài ca, lời bài hát:

“Bạch Vân tại thiên, Sơn Lăng tự xuất,
Đạo lý du viễn, sơn xuyên gian chi,
Tương tử vô tử, thượng năng phục lai”.


Đại ý rằng: “Trên trời xanh có mây trắng, trên đất có Sơn Lăng, chúng ta khoảng cách xa, lại có núi sông ngăn cách, nhưng mong ngài có thể sống lâu không chết, (trường sanh bất tử) lại đến đây nữa!”.

Triều Tây Hán hiệu Nguyên Phong năm đầu, Tây Vương Mẫu giáng lâm ở trên điện Võ Đế, và còn cho hoàng đế bảy trái đào tiên, tự mình ăn hai quả. Võ Đế muốn lưu giữ hạt đào, Tây Vương Mẫu nói: “Đào này ở thế gian không có, ba ngàn năm mới kết trái một lần!” Lúc ấy, Đông Phương Sóc ở ngoài cửa sổ nhìn trộm,Tây Vương Mẫu bèn chỉ ông ta nói: “Thằng nhỏ này đã tới trộm đào ba lần rồi”.Ngày hôm đấy Tây Vương Mẫu chỉ thị nữ Đổng Song Thành thổi sáo, Vương Tử Đăng cầm đàn, Hứa Phi Man trống kèn, an pháp bài hát lên cao cùng chung vì trợ hứng chúc thọ Hán Võ Đế.

Đương nhiên đây là tiểu thuyết gia đời sau biện tạo ra câu chuyện thôi, thử nghĩ đem một vị tôn quý là Vương Mẫu nương nương làm sao có thể vì một vì một đế vương tục thế chúc thọ? Bài trước nói đến Quảng Thành Tử (Lão Tử) không chịu quỳ lạy Hán Văn Đế, ngược lại muốn Hán Văn Đế bái ông như thế so ra hợp lý, “Có thể”, còn câu chuyện Tây Vương Mẫu xuống phàm chúc thọ, hoàn toàn do Hán Vũ Đế ham thích thần tiên, vui mừng công lớn, nịnh thần bề dưới làm trợ hứng mà biên tạo ra để làm vui cho vua.

Trên thực tế, Hán Vũ Đế suốt đời anh minh, ông chê trách vọng cầu thần tiên. Về già ông giết nhầm thái tử suýt bị xẩy ra chính biến, không phải nói rõ cái hại của mê tín sao? Ông tự mình trước lúc chết cũng hối hận về điểm này. Chân đến cửa thần tiên tuyệt chẳng ham muốn kéo dài dục vọng, ngược lại chỉ ham muốn tịnh hóa và thăng hoa.

Nhưng Hán Vũ Đế và Tần Thủy Hoàng cho tiên đạo là người ham muốn kéo dài mạng sống, triệt để đầy đủ thật là (Nam viên Bắc triệt) trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, trèo cây kiếm cá không những thần tiên cầu không được, cuối cùng còn mất mạng sống, mất tông miếu thậm chí còn mất cả thiên hạ bá tánh.

Trật một ly sai đi ngàn dặm, thế mà rất nhiều người còn cho tu tiên là tu dục vọng (ham muốn). Cả đời chịu khổ tu hành sau đó lên trời hưởng phước, thật là mê mờ đáng thương, lầm người lầm chính mình. Có nhiều chuyện thần tiên rất hay, cơ bản của nó dụng ý khuyên làm lành, ở chỗ: “trừ bỏ lòng ham muốn của con người, bảo tồn lý lẽ tự nhiên”.

Có thể đủ khiến cho con người làm việc tốt, tiên hay chẳng tiên có quan hệ gì?



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 29, 2011, 12:42:23 pm
(tiếp theo)

THƯỢNG NGUYÊN PHU NHÂN

Hán Vũ Đế năm hiệu Nguyên Phong ngày mùng 7 tháng 7 năm đầu, Vương Mẫu Nương Nương cưỡi mây tía xa giá (lân vằn ngũ sắc) con lăn có vằn năm màu giáng lâm ở trong cung. Vũ Đế quỳ lạy hỏi thăm, Vương Mẫu lệnh cho vua ngồi, sau đó sai thị nữ nghinh đón Thượng Nguyên Phu Nhân, có truyền thoại nói:

“Lưu Triệt (tên vua Vũ Đế) ham thích đạo thuật, tôi vừa tới thăm ngài, phu nhân không mời mà đến có được chăng?”

Thị nữ trở về nói Thượng Nguyên Phu Nhân vui vẻ nhận lời và đã lên đường. Không bao lâu cách xa Ngân Hà, xuất hiện một vị tiên nữ đoan trang,dung nhan dáng người ước chừng 50 tuổi.

Vũ Đế hỏi Thượng Nguyên Phu Nhân là thần thánh phương nào.Vương Mẫu Nương Nương bảo vua Bà là mẹ của Tam Thiên Chân Hoàng, thống quản sách sổ tiên đang có (nguyên quán của tiên đang có).

Không bao lâu, Thượng Nguyên Phu Nhân đã cưỡi kỳ lân giáng lâm. Bà mặc áo bào màu sương xanh, trên đầu chải thành ba búi tóc, tóc dư còn thả xuống tới lưng eo.Vũ Đế thấy bà nghiêng mình lễ bái, Thượng Nguyên Phu Nhân mở lời hỏi Vũ Đế:

“Ngài muốn cầu đạo chăng? Tánh ngài rất thô bạo, rất tham dâm, quá xa xỉ, quá tàn bạo, quá hiểm trá, năm cái hại này thường ở trong ngũ tạng của ngài,dù cho ham thích đạo thuật, cầu trường sanh,cũng chỉ cực nhọc uổng công.”

Thượng Nguyên Phu Nhân không khách sáo phê bình xong rồi, sau đó đem mười hai điều giới luật khuyến tu truyền cho Vũ Đế, hy vọng ông ta có thể sửa đổi chuyển làm lành. Vũ Đế cung kính vâng lời dạy, sau đó bằng mắt tiễn đưa vị Thánh Mẫu chầm chậm bay đi.

Nếu như có chuyện “Vương Mẫu chúc thọ” là do nịnh thần biên soạn, chuyện “Thượng Nguyên huấn đế” có ra là từ ngọn bút của trung thần. Đế vương thời cổ đại (quyền sinh quyền sát, chí cao vô thượng) quyền sinh sát rất cao. Nhân đây muốn phê bình một vị đế vương, mọi việc chỉ có thể mượn lời thần tiên. Đạo gia cho là: “Đạo tỷ thế tôn” đây là trong hoàn cảnh chính trị chuyên chế độc quyền  ít nhiều phát huy một vài tác dụng của chế độ nhận định (so sánh).

   
   
XÍCH TÙNG TỬ

Xích Tùng Tử là Vũ Sư của thời Thần Nông. Ông từng dạy Thần Nông phép thuật vào lửa không cháy. Sau đó ông đến núi Côn Lôn thường ở trong nhà đá (thạch thất) của Tây Vương Mẫu, đồng thời thích rong chơi trong mưa gió. Con gái nhỏ của Viêm Đế theo ông ta cũng tu thành tiên.

Hai người họ tuy đã tu thành tiên nhưng lại thường đến nhân gian để rong chơi. Mưu sĩ Trương Lương của triều Hán Lưu Bang, lúc phụ tá Cao Tổ bình định thiên hạ xong rồi bèn để lại một bức thư nói là theo Xích Tùng Tử vân du bốn biển học hỏi đạo lý tu tập.
   

   
HỒNG NHAI TIÊN SINH
Hồng Nhai tiên sinh nghe nói là quan nhạc Linh Luân của Hoàng Đế, sau đó tu đắc đạo thành tiên. Có người nói ông vào thời đại nhà Nghiêu đã ba ngàn tuổi rồi. Vệ Thúc Khanh là tiên nhơn của triều Hán, từng ở trên đỉnh núi rất cao và mấy người cùng nhau đánh cờ. Con trai của ông hỏi ông ta rằng: “Người cùng cha đánh cờ là ai vây?”  Thúc Khanh đáp rằng: “Là Hồng Nhai tiên sinh đấy!”.

Xích Tùng Tử và Hồng Nhai tiên sinh đều là tiên nhân nổi tiếng, thông thường xuất hiện trong thi văn các triều đại. Ví dụ như trong thơ Du tiên của Quách Phác triều Tấn nói: “Bên trái chào tay áo Phù Khưu, bên phải vỗ nhẹ vai Hồng Nhai”. Trong thơ Lý Bạch cũng đề cập đến ông. Đại khái thi nhân so ra điều thoát tục, giàu ở sức tưởng tượng, do đó trên tinh thần, cùng tiên nhân đặc biệt thân thiết, hy vọng cùng họ vượt ra ngoài thế giới, rong chơi bốn phương.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 29, 2011, 12:44:41 pm
(tiếp theo)

MÃ SƯ HOÀNG

Mã Sư Hoàng là Hoàng đế thú y, chuyên môn sở trường về trị bệnh ngựa, hiểu biết rất nhanh về sinh lý và bệnh lý của ngựa, một khi trị tức liền hết bệnh.
 
Một hôm ông thấy một con rồng từ trên không trung xuống, hướng về ông ta rũ tai xuống há mồm ra. Sư Hoàng liền hiểu rõ, thì ra con rồng bị bệnh, đến nhờ ông chữa trị nó. Lúc ấy ông dùng phép châm cứu chích vào miệng con rồng, còn lấy cam thảo thuốc thang cho nó uống, không bao lâu thì con rồng quả nhiên được trị lành.
Vì muốn báo đáp ân của Sư Hoàng trị bệnh, rồng cuốn vị thần y này thành tiên bay đi.

Đương nhiên không ai thấy Mã Sư Hoàng đi đâu nhưng chuyện này ngược lại nói rõ về văn hóa Trung Quốc có tư tưởng đặc biệt “thiên nhân hợp nhân” . Con người không những đối với đồng loại nên hòa hảo sống với nhau, cho đến còn ra ăn ở với khác loại. Đây cũng là ý nghĩa chân thật (dân ngô đồng bào, vật ngô dữ dã!)  dân là đồng bào ta, vật cùng với ta vậy!

Ngoài ý thuật của Sư Hoàng ra cũng có thể phát hiện Trung Quốc ở thời đại Hoàng Đế y học đã phát đạt rồi. Hiện nay một số người nói châm cứu là từ Trung Đông truyền vào Trung Quốc, sự thật có nhiều sách ghi chép bao gồm kinh điển của Đạo giáo đều có thể chứng minh lịch sử của châm cứu ít nhất có trên hai ngàn năm, lúc đó Trung Đông vẫn chưa thành vùng văn hóa. Do đó thuyết châm cứu xác thật là tinh túy quốc gia Trung Quốc.
   
VỤ QUANG

Vu Quang người triều Hạ, lỗ tai của ông dài đến bảy tấc, thường ngày thích ăn rau hẹ, hương bồ.

Vua Thang nhà Thương thảo phạt vua Kiệt nhà Hạ thành công rồi, sau đó định nhường thiên hạ cho Vụ Quang. Vụ Quang từ chối không nhận, ông nói với vua Thang:

“Đoạt ngôi vua người ta là bất nghĩa, giết người là bất nhân, Người ta mạo hiểm gặp khó khăn mà tôi ngồi hưởng thụ thành công đó là không liêm khiết. Tôi làm sao có thể tiếp nhận ngôi vị vua của ngài!”.

Nói xong, ông liền ôm cục đá to nhảy xuống sông Thẩm  mình.

Nhưng nói cũng kỹ lạ, hơn 400 năm sau, đến thời nhà Đinh vua Vũ ông lại xuất hiện ở nhân gian. Nhà Đinh Vũ định mời ông làm Tể Tướng. Ông lại cự tuyệt kheó léo. Sau đó  nghe nói ông đi đến Thượng Phụ Sơn du lịch, từ đây về sau không còn thấy ra khỏi núi.

Trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều vị ẩn sĩ cao khiết, khi thay đổi triều đại thà chết cũng không chịu ra làm quan. Còn có một số người thậm chí lúc thái bình cũng muốn ẩn cư không chịu tìm công danh lợi lộc.Vụ Quang là một vị rất điển hình trong số đó, người đời sau nói ông thành tiên rồi, hoặc chính vì yêu mến nhân phẩm cao thượng của ông, không chấp nhận ông chết ở dưới ngọn sóng lớn chăng?! Ở đây giống như Tết Đoan ngọ tế Khuất Nguyên không khác.
   
   
   
MẠNH KỲ

Mạnh Kỳ người Thanh Hà, ông vì cầu thầy học đạo mà không quản gian nan hiểm trở. Thời Hán Vũ Đế nghe ông bàn về việc năm đầu của triều Chu rõ ràng như trước mắt. Ông từng nói thấy Chu Công ôm Thành Vương ở trong Châu miếu sáng sớm. Mạnh Kỳ lúc ấp đang hầu Chu Công trên đàn, từng lấy tay sờ thân của Thành Vương. Chu Công liền lấy một cái hốt cho Mạnh Kỳ. Mạnh Kỳ rất yêu quí cái hốt này, thường dùng nó phủi tay áo, do đó đến thời Vũ Đế cái hốt này chóng gãy.

Mạnh Kỳ thường ngày ở dưới triền Hoa Âm Sơn hái thuốc, ông nghe nói Hán Vũ Đế ham thích thần tiên bèn khoác áo cỏ lê lại hiện ở nhân gian.

Mạnh Kỳ cầm cái hốt là một cảnh rất thú vị trong bức quốc họa.Tiên nhân đều thành tiên vì sao còn cầm hốt? Là tâm phàm chưa diệt hết hay quyến luyến công danh chăng? Đương nhiên không đúng bởi vì cái hốt này là do Chu Công ban tặng mà Chu Công lại là bậc thánh nhân vĩ đại. Tiên nhân cầm hốt chính là một thứ nhớ nhung đối với tiên vương cổ thánh, và lại ám chỉ thần tiên tuy xuất thế gian nhưng hoàn toàn không phủ nhận giá trị của lễ, nhạc, mà việc làm của tiên là tiên, ắt cần phải bắt đầu tu dưỡng từ thánh hiền. Chuyện tiên nhân cầm hốt là khéo léo nói rõ (“Tiên thánh hiền hậu thế thần tiên”) một trình độ thứ tự tu học của mà còn chỉ bảo người đời, tu học đạo không phải chạy trốn mà vượt qua.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 29, 2011, 12:47:38 pm
(tiếp theo)

KHƯƠNG DŨ

Khương Dũ là người triều đại Châu Vũ Vương, ông có tất cả bảy anh em, mỗi người đều có đạo thuật, cùng làm nhà trong núi. Sau đó đều thành tiên, chỉ bỏ lại một cái nhà cỏ trống không, Nhân đây người đời sau gọi đó là Lô Sơn. Hán Vũ Đế còn đặc biệt phong Khương Dũ là Lô Sơn Quán.

Lô Sơn giống như nhiều danh sơn của Trung Quốc, nó trở thành đối tượng của người đời sau ngâm vịnh, hội họa, một mặt cố nhiên vì phong cảnh đẹp, còn một mặt cũng vì trong đó có một ít tô điểm chuyện thần tiên. Cái gọi là: “Nhân kiệt địa linh”, “Hữu tiên tắc danh”, người Trung Quốc thích một địa phương, tuyệt đối không xem nó là cảnh quan tự nhiên, còn muốn nói bao hàm văn hóa của nó, đây cũng là một thứ biểu hiện “Thiên Nhân Hợp Nhât”.
   
THANH ĐIỂU CÔNG

 Thanh Điểu Công là đệ tử của Bành Tổ, ông được chân truyền của Bành Tổ, vì muốn nghiên cứu tinh thâm tiên đạo bèn đến trong Hoa Âm sơn chuyên tâm tu học. Ông học mãi 471 năm trải qua 10 lần thí nghiệm, có 3 lần chưa được thông qua, sau đó uống vàng nước (kim dịch) mới được bay lên trời. Thái Cực Đạo Quân, bởi vì ông có ba lần ghi chép thất bại, chỉ gọi ông là tiên nhân, chẳng gọi ông là chân nhân.

Tuy đạo hạnh của Thanh Điểu Công chưa đạt đến cảnh giới tối cao, nhưng ông có hệ thống học vấn ảnh hưởng đời sau rất lớn, đó là thuật địa lý phong thủy. Người Trung Quốc cho là phong thủy của mồ mả tổ tiên sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh đời sau của con cháu, quan niệm này nghe nói được truyền từ Thanh Điểu Công. Do đó chúng ta có thể nói Thanh Điểu Công là một tiên sinh địa lý đệ nhất của Trung Quốc. Các tiên sinh địa lý đời sau đều thờ ông là Tổ Sư, thuật phong thủy nhân đây được gọi là Thuật Thanh Ô.
   
   
LÃ THƯỢNG  (KHƯƠNG TỬ NHA)

Lã Thượng là người Kỳ Châu, ông là người đại trí có thể biết được còn hay mất.Vì tránh sự bại chính của Trụ Vương nhà Thương, ẩn cư ở Liêu Đông đến năm 30. Sau đó lại ẩn cư ở Nam Sơn, ngày thường thích đến khe suối thả câu không có lưỡi cho nên 3 năm cũng chẳng câu được con cá nào. Mọi người đều khuyên ông không nên câu nữa, ông ta lại đáp: “nguyện giả thương câu” (người có nguyện vọng mới câu) đồng thời biểu thị đạo lý rất thâm sâu trong đó, người thường không hiểu nổi. Quả nhiên, không bao lâu sau ông câu được con cá chép lớn, trong bụng có có chứa binh thư rất cao sâu. Trong bảng Phong thần nói ông ta nhân đây được Châu Văn Vương dùng lễ mời làm Tể tướng của nhà Châu, dùng chiến thuật, chiến lược không lường trước được cạn sâu, để bàn chuyện bình định Thiên hạ, phò tá Vũ Vương, xây dựng triều Châu to lớn.

Người đời sau gọi ông là Khương Thái Công. Đương nhiên, cuối cùng ông cũng thành tiên, nhưng sự tích nổi tiếng của ông vẫn là triết học:”Khương Thái Công lâu ngư nguyện giả thương câu”. Cho đến hơn 80 ông mới gặp Văn Vương ở bến sông Vị. Tài cao thành đạt muộn cho nên người đời sau khích lệ rất lớn. Trương Nhạc Quân tiên sinh nói: “Nhân sinh thất thập tài khai thỉ” (đời người 70 tuổi mới trổ tài). Trang Chí Nha Hoài và Thái Công co cái (diệu) khéo khúc điệu khác nhau mà diễn như nhau.
   



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 29, 2011, 12:52:38 pm
(tiếp theo)

LƯU VIỆT


Thời nhà Châu có Khang tiên sinh tên Tục, tu ở Nam Chương Sơn. Trong thời ông tu tập, thường có một thiếu niên đến thăm ông, lời lẽ kỳ vĩ, tiên sinh rất ngạc nhiên, bèn hỏi cậu bé rằng: “Trông phong thái cậu tốt như thế, dám hỏi tên họ là chi, phủ ở nơi nào?”.

Thiếu niên đó đáp: “Tôi họ Lưu, tên Việt, ở phía bên trái ngọn núi này, dưới núi có hòn đá cao hơn hai trượng, ngài gõ nó tôi liền mở cửa, ngài có rãnh xin mời đến!”.

Có một bữa Khang tiên sinh y như lời hẹn hôm trước, gõ hòn đá, quả nhiên tự động hai cánh cửa mở ra, một tiểu a hoàn đi ra tiếp đón ông, phía sau còn có hai thanh niên trẻ cầm bảo trướng màu hồng làm tiền đạo. Dần dần ông trông thấy một dãy dinh lầu cao thấp không đồng, vàng ngọc sáng chói, còn có cả chim quý thú lạ, cây cỏ cũng khác bên ngoài động.

Trong  đó có một vị tiên nhân đội mũ ngọc, mặc hồng bào tới nghinh tiếp ông.

Trong lòng Khanh tiên sinh rất muốn ở lại lâu, mới khởi niệm đã bị tiên nhân phát giác liền. Lúc đó, tiên nhân bảo ông rằng: “Âm đức của ngài chưa tròn đầy,sau này mới có cơ hội gặp mặt, ngày khác gặp nhau cũng không muộn nha!”.

Tiên nhân mời Khang tiên sinh uống ba ly rượu ngọc, ngoài ra còn một bát thuốc hộ mạng kéo dài tuổi thọ, sau đó tiễn ông đi về, Khang tiên sinh ngoái đầu nhìn lại, hòn đá ông gõ vẫn nguyên như cũ. Qua mấy ngày sau ông lại đến gõ cửa động thăm hỏi, rốt cuộc không có phản ứng gì mãi cho đến sau này nghe nói hòn đá ấy vẫn còn trên núi, trên hòn đá có hai chữ lớn: “Lưu Tiên”.
   
   
CÁT DO


Cát Do là người Tây Khương, thời Chu Thành Vương ông làm nghề khắc  cây dương để sống. Có một hôm ông cưỡi dê đi Tứ Xuyên, người Vương Hầu Quý của Tứ Xuyên theo ông mãi cho đến Dao Sơn. Dao Sơn ở phía tây nam núi Nga My, đỉnh cao ngất trời.

 Người theo ông đều không thấy quay trở lại, nghe nói họ cùng Cát Do đắc đạo thành tiên. nhân đây, lời tục nói: “Nếu được nhìn thấy Dao Sơn, tuy không thành tiên cũng thành bậc hào kiệt.”.

Trong văn tự Trung Quốc, tiên là chữ Sơn và chữ Nhân hợp lại thành do là họ vừa ở trong núi phần nhiều tu tiên. Ngày xưa, người dân đối với núi trong lòng kính sợ, lại thêm thần cách hóa do đó chữ tiên, chữ sơn dính lại không tách ra. Có thể thấy rằng, đây không phải là ngẫu nhiên. Qua núi còn trời, đây là trung gian bao hàm một thứ “tín ngưỡng hướng lên”.
   
BÀNH TÔNG


Bành Tông tự Pháp Tiên, người Bành Thành, năm 20 tuổi học đạo với Đỗ Xung, từng theo thầy hái thuốc, không cẩn thận té xuống hang sâu, lại không bị tổn thương chút nào. Thầy bảo ông đi hái thuốc bị rắn cắn cũng không để ý.

Đỗ Xung thương xót ông, bèn truyền cho ông Đơn Kinh diệu đạo. Bành Tông nỗ lực tu hành, tiến bộ rất nhanh, thường có đèn thần chiếu soi, lại có mây ngũ sắc vây quanh phòng của ông. Ông có thể ba ngày một đêm liền đổi giọng nói, cũng có thể nằm dưới đáy nước cả ngày mới lên.

Có khi cao hứng ông ngủ một giấc cả năm tròn, người ta cho ông là chết rồi, nhưng đợi ông tỉnh lại, khi sắc trái ngược lại còn tươi tắn hơn nữa. Có một thợ săn từng định nhục mạ ông, ngược lại bị ông dùng khí chặn đứng lại, không thể nhúc nhích.

 Bành Tông lại còn triệu u linh đến phạt anh ta, người xung quanh không thấy hình, chỉ nghe tiếng roi da đánh, đợi thợ săn ăn năn mởi thả ra. Bành Tông lúc 150 tuổi hơn, tháng giêng năm đó Thái Thượng Lão Quân phái tiên quan xuống Phàm nghinh đón ông và phong ông làm Thái Thanh Chân Nhân.
   
   
VƯƠNG TỬ KIỀU


Vương Tử Kiều là thái tử của Châu Linh Vương, tên tự là Tố Tuấn, ông rất thích thổi kèn, thổi nhạc thật hay, phát ra âm thanh lảnh lót rất giống tiếng phụng kêu. Ông từng đến Y Lạc một nơi vui chơi. Đạo nhân Phù Khưu Công đón ông lên núi rất cao.

Hơn 30 năm sau, ông gặp Bách Lương bèn bảo với người bạn thân này rằng: “Có thể cho người nhà tôi biết, ngày 7 tháng 7 đi đến đầu núi Câu đợi tôi”. Đến ngày đó, Vương Tử Kiều quả nhiên cưỡi hạc trắng xuất hiện giữa các đỉnh núi, có thể trông mà không có thể tiếp xúc đến, ông chỉ ở tại không trung hướng người nhà gật đầu liên tiếp thăm hỏi mà thôi. Hình bóng này liên tục mấy ngày mới đi, người đời sau vì ông mà lập một ngôi miếu tại Câu Thị Sơn để kỷ niệm.

Vương Tử Kiều là một tiên nhân rất nổi tiếng của thời cổ đại. Kèn ông thổi và cưỡi hạc trắng đều là “đạo cụ” của tiên khí, đó là điều mà thi nhân rất thích miêu tả ông. Trong “Cổ thi tập cửu thủ” của triều Hán có một bài thơ rất nổi tiếng đề cập đến ông, bài thơ rằng:

“Sinh bình bất mãn bách, thường hoài thiên tuế ưu, trú đoản khổ dạ trường, hà bất bình chúc du, vi lạc đương cập thời hà năng đãi lai từ. Ngu giả ái tích phi, đãn vi hậu thế xi, tiên nhân Vương Tử Kiều, nan khả dĩ đằng kỳ”.

Bài thơ này than thở đời người ngắn ngủi, lo lắng nhiều, ngày ngắn đêm dài, nên kịp thời tìm vui. Nhưng người ngủ không buông bỏ hưởng lạc được, chỉ đợi người đời sau tới chê cười, muốn biết bao như Vương Tử Kiều, là tiên nhân bất tử đó, rất khó hy vọng đạt hơn!

Đời người khổ nhiều vui ít mà còn ngắn ngủi vô thường, do đó rất dễ hứng khởi những tư tưởng hưởng lạc, đương nhiên là không lành mạnh, bởi vì vui quá sinh ra buồn, cuối cùng rốt cuộc tiêu tan (huyển diệt). Vì vậy, bèn hâm mộ trường sinh của tiên nhân, rất nhiều truyền thuyết thần tiên là thứ sản vật của tâm lý.Nhưng thi luận thì, đây chính là bài kiệt tác chưa từng có, đặc biệt là bốn câu trước sớm đã thành gia dụ hộ hiểu, cách ngôn truyền tụng muôn đời.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: chanhnguyen trong Tháng Năm 30, 2011, 04:18:46 am
(tiếp theo)

沈羲

  沈羲者,吳郡人也。學道於蜀中,但能消災治病,救濟百姓,而不知服食藥物。功德感於天,天神識之。羲與妻賈氏共載,詣子婦卓孔寧家,道次忽逢白鹿車一乘、青龍車一乘、白虎車一乘,從數十騎,皆是朱衣仗節,方飾帶劍,輝赫滿道。問羲曰:「君見沈道士乎?」羲愕然曰:「不知何人耶?」又曰:「沈羲。」答曰:「是某也,何為問之?」騎吏曰:「羲有功於民,心不忘道,從少已來,履行無過,壽命不長,算祿將盡,黃老愍之。今遣仙官來下迎之,侍郎薄延者,白鹿車是也,度世君司馬生者,青龍車是也,送迎使者徐福者,白虎車是也。」須臾,忽有三仙人在前,羽衣持節,以白玉版青玉介丹玉字授與羲,羲跪受,未能讀。云拜羲為碧落侍郎,主吳越生死之籍,遂載羲升天。時道間鋤耘人皆共見之,不知何等。須臾,大霧,霧解失其所在,但見羲所乘車牛入田食苗,或有識是羲牛者,以語其家弟子,數百人恐是邪魅將羲藏於山谷間,乃分佈於百里之內求之,不得。
  而後四百餘年,忽來還鄉,推求得其數世孫,名懷喜。懷喜告曰:「聞先人相傳,說家祖有仙人,今仙人果歸也。」留數十日,羲因話初上天時,不得見天尊,但見老君東向坐,有左右勑,羲不得謝,但默坐而已。見宮殿鬱鬱,有如雲氣,五色玄黃,不可名字。侍者數百人,多女子及少男,庭中有珠玉之樹,蒙茸叢生,龍虎闢邪,遊戲其間,但聞琅琅有如銅鐵之聲,不知何物。四壁熠熠,有符書著之。老君形體略高一丈,披髮垂衣,頂項有光。須臾數發,有玉女持金盤玉杯,盛藥賜羲曰:「此是神丹,服之者不死矣。」妻各得一刀圭,告言飲畢而謝之。服藥後,賜棗二枚,大如雞子,脯五寸,遣羲去曰:「汝還人間,救治百姓之疾病者,君欲來上天,書此符,懸於竿杪,吾當迎汝。」乃以一符及仙方一首賜羲,羲奄忽如睡,已在地上。後人多得其方術者也。

   
   
THẨM     NGHĨA


Thẩm  Nghĩa là người Ngô Quận, ở Tứ Xuyên học đạo, tinh thông y thuật, một lòng chỉ muốn cứu người, tâm thiện của ông cảm động trên trời.

 Châu Noãn Vương thứ mười, Thái Thượng Lão Quân sai sứ giả đến mời ông lên trời, và ban cho vợ con ông cùng đi, phong ông làm Bích Lạc Thị Lang, lúc đó ông ở giữa ban ngày bay thẳng lên trời. Ngày hôm đó ông còn đang cày ruộng, mọi người đều trông thấy bỗng nhiên có một trận sương mù lớn, sau khi sương mù tan Thẩm  Nghĩa cũng không thấy đâu nữa, chỉ còn con trâu thường ngày ông dắt ra đồng đang ăn cỏ.

Hán Thương Đế niên hiệu Dương Bình năm đầu, cách thời điểm Thẩm  Nghĩa thành tiên 412 năm, ông mới trở về quê, tìm được mười đời con cháu của mình, tên là Hoài Hỉ. Hoài Hỉ nhớ phảng phất nghe tổ tiên đời trước nói về một vị tổ tiên xa xưa lên trời.

Thẩm  Nghĩa nghe ra rất mừng bèn bảo Hoài Hỉ đầu năm nay lúc lên trời không gặp Thượng Đế, chỉ bái Thái Thượng Lão Quân, Lão Quân ở hướng đông, cung điện đẹp đẽ, mây ngũ sắc mờ mịt, trong sân đến nơi nào cũng là cây châu ngọc, người hầu có hơn 100, nam ít nữ nhiều, bốn vách bày đầy Đạo Kinh.

Thái Thượng Lão Quân thân cao mấy trượng, thân thể có ánh sáng không thể nhìn thẳng. Lão Quân sai ngọc nữ cầm án vàng ly ngọc, thuốc khỏe ban cho Thẩm  Nghĩa nói: “Đây là thần đơn, uống rồi có thể không chết”. Vợ chồng Thẩm  Nghĩa mỗi người uống một ly.

Lão Quân lại ban cho hai quả táo lớn như trứng gà. Ngoài ra còn tặng tiễn ông một sợi bùa thần và phương hướng tiên, để họ về nhân gian cứu người bệnh khổ, nếu như muốn trở lên trời, thì lấy bùa thần tới đón. Lão Quân nói xong Thẩm  Nghĩa ngủ liền, không bao lâu tỉnh lại đã thấy thân nằm trên đất.

Nghe nói Đậu Thái hậu từng mời ông khám bệnh, thời An Đế còn thấy ông ở nhân gian, cuối cùng Thẩm  Nghĩa vẫn đi lên trời thành tiên.
Phần trước đã đề cập đến điều kiện tất yếu của việc làm lành tích đức là thành tiên đắc đạo, từ chuyện Thẩm  Nghĩa lại có được một cơ hội chứng minh.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: chanhnguyen trong Tháng Năm 30, 2011, 04:22:54 am
(tiếp theo)

CHÂU LƯỢNG
Châu Lượng tự là Thái Trịnh, người Thái Nguyên, mẹ của ông mỗi tối lúc ngủ thất mây ngũ sắc bao trùm trên trần nhà, do đây cảm ứng mà mang thai, trải qua 15 tháng mới sinh ra Châu Lượng.

 Châu Lượng lớn lên sau đó bái Diêu Thần làm thấy, học võ đạo thuật của Bát Tổ chân kinh, có thể sai khiến ma quái hiện thành hình. Vương Tử Kiều nghe đại danh của ông, bèn mời ông tương kiến, ban cho ông Cửu Quang thất minh chi. Châu Lượng ăn xong đầy đủ thần thông biến hóa. Ông có thể biến thành ông già răng rụng tóc bạc, một chút lại biến thành trẻ con, có dáng vóc như hoa. Có kẻ xấu đến làm nhục ông, lại không ngờ tự trói mình lại, còn đánh khảo mình đổ máu, cho đến khi van xin mới được Châu Lượng thả ra.

Châu Lượng hơn 190 tuổi, lúc ấy thời Châu Uy Liệt Vương thứ 24, Thượng Đế sai thiên quan xuống rước về và phong ông làm Thái Long Chân Nhân.

Khổng Tử nói: “Nhân giả vô địch”, xem ra tiên nhân cũng là người vô địch, mà phương thức vô địch càng thú vị.
   
   
CANG THƯƠNG TỬ

Cang Thương Tử họ Cang Tang, tên Sở, người nước Tần. Ông có thể lĩnh ngộ diệu đạo của Lão Tử, ẩn cư trên ngọn núi Côn Lăng Mạnh, ông đã nói một lời rất chí lý:

“Luyện gân cốt thì được bảo toàn thân thể, khắc chế tình dục thì năng bảo toàn tinh thần, ít nói chuyện thì năng bảo toàn phước khí.”

Đương nhiên, cuối cùng ông cũng đắc đạo lên trời.

Trang Tử thường đề cập đến người này, cũng cho ông là có đạo thuật. Xác thật, ở trong mắt một số người tiên đạo thần kỳ không lường do Cang Thương Tử nói ra lại rất bình dị gần gũi. Luyện tập thân thể, khắc chế tình dục, ít nói chuyện, mấy việc này ai làm không được? Chỉ đáng tiếc chúng ta đều không để ý, nếu như mọi người theo đây tìm cầu tự ngã, mỗi ngày tiến bộ, thành đạo thành tiên cũng không phải hoàn toàn không thể được!
   
   
CẦM CAO

Cầm Cao người nước Triệu, sở trường trống và đàn cầm, ông tu tập đạo thuật có thể đi trên mặt nước.

Có một hôm ông muốn đến Trúc Thủy đi bắt rồng và có hẹn với đệ tử, một ngày nào đó trở về. Các đệ tử của ông trai giới tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị phẩm vật tế lễ đợi ở bên bờ sông. Đến ngày hẹn hôm đó Cầm Cao quả nhiên cưỡi cá chép trở về, một lúc người ta đổ xô tới náo nhiệt có hơn một vạn người. Cầm Cao ở nán lại một tuần lễ, sau đó lại trở về trong nước.

Trong chuyện Đạo Giáo, thần tiên thường cùng thú chạp chim bay, cho đến cá rồng trong nước phân biệt không ra, đây là một phương diện biểu hiện của thần tiên.
   
   
   

PHỤ CỤC TIÊN SINH

Phụ Cục tiên sinh khấu âm giống người  khoảng thời đại nhà Yên, ông bình thường làm nghề mài gương, mỗi lần mài gương đều hỏi chủ nhân có bệnh hay không, nếu có thì cho tủ hoàn hồng dược viên uống xong liền hết bệnh. Có một lần ở một xứ bệnh dịch lan rộng, Phụ Cục tiên sinh phải cho thuốc lần lượt từng nhà.

Sau đó Phụ Cục tiên sinh đi đến sườn dốc núi đường cùng để ở, đời đời tặng biếu thuốc cho người. Ông nói: “Tôi định về Phùng Lai Sơn, vì quý vị ở đầu bến khai một dòng Thần thủy (nước thần).

Có một hôm hòn đá đầu dốc chảy ra một dòng nước trắng, người bị bệnh uống vào lập tức khỏe mạnh, người ở thôn đó vì Phụ Cục tiên sinh lập ra một miếu thờ để thờ phụng ông.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: chanhnguyen trong Tháng Năm 30, 2011, 04:28:09 am
(tiếp theo)

TRANG TỬ

Trang Tử tên là Chu, từng làm quan Tất Viên Lai (sơn vườn) ông là người cùng thời đại với Long Huệ Vương và Tề Tuyên Vương.

Sở Uy Vương ngưỡng mộ tài học của ông phái sứ thần mang hậu lễ mời ông làm quan tể tướng.

Trang Tử cười đáp: “Tôi nghe nói người nước Sở có con rùa thần, đã chết ba ngàn năm rồi, vua lấy hoàn gỗ bao lại để trong miếu. Thử hỏi con rùa này thà chết mà hưởng vinh hoa còn hơn thà sống làm kẻ kéo lên đuôi dưới sình lầy chăng?”. 

Sứ giả trả lời: “Đương nhiên là thà chịu kéo lê đuôi dưới sình”.

Trang Tử nói: “Về đi, ta cũng muốn kéo lê đuôi dưới sình”.

Sau đó, Sở Vương lại mời ông lần thứ 2, Trang Tử đáp: “Ngài xem, con trâu làm vật hy sinh, mặc áo hoa ăn cỏ  ngon, một ngày nọ lôi vào thái miếu giết, ngay cả con trâu đất đều không thể được”.

 Trang Tử cả đời không làm quan, cuối cùng nghe nói cũng thành tiên, có một bộ sách Trang Tử lưu truyền ở đời.
   

LIỆT TỬ


Liệt Từ người nước Trịnh, tên là Liệt Hữu Ngự Quan. Ồng từng đối với Quan Y Tử cầu dạy đạo thuật, sau đó lại bái A Khâu Tử làm thầy, chín năm sau có thể ngự gió mà đi.

Ông ẩn cư ở nước Trịnh ngót 40 năm trường, chưa ai biết tài học của ông. Liệt Tử trong thời gian ẩn cư chuyên tâm chước thuật, vào khoảng đời nhà Đường niên hiệu Thiên Bảo ông được phong làm Xung Hư Chân Nhân. Sách của ông gọi là Xung Hư Chân Kinh.

Triều Tống Cảnh Đức năm thứ tư, lại sắc phong thên hai chữ chí đức. Nhưng đến sau này, người ta quen gọi sách của ông là Liệt Tử, nhưng căn cứ khảo chánh, quyển sách này chắc không phải là do ông viết ra, mà người đời sau mạo danh của ông làm sách giả, lại có người nói Liệt Tử thật sự là Trang Tử, bởi vì tư tưởng của họ rất gần nhau. Trong sách,Trang Tử rất hâm mộ Liệt Tử có khả năng cưỡi gió bay đi, nhưng lại than làm như vậy vẫn còn dựa vào sức gió, chưa phải hoàn toàn tự do chân chánh.
   
   
ĐINH LINH UY

Đinh Linh Uy nguyên quán ở Liêu Đông, học đạo ở Linh Hư Sơn, học thành công rồi sau đó hóa thân làm một con Bạch Hạc bay về quê hương. Ông đứng ở trên một ngôi hoa biểu (thời xưa dùng bia lầu để kỷ niệm vua chúa), kêu từng tiếng một:

“Hữu điểu, hữu điểu Đinh  Linh Uy
Khứ gia thiên tuế kim lai quy
Thành quách như cổ nhân đan phi
Hà tất hạc tiên chúng lụy lụy”

Tạm dich:

Có chim, có chim Đinh Linh Uy
Bỏ nhà ngàn năm nay trở về
Thành quách như xưa nhân dân chẳng
Sao chẳng hạc tiên mãi mãi đi
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: chanhnguyen trong Tháng Năm 30, 2011, 04:30:50 am
(tiếp theo)

CHIẾT TƯỢNG

Chiết Tượng là người Quảng Hán, lúc nhỏ thích cái thuật Hoàng Lão, bái Đông Bình tiên sinh làm thầy. Nhà của Chiết Tượng giàu có, vậy mà ngược lại ông cho giàu có là nguy cơ, do đó bán hết tài sản để giúp đỡ kẻ nghèo khổ.

Có người khuyên ông không nên làm như vậy, Chiết Lượng chỉ trả lời: “Tôi có người bạn là Đậu Tử Văn từng nói bố thí tài vật có thể tránh khỏi tai họa”.

Chiết Tượng tự mình đoán được giờ trước lúc chết, có thể tưởng tượng công tu dưỡng của ông đến cảnh tượng nào.


   
TỐNG LUÂN



Tống Luân tự là Huyền Đức, người Lạc Dương, chuyên tâm tu đạo, sử dụng Hoàng tinh hơn 20 năm. Thời Châu Lịch Vương Thái Thượng Lão Quân đem thông chân Kinh truyền giao cho ông, và còn biếu cho ông đan phù. Tống Luân được đan kinh sau đó nỗ lực tu hành, liễu ngộ được đại đạo.

Bởi vì Tống Luân tu dưỡng cao siêu, có thể hiểu biết tốt xấu ở vị lai, tiên đoán không cần xét nghiệm. Ông còn bay phiêu phiêu trên bầu trời, cùng đi chơi với thần tiên. Có lúc một ngày ngày có thể đi 3000 dặm, thậm chí còn hóa thân thú rừng tới thử lòng thiện ác của người ta. Từng bị thợ săn đuổi theo, nhưng khoảng cách 50 bước hay 100 bước mà đuổi không kịp ông. Tìm tay thần xạ tiễn tới cũng bắn không trúng ông. Tống Luân lại cùng ngủ với người bệnh, ngủ rồi một giấc người bệnh tự nhiên khỏe mạnh.

Tuyên Vương năm thứ 32, Tống Luân hơn 90 tuổi, Thượng Đế sai tiên quan xuống cõi phàm đón ông lên trời, phong cho ông là Thái Thanh chân nhân, quản lý Trung Nhạc.

玉子

  玉子者,姓張震,南郡人也。少學眾經,周幽王徵之不起,乃嘆曰:「人居世間,日失一日,去生轉遠,去死轉近,而貪富貴,不知養性。命盡氣絕即死。位為王侯,金玉如山,何益於是為灰土乎?獨有神仙度世可以無窮耳。」乃師長桑子,受其眾術,乃造一家之法,著道書百餘篇,其術以務魁為主,而精於五行之意,演其微妙以養性治病,消災散禍。能起飄風發木折屋,作云雷雨霧,以草芥瓦石為六畜龍虎,立便能行,分形為數百千人。能涉行江漢,含水噴之,立成珠玉,遂不複變也。或時閉氣不息,舉之不起,推之不動,屈之不曲,如此數十日,乃復起如故。每與諸弟子行,各丸泥為馬與之,皆令閉目,須臾,皆乘大馬,乘之一日千里。又能吐五色氣,起數丈,見飛鳥過,指之墮地。又臨淵授符,召魚鱉,魚鱉皆走上岸。又能使諸弟子舉眼即見千里外物,亦不能久也。其務魁時,以器盛水,著兩魁之間,吹而噓之,水上立有赤光,繞之曄曄而起,又以此水治百病,在內者飲之,在外者浴之,皆使立愈。後入崆峒山合丹,丹成,白日昇天也。
   
NGỌC TỬ

Ngọc Tử họ Trương tên Chấn, người Nam Quận, học đạo từ nhỏ, hiểu rộng các kinh. Châu U Vương muốn mời ông làm quan ông đều từ chối, ông cho là một số người tham giáu sang mà không biết tu tâm dưỡng tánh, một khi chết rồi tuy quý như Vương hầu, vàng ngọc như núi, có dùng được gì?

 Chỉ học đạo mới có thể vĩnh hằng.Ngọc Tử bái Trưởng Tam Tử làm thầy, học biết rất nhiều phép thuật, ví như ông có thể kêu gió gọi mưa, lại có thể lấy cỏ cây gạch ngói biến thành chuồng cọp thú dữ, ông có thể đi trên mặt nước, ngậm nước phun ra thành châu ngọc.

 Ông  cũng có thể ói ra mây ngú sắc, dùng ngón tay chỉ chim đang bay thì liền rơi xuống. Ông có một cặp mắt ngàn dặm, có thể khiến cho đệ tử trong thấy sự vật ngoài ngàn dặm. Ông còn có thể lấy nước niệm chú trị bệnh, sau đó vào Không Động Sơn luyện đan, lúc đan đã thành, ban ngày ông bay lên trời.

Một vài pháp thuật kỳ lạ ít có của Ngọc Tử, nhưng có một bộ phận cảnh giới tìm cậu nghệ thuật, một bộ phận cảnh giới tìm cầu khoa học, đạo sỹ có thể nói là nhà khoa học cổ đại.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: chanhnguyen trong Tháng Năm 30, 2011, 04:34:47 am
(tiếp theo)

太陽子
  太陽子者,姓離名明。本玉子同年之親友也,玉子學道已成,太陽子乃事玉子,盡弟子之禮,不敢懈怠,然玉子特親愛之。有門人三十餘人,莫與其比也。而好酒恆醉,頗以此見責,然善為五行之道,雖鬢髮班白,而肌膚豐盛,面目光華,三百餘歲猶自不改。玉子謂之曰:「汝當理身養性,而為眾賢法司,而低迷大醉,功業不修,大藥不合,雖得千歲,尤未足以免死,況數百歲者乎?此凡庸所不為,況於達者乎?」對曰:「晚學性剛,俗態未除,故以酒自驅。」其驕慢如此。著七寶樹之術,深得道要,服丹得仙,時時在世間,五百歲中面汝少童,多酒,其鬢鬚皓白也。

THÁI DƯƠNG TỬ

Thái Dương Tử họ Ly tên Minh, là bạn của Ngọc Tử.

Ngọc Tử học đạo thành công rồi, Thái Dương Tử liền bái ông làm thầy, cung kính vâng lời, không dám giải đãi. Ngọc Tử do đây đặc biệt quý trọng ông. Nhưng Thái Dương Công thích uống rượu, mỗi lần uống ăt say. Ngọc Tử thường trách ông ông về việc này. Thái Dương công sở trường về đạo âm dương, ngũ hành tuy đầu tóc bạc phau, mà nước da tươi mát mịn màng gương mặt hồng hào trơn bóng.

Ngọc Tử vì tha thiết thương ông mà trách móc, có lần khuyên ông rằng: “Ông nên tu thân dưỡng tánh, làm bậc thầy gương mẫu cho người ta mà mỗi ngày cứ uống say ngất ngưỡng, không công phu tu tập, thì có sống một ngàn tuổi vẫn khó tránh được cái chết. Việc đó kẻ phàm phu còn không làm huống chi người tu đạo?”.

Thái Dương Tử cố gắng sửa đổi, cuối cùng trở thành tiên, thường ở thế gian, tóc râu trắng mà mặt thì non trẻ, do uống quá nhiều rượu râu tóc không biến thành màu đen được. Không thể nào đạt được cảnh giới tối cao cải lão hoàn đồng.

太玄女

  太玄女者,姓顓名和。少喪夫主,有術人相其母子曰:「皆不壽也。」乃行道學,治玉子之術,遂能入水不濡,盛寒之時,單衣行水上,而顏色不變,身體溫暖。可至積日,能徙官府宮殿城市及世人屋舍於他處,視之無異,指之則失其所在。又門戶櫝櫃有關籥者,指之即開。指山山崩,指樹樹死,更指之,皆復如故。將弟子行所到山間,日暮,以杖扣山石,石皆有門戶開,入其中,有屋室床幾帷帳廚廩酒食如常,雖行萬里,所在常耳。能令小物忽大如屋,大物忽小於毫芒。野火漲天,噓之即滅。又能生災火之中,衣裳不燃。須臾之間,化為老翁小兒車馬,無所不為。行三十六術,甚有神效,起死無數,不知其何所服食,顏色益少,鬢髮如鴉,忽白日昇天而去。

   
   
THÁI HUYỀN NỮ


Thái Huyền Nữ họ Chuyên tên Hòa, mất chồng từ lúc còn trẻ, từng có thầy tướng đoán nói mẹ con họ đều không được sống lâu, lúc đó bà nỗ lực học đạo, đắc được chân truyền của Ngọc Tử.

Thành đạo rồi có thể vào trong nước mà không ướt, mùa đông mặt áo đơn nằm trên băng mà mặt không biến sắc. Phép thuật cả bà có thể dời nhà cửa thành thị, dùng một ngón tay để y lại như chỗ cũ.

Cửa đóng bà chỉ tay liền mở, chỉ núi thì núi lở, chỉ cây cối thì cây chết, nếu chỉ lại lần nữa thì mọi vật khôi phục lại như cũ. Bà có thể khiến cho đồ vật lớn biến thành nhỏ, nhỏ biến thành lớn, núi rừng bị cháy vừa thổi liền tắt, ngồi trong lửa cũng không bị cháy. Bà có thể hóa thân làm ông già, trẻ con, không cái gì không làm được.

Thậm chí bà còn có thể làm người chết sống lại, chưa ai trông thấy bâ tu luyện như thế nào, chỉ thấy dung nhanh của bà vừa trẻ vừa đẹp, tóc thật là đen, sau cùng bà bay lên trời mà đi.

Người thời nay thích dùng khoa học giải thích đạo pháp, nhưng khoa học kỹ thuật chế ngự vật chất là gián tiếp thông qua vật chất.

 Còn đạo pháp thì ngược lại, trực tiếp cảm ứng tinh thần. Ở phương diện này, khoa học và đạo pháp không thể bàn luận chung lại được.
   
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2011, 01:30:04 pm
(tiếp theo)

CHÚC KÊ ÔNG


Chúc Kê Ông là người Lạc Dương, ở tại thôn Thi, dưới chân núi Bắc Sơn, đã nuôi gà hơn 100 năm, gà của ông đều có tên, tối đậu ở trên cây, sáng mới nhảy xuống, mỗi lần Chúc Ông kêu tên của chúng, mấy con gà này liền từng con, từng con đi qua.

 Chúc Ông  bán hết gà, tiền lời có đến ngàn vạn bền đến nước Ngô mở một cái ao nuôi cá. Người ta thường thấy bên mình ông có một vài con bạch hạc và chim khổng tước vây quanh ông.
   
CỔ TRƯỢNG PHU VÀ MAO NỮ

Triều Hán có Tuấn Thái và Y Tử Hư đang cùng với nhau vui chơi trên núi cao, bỗng nhiên trông thấy một gái một trai, liền hỏi họ ở đây làm gì.

 Người trai đáp: “Tôi vốn là nô công của Tần Thủy Hoàng, vị này là Mao Ngọc Khương, cô là cung nữ của Tần Thủy Hoàng, vốn chôn theo người cùng chết, chúng tôi vì tránh được cái họa chạy ra khỏi Ly Sơn núp ở chỗ này, chẳng biết hiện nay là ngày mấy tháng mấy?”

Tuấn Thái và Y Tử Hư nghe xong rất vui mừng , bèn hướng về Cổ Trượng Phu chỉ về thuật luyện đơn. Cổ Trượng Phu nói, ông vốn là người phàm, vì ăn bách tử và tùng chỉ, rất lâu nên có thể bay lên, lông tóc biến thành màu xanh đậm. Ông và Mao Nữ không biết Kim đan là vật gì!

Trong “Đào Hoa Nguyên” của Đào Uyên Minh có nói nhiều về người dân tránh Tần Thủy Hoàng mà ẩn cư, xem ra Cổ Trượng Phu và Mao Nữ cũng là một cặp cá lọt khỏi lưới (“lậu võng chi ngư”) có vận may như vậy.
   
   
TỪ PHÚC

Từ Phúc tự là Quân Phòng. Tần Thủy Hoàng về già ham thích thần tiên, đi khắp bốn phương, tìm thuốc trường sinh, hy vọng sống lâu để mãi hưởng ngôi vua.

Do đó thầy thuốc khắp nơi đến rất nhiều, khoe khoang đạo thuật sách vở với Tần Thủy Hoàng để dối gạt của cải. Còn bạo chính của Tần Thủy Hoàng thời đó đã làm cho dân sống không yên ổn, tiếng than khắp đường.Từ Phúc bèn lợi dụng cơ hội này, vào cung bái kiến Tần Thủy Hoàng, nói với vua trên biển có mười châu, trên châu ấy lại có loại cỏ bất tử uống vào được trường sinh, nhưng biển rộng mênh mang, hao tổn công sức cũng không dễ gì được thành công.

Tần Thủy Hoàng lúc đó ban cho ông mấy chiếc thuyền lớn cùng 1000 trai gái, do Từ Phúc suất lĩnh cùng hướng về phía trước đi. Từ Phúc bèn dương buồm ra biển, vĩnh viễn rời khỏi xã hội hỗn loạn của Trung Quốc. Sau đó nghe nói ông đến Nhật Bản.

Nhật Bản hiện nay còn có miếu của Từ Phúc, nhiều người Nhật có thể là con cháu đời sau của Từ Phúc. Đồng thời, người Hàn Quốc cũng nói Từ Phúc đến Hàn Quốc, thật khó chứng minh.

Có điều, Tần Thủy Hoàng vĩnh viễn cũng không đợi được thuốc tiên.
   
   
HOÀNG THẠCH CÔNG

Triều Hán dựng nước trở về trước, Trương Lương có một lần đi tản bộ dưới cầu Phi Di, có một ông già ngồi trên cầu ra lệnh Trương Lương thay đôi giày cho ông. Trương Lương nhẫn nhục giúp ông làm rồi ông già vui vẻ nói: “Nho tử đáng dạy!” bảo ông hai ngày nữa đến đây sớm sẽ có sách biếu ông.

Cuối cùng Trương Lương đến chậm, ngày thứ hai ông lão vẫn đến trước Trương Lương, mãi cho đến ngày thứ ba, Trương Lương ở trên cầu suốt đêm không ngủ, mới đến trước ông lão. Ông lão thấy ông có thể nhẫn nại bèn lấy binh thư truyền thụ cho ông còn bảo ông rằng: “Mười ba năm sau ở dưới Xác Thành Sơn nước Tề, có một hòn đá vàng đó là ta.”.

Sau đó Trương Lương phò tá Lưu Bang xây dựng triều Hán, được phong làm Lưu Hầu. Có một lần ông và Cao Tổ đi ngang Xác Thành Sơn, quả nhiên trông thấy một hòn đá vàng. Trương Lương bèn nhờ Cao Tổ lập miếu niệm vị Hoàng Thạch Công này.

Trong “Lương Hầu luận” của Tô Đông Pha đối với thần kỳ của Hoàng Thạch Công tỏ ra nghi ngờ, ông cho là ông lão ngồi trên cầu Phi Di chẳng qua là ý nói sự rèn luyện tính tình của Trương Lương khiến ông có thể kham nhận được việc lớn hay không.

Thi nhân đời sau có sách vở châm biếm Tần Thủy Hoàng nói, tuy ông đốt sách chôn học trò, không ngờ ở nhân gian còn nhiều sách chưa bị thiêu”, binh pháp Hoàng Thạch Công cuối cùng lật đổ được lực lượng to lớn của triều Tần, đây cũng là tài liệu của thời trước chưa bị đốt.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2011, 01:35:30 pm
(tiếp theo)


QUỶ CỐC TỬ

Quỷ Cốc Tử là người thời Xuân Thu triều đại vua Tấn Bình Công, họ Vương, tên Hử, ông từng đi vào Vân Mộng Sơn hái thuốc và đác đạo, dung nhan hồng hào giống như một đứa trẻ.

Ông ở tại Thanh Khê trong Quỷ Cốc, Tô Tần và Trương Nghi đều đến học đạo với ông, họ tập ba năm mới đi. Trong thư của Quỷ Cốc từng tặng họ mấy câu nói: “Hai vị tướng công đều có công danh hiển hách, nhưng hoa mùa xuân đến mùa thu cũng tàn héo, hai vị ngược lại thích cái vinh hoa không thật của sương mai, mà quyên đi sanh mạng (trường tồn) vĩnh hằng, xem thường sự lâu dài của tùng bách mà mê luyến danh lợi chốc thời. Nên biết tình cảm ham muốn đều không lâu dài, thật đáng buồn thay!”.

Quỷ Cốc sống ở nhân gian có mấy trăm tuổi, sau đó không biết mất lúc nào.
Ông để lại hai bộ sách Âm Phù Kinh và Quỷ Cốc Tử, vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay, một số người còn cho ông đáng là Tổ sư của Tung Hoành Gia, ngược lại không biết ông chân chánh tìm cầu đó là Đạo vĩnh hằng, mà Tô Tấn, Trương Nghi quả nhiên lên bái tướng, vinh hoa phú quý, nhưng cuối cùng hạ trường không tránh khỏi bi thảm.
   
   

MAO MÔNG

Mao Mông tự là Sở Thành, người Hàm Dương, học rộng trí lớn, ông đoán biết triều Châu sắp suy, do đó không ra làm quan và còn than thở đời người ngắn ngủi như điện xẹt, làm sao không nhận ra cõi hồng trần là tạm bợ.Lúc ấy bèn bái Quỷ Cốc làm thấy, học tập thuật trường sinh, đi vào Hoa Sơn tu luyện.

Tần Thủy Hoảng thứ 30, tháng 9 năm Canh Tý, Mao Mông cưỡi rồng ban ngày bay lên trời. Trước đó không lâu, người ở thôn lưu hành một bài ca dao, nói Mao Mông đã thành tiên, ông sẽ cưỡi rồng bay lên trời, nếu như đế vương học tập với ông thiên hạ sẽ thái bình. Bài hát dân gian này còn lưu truyền đến tai Tần Thủy Hoàng, ông bèn sửa niêu hiệu thành “Gia Bình” (bởi vì trong bài hát có hai chữ Gia Bình).
Mao Mông sau khi bay lên trời, ba đứa cháu gái của ông cũng đắc đạo thành tiên, cùng ở núi Mao, người ta gọi là Tam Mao Quân.
Muốn “Đế vương học đạo” kỳ thật là muốn Đế vương không nên sử dụng quyền lực mê tín áp bức nhân dân, nhưng đáng tiếc quyền lực khiến người ta (hủ hóa) hỗn loạn. Đế vương không muốn học đạo chỉ vì muốn trường sinh, chỉ muốn quyền lực và dục vọng vô hạn “Đạo” đã biến chất. Đế vương chưa được lợi ích của nó thì trước đã bị cái hại của nó, để cái độc cho trăm họ, thì không nên hỏi đạo.


   
TIÊU SỬ

Tiêu Sử lúc trẻ đã đắc đạo, ông ngồi thổi tiêu, Trần Mục Công đem con gái là Lộng Ngọc gả cho ông. Lễ cưới xong sau này ông dạy Lộng Ngọc thổi tiêu âm thanh giống như phụng kêu, hai người vừa hát vừa hòa, thật là một đôi bạn thần tiên (“Sắc cầm hảo hoà”).

Lộng Ngọc sức lĩnh ngộ rất cao, tiếng tiêu của cô ngày càng giống thật tiếng phụng kêu. Không bao lâu, quả nhiên có một con phượng hoàng bay đến đậu trên cung điện của họ. Tần Mục Công rất vui mừng kinh ngạc, bèn vì hai người này xây một ngôi đài Hỷ. Mỗi đêm khi trăng sáng gió mát, Tiêu Sử va Lộng Ngọc ở trên phụng đài hòa tấu, tiếng tiêu sang sảng lúc Thẩm  lúc bổng, uyển chuyển trong đêm khuya, giống như một cặp phụng hoàng đang cũng nhau kêu.

Mấy năm sau, hai người vì thổi sáo mà thành tiên. Có một hôm Tiêu Sử Cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phụng, hai người điều khiển bềnh bồng bay lên trời mà đi.
   
   
THÁI NỮ TIÊN

Thái Nữ tiên vốn là người Nhượng Dương, giỏi về thêu thùa. Một hôm bỗng nhiên từ bên ngoài cửa có một ông già tới nhờ cô thêu cho một đôi phượng hoàng, nhưng đợi khi thêu xong ông mới đích thân tới chỉ chỗ điểm nhãn.

Qua mấy ngày, một cặp phượng hoàng màu sắc rực rỡ thêu xong, ông lão đó quả nhiên lại xuất hiện. Ở chỗ chỉ của ông, Thái Nữ thêu mắt phượng lên. Không ngờ mới vừa thêu xong, con phượng sặc sỡ đó đã nhảy ra ngoài, và còn đứng trước mặt họ nhảy múa. Lúc bấy giờ Thái Nữ cũng bỗng nhiên hiểu được, bèn nhảy lên lưng phượng hoàng theo ông lão, mỗi người cưỡi một con phượng bay lên trời mà đi.

Cổ nhân nói: “Họa long điểm tinh”, “vẽ rồng điểm nhãn” sự thật vẽ rồng cũng cần điểm nhãn. Long phụng cũng là đều tượng trưng cho một thứ tính thần siêu việt, rồng đại diện cho dương tính, phượng đại diện cho âm tính. Nhưng đây chỉ là cách tượng trưng thần tiên đâu có nam nữ mà có thể luận bàn.

   
BẠCH THẠCH SINH

Bạch Thạch Sinh nghe nói ở đời Bành Tổ đã hơn 2000 năm tuổi. Ông không tu tập thuật bay cao, có chí cầu trường sinh bất lão, vẫn có khoái lạc của nhân gian là đầy đủ rồi.

Dù gia cảnh thanh bần, Bạch Thạch Sinh không mua nổi tài liệu thuốc quý, lúc đó chỉ chăn nuôi heo dê, mười mấy năm sau được số tiền rất lớn, ông đem hết tài sản bán đi, mua tài liệu, thuốc nghiên cứu để mong cầu thành tiên.
Bạch Thạch Sinh có một thói quen rất kỳ lạ, ông thường nấu đá trắng để ăn, vì ông chọn một cây Bạch Thạch Sơn để ẩn cư, từ đó đổi tên là Bạch Thạch Sinh.

Dung mạo ông giống như tiên nhân. Tuổi tác tuy cao nhưng dung mạo chừng khoảng 30 tuổi. Có người hỏi ông vì sao không lên trời? Ông trả lời rất hay: “Trên trời chưa chắc đã vui hơn nhân gian, vả lại còn phải hầu hạ nhiều bậc tôn thần, ông sợ mắc phải tội lười biếng.
   
   
THIỆP CHÍNH

Thiệp Chính tự là Huyền Chân, người Ấp Đông. Ông tuy sinh ra cuối triều Hán, nhưng bàn về Tần Thủy Hoàng rõ ràng như vẽ.

Thiệp Chính bình thường luôn nhắm mắt, đi đường cũng không mở mắt. Các đệ tử của ông theo ông hai mươi năm cũng chưa thấy ông mở mắt. Có một đệ tử thắc mắc sự kỳ lạ ấy bèn bạo gan thỉnh cầu ông mở mắt. Thiệp Chính chấp nhận nhưng ông vừa mở mắt liền nghe một tiếng sét một vạch màu sáng giống như điện bắn ra, các đệ  tử lập tức sợ hãi quỳ xuống đất qua một chút mới dám bò dậy. Từ đó về sau không ai dám muốn Thiệp Chính mở mắt.
Thiệp Chính sau này thành tiên, thời ấy có một tiên nhân Lý Bát Bách cùng ông rất thân, ông gọi Thiệp Chính là: “Bé trai 45 tuổi”.

Mạnh Tử thường nói: “Quan kỳ mâu tử liễu yên”, người chánh tà xem tròng mắt, mắt thần tiên càng sáng trong thêm, thiêu đốt bức người. Nhưng Lão Tử nói: “Sáng mà không chiếu soi! Âm ấm mà chứa ánh sáng mới là người chí cực tu dưỡng”.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Năm 30, 2011, 01:42:06 pm
(tiếp theo)

AN KỲ SINH

An Kỳ Sinh người thôn Lang Đa, ông trước kia vốn bán thuốc ở bờ biển, người đương thời gọi ông là “Thiên Tuế Công”.

Tần Thủy Hoàng ngưỡng mộ đại danh của ông, từng mời ông vào trong cung gặp nhau, cùng ông bàn luận ba đêm và ban cho ông vàng bạc gấm vóc vô số. Nhưng An Kỳ Sinh không có một chút có ý cầu của cải, giàu sang, lúc ông rời thôn ấp đem tất cả của cải vàng bạc gấm vóc cho người trong thôn. Ông để lại một bức thư và một cặp hài ngọc màu đỏ.

Trước khi đi ông nói với người chung quanh, 1000 năm sau có thể đến Phùng Lai Sơn tìm tôi. Tần Thủy Hoàng biết được phái nhiều sứ giả lên biển tìm kiếm ông, nhưng không tìm được Phùng Lai Sơn mà gặp phải gió lớn, chỉ uổng công rồi trở lại.

Trần Thủy Hoàng thất vọng thương cảm ông, chỉ lập miếu thờ An Kỳ Sinh tại Phụ Hương Đình.

   
TU DƯƠNG CÔNG

Tu Dương Công là người nước Ngụy, ông ở trong hang Hoa Âm Sơn treo một cái giường đá, tự mình nằm trên giường đá, cục đá thấu qua ông cũng không nhúc nhích. Ông bình thường dùng Hoàng Tinh để ăn. Hán Cảnh Đế từng mời ông vào trong cung, qua một thời gian rất lâu cũng không học được pháp thuật của ông. Cảnh Đế rất vội vã hỏi ngày nào mới chuẩn bị mở lời. Tu Dương Công vừa nghe hỏi một câu đã biến thành con dê trắng, giống như châu ngọc và còn chấp tay nói: “Tu Dương Công cảm ơn Thiên tử”. Cảnh Đế chỉ có cách mang con dê lên đài Linh Thông, không bao lâu con dê trắng này biết nói chuyện rồi không thấy nữa.

Tu Dương Công vì sao chầm chậm không mở lời? Chắc là ông muốn dò xét tâm đạo của Cảnh Đế có thành tâm hay không, và muốn hàng phục sự tôn quí đế vương của ông. Nam Diện làm vua tuy cực quí một thời, nhưng mặt trước của đạo vĩnh hằng, là nhún nhường không đủ, vi tế không đủ đạo.
   

TƯ MÃ QUÝ CHỦ


 Tư Mã Quý Chủ là người Sở, vốn trước kia ở Trường An làm thấy toán số, sau đó lại đến An Vũ Sơn ẩn cư, luyện thành pháp thuật tàng hình. Sau khi đắc đạo dung mạo tươi đẹp như thiếu nữ, râu dài ba thước đen bóng.

Tư Mã Quý Chủ dắt một người đệ tử là Phạm Linh Tử một mạch vào trung sơn thạch thất, trong thất có cái giường bằng đá. Một hôm Tư Mã Quý Chủ muốn đi ra ngoài chơi, kêu Phạm Linh Tử trông coi tủ đá, và dặn anh ta không nên mở ra.

Ông đi rồi, sau đó Phạm Linh Tử vì nhớ nhà muốn mở trộm cũi đá, kết quả anh phát hiện cha mẹ anh em đều ở trong đó, lúc đó anh rất buồn.

Qua mấy năm, Tư Mã Quý Chủ kêu anh giữ cái cũi đồng, kết quả anh lại phạm luật ngăn cấm, và lại gặp cha mẹ anh em lần nữa trong cũi đồng, cuối cùng từ đấy tu thành tiên mà đắc đạo.

Tư Mã Quý Chủ thành tiên, sau đó chỉ để lại một chiếc giường bằng đá.

   

Y TRỪNG

Y Trừng tự là Sơ Mạc, sau sửa lại tên là Lâm, người Phần Dương. Có một hôm ông qua núi Thái Sơn, thấy trên hòn đá dính một nhánh Thanh Chi, ban đêm phát ra ánh sáng, lúc đó Y Trừng đem nó về làm thức để ăn, từ đó ông có thể đi mỗi ngày sáu bảy trăm dặm đường.

Không bao lâu, Y Trừng đến núi Nga Mi gặp được tiên nhân Tống Quân, Tống Quân dạy cho ông kinh điển thời đại Tam Hoàng và Cửu Đan bí quyết. Y Trừng nỗ lực tu luyện, cuối cùng thành công. Pháp thuật của ông rất nhiều , ví như quẳng thần phù nước đổi sóng liền đổi ngược dòng. Ông lại có thể khiến sóng to trở lại yên lặng. Người chết có thể khiến cho sống lại, thậm chí ông còn có thể mệnh lệnh quỷ quái tự trói buộc mình nhận tội.

Y Trừng sống ở thế gian hơn 340 tuổi. Hán Chiêu Đế niên hiệu Nguyên Thủy năm đầu, Thái Vị Đế Quân sai tiên quan tới đón tiếp ông, phong ông làm Thái Vi Chân Nhân.
   
   
LƯU AN

Lưu An là cháu Hứa Cao Tổ, nhưng làm Hoài Nam Vương, ông thích nho thuật, chiêu hiền đãi sĩ, từng cùng họ hạ lệnh tân khách biên trước thành sách, người đời sau gọi là “Hoài Nam Tử” hay là “Hoài Nam Vương Thư”. Ông lại trước tác hai quyển Hồng Bảo Vạn Niên, chuyên môn thảo luận về đạo lý biến hóa.

Có một hôm không biết từ nơi nào tới tám ông già (Bát Công) lên cửa cầu kiến Hoài Nam Vương, tiểu sứ giữ cửa định gây khó khăn họ, bèn nói: “Đại Vương muốn cần ba điều kiện, thứ nhất là muốn trường sinh bất lão, thứ hai là muốn nhà nho học rộng nghe nhiều, thứ ba hy vọng được trai có sức khỏe võ thuật, dũng cảm hùng mạnh mà các ông già thế này, dù không thể trước tác sách, cũng không có võ thuật, ba điều hy vọng của đại vương các ông một điều cũng không đạt thành, tôi không dám dẫn các ông đi bái kiến”.

Bát Công nghe xong không nhịn cười được, họ trả lời: “Chúng tôi nghe nói Hoài Nam Vương chiêu hiền đãi sỹ, chỉ cần chút tài năng, không chỉ chẳng được làm quan thượng khách. Chúng tôi đây có mấy thứ tài năng, tuy không hợp với yêu cầu nhưng bái kiến Đại vương cũng không hại gì. Anh vì sao làm khó chúng tôi, nêu như Đại vương cho rằng thiếu niên mới là đạo sỹ, già không có khả năng, sợ e chưa tránh khỏi bị lầm hình tướng bên ngoài”.

Bát Công nói xong, liền cùng biến thành đứa tre 15 tuổi, đầu tóc đen bóng mặt hồng như trái đào. Người giữ cửa vừa trông thấy kinh ngạc thất sắc, vội vàng chạy đi thông báo. Hoài Nam Vương vội vã chưa kịp mang giày, đi chân không ra ngoài nghinh đón, ông mời Bát Công thiết trí tư tiên đãi, giường ngà voi, dùng hương rất thơm và bàn ghế bằng vàng ngọc để chiêu đãi họ, tự mình mặc phục trang làm đệ tử, hướng về Bát Công chấp tay hành lễ. Bát Công lúc đó hiện nguyên hình người giá, họ thấy Hoài Nam Vương thành tâm mới hỏi rằng:

“Chúng tôi nghe nói Đại vương ham thích đạo thuật, do đó đến bái kiến thăm hỏi, không rõ Đại vương hy vọng những gì? Chúng tôi một người có thẻ kêu mưa hú gió, chế tạo mấy mù, vẽ đát làm sông hồ, rưới đất thành núi.

Một người có thể dời non lấp biển, ra lệnh cho hỏ báo rồng rắn, sai khiến quỷ thần.
Một người có thể phân thân biến hình, lẩn trốn trong ba quân, một tay che mặt trời.
Một người khác có thể vào lửa không cháy, vào nước không ướt, đao chém không đứt, tên bắn không lủng, mùa đông không lạnh, mùa hạ không nóng,
Một người có thể thiên biến vạn hóa, muốn gì được nấy, có thể biến ra bất kể cầm thú,,cây cổ gì, dời núi lấp sông. Một người có thể phòng tránh tai họa điều xấu ác, tránh tà trừ họa, kéo dài tuổi thọ, trường sinh bất lão.
 Một người có thể luyện bùn thành vàng, luyện chì thành bạc, cưỡi rồng cưỡi mấy, rong chơi trên hư không. Tám pháp thuật này tùy Đại vương lựa chọn”.

Lưu An nghe xong thán phục không ngớt, bèn đích thân dâng rượu, trái cây, đối với họ bái cầu chỉ dạy, mong được mỗi vị thử tài, kết quả Bát Công đều hiện thần thông, quả thật tiếng đồn không sai. Lưu An lúc đó học đan kinh với họ và các thứ đạo thuật khác.

Đơn dược của Lưu An không bao lâu luyện xong, ông vẫn chưa dùng, còn con trai của ông là Lưu Thiên ham thích kiếm thuật. Lang Trung Lôi được cùng anh ta so kiếm, không cẩn thận đâm trúng Lưu Thiên, Lôi sợ bị giết bèn dâng sớ vu Lưu An định tạo phản, thiên tử phái người đến trị tội Lưu An. Bát Công lúc đó bảo ông rằng: “Anh nên đi, đây là trời cho anh cơ hội, không nên chần chừ”.

Lưu An chấp nhận kiến nghị  của họ, chọn ngày tốt giờ hoàng đạo lên núi mà đi, đem vàng chôn dưới  đất, ông bèn leo lên núi ban ngày bay lên trời luôn. Bát Công và Lưu An đi qua nơi nào ngay cả hòn đá cũng đều rớt xuống, đến ngày nay vẫn còn dấu chân của người ngựa. Chỗ ông để cái vạc nấu thuốc, gà chó liếm cũng đều bay lên trời, một chốc chỉ nghe trong mấy có tiếng gà gáy, trên trời có tiếng chó kêu, thật náo nhiệt. Cho đến ngày nay chúng ta lưu truyền câu thành ngữ:”gà, chó bay lên trời” là có từ chuyện Hoài Nam Vương Lưu  An mà ra.

Tiên thuật của Hoài Nam Vương không có cách nào giải thích, nhưng ông đã chủ trì biên cuốn “Hoài Nam Tử” lại là tổng hợp lại tư tưởng Hán Tần, không những có giá trị về học thuật, có tài về văn chương, nó cống hiến cho đời sau tiên thuật rất sấu xa, rất nhiều.
   
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 01, 2011, 08:21:25 am
(tiếp theo)

CÂU TIÊN CÔ

Câu Tiên Cô là người Trường Sa, tu ở Hoành Sơn, 80 tuổi vẫn cô đơn một mình. Kế bên bà ở là tiên đàn của Nam Nhạc Ngụy phu nhân. Một hôm, bỗng nhiên từ ngoài trời bay tới một con gà màu xanh, con gà này lại còn biết nói chuyện, nó nói: “Tôi là sứ giả của Nam Nhạc Phu nhân, bởi vì thấy bà tu hành kham khổi, cho nên ra lệnh tôi đến đây làm bạn với bà”.

Sau này, mỗi khi có người tới núi chơi, gà xanh đều có thể đoán được tên người du sơn. Có một hôm nó bảo Tiên Cô: “Hôm nay có bạo khách tới, nhưng không nên sợ”. Kết quả có một đám hòa thượng, họ cầm đuốc, đao trượng giơ cao định hại Tiên Cô, nhưng Tiên Cô cứ ngồi yên trên giường  mà các hòa thượng không trông thấy bà. Cuối cùng các hòa thượng chỉ có cách đi, không ngờ mới ra khỏi cửa chưa bao lâu thì bị cọp bắt ăn.

Câu Tiên Cô sau đó về Hồ Nam ở, gà xanh cũng theo bà đi, sau đó lại nghe nói bà dời đi về Cưu Nghi Sơn, rồi không ai biết bà đi đâu nữa.
   
   
KIM THẦN

Kim Thần là người Lệ Thành, từ nhỏ đã thông minh hơn người, mà lại thích giả bộ làm khùng làm ngu. Ông đã từng gặp một người lạ dạy cho pháp thuật “Thái Âm luyện hình”.  Kim Thần luyện thành công rồi sau đó có thê mình trần nằm trên băng tuyết, ông còn có thể tiên đoán thủy tai, hạn tai, tốt xấu và thọ yểu nữa.

Kim Thần chết rồi, sau khi an táng hơn 100 ngày, có một đêm bỗng nhiên lôi sấm nổ ầm ầm, sau đó sáng ra mới thấy ngôi mộ của ông bị đánh nứt ra mấy tấc, trong mộ chỉ để lại một đôi giày và một cái quạt, người ta vẫn không biết ông đi đâu.

Đạo thuật riêng từng phương diện mà nhìn, đem tiềm năng của từng người giải thích cặn kẽ, nằm trên băng là một công phu không lạnh. Phật giáo Mật tông ở phương diện này tu luyện rất nổi tiếng, còn có nhiều người Yoga có thể hiển thị thể năng và lực lượng tinh thần siêu phàm. Ví như trên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn, mình trần nằm trên tuyết, làm tuyết tan ra, đây chỉ là bước đầu của công phu mà thôi. Có thể thấy tiềm năng con người vô cùng, chỉ cái tầm nhìn của chúng ra không khai phát hết được.
   
   
TÔ ĐAM


Tô Đam là người huyện Sâm, ông rất hiếu thuận với cha mẹ, ông đã gặp người lạ truyền cho tiên thuật.

Tô Đam mỗi ngày tự tay hầu hạ cơm nước cho mẫu thân, có một hôm mẹ ông bỗng nhiên  muốn ăn cá Xạ. Tô Đam liền đi mua cá Xạ mang về. Mẹ ông hỏi mua cá ở đâu ông nói mua ở Tiên huyện. Mẹ ông rất kinh ngạc bởi vì Tiên huyện cách xa huyện Sâm có hơn 100 dặm.

Lại có một hôm bỗng nhiên ông dùng rượu quét rửa nhà mình, bà mẹ hỏi có duyên cớ gì mà làm như thế, Tô Đam nói ông đã thành tiên, Thượng Đế muốn gọi ông về trời. Bà mẹ nói: “Con đi mẹ phải làm sao?”. Tô Đam để lại một cái tủ nói: “Mẹ cần thứ gì trong đó có thứ ấy!”. Lại nói: “Sang năm bệnh dịch lan rộng, mẹ có thể hái lá quýt trước miệng giếng ở sân nhà mà cứu người”.

Tô Đam lên trời, sau đó quả nhiên không bao lâu ôn dịch hoành hành, mẹ của ông đã dùng cách đó cứu sống được hơn 100 người.

Qua một thời gian, Tô Đam hóa thân làm một con hạc trắng đậu trên lầu Quận thành đông bắc, có người muốn dùng cung bắn ông, lại làm gì bắn cũng không trúng. Bạch Hạc dùng móng viết chữ trên lầu:

“Thành quách thị, nhân dân phi. Tam bách giáp tý nhất lai quy, ngô thị Tô Đam, đàn ngã hà vi!”.

Ý của ông nói thành quách không thay đổi mà nhân dân lại đổi mấy triều đại, ông ngàn năm mới về quê một lần, các người không nhận ra ta là Tô Đam thì thôi, vì sao lại dùng cung bắn ta hở!”.

   
   
ĐÔNG PHƯƠNG SÓC

Đông Phương Sóc tự là Mạn Sảnh, thuộc người Bình Nguyên.

 Có một lần ông ta ra khỏi cửa, khoảng một năm mới trở về nhà. Anh của ông hỏi vì sao ông đi lâu thế, Đông Phương Sóc nói rằng: “Tôi đến bờ biển rong chơi, biển có chỗ nước màu tím làm dơ y phục của tôi, tôi chỉ có cách chạy đến Ngô Uyên để rửa sạch. Tôi buổi sáng ra khỏi cửa, trưa lại trở về, vì sao anh nói tôi đi mất một năm?”.

 Sự thật, Ngô Uyên cách biển ít nhất một vạn dặm đường.

Thời Hán Vũ Đế, Đông Phương Sóc dâng thư tự cử Mao Toại, ông viết: “Thần là Sóc, từ nhỏ mất cha mẹ được anh và chị dâu nuôi dưỡng.

Năm mười hai tuổi đi học, ba năm hiểu rành văn sử vận dụng rành mạch. Mười lăm tuổi học kiếm, mười sáu tuổi học Thi thư, có thể thuộc hai mươi vạn chữ, năm mười chín tuổi học binh pháp Tôn Tử, tất cả chiến thuật đều thông suốt. Năm nay tôi hai mươi hai tuổi, người cao chín thước ba, môi đỏ như son, răng đều như bắp, dũng  mãnh lanh lẹ, thanh liêm và uy tín, nhân tài giống y như tôi, giới thiệu cho ngài Mao Toại không có vấn đề gì”.

 Ngữ khí của Đông Vương Sóc không có một chút gì khiêm tốn, và còn có thổi phồng mình nữa, nhưng bậc anh tài đại lược như Hán Vũ Đế dĩ nhiên có măt sáng nhận biết được anh hùng, xem biết người này không phải là một thiếu niên bình thường. Đồng thời lập tức phong ông làm quan, muốn ông ở Kim Mã Môn hầu Hán Vũ Đế, phong và thưởng ban ông rất ưu đãi.

Đông Phương Sóc dùng tiền vua ban thưởng cưới một thiếu phụ ở Trường An,  cứ y như vậy, mỗi lần được vua ban thưởng ông đều mang về tặng cho vợ con. Người ta đều cười ông là ngu ngốc, Đông Phương Sóc vội nói: “Ta tránh thế gian làm người trong triều đình”. Có lúc ông uống rượu say ngồi trên đất ca hát, lời ca đại ý là: “Người đời thường nhơ nhớp, do đó ta muốn ẩn cư trong Kim Mã Môn, cung điện có thể bảo tồn tính mạng, đâu cần đi vào trong rừng sâu mà trốn”.

Đông Phương Sóc trước khi chết đối với các bạn đồng liêu nói: “Thiên hạ chưa ai biết được lai lịch của ta, người biết ta chỉ có một người là Đại Ngũ Công!”.

Đông Phương Sóc chết rồi, sau đó Há Vũ Đế biết việc này , bèn triệu Đại Ngũ Công đến hỏi, Đại Ngũ Công  thề thốt không nhận, ông nói không biết Đông Phương Sóc là thần thánh cõi nào. Hán Vũ Đế hỏi các tinh tú trên trời phải không? Đại Ngũ Công nói đúng vậy, các tinh tú đều đầy đủ, chỉ có Tuế Tinh không biết 40 năm nay không biết đi đâu, không ngờ ngày gần đây lại xuất hiện. Vũ Đế ngước lên trời thở dài than rằng: “Đông Phương Sóc sống bên ta mười tám năm, mà không biêt ông ta là Tuế Tinh”.

Đông Phương Sóc bay lên trời, nhưng ông để lại cho người đời sau rất nhiều văn chương, văn bút của ông tung hoành thoải mái, du dương Thẩm  bổng, và phong phú u mặc, ông dùng thứ văn bút này ám chỉ Hán Vũ Đế phải theo thiện bỏ ấc, Do ở bộ óc khôi  hài của ông, không những được Vũ Đế tin yêu, mà còn được nhã hiệu là “Hoạt kê chi hùng” (người hùng có tài châm chọc người tài).



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 01, 2011, 08:25:55 am
(tiếp theo)

HOÀNG AN

Hoàng An là người Đại Quận, ước chùng hơn một vạn tuổi. Ông lớn lên gương mặt hồng đẹp như da em bé, do ông thường ăn Châu Sa, toàn thân ông đều hồng. Ngày thường cũng không mặc y phục, ngồi trên lưng con rùa thần. Rùa thần dài ba thước, thời đó có người hỏi Hoàng An tuổi tác của rùa thần, ông đap: “Con rùa này ba ngàn năm mới ló đầu một lần, từ khi tôi gặp được nó đến nay đã ló đầu được năm lần rồi”. Người đời do đây mới biết Hoàng An đã có hơn một vạn tuổi.

Hán Vũ Đế ham mộ danh ông, từng mời ông luận đạo, đối với ông rất tôn kính. Lúc Vũ Đế muốn đi tế Kỵ Thái Sơn, mời Hoàng An cùng Đồng Cát, Lý Sung, Mạnh Chi, Quách Quỳnh cả thảy năm người cùng lên xe đi, người ta gọi là “Ngũ tiên thần”. Sau khi Vũ Đế băng hà, Hoàng An rời khỏi kinh thành mãi mãi không biết đi về đâu.

Người dân thường gọi vua là “Vạn Tuế”, thực tế ở trên đời có ông vua nào một vạn tuổi không?
   
   
QUÁCH QUỲNH

Quách Quỳnh là người Đông Phương Quận, tướng cao xấu xí vô cùng, nhưng tấm lòng thì vô cùng rộng rãi. Lúc nhàn rỗi ông thường chống gậy dạo chơi, mệt thì tá túc tại nhà người ta, nhờ chủ nhà cho củi đốt để lấy ánh sáng mà đọc sách. Sách vở đồ thư quí báu bí mật ở trong tủ  của chủ nhân, niêm phong rất cẩn mật, mà Quách Quỳnh có thể đoán nội dung trong đó rõ ràng như đồ ở trong nhà mình, nói rõ không sai, nhân đấy cả nhà đều thán phục. Nhưng cũng chính vì lẽ đó, người trong làng vừa nghe Quách Quỳnh xin ta túc, họ đều vội vàng đóng của lại, sợ ông biết chuyện riêng tư giấu kín trong nhà.

Quách Quỳnh không vì lẽ đó mà bỏ qua việc làm của mình, ngược lại mỗi lần ông đên nhà người ta, liền từ trong tay áo móc ra một bàn kính, để trên đầu gối, lấy tay tùy ý rút, thì có thể tính ra nhà nào có chuyện kín riêng tư. Quách Quỳnh hiểu rõ đến chân tơ kẽ tóc, lúc ngủ cũng không nhắm mắt, đến nơi nào có loạn, thì ông mặc áo bày ngực lưng ra giống như người khùng.

“Chân Nhân bất lộ tướng” nhưng ở đây ngược lại lộ chân tướng khác người. Quách Quỳnh thuộc loại người này.

   
   
QUYỀN PHU NHÂN

Quyền Phu Nhân là phi của Hán Vũ Đế.  Có một lần Hán Vũ Đế tuần thú qua sông trông thấy một làn khí màu xanh tía từ mặt đất vọt thẳng lên trời, một đại thần biết xem khí nói đó chắc chắn sẽ có một kỳ nữ, mà cô ta nhất định là điềm lành cho thiên tử. Vũ Đế lúc đó đi theo nơi có làn khí tìm kiếm, không bao lâu trông thấy một người con gái nằm trong quan tài trên không, rất là mỹ miều, hai tay đang nắm lại. Vũ Đế ra lệnh thuộc hạ mở nắm tay cô ta, kết quả thử mấy trăm lần vẫn không ra. Lúc đó Vũ Đế đích thân tời mở cửa, không ngờ vừa mới đụng đến tay người con gái đó hai nắm tay liền mở ra, mà đôi mắt cũng mở ra luôn. Vũ Đế liền đem cô ta về trong cung, cho nên gọi là Quyền Phu Nhân.

Quyền Phu Nhân không những dung mạo đoan trang diễm lệ, đẹp như thiên nga, mà còn thông hiểu đạo thuật.Sau này cô mang thai mười bốn tháng sinh ra Hán Chiêu Đế. Do ngày trước Đường, Nghêu cũng mười bốn tháng sỉnh ra, do đây Vũ Đế gọi cung môn của Quyền Phu Nhân là “Nghiêu ngẫu môn”.
   
   
TRÌNH VĨ THÊ

Thời đại nhà Hán, Hoàng môn Lan Trình vì thích luyện đan thuật, lấy vợ là Phương Thị. Do Trình Vĩ thường đi hầu Hoàng đế tả hữu y phục không đồng dạng, lúc đó vợ ông biến ra hai cây lụa.Trình Vĩ dựa theo trong sách “Chẩm trung Hần tân” do Phương Tử ghi mà luyện kim, không may luyện mãi cũng không thành, ngược lại vợ ông dùng tay rưới thuốc trong lò đan của Trình Vĩ trong khoảng khắc luyện ra vàng.

Trình Vĩ vừa thấy giật mình kinh ngạc hỏi: “Thì ra nàng cũng thông đạo thuật, sao không sớm chỉ bảo ta?”. Vợ ông trả lời rằng: “Học đạo ẳt cần có mệnh”. Trình Vĩ lúc ấy không kể ngày đêm dụ cô ta nói, và còn mua ruộng vườn nhà cửa, thức ăn ngon, quần áo đẹp cho cô, nhưng vợ ông cũng khăng khăng không chịu chỉ dạy. Trình Vĩ hết kế, chỉ còn cùng bạn bè bày kế, dùng đao trượng ép cô nói. 

Vợ ông sớm đã biết rõ tâm tư của ông, về nói: “Đạo nên truyền cho bậc chính nhân quân tử, nếu quả thật có số trời, thì kẻ ở ngoài đường cũng truyền cho, bằng ngược thì thà chết cũng không truyền”. Lúc đó bèn giả khùng rồi trốn đi, không biết đi về đâu.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 01, 2011, 08:29:39 am
(tiếp theo)

TRANG QUÂN BÌNH

Triều Hán có một đạo sỹ từng cùng một ông lão ở chung nhà, được khoảng chuừng một năm, ông lão bảo ông ta: “Tôi là Trang Quân Bình”, và tặng ông một bộ sách. Sáng hôm sau lão bèn đi. Đạo sĩ mở thư ra xem, đều là đạo lý tu thân đạo đức, trong thư có một câu rằng: “Sự nghiệp và công danh không giá trị bằng một ly nước”.
   
KẾ TỬ HUẤN

Kế Tử Huấn là một người đắc đạo rất cao. Ông đi chơi trong kinh thành, công danh, vương hầu đều nhiệt liệt chào đón ông, và vì ông bày tiệc, ban ngày cho đển ban đêm chiêu đãi ông thật long trọng.
Ông rời bỏ kinh thành sau đó mất luôn tung tích. Mọi người chỉ thấy lúc ông đi, mười mấy nơi đều thấy từng đóa mây trắng bay lên. Không bao lâu, có người ở trên đường phố kinh thành Trường An thấy ông đang cùng một ông già, hai người nắm tay nhau đang sờ mặt người đồng vừa sờ vừa ngước lên trời nói: “Mới vừa trông thấy Vũ Đế đúc người đồng, làm gì mới có một phút mà đã mất 500 năm rồi”.
Có người nhận ra dung mạo của ông, bèn đến trước bắt tay với ông nói: “Kế tiên sinh! Xin đợi một chút chúng tôi cùng đi chung đường”. Kế Tử Huấn gật đầu đồng ý và đi chầm chậm lại từng bước, mặc dù tuy chậm như thế, nhưng tốc độ của ông ngay cả ngựa chạy cũng không kịp,
   
   
ÂM TRƯỜNG SINH

Âm Trường Sinh là người Tân Dã, làng Tằng Tổ Phụ của Hán Hoàng Đế. Ông không ham thích vinh hoa chỉ chuyên tâm tu đạo, ngưỡng mộ cao danh của Mã Minh Sinh, bèn đi khắp các danh sơn để tìm thầy học đạo, cuối cùng ở núi Nam Dương Thái Hòa gặp được Mã Minh Sinh, liền bái ông ta làm thầy.

Nhưng Mã Minh Sinh không dạy ông bất cứ đạo thuật nào, chỉ cùng ông mỗi ngày bàn chuyện thời sự, tất cả hơn mười năm, mà Âm Trường Sinh không một chút mỏi mệt. Đồng thời với ông có hơn mười hai người bái kiến Mã Minh Sinh làm thầy đều oán trách mà bỏ đi hết, chỉ còn lại Âm Trường Sinh đối với ông càng thêm kính trọng. Như vậy hơn mười hai năm.

Mã Minh Sinh mới tin ông là thật sự cầu đạo, bèn dẫn ông vào Thanh Thành Sơn, nấu Hoàng Thổ thành vàng, và dạy ông các thứ đạo thuật.

Sau đó, Âm Trường Sinh ở trong thạch thất Vũ Đương Sơn ăn uống một nửa là thần đan, nhưng cũng không thể bay lên trời. Lúc đó ông lại luyện mấy vạn cân vàng ròng để cứu giúp thiên hạ nghèo khổ, bố thí xong rồi lại uống một nửa tiên đan, quả nhiên thành nguyện vọng, giữa ban ngày ông bay lên trời.
   
LOAN BA

Loan Ba là người Thành Đô, sau khi đắc đạo được phong làm Thượng Thư. Có một năm nọ, sáng sớm ngày 13 tháng giêng, lúc thượng triều Hoàng Đế ban rượu cho ông, ông lặng lẽ không uống lại ngậm rượu trong miệng, quay  qua hướng Tây Nam phun ra, Nhân đây ông bị đàn hặc thành tội bất kính. Loan Ba phun rượu xong thảnh nhiên nói: “Nhà tiểu thần trong Thành Đô đang bị hỏa tai, do đó tôi mới dùng rượu phun tưới để cứu hỏa”.

Qua mấy ngày trong Thành Đô quả nhiên tâu lên nói đang lúc một trận lửa cháy dữ dội, may thay có một trận mưa từ phương đông rơi xuống mới dập tắt được lửa, thật kỹ quáí, trận mưa đó nồng nặc mùi rượu.
   
   
MAO BÁ ĐẠO VÀ LƯU ĐẠO CUNG

Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung, Tạ Nhã Khiên và Trương Triệu Kỳ đều là người của thời Đông Hán, họ cùng vào Vương Ốc Sơn học đạo hơn bốn mươi năm, hợp tác luyện thành thần đơn.

Mao Bá Đạo uống trước,  không ngờ vừa uống vào chết liền, Lưu Đạo Cung cũng ăn lại chết luôn. Ba người còn lại thấy hiện tượng như thế nên không dám uống, lúc đó bèn bỏ đan dược chuẩn bị về nhà. Không ngờ vừa ra khỏi Vương Ốc Sơn thì xa xa trông thấy Mao Bá Đạo và Lưu Đạo Cung cưỡi con nai trắng  ở trên núi rong chơi, phía sau lưng còn có tiên nhân cầm trướng theo hầu bên cạnh.

Nhã Kiên và Triệu Kỳ không ngớt hối tiếc, may thay Lưu Đạo cung dạy họ uống phục linh, hai người lòng tin không vững mới miễn cưỡng nghe theo cũng tu thành tiên. Tu đạo vốn không là việc bình thường, cần nhất thiết phải có cái tâm phi thường. Người tham sống sợ chết ngay cả nghiệp lớn ở đời còn chưa thành tựu , huống là Đại đạo xuất thế gian? Học đạo phải chịu thử thách là các điều Tôn giáo đều có, mà thử thách lớn nhất là chấp sinh mệnh, nhà Phật gọi là “Sinh Tử quan” (ải sinh tử) có vị cao tăng là Hoa Sinh ngồi xoay mặt vào vách, thì gọi là “Tọa Sanh tử quan”.

      
TRIỆU BÍNH

Triệu Bính là người Đông Dương, thời Hậu Hán, thích đi các nơi rong chơi, mỗi lần gặp bạn thân thì rót nước làm rượu để uống và còn tùy tiện cắt một vật gì biến thành thịt, cứ như thế khiến cho mọi người rượu mồi no đủ,chủ khách tàn tiệc vui.

Có một lần ông ở trên bờ không đợi được thuyền, liền quăng chiếc chiếu xuống nước, dẫm lên trên chiếu mà vượt qua con sông lớn.

Trong sử gọi Đạt Ma Tổ Sư là “Nhất Vĩ Độ Giang”. Triệu Bính giống như vậy, nhưng so ra ông học được pháp thuật này sớm hơn.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 01, 2011, 08:32:22 am
(tiếp theo)

TRANG BÁ VI

Trang Bá Vi lúc còn trẻ rất ham thích đạo thuật, nhưng ông không biết nên tu như thế nào, lúc đó mỗi ngày khi mặt trời vừa lặn, ông hướng về hướng Tây tĩnh tọa, chuyên tâm định ý tưởng tượng hình núi Côn Lôn.

Núi Côn Lôn là thánh sơn của Trung Quốc, trên núi đều là thần tiên và thánh hiền ở, có các cầm thú quí hiếm,và hoa thơm cỏ lạ, dưới chân núi có một dòng nhược thủy, chất nước rất yếu ngay cả lông chim cũng không trôi được, người phàm càng đừng nên qua,  trừ khi là thành tiên thành thánh. Ở trên đỉnh núi Côn Lôn có một cấy kêu là bất tử, nó cao chọc trời che cả đất, phủ khắp muôn dân, mà Vương Mẫu Nương Nương ở trong vườn hoa trên đỉnh núi ấy,  giữ tòa Kim hỏa lập lòe, để thần tiên trường tồn mãi mãi.
 
Trang Bá Vi định tưởng như thế ba năm, Cuối cùng một hôm trông thấy núi Côn Lôn. Tiên nhân ở trên núi chỉ điểm xuống, ông cũng được thành đạo và lên núi Côn Lôn.

Tịnh độ tông của Phật giáo có một pháp môn quán tưởng Phật và cõi Tây phương cực lạc quán tưởng thành thục rồi sau đó có thể vãng sanh tịnh độ được thấy Phật Di Dà (muốn hiểu rõ điều này hãy xem kinh “Quán Vô Lượng Thọ”).

Trang Bá Vi hầu như cũng tu theo pháp môn náy, về phuơng diện Phật đạo có thể có chỗ tương thông cũng chưa biết được.
   
GIANG PHI NHỊ NỮ

Giang Phi Nhị Nữ không biết người thời đại nào. Thời đó có một người thanh niên tên là Trịnh Giao Phụ đi đến bến Hán Thủy dạo chơi, bỗng trông thấy hai thiếu nữ tyệt đẹp trên áo còn đính hai viên minh châu ánh sáng rực rỡ chói mắt.Trịnh Giao Phụ rất đông tâm, không cầm được sự ngăn cách dòng sông dài dằng dặc, bèn ngâm lên bài thơ tỏ ý ái mộ. Ông vừa ngâm xong, không ngờ hai người con gái cũng ngâm tặng lại một bài thơ, tiếng ngâm du dương Thẩm  bổng trong cảnh mấy nước bồng bềnh dường như đang ở trong cảnh thần tiên.

Trịnh  Giang Phụ ở bên dòng nước không muốn đi, nhưng trời dần dần tối, ông chỉ còn cách tạm rời hai thiếu nữ này. Trước khi lên đường hai thiếu nữ gỡ viên minh châu trên áo tặng cho ông làm kỷ niệm. Trịnh Giao Phụ cầm viên minh châu đi được vài bước quay đầu lại xem thì hai thiếu nữ đâu mất. Cúi đầu nhìn hạt minh châu trong lòng bàn tay cũng không thấy nữa, ông mới sực tình mình đã gặp tiên nữ trên sông.

Người và thần tiên mến yêu nhau, đã tự thành một loại hình trong văn học nghệ thuật Trưng Quốc, như Tào Thực và Mặc Phi, cũng là một trong những chuyện ái tình lạc thần. Còn chuyện Trinh Giao Phụ cho đến chuyện Sở Vương và U Sơn Thần Nữ cũng lưu truyền ngàn đời như nhau, trở thành điển cố người đời thường gọi, không ngừng xuất hiện trong thi, văn, đề, vịnh. Thí dụ như thơ Đường: “Khúc chung nhân bất kiến, giang thượng số phong thanh” là một câu nổi tiếng.Ngoài ra trong Cửu ca của Sở Từ cũng có rất nhiều tình tiết luyến ái giữa người và thủy tiên.
   
   
LƯU CĂN

Lưu Căn người ở Trường An, thời Hán Thành Đế đi lên núi cao học đạo, bỗng được một vị thần truyền cho bí quyếp, lúc đó ông đã tu thành tiên. Bình thường, ông hay dùng đạo thuật cứu người, mà Thái Thú Sử Kỳ Dĩnh Xuyên lại cho ông làm yêu thuật, muốn giết ông. Ông ta đem Lưu Căn giải về phủ, nói với ông rằng: “Nếu như người triệu tập quỷ đến đây thì ta mới thả ra, nếu không, ngươi sẽ mang tội chết”.Lưu Căn ung dung đáp: “Việc này rất đơn giản, chỉ cần cho tôi mượn cây bút  vẽ một lá bùa thì xong”. Chưa được bao lâu thì có thân binh giải hai con quỷ tới.Thái Thú xem kỹ càng mới phát hiện chính là cha mẹ mình, đã chết từ lâu, bất giác thất kinh biến sắc, quỳ xuống than khóc thảm thiết. Quỷ trách móc Thái Thú đã làm gì đắc tội với thần tiên mà phải liên lụy đến cha mẹ. Thái Thú vội vàng cúi đầu nhận tội, Lưu Căn mới thả hai con quỷ ra, còn mọi người bỗng nhiên cũng không thấy Lưu Căn đâu cả.
   
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 01, 2011, 08:37:33 am
(tiếp theo)

MAI PHÚC

Mai Phúc tự là Tử Chân, từng làm Nam Xương Úy thời Đông Hán.Ông thấy Vương Bôn chuyên chính, không chịu nổi than rằng: “Sinh mạng hình phạt ta, hình thể khiến ta chịu nhục, tri thức là họa hoạn của ta, thể xác là công cụ hành hình của ta”.

Lúc đó, bỏ nhà đi cầu tiên, đi khắp  các núi Mạc Đăng Sơn và Mẫn Nan Sơn.Sau đó, ông đến Tiên Hà Sơn gặp được Không Động Tiên Quân, học rành nội ngoại đan pháp. Ông lại đến Kê Long Sơn, kết quả tu luyện không thành, lại dời vào Kiếm Cang Tây Lĩnh, lại gặp Không Động Tiên Quân trong mấy trắng đáp xuống nói với ông rằng: “Mai Phúc, duyên phần của ngươi ở Phi Hồng Sơn”.

Mai Phúc lập tức đi đến Phi Hồng Sơn,dựng nhà tranh chuyên tâm tu luyện,quả nhiên thành công. Lúc đó, ông thu xếp hành trang về nhà mừng xuân. Có một hôm mây tía xuất hiện trên bầu trời, trong mấy trắng có Kim Đồng, Ngọc Nữ cưỡi loan bay xuống. Mai Phúc từ biệt thân quyến,cưỡi thanh loan bay lên trời.
   
   
NGỤY BÁ DƯƠNG

Ngụy Bá Dương người nước Ngô, tính tình thích đạo, không chịu làm quan.Ông vào núi luyện đan có dẫn ba người đệ tử theo hầu. Ông có hai đứa đệ tử lòng tin không vững, lúc đó đan đã luyện thành, hôm ấy đem thử họ nói: “Kim đan tuy thành, nên cho chó nếm trước, chó uống không chết sau đó mới yên tâm dùng”.Nói xong, cho chó uống một viên, chó tức khắc chết liền.

Ngụy Bá Dương trông thấy không cầm được than rằng: “Đây cũng là ý trời”. Đệ tử của ông nói: “Sư phụ! Ngài uống hay không uống?”. Ngụy Bá Dương trả lời: “Ta bỏ nhà cửa quê hương mà tu thất bại, còn mặt mũi nào mà trở về? Sự sống chết vốn không giống nhau, ta quyết định thử xem sao!”.

Nói xong nuốt đan vào mà chết. Trong lúc đó một đệ tử nghĩ thầy vốn bậc phi phàm, dùng đan mà chết chắc có thâm ý gì, cũng uống đan mà chết. Còn hai người đệ tử kia trông thấy như thế bình luận: “Luyện đan là mong cầu trường sinh, mà nay uống tiên đan phản ứng rồi chết, chi bằng không uống, trở về nhà cũng có thể sống thêm mấy mươi năm!”.Lúc đó, quyết định không uống, cùng xuống núi mua quan tài cho Ngụy Bá Dương và vị đệ tử kia.

Không ngờ hai người này vừa xoay lưng đi, Ngụy Bá Dương từ đất đứng dậy.Ông cầm một viên diệu đan vừa luyện xong nhét vào miệng đệ tử và cũng nhét vào một viên đan vào miệng con chó chết, chốc lát cả người và chó đều sống lại. Ngụy Bá Dương liền dẫn người đệ tử họ Ngu và con chó trắng cùng đi du tiên. Sau đó, họ gặp một ông tiều phu đốn củi, Ngụy Bá Dương viết thư nhờ ông chuyển cho hai người đệ tử, họ nhận được thư hối tiếc vô cùng, hối hận vì ban đầu không chịu làm theo.

Ngụy Bá Dương đã viết quyển “Tham Đồng Khế” là đạo lý của Kinh Dịch để ám chỉ phương pháp luyện đan, là một quyển Kinh trọng yếu của Đạo Giáo, Nam Tống Châu chú giải quyển sách này.
   
   
VƯƠNG LÃO

Vương Lão chỉ ham thích người hàng xóm tu đạo. Có một hôm, một đạo sỹ đến hỏi thăm ông, còn ở lại nhà ông hơn một tháng. Bỗng nhiên Đạo Sỹ phát sinh ra ghẻ độc đầy mình, ông nói với Vương Lão, ông cần mấy ang rượu để tẩm ngâm thì ghẻ mới lành. Vương Lão theo lời ông mua về mấy ang rượu đầy, đạo sỹ ngồi trong ang rượu, trải qua ba ngày ba đêm mới bò ra, chỉ trông thấy ông râu tóc biến thành đen, dung mạo biến già thành trẻ. Đạo Sỹ nói vời Vương Lão: “Nếu ngài có thể uống hết ang rượu này thì có thể thành tiên”.

Vương Lão không chút do dự, ông ra lệnh mọi người trong nhà đem ang rượu Đạo Sỹ rửa ghẻ ra uống hết, chốc lát đều say té. Họ vừa uống vừa say, bỗng nhiên trên trời nổi lên mây gió, cả nhà đều bay bổng lên trời.
Nhà Phật nói: “Phá chấp trước”, không nên dùng mắt trâu dê mà nhìn người, cũng không nên dùng mắt chó mà xem thấp người ta. Lão Đạo Sỹ giống Tế Công, ông vừa có ý thử thách, vừa muốn phá trừ tâm thế lợi của Vương Lão, chúng ta không thể người người khám phá được hồng trần, nhưng ngược lại nên ra sức bài trừ tính thế lực, lợi dưỡng. Tự do bình đẳng không chỉ là chính trị, lý luận, mà nó càng là sự tu dưỡng của Đạo đức.
   
   
LƯU THẦN

Lưu Thần là người huyện Diệm, cuối đời nhà Hán cùng Nguyễn Triệu đi vào núi Thiên Thai, hái thuốc, lạc đường về, kẹt lại trong núi 30 ngày. Họ vừa đói vừa khát, bỗng nhiên gặp trên núi có cây đào, trái quằn nhánh, hai người bèn hái mà ăn, không bao lâu phục hồi lại sức khỏe. Lúc đó vội vàng xuống núi,ở bên khe suối uống nước, đang uống bỗng nhiên nổi lên trên mặt nước một cái ly, trong ly còn có cơm gạo Hồ. Hai người rất mừng, thầm nghĩ gần đây chắc chắn có người dân ở, liền nhanh chóng leo qua núi, qua một con sông, bờ sông có hai người con gái rất đẹp, trông thấy họ cầm cái ly, liền cười nói: “Lưu, Nguyễn tiên sinh, mời hai vị mang ly đến đây”.

Lưu Thần và Nguyễn Triệu nghe đến rất kinh ngạc,  họ ngớ ngẩn nhìn nhau, không nói được. Hai thiếu nữ vui vẻ dường như bạn thân của họ: “Các vị vì sao đến muộn thế?”, rồi mời họ về nhà.

Nhà của nữ lang rât hào hoa, bốn bức tường đều treo trướng lưới, góc trước buộc cái linh vàng, trân châu, bảo ngọc để cho cái trướng không phất lên. Họ còn dùng rất nhiều tỳ nữ, mỗi người làm món ăn khác nhau, bên trong đầy các thứ cơm gạo Hồ, thịt sơn dương khô, thịt bò, v.v… mùi vị rất thơm ngon. Vừa ăn xong lại bưng đào lại, và còn đồng thanh hướng về Nhị Nữ Lang chúc mừng họ được chàng rể đẹp. Sau đó, lại uống rượu vui vầy, mãi cho đến khuya. Các Tỳ nữ đưa Lưu, Nguyễn lên giường, hai người thiếu nữ cũng e thẹn đi vào.

Thử rươu nồng, gái đẹp, ca hát mê say hơn mười mấy ngày, Nguyễn Lưu hai người muốn trở về nhà, lại bị thiếu nữ cầm ở lại nửa năm. Khí hậu ở đây cỏ cây luôn là mùa xuân, chim kêu khiến họ càng nhớ nhà. Thiếu nữ mời họ ở lại không được, chỉ còn tiễn họ đi, trước khi đi thiếu nữ than rằng: “Các vị là người trần tội nghiệp, sau này sẽ hối tiếc”. Lúc đó, chỉ đường đi thả họ về nhà.

Nguyễn Triệu và Lưu Thần về đến quê hương mới phát hiện nhà cửa đường sá đều thay đổi, thân bằng quyến thuộc xưa không còn người nào.Hỏi ra mới biết trong khoảng thời gian đó, nhân gian đã trải qua bảy đời,họ vừa kinh ngạc vừa cảm khái, không biết làm thế nào, chỉ còn cách lên núi lại, nhưng họ cũng không tìm được chỗ ở của thiếu nữ ấy.

Văn nhân đời sau vì kỷ niệm chuyện du sơn lãng mạn, đặc biệt chế ra Từ Bia, đề mục là: “Nguyễn Lang qui”. còn điển cổ của Lưu Nguyễn cũng ở lại trong thi từ lưu luyến mãi đến ngày nay. Trong bài thi “Vô đề” của Lý Trương Ẩn nói: “Lưu lang dĩ hận Phùng Sơn viễn, cách cách Phùng Sơn nhất vạn trùng”. Có thể dùng điển cổ này, sự thật một điển cổ đẹp đẽ là do nhiều thi nhân từ khách yêu thích.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 02, 2011, 08:42:29 am
(tiếp theo)

VƯƠNG KIỀU

Vương Kiều người Hà Đông, thời Hán Minh Đế làm Lang Thượng Thư, về sau làm Huyện lệnh ngoài. Triều Hán quy định pháp lệnh quan viên Kinh Cơ nội, mỗi tháng mồng một về kinh triều kiến Hoàng Đế. Vương Kiều tuy ở huyện xa, lại mỗi tháng về kinh đúng giờ, hoàng đế cảm thấy rất ký lạ, bởi vì không thấy Vương Kiều ngồi xe. Lúc đó ra lệnh Thái Tử âm thầm theo dõi. Kết quả phát hiện ra ông mỗi lần đến bằng hai con chim nước từ phương Đông Nam bay tới. Hoàng đế hạ lệnh dùng lưới bắt, không ngờ cuối cùng lọt vào lưới là một đôi giày quan đã ban cho Thượng Thư.

Vương Kiều mỗi lần lên kinh đô triều kiến hoàng đế, trống ngoài cửa huyện tự động phát ra tiếng, tiếng trống tùng tùng mãi cho đến kinh thành. Có một hôm chiếc quan tài bằng bạch ngọc từ trên trời rơi xuống trước nhà ông, mọi người hiệp lực đẩy không nổi. Vương Kiều nói đây là trời triệu ta về, lúc đó tắm rửa rồi nằm trong quan tài tự động khép lại. Ông qua đời buổi tối hôm đó, trâu bò trong huyện đều chảy mồ hôi thở vội, không ai biết nguyên nhân gì. Dân chúng lập một cái miếu thờ ông, gọi là “Diệp Quân Tự” hễ cầu tất ứng, rất là linh nghiệm.
   
   
TRƯƠNG ĐẠO LĂNG

Trương Đạo Lăng tự là Phụ Hán, là cháu tám đời của Trương Lương. Ông cao chín thước ba tấc, mặt to mày rậm, trán hồng, mắt xanh, mũi cao, tròng mắt có ba cạnh. Tay thòng quá gối, râu đầy hàm, ông đi như rồng bay cọp bước, mười phần uy vũ. Hán Quang Đế năm Tiến vũ thứ mười ông sinh ra ở Thiên Mục Sơn, mẹ ông mộng thấy người to lớn tự xưng là Đẩu tinh xuống, mình mặc cẩm tú và đưa cho bà cành hoa lạ. Mẹ ông tiếp lấy liền tỉnh dậy, cảm thấy mùi hương lạ khắp nhà cả tháng chưa tan, do đó cảm ứng mà mang thai Trương Đạo Lăng đản sinh ngày ấy, có mây vàng bao phủ trên nhà, sương màu tía khắp trong sân. Trong phòng sáng sửa như có mặt trời mặt trăng chiếu soi. Và còn ngửi được mùi hương lạ như trong giấc mộng rất lâu không tan.

Trương Đạo Lăng từ lúc nhỏ thông minh hơn người, bảy tuổi học rành Lão Tử Đạo Đức Kinh, thiên văn, địa lý, Hà Đồ Lạc Thư, không chi là chẳng thông suốt. Sau đó được tuyển làm quan hiền lương phương chánh, tuy làm quan nhưng ý chí thích tu đạo, không bao lâu bèn ẩn cư ở Bắc Mạnh Sơn, có một con Bạch Hổ ngậm thần phù đến bên cạnh giường ông, Hán Hoa Đế từng ban cho ông làm Thái Truyện, và phong cho ông Ký Huyện Hầu, ba lần hạ lệnh triệu về, ông đều khéo từ chối. Sau này ông đến Tứ Xuyên, thích lên non xanh nước biếc của Tứ Xuyên, lúc đó ông ẩn cư trên Hạc Minh Sơn. Trên núi có một con hạc bằng đá, mỗi lần kêu là biểu thị có người đắc đạo tới. Trương Đạo Lăng ở đây khổ tu luyện, không bao lâu nghe tiếng hạc thần kêu.

Trương Đạo Lăng và đệ  tử Vương Trường cùng nhau tu luyện Long Hổ đại đan một năm có ánh sáng hồng chiếu trong nhà, hai năm có thanh long bạch hổ đến giữ vạc nấu đan, ba năm đan mới thành, ông cũng thành bậc chân nhân. Không bao lâu ông gặp được thần tiên chỉ điểm, tu hành đạo thuật rất cao. Ông có thể bay được lên trời, có thể  nghe được âm thanh rất xa, lại có thể tàng hình, ví như ông có thể vừa dưới hồ chèo thuyền, đồng thời vừa trên nhà ngâm thơ, thiên biến vạn hóa thần ký khôn lường.

Khoảng năm Thuận Đế, mỗi đêm Thái Thượng Lão Quân giáng lâm nơi ông ở, truyền cho ông kiếm thư hùng và rất nhiều bùa triện, muốn ông tru diệt lục đại thần quỷ (sáu con quỷ lớn) hoành hành ở Tứ Xuyên. Trương Đạo Lăng  ròng tu một ngàn ngày, luyện thành các thứ pháp thuật hàng ma quái. Không bao lâu bát bộ quỷ soái, thống lĩnh binh quỷ khoảng vạn ức làm hại nhân gian, chúng nó mang các bệnh dịch tàn hại chúng sanh. Lúc đó, Trương Đạo Lăng ở Thanh Thành Sơn bảo thiệt lập đạo tràng, rung chuông đánh khánh kêu gọi mưa gió chỉ huy thần binh đại chiến với ác quỷ. Trương Đạo Lăng đứng trên tòa lưu ly, bất cứ cung tên nào vừa đến gần ông đều biến thành hoa sen. Các quỷ lại phóng lửa đốt, chân nhân dùng tay chỉ lửa xoay đốt trở lại. Quỷ soái vừa giận vừa triệu tập lại thiên quân vạn mã bao vây trùng trùng, không ngờ chân nhân dùng bút đỏ vẽ một nét, các binh quỷ và tám con quỷ vương đều lần lượt cúi đầu xin tha mạng. Nhưng chúng nó dâng rượu phục mà tâm không phục, trở về mời lại sáu con quỷ vương lớn, soái lĩnh binh quỷ trăm vạn vây đánh Thanh Thành Sơn. Trương Đạo Lăng ngưng thần định khí, không đả động gì, ông chỉ dùng bút đỏ vẽ nhè nhẹ, sáu con quỷ có mặt đều chết sạch, chỉ còn sáu con quỷ vương ngã lăn ra đất, bò dậy không nổi, dập đầu xin tha mạng. Trương Đạo Lăng lại dùng bút lớn chỉ một cái, ngọn núi phân làm hai đè nhốt sáu con quỷ vương trong đó, nhúc nhích mãi không được, lúc đó quỷ vương mãi mãi không trở lại làm hại người đời.

Do Trương Đạo Lăng trừ được ma quỷ cứu sống muôn người, dân chúng đều theo ông bái làm sư phụ, một lúc có đến mấy vạn người. Trương Đạo Lăng dùng họ tổ chức lại và còn đính định luật lịnh phân phối chức vụ, dạy đạo lý cho họ, khuyên họ gắng làm lành, dần dần thành lập một đoàn thể đạo giáo, mà Trương Đạo Lăng cũng trở thành tổ sư của Đạo giáo.

Đông Hán Hoàng Đế niên hiệu Vĩnh Thọ nguyên niên ngày chín tháng chín, ở Tú Xuyên trong núi Xích Thành Cử Đình, thượng đế phái sứ giả cầm ngọc sách, phong Trương Đạo Lăng làm chánh nhất chân nhân, ông bay lên trước thuyền của Trương Tử Hoành hai cấy kiếm phá tà, để anh đuổi tà trừ yêu, hộ quốc an dân, đời đời còn một đứa con nối dõi địa vị Giáo chủ của ông.Dặn dò xong, Trương Đạo Lăng bèn cùng đệ tủ Vương Trường, Triệu Thăng cả ba người cùng bay lên trời mà đi, còn Đạo giáo của ông sáng lập lưu truyền ở dân gian còn mãi đến ngày nay, do ông quy định vào Đạo giáo phải giao cho năm đấu gạo, nhân đây cũng gọi là “Ngũ đấu mễ giáo”.
   
   
VƯƠNG VIỄN


Vương Viễn tự là Phương Bình, người Đông Hải. Ông ở thời Đông Hán nhậm chức Trung Tân đại phu, học rộng biết nhiều, thiên văn địa lý đều thông suốt, và còn có thể đoán biết xấu tốt. Hoàng Đế nhiều lần mời ông làm quan nhưng ông không chịu đi, cuối cùng phái người ép bức ông phải tới kinh thành. Nhưng Vương Viễn cuối cùng cúi đầu nhắm mắt, không chịu đáp lời.Chỉ đề trên cửa cung hơn bốn trăm chữ, đều có liên quan đến việc sắp phát sinh ra. Hoàng Đề rất ghét mấy lời tiên đoán không rõ ràng đó, bảo người xóa bỏ đi, nhưng bên ngoài vừa xóa đi, chữ bên trong lại nổi lại, dấu mực thẩm thấu vào trong gỗ.

Vương Viễn ở nhờ nhà Thái Úy Trần Đam, trong nhà hơn 40 người, do đó trong nhà Trần Đam không có chút bệnh tật nào. Có một hôm Vương Viễn nói với Trần Đam: “Đại hạn tôi sắp đến, không thể ở lại được, trưa mai tôi muốn đi”. Đến giờ đó, Vương Viễn quả nhiên chết, Thẩm  Đam biết ông có đạo thuật nên không đám liệm liền, chỉ đốt nhang khóc mà thôi. Khoảng ba ngày hai đêm, Vương Viễn không thấy mà ý phục của ông rõ ràng chưa cởi ra, giống như con rắn lột vỏ vậy.

Vương Viễn đi rồi, hơn 100 ngày sau, Trần Đam cũng qua đời. Nghe nói Trần Đam cũng được đạo thuật của Vương Viễn, thành tiên theo ông luôn.

Năm cuối cùng Đông Hán, triều chính suy yếu, loạn lạc, nho sinh có tâm tính toan dấy thanh nghị phê bình thời chính, kết quả hy sinh nặng nề. Đạo sỹ đối với chính trị tích cực tham dự không giống như nho sinh, nhưng họ khí cốt kiên cường, giống như Vương Viễn không màng sinh tử dự đoán đều khiến người cảm thấy kính phục.Cách “tiểu ngôn”của họ càng thần ký thú vị.

Trong Kinh dịch nói ẩn sỹ “cao thượng kỳ vị, bất sự vương hầu”. Vương Viễn đối với Hoàng đế không cần lý lẽ thêm là người rất dũng khí, cũng chính vì ông thấy đoán tương lai, do đó mới không tích cực tham gia chính trị. Thái Sử Công nói: “Lão Từ thâm viễn” đại khái là ý nghĩa như vậy.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 02, 2011, 08:46:22 am
(tiếp theo)

TẾ THÁI

Tế Thái là người Cô Tô, thời Đông Hán hoàng đế, tiên nhân Vương Phương Bình giáng lâm ở nhà ông, nói với ông rằng: “Người sau này sẽ thành tiên, do đó ta đến đây chỉ dạy người, nhưng người khí ít thịt nhiều, không thể bay lên trời được, phải học thuật thi giải”. Lúc đó, Vương Phương Bình lấy nguyên tắc bảo ông, sau đó bồng bềnh bay đi.
Không bao lâu về sau, Tế Thái quả nhiên khắp mình phát nhiệt, trong ba ngày cơ thể ốm bớt, xương cứng lại.Ông chạy vào nhà lấy mền trùm kín người, trong chốc lạt bỗng mất tiêu không thấy nữa, trong cái mền chỉ còn một lớp da người, giống như con rắn lột vỏ không khác.

Mười mấy năm sau ông mới trở về nhà, trông dáng người già biến thành trẻ, ông bảo mọi người nói: “Mồng bảy tháng bay Vương Phương Binh sẽ trở lại, nên thiết đãi ông thật nhiều rượu”.

Đến ngày ấy,Vương Phương Bình quả nhiên tới thật, cả nhà ai cũng đều nghe thấy tiếng trống, xênh, tiêu. Chỉ thấy Vương Phương Bình đội mão ở xa xa, mây ngũ sắc gác bảo kiếm, mặt hiện lên màu vàng, để chòm râu nhỏ, cưỡi xe năm rồng, tiền hô hậu ủng, cờ xí tung bay uy phong như một đại tướng quân. Vương Phương Bình vừa vào cửa, người hầu đều không thấy.Mọi người trong nhà đối ông hành lễ. Vương Phương Bình phái người đi mời Ma Cô tới, thì ra Ma Cô là em gái của Vương Phương Bình. Chốc lát, Ma Cô cũng tới luôn.

Tế Thái và mọi người trong nhà đều trông thấy một tiên nữ đẹp đẽ. Cô ta ước chừng 18 tuổi, trên đầu búi một chùm tóc, tóc còn dư xõa xuống tới lưng. Cô ta mặc áo cẩm tú màu sắc rực rỡ, đều là vật không thấy ở thế gian. Mọi người đã an tọa, sau đó Ma Cô nói muốn trông thấy mẹ và vợ của Tế Thái, lúc ấy vợ Tế Thái vừa sinh được mấy ngày. Ma Cô vừa thây thì biết liền, bảo cô ta không cần phải ra.

Sau đó Ma Cô lấy một hạt gạo quẳng xuống đất liền biến thành đan sa. Vương Phương Bình cười cô ta nói: “Này Ma Cô em! Em còn thích đùa giỡn như lúc còn trẻ à!” Ma Cô đáp: “Từ khi chia tay tới nay, Đông Hải đã ba lần biến thành ruộng dâu, em vừa trông thấy biển Phùng Lai lại cạn lắm!” Vương Phương Bình cười nói: “Thánh nhân cũng nói, trong biển không bao lâu khói bụi lại nổi lên”.

Ngón tay của Ma Cô nhỏ dài như móng chim, Tế Thái thầm nghĩ trong lòng, nếu như sau lưng nổi mụn nhờ móng tay của Ma Cô gãi chắc sướng lắm. Vừa khởi niệm Vương Phương Bình biết ngay liền dùng roi đánh Tế Thái, và còn cấm ông, nói: “Ma Cô là thần tiên, người là gì có thể vọng tưởng móng tay của cô ấy gãi mụn ư?”

Sau đó, cha mẹ của Tế Thái hỏi ông về Vương Phương Bình, Tế Thái đáp: “ông ta bình thường ở tại Côn Lôn, La Phù, ở vòng quanh ba ngọn núi đó.Ba núi này đều là cung điện Vương Phương Bình thường quản lý công việc trên trời, trong một ngày tới lui với thiên tiên mấy mươi lần. Ông cưỡi kỳ lân đi, nơi nào ông đi qua, chư thần núi, biển đều ra nghênh tiếp”.

Tế Thái sau này cũng thành tiên bay lên trời, ông bỗng về nhà để lại nhiều thư pháp, nét bút thần kỳ, có thể nói các nhà đại thư pháp Vương Hi Chi, Nhan Chân Khanh đều đã thấy qua.
   
   
TỬ ANH

Tử Anh là người thôn dã, ông xuống nước bắt cá rất giỏi. Có một lần ông bắt được con cá chép màu hồng. Tử Anh thấy con cá màu sắc đẹp đẽ dễ thương nên đem nó thả nuôi trong ao. Được một năm, lớn dài đến một trượng, và còn mọc cánh bên mang. Tử Anh rất kinh ngạc, không ngờ con cá quái dị mở miệng nói với ông: “Tôi tới đón ngài, hôm nay tôi cùng ngài về trời”.

 Nói xong, lập tức mưa xuống một trận dữ dội. Tử Anh cưỡi trên lưng con cá bay lên.
Một năm sau Tử Anh lại trở về, ông cùng vợ con ăn cơm như cũ, mấy ngày sau cá trở lại đón ông, cứ như thế liên tục 70 năm.

Do đó mà ở địa phương làm miếu thờ để nhớ một vị tiên nhân bay lên trời.
   
   
ĐỔNG PHỤNG

Đổng Phụng tự là Quân Di, làm quan ở Tứ Xuyên dưới sự cai quản của Lưu Bị. Ông không những thông đạo thuật mà còn thông y thuật. Ông trị bệnh không lấy tiền, những người bệnh nặng được khỏe, ông yêu cầu họ đưa năm cây hạnh giống, bệnh nhẹ thì một quả. Như vậy, sau mấy năm trị bệnh, trong nhà ông có hơn 7 vạn cây hạnh giống, tốt tươi um tùm như một đám ruộng, rất nhiều dã thú chạy vào đó vui chơi. Điều rất kỳ lạ là dưới gốc cây không hề mọc cỏ tạp, nó sạch sẽ mãi mãi như vừa mới cắt dọn.

Một khi hạnh chín, Đổng Phụng làm một cái kho dưới vườn cây, và tuyên bố: “Ai muốn mua trái hạnh không cần tốn tiền, chỉ cần tự mình mang theo một cái sọt hạt kê đổi một sọt trái hạnh thì được”. Thường có một vài người không tốt, muốn dùng sọt hạt kê thật nhỏ để đổi lấy một sọt trái hạnh lớn, lúc ấy bỗng nhiên hiện ra một con cọp ở phía sau lưng vừa rống vừa đuổi cho đến khi nào bung sọt trái hạnh đổ trên đất mới thôi. Có người đến trộm trái hạnh về đến nhà thì chết liền, nhưng chỉ cần người nhà mang họ đến chỗ cũ, cúi đầu nhận tội thì người đó liền sống lại. Từ đấy, không ai dám động đến vườn hạnh. Lúc đó Đổng Phụng đem hạt kê có được bố thí cho người nghèo khổ, mỗi năm bố thí ước khoảng hơn 300 hộc.

Đổng Phụng sau khi bay lên trời, người nhà của ông tiếp tục chăm sóc vườn hạnh, nếu có kẻ trộm cọp cũng xuất hiện như cũ. Sau này nhân dân vì cảm ân đức của ông, lập đền thờ trong vườn hạnh.Cho đến ngày nay, người Trung Quốc gọi giới y học là Hạnh lâm, do trong câu chuyện giống hạnh của Đổng Phụng mà có.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 02, 2011, 08:51:31 am
(tiếp theo)

GIỚI TƯỢNG

Giới Tượng tự là Nguyên Tắc, người ở Tằng Khê, thông suốt bách gia ngũ kinh và các thứ học vấn khác..Ông có thể viết một mạch xong bài văn, càng có sở trường về thuật tiên đạo.

 Ông từng đến Đông Nhạc học vài phép thuật khác lạ, ví như có thẻ đốt cỏ tranh nướng gà, gà chín mà cỏ không cháy hết. Ông lại có thể khiến cho người trong nhà không nhóm lửa nấu cơm, có thể khiến cho chó, gà không, kêu không gáy 3 ngày, có thể khiến mọi người trong thành ngồi hết mà không đứng dậy.

Ông cũng có thể tàng hình, thậm chi còn biến hóa thành cây cỏ dã thú.
Có một lần ông đi xa mấy ngàn dặm cầu tiên, kết quả không gặp được gì, phải vào núi ngồi Thẩm  tư. Do ông quá mệt mỏi, nằm trên hòn đá nghỉ ngơi, lúc bấy giờ có một con cọp đến ăn thịt ông, ông giật mình tỉnh dậy nói với con cọp: “Nếu như ngươi ở trên trời phái đến bảo hộ ta thì im lặng đứng hầu, còn nếu như người là sơn thần sai đến thử ta thì chạy đi mau”, con cọp gật đầu ngoắc đuôi rồi đi.

Sau đó, Giới Tượng đi đến Cốc Sơn. Ở trên núi ông trông  thấy hòn đá phát ra ánh sáng tía, hòn đá lớn như trứng gà, ông bèn lấy hai hòn. Lúc đi qua khe nước, do nước sâu quá ông không thể đi qua được, bỗng nhiên trông thấy người con gái ước chừng 15, 16 tuổi, nhan sắc tươi đẹp không giống người thường, mặc áo ngũ sắc, phất phơ giống như tiên nhân.

Giới Tượng hướng về cô cúi đầu và cầu dạy phương pháp trường sinh bất lão. Tiên Nữ nói: “Người nên đem cục đá để lại y như cũ, ta ở đây đợi ngươi”. Giới Tượng y lời cô ta làm, quay trở lại thì quả nhiên Tiên Nữ hãy còn đợi. Giới Tượng lại hướng về cô ta cúi đầu lần nữa.

Tiên Nữ nói: “Ngươi có thói quen ăn thịt, đợi người giữ giới ăn chay 3 năm nữa đến đây tìm ta”. Giới Tượng đi về sau đó ăn chay đúng 3 năm, trở lại trên núi, quả nhiên gặp được Tiên Nữ. Tiên Nữ dạy ông phương cách luyện đan.

Giới Tượng về nhà sau đó vẫn chưa bắt đầu luyện đan, có người mật cáo với Ngô chúa. Ngô chúa mời Giới Tượng vào trong cung, đối với ông rất kính trọng, và còn tôi xưng với ông là Giới Quân, cho ông nhà ở, ban cho ông vô số báu vật, vàng bạc nhưng Giới Tượng từ chối dạy cho các thứ pháp thuật.

Đương thời ở trên núi có một người trồng mạch, khổ nỗi bị khỉ ăn hết, bèn nói: “Chúng mi đến đây, ta đi báo Giới Quân!” Khỉ nghe nói chạy hết.  Có một hôm Ngô chúa và Giới Tượng bàn về loại cá nào ăn ngon nhất, Giới Tượng có nói ca Lưu có mùi vị rất ngon. Ngô chúa nói: “Thứ cá này ở trong biển, ngài có cách nào làm cho nó tới đây không?”.

 Giới Tượng nói: “Không sao cả, chỉ cần trước điện đào một cái hầm đổ đầy nước, câu thì có cá”. Ngô chúa nghe rất kinh ngạc, vui mừng, làm y như thế quả nhiên câu được cá. Ngô  chú hỏi: “Cá này có thể ăn được không?”.Giới Tượng nói: “Đây là chuyên môn, vì bệ hạ mà thiết đãi, sao không thể ăn được?”. Giới Tượng mấy lần muốn từ biệt Ngô chúa về nhà, Ngô chúa đều không chịu.Một hôm, Ngô chúa ban cho ông một thùng trái lê. Giới Tượng vừa ăn liền chết.

 Ngô chúa kinh sợ liền đem ông chôn xuống đất. Không ngờ ngày thứ hai Giới Tượng sống lại, xuất hiện ở Thành Kiến Nghiệp và còn lấy trái lê được Ngô chúa ban cho đem tặng các quan làm lễ cho ông.Các quan rất kinh ngạc, đem sự việc trình báo lên Chúa Ngô, Ngô chúa hét nhảy lên, lập tức hạ lệnh mở quan tài, xem xét tử thi, không ngời trong quan tài trống không, chỉ còn một tờ tấu, mặt trên viết: “Xin lỗi, tôi đi”.

Ngô chúa vì tưởng nhớ ông, lập một đền thờ nơi ông qua đời và đích thân tới bái lễ. Thường có hạc trắng bay lên đậu ở nóc đền, lâu lâu mới bay đi. Sau này đệ tử của ông ở Tân Trúc Sơn gặp ông, trong tay cầm một cành hoa đào trắng, dung mạo trẻ hơn trước nhiều.

Trong đạo thuật là nơi không thể nghĩ bàn, thường chứa ngụ ý rất sâu.Ví như lửa mạnh thiêu không cháy cỏ tranh ở đây ám chỉ đạo là siêu việt và thống nhất của mâu thuẫn, nó có thể kết hợp được nước và lửa, thiện và ác, sống và chết, thay lời, nó có thể vượt ngoài thế giới tương đối.

Đạo lý này trong Lão Tử, Trang Tử đêu có phân tích rõ ràng.


   
LÝ A

Lý A người nước Thục, thuộc thời đại Tam Quốc, trông ông luôn trẻ trung. Mỗi ngày ông ở trong thành thị xin cơm.Xin được chỉ đem cho người nghèo hết. Ông mỗi ngày đi từ sáng sớm đến chiều tối, không ai biết lai lịch của ông. Đương thời, có một người kêu là Cố Cường, hoài nghi Lý A là dị nhân, bám theo sau cùng ông về đến nhà, hai người bèn đi vào Thanh Thành Sơn. Cố Cường vì sợ trong núi có cọp, bèn giấu riêng một cây đao lớn. Lý A thấy thế tức giận nói: “Ông đi theo tôi, đâu cần gì phải sợ con cọp nữa”, rồi đem đao chém xuống đất gãy thành từng đoạn từng đoạn. Cố Cường trong lòng vẫn còn lo lắng, sáng sớm ngày thứ hai, Lý A liền hỏi ông: “Ông vì đao gãy mà không yên lòng phải không?”. Cố Cường đáp: “Tôi sợ cha trách mắng”. Lý A lấy dao gãy để trên mặt đất, cây đao tự nhiên y nguyên như trước.

Mồ hôm Cố Cường cùng Lý A về Thành Đô, trên đường đi bỗng gặp một người kéo xe ngang qua.Lý A dùng chân chống chiếc xa, xương chân bị gãy người cũng chết. Cố Cường đang giữ thi hài của ông, không bao lâu Lý A sống lại, chân ông cũng lành như cũ.

Lúc Cố Cường 18 tuổi gặp Lý A chừng 50 tuổi, đến khi Cố Cường 80 tuổi, dung mạo Lý A cũng không già thêm mà còn trẻ hơn lúc mới gặp nữa.

Một hôm, Lý A bỗng nói với Cố Cường rằng: “Núi Côn Lôn muốn mời ta đi”.Từ đấy không ai trông thấy Lý A nữa.
Trong Phật giáo có La Hán hàng long phục hổ, trong Lão giáo cũng thấy nhiều, đây là kết quả của nhân cách tu dưỡng, bỏ tâm sát cùng sự vật. Một mặt rồng cọp tượng trưng cho dục vọng của con người. Thơ của Vương Duy: “An tường chế độc long”. Rồng độc và cọp dữ đều là tượng trưng tính dục con người, muốn khắc phục nên biến hóa tài năng, minh tâm, kiến tánh, tương ứng với đạo.
   
   
TẢ TỪ

Tả Từ tự là Nguyên Phòng, người Lô Giang, ông học đạo ở Thiên Trụ Sơn biết biến hoá có thể sai khiến quỷ thần.Tào Tháo từng triệu kiến ông, bắt ông nhốt trong nhà tối không thông gió, nhịn ăn một năm, khi ra dung nhan vẫn như cũ. Có một lần Tào Tháo mở yến tiệc cho tân khách nói: “Hôm nay thức ăn gì cũng có, chỉ thiếu món cá Lô ở Tùng Giang”. 

Tả Từ liền đem thau đồng để đầy nước, dùng cần câu trúc câu cá. Không bao lâu câu được cá Lô. Tào Tháo lại nói: “Đáng tiếc, không có gừng của Tứ Xuyên!”. Tả Từ nói: “Việc này đơn giản”. Vừa nói xong, thì từ trong tay áo biến ra rừng.

Có một lần Tào Tháo ra ngoài thành đi chơi, sỹ đại phu cùng đi có hơn 100 người. Tả Từ vì họ biến ra một thăng rượu, một cân thịt, tự tay rót rươu mời rượu, bá quan đều no say. Tào Tháo rất kinh ngạc hỏi ông làm thế nào, lại xem trong hành lý của ông rượu thịt đều không thấy.

Tào Tháo rất ghét đạo thuật của Tả Từ, do đó muốn định giết ông.Ý niệm vừa khởi Tả Từ liền phát giác, ông bèn xẹt vào trong vách tường không  ai tìm thấy được. Có người nói ông xuất hiện trong thành thị.

Tào Tháo vội hạ lệnh bắt ông, không ngờ người trong thành đều biến thành hình giống Tả Từ, không biết làm cách nào. Lại có người nói thấy Tả Từ xuất hiện ở Dương Thành Sơn, Tào Tháo lại đi bắt, Tả Từ lại hóa thân làm con dê, núp trong đàn dê.

Tào Tháo biết mình không thể bắt ông được, bèn hạ lệnh không bắt ông nữa, vừa nói xong có một con dê già chắp tay nói: “Có thật thế không?”. Vừa nói xong, Tào Tháo lại bắt ông, không ngờ đàn dê đều biến thành dê già, đồng lời nói: “Có thật như vậy chăng?”. Tào Tháo không còn cách nào, cuối cùng phải chịu thua.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 02, 2011, 08:53:39 am
(tiếp theo)

VƯƠNG PHẠM CHÍ

Vương Phạm Chí là người Lê Dương, nơi đây, có một người gọi là Vương Đức Tổ, trong nhà ông mọc một cây hồng, trên thân cây có một cục bướu to, cục bướu lóng lánh. Vương Đức Tổ lấy đao đẽo ngoài da của cây, không ngờ từ trong cây có một đứa bé chạy ra ngoài.

Thằng bé lớn lên đến 7 tuổi mới biết chuyện, nó vừa mở miệng liền hỏi: “Ai sinh ra tôi thế?”. Vương Đức Tổ nói sự thật cho nó biết, do đây mà đặt tên là Phạm Thiên, sau này đổi là Phạm Chí.

Vương Phạm Chí bình thường ngoài tu tập còn làm thơ, thơ của ông tràn đầy tư tưởng Phật giáo, hoàn toàn không khuyên người tu đạo. Thi của ông rõ ràng như nói chuyện, lại u mặc chịu khó đọc. Có một bài thơ nói: “Thành ngoại thổ mạn đầu, hãm thực tại thành lý, nhất nhân ngật, nhất cả mạc hiểm một từ vị!”. Đương nhiên, thổ mạn đầu không cái gì khác là ngôi mộ.
   
HOÀNG SƠ BÌNH

Hoàng Sơ Bình là người Đan Khê triều Tấn, lúc 15 tuổi chăn dê trên núi, gặp được đạo sỹ, đạo sỹ dẫn ông đến trong hang đá của Kim Hoa Sơn. Hơn 40 năm trôi qua, anh của ông ta là Hoàng Sư Khởi tìm khắp nơi mà không gặp ông. Cuối cùng cũng gặp đạo sỹ, bảo ông ở trong Kim Hoa Sơn có một thằng bé chăn dê. Hoàng Sơ Khởi đi quả nhiên liền gặp Sơ Bình. Anh của ông hỏi dê đâu rồi? Sơ Bình nói dê đang ăn ở  phía đông núi này, anh ông chạy đi kiếm chỉ thấy một đống đá trắng, lúc đó nổi giận chửi mắng, không ngờ đang chửi mắng, mấy cục đá bỗng nhiên đứng dậy biến thành mấy vạn con dê. Anh của ông kinh ngạc, cũng bỏ vợ con đi học đạo luôn.
   

   
LAN CÔNG

Lan Công người Khúc Phụ, Sơn Đông, tính tình rất hiếu thuận, do đó mà cảm động được tiên nhân trong Đẩu tinh giáng xuống trong nhà ông. Tiên nhân tự xưng là Hiếu Đệ Vương, tên là Hoàng Khang.

Ông ta nói với Lan Công: “Đời sau sẽ có tiên nhân chân chánh tới truyền hiếu đạo cho tôi, người này sẽ thành bậc lãnh tụ của tiên nhân”.  Nói xong liền tặng cho Lan Công nhiều tấm bùa và kinh điển tu đạo, nhờ ông chuyển cho tiên nữ Thẩm  Mẫu của Đơn Dương Hoàng Đường Thanh.

Và dặn dò ông: “Sau này sẽ có một người học tiên tên là Hứa Tốn, ông nên cùng ông ta tu tập”. Tiên nhân nói xong liền dẫn ông ta ra ngoài thành dạo chơi. Họ trông thấy bên đường có ba ngôi mội cổ, tiên nhân chỉ Lan Công nói: “Đây là chỗ ba đời chôn thân ông. Mộ thứ nhất trong mộ để quần áo của ông khi chết. Mộ thứ hai chứa hình thể tu luyện của ông, mộ thứ ba chứa hình thể lột xác của ông. Bây giờ ông nên dời ngôi mộ này đến bên đường, đừng để cho người chăn dê, thú đạp lên”. Tiên nhân nói xong liền bay lên trời đi.

Lan Công đem đồ phó chúc của tiên nhân đưa cho Thẩm  Mẫu xong, trở lại dời ba ngôi mộ. Người đi đường cho ông là kẻ xấu trộm mộ, bèn mời huyện làng tới bắt ông. Lúc đó Lan Công nói qua một lượt lời của tiên nhân và cùng mọi người khai quật mộ.Mọi người nhìn thấy mộ thứ nhất có áo vàng, trong một thứ hai có người trẻ yếu ớt, mọi người như tỉnh cơn đại mộng. T

rong mộ thứ ba có một bộ xương, mọi người đều trố mắt câm miệng. Huyện lệnh bèn đưa bộ y phục cho Lan Công. Lan Cồng mặc vào liền nhập với người trong mộ làm một, mọi người chưa thấy rõ chuyện thế nào thì ông đã nhảy vọt lên mấy trắng bay đi.

Hiếu đứng đầu trăm hạnh, không kể là nho gia, tôn quí. Đạo gia cũng cho nó là nền tảng của tu đạo, người bất hiếu ngay cả con người còn không tốt huống nữa là tiên? Tiên thuật cua Lan Công khó bì kịp, nhưng hiếu để của ông đáng học tập.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 02, 2011, 08:57:12 am
(tiếp theo)

PHÍ TRƯỞNG PHÒNG

Phí Trưởng Phòng là người Nhữ Nam, ông làm chức quan nhỏ ở thị tỉnh.

Một hôm, có một ông lão vào trong thành bán thuốc. Ông ở trước cửa tiệm bán một cái hũ, bán xong thì nhảy vào trong hũ, người ở chợ không ai phát hiện được chuyện kỳ lạ này, chỉ có Phí Trưởng Phòng ở trên lầu bất chợt nhìn thấy. Ông vì hiếu kỳ chạy đi hỏi thăm ông lão đó, không ngờ ông lão đó lại cùng ông nhảy vào trong hũ.  Phí Trưởng Phòng định mắt nhìn chỉ thất trong hũ toàn ngọc đường giàu đẹp đàng hoàng, đến đâu cũng đều rượu ngon người đẹp, ông lão mời ông ngồi cùng ăn uống, ăn no xong mới nhảy ra khỏi cái hũ nhỏ. Ông lão dặn ông dù thế nào cũng không nên tiết lộ bí mật.

Dần dà, Phí Trưởng Phòng cùng ông lão trở thành bạn tốt, hai người họ thường trong hũ uống rượu làm vui, nói chuyện rất ăn ý. Có một hôm ông lão tiễn Phí Trưởng Phòng lên lầu, bảo ông vốn là thần tiên trên trời, vì phạm tội mà bị đày đọa xuống nhân gian, nay kỳ phạt sắp hết, ông muốn về trên trời, ông còn hỏi Phí Trưởng Phòng muốn cùng ông lên trời không, nếu như không được, ông lão hy vọng cùng ông uống rượu chia tay.

Phí Trưởng Phòng kêu người xuống lầu lấy rượu, rươu nặng quá người kia cả buổi xách lên không được, ông gọi mười người đi khiêng không nhúc nhích. Ông lão cười không nói, đi xuống lầu, không bao lâu, thấy ông chỉ dùng một tay xách bình rượu đưa lên. Phí Trưởng Phòng chỉ thấy có hơn một thăng rượu, không ngờ hai người uống cả ngày không hết.

Phí Trưởng Phòng rất muốn cầu đạo, nhưng ông không yên lòng cho người nhà. Ông lão biết tâm ý của ông, bèn chặt gẫy cây trúc xanh, độ  dài bằng dáng người Trưởng Phòng, đem cây trúc treo phía sau nhà, người nhà thấy đều cho Trưởng Phòng chết treo, cả nhà khóc lóc đau đớn, rồi đem “ông”đi táng. Phí Trưởng Phòng đang đứng bên cạnh mà mọi người không trông thấy ông. Lúc đó, ông đi theo ông lão vào núi sâu tu tập.

Ông lão vì muốn thử ý chí của Trưởng Phòng, biến ra nhiều huyền thuật thử ông. Ông ta bảo Trưởng Phòng nằm trong nhà trống, trên cột nhà treo một cục đá nặng vạn cân, lại phóng ra một bầy rắn cắn dây thừng, mắt nhìn dây thừng muốn đứt,mà mảnh đá thì muốn rơi, còn Trường Phòng thì bất động. Ông lão rờ đầu ông nói: “Ngài thật giỏi!”. Ngày thứ hai, ông lão kêu Phí Trưởng Phòng ăn phân, trong phân có ba con trùng, vừa đỏ vừa thối. Phí Trưởng Phòng bất giác khởi tâm nổi giận chán ghét. Ông lão than nói: “Ông hầu như muốn đắc đạo, đáng tiếc chưa qua cuộc thử thách!”. Phí Trưởng Phòng tự cảm thấy xấu hổ, lúc đó bèn cáo từ với lão ông. Lão đưa cho ông một cây gậy trúc nói: “Cưỡi cây gậy trúc này, ông có thể đi đến nơi nào ông muốn, khi đã đến không nên quăng cấy gậy trúc xuống đất”. Lão ông còn cho ông một đạo bùa, nói: “Đạo bùa này có thể sai khiến quỷ thần”.

Phí Trưởng Phòng nhảy lên trên cây gậy trúc ông lão đưa, trong chốc lát thì đã về đến nhà, ông cảm thấy mình đi chẳng qua mới chừng mười ngày, không ngờ thực tế nhân gian đã hơn 10 năm. Ông quăng cây gậy trúc xuống đất, quay đầu lại xem thì là một con rồng. Người nhà của ông cho ông là đã chết, trông thấy ông về đều kinh ngạc không tin. Phí Trưởng Phòng nói: “Các con đã chôn ta, kỳ thật chỉ là một cây gậy trúc”. Người nhà quật mồ xem, trong quan tài đỏ choét chỉ có một cây gậy trúc, bây giờ mới tin Phí Trưởng Phòng nói thật.

Phí Trưởng Phòng được ông lão chỉ điểm, bây giờ có thể trị bách bệnh, trừ đuổi quỷ thần. Có khi thấy ông bỗng nhiên nổi giận, người nhà hỏi, mới biết  ông trách phạt quỷ mỵ. Có lúc lại trông thấy ông trong vòng một ngày xuất hiện các nơi xa ngoài ngàn dặm.

Thời đó, có người tên là Hoàng Cảnh, từng học đạo với Phí Trưởng Phòng. Một hôm, ông nói với Hoàng Cảnh rằng: “Mồng 9 tháng 9 hôm đó, nhà của ngươi sẽ bị tai nạn lớn, người nên làm một cái túi màu hồng, lấy dậy thù du buộc trên cánh tay, sau đó đi lên núi cao, uống rượu hoa cúc, thì tai họa có thể tránh khỏi”. Hoàng Cảnh làm theo lời ông dặn dò, đến hôm mồng 9 tháng 9,cả nhà họ đều đi lên núi, chạng vạng mới về, phát hiện trâu, dê, gà, chó đều chết hết. Do sự việc này,sau này dân gian có phong tục đến ngày trùng cửu thì lên núi cao. Trải qua các đời thi nhân, mặc khách vì chuyện này làm rất nhiều thơ hay trong đó có bài thơ nổi tiếng của Vương Duy “Cửu nguyệt cửu nhật ức sơn đông huynh đệ”:

“Độc tại dị hương vi dị khách
Mỗi phùng giai tiết bội tư nhân
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
Thiên pháp thái du thiếu nhất phân”.

Trưởng Phòng tuy là người có pháp thuật nhưng cuối cùng không thành tiên. Ngược lại, ông lão dạy đạo thuật cho ông, ông ta tuy không để lại tên tuổi, nhưng hành tung kỳ lạ của ông trái lại làm người đời sau tôn xưng là đạo.

   
   
VƯƠNG CHẤT


 Vương Chất người địa phương Cù Châu triều Tấn. Một hôm ông vào núi đốn cây, bất  ngờ đi đến trong hang đá, thấy trong hang có mấy đồng tử đang đánh cờ. Vương Chât để cái búa xuống nhìn. Đang lúc chăm chú nhìn, có một đồng tử đưa cho vật gì giống con cờ màu đỏ cho ông và bảo để vào trong miệng. Vương Chất hiếu kỳ tiếp lấy,  không ngờ ông chỉ nuốt vào một chút ít nước bọt thì cảm thấy không khát, cũng không thấy đói nữa.
Qua một lát sau, một đồng tử nói với ông: “Ông đến đây rất lâu rồi, nên trở về nhà đi!” Vương Châu vác chiếc búa lên, không ngờ cán búa gỗ đã mục nát. Ông rất kinh ngạc vội vàng chạy xuống núi, về đến nhà thì nhân gian đã mấy trăm năm, bạn bè thân thích không còn một người. Vương Chất hiểu ra bèn trở lại trên núi, không bao lâu cũng được đắc đạo.
   

PHÙNG CẦU

Phùng Cầu tự là Bá Kiên, người Bắc Hải, Tấn Võ Đế khoảng niên hiệu Thái Thủy, ông đến. Bối Khưu Tây Ngọc Nữ sơn đi đốn cây, bỗng nghe có mùi hương lạ.Phùng Cầu không nhịn được hiếu kỳ bèn theo gió đi tìm, không bao lâu núi đá lại tự động mở ra, chỉ thấy bên trong xuất hiện cung điện đền đài nguy nga, tráng lệ. Phùng Cầu nhè nhẹ đi vào lại phát hiện năm cây ngọc đứng cao vòi vọi, dưới gốc cây có tiên nữ đang đánh cờ. Lúc ấy họ phát giác có người đi tới, đều chạy lại nói: “Phùng Sinh, ngài đến đây làm gì?” Phùng Cầu chỉ còn nói thật. Tiên nữ nghe xong yên lòng đánh cờ.

Phùng Cầu ở dưới gốc cây cả ngày bụng đói, bèn dùng đầu lưỡi liếm sương trên lá cây, bỗng nhiên có một tiên nữ cưỡi hạc bay qua, kêu lớn nói: “Ngọc Hoa, Ngọc Hoa, các ngươi làm gì để cho người trần tục đến đây?” Phùng Cầu kinh ngạc bỏ chạy. Vừa quay đầu thì tất cả đều không thấy, về đến nhà thì nhân gian đã qua mấy đời.

   
   
TÔN ĐĂNG

Tôn Đăng tự là Công Hòa, ông ở trên hang trong Hấp Quận Bắc Sơn. Mùa hạ bện cỏ làm áo mặc, mùa đông thì xõa tóc để ấm. Ông khéo về thổi tiêu, thích đọc Kinh Dịch, rãnh rỗi thì đàn cầm, tính tình ôn hòa, không thường thay đổi vui hay giận hờn.

Danh sĩ đương thời là Kê Khang Tằng cùng ông qua lại, trải qua ba năm.Kê Khang hỏi mãi không hiểu chí nguyện của Tôn Đăng. Nhưng sự thần diệu của Tôn Đăng khiến Kê Khang kính phục. Có một hôm Kê Khang hỏi đạo riêng với Tôn Đăng: “Cùng ngài tới lui lâu như thế, lẽ nào không cho tôi một chỉ giáo!”.

Tôn Đăng nói: “Ông hiểu rõ tính lửa không? Lửa, trời sinh ra có ánh sáng lại không dùng ánh sáng, người sinh ra có tài lại không dùng cái tài của họ, nếu dùng ánh sáng phải dùng củi để giữ ánh sáng, dùng tài nên có kiến thức để giữ sinh mạng”. Kê Khang nhờ dạy nghệ thuật đàn cầm, Tôn Đăng lại không chịu dạy, ông nói: “Tài của ông nhiều nhưng kiến thức không sâu xa, sợ e gặp họa!”.

Sau này quả nhiên Kê Khang bị hại hạ ngục, lúc này ông mới hối hận, làm thơ nói: “Tích tạm hạ huệ, Kim Quí Tôn Đăng”. Còn Tôn Đăng, không bao lâu đắc đạo về trời.

Lão Tử nói: “Quang nhi diệu”. Đạo lý này do Tôn Đăng giải thích rất rõ ràng tháu thiết.
   
   
(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 03, 2011, 08:33:48 am
(tiếp theo)

CÁT HUYỀN


Cát Huyền tự Hiếu Tiên, người Đơn Dương Cú Dung, biệt hiệu Cát Tiên Công, ông học đạo với Tả Từ, từng cùng tân khách ăn uống bàn chuyện đạo lý biến hóa. Khách yêu cầu ông biểu diễn thử, Cát Huyền bèn ho một tiếng, cơm trong miệng lập tức biến thành cả trăm con ong mật bay tụ quanh mấy người khách. Cát Huyền lại há mồm, ong mật lại đều bay trở lại biến thành hạt cơm. Pháp thuật của Cát Huyền rất nhiều, ông có thể chỉ điểm người đã nhường đường ông đi, lại có thể bảo bảo tôm hùm, côn trùng, chim sẻ v.v… ca múa.

 Lúc ông mời khách, mùa đông biến ra dưa táo, mùa hạ biến ra băng tuyết. Có một lần ông cầm mười mấy tấm phách đồng cho người quăng xuống giếng, sau đó lại đến miệng giếng kêu to, mấy tấm đồng vừa nghe kêu từng cái bay khỏi đáy giếng.

Cát Huyền cùng khách đối ẩm không cần tự mình cầm ly, cái ly tự động bay qua. Tấn Vũ Đế có một lần đi tìm ông, hỏi lâu quá vì sao không mưa, có thể tạo mưa được không. Cát Huyền nói có thể, liền vẽ một đạo bùa dán ở trong nông xá, không bao lâu mưa xuống như xối.

Cát Huyền từng qua miếu thần, phàm ai qua đó, cách khoảng trăm bước đều phải xuống xe đi bộ, nếu không sẽ gặp điều bất lợi. Bên miếu có mười mấy gốc đại thọ, trên cành có nhiều chim thú, mọi người không ai dám bắt. Cát Tiên Công hiểu việc này, ra lệnh cho xe thẳng qua. Vừa đi, bỗng nhiên gió lớn nổi dậy, bụi bay mịt mù, người  hầu đều kinh hãi. Tiên Công chửi lớn: “Tiểu quỷ sao dám vô lễ?”.Ông đưa tay chỉ gió, gió liền ngừng, ông lại vẽ một đạo bùa, để tùy tùng dán trước cửa miếu. Vừa dán xong chim ở trên cấy té xuống đất chết, còn miếu cũng tự động thiêu cháy luôn.

Có một lần Cát Tiên Ông qua đường Võ Khang, thấy một người trong nhà kia phát bệnh, thì ra là yêu quái nhập vào, yêu quái mời Tiên Công uống rượu, Tiên Công cự tuyệt không uống, yêu quái chửi lời thô tục.Tiên Công nghe xong bảo nó rằng: “Yêu quái sao dám vô lễ!” Nói xong, ông lập tức triệu Ngũ Bá đến bắt nhốt lại, buộc trên cấy cột. Một lúc chỉ nghe tiếng yêu quái bị roi da đánh, máu chảy khắp đất, yêu quái cuối cùng nhận tội.

Lại một lần Tiên Công đi qua đường Hoa Âm, trông thấy một chàng thư sinh bị xà tinh mê hoặc. Tiên Công biến thành một người nông phu, dắt bò cày ruộng, ông vừa nói với chàng thư sinh: “Người hãm thân vào một nơi đáng sợ, vợ của ngươi là một con rắn, trước đến nay đã ăn thịt rất nhiều người”. Thư sinh không tin. Tiên Công bèn dẫn anh ta đi xem một cái miệng giếng cũ, trong giếng có một đống xương người. Thư sinh kinh hoàng thất sắc. Tiên Công lại bảo anh ta âm thầm quan sát, phát hiện vợ anh ta thật sự là một con rắn, nhăn nanh trợn mắt khoanh tròn trong màn trướng, bên mình còn có một con rắn nhỏ.Tiên Công thừa cơ hội, bất ngờ rút kiếm chặt, lập tức có vô số con rắn con bò ra cầu cứu. Tiên Công giết sạch toàn bộ chúng nó. Trước khi đi, Tiên Công cho thư sinh một đạo bùa, thư sinh uống vào sau đó đi tiêu ra các loại trùng, giun, tôm, tép… Thư sinh do đây mà luyện tập cứu mạng mình.

Cát Tiên Công từng ở Kinh Môn Quận, Tử Cái Sơn tu luyện, trời lạnh băng giá,mà Tiên Công đi chân trần, y áo lam lũ. Lúc đó, có người nhà của ông họ Khuất, hai người con gái của ông này trông thấy Tiên Công thương xót, bèn bện một đôi giày biếu cho ông mang. Nhưng đợi họ làm xong Tiên Công đã đi rồi, chỉ để lại một cái lò, tro hãy còn nóng. Hai người con gái bới tro tìm được một viên thần đơn, hai chị em chia nhau uống mỗi người nửa viên, từ đấy tinh thần mạnh khỏe, không đói, không khát, cuối cùng nghe nói họ cũng thành tiên.

Cát Tiên Công từng cùng Ngô Chúa mỗi vị một chiếc thuyền đi đến Tam Giang Khẩu, lúc đó gió bỗng nhiên nổi dậy, nhiều thuyền bè bị đánh chìm, thuyền của Tiên Công không biết đi đâu, Ngô Chúa không nén nổi than rằng: “Cát Tiên Công đã có đạo, vì sao không tránh được họa chứ!”. Qua một đêm, ông thấy  Tiên Công từ trên mặt nước đi đến, gương mặt còn nét say rượu. Ông nhìn Ngô Chúa xin lỗi nói: “Hôm qua Ngũ Tử Đế cương quyết mời tôi đi uống rượu, do đó đã làm dây dưa cuộc hành trình của bệ hạ.”

Một hôm, Tiên Công đi chơi ở Hội Kê, có một thương nhân đi biển trở về, đi ngang qua một miếu thần. Thần miếu mời ông thuận tiện đưa một bức thư cho Cát Tiên Công, nói xong đưa bức thư để trên thuyền. Người thương gia khi về đưa cho Tiên Công. Ông mở thư xem thì ra thư của Đông Hoa Sơn Đông Quân gởi đến. Trên thư đề “Thái Cực Tả cung tiên thư”. Người đời mới biết Cát Tiên trước kia đã có tên trên trời.

Tiên nhân Cầm Cao nghe nói Cát Huyền đắc đạo, ở xa ngoài Đông Hải cưỡi con cá chép đến thăm ông.Tiên Công cùng ông đối ẩm, Cầm Cao không ngờ bị say mèm, Cao nằm chỗ mấy trắng ngủ, sau khi tỉnh rượu, con cá chép đã hóa thành đá. Tiên Công tặng cho Cầm Cao một con hạc, để ông cưỡi đi về, con cá biến thành đá đó nghe nói vẫn còn mãi đến bây giờ.
   
   
NGÔ MÃNH

Ngô Mãnh tự là Thế Văn, người Bộc Dương, từ thuở nhỏ rất hiếu thuận, làm quan Tây An Lịnh ở nước Ngô. Ồng từng được tiên chỉ điểm, và tinh thông các thứ pháp thuật.

Có một lần ông trông thấy gió biển dữ dội liền vẽ một đạo bùa quăng lên nóc nhà, lập tức có chim xanh bay lại ngậm lá bùa bay đi mà gió cũng ngừng luôn. Có người hỏi ông về việc này, Ngô Mãnh nói: “Thì ra Nam Hồ có chuyện sóng lớn, hai đạo sỹ nhờ ông cầu cứu!” Sau này sự thật quả nhiên chứng minh lời của ông nói đúng như thế.
Huyện lệnh Tây An là Can Khánh đã chết ba ngày, Ngô Mãnh lại nói:”Dương thọ của Huyện lệnh vẫn chưa kết thúc, tôi muốn lên trời xin cho ông”. Lúc đó, ông bèn nằm bên thi hài của huyện lệnh, qua mấy ngày lại cùng huyện lệnh sống lại.

Ngô Mãnh mỗi lần qua sông, gặp sóng to gió lớn, thì lay động cây quạt lông bơi qua sông. Hứa Chân Quân năm ấy bay lên trời, Ngô Mạnh cũng cưỡi xe trắng nai trắng bay lên trời luôn.
   
NGÔ THÁI LOAN

Ngô Thái Loan là con gái của Ngô Mãnh, bà lúc còn trẻ đã tu thành đạo rồi. Thời nhà Đường niên hiệu Thái Hòa năm cuối có một thư sinh tên Văn Tiêu, ở Trùng Lăng Tử Cực Cung, mùa thu năm đó đi chơi đến Tây Sơn, thấy một thiếu nữ dong dỏng cao, ca hát, trong tiếng hát nói ra tên của ông, bày tỏ ra tình cảm ái mộ.

Hai nhịp đập cùng hàm chứa một tình cảm, họ cùng nhìn nhau mãi cho đến tiếng ca ngừng lại, thì ra vị thiếu nữ này là Ngô Thái Loan.

Thái Loan dẫn vị thư sinh này leo lên cái nhà trên đỉnh núi, trong đó bày ra các thứ ký lạ, đều là đồ khéo léo ở nhân gian không tìm thấy được.

Hai người nồng nhiệt một lần, bỗng nhiên mưa to gió lớn nổi dậy, đồ đạc bị hư hết, trong mưa gió xuất hiện một tiên đồng, chỉ họ chửi rằng: “Ngô Thái Loan vì sao có lòng dục riêng tư tiết lộ thiên cơ, phải chịu giáng chức xuống nhân gian 12 năm. Lúc đó Ngô Thái Loan chỉ còn cung Văn Tiêu trở về Trùng Lăng.

Văn Tiêu vốn là một thư sinh nghèo, cuộc sống cực khổ thanh đạm, Ngô Thái Loan vì giúp đỡ gia kế nên đi vào trong thành bán chữ, mỗi lần cô hạ bút vừa nhanh lại vừa đẹp, mỗi ngày bán một cuốn đươc năm xâu tiền vàng, viết như thế mười năm, cô dần nổi tiếng thành một nữ thư pháp được mọi người bội phục. Nhưng Ngô Thái Loan vốn là người thần tiên, đợi đến kỳ hạn giáng chức vừa mãn, cô cùng Văn Tiêu hai người về Tây Sơn tu luyện, sau này có thấy hai vợ chồng họ, mỗi người cưỡi môt con cọp , ở trên đỉnh núi hay đi rong chơi.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 03, 2011, 08:38:11 am
(tiếp theo)

HỨA TỐN

Hứa Tốn tự là Kinh Chi, huyện Chiêu Quận, người Nam Xương. Triều Ngô niên hiệu Xích Ô năm thứ hai, mẹ ông nằm mộng thấy con Phượng Hoàng ngậm viên ngọc châu rơi trong lòng bàn tay, bà đùa chơi một lúc rồi nuốt vào, khi tỉnh mộng bỗng nhiên bị một trận đau bụng, do đó mang thai sinh ra Hứa Tốn.

Hứa Tốn lúc nhỏ thông minh hơn người, tướng mạo to lớn tuấn tú, tinh thần hiền hòa, không bao giờ cùng người khác tranh cãi. Có một lần ông cùng các bậc cha chú đi săn bắn, bắn trúng một con nai nhỏ mà nai mẹ lại đứng bên con lưỡi lè liếm đầu mãi. Hứa Tốn trông thấy tỉnh ngộ trong lòng, bẻ gãy cung tên, một lòng cầu đạo. Ồng đối với các phương diện kinh sử, thiên văn, địa lý, âm nhạc, ngũ hành đều rất tinh thông, say mê nhất là đạo thuật của thần tiên tu luyện. Ông nghe nói ở Tây An có Ngô Mãnh đắc đạo, bèn đi bái ông làm thầy, đắc được bí truyền của Ngô Mãnh. Sau đó, ông lại bái Quách Phác, định cư tu tập tại Tiêu Diêu Sơn. Lúc ấy ông mua một cái giá đèn bằng thiếc, tối dùng để đốt đèn. Có một hôm ông trông thấy nơi dầu nhiễu xuống có ánh sáng chớp chớp, ông nhìn kỹ thì ra là vàng. Ngày thứ ba, sáng sớm ông đem giá đèn trả lại cho người bán.

Tấn Vũ Đế niên hiệu Thái Khương nguyên niên, ông được tuyển cử làm Hiếu Liêm, phái đến huyện Kỳ Dương nhậm chức.Năm đó, ông bốn hai tuổi, thường ngày dạy chúng dân nên trung hiếu, nhân nghĩa, cần kiệm, nhẫn nhục. Ông phán án như thần, dân chúng đều phục tùng. Khi mùa thu bị thất, dân chúng không chịu nộp thuế, Hứa Tốn dùng linh đơn điểm ngói thành vàng, kêu người chôn dưới đất, sau đó để cho một vài người nông dân không có khả năng nộp thuế ở trên đất cày ruộng gieo giống, họ vừa cày thì bới lên gặp vàng, lúc đó đem vàng ấy đến nộp thuế.
Có một năm trong huyện bệnh ôn dịch lan rộng, dân chúng bị bệnh chết mười bay mười tám người. Hứa Tốn dùng thần dược tới cứu họ, một lúc trị được rất nhiều người.Quận kế bên người bệnh nghe nói cũng tới mỗi ngày hơn 1000 người. Hứa Tốn lúc đó cắm cấy trúc ở trên sông ngoài 10 dặm, người bệnh chỉ cần uống nước ở cây trúc thì mạnh khỏe.

Hứa Tốn làm huyện một thời gian ngắn, sau đó đoán triều Tấn sắp phát sinh ra biến loạn, ông từ qua về quê. Dân chúng ở Tứ Xuyên  vì cảm mến ân đức của ông, bèn lập miếu thờ nơi ông đã làm quan, mọi người đều cúng hình vẽ của ông.

Trước ngày ông đi, người ta chen chúc tiễn ông đầy cả làng, có người còn tiễn ông đi ngàn dặm mới trở về, thậm chí còn có người muốn đến nhà ông hầu hạ không chịu trở về nhà.

Có một lần Hứa Tốn nghỉ trong vườn cây, có năm nữ đồng (con gái nhỏ) mang kiếm báu hiến cho ông. Hứa Tốn cảm thấy kỳ lạ cũng tiếp nhận. Không ngờ năm đứa con gái này cũng muốn cùng ông trở về nhà, mỗi ngày luyện kiếm cho ông xem, cho ông giải sầu, Hứa Tốn mới biết họ là Tiên Kiếm, do đó không bao lâu Hứa Tốn cũng học được dụng pháp của thần kiếm.

Hứa Tốn cùng với đạo sỹ Ngô Quân cùng nhau đi đến Đơn Dương Hoàng Đường dạo chơi, họ nghe nói Thẩm  Mẫu có nhiều pháp thuật, bèn bái thăm bà, và nhờ bà chỉ dạy diệu đạo. Thẩm  Mẫu bảo họ rằng: “Hai vị đều là tiên phong đạo cốt, có tiên tịch tại thiên cung. Ngày xưa Hiếu Đế Vương từng tại Khúc Phụ, trong nhà Lan Công, từng nói với Lan Công, triều Tấn đời sau sẽ có thần tiên Hứa Tốn tới truyền pháp thuật cho ta, ông ta sẽ là lãnh tụ của chư tiên. Hiếu Đế Vương còn cất giữ kim đan bảo tánh, đồng phù thiết quyển giao cho tôi giữ lại để đợi ngài tới, tôi đợi rất nhiều năm, ngày nay chính là lúc phải giao cho ngài!”.

Lúc đó, Thẩm  Mẫu chọn ngày Hoàng Đạo, lên trên thần đàn lấy bảo vật của Hiếu Đế Vương để lại năm xưa, toàn bộ trao cho Hứa Tốn. Đồng thời, Thẩm  Mẫu lại nhìn Ngô Quân nói: “Ngài hồi trước đã từng sư phụ của Hứa Tốn, mà nay đạt đạo thuật của Hiếu Đế Vương chỉ có Hứa Tốn được chân truyền, ngài nên bái ông làm thấy trở lại mới đúng. Hà huống có huyền phả Ngọc Hoàng, chức vị của Hứa Quân rất cao, tổng lĩnh tiên tịch do đó ngài nên đối với ông ta tôn kính như bậc tôn trưởng mới phải”. Thẩm  Mẫu nói xong, hai người tạ từ mà đi. Hứa Tốn trước khi đi trong lòng nghĩ, nên mỗi năm đến bái thăm bà ta mới phải, ông mới vừa khởi nghĩ, Thẩm  Mẫu biết liền. Bà lập tức nói với Hứa Tốn: “Ông không cần phải tới, ta không bao lâu nữa sẽ lên trời rối!”. Bà đang nói liền cầm cây cỏ thơm, quăng lên phía nam nói: “Ông về mau đi, cỏ rớt chỗ nào, ông nên vì ta lập đền thờ ký niệm nơi đó, mỗi năm vào mùa thu ông đến đó một lần là đủ”.

Hai người về đến nhà sau đó tìm nơi cỏ thơm rớt, cuối cùng tìm được một vùng phía hướng nam hơn 40 dặm, lúc ấy cây cỏ đã mọc sum xê, lúc đó hai người liền xây dựng miếu thờ, mỗi năm trung thu đều đến lễ bái. Lúc bắt đầu làm, Hứa Tốn đi đến đền thờ, phát hiện dân ở thôn giết trâu dê để tế thần và còn nói không sát sinh thì thần sẽ nổi giận giáng họa. Hứa Tốn nói: “Đây nhất định là có yêu quái làm càn!”. Ông liền vào trong nhà trọ nghỉ, triệu lại sấm gió thổi tốc cây rừng hết. Ngày thứ hai ông thông báo với mọi người ở trong làng: “Yêu quái đã trừ khử, không cần phải sát sanh cúng lễ”.

 Lại có một lần Hứa Tốn thấy dân làng sử dụng nguồn nước rất xa, dùng nước thật khó khăn, ông liền lấy cây gậy đâm xuống mặt đất, nước suối vọt lên để cho mọi người trong làng uống, dòng suối này dù hạn hán thế nào cũng không khô cạn.
Một lần Hứa Tốn ở Tứ Xuyên, có người họ Châu tiếp đãi rất ân cần, ông rất vui mừng, bèn vẽ một cây tùng trên vách tường nhà họ Châu. Sau này sông Thục vỡ đê, nước sông tràn ngập, trong thành tất cả đều thiêu hủy hết, chỉ có bức tranh cấy tùng trên tường không một chút hư hao, cả nhà họ Châu nhân đó bảo tồn được tính mạng và tài sản.
Hứa Tốn đã từng luyện đan ở Nghê Thành Hoàng Long Sơn, trong núi có Giao Long thường dâng nước lớn phá hủy nhà cửa thuyền bè. Hứa Tốn lúc đó mới thân binh đến bắt Giao Long, đóng trên vách đá, từ đó không còn gây tai nạn nữa. Hứa Tốn trên đường qua huyện Tây An, thổ địa xứ này cũng bái kiến ông, Hứa Tốn hỏi ông ở đây có yêu quái hại không, thổ địa nói có Giao Long làm hại dân chúng, nhưng nó nghe Hứa Quân đến đã chạy trốn đến  bãi Ngạc. Hứa Tốn lập tức đuổi đến bãi Ngạc, trên đường gặp ba ông già vừa chỉ vừa nói: “Giao Long núp dưới cầu phía trước”.

ứa Tốn lên cầu cầm kiếm chửi lớn, Gao Long lập tức chạy loạn vào sông, nấp chỗ sâu. Hứa Tốn triệu tập thần binh lại đuổi, Giao Long từ trong dòng nước nhảy ra, Hứa Tốn chém một nhát chết tươi.Sau đó, ông nghe nói có một xứ khác ở đất Ngô cũng có Giao Long. Hứa Tốn lần này thay đổi biện pháp, ông vẽ bùa trên tảng đá, làm một bài văn trấn Giao Long, từ đó Giao Long cũng không thể làm hại được.

 Ngoài ra, ở Thượng Liêu cũng có một con rắn, dựa núi làm hang, phun khí thành mây, người và súc vật trong phạm vi hơi thở của nó 40 dặm đều bị nó nuốt hết, không sót một con nào, chiếc thuyền trên sông hồ thường bị con rắn lớn này đánh úp. Hứa Tốn biết sự việc này, bèn tập hợp đệ tử cùng truy sát.

Đúng lúc ông vừa tới, dân chúng xa gần hơn 300 người đều nghe gió thổi đến, họ đều nhờ ông cầu cứu. Hứa Tốn đáp lại lời chắc chắn vì họ trừ hại.

Ông đi đến nơi rắn ở, vung kiếm thần, rắn sợ hãi chui vào trong động. Hứa Tốn vẽ bùa triều thần biển rượt đuổi, con rắn bò ra, nó ngước đầu cao mấy trượng, mắt giống như lửa, khí độc xung thiên, dân làng la lớn để trợ chiến. Lúc bấy giờ Hứa Tốn kêu gió hú lôi,chỉ huy thần binh cùng tiến lên đè cứng nó, chân dẫm lên đầu nó chém một nhát đứt làm hai khúc. Đệ tử của ông cùng lúc đâm vào bụng rắn, có rắn con trong bụng bò ra, dài mấy trượng, đệ tử cầm kiếm chặt đứt. Hứa Tốn nói: “Rắn nhỏ không hại dân chúng, không nên giết loạn như thế”. Rắn nhỏ sợ hãi bò ra sáu bảy dặm, nghe thấy người ta lào xào cũng không dám quay đầu nhìn xác của mẹ chúng nó.

Đệ tử Hứa Tốn xin được đuổi theo giết, Hứa Tốn lại nói: “Rắn nhỏ này 1250 năm sau mới có thể hại dân chúng, lúc đó ta sẽ đích thân đến giết nó. Bây giờ trước đàn cây bách làm chứng, khi nào nhánh cấy rũ xuống mặt đất, chính là ngày ta xuống núi giết rắn”.  Ông còn có một lời tiên đoán” Khi ta lên trời 1240 năm sau, tại xứ Dự Chương sẽ xuất hiện 800 vị địa tiên, họ sẽ phát dương giáo nghĩa của ta. Khi giữa sông xuất hiện một bãi cát lâp miệng giếng thì ngày đó đến. Lúc đó, nếu như rắn con làm hại, 800 vị địa tiên sẽ giết nó”. Rắn con thừa cơ chạy chết non nửa.

 Hứa Tốn nói: “Rắn lớn tuy chết, tinh hồn của nó đã linh thông, chắc chắn biết cách nghĩ của ta, ta sợ nó sẽ trộm lén đánh thành để báo hận. Ta cần phải trở về quận thành.”.
Hứa Tốn do đạo thuật cao minh, xa gần nổi tiếng,có mấy trăm người muốn làm đồ đệ, ông đều không nhận, ông âm thầm lấy cây than biến thành người con gái đẹp, ban đêm để cho các đệ tử đến xem thử. Ngày thứ hai, sáng sớm chỉ còn lại mấy người không bị cám dỗ, còn lại xấu hổ đi dần hết.

Hứa Tốn bèn dẫn hai người đệ tử tốt nhất về quận.Lúc đó họ ở trong quận vui chơi gặp một thiếu niên phong độ nhẹ nhàng, biểu thị một nhân tài. Thiếu niên đó tự giới thiệu mình là họ Thận, lễ phép từ tốn, ứng đối tự nhiên, giới thiệu xong rồi đi, Hứa Tốn bảo với đệ tử rằng: “Vừa rồi thiếu niên ấy không phải là người, nó là con Giao Long già, cố ý hóa thân đến thử ta, tướng mạo nó giống chân thật nhưng cái mùi bức hiếp người, do đó ta làm bộ không biết để nó lộ mặt ra”.

Hứa Tốn dẫn đệ tử tiếp tục đi đuổi xét đến bờ sông quận thành, con Giao Long già hóa làm con bò nằm trên bãi cát. Hứa Tốn cắt chỉ biến thành con trâu đen đi đụng lộn với nó, chém trúng đùi của con bò, con bò chạy vào trong cái giếng của thành ở phía nam. Hứa Tốn vẽ đạo bùa đuổi theo dấu vết, phát hiện nó đến trong giếng ở Trường Sa biến thành hình người, bây giờ đã chạy vào nhà Giá Ngọc sứ quân.
Hứa Tốn đuổi theo la lớn: “Giang hộ giao long, hại ngườ quá lắm, ta đã tới rồi, ngươi còn không chịu  mau ra đây”. Giao Long cùng kế, chỉ còn hiện nguyên hình, bò trên mặt đất, bị sứ binh giết chết.Hứa Tốn dùng nước phun, hai con Giao Long nhỏ cũng chết luôn.

Hứa Tốn đến bãi Dự Chương, dư đảng của Giao Long rất nhiều, sợ bị giết chết lúc đó bèn biến thành người, đi dạo trong thành,chúng nó chạy đi bái kiến đệ tử của Hứa Tốn, nói  dối: “Nhà tôi ở Trường An, đời đời làm lành, nghe nói thầy của các ông Hứa Chân Quân có thần kiếm không biết tính năng thế nào?”.

Đệ tử đáp nói: “Thần kiếm của thầy chúng tôi, chỉ trời trời vỡ,chỉ đất đất nứt ra, chỉ sao thì sao loạn, chỉ sông hồ thì sông hồ cháy ngược dòng, vạn tà không chống nổi, mà còn được thánh hiện bảo hộ nữa”. Giao Long lại hỏi: “Có phải kiếm thần hại không được vật gì chăng?”. Đệ tử giỡn nói: “Có hộ thần tuy bén nhưng không thể thương hại hồ lô!”. Mấy con Giao Long tinh tin là thật, lúc đó bèn biến thành hồ lô trôi đầy sông, muốn định trốn đi luôn.

Hứa Chân Quân vừa tỉnh dậy sớm, cảm thấy yêu khí mù mịt, nhìn trong dòng sông, chỉ phát hiện mấy trái hồ lô đều là hóa thân của giao long tinh. Ông lấy thần kiếm đưa cho đệ tử, lội xuống nước giết không còn sót một con nào. Kiếm thần vừa chạm vào nước ở sông đều biến thành một màu đỏ tươi.Hứa Chân Quân nói: “Đây là sào huyệt của Giao Long, không tìm cách trấn áp, sau này xuất họa loạn thì ngươi không thể chế phục được”.

Ồng nhân đây triệu tập quỷ thần ở thành nam, đúc thiết làm cột, lại ở ngoài miệng giếng mấy thước, buộc 8 cây cột vừa cao vừa to trát chất kim loại vào, để khóa chặt mạch nước, chú ngữ trên trên cột thiết rằng: “Cột thiết nếu như nghiêng lệch thì giao tinh sẽ sống lại, đệ tử ta sẽ đến tiêu diệt chúng nó.

Cột trụ này ngay thẳng thì yêu quái mãi mãi tiêu trừ.” Trải qua một lần thay đổi chính quyền thủy yêu, toàn bộ bị đuổi ra khỏi thành, dân chúng không còn phải lo âu. Hứa Chân Quân sắp xếp xong, lại dự đoán răng: “Trụ thiết trấn thần châu, mãi chẳng xuất gian cừu, nếu có kẻ hưng mưu, ắt cần chẳng đến đầu”. Ông làm như thế là phòng ngày sau có gian hùng nhiễu loạn bá tánh.

Quả nhiên, đến Minh Đế niên hiệu Thái Minh năm thứ hai, đại tướng quân Vương Đội hưng binh tạo phản, đóng binh tại Tỳ Hồ. Hứa  Chân Quân và Ngô Quân khuyên ông dừng quân, Vương Đội bày tiệc chiêu đãi họ, trong tiệc rượu Vương Đội hỏi Hứa Tốn rằng: “Tôi mộng thấy một cây gạo cao chọc trời, không biết xấu tốt thế nào?” Hưa Tốn đáp rằng: “Đây là điềm không được tốt.” Ngô Quận nói tiếp: “Cây gạo cao chọc trời là chữ Vị, tướng quân không thể vọng động cân nhắc”.

Vương Đội vừa nghe mặt liền biến sắc, bèn mời Quách Phách tới bói thử, không ngờ Quách Phách bõi cũng không thành công. Vương Đội không vui, liền hỏi: “Ngài xem ta sống được bao nhiêu tuổi?”. Quách Phách nói: “Trưa nay mạng người đã hết”. Vương Đội nổi giận lôi đình, lập tức mệnh lệnh quan sĩ đem Quách Phác ra chém. Hứa Chân Quân chính mắt trông thấy sự việc xảy ra như thế liền quang cái ly ra đất, cái ly biến thành con hạc trắng bay quanh cột nhà. Vương Đội ngước đầu nhìn, Hưa Tốn, Ngô Quận hai vị đã đi không biết đâu.. Sau này,quả nhiên Vương Đội bại binh

Hai người đến Kim Lăng muốn thuê thuyền đi. Dự Chương, người chủ thuyền nói họ không có người dẫn đi. Hứa Chân Quân nói: “Anh nhắm mắt ngồi yên, không nên nhìn trộm, tôi sẽ vì anh đẩy chiếc thuyền ấy đi”.  Nói xong, ông âm thầm triệu lại hai con rồng kẹp chiếc thuyền bay đi, dần dần bay lên trời, không bao lâu vượt qua đỉnh Lô Sơn, đến Tử Tiêu Phong, Kim Đồng Động.

Hai người muốn vào trong động dạo chơi một lần, mà chiếc thuyền thì mắc ở trên cây, phát ra tiếng vi vu. Chủ thuyền vì không chịu nổi bèn mở trộm mắt nhìn, rồng nổi giận hất thuyền của ông lên đỉnh núi, be thuyền vỡ tan nát rơi trong hang sâu. Hứa Chân Quân nói với chủ thuyền: “Anh không nghe lời của tôi bây giờ phải làm sao?”.

Chủ thuyền quì lạy cầu cứu giúp, Hứa Chân Quân bảo anh ăn linh thảo, không ăn cơm, không bao lâu được tiên thuật bất tử. Sau này hai người cưỡi rồng về quê ẩn cư. Khoảng mười năm không hỏi qua chuyện thế sự, họ chuyên tâm tu luyện, ngày thường tỏ ra như người thường, chỉ khác là chỗ của họ có nhiều hạc trắng bay qua, và mây mù vây khắp nơi. Tuy nhà Đông Tấn mới lên dân chúng mãi ưu lo chẳng yên, nhưng chỗ ở của Hứa Chân Quân chu vi trong mấy dặm đều bình yên vô sự, trộm cắp cũng không dám xâm phạm. Ngoài ra,mỗi năm đều được mùa, người vật đều bình an, không ai biết được việc này.

Tấn Võ Đế niên hiệu Ninh Khang năm thứ hai, Hứa Chân Quân được 136 tuổi, mồng một tháng 8 năm đó, có hai vị tiên từ trên trời xuống, tự xưng là phụng mệnh Ngọc Hoàng đại đế, phong Hứa Tốn làm Cửu Châu đô Tiên Sái Sử Cao Minh thái sử, và ban cho ông áo bào tía, đồ trang sức quý báu, ngọc cao, kim đan mỗi thứ một hộp,đồng thời cũng báo ngày ông lên trời.

Hứa Tốn lúc đó bèn về quê cáo biệt cha già, lại tặng cho đệ tử 10 bài thơ khuyên răn. Đến ngày 15 tháng 8, xa xa nghe tiếng nhạc trời vang, mây lành chầm chậm, Vũ cái long xa, trong mây dừng đầy tiên quan, tiên binh, và tiên đồng ngọc nữ, tiền hô hậu ủng cùng hướng về Hứa Chân Quân hành lễ.

 Hứa Chân Quân bước lên xe rồng, ông mệnh lệnh cho người đệ tử giỏi nhất dẫn đường, con cái nhà ông 42 người thân quyến cùng theo luôn, thậm chí còn có cả gà chó đều đi, thật là náo nhiệt!
   
   

TRỊNH TƯ VIỄN


Trịnh Tư Viễn lúc trẻ là một thư sinh anh tuấn, giỏi về lịch. Về già tìm thầy học đạo, ẩn cư trong Lô Giang Mã Tích Sơn. Trên núi có con cọp, cọp mẹ bị người giết, cọp cha cũng lo chạy để lại hai con cọp nhỏ, Trịnh Tư Viễn rất yêu thương chúng nó, đem, thực vật cho chúng nó ăn. Sau này cọp cha tìm được nhà Trịnh Viễn, quì trên đất đất hướng về ông khấu tạ, từ đó muốn ở lại với Trịnh Tư Viễn không chịu đi. Do đó, mỗi khi Trịnh Tư Viễn ra ngoài chơi thì cưỡi cọp đi, còn hai con cọp con chở trên lưng kinh sách và dược liệu của ông đi theo phía sau.

Có một lần Trịnh Tư Viễn gặp người bạn là Hứa Ẩn, Hứa Ẩn đang mắc bênh đau răng, không có râu cọp thì trị không hết, Trịnh Tư Viễn được cọp đồng ý, ông bèn động thử nhổ râu cọp, mà con cọp nằm sát trên đất không nhúc nhích để ông nhổ râu. Hứa Ẩn trông thấy trố mắt đờ đẫn. Sau này Trịnh Tư Viễn đắc đạo thành tiên, được  tôn xưng là Đơn Dương Chân Nhân. “Liệt hổ tu” là việc ở thế gian rất nguy hiểm, nhưng người nhân đức vô địch có lòng yêu mến rông lớn có thể cảm động được kẻ hung hãm ngoan cường, cảm thông được với loài vật. Trịnh Tư Viễn nhổ râu cọp nói lên tính Nhân của đạo lý cảm thông. Chúng ta không thể học được sự thần ký của ông ta, nhưng không ngại học cái tính nhân ái của ông.
   
   
QUÁCH PHÁC


Quách Phác tự là Cảnh Thuần, người Vân Hỉ Hà Đông, học rộng nhiều tài, tinh thông kinh thuật. Tài ăn nói của ông thì không giỏi nhưng văn chương của ông thì cực kỳ hay. Từ phú của ông là tác phẩm văn học đứng đầu Triều Tấn. Ông có thiên tính thích văn xưa chữ lạ, giỏi về toán số. Có người tên là Quách Công trọ ở Hà Đông, giỏi về bói cỏ thi, Quách Phác bái ông làm thầy và được truyền chín quyển sách Thanh Tương. Do đó, ông thông hiểu các đạo thuật âm dương, ngũ hành, thiên văn, bói toán, có thể vượt lên điều tốt tránh điều xấu, tiêu trừ tai họa, dù cho Quản Lộ, Đại sư Kinh Phòng của triều Đông Hán cũng sánh không nổi trình độ của ông.

Môn đồ của Quách Phác là Triều Tài trộm sách Thanh Tương của ông, chưa đọc xong đã bị lửa cháy hết. Khoảng thời gian Huệ Đế, Hoài Đế ở Hà Đông ưu nhường chẳng an, Quách Phác biết dân chúng sắp bị loạn, thì âm thầm cùng gia quyến và bạn bè khoảng 10 gia đình chạy trốn đến Đông Nam đầu hàng Triệu Cố. Chính lúc ngựa giỏi của Triệu Cố bị chết, Triệu Cố rất thương tiếc do đó không tiếp tân khách.

Quách Phác đi đến cổng, người gác cổng không chịu thông báo, Quách Phác nói với anh ta rằng: “Tôi có thể khiến cho ngựa chết sống lại được”. Người gác cổng vừa nghe kinh ngạc vội chạy đi thông báo, Triệu Cố chạy nhanh ra nói:  “Tiên sinh thật có thể khiến con ngựa của ta sống lại chăng?”.

Quách Phác nói: “Tìm ba mươi chàng trai vạm vỡ, mỗi người cầm một cây cần trúc dài, nhắm hướng đông nam đi 30 dặm, đến một cái miếu, trên gò có một rừng cây liền dùng cần trúc đập, đập xong sẽ hiện ra một vật, mang nó về nhà, cho ngựa ăn có thể sống lại”. Triệu Cố y theo lời ông, quả nhiên được một vật giống như con khỉ, mang về. Vật ấy vừa thấy con ngựa chết liền đến gần dùng sức lao vào mũi nó, trong khoảng khắc cong ngựa liền đứng dậy thở như bình thường, còn con vật đó cũng không biết đi đâu. Triệu Cố rất tán dương diệu đạo của Quách Phác, tặng cho ông nhiều lễ vật.

Từ đó, Quách Phác đến Lô An Giang, ông khuyên Thái Thú Mạnh Khang chạy sang Nam Đô, Hồ Mạnh Khanh không đáp lời, Quách Phác trong lòng thương mến nữ tỳ của ông, lúc đó bèn lấy đậu cỏ rải chung quanh nhà chủ nhân. Chủ nhân trông thấy người mặc áo hồng chạy xung quanh nhà mình, nhưng nhìn kỹ thì biến đâu mất, trong lòng rất ghét liền mời Quách Phác xem bói. Quách Phác nói: “Nhà của ngươi sở dĩ như thế là vì không nên thâu chứa nữ tỳ, ngươi nên đến một địa phương ở phía đông nam 20 dặm, đem họ bán đi, dù thế nào đi nữa cũng không nên tính giá tiền, làm như thế có thể tiêu trừ yêu quái”. Chủ nhân lập tức làm theo, Quách Phác tìm người cần dùng nữ tỳ giá tiền thấp nhất bán mấy người nữ tỳ này. Sau đó, ông quăng một đạo bùa vào trong giếng, có mấy ngàn người mặc áo hồng bỗng nhiên đều tự trói mình lại, từng người nhảy vào trong giếng, còn Quách Phác cũng dẫn các nữ tỳ đi luôn.

Qua mấy ngày, Lô Á Giang thất hãm, Vương Đạo dẫn bình sang sông, ông rất tôn kính Quách Phác, đặc biệt làm lễ mời ông làm tham mưa. Có một lần, Vương Đạo bói một quẻ, Quách Phác nói: “Ngài sắp có tai nạn, ngài đi về hướng tây mười dặm, gặp một cây bách thì đốn nó, chặt một đoạn dài cỡ bằng người của ngài, đem về để trong phòng ngủ thì có thể tránh được tai họa!” Vương Đạo y theo lời ông mà làm, qua mấy ngày, quả nhiên một hôm sét đánh khúc cấy bách ấy tét làm đôi.

Lúc mẹ Quách Phác qua đời, Quách Phác táng bà ta ở Tầm Dương, phần mộ cách dòng sông khoảng 100 bước. Thời đó, người ta cho rằng táng quá gần bờ sông sẽ không tốt, ngược lại Quách Phác nói: “Ở đây không bao lâu sẽ biến thành lục địa”. Sau này, chỗ đó do cát bồi, chung quanh ngôi mộ mấy mươi dặm đều thành ruộng đồng.
Có một lần Quách Phách xem phong thủy cho người ta, Minh Đế giả làm dân chúng âm thầm đi xem, ông hỏi nơi đất chủ chủ nhân nói: “Làm sao có thể chọn được long huyệt? Chỗ này sẽ bị diệt tộc ngài biết không?’. Chủ nhân trả lời: “Quách Phác tiên sinh đã từng nói, chỗ này nên táng, long huyệt đấy, ông nói không quá ba năm thiên tử sẽ xuất hiện chỗ này”. Minh Đế lại hỏi: “Chỗ này sinh ra thiên tử chăng?” Người đó nói: “Không sinh ra thiên tử, mà là có thể thiên tử đến chỗ này”. Minh Đế nghe xong bất giác thán phục.

Tài học của Quách Phác người đương thời rất kính trọng, tính tình của ông rất bình dị, không chú ý đến ăn mặc, lại  ưa thích tửu sắc, thường phóng túng ham muốn. Bạn của ông là Vu Bảo Thời khuyên ông nói: “Đó không phải là chánh đạo tu thân dưỡng tánh”. Quách Phác đáp lời ông nói: “Trời phú cho ta có hạn, sợ dùng không hết, ông đâu cần lo lắng tính tình tửu sắc của ta”.

Quách Phác mới cùng Hoàn Di rất quý mến nhau, lúc Hoàn Di bái thăm Quách Phác, thường đụng phải Quách Phách ăn ở với người con gái, Quách Phác nói với ông rằng: “Lời ngài nói, dù nơi nào đêu có thể đi, nếu không thì đến trong nhà cầu đánh tôi, không thì hai người chúng ta sẽ gặp tai họa”. Sau này, Hoàn Di vì say lạc vào nhà cầu, ông bèn đi phía sau cửa nhìn trộm, thấy Quách Phác đang xõa tóc, thân trần trụi. Quách Phác vừa thấy Hoàn Di không nhịn được, than rằng: “Tôi dặn dò ngài đừng nên đến đây, mà ngài cũng đến, không những tôi gặp tai ương mà ngài cũng không tránh được rủi ro, đây đều là ý trời có thể trách ai chăng!”. Không bao lâu,Quách Phác bị Vương Đội giết chết, Hoàn Di cũng chết dưới ngọn đao của Tử Tuấn (Muốn rõ tình tiết xem thêm bài “Hứa Tốn”).

Trong lúc Quách Phác bị hình phạt, từng hỏi đao phủ thủ đến đâu thì hành hình. Đao phủ thủ nói đến Nam Cương đầu, Quách Phác nói: “Nơi đó chắc chắn là dưới hai cây bách, trên cây còn có tổ chim khách.” Khi đến Nam Cương, tất  cả đều y như lời đoán của Quách Phác.

Nơi này nhiều năm trước, có một lần Quách Phác qua con đường vượt thành, bỗng nhiên gặp được một người, ông kêu người đó lại, nói tên họ của ông, Quách Phác cởi thắt lưng tặng cho ông ta, người kia từ chối không nhận, Quách Phác nói: “Ngài cứ thâu nhận, về sau ngài sẽ rõ”, người đó mới nhận. Không ngờ sau bao nhiêu năm, họ cuối cùng gặp nhau ở pháp trường, thì ra người đó là đao phủ thủ, phụ trách trảm Quách Phác.

Trước khi Quách Phách gặp nạn, đã dặn dò người nhà chuẩn bị quan tài đến chỗ hành hình, và còn di chúc chôn giữa hai cây tùng ở bến sông, có thể thấy ông đã sớm biết rõ ràng. Sau ba ngày ông bị giết, dân chúng ở chợ lại trông thấy Quách Phác ăn mặc như ngày thường cùng bạn bè ở đầu phố nói chuyện. Vương Đội vừa nghe rất đỗi kinh ngạc, lập tức mở quan tài xét tử thi, không ngờ trong quan tài trống không. Mọi người nói đấy là thuật “thi Giải”của Quách Phác.

Quách Phác sinh tiền trước thuật rất nhiều, ông đem sáu mươi mốt sự tình đoán quẻ ứng nghiệm biên tập thành sách, gọi là Đổng Lân văn sao. Còn có Tân Lâm tập biên, Bốc vận thập biên. Ồng từng chú thích sách Nễ Nhã, Phương ngôn, Mục Thiên tử truyện, Sơn hải kinh, v,v…. Ông có làm ra 14 bài thơ du tiên rất nổi tiếng, là một kiệt tác bất hủ truyền lại cho đời. Thân sau của Quách Phác được phong làm Thủy Phủ Tiên Bá. Con trai ông là Quách Ngao sau này làm Lâm giá thái thú.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 03, 2011, 08:41:28 am
(tiếp theo)

MA CÔ

Ma Cô là người Thạnh Lạc. Bà là con gái của Ma Thu. Ma Thu tính tình hung bạo, lệnh dân chúng xây thành ngày đêm không cho nghỉ ngơi. Làm mãi cho đến gà gáy sáng mới được nghỉ. Ma Cô thương mến trăm họ cực khổ, lúc đó thường giả tiếng gà gáy, bà vừa gáy, đàn gà cũng gáy theo, công việc xây thành cũng sớm được nghỉ. Sau này, bị cha mẹ phát hiện, nổi giận dùng roi mây xử phạt bà. Ma Cô trốn đi, đến Tiên Cô động tu luyện, về sau ở Bắc Thạch Kiều bay lên trời, dân chúng vì cảm nhớ bà gọi cây cầu là Vọng Tiên Kiều.
   
   
CÁT HỒNG

Cát Hồng tự là Trì Xuyên, người Cú Dung, vì nhà nghèo nên đi đốn củi đổi lấy giấy mực, ban đêm đọc sách học chữ, sau này trở thành một học giả nổi tiếng. Tính tình ông đạm bạc, không ham thích gì, ngày thường ít nói chuyện, cũng không thích vinh hoa phú quý, mỗi ngày đóng cửa tự tu, khỏng giao du với ai.

Khi ông đọc sách có vấn đề khó hiểu, dù xa ngàn dặm cũng nhờ bậc cao minh chỉ dạy, ông đặc biệt thích đạo thuật của thần tiên. Khi Tổ Huyền học đạo thành tiên, truyền đạo cho đệ tử là Trịnh Ẩn, Cát Hồng liền bái Trịnh Ẩn làm thầy, hoàn toàn được chân truyền của ông. Không bao lâu về sau ông bái Nam Hải Thái thú Bao Huyền, Bao Huyền tinh thông đạo thuật, biết bói quẻ, chiêm tinh, ông đoán biết Cát Hồng ắt thành bậc đại khí, liền đem con gái gả cho ông.

Cát Hồng được sự truyền thọ của Bao Huyền, lại thông y thuật, ông hạ bút ngàn lời trôi chảy, tài học hơn người. Vương Đạo hâm mộ tài nghệ mời ông làm quan, ông đều khéo từ chối. Sau này Cát Hồng nghe nói vùng nọ xuất đan sa, tiền tự động yêu cầu làm một chức quan nhỏ. Hoàng Đế vì dùng người tài không đúng chỗ, nên không nhận lời. Cát Hồng giải thích không phải vì vinh hoa hư dối, mà vì muốn luyện đơn, Hoàng Đế mới chịu để cho ông đi.

Cát Hồng sau khi nhậm chức ở La Phù Sơn, mỗi ngày luyện đơn, ở trên núi bảy năm, ưu du năm tháng, chuyên tâm trước thuật. Ông thấy một số người (đọc sách) học,chỉ biết phục nể Chu Công, Khổng Tử mà không tin thần tiên, không những cười mà còn phỉ báng, do đây viết thành lập thuyết, tất cả 116 thiên, phân làm hai thiên, nội thiên và ngoại thiên. Tên sách là “Bao Bốc tử”, từ đây hoằng dương giáo đạo, trở thành nền tảng trọng yếu kinh điển và lý luận của Đạo giáo.

Năm ông 81 tuổi có một hôm viết thư cho bạn là Đặng Nhạc, ông nói là sắp đi xa bái sư, liền xuất phát luôn. Đặng Nhạc tiếp được thư liền liền vội đến tiễn đưa ông còn Cát Hồng trưa hôm ấy ngồi ngay thẳng, không bệnh mà chết. Đặng Nhạc thấy sắc mặt của ông như còn sống, chân tay vẫn mềm mại, đem thi hài vào quan tài chỉ có một bộ đồ không.

Cát Hồng đi đâu? Chỉ có cõi thần tiên mới biết được.
   
   
HOÀNG DÃ NHÂN

Hoàng Dã Nhân là đệ tủ của Cát Hồng, lúc Cát Hồng ở trên núi luyện đơn, Dã Nhân thường theo hầu kề bên. Cát Hồng sau khi thành tiên, để lại tiên đơn ở trong trụ đá tại La Phù Sơn, Dã Nhân tìm được một viên uống, không bao lâu thì tu thành địa hành tiên. Nghe nói nhục thân của ông ta vẫn còn, người có duyên ngẫu nhiên sẽ gặp được ông. Sau này có người đi chơi La Phù Sơn, ngủ trong sơn động, ban đêm thấy một người thân thể trần trụi không mặc quần áo, còn toàn thân mọc đầy lông màu xanh dài thườn thượt, lúc đó bèn bái lạy ông, và hỏi đạo với ông. Người cả thân mọc lông xanh dài không có gì phải chú ý, chỉ nghe mấy tiếng cười lớn, âm thanh rất lớn chấn động khu rừng cây. Sau đó, ông lại hát bài ca rằng:

“Vận lai vạn linh động, vận khứ thiên nhất sắc
Trường tiểu lưỡng tam thinh, không động thu nguyệt bạch”.

Có người nói người lông dài màu xanh quái dị đó chính là Hoàng Dã Nhân.
   
   
PHẠM BÁO

Phạm Báo là người Tứ Xuyên, ông tu luyện ở cồn bãi sông, trăm dặm thở ra có màu sáng, mùa đông chỉ mặc một cái áo. Lúc Hoàn Ôn đương quyền, đầu tóc ông đã hoa râm, đến thời Tống Văn Đế dung mạo đều không thay đổi. Ông có thể đoán được kiết hung, do đó có người hỏi ông rằng ông ta có phải là tiên giáng chức không? Ông dáp rằng: “Tôi đã từng chính mắt trông thấy Châu Võ Vương thảo phạt vua Trụ”. Văn Đế triệu kiến ông, Phạm Báo đi ngang qua Thái tử, lấy tay chỉ cửa cung nói: “Trong đây có con chim Bá lao, nuôi dưỡng như thế nào thì cũng là giặc”. Văn Đế trong lòng không vui, bèn ra lệnh cho Phạm Báo nhảy xuống sông tự vẫn.

Năm thứ hai sau khi ông chết, đệ tử của Phạm Báo là Trần Chi, nửa đêm thức dậy, bỗng tháy ánh sáng  như ban ngày, thì ra Phạm Báo trở về, đi theo ông là một ông cụ. Phạm Báo đối với ông cụ rất mực tôn kính. Trần Chi hiếu kỳ hỏi người đó là ai. Phạm Báo cười mà không đáp, không bao lâu hai người ấy đều đi. Văn Đế nghe nói, mở quan tài Phạm Báo ra xem cũng không thấy thi thể.

Bạo quân thường căm giận chân lý, nhưng chân lý dĩ nhiên là chân lý, đâu có một quyền lực nào có thể áp bức tiêu diệt.

   
LƯU CƯƠNG


Lưu Cương tự là Bá Loan, triều Tống làm quan Huyện ở Thượng Ngô, ông và vợ ông là Phạm phu nhân đều có đạo thuật, có thể sai khiến quỷ thần, biến hóa nhiều thứ. Sau này, hai người âm thầm tu luyện, tuyệt đối không để cho người chung quanh biết. Lưu Cương cần, chính, thương dân, được dân chúng địa phương kính mến. Trong huyện ông không có tai nạn, hạn hán, thủy tai và ôn dịch, mỗi năm mùa màng đều trúng, nhà nhà an cư lạc nghiệp. Lúc nhàn rỗi, Lưu Cương thường cùng phu nhân so tài pháp thuật. Ví dụ, Lưu Cương nổi lửa thiêu đốt nhà cửa, lửa từ phương đông tới, còn phu nhân biến thành một trận mưa từ phương tây đến dập tắt. Lại như trong sân nhà có hai trái đào, phu nhân dùng chú niệm khiến một trái rụng trong gió, Lưu Cương ngược lại, niệm chú mấy lần đều rớt ngoài gió. Lại nữa, Lưu Cương nhỏ nước trong cái mâm, liền biến thành con cá, phu nhân có thể nhổ nước bọt biến ra con rái cá, bắt con cấ nuốt luôn.

Có một lần Lưu Cương cùng phu nhân đi đến Từ Minh Sơn, giữa đường gặp một con cọp, con cọp quỳ giữa đường không chịu đi, nhìn Lưu Cương rống hoài, phu nhân lập tức đi đến trước mặt cọp, con cọp liền cúi đầu xuống đất không dám nhìn phu nhân. Lúc đó, phu nhân lấy dây thừng trói con cọp dẫn về nhà, và buộc ở bên giường.
Cũng đều giống như thế, Lưu Cương mỗi lần so tài đều không thắng nổi phu nhân. Sau này, họ lên trời, trong huyện có một cây cao lớn, Lưu Cương leo lên mấy trượng mới có thể bay đi, còn phu nhân ngồi yên trên giường, từ từ bay lên, nhẹ nhàng như một đám mấy, hai người vừa trước vừa sau bay lên trời.

Ở trên trời, hai người vẫn không ngừng so tài pháp thuật, so tài hoài. Lưu Cương phải bái phục chịu thua, thật là một đôi  vợ chồng thần tiên đáng kính.

Trang Tử nói: “Tương như dĩ mạt, bất như tưởng, Vong Vu giang hồ”. Vợ chồng chẳng phải là kết hợp tình dục, cũng phải là đồng tu đạo đức, đồng tham chân lý.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 03, 2011, 08:45:05 am
(tiếp theo)

ĐÔNG LÃNG THÁNH MẪU


Đông Lãng Thánh Mẫu là người Hải Lăng, bái Lưu Cương làm thầy, sau này đắc đạo có thể biến hóa tàng hình. Bà lấy chồng là Đỗ Thị, ông này không tin đạo, thường nổi giận với bà, có khi Thánh Mẫu đi trị bệnh cứu người, Đỗ Thị càng thêm nổi giận. Cuối cùng đi cáo quan phủ muốn đuổi Thánh Mẫu ra khỏi nhà. Lý do của ông là Thánh Mẫu không lo việc nhà, quan phủ tin cho là thật liền bắt Thánh Mẫu giam vào ngục. Nhưng không bao lâu, Thánh Mẫu từ trong cửa ngục bay ra, nhiều người đều trông thấy cảnh kỳ lạ này, Thánh Mẫu bay vào trong mây để lại đôi giày trước cửa.

Dân làng lập đền thờ cúng bái Thánh Mẫu, hễ cầu thì ứng liền (có cầu tất ứng). Thường ngày có con chim xanh bay đến nơi cúng, có người mất đồ đạc lại hỏi Thánh Mẫu. Con chim bèn bay đến nóc nhà kẻ trộm, do đó trong làng không ai dám trộm cắp.
   
   

GIAO CHỈ ĐẠO SỸ


Thành Vạn Châu ở  phương nam có một đạo sỹ, tự nói là 99 tuổi, người Giao Chỉ. Ông vượt trùng dương đến đây, vì thuyền bị hư nên ông ở lại kết cỏ tranh làm nhà ở.

Đạo sỹ nuôi một con gà, chỉ lớn bằng con nhền nhện, mỗi ngày đều để trên cái gối gác đầu, gà vừa gáy thì ông dậy liền. Ngoài ra, ông còn nuôi một con khỉ, chỉ lớn bằng con cua, con tôm. Ông dùng dây buộc con khỉ dưới chân bàn. Đạo sỹ ăn cơm xong, con khỉ bèn nhảy lên bàn ăn hết chỗ cơm còn lại. Ông lại còn nuôi một con rùa lớn bằng đồng tiên, đển nó trong cái hộp, rãnh rỗi đem nó ra chơi.

Thời đó có một hòa thượng là pháp sư Huệ Hồng, trông thấy đạo sỹ này có đồ vật nhỏ kỳ quái liền đùa nói với ông rằng: “Tiên sinh thật là một thần tư lệnh của nước người bé nhỏ”.

Nhà Phật nói: “Du hí thần thông”. Giao Chỉ đạo sỹ có thể là một bậc vô quý đương thời.
   
   
VƯƠNG HUYỀN PHỦ

Vương Huyền Phủ là người huyện Bái, bái sư dị nhân Đặng Bá Nguyên, học đạo ở Tiêu Sơn Xích Thành. Ông mỗi ngày chuyên tu phương pháp phản quang nội chiếu…34 năm sau có thể thấu rõ ruột gan nội tạng cơ thể mình, ban đêm không đốt đèn cũng có thể thấy chữ để đọc sách. Tần Mục Đế niên hiệu Vĩnh Hòa năm thứ nhất ngày mông 1 tháng giêng, Thiên Đế phái một chiếc xe có cặp cánh rước ông lên trời và còn phong ông là Trung Nhạc Chân Nhân.
Trong sách Trang Tử đề cập đến “Sở luận ngũ tạng, tháo huyết tinh thần”.Một số người cho là hình dung một thứ tâm lý hoàn cảnh nào, thì tinh thần trí tuệ vẫn trong sáng, nhưng cái học của người Đạo giáo là thực tiễn chứ không phải là lý luận, do đó có nhiều tư tưởng triết học của Đạo gia hoặc là trực giác tưởng tượng. Đến Đạo giáo thì biến thành sự thực hiện hữu, giống như Vương Huyền Phủ thấy nội tạng, ban đêm đọc được sách, cảnh giới này trong Phật giáo cũng có nhiều (đặc biệt là Mật Tông).
   
   
TẠ TRỌNG SƠ


Tạ Trọng Sơ là người Viễn Châu Vạn Giới, tu đạo ở Cát Vạn Sơn. Sau khi đắc đạo ông trở về quê hương, lúc đó đi ngang qua Huyện Thành, ông phát hiện tại đây một giọt nước cũng không có, ông nghĩ trong lòng ở nơi đây chắc chắn đã từng hạn hán, trên mặt đất một tấc cỏ cũng không mọc nổi. Ông không ngờ trong khoảng thời gian mình ẩn cư tu luyện, hoàn cảnh quê hương gặp bất hạnh như vậy, tìm kiếm bốn bề không gặp ai cả, bất giác sanh lòng thương tiếc, cảm khái vô ngần, mình đã tu thành đạo mà quê hương vẫn gặp tai nạn.

Đương nghĩ ngợi ông muốn làm việc gì đó cho quê hương. Chỉ thấy ông vèo một tiếng, rút bảo kiếm ra sau đó nhẹ nhàng đâm xuống đất, thật kỳ lạ trong đất bỗng nhiên vọt ra một dòng nước thơm trong sạch sẽ, ngọt ngào trong chốc lát biến thành một cái hồ. Tạ Trọng Sơ thuận tay phất một cái, biến ra một nhánh trúc xanh, ông đạp nhánh trúc đi qua hồ.

Tạ Trọng Sơ sau cùng ở tại Tạ Sơn bay lên trời.
   
   
VƯƠNG GIA


Vương Gia tự là Từ Niên, người làng Long Tây An Dương. Tướng mạo ông rất xấu nhưng tính tình dí dỏm rất thích vui đùa. Binh thường ông không ăn ngũ cốc, không chú ý ăn mặc cũng không tới lui với người đời. Mình ông ẩn cư ở Đông Dương cốc, đào một cái sơn động bên trong. Ông có thể dự đoán, nhưng lời dự đoán của ông mù mờ, đương thời không có người hiểu được, khi sự việc xảy ra ngồi ngẫm nghĩ mới thấy rất linh nghiệm.

Lúc Phù Kiên đi nam chinh, phái người tới Vương Gia xem bói. Vương Gia trả lời nói: “Kim kiên hỏa cường”, nói xong nhảy lên ngựa của sứ giả, áo mão chỉnh tề, đi từ từ về hướng đông mấy trăm bước, sau đó lại đánh ngựa quay về, cởi áo mão, xuống ngựa, ngồi trên giường buồn bã không nói lời nào. Phù Kiên không hiểu ý của ông, bèn phái người khác quay lại hỏi ông vận mệnh nước như thế nào? Vương Gia nói: “Vị ương”. Vận nước còn chưa dứt. Phù Kiên vui mừng cho là đều tốt, không ngờ năm thứ hai Phù Kiên đại bại ở Thọ Xuân, nước Tần cũng mất. Thì ra, ý nghĩa của Vương Gia là “nhất ngữ song quan” “vị ương” là tai ương vị niên, “tai ương ở năm chót”. Phù Kiên qua phương nam thất bại, năm đó chính đang là Quý Mùi niên. Cho đến như ý nghĩa của câu: “Kim kiên hỏa cương” thì ra là: Triều Tấn ở phương nam thuộc hỏa trong ngũ hành, Tấn ở phương bắc thuộc kim, lửa có thể đốt cháy vàng, do đó quả nhiên Phù Kiên bị đại bại.

Sau này, Vương Gia dời về ở Sùng Cao Sơn, Đào Tường và Phù Đăng ở thế giằng co, Đào Tường tới hỏi Vương Gia: “Nếu như ta giết được Phù Đăng, có thể lấy được thiên hạ không?”. Vương Gia đáp rằng:”Có thể đươc một chút”. Đào Tường nổi giận nói: “Được thì là được, tại sao chỉ được một chút”. Vừa giận lệnh đưa Vương Gia và hai người đệ tử ra chém. Nhưng đồng thời lúc đó, một bộ tướng của Đào Tường ở bên đường Long Thạch thấy Vương Gia và hai đệ tử đang bách bộ rong chơi. Đào Tường không tin, hạ lệnh mở quan tài khám thi thể, không ngờ trong quan tài chỉ có một cây gậy trúc, ngoài ra không có gì nữa cả.
   
   
UNG KHIÊM

Ung Khiêm người Ngụy Quân, tinh thông Kinh Dịch, từng làm nghề bói quẻ ở Thành Kiến Khang để sinh sống. Ông mỗi ngày bói năm quẻ, mỗi quẻ một trăm đồng. Ông đem 300 đồng phụng dưỡng cha mẹ, hai trăm đồng mua rượu uống, còn dư thì bố thí cho người nghèo. Mỗi ngày chỉ cần 500 đồng, có người bỏ ra 1000 đồng cũng không bói.

Vào triều Tấn, Hải Tây Cương, một hôm trông thấy một con rắn đỏ cuộn tròn trên long sàng, trong chốc lát thì không thấy nữa. Ông mời Ung Khiêm đến bói, Ung Khiêm nói với ông:

“Giang sơn của triều Tấn vững như bàn thạch, chỉ sợ bệ hạ có nguy hiểm thoái vị”.  Hải Tây Cương vội vàng hỏi: “Có biện pháp nào tiêu diệt không?” Ung Khiêm nói: “Năm sau nên có đại tướng quân thất lợi khi đi chinh phạt phương Bắc, đến lúc ấy tổn thất ba vạn người, như vậy mới có thể tiêu tai”.

Sau này, đại tướng quân Hoàn Ôn đi chinh phạt phương Bắc, quả nhiên thất bại, về đến Thành Thạch Đầu, thật sự phế Hải Tât Cương, lập riêng Giản Văn Đế. Hoàn Ôn sinh Hoàn Huyền, khi đó phu nhân sinh rất khó, cả buổi sanh không đặng. Ung Khiêm bói nói: “Chuồng ngựa thứ sáu bị hư, đứa con sẽ sinh ra dễ dàng. Nó là con trai, tiếng nói to lớn, sau naỳ sẽ vang danh bốn biển”.

Hoàn Ôn rất vui mừng, bèn tặng cho ông 30 vạn, phu nhân cũng tặng 30 vạn, Ung Khiêm định từ chối, Hoàn Ôn kiên trì muốn ông nhận. Ung Kiêm được tiền, ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ ra, mỗi ngày ông xem quẻ càng ít lại, chỉ bói ba quẻ thôi, tiền dư mời khách cùng uống rượu, cũng không cần quen hay lạ.Cho đến một hôm mẹ ông qua đời, Ung Khiêm an táng bà xòng rồi không biết đi đâu. Mấy ngày sau có người trông thấy ông nằm trên đường Lạc Tình, dường như bị say, lấy tay đẩy mới phát hiện một bộ đồ không, bên trong không có gì cả.

   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 03, 2011, 08:50:15 am
(tiếp theo)

MA -  Y   TỬ

Ma Y Tử họ Lý, tên Hòa, tóc ông màu xanh tướng mạo rất đẹp. Ông lớn lên đối với cõi đời ô trọc có tâm chán ghét, lúc đó đi ẩn cư ở Chung Nam Sơn. Một hôm bất ngờ gặp một vị đạo sỹ, dạy ông khẩu quyết và bắt ông giữ giới cấm, nói: “Ở Nam Dương bên giòng nước phía Bắc có một ngọn núi Linh Dương, trong núi có một hang núi có một hang động, người có thể đến đó tu luyện, không bao lâu có thể tu luyện thành chân tiên”.

Ma Y Tử theo lời nói của Đạo Sỹ đi tìm, quả nhiên tìm được sơn động, ông ở trong đó tu hơn 19 năm khoảng năm Phổ Nghĩa Hi, bị hạn hán, dân chúng rầm rộ làm một hình nộm thật lớn để cầu mưa. Ma Y Tử không biết tính sao, thương mà  không giúp được gì, còn người tới cầu giúp đỡ ngày càng đông. Lúc tối có 12 chàng thiếu niên nói với Ma Y Tử: “Nếu họ tới thỉnh cầu, ngài nên nhận lời”. Ma Y Tử kinh ngạc tiếp nhận kiến nghị của họ.

Ngày thứ hai, trên trời bỗng nhiên mây đen mù mịt, trời sấm sét không bao lâu thì mưa xối xả, dân chúng đều mừng rỡ như điên cuồng, tranh nhau hướng về Ma Y Tử cảm ơn, nhưng Ma Y Tử ngơ ngác không rõ, bởi vì ông không có pháp thuật nào.

Nửa đêm hôm đó, thì ra 12 chàng thiếu niên lại đến, họ đồng hướng Ma Y Tử làm và nói với ông rằng: “Chúng tôi đều là Thiên Long, Thượng Đế trông thấy tiên sinh tu đạo sắp thành, đặc biệt sai chúng tôi đến giúp ngài hành đạo xong luôn.

Lưu Tống Đại Minh năm đầu, Y Ma Tử 101 tuôi, có một hôm  ông ngồi ngay thẳng trên giường đá, linh hồn lại lên trời thành tiên.

Chí thành cảm đến trời, Ma Y Tử đạo tâm chân thiết, do đó cảm động được Thiên Long tới làm mưa (tinh thành sở chi, kim thạch vi khai) có ý cương quyết thì sẽ vượt khó khăn, học đạo như thế, việc đời sao chẳng được.

   
NGHIỆP KHỨ XA

Nghiệp Khứ Xa là người Cù Châu Long Khưu, đang là đạo sĩ ở Sùng Tiên cung,nhà ở dưới Cửu Phong Sơn, từ nhỏ thích học đạo thuật, ham ưa không biết chán.

Lúc hơn 30 tuổi, Chánh Trực Lưu Tống năm thứ nhất, ông ẩn cư tại Huyện Cao Dương Quan An Toà.Quan Bắc năm dặm, bên ngoài có Mão Sơn, núi cao hơn 50 trượng, tương truyền Trương Đạo Lăng và Diệp Trịnh đều từng tu đạo ở trên ngọn núi đó. Phía đông nam Mão Sơn có một hòn đá lớn rộng hai trưọng, Khứ Xa thường ngồi trên đó Thẩm  tư mặc tưởng. Có một hôm, ông đựoc thiên thần cảm động giáng xuốn. Thiên thần bảo ông rằng: ”Trương Thiên sư có để kiếm trảm tà và cái bình Thạnh đơn dược giấu ở dưói hòn đó này, ngài có thẻ dời nó đi không?”

Nghiệp Khứ Xa không bị lời nói làm lay động, ông từ tốn nói: “Hòn đá này là Trời đặt tại đây, sức người không thể di chuyển được, tôi tự lấy xấu hổ bất tài, ở núi chỉ cầu bình an, không dám có ý nghĩ không yên phận, đan và kiếm tôi cũng không dám lấy”.

Thiên thần nghe rất cảm động nói với ông: “Chỉ cần tịnh tiến không lười biếng, đan và kiếm tự nhiên chạy đến hòn đá này”.

Qua ba năm, thiên thần mang kiếm và đan tặng cho Khứ Xa. Ông xem quả thật là Thất tinh kiếm của Trương Thiên Sư, còn đơn dược vẫn ở trong bình, khoảng chừng một đấu. Khứ Xa không những một mình uống mà còn đem nó cho những người bệnh uống nữa.

Thời gian ấy có một người ở huyện Lệ Thủy tên Nhân Hoa Tạo, thừa cơ hội triều đình có nạn chiếm lĩnh huyện thành, triều đình không còn cách nào, chỉ tốt hơn phong ông làm thích sử. Hoa Tạo rất hung bạo, ông nghe nói Nghiệp Khứ Xa có kiếm thần và đan thần, lúc đó dẫn binh bao vây Mao Sơn, còn bắt Nghiệp Khứ Xa. Không lấy được kiếm và đan của ông, đem ông nhốt vào trong một căn nhà trống. Lúc bấy giờ mùa hè thời tiết nóng bức, Nghiệp Khứ Xa một tháng không ăn uống. Hoa Tạo nghĩ trong lòng chắc chắn ông sẽ chết, khi mở cửa ra thấy Nghiệp Khứ Xa sắc mặt vẫn tươi hồng, Hoa Tạo kinh ngạc vội vàng đem ông trở về trên núi, nhưng giữ lại đan và kiếm của ông. Hôm đó, nửa đêm gió tuyết dữ dội, kiếm và đan trong luồng điện xẹt bây lên giống như bay về chỗ Khứ Xa.

Nghiệp Khứ Xa ở trong núi 15 năm, ông nói thường thấy rồng bay, lôi công và điện mẫu ở trong mưa, và còn có nhiều quỷ thần, thấy ông đều lần lượt hành lễ. Có một hôm ông nghĩ đến Đạo quán, đạo sỹ trong đêm nghe thấy trong phòng Khứ Xa có tiềng nói chuyện, đạo sỹ nhìn trộm, chỉ thấy mùi hương và tiếng vòng bội leng keng, có đội mũ mặc hồng bào, gái trai búi tóc, có mấy người cùng ngồi, người hầu đều là đồng nam đồng nữ. Lại  có thần minh đứng xa bảo vệ, thái độ rất kính cẩn.

Một hôm, Nghiệp Khứ Xa bảo đạo sỹ trong quán: “Ta e muốn rời khỏi núi này, sau này không thể thường thấy nhau”. Mấy tháng sau, trên trời bỗng xuất hiện từng đám mấy màu, nhạc tiên bềnh bồng, Nghiệp Khứ Xa ở trên núi đang bồi hồi. Không bao lâu tiên quan cưỡi mây ngũ sắc, rồng, nai tới đón ông ban ngày bay lên trời, dân ở chân núi đều chính mắt thấy cảnh kỳ lạ trang nghiêm.
   
   
ĐÀO HOẰNG CẢNH

Đào Hoằng Cảnh tự là Đạo Minh, người ở Mạt Lăng, mẹ ông nằm mộng thấy thanh long từ trong bụng chui ra, lại có tiên nhân ở bên vua bưng lư hương. Không bao lâu thì mang thai. Đào Hoằng Cảnh từ nhỏ khác thường, năm ông được 10 tuổi thấy truyện Thần tiên của Cát Hồng viết, ngày đêm nghiên cứu đọc. Có một lần ông nói với người khác rằng: “Tôi thấy mây xanh và ban ngày đều không cảm thấy xa”.

Cha của Đào Hoằng Cảnh bị người thiếp hại, ông nhớ lời dạy bảo, trọn đời không lấy vợ. Ông lớn lên thân cao 7 thước 7, khôi ngô tuấn tú, nghi biểu xuất chúng. Tướng mạo của ông có mấy tượng trưng kỳ quặc; Trên lỗ tai có bảy mươi mấy sợi lông dài, dái tai khỏi lỗ tai hơn hai phân, đầu gối bên phải có mấy mươi nốt ruồi đen, sắp hàng vị trí giống như Bắc đẩu thất tinh (bảy ngôi sao Bắc đẩu).

Đào Hoằng Cảnh đọc sách chừng một vạn quyển, cầm kỳ thi họa đều giỏi cả, năm 20 tuổi Tế Cao Đế mời ông làm Chư vương thi học, nhưng ông tuy sinh ra trong nhà giàu có lại không bước ra khỏi cửa, không giao thiệp với người quyền quí, chỉ thích nhất là đọc kinh.

Do đó, gia cảnh thanh bần, ông cũng muốn làm một ít việc cho huyện, nhưng không thành công. Năm Vĩnh Minh thứ 10, ông cởi áo quan mang trên Thần võ môn, dâng biểu từ quan. Hoàng đế chấp nhận và cho ông mỗi tháng 5 cân phục linh, hai thăng bạch mật, để giúp ông luyện thuốc, ngoài ra văn bó bá quan đều bái ông làm thầy, cung phụng phẩm vật chất cao như núi. Mọi người nói, đây là hiện tượng từ Tống,Tề trở về sau không bao giờ có. Tiêng tăm của ông làm cả triều đều tôn trọng. Sau khi từ quan, Đào Hoằng Cảnh ẩn cư ở Cau Dung trên Mẫu Sơn, tự xưng là Hoa Dương ẩn cư. Ông viết thư đều ghi nơi ẩn cư thay cho tên ông. Từ đó ông dạo khắp thanh sơn, tìm kiếm thuốc tiên, mỗi khi đến sơn cốc đều tịnh tọa trong chốc lát, ngâm vịnh bồi hồi, không làm chủ mình được.
Ông thường nói với đệ tử: “Nếu như lúc trước ta cầu làm quan thành công, ắt vì việc thế trói buộc, thì đâu có được ngày nay, có thể biết tu tiên không những cần có thiên phận mà cần có duyên phận phối hợp mới được”.

Đương thời, văn hòa Thẩm  Ước đang làm thái thú ở Đông Dương, rất kính ngưỡng khí tiết của ông, mấy lần viết thơ mời ông đều không đi. Đào Hoằng Cảnh người tràn đầy tính khiêm tốn, tâm như tấm gương trong sáng. Vĩnh Nguyên năm thứ nhất xây cất lên ba tầng lầu, Đào Hoằng Cảnh ngồi tại lầu trên, đệ tử lầu giữa, tân khách lầu dưới, từ đó không giao tiếp với người bên ngoài nữa. Chí có một người hầu có thể đến nơi ông ở thôi. Ông từ nhỏ giỏi cưỡi ngựa bắn cung, lúc già đều bỏ hết, ông thích thú nhất là thổi ống sênh, nhất là trong vườn cây phong tùng, thường thường nghe tiếng nhạc sênh của ông văng vẳng,  ông ngồi một mình trên hòn đá bên suối, trông về phương xa giống như một tiên nhân phóng khoáng tự nhiên.

Đào Hoằng Cảnh thích trước tác, nhất là tinh thông đạo lý biến hóa âm dương ngũ hành, y thuật di tích, lịch sử niên đại đều có nghiên cứu rất sâu sắc.Ồng rất khâm phục làm người như Trương Lương, thường nói: “Người xưa không ai sánh kịp Trương Lương”.

Triều đại Tề năm cuối, Đào Hoằng Cảnh căn cứ ca dao dân gian và sấm đương thời đoán triều đại Tề dứt ắt tới triều Lương, do đó Lương Vũ Đế lên ngôi đối với ông rất trọng đãi. Lúc đó, Đào Hoằng Cảnh đắc được bí quyết của bùa thần, cho thần đơn có thể căn cứ thần phù mà luyện thành, chỉ đáng tiếc thiếu một dược liệu, Lương Vũ Đế biết bèn ban cho ông các dược liệu quý trọng như Hoàng kim, Chu sa, v.v… giúp đỡ Đào Hoằng Cảnh luyện thành thần đơn. Đơn đã thành, sau đó uống thấy thân thể nhẹ nhàng, Vũ Đế thử nếm quả nhiên có hiệu quả, do đó đối với ông càng thêm trọng đãi. Nhưng triều đình nhiều lần mời ông làm quan, ông tuyệt đối từ chối. Ông vẽ hai con trầu, một con thả trên thảm cỏ, một con thì đeo xiềng vàng, có người bên cạnh cầm dây thừng buộc nó. Vũ Đế xem xong bức họa cười nói: “Vị tiên sinh này không chịu câu thúc (bó buộc). Chúng ta không thể mời ông ta ra làm quan”. Tuy nhiên như thế, mỗi khi quốc gia gặp đại sự gì, Vũ Đế đều nhất định tới mời ông chỉ dạy. Do vậy, người thời đó gọi ông là “Sơn trung tể tướng”.

Lúc Đào Hoắng Cảnh 80 tuổi, vẫn khỏe mạnh như người trung niên. Sách tiên nói: “Người có tròng mắt vuông có thể thọ ngàn tuổi”. Đào Hoằng Cảnh lúc về già tròng mắt có lúc biến thành hình vuông, ông thường mộng thấy Phật tới bảo ông, sau này sẽ tu thành chánh đạo, tên là Bồ Tát Thắng Lực. Do đó, ông đặc biệt đến A Dục Vương xây dựng tháp lập thệ, truyền ngũ giới cho vua, trở thành một Phật tử chính thức.

Giản Văn Đế khi đi tuần Từ Châu, khâm phục và ngưỡng mộ danh của ông, đặc biệt mời ông vào hậu đường. Đào Hoàng Cảnh đội mão bằng gai đến gặp vua, nói chuyện cùng Văn Đế mấy ngày mới đi, Văn Đế đối với ông rất kính phục. Đào Hoằng Cảnh có một đệ tử là Hằng Khải đắc đạo chưa bao lâu muốn lên trời. Hoằng Cảnh hỏi ông: “Ta tu cũng nhiều năm, tự hỏi vừa siêng năng vừa thành khẩn, vì sao ta vẫn lên trời không được, e rằng có lỗi chăng?” Ông liền ủy thác Hoàng Khởi lên trời hỏi, qua mấy ngày Hoàng Khởi lên trời về, nói với Hoàng Cảnh rằng: “Công đức của thầy rất lớn, chỉ là lúc luyện thuốc thường dùng cỏ các loại sinh vật trùng, nhái, tuy có công sức nhưng vi phạm lỗi nhỏ là sát sinh, vì duyên cớ này đợi mười hai năm sau mới có thể lên trời”.

Từ đó về sau, Đào Hoằng Cảnh không dùng  cỏ khô để thay thế tội giết sinh vật, làm riêng ba quyển bản thảo để chuộc tội. Có một hôm ông ngồi ngay ngắn tự biết là sắp quan đời, lúc đó ông làm thơ vĩnh biệt mọi người. Quả nhiên niên hiệu Đại Đồng năm thứ hai, lúc đó ông 85 tuổi từ giã cõi đời. Khi ông chết nhan sấc không thay đổi, tay chân vẫn mềm mại, mùi thơm khắp núi mấy ngày vẫn không tan.

Ông trước tác: Học Uyển: 100 quyển, Hiếu kinh, Luận ngữ tập chú, Đế Vương niên lịch, Bản thảo tập chú, Trửu hậu bách nhất phương, v.v… lưu truyền cho đời sau.

Trong Trang Tử có ngụ ngôn nói, vào Thái miếu làm con vật hy sinh không bằng làm con rùa kéo lê dưới sình lầy, đây là một thứ tinh thần xem nặng tự do là chủ yếu xuyên suốt của Đạo gia. Đào Hoằng Cảnh nói: “Hoàng Kim giá tỏa” cũng là ý này.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 04, 2011, 01:58:29 pm
(tiếp theo)

HẰNG KHẢI

Hằng Khải là đệ tử của Đào Hoằng Cảnh, ông hầu hạ Đào Hoằng Cảnh ẩn cư ở Mẫu Sơn hơn 10 năm. Bản tính ông rất đoan chính, đạm bạc, vô vi. Một hôm trên trời bay đến hai người thanh đồng và một con hạc trắng.

 Đào Hoằng Cảnh vui vẻ đón tiếp họ, cho là đến đón mình lên trời. Không ngờ, thanh đồng nói với ông: “Thái Thượng muốn đón là Hằng tiên sinh”.

Đào Hoằng Cảnh mới phát hiện, mãi âm thầm vì ông mà Hằng Khải phục dịch, cuối cùng đã đạt đạo trước ông. Lúc đó bèn hỏi tu thành từ bao giờ, Hằng Khải về đáp nói ông mỗi ngày hướng về Thượng đế lạy liên tiếp đã chín năm rồi.

Sau đó, Đào Hoằng Cảnh đưa mắt tiễn đưa buồn bã, Hằng Khải cưỡi hạc trắng chầm chậm bay lên trời xanh.
Hàn Dũ nói: “Văn đạo hữu tiên hậu thuật nghiệp hữu chuyên chính”. Do đó, thầy không cần sự tôn kính nơi trò. Hằng Khải thành đạo trước Đào Hoằng Cảnh là một ví dụ rất hay. Mục đích giáo dục là hy vọng “thanh xuất ư lam” (màu xanh có từ màu lam), nếu như học sinh mãi mãi không bằng thầy, văn minh như thế vẫn có thể tiến bộ ư? Thầy là giá trị phải tôn trọng, nhưng thầy dẫn đường lại chẳng cần đồng đẳng ở quyền uy.


   
LỘC BÌ ÔNG


Lộc Bì Ông là người Lưu Xuyên, lúc tuổi trẻ giỏi về nghề mộc, trên Lĩnh Sơn có một dòng suối thần, nguời phàm không có cách tìm đến mà Lộc Bình Ồng có thể ở trên dòng suối làm cái gác quay như bánh xe (chuyển luân các), lại ở trên đỉnh núi cất một cái miếu, và ở bên miếu này 70 năm.

Một hôm Lộc Bì Ông xuống núi, kêu gia tộc hơn 60 người đi lên núi, mọi nguời đều không biết cần gì. Đang đoán thì nước lớn bỗng nhiên dâng lên  ngập chìm cả thôn. Sau này, hơn một trăm năm, có người còn thấy ông bán thuốc trong thành.

Thợ mộc cũng có thể trở thành đạo, cho nên thấy tu hành thì không có giai cấp, trái lại, người có quan niệm giai cấp cũng rất khó thành đạo.
   
   
KHẤU KHIÊM

Khấu Khiêm là người ở Xương Bình. Lúc còn nhỏ ông gặp được tiên nhân Thành Công Hưng, hai người cùng đi chơi Tung Hoa Sơn, hái thuốc núi, từ đó ẩn cư trên núi.

Thời Bắc Nguỵ trong năm niên hiệu Thuỷ Quang, triều đình mời ông vào trong cung. Thôi Hạo đích thân bái ông làm thầy, có một hôm ông nói với đệ tử rằng: “Đêm qua ta mộng thấy Thành Công Hưng mời ta đi Trung Nhạc tiên cung”.

Nói xong, ông ngồi ngay thẳng qua đời, chỉ thấy một làn khói xanh từ trong miệng  bay ra, bay thẳng lên không trung rồi dần dần tiêu mất, đồng thời thân ông cũng dần dần rút nhỏ lại, có nguời nói thi thể của ông đã tan ra. Sau này, Trần Dư ở Đông Quận, gặp được Khấu Khiêm trên Trung Sơn, toàn thân đều xuất ra ánh sáng bạc, sáng như mặt trời mới biết ông đã thành tiên.

Lại có người nói, Thành Công đã từng nói với Khấu Khiêm: “Ta muốn đi du ngoạn, không bao lâu có người đưa thuốc cho ngươi, ngươi cứ uống”.

Kết quả thật như Thành Công nói, nhưng Khiếu Khiêm vừa nhìn, lại phát hiện thuốc đó đều là cac loại đồ đỏ như trùng, Khấu Khiêm uống không nổi, người đó đi và báo cáo với Thành Công Hưng, Công Hưng bèn than rằng: “Khấu Khiêm e khó thành tiên”. Có một hôm Thành Công Hưng nói với Khấu Khiêm rằng: “Trưa mai, ta đi, ngươi vì ta mà tắm rửa, sau này sẽ có người đến đón ngươi”.

Thành Công Hưng nói xong vào trong hang đá chết. Khấu Khiêm tự tay mình tắm rửa cho ông, rửa xong quả nhiên có người tới kêu cửa. Khiêm ra xem, đó là hai đồng tử, một người nâng lên pháp phục, một người nâng tích trượng. Khấu Khiêm mời họ vào thạch thất, không ngờ Thành Công Hưng đứng dậy mặc y phục cầm tích trượng đi.

Nguỵ Minh Đế niên hiệu Thần Đoan năm thứ hai, có một hôm Thái Thượng Lão Quân đi xe ngựa trắng chở chín con rồng đến trên đỉnh núi Tung Dương, mệnh lệnh Tiên Bá Vương, Phương Bá Lịnh, Khấu Khiêm đến trước mặt ông, nói: “Ngươi thành tâm tu hành, bây giờ ta truyền nhiệm vụ Thiên Sư cho ngươi, ngươi nên tự cố gắng”.

Sau đó, ông gặp lại thần nhân Lý Phả Văn, Lý tự xưng là cháu của Lão Tử. Phả Văn truyền cho ông Đỗ triện chân kinh hơn 60 quyển, từ đó Khấu Khiêm công lực tăng nhiều, không bao lâu thì đắc thành tiên.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 04, 2011, 02:02:47 pm
(tiếp theo)

BẠCH HẠC ĐẠO NHÂN

Thời Lương Vũ Đế có một đạo sỹ, ông thấy phong cảnh kỳ tuyệt ở trên Dã Châu Tiềm Sơn, rất muốn được lên núi ẩn cư. Đồng thời có một vị hòa thượng Thiến sư Bảo Chí cũng hy vọng tu hành ở Tiềm Sơn. Vũ Đế kêu hai người, mỗi người đem đồ đạc của mình để trên núi, ai đem để trước trên núi là núi của người đó. Đạo sỹ lấy Bạc Hạc làm dấu hiệu còn thiền sư thì lấy tích trượng làm dấu hiệu, hai nguời nói xong bắt đầu một trận thi đấu kỳ quặc.

Đầu tiên Đạo Nhân cưỡi Bạch Hạc bay vọt lên trời, đang lúc bay tốc lực bỗng nhiên nghe thấy giữa hư không có tiếng thiền trượng bay đi vù vù. Sau đó, hầu như cùng một lúc thiền trượng rơi xuống lưng chừng núi, còn Bạch Hạc cũng rớt riêng một bên núi.

Lương Vũ Đế thấy thế vỗ tay cười lớn, cho rằng hai vị thần thông không phân cao thấp, lúc đó công bố hai người đều thắng, nhân đó hai vị đều có quyền làm nhà tranh tu hành nơi vật và mình rơi xuống.
   
   
VƯƠNG DIÊN

 Vương Diên tự là Tử Nguyên, người Phù Phong, mới 9 tuổi đã ham tu đạo, bái Tiêu Khoáng chân nhân làm thầy, đắc được chân truyền của Tam Động bí quyết, mỗi ngày chỉ uống nước lã và ăn hạt thông mà có thể sống.

Châu Võ Đế mời ông  vào kinh sư, nhưng ông không quen sinh hoạt trong cung đình, không bao lâu trở vè núi. Lúc đó, ông ở Tây Nhạc, không có dầu đèn, liên đặt một đồ đựng, trong khoảng khắc liền biến ra đầy dầu. Nếu có khách đến, tiên đoán sẽ có ba con chim xanh bay tới báo tin cho ông. Chỗ ông ở thường có cọp beo rất hiền vây quanh, dáng điệu giống như đang bảo hộ ông.

Mùa xuân niên hiệu Nhân Thọ năm thứ tư, Vương Diên nói với đệ tử rắng: “Ta muốn đi về Tây Nhạc chỉ sợ Hoằng thượng tới đây”. Nói xong ông ngồi ngay ngắn qua đời. Tùy Văn Đế sai sứ thần an táng ông ở Tây Nhạc, lúc an táng mới phát hiện quan tài trống không.


   
LÝ THUẬN HƯNG

Lý Thuận Hưng là người xứ Đỗ Lăng, ông có lúc rất thông minh có lúc lại ngu muội, tiên đoán việc vị lai đều rất ứng nghiệm. Bình thường ông đội mão đạo sỹ, thích uống rượu, điệu bộ trông giống như con ngựa, buông thả không ràng buộc gì.

Tiêu Bảo Dân muốn tạo phản, liền mời Thuận Hưng đến hỏi: “Ngài xem ta có thể làm vua mấy năm?’. Thuận Hưng đáp: “Thiên tử có một trăm năm, cũng có một trăm ngày.” Sau này, Tiêu Bảo Dân bại, quả nhiên mới có đúng một trăm ngày. Đồ đảng của Bảo Dân vì hận Lý Thuận Hưng dùng gậy đập chết ông, bỏ thi thể trong miếu thành hoàng. Không ngờ chốc lát ông sống lại . Lý Thuận Hưng từng nằm ở nhà của Thái Bảo Lương Lãm và còn mặc y áo ngược nữa. Sau này Lương Lãm thất bại khi bị giết quả nhiên mặc y phục ngược. Ông từng cùng Châu Văn bàn về vùng đất hoang dưới Lệ Sơn. Châu Văn hỏi ông chỗ dùng làm sao. Ồng chỉ nói: có chỗ dùng. Không bao lâu Châu Văn gặp nạn, chết ở Lệ Sơn chính tại mảnh đất hoang đó.

   
   
TÔN TƯ MẠO

Tôn Tư Mạo là người Trung Nguyên, từ nhỏ thông minh trí tuệ hơn người, mới 7 tuổi mà mỗi ngày có thể đọc thuộc ngàn chữ, danh nhân thời ấy ca ngợi ông rằng:

“Đây là Thánh Đồng! Đáng tiếc tài chí quá cao, sợ e không ở trong thế tục phát triển”.

Tôn Tư Mạo lớn lên sau này quả thật ham thích tư tưởng Lão Trang, thời Châu Tuyên Đế vì thời cuộc không yên, lúc đó ông ẩn cư dưỡng thần học đạo ở Thái Bạch Sơn, đối với thiên văn, y dược ông đều nghiên cứu rất sâu, ông thích nhất là làm việc thiện một cách âm thầm.

Có một hôm ông đi bách bộ trên núi bất ngờ gặp một con rắn nhỏ, bị mục đồng đánh đập bị thương chảy máu. Tôn Tư Mạo lập tức cởi áo trên mình chuộc con rắn đem về chữa trị, ông cho con rắn uống thuốc cẩn thận, xong đem thả nó về trong đám cỏ. Qua mấy ngày ông đi tản bộ bên ngoài, giữa đường gặp một chàng thiếu niên mặc bộ đồ trắng xuống ngựa hướng về ông hành lễ, nói: “Em tôi là Thừa Mông được tiên sinh cứu mạng thật cảm kích vô cùng”.

Tôn Tư Mạo cảm thấy ngơ ngác, lúc đó không biết trả lời thế nào. Chàng thiếu niên đó lại mời ông về nhà, thiếu niên còn dẫn ngựa cho ông cưỡi, họ cùng nhau rong duổi đi, không bao lâu đến một cái thành nhỏ, cây cối tươi tốt, vàng ngọc óng ánh, tôn nghiêm giống như nhà Vương hầu, chàng thiếu niên Bạch y mời Tôn Tư Mạo vào nhà, ông trông thấy một người mặc áo hồng đội nón nhỏ, người hầu đứng đầy bên ông, người này vừa thấy Tôn Tư Mạo tới, liền tươi cười ra nghinh tiếp. Ông nói:

“Thừa Mông tiên sinh ân sâu, do đó đặc biệt phái con trai tôi tới đón rước ngài”.

Ông vừa nói vừa lấy tay chỉ đứa trẻ áo xanh nói: “Mấy ngày trước, đứa bé này đi ra ngoài đường bị mục đồng đánh bị thương, may được ngài cởi áo chuộc cứu mạng, nó mới sống đến ngày nay.”

Nói xong ông kêu đứa bé áo xanh bái tạ Tôn Tư Mạo, Tư Mạo mới nhớ lai mấy ngày trước cởi áo chuộc con rắn, nhưng trong lòng vẫn không yên, ông mới hỏi người bên cạnh đây là xứ nào. Người nhà nói với ông đây là Kinh Dương Thủy Phủ. Người Vương giả Hồng Y kia ra lệnh bày tiệc rượu, vũ nữ, chiêu đãi Tôn Tư Mạo, nhưng vì ông tu luyện đoạn thực nên từ chối, chỉ uống một ít rượu, lưu lại liên tực 3 ngày, sau đó vương giả lai tặng ông nhiều trân châu, bửu bối. Tôn Tư Mạo khăng khăng không nhận. Vương giả hồng y kên con trai của ông lấy ngọc quý, thuốc trong long cung 30 thứ tặng cho Tôn Tử Mạo nói:

“Mấy thứ thuốc này có thể giúp tiên sinh cứu dân độ thế”.

Sau cùng vương giả mặc hồng y sai người dùng ngựa đưa Tôn Tư Mạo trở về nhà. Sau này, Tôn Tư Mạo dùng thuốc này chữa bệnh rất công hiệu, lúc đó ông bèn biên thành sách tính dược Thiên Kim.

Tùy Văn Đế ngưỡng mộ đại danh của Tôn Tư Mạo, muốn mời ông làm quan, ông khéo từ chối, ông từng nói riêng với người khác rằng: “Năm mươi năm sau sẽ có thánh nhân ra đời trị bệnh cho thiên hạ, lúc đó ta sẽ hiệp sức giúp ông ta cứu nhân độ thế”.

Sau này quả nhiên tới thời Đường Thái Tông cai trị, ông mới chịu lên kinh đô bái kiến Hoằng Đế. Đường Thái Tông rất kinh ngạc, ông dung mạo  hãy còn trẻ, bèn nói với ông: “Tôi nghe nói người có đạo đều có giá trị tôn trọng, lại không ngờ tu đạo chân thành thanh xuân mãi mãi, trường sanh bất lão.”
Niên hiệu Vĩnh Trinh năm thứ ba, Tôn Tư Mạo hơn 100 tuổi. Một hôm ông tắm rửa xòng, ngồi ngay ngắn trên giường nói với con cháu rằng:

“Hôm nay ta muốn đi học hỏi không định nơi nào”
. Không bao lâu ông tắt thở, nhưng sắc mặt ông vẫn tươi nhuận cả một tháng không thay đổi, lúc nhập quan chỉ còn thấy một bộ đồ không, còn xác thịt đi đâu không rõ.

Lúc Đường Mịnh Hoằng tránh nạn ở Tứ Xuyên, mộng thấy Tôn Tư Mạo hướng về ông xin Võ Đế hùng hoàng, lúc đó kêu người tặng cho ông 10 cân đem lên đỉnh núi Nga Mi. Sứ giả lên đến lưng chừng núi trông thấy một người râu mày đều trắng phau, có hai đồng tử mặc áo xanh đứng hầu. Họ thấy sứ giả tời liền dùng tay chỉ thạch bàn nói:
“Có thể đem thuốc để trên hòn đá náy, trên cục đá có tấm biểu trang, ngài có thể đem nó sao lại để cảm tạ với Hoằng thượng”.

Sứ giả nhìn kỹ, trên hòn đá quả thật có hơn 100 chữ lớn, lúc đó bèn cung kính sao lại, ông vứa sao chữ thì mặt chữ cũng tiêu mất, sao xong dấu tích chữ trên đá cũng không còn nữa, trong chốc lát khói trắng đầy khắp, ông lão và thanh đồng cũng mất tiêu hình bóng.

Thời đó có một vị hòa thượng sống ở thành đô Tứ Xuyên chuyên nhất tu theo kinh Pháp Hoa, tuy có binh loạn cũng không thể làm hại ông được. Có một hôm người đầy tớ ăn mặc trang điểm đàng Hoằng tới nói với ông rằng: “Tiên sinh thỉnh pháp sư đi tụng kinh”.

Họ đi ngang qua một cái đồi sương mù, đi vào một sơn gia. Người đầy tớ nói: “Tiên nhân vẫn còn bệnh (già bệnh) thỉnh tiên sinh tụng đến phẩm Bửu Tháp, tiên sinh muốn nghe chính miệng ngài tụng”.

Hòa thượng có chút buồn trong lòng, nhưng ông vẫn thành tâm một lòng tụng niệm lanh lảnh, đợi đến khi tụng “Pháp Bửu Tháp” xong, quả nhiên từ trong nhà đi ra một ông lão tiên phong đạo cốt, hai trái tai thòng tới vai, tay cầm gậy, vừa đốt hương vừa nghe kinh.

 Hòa thượng tụng kinh xong, ông đem cái bàn bằng mây và đũa tre, bên trong một thau cơm mấy ly trà cúc. Hòa thượng ăn xong cảm thấy không có một chút vị muối, lại thơm tho vô cùng, như cam lộ.

Ăn xong, chủ nhân đưa ông một xâu tiền, người đầy tó tiễn ông ra lộ, hòa thượng không nhịn được sự hiếu kỳ hỏi: “Vị tiên sinh đó là ai?’.

Người đầy tớ mỉm cười nói họ Tôn, sau đó mới viết hai chữ trong lòng bàn tay “Tư Mạo”. Hòa thượng kinh ngạc,vừa ngẩng đầu thì người đầy tớ đã biến mất, không thấy tông tích đâu.Ông cúi đầu xuống đi vừa mới phát hiện tiền thưởng đều là vàng.

Từ đó về sau, vị hòa thượng này cảm thấy thân thể khỏe mạnh, ngày thường không bệnh tật, mãi đến thời đại Tống, hòa thượng này đã hơn 200 tuổi, sau đó lại giống hệt tướng Tôn Tư Mạo, sau này sống chết ra sao cũng không rõ được, không biết có thành Tiên hay là thành Phật chăng?


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 04:20:00 am
(tiếp theo)

THÔI CHI ĐẠO

Thôi Chi Đạo là người Dã Thành, làm đạo sỹ ở Trấn Nguyên Cung.

Có một hôm ông vào núi chơi, bắt gặp hai vị tiên nhân đánh cờ, ông đứng im lặng bên cạnh xem, đang xem thì có một vị tiên ngước lên nhình, rồi mỉm cười nói:

“Người làm gì tìm đến nơi này? Chắc cũng là người có duyên”.

Còn vị tiên kia cũng ngước mặt lên nói: “Người cũng muốn học đạo tu thành tiên không? Thử đi, ăn thử cái này đi”. Nói xong, thuận tay lấy một con cờ đưa cho Thôi Chi Đạo. Thôi  Chi Đạo không chút ngại ngùng bỏ vào miệng nuốt luôn, chỉ cảm thấy man mác, rồi trố mắt nhìn hai vị tiên đã đi đâu mất.

Từ đó, Thôi Chi Đạo có thể đoán biết việc tốt xấu, họa phúc, không bao lâu cũng tu thành tiên.

   
   
TỪ TẮC

Từ Tắc người xứ Đông Hải Diệm, tính tình ít ham muốn, từ lúc nhỏ đã có chí nguyện ẩn cư. Ông tu đạo ở Bạch Vân Quan, có một hôm Thái Cực Từ Chân nhân giáng lâm nói với ông:

“Năm ngươi 80 tuổi làm thầy của Đế Vương, sau đó có thể tu thành Tiên”.

Từ đó về sau Từ Tắc ở núi Thiên Thai, thực hành tuyệt thực, mỗi ngày chỉ ăn một ít trái thông. Lúc Tùy Thang Đế đến Dương Châu, từng viêt thư mời gặp ông. Từ Tắc nhận thư nói với đệ tử rằng: “Ta năm nay đúng 80 tuổi, mà vua mời ta vào cung. Từ chân nhân dự đoán quả là linh nghiệm”.

Từ Tắc vào cung sau đó vua thỉnh ông truyền giao đạo pháp, lúc ông tịnh khẩu chưa đúng giờ thì không đáp ứng, ngay đêm hôm đó ông bỗng nhiên qua đời. Tùy Thang đế phái người đến núi Thiên Thai mai táng, nhưng đồng thời có người trông thấy ông cùng đệ tử đi bộ về trên núi.

Ông trở về núi Thiên Thai một cách thần kỳ, sau đó đem kinh sách đạo pháp truyền thọ cho đệ tử, kêu người quét dọn một cái phòng sạch sẽ, dặn dò nói:

“Lập tức sẽ có sứ giả triều đình tới, các ngươi có thể ở phòng này chiêu đãi họ”. Nói xong, ông liền bay đi, năm đó ông 82 tuổi. Ngày thứ hai quả nhiên có sứ giả tới thăm hỏi, nhưng đến nơi đều tìm không thấy ông. Tùy Khang đế buồn bã, tìm một họa sư vẽ bức tượng của ông để ký niệm.
   
   
THÔI TỬ NGỌC

Thôi Tử Ngọc tên Quyết, người ở Bành Thành, mọi người đều gọi ông là Thôi Phủ Quận, bởi vì ban ngày ông xử lý án kiện của dương quan, ban đêm lại đến âm phủ xử án. Trước khi ông sinh ra, cha mẹ ông đồng đến Hoành Sơn cầu thọ, ban đêm hôm đó mẹ ông mộng thấy tiên đồng mang một cái hộp nói:

“Thượng đế ban cho người cái hộp bảo vật muốn cho vợ chồng ngươi nuốt nó vào”.

Họ mở ra xem, chí thấy bên trong có hai hột ngọc đẹp, hai vợ chồng mỗi người uống một viên. Mẹ ông tỉnh dậy cảm thấy mang thai. Triều nhà Tùy niên hiệu Đại Nghiệp năm thứ ba, mồng sáu tháng sáu hạ sanh Thôi Tử Ngọc.
Thôi Tử Ngọc lúc nhỏ thần sắc rạng rỡ, sách đọc qua thì không quên. Ông không thích cùng trẻ em khác vui chơi, hoàn toàn đi tới đi lui một mình.

Đời nhà Đường niên hiệu Trịnh Quán năm thứ 7, ông được phái làm huyện bộ Châu Trường Tử, từ lúc đó xét xử hình án hai cõi âm dương, minh trí quyết đoán như thần minh. Có một hôm, ông dán bố cáo, thông lệnh cho dân cư ngày 15, 16 tháng 5 hai ngày đó không được giết hại săn bắn. Lúc đó, có một người thợ săn lén đi ra ngoài thành bắn giết một con thỏ, lúc về nhà bị quan lại bắt được. Thôi Tử Ngọc nói với anh ta rằng:

“Ngươi rõ biết mà cố phạm, ta không thể tha cho ngươi, nhưng ngươi có thể lựa chọn, hoặc là chịu tội nha môn, hay là tình nguyện đến âm phủ chịu phạt”.

Thợ săn suy nghĩ âm dương mơ hồ, có thể chạy trốn tội, liền đáp tình nguyện đến âm phủ chịu tội phạt. Ngay tối hôm ấy, người thợ săn mới lên giường, thì có một con quỷ mặc áo vàng bắt đêm đến quan phủ. Anh ta ngẩng đầu lên nhìn, người ngồi trên chính là Thôi Tử Ngọc. Ông mặc y phục của Vương Giả, đang thẩm xét tội phạm, có một vài tội phán họ bị đoản mạng, có một vài tội giảm tổn phước lộc của họ. Người săn bắn kia cũng chịu tội giảm thọ. Ngày thứ  hai vừa tỉnh dậy trong lòng còn lo sợ nhưng hối hận cũng không kịp rồi.

Lại có một lần, trên Điêu Hoằng Lĩnh, có con cọp làm hại người ta. Thôi Tử Ngọc lập tức sai người lên sơn miếu bắt con cọp, cọp ngậm công văn của ông đến nha môn. Thôi Tử Ngọc thấy cọp đến chửi lớn rằng:

“Người là súc sinh mà dám ăn thịt người, tội không thể tha thứ được”.

Con cọp bị ông chửi lập tức đập đầu vào tường tự sát mà chết.

Thôi Tử Ngọc xử qua nhiều án như vậy, do đó gần xa đều nổi tiếng. Đường Thái Tông gọi ông là “Thiên Sứ”. Không bao lâu ông chuyển về huyện Phủ Dương làm quan, cách phía tây huyện thành năm dặm có một con sông, thường bị tai nạn nước dâng ngập ruộng vườn. Lúc đó, Thôi Tử Ngọc lập thần đàn trên sông và hướng về thượng đế cầu cáo, không bao lâu bỗng có một con rắn lớn chết nổi trên mặt nước, nước không còn dâng cao nữa.

Một hôm, Thôi Tử Ngọc cùng một người bạn đánh cờ, có mấy người bưng một tấm trạng giống như Thánh chỉ tới nói với ông rằng: “Chúng tôi vâng lệnh thượng đế, triệu Thôi Tử Ngọc làm thần Thổ địa ở Từ Châu”.Theo sau có hơn 100 người bưng ngọc giai, ngọc đới, y phục tía, mão xanh, cờ xí ngũ nhạc, vừa tấu nhạc tiên vừa cưỡi bạch mã tới nói với ông:

“Thượng đến bảo các vị khởi hành”.

Thôi Tử Ngọc dặn dò hai đứa con: “Ta sắp qua đời, các con không nên buồn bã”. Ông lấy bút viết bài minh 100 chữ để dạy dỗ ngăn cấm đệ tử, sau đó an nhiên nằm ngủ, rồi qua đời, lúc đó ông thọ 64 tuổi.
(sau gọi là BÁ TỰ CHÂM)

Khi An Lộc Sơn tạo phản, Đường Huyền Tông ban đêm mộng thấy thần nhân bảo ông rằng: “Giặc chắc chắn sẽ bị tiêu diệt, bệ hạ chớ nên lo sợ”.

Đường Huyền Tông hỏi họ tên ông ta, ông đáp: “Ta là Thôi Tử Ngọc”.

Đường Huyền Tông sau khi về kinh thành, liền xây miếu thờ ông và phong cho ông Linh Thánh hộ quốc thần.

Lúc Tống Cao Tông chạy đến Cự Lộc, giữa đường ngựa chết, phải đội mưa đi một mình, không bao lâu gặp một ngã ba đường, không biết đi phải chọn đường nào.

Đang bồi hồi thì thấy một con ngựa trắng đi phía  trước, Cao Tông vội vã muốn cưỡi ngựa, thì phía sau nó liền chạy tới. Đến tối, tới một ngôi miếu, trông thấy một con bạch mã bằng đất nung, nhìn kỹ thấy con ngựa đó còn đổ mồ hôi đầy mình.

Đêm ấy, Tống Cao Tông ngủ trong miếu, mộng thấy người mặc áo bào tía, càm gậy kêu cửa, miệng nói: “Đi nhanh”. Cao Tông giật mình tỉnh dậy,cảm thấy bụng đói vô cùng, ông đang lo lắng bỗng thấy trong điện có tiếng truyền ra, lúc đó đi lên điện để xem, không ngờ trên điện tượng thần được thờ chính là Vị ông thấy trong mộng. Trên điện đề rằng: “Từ Châu Thổ Địa Thôi Phủ Quận”.

Phía sau bức hoành có giấu một cái hộp, trong hộp đựng đầy rượu thịt. Cao Tông ăn uống no nê. Ăn xong sau đó ông định đi, con bạch mã lúc này tự động chạy ra, chở ông đi đến Kiều Cốc rồi biến mất không thấy nữa.

Tống Cao Tông nhân đây mà được cứu nạn, khi ông sang nam, việc trước tiên là lập miếu thờ Thôi Phủ Quận.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 04:24:35 am
(tiếp theo)

KHUÔNG TRÍ

Khuông Trí là người Trường An, khoảng niên hiệu Trịnh Quán nhà Đường, ông từ bỏ vợ con cùng một đứa cháu là Đại Lang vào Lô Sơn tu đạo.

Buổi tối ngày thứ 7 khi họ đã đến được Lô Sơn, bỗng có một ông già nói với họ: “Lô Sơn phong thủy không tốt, các vị tu ở đây không thành tiên, phía Nam có một ngọn núi nổi tiếng, có thể đến đó tu hành”.

Lúc đó, Khuông Trí và Đại Lang dời đến Kiết Châu, xa xa trông thấy Nghĩa Sơn. Một đêm có sơn thần làm tiều phu dẫn họ vào trong núi, và nói với họ rằng:

“Ở đây rất an ổn, có thể yên tâm tu hành”.

Hai chú cháu tu hành nhiều năm, có một bữa nọ trên trời bay xuống một bộ đồ tiên nhân. Khuông Trí mặc vào, chỉ thấy dưới chân mây tụ lại, không hiểu sao cả, tự nhiên bay lên trời.

   
   
MINH SÙNG NGHIỄM

Minh Sùng Nguyễn là người Lạc Châu, lúc nhỏ theo cha ở huyện An Hỉ, ở đó có một đạo sỹ có thể kêu gọi quỷ thần. Sùng Quảng  học pháp thuật với ông, từ đó xa gần điều biết danh.

Đường Cao Tông từng mời gặp ông, đối với ông rất yêu thích. Lúc ấy đang mùa hạ, Hoằng đế muốn làm một ít tuyết cho bớt nóng. Sùng Quảng  ngồi ngay thẳng trong khoảng khắc, biến ra tuyết rất nhanh, nghe ông nói là đến Âm Sơn lấy về.

Lúc mùa đông, Cao Tông lại muốn ăn dưa. Sùng Quảng  nhờ vua đưa cho ông 100 đồng tiền, không bao lâu dâng lên cho vua trái dưa mùa hạ mới có. Nghe ông nói dưa này là từ trong vườn dưa của Duy Thị Lão nhân đem về, lúc đó Hoằng đế mới sai người kêu lão nhân tới hỏi, lão nhân nói rằng ông ta chôn dưới đất một trái dưa, hôm đó bỗng nhiên mất tích, chỉ thấy trong đất chôn 100 đồng tiên.
   
   
VI THIỆN TUẤN

Vi Thiện Tuấn là người Kinh Triệu, mẹ ông là Vương Thị lúc mang thai ông, mỗi lần ăn thịt thì bụng đau đớn, ăn chay thì lành yên vô sự. Do đó, Vị Thiện Tuấn 13 tuổi bắt đầu ăn chay.

Vi Thiện Tuấn học bí thuật với đạo sỹ Hàn Nguyên, ngày thường ông có hai thanh đồng hầu hạ hai bên. Có một lần ông ngụ ở trong Thăng Tiên Quan, có một thần nhân lớn tiếng nạt với ông rằng:

-“Người là gì mà dám đến chốn này, còn không mau đi hả?”.

Vị Thiện Tuấn không vội vàng trả lời, nói: “Thần nhân tự xét tôi đi, đâu cần ép bức người ta quá như thế”. Thần nhân thấy ông thần thái tư nhiên thì xin lỗi bỏ đi.

Có một hôm Vi Thiện Tuấn trên đường đi đến Đàn Hư Điếm, bỗng có một con chó đen đi vòng quanh bên ông không chịu đi, lúc đó ông bắt đem về nuôi, đặt cho nó tên là “Ô Long”. Qua một thời gian Vi Thiện Tuấn nói với đệ tử rằng: “Ta một trăm năm học đạo, hôm nay Thái Thượng Lão Quân muốn triệu ta đi”.

Nói xong, con chó đen bỗng dài ra mấy trượng, vừa trở mình biến thành một con rồng đen. Vi Thiện Tuấn cưỡi lên lưng nó bay lên trời. “Đại hiền hổ biến ngu bất trắc, đương thời phả tự tầm thường nhân”. Đây là thơ Lý Bạch, đạo nhân và thường dân không khác, anh hùng và người đi đường không khác, nhưng chỉ có tâm hữu vi hữu thủ, đâu phải phàm phu tục tử có thể tưởng tượng được. Công phi thường trong lúc bình thường lặng lẽ nuôi dưỡng, một ngày bay lên biến hóa mới hiện ra cái phi thường, người thành tiên, chó hóa rồng, há là một sớm một chiều mà được ư?

      
VƯƠNG MẠO TIÊN

Vương Mạo Tiên bình thường tính tình thích vào nhà người ta, sửa mũ nón cho người, do đó người ta đều gọi ông là “Vương Mạo Tử”. Vương Mạo Tử tướng mạo bình thường, không ai biết ông có đạo thuật, chỉ biết mỗi tối ông đều ngủ trong Thiên Khánh Quan.
Một hôm, Vương Mạo Tử ngồi ngay ngắn qua đời, đạo sỹ trong quan cùng nhau an táng ông. Không ngờ, sau hơn một tháng Thiên Khách Quan nhận được một bức thư từ Quả Châu gởi đến, mở ra xem thì ra là thư cảm tạ của Vương Mạo Tử. Đạo sỹ trong quan nhìn nhau  kinh ngạc không yên, tin tức truyền ra người trong thành đều tin ông đã bí mật tu thành tiên, lúc đó cái tên “Vương Mạo Tử” từ đấy đổi thành “Vương Mạo Tiên”.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 04:29:49 am
(tiếp theo)

VƯƠNG DAO

Vương Dao là người Giang Tây. Phàn Dương học đạo lúc còn trẻ, ông giỏi về y thuật, trị bệnh không dùng kim, thuốc mà chỉ lấy một tấm khăn bố dài 8 thước , trải lên chỗ bị bệnh, người bệnh khó chịu chốc lát thì khỏi bệnh. Nếu như có người trúng tà, ông vẽ một cái ngục trên mặt đất, vừa gõ cục đá, vừa chửi tà mị vội chạy nhanh vào “lao ngục”. Vương Dao có người đệ tử, anh ta thường mang theo cái giỏ trúc sau lưng. Không kể mưa to gió lớn thế nào, y phục của anh ta cũng không bị ướt.

Có một hôm Vương Dao đi vào trong một cái sơn động, có hai người la lớn tiếng với ông rằng: “Vì sao người lại nhảy vào chốn phàm trần này?”.

Vương Dao đáp, ông đi chơi tự nhiên đưa đến đây. Hôm đó, ông quảy giỏ trúc ra về, rồi thành tiên luôn.

   
TƯ MÃ THỪA TRINH

Tư Mã Thừa Trinh tự là Vi, người ở Lạc Châu, bái Sư Phan Chánh học đạo, sau đó đắc đạo đi khắp các danh sơn. Đường Võ Hiệu từng mời ông vào cung, nhưng không bao lâu ông ra đi. Bạn bè ông thích nhất có một vài văn nhân đương thời như: Vương Duy, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Hạ Tri Chương, Hộ Tạng Dụng, Tồng Chi Vân, Vương Địch, Hoa Câu, v.v… Thời bấy giờ người ta gọi họ là “Tiên tông thập hữu”. Đường Duệ Tông ngưỡng mộ cao danh của ông, cũng từng đón ông về kinh sư, thỉnh ông dạy đạo thuật, Tư Mã Thừa Trinh đáp lời nói:

Nguyên tắc tu đạo nên giảm bớt tình dục, cho đến đạm bạc vô vi”.

Hoàng đế lại hỏi: “Đây là nguyên tăc tu thân, còn nguyên tắc trị quốc?”.

Tư Mã Thừa Trinh đáp: “Trị thần tức là trị quốc. Do đó, tâm đạm bạc, tự nhiên vô tư thì thiên hạ thái binh”.
Hoàng đế nghe rất khen ngợi rằng: “Thì ra đạo lý của tiên nhân cổ đại, Quảng Thành Tử cũng chẳng qua như thế thôi”.

Sau đó, Tư Mã Thừa Trinh lại về ẩn cư ở núi Thiên Thai. Hộ Tạng Dụng rất hâm mộ Hoằng đế, đặc biệt sủng ái với ông, liền chỉ Chung Nam Sơn nói” Ngọn núi này phong cảnh cực đẹp, đâu cần về núi Thiên Thai”. Tư Mã Thừa Trinh đáp lại nói:

“Để tôi xem, đó chẳng qua là con đường tắt làm quan thôi”.

Ông nói như thế vì thuở trước Hộ Tạng Dụng ẩn cư ở Chung Nam Sơn, giành được cao danh, rộng kết giao với người quyền quí, do đó cuối cùng làm được quan lớn. Như nay bị ông nói phá, Hộ Tạng Dung xấu hổ không biết trốn vào đâu.

Thời ấy, Nữ Trinh Quốc có người tên là Tiêu  Tịnh Trinh vượt biển đi tìm Phùng Lai Tiên Sơn, sau đó ông ở trên một hòn đảo gặp một đạo nhân nói với ông rằng:

“Tư Mã Thừa Trinh tiên sinh ở núi Thiên Thai đã có tên trong tiên tịch, ông ta chính là thầy tốt của ngươi”.

Tịnh Trinh trở về, sau đó bái Thừa Trinh làm thầy, học đạo không bao lâu bay về trời trước thầy. Sau này, ông giáng lâm vào nhà Tiết Lý Xương, nói với ông rằng:

“Đạo hạnh của Tư Mã tiên sinh sơ với Đào Hoằng Cảnh còn cao hơn, sau này được phong thành Đông Hoa Thượng Thanh chân nhân”.

Thời Đường, khoảng niên hiệu Khai Nguyên, Văn Thanh Thiên Sư và Tư Mã Thừa Trinh cùng đi dự tiệc tiết Thiên thu, hai người dùng cơm chay ở điện Trường Sanh. Nửa đêm tu hành xong dựa vào đám mây cả hai người đều ngủ, bỗng nhiên Thiên Sư nghe tiếng tụng kinh của đứa trẻ, trong trẻo như vàng ngọc.

 Văn Thanh Thiên Sư lúc đó liền khoác áo ra đi, lại thấy trên trán của Tư Mã Thừa Trinh có một mặt trời cỡ đồng tiền lớn đang chiếu rực đầy nhà. Ông tiến lại gần xem, thì ra âm thanh ấy từ trong đầu của Tư Mã Thừa Trinh phát ra.

Thiên Sư sau khi về núi nói với đệ tử ông ta rằng: “Hoàng Đình kinh lý nói, trong não con người có Nê hoàn, có thể phát ra âm thanh thần kỳ. Tư Mã tiên sinh quả thực đã tu đạt cảnh giới ấy”. Một hôm, Tư Mã   Thừa Trinh nói với các đệ tử của ông rằng: “Ta đứng trên (đỉnh) Ngọc Tiêu Phong, phía đông trông về Phùng Lai, trông thấy có tiên nhân giáng lâm, thì ra Đông Hoa Quân đến mời ta lên trời, ta khỏi cần cáo biệt cùng các người”.

Nói xong, không bao lâu, ông ngồi ngay ngắn qua đời, đệ tử an táng ông, lúc đó ông 89 tuổi. Đường Huyền Tông còn đích thân làm bài Mộ Chí Minh cho ông.

Người đời sau gọi chỗ ông ở là “Mã Tiên thôn”, thân sau của ông để lại rất nhiều trước tác, như các sách: Tu chân bí chỉ, Thiên Địa quan phủ đồ, Tọa vọng luận, Đăng chân hệ, v.v… Hoằng thất vì đạo hạnh công mà treo cờ, lại ban tặng hàm tước cho ông  “Ngân Thanh Quang Lộc đại phu”. Thụy hiệu Trinh Nhất tiên sinh.

Giả mượn ẩn cư để rộng tiếng tăm và kết giao quyền quý làm môi giới tiếp thân, đây là một việc rất lưu hành ở đời nhà Đường. “Chung Nam tiệp kinh” do đó trở thành châm biếm có hiệu lực đối với vài ẩn sỹ giả danh. Kỳ thật, tiến thân bằng con đường làm quan không hoàn toàn là một việc xấu, thật có thể “lấy thiên hạ làm trách nhiệm cho mình”.Và tấm lòng “Tiên ưu hậu lạc” cũng là “tiên hiển sở cộng”.

Nhưng làm quan và làm việc là hai việc, làm việc và phục vụ là hai thứ cảnh giới.Vị làm đại sự phục vụ xã hội mà thăng tiến làm quan là con đường chính. Gom khéo thiên hạ đương nhiên cao đối với khéo một mình, do đó tiến thân bằng con đường làm quan, chưa ắt là thấp, ẩn cư chưa chắc là cao.

Nhưng dùng thủ đoạn ân cư để làm quan, ngoại trừ không dùng thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi, thì trong mắt họ sợ sẽ chẳng có được thiên hạ , so với ham thích làm quan, ẩn sỹ thật là cao khiết khả kính hơn nhiều.


BAN MẠNH


Quê hương của Ban Mạnh hiện nay đã khó tra khảo, chỉ biết ông ở đời thường thích uống rượu và dùng đan dược, hơn 400 tuổi mà như một chàng thiếu niên.

Pháp thuật của Ban Mạnh cũng rất nhiều và kỳ dị. Ông có thể bay đi tự tại, lại có thể ngồi trong không trung trò chuyện với người khác, có thể Thẩm  mình sâu dưới đáy nước. Ông có thể dùng tay khắc xuống đất biến thành miệng một cái giếng, đề cho moi người lấy nước dùng. Khi ông chỉ ngón tay lên nóc nhà người khác, ngói liền tốc bay lên.

Ông từng hái mấy ngàn trái dâu chất đống như núi sau đó vừa thổi nhè nhẹ mấy trái dâu ấy đều trở về chỗ cũ trên cây.

 Ban Mạnh còn có một tuyệt chiêu, ông viết chữ không cần gấy mực, chỉ cần dùng miệng ngậm nước phun ra liền có văn tự, mà văn tự đó còn hàm chứa ý nghĩa sâu sắc nữa chứ.
Sau này nghe nói,ông vào núi Đại Trì và đắc đạo thành tiên.
 
   
   
Ô THÔNG VI

Ô Thông Vi là một đạo sỹ, ông đẹp trai, từ tốn, thần khí trong sáng, mỗi ngày vui chơi trên đường phố. Không ai biết ông từ đâu tới và đi về đâu.

Ông thường thích đến quán uống rượu, mối khi đến liền say, say rồi thì lớn tiếng đọc thơ, coi như xung quanh không có người. Tuy cử chỉ của ông có chút ít suy đồi phóng túng, nhưng rất kỳ quái, dung mạo ông không một chút tiều tụy, lại càng ngày càng trẻ hơn.

Có một hôm, Ô Thông Vi uống rượu say trên tửu lầu, nhưng cái say của ông không giống bao người khác, từ trên lầu té xuống, ngoài ý định dự kiến của người ta,chân ông tự nhiên có mây bồng bềnh bay lên trời. Một lúc, làm cho người ta tụ lại, tranh nhau xem một cảnh kỳ lạ hiếm có này, xa xa còn nghe tiếng ngâm thơ của ông, sự mơ hồ cuối cùng ông thành tiên là thi ca và mỹ nữ tửu.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 01:47:30 pm
(tiếp theo)

HỨA TUYÊN BÌNH


Hứa Tuyên Bình là người huyện Tân An Hiệp, vào thời Đường Dự Tông khoảng niên hiệu Cảnh Vân, ông ẩn cư ở Thành Dương Sơn, bình thường không uống đơn dược, mà nhan sắc vẫn giữ như người 40 tuổi không khác. Thân ông nhẹ nhàng, mạnh khỏe, làm việc nhanh như ngựa chạy, ngày thường gánh củi vào trong thành bán, trên đòn gánh mang một bông bí, tay cầm cây gậy trúc cong cong, mỗi lần như thế đều say rượu ngâm thơ đi về.

Cứ qua lại Sơn Thành như thế khoảng chừng 30 năm, bình thường ông hay cứu giúp người gặp khó khăn, có một vài ông quan muốn tìm ông thì không thấy ông ở nhà. Khách đến thăm hỏi ông chỉ thấy trên vách nhà tranh của ông đề một bài thơ, ý bài thơ đều hình dung sự tiêu dao vui vẻ của du tiên.

Loại thơ trên của ông như vậy rất nhiều, mỗi khi đến một nơi nào đó đều đề một bài thơ. Khoảng năm Thiên Bảo, nhà thơ lớn Lý Bạch đi chơi ghé qua mỗi khách sạn cũng thấy thơ ông đề, khen là thơ của tiên làm nhà, vừa hỏi ra thì là thơ của Hứa Tuyên Bình, lúc đó bèn đến Thành Tân An bái kiến ông, được hiệu là Thi tiên Lý Bạch cũng không có duyên gặp ông như thế, buồn bã.

Lý Bạch sẵn tay viết lưu lại trên vách một bài thơ tỏ bày sự thành khẩn ngưỡng mộ của ông.Hứa Tuyên Bình về sau đó thấy bài thơ của Lý Bạch, lúc đó tự mình cũng đề thơ đáp lại, đại ý của ông nói là chỗ tiên ở không nên bị người đời tìm kiếm đến, một khi tìm đến được sẽ dời đi chỗ khác. Đại khái, sau duyên cố này, nhà tranh của Hứa Tuyên Bình bị lửa thiêu cháy, tung tích của Hứa Tuyên Bình rốt cuộc cũng không ai biết cả.

Hơn 100 năm sau, đến  thời Đường Ý Tông niên hiệu Hàm Thông năm thứ 12, tỳ nữ của Hứa Minh Nhự có một lần vào núi đốn củi, vô ý đến Nam Sơn gặp một người ngồi trên hòn đá đang ăn một trái đào rất lớn, người này trông thấy có người đi đến, bèn hỏi:

“Người là tỷ nữ của Hứa Minh Nhự ư?”, nữ tỳ đáp “Phải”.

Người đó nói: “Ta là Hứa Tuyên Bình, tổ phụ của Hứa Minh Nhự”.

Nữ tỳ đáp: “Con từng nghe chủ con nói Tổ phụ của ông đã đắc đạo thành tiên, nhưng không biết tìm hởi ở nơi nào”.
Hứa Tuyên Bình nói với người tớ gái:

“Người trở về nói với Hứa Minh Nhự, ta ở trong ngọn núi này. Bây giờ ta đưa cho ngươi một trái đào ăn, nhưng dù thế nào đi nữa cũng không đem nó đi ra khỏi núi, bởi vì sơn thần rất mến tiếc thứ đào này, mà trong núi này hổ lang cũng rất nhiều”.

Người tớ gái ăn, cảm thấy mùi vị rất ngon ngọt, ăn xong thấy gánh nặng trên vai cũng trở nên nhẹ nhàng. Sau khi về đến nhà, cô ta trình báo cho người chủ biết, không ngờ Hứa Minh Nhự nổi giận, bởi vì đứa đầy tớ gái gọi mãi tên tổ phụ của mình. Ông liền lấy gậy đập cô ta, còn cô gái đó nương cái gậy ấy bay lên, không biêt bay về hướng nào.
Sau này, có người vào núi thấy cô gái ấy đã biến thành trẻ, toàn thân mặc bằng vỏ cây, đi như bay trốn vào trong rừng sâu, từ đó không thấy bóng dáng đâu nữa.

Lý Bạch được gọi là “Thi Tiên”, nhưng ông chỉ là tiên trong thơ đâu phải là tiên nhân như thật sự. Lý Bạch mến đạo nhưng không thể quyên được thế tình, tìm cầu việc công, do đây mà có kê kề cận là Vương Lãng tạo phản làm nhục. Đạo là việc trở vè với sự chất phác chân thực, không phải là việc theo đuổi tìm cầu bên ngoài. Nhân đây, Hứa Tuyên Bình có thể thành tiên, còn Lý Bạch chỉ trở thành “Thi tiên”, văn tự mặc dù bất hủ, mà người lại không biết đi nơi nào.
   
   
NHIẾP SƯ ĐẠO


Nhiếp Sư Đạo là người Huyện Hấp, học đạo từ thưở nhỏ, sau khi đắc đạo lên Tích Khê núi cao 100 trượng để hái linh chi và hỏi thăm Chi Nam Nhạc Chiêu Tiên Quân. Ông nghe nói Tế Chân Nhân lúc trước ẩn cư ở cách đây không xa, lúc đó trai giới 7 ngày rồi một mình đi tới phía trước. Giữa đường gặp một ông già hỏi ông từ đâu tới, và còn bứt một bụi cỏ tặng cho ông. Nhiếp Sư Đạo vừa ăn cảm thấy rất ngọt, từ đó tinh thần và sức khỏe càng thêm dồi dào, mỗi lần vào núi hổ báo trông thấy ông đều thuần phục quỳ sát xuống đất.

Có một lần ông nói với đệ tử rằng: “Ta được tiên quan mời nên muốn rời xa các ngươi”.

Nói xong, liền nhắm mắt qua đời. Nhưng đợi đến khi táng, trong quan tài trống không. Sau này, có người từ Dự Chương vôi vàng tới đưa đám tang, nghe nói trên đường đi đang gặp ông tản bộ rong chơi.

   
   
PHỤ TIÊN SINH

Phụ Tiên Sinh học đạo ở Tiêu Sơn, ông 7 năm siêng năng tu tập, sau đó gặp được Thái Thượng Lão Quân. Lão Quân cho ông một cây dùi để cho ông dùng dùi khoan cục đá, đá dầy hơn 5 thước. Lão Quân đến lúc đi đặc biệt dặn ông:
“Đợi đến khi dùi thủng đá bàn, tiên đạo của ngươi cũng sẽ tu thành công”. Từ đó, Phụ Tiên Sinh mỗi ngày chuyên một lòng dùi mài đá bàn, gió mưa cũng không trở ngại, ông dùi được 47 năm, kết quả bàn đá bị dùi thủng qua.
Hôm đó, có một tiên nhân tới tìm ông, nói với ông rằng: “Chí hướng của ngươi thật là vững chắc”.
Tiên nhân tặng cho ông vàng lỏng và Kim Đan, Phụ Tiên Sinh uống xong sau đó thành tiên bay đi. Đại khéo như vụng, đại trí như ngu, đại khí muộn thành. Lời của Lão Tử, do Phụ Tiên Sinh chứng minh.
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 01:53:21 pm
(tiếp theo)

VƯƠNG KHẢ GIAO



Vương Khả Giao là người Hoa Đình, nghề nghiệp đánh cá và cày ruộng, một hôm ông bơi thuyền trên sông, bỗng thấy trên mặt nước xuất hiện một chiếc thuyền hoa, trong thuyền có 7 người đạo sỹ đang ngồi, xa xa ông còn nghe thấy có người đang kêu tên mình. Lúc đó, ông chèo thuyền đến sát thuyền hoa, sau đó tự mình bước lên thuyền hoa ấy.

Trong đó, có một đạo sỹ nói: “Cốt tướng đẹp, có thể thành tiên”.

Riêng có một đạo sỹ tặng cho ông hai trái lặc, mùi vị rất ngọt. Sau đó, đạo sỹ phái một người mặc áo vàng đưa ông lên bờ. Đương lúc ông vừa quay đầu, mới phát hiện chiếc thuyền đâu mất không thấy, mà mình đang đứng trên núi Thiên Thai phía trước thác nước cửa chùa. Xa xa đi tới một vị hòa thượng hỏi ông từ đâu tới. Khả Giao nói sáng hôm nay mới ở nhà ra đi, là ngày mồng 3 tháng 3. Hòa thượng nói: “Hôm nay đã là mồng 9 tháng 9, hơn nửa năm rồi a”.

Sau này, Vương Khả Dao vào tu đạo ở Từ Minh Sơn, từ đó không thấy hình bóng của ông ở đâu nữa.

   
   
LÝ THUYÊN

Lý Thuyên hiệu là Đạt Quan Tử, sống ở núi Thiếu Thất, tính tình ham thích đạo thần tiên, ông bất ngờ được cuốn “Âm phù kinh” của Hoằng Đế, là cuốn sách nguyên trước kia Khấu Khiêm cất giữ, cuốn kinh đã gần mục nát, Lý Thuyên sao mấy ngàn biến, rôt cục không thể lý giải ý nghĩa sâu sắc trong đó. Sau này, ông xuống núi Lệ Sơn gặp một bà già đầu tóc rối bù, hình tướng quái lạ, đang ngồi đốt củi bên đường, bà vừa đốt vừa tự lẩm bẩm rằng: “Lửa sanh nơi cây, họa phát tức khắc”. Lý Thuyên vừa nghe kinh ngạc vô cùng, bèn vội vàng hỏi: “Đây là câu trong Hoằng Đế Âm phù kinh, vì sao Lão Bà Bà biết vây?”.

Bà lão ấy trả lời: “Ta đã nghiên cứu liên tục mấy trăm năm, này người thiếu niên, người từ nơi nào đến đây?”.
Lý Thuyên đem sự thật câu chuyện cung kính báo cho bà biết, bà già nghe xong liền nói: “Người thiếu niên, ta xem ngươi tướng mạo phi thường, Trí Nhân Dũng Liêm, là có thể tạo thành tài”.

Lúc đó, bà liền thâu Lý Thuyên làm đệ tử. Lão Bà ngồi trên một hòn đá, giảng ý nghĩa thâm sâu của Âm phù kinh rõ ràng cho ông nghe. Hơn nửa ngày, bà lão thấy trên trời sắp tối, muốn đem cơm mời ông ăn, và từ trong áo lấy ra một trái bầu, kêu Lý Thuyên đi vào trong hang lấy nước, múc nước đầy xong, bỗng cảm thấy nặng ngàn cân. Lý Thuyên dốc hết sức cũng xách không nổi. Trái bầu cứ chìm lỉm trong nước, đang lúc anh ta chạy trở về, thì lão Bà Bà đi đâu mất không thấy, trên hòn đá còn để lại mấy thăng gạo mạch mà thôi. Lý Thuyên ăn hết, từ đó không cảm thấy đói nữa. Sau này, ông vào danh sơn học đạo không biết đi đâu.

Lý Thuyên thông binh pháp, ông trước tác 10 quyển Thái Bạch Âm phù kinh, lưu truyền cho đời sau.

   
   
LÝ BẠCH

Lý Bạch tự là Thái Bạch, là con cháu đời sau của tôn thất nhà Đường, tổ tiên của ông năm cuối đời Tùy dời về ở Tây Vực, niên hiệu Thần Long năm đầu lại dời về Tứ Xuyên. Mẹ Lý Bạch trước khi sanh ông ra, từng mộng thấy sao Trường Canh bao vào trong bụng, nhân đấy mà lấy tên ông là Bạch.

Lý Bạch lúc 10 tuổi đã thông hiểu Kinh thi, khi trưởng thành ẩn cư ở núi Mãn. Triều đình nhà Tùy tìm ông ra làm quan, ông không chịu đi. Sau này, ông đến Trường An, hỏi thăm Hạ Trí Chương, và tự mình viết bức thơ cầu chỉ dạy.

 Hạ Trí Chương xem thơ xong không ngớt khen ngợi, gọi ông là “Trích Tiên”, và còn giới thiệu ông cho Đường Huyền Tông. Huyền Tông tiếp kiến ông đặc biệt ở Kim Loan đối với ông bàn luận về văn chương rất thích thú. Lúc đó, vua tự tay múc canh chiêu đãi ông và phong ông làm Hàn lâm.

Có một lần Huyền Tông ngồi ở Thẩm  Hương Đình, đang lúc hoa Mẫu đơn nở đầy sân, Hoàng đế hy vọng Lý Bạch làm một bài thơ Phả Khúc, Lý Bạch lúc đó uống say, người hầu tả hữu lấy nước lạnh làm tỉnh ông. Đường Huyền Tông chính mình hạ lênh Dương Quý Phi vì ông bưng nghiên mực, Lý Bạch dùng bút lớn vừa vung một cái liền viết thành Thanh Bình điệu tam chương.

Huyền Tông rất khen ngợi sự tài hoa của ông, bình thường cùng ông tiệc tùng. Do Lý Bạch đã từng kêu Cao Lực Sỹ cởi dầy giùm ông, Cao Lực Sỹ rất bất mãn, do đó trước mặt Dương Quý Phi cố ý xuyên tạc thơ Lý Bạch, nói Lý Bạch châm biếm Quý Phi, hai người từ đấy thường nói xấu ông trước mặt Huyền Tông, làm trở ngại bước phát triển của ông.

Lý Bạch tự biết không được mời đón nữa càng thêm phóng đãng, hầu như mỗi ngày cùng nhà Đại thư pháp Trương Cửu uống rượu say bí tỉ. Thời ấy, người ta gọi họ, mấy người danh nhân văn sỹ thích uống rượu là “Ẩm trung bát tiên”.

Cuối cùng, Lý Bạch chán nản cuộc sống trong cung đình, khẩn cầu về quê, Huyền Tông ban cho ông nhiều vàng bạc để ông đi về.

Khi An Lộc Sơn làm phản, Vĩnh Vương Lãn mời ông làm tham mưu, sau đó binh Vĩnh Vương bại trận, Lý Bạch cũng bị trị tội chết luôn. Nhưng do ông từng nhiều năm trước cửu Quách Tử Nghi, do đó Quách Tử Nghi cũng đích thân ra cứu mạng

Thời Đường Đại Tông, dân gian đồn đãi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm ánh trăng mà chết, nhưng đầu năm Nguyên Hòa, có người lại nói trông thấy Lý Bạch cùng một Đạo sỹ ở trên núi cao trò chuyện vui vẻ, không bao lâu lại cùng Đạo sỹ đó ở trong sương khói màu xanh cưỡi rồng đỏ mà đi.

   
LÝ TRƯỜNG GIẢ

Lý Trường Giả tự xưng là Thương Châu tới, ông mỗi ngày chỉ ăn 10 trái táo, ngoài ra còn thêm một cái bánh nhỏ gói bằng lá hách. Việc gì ông cũng không làm, chỉ đóng cửa trước tác sách, lập thuyết không nghỉ ngơi.
Có một lần ông gặp con cọp ở thôn Quán Lam, cọp vừa thấy ông liền quỳ mọp trên đất. Trường Giả  nói với cọp rằng:

“Ta muốn chú thích kinh Hoa Nghiêm, người có thể giúp đỡ ta tìm một nơi thanh tịnh không?”.

Con cọp chồm, dậy cõng ông đến một thạch thất của núi Thấn Phước. Từ đấy, Lý Trường Giả đinh cư tại đó, chuyên tâm trước tác cho đến lúc 96 tuổi.
   
   
LÃN TÀN


Lãn Tàn, không ai biêt lai lịch của ông. Triều Đường đầu năm Thiên Bảo, ông ở trong chùa Hoành Sơn vì tăng chúng làm lộn xộn, mỗi lấn chúng tăng ăn cơm xong mới lấy cơm và thức ăn thừa mà ăn. Do thiên tính của ông lười biếng, lại ăn thức ăn nguội lạnh dư thừa, nên người ta gọi ông là “Lãn Tàn”.

Lý Bí lúc còn trẻ từng ngụ ở chùa Hoành Sơn, buổi tối khi đi hởi thăm Lãn Tàn, trông thấy Lãn Tàn đang dùng phân trâu nướng khoai môn để ăn, ông phát giác Lý Bí tới liền chia cho ông ta một nửa.

Họ mặt đối mặt ngậm im cả buổi, Lãn Tàn mới nói nhở với Lý Bí rằng:

“Xử thế phải cẩn thận lời nói là quý, sau này ông sẽ làm Tể tướng 10 năm”.

Sau này quả thật Lý Bí làm Tể tướng 10 năm như lời tiên đoán của Lãn Tàn.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 01:57:25 pm
(tiếp theo)

VƯƠNG GIẢO

Vương Giảo là người có đạo thuật kỳ lạ, ông giỏi nhất về quan sát tinh tướng. Khoảng năm Thiên Bảo, ông tình cờ cùng bạn bè buổi tối hóng mát, bỗng nhiên chỉ trăng sao trên trời nói: “Thiên hạ sắp đại loạn”.

Người hàng xóm này nghe câu nói của ông, liền bí mật báo cáo với triều đình, lúc đó hạ lệnh tử hình ông. Khi hành hình, đao phủ phải chém mấy mươi nhát đao mới chém đứt đầu ông.

Vương Giảo vốn cùng Thị Lang Đạt Khê chơi rất thân, sau khi loạn được bình định rồi, Vương Giảo tự nhiên chết đi sống trở lại, cầm gậy đi hỏi thăm Đạt Khê, mọi người mới biết Vương Giảo có đạo thuật.

Vương Giảo từng thăm hỏi Đỗ Phủ ở Cán Hoa Khê. Ông nói với thi nhân này rằng: “Tiên sinh nay tuy là quan, tương lai ắt nổi tiếng muôn đời”.
   
   
HÌNH HÒA PHÁT

Hình Hòa Phát ẩn cư ở biển, giỏi về thuật tri tâm. Phàm lòng người mưu kế thế nào ông vừa bói toán biết liền, sau đó ông bói chọn chỗ ở Tung Sơn, trước tác lập thuyết.

Đường Minh Hoằng Khai Nguyên năm thứ 12, ông đi đến Bắc Kinh, đang có một người bạn qua đời, người nhà khóc lóc rất đau buồn. Hoàn Hình Phát lập tức kêu người mang thi thể đặt ở trên giường, tự mình lấy miền đắp chung nằm ngủ cả ngày mới thức dậy, không ngờ người bạn kia đã chết rồi tự nhiên ngồi dậy sống lại.

Thôi Tư Mã là bạn tốt của Hình Hòa Phát, có một hôm ông ta bị bệnh khốn, bèn la rằng:

“Hình tiên, ông vì sao không quan tâm đến ta”.

Không bao lâu ông nghe thấy tiếng vách tường xuyên thủng, vừa nhìn thấy một lỗ thủng ngày càng lúc càng lớn, có mấy trăm người trong đó. Hình Hòa Phát mặc áo tía, đội mũ lớn, ngồi trên xe nói với ông:

“Ta đã mời Thái Ất Chân Nhân tới cứu người”.

Vừa nói xong, liền biến mất không thấy. Nói cũng thật kỳ quái, Thôi Tư Mã bệnh không uống thuốc  mà khỏe mạnh.
Phòng Quản đang làm quan huyện ở Đồng Lô, ông rất thích Hình Hòa Phát. Có một hôm Hình Hòa Phát cười nói với Phòng Quản rằng:

“Ông sau này sẽ làm Tể tướng, nên tự làm điều tốt nhá. Nhưng cuối cùng ông ăn cá cối mà chết, quan tài dùng gỗ Quy Từ làm thành. Nơi ông chết không ở trong nhà, không ở công quan, không ở trong miếu, không ở ngoài nhà”.
Phòng Quản sau này quả nhiên làm Tể tướng, lúc già giáng chức về ở Lãng Châu, bệnh nằm trong Tử Cực Cung. Ông bệnh vừa khỏi, thái thú chiêu đãi ông ăn cơm, trong tiệc có con cá cối. Phòng Quản ăn xong tức khắc bệnh cũ tái phát. Ông nằm mộng thấy thần nhân bảo ông rằng: “Lời đoán cùa Hình chân nhân rất ứng nghiệm”.

Ngày thứ 2, Phòng Quản quả nhiên mệnh chung. Lúc ấy, có một tín sỹ bố thí một tấm gỗ Quy từ để làm thần tòa của Lão Quân, do đó bèn dùng nó làm quan tài.

Hình Hòa Phát ẩn cư ở Chung Nam Sơn, có rất nhiều người tu đạo đều tới nương ông. Ông có một người bạn tên là Thôi Thư hầu hạ bên ông rất cung kính. Có một hôm Hình Hòa Phát nói với đệ tử của ông rằng:

“Hai ngày sau sẽ có một quái khách, các người sửa soạn bố trí cho ông ta một cái phòng”.

Ông còn cấm đệ tử không thể nhìn trộm. Ngày thứ 2 quả nhiên có một người tới, thân cao 5 thước, rộng 3 thước, đầu dài chiếm một nửa, mặc áo hồng, tay cầm một cái hốt, vuốt râu cười lớn, nói là rất giỏi. Nội dung nói chuyện hơn phân nửa là không phải chuyện phàm tục của thế gian. Đang lúc ấy Thôi Thự từ ngoài cửa băng ngang, người khách nhìn ông nói:

“Đây há chăng là Thái Sơn Lão Sư chăng?”.

Hình Hòa Phát nói: “Đúng vậy. chính ông ta”.

Hai người họ cùng nhau dùng cơm, người khách bèn cáo lời ra đi, Hình Hòa Phát nói với Thôi Thự rằng:

“Vị khách kỳ lạ đó là thần của Thượng đế ông ta vừa nói Thái Sơn Lão Sư, ông hiểu ý của ông ta không?”.
Thôi Thự trả lời:

“Lúc trước tôi nghe tiên sinh nói, tôi là thân sau của Thái Sơn Lão Sư, còn việc đời trước, một chút tôi cũng không nhớ nữa”.


   
NGÔ ĐẠO TỬ

Ngô Đạo Tử là người Dương Dịch, lúc trẻ thường cùng Hạ Trí Chương và Trương Điền học thư pháp, kết quả học không thành, nhân đó mà chuyển sang học hội họa. Ông chưa đến 12 tuổi mà đạt đến trình độ nghệ thuật rất cao, đây hoàn toàn do thiên tài và cố gắng mà đạt được.

Lúc mới bắt đầu ông làm họa sư trong cung Đường Minh Hoàng, do đó nổi danh hiệu thiên hạ. Bút pháp của ông đại thể thoát thai từ Trương Tăng Đạo, do đó mọi người đều nói ông là hậu thân của Trương Tăng Đạo.

Thế gian còn lưu truyền môt thuyết, hồi trước nhà danh họa đời Tấn, vì vẽ bức họa cho người hàng xóm, dùng kim gai vẽ đâm ngay vào tim thiếu nữ, cô ta phát ra tiếng rên rỉ. Còn Ngô Đạo Tử ở trong Tàng phong vẽ lừa, mối khi tối đến nghe tiếng chân lừa dậm đạp, khiến cho các hòa thượng đều không vui.

Lại nói Trương Tăng Đạo vẽ rồng điểm nhãn, con rồng đó vừa nghe sấm sét liền tung vách tường bay đi, còn Ngô Đạo Tử vẽ rồng, lân , quỷ đều cử động giống y như thế, mỗi khi mưa xuống trong lúc vẽ thì mây khói từ từ kéo lại mờ mịt.

 Do đó, có thể nói hội hoạ của ông thần diệu, gồm cả hai nhân vật Cố Khải và Tương Tăng Dao. Trong Hoằng cung có bức tường cao mấy trượng, Đường Minh Hoằng muốn ông vẽ bức tranh sơn thủy trên đó.

Ngô Đạo Tử lấy một thau mực, toàn bộ vẩy lên tường, sau đó ông dùng vải che trùm lên, trong chốc lát mở vải ra, Minh Hoằng vừa xem, trên bức tường tự nhiên có núi sông cây cỏ  người thú mây khói đến cứ trên đó.

Minh Hoằng tới lui thưởng thức, lưu luyến không chịu đi, khen ngợi thật là tuyệt. Ngô Đạo Tử chầm chậm đi đến bên Minh Hoằng giải thích:

“Ngọn núi đá này phía dưới có một cái động nhỏ, trong đó có một tiên nhân, kêu cửa thì mở”. Đường Minh Hoằng thử dùng tay gõ, bỗng nhiên cánh cửa nhỏ được mở ra, có một tiểu đồng nghinh đón, Ngô Đạo Tử nói với Hoằng Đế:

“Tiểu thần tôi đi trước, mời Bệ hạ vào cùng ngắm cảnh chơi”.

Ngô Đạo Tử rút nhỏ thân lại vào động, còn lấy tay ngoắc Minh Hoàng, đáng tiếc Minh Hoằng không chịu đi vào, chốc lát cửa đóng lại, ngoái lại trên tường không có vết mực nào cả.
 



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 02:00:06 pm
(tiếp theo)

LA CÔNG VIỄN


La Công Viễn là người thời vua Đường Huyền Tông. Có một đêm trung thu khoảng năm Khai nguyên, trong cung ngắm trăng, La Công mời Huyền Tông đi chơi cung trăng. Sau này Huyền Tông học pháp thuật của La Công Viễn, nhưng không hoàn toàn học được, có khi còn thừa một mảnh áo, hoặc một góc áo, không thể tàng hình hết được. Huyền Tông hỏi ông duyên cớ vì sao, ông nói: “Bệ hạ không thể bỏ sự giàu  sang, mà đạo thuật là du hí, nếu như học được hoàn toàn, vả lại không phải là phước của trăm họ thiên hạ ư?”.

Huyền Tông vừa nghe nổi giận, Công Viễn lập tức đi vào trong cột cung điện, còn tiếp tục phê bình Huyền Tông. Hoằng đế  nổi giận ra lệnh chém ngay cây cột, Công Viễn lại nhảy vào trong khúc than chì. Huyền Tông lại chặt than chì thành mấy mươi khúc, không ngờ mỗi khúc than đều có hình Cồng Viễn. Huyền Tông vội vã xin lỗi, hình bóng của Công Viễn mới tiêu mất.

Sau này, có sứ giả đến Tứ Xuyên, trông thấy Công Viễn ở trong mực nước, cười nói với sứ giả:
“Xin ngài vì ý của tôi nói với Bệ hạ, tôi họ La, tên Công Viễn, mời ngài đem đương quy sản phẩm của Tứ Xuyên hiến cho ông ta”.

Mấy năm sau, Huyền Tông vì loạn An Sứ tránh nạn ở Tứ Xuyên, mới hay La Công Viễn tặng ông đương quy Tứ Xuyên là ý như thế.
   
   
THÂN THÁI CHI

Thân Thái Chi tự là Nguyên Chi, người Lạc Dương triều Đường, mẫu thân là Dương Thị mộng thấy nuốt linh chi mà mang thai, do đó đặt tên ông là Chi. Ông với Đường Huyền Tông cùng một ngày sinh, ông đã từng đi hết các danh lam thắng cảnh, sau đó đến tu luyện ở Thiệu Lãng Từ Hồ Sơn.

Đường Huyền Tông có một lần mộng thấy Hồ Nam Cơ có Bạch Vân Cư Sỹ, ông căn cứ tình cảnh trong mộng tìm đến Từ Hồ Sơn, lúc đó bèn mời Thân Thái Chi vào cung. Huyền Tông vừa nhìn thấy Thân Thái Chi đã nhận ra Bạch Vân Cư Sỹ trong mộng của ông. Vua rất mừng và ban cho ông danh hiệu là “ Đại Quốc Sư”, và còn nhường ông ở trong Huyền Chân Quan, đồng thời trong đấy còn có mấy vị cao sỹ đương thời như Trương Quả, Hình Hòa Phát, La Công Viễn, Diệp Pháp Thiện, Y Tâm, Hà Tư Viễn, Sử Sùng Bí, v.v…. họ thường du ngoạn cùng Huyền Tông.

Thân Thái Chi giỏi về tán dóc, mỗi lần Huyền Tông cùng ông tán gẫu, nói chuyện chơi hàng giờ vẫn không chán. Dương Quý Phi và Trương Văn Dung tiếp đãi Huyền Tông nhân đây cũng thường chiêu đãi trà, thuốc với Thân Thái Chi. Trương Văn Sinh thừa cơ hội xin ông thuốc trường sinh, Thân Thái Chi đáp lời bà ta nói:

“Ta không phải không cho bà, còn bà sống trên đời này không bao lâu đâu”.

Trương Văn Dung vẫn cầu khẩn mãi, Thân Thái Chi thương xót sự thành khẩn cung kính của bà, bèn tặng cho bà một viên Phong Tuyết Đơn, nói với bà rằng:

“Bà uống xong sau đó thi thể chắc chắn sẽ không hư hủy, nên nhớ kỹ lúc mai táng nên dùng quan tài lớn, mộ huyệt phải rộng rãi, trong miệng nên cho ngậm châu ngọc, mới có thể khiến hồn phách của bà không bị trôi dạt để dễ trở về. Như thế, một trăm năm sau, gặp được hơi thở của người sống, bà có thể sống lại. Đây là đạo thuật của Thái Âm luyện hình, nếu như thành công, bà sẽ tu thành địa hành Tiên, lại trải qua 100 năm, mới có thể biến thành Thiên Tiên”.

Sau đó, không bao lâu, Trương Văn Dung bệnh chết ở Lan Xương Cung, bà khẩn cầu Huyền Tông dựa theo phương pháp này của Thân Thái Chỉ an táng cho bà. Hoằng đế nhận lời. Đến đời Dương Hiến Tông niên hiệu Nguyên Hòa năm cuối, đã tròn 100 năm, Trương Dung quả nhiên gặp Tiết Chiêu mà được sống lại.

Thân Thái Chi về trên núi sau đó không bao lâu thì thành Tiên bay lên trời. Thời Tống, ông được phong là Diệu Tịch Linh Tu chân nhân.


TIẾT XƯƠNG


Tiết Xương là một tiến sỹ đời nhà Đường, khoảng năm Thiên Bảo, ông ẩn cư ở Thanh Thành động thiên quan thuộc Tứ Xuyên.
Có một ngày nọ ông vô tình uống phải Thương Lục tửu, bỗng nhiên tai, mũi chảy máu chết luôn. Nhưng qua 3 ngày, tự nhiên ông sống lại, mà da dẻ so với lúc trước càng trắng hơn, dung mạo cũng trẻ hơn nhiều. Thân thể ông cảm thấy nhẹ nhàng, nhãn lực cũng rất mạnh.

Bềnh bồng dáng giống như bay, ông có thể thấy xuyên suốt đồ vật xa gần, dù cho núi rừng ngăn cách cũng không ảnh hưởng.

Đương thời, Huyền Tông rất thích kết giao với đạo sỹ, mòi ông đến tân quán, đang định dùng ngựa mời ông vào kinh. Không ngờ, ông ngồi ngay thẳng mất tiêu trên lưng ngựa. Không bao lâu có người phát hiện ông đang ở Đại Diện Sơn, chầm chậm rong chơi.
   
   
TIẾT LÝ XƯƠNG


Tiết Lý Xương là người Hà Đông, có một lần ông gặp Tư Mã Thừa Trinh ở Nam Nhạc, từ đó ông đắc được một vài sách đạo, lúc đó ông thành tâm nghiên cứu, siêng năng tu tập. Sự thành tâm của ông cảm động tiên nhân trên trời, mỗi khi ông tụng kinh thì từ trên trời bay xuống rất nhiều thuốc thần đập vào mũi thơm phức.

Đường Minh Hoằng từng mời ông vào cung, nhờ ông dạy về đạo thuật, ông đều đáp lại bằng thi ca. Minh Hoằng hài lòng lắm, đối với ông rất ân sủng.

Có một hôm, ông bỗng nhiên nói với tả hữu rằng: “Chúc Dung Phong hôm nay có đại hội của tiên nhân, ta đã nhận lời mời, bây giờ ta sắp ra đi”.

Nói xong, ông nhảy lên đám mây, bay bềnh bồng vào bầu trời bao la.

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 05, 2011, 02:03:25 pm
(tiếp theo)

TỪ TẢ KHANH

Từ Tả Khanh là người Tứ Xuyên, là một đạo sỹ triều Đường khoảng niên hiệu Thiên Bảo.

Ông thường hóa thân làm con hạc bay trên trời. Huyền Tông có một lần săn bắn ở Tây Phạm, ngước đầu nhìn lên thấy một con hạc, liền bắn một mũi tên. Hôm đó, Từ Tả Khanh lúc trở về trên tay cầm một cây tên, ông nói với đệ tử rằng:

“Hôm nay ta ngao du bên ngoài, không ngờ bị tên bắn trúng”.

Nói xong, sau đó đem mũi tên treo lên vách tường, lại nói với đệ tử:

“Đợi chủ nhân của mũi tên. Khi đến một mình trả lại cho ông ta”.

Qua mấy năm, Huyền Tông quả nhiên vì tránh nạn đến Tứ Xuyên, ông đến đạo quan của Tả Khanh, phát hiện trên vách tường treo mũi tên của mình, không khỏi muôn phần kinh ngạc, thì ra nhiều năm trước đó ông ở Tây Phạm bắn trúng một con hạc, đó chính là đạo sỹ Từ Tả Khanh.
   
VÔ DU TỰ

Vô Du Tự là cháu của nữ Hoằng đế Võ Tắc Thiên, triều Đường. Ông vốn tính không ham thích vinh hoa, năm 14 tuổi làm nghề thấy bói ở chợ Trường An, vì tránh tai mắt người ta, mỗi khi ông đến một nơi nào, không quá 5, 6 ngày thì dời đi nơi khác. Cuối cùng ông ẩn cư ở Trung Nhạc, ngày thường chỉ dùng Phục Linh làm thức ăn. Vương Công quý nhân đã tặng cho ông các đồ dùng bằng cây mây và áo da nai, ông đều bỏ không dùng.

Vô Du Tự một đời tu hành, lúc già cơ thịt đều khô khan, hai con mắt rực sáng có thần và còn phát xuất điện quang màu tía. Dù cho ban ngày ông cũng thấy trăng, sao. Thính giác của ông cũng rất nhạy cảm, có thể phân biệt rõ ràng tiếng nói ở cách mấy dặm.

Sau này, triều đình mời ông vào cung, ông tránh nạn ấy mà đi, nhưng đối với thân quý triều Mãn, trừ Hàn Tuyên ra, một câu cũng không nói. Hoàng Đế phong ông  làm Quốc Công, ông cũng không chịu, ông lặng lẽ tới rồi cũng lặng lẽ ra về trên núi, từ đấy mãi mãi không ra khỏi núi nữa.
   
   
BÙI HUYỀN TĨNH

Bùi Huyền Tĩnh không biết người xứ nào, chỉ biết bà là vợ của Lý Ngôn đời Đường. Có một lần bà ngồi một mình trong nhà, nửa đêm nghe tiếng cười nói.

Lý Ngôn cảm thấy kỳ lạ, bèn nhìn trộm qua kẽ tường, mới phát hiện bên trong có hai người con gái ước chừng khoảng 16, 17 tuổi, tóc búi cao mặc áo nghê thường, mỹ lệ vô cùng, còn có mấy người hầu gái đứng bên, đều chải tóc đẹp mượt mà, mặc áo hồng, dáng vẻ yểu điệu.

 Lý Ngôn không cầm được kinh ngạc kêu lên, làm kinh động mấy người hầu gái, họ bỗng nhiên cùng hòa tấu nhạc tiên, một con phụng trắng bay tới, Bùi Huyền Tĩnh nhẹ nhàng cưỡi bay lên trời.

Đáng thương cho Lý Ngôn, ở lâu như vậy mà không biết vợ mình là Tiên nữ.

   
BẠCH HÒA


Bạch Hòa tự là Trọng Lễ, đầu tiên bái Đổng Tiên sinh làm thầy, tu tập tiên đạo. Sau này, ông lại đến núi Tây Thành, bái Vương Quân làm thầy, có một hôm Vương Quân nói với ông rằng:

“Đại đạo không phải dễ dàng được, bây giờ ta muốn đi đến Doanh Châu một lần, người ở lại trong vách đá này, mỗi ngày đều chăm chú nhìn vào vách đá, lâu thật lâu, người sẽ trông thấy các văn tự xuất hiện, đọc xong một số văn tự này người có thể đắc đạo”.

Bạch Hòa làm y theo lời thầy, hàng ngày định thần nhìn vách đá. Năm thứ nhất không trông thấy gì cả, năm thứ hai trông thất mập mờ nét chữ, năm thứ ba mới thất văn  tự nổi lên rõ ràng, thì ra là Thái Thanh Kinh, Thần đơn phương, Tam Hoằng văn và Ngũ nhạc đồ. Bạch Hòa kinh ngạc mừng rỡ vô cùng, không kể sớm tối chuyên lòng tụng, luyện.

Không bao lâu thì Văn Quân trở lại, ông thấy Bạch Hòa tụng kinh liền nói với ông rằng: “Chúc mừng ngươi đã đắc đạo”.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 06, 2011, 05:27:18 pm
(tiếp theo)

TRƯƠNG HUÂN

Trương Huân người Tấn Châu, hiệu là Hồng Nhai Tử, ẩn cư ở trong Cô Xạ động, tất cả các bí quyết của tiên ông đều thông suốt cả. Đường Huyền Tông mời ông nói:

“Tiên sunh giỏi về thổi sáo, có thể mời biểu diễn thử xem?”.

Trương Huân lập tức thổi sáo, lúc ấy cây rừng chấn động, bầy chim cùng hót, tùng reo trước gió, nước đì đùng dưới khe, kết thành một cảnh tuyệt đẹp ngoài thế giới, phảng phất cả vũ trụ đều nhịp nhàng ngân lên. Huyền Tông vừa cảm động vừa cao hứng, lúc đó muốn ban cho ông làm quan, nhưng ông cũng giống như các đạo nhân khác, Trương Huân cự tuyệt, thà chịu về núi ẩn cư chuyên lòng tu đạo.

Trải qua mấy năm, ở Hồng Châu bị bệnh ôn dịch lan rộng, có một đạo sỹ cuống đi vào thành bán thuốc, thuốc vừa uống là mạnh khỏe, cứu sống rất nhiều người. Huyền Tông biết được suy đoán ắt là Trương Huân, vừa hỏi quần thần, quả nhiên không sai, lúc đó bèn mời ông làm quan, không ngờ Trương Huân biến thành một trận sương mù lớn theo tiên mà đi luôn.
   
   
TRIỆU HUỆ TÔNG

Triệu Huệ Tông là đạo sỹ Hiệp Châu Nghi Đô. Ông thông hiểu Cửu Thiên tiên triện và Tam động bí pháp, sau này ông ẩn cư ở Quách Đạo Sơn. Đường Minh Hoằng niên hiệu Thiên Bảo năm chót ông trở về Hiệp Châu.

Có một hôm, ông chất một đống củi, chuẩn bị tự thiêu. Quan viên và dân chúng của Hiệp Châu chạy đến vây quanh xem. Chỉ thấy Huệ Tông ngồi ngay thẳng thoải mái trong lửa. có tiếng tụng kinh, không một chút kinh hoàng, đâu vào đấy cả, còn lửa mặc dù phừng phừng cháy lại không tổn thương đến ông chút nào. Từ trong lửa cháy rừng rực, tiếng tụng kinh của ông rõ ràng, làm cảm động mọi người, cũng làm tỉnh ngộ mọi người không ít.
Không bao lâu sau đó, tiếng kinh dứt, theo một làn khói xanh, Huệ Tông hóa thân thành con hạc tiên bay lên trời. Cây củi đã cháy thành tro hết, nhưng cỏ cây sát mặt đất vẫn xanh mượt, không có một chút dấu tích gì bị thiêu cháy.
   
   
VƯƠNG XƯƠNG NGỘ

Vương Xương Ngộ là quan giữ ngục Từ Châu. Có một hôm ông gặp lạc phách tiên nhân họ Trương, người tiên này đang bán thuốc chuột ở trong thành Từ Châu. Vương Xương Ngộ nhớ đến tù phạm thường bị chuột cắn bị thương, lúc đó mua một bình rồi trở về. Không ngờ chuột ăn thuốc độc của tiên nhân, sau này không những không chết mà còn mọc cánh bay lên trời.

Vương Xương Ngộ vội vàng chạy vào trong thành, lại cũng mua thuốc chuột như tiên nhân đó, ông uống một hơi hết trơn, quả nhiên cũng thành tiên. Lúc đó, ông bèn đổi tên là Dịch Huyền Tử. Lạc Phách tiên nhân trông thấy chuyện như thế bất giác cười lớn, và còn khẳng khái tặng ông một con ngựa về nhà, đợi ông về đến cửa, con ngựa đó dao động thân biến thành một con rồng. Hôm đó, ngày mồng 9 tháng 9, Vương Xương Ngộ cũng thành đại đạo, ban ngày bay lên trời.
   
   
NHAN CHÂN KHANH

Nhan Chân Khanh tự là Thanh Thần, cháu năm đời của đại học giả Nhan Cổ Sư học rộng tài cao, giỏi nhất là thư pháp, triều Đường khoảng năm Khai Nguyên trúng tiến sĩ, quan bái Lâm tế ngự sử.

Năm Kiến trung thứ tư, Đức Tông sai Nhan Chân Khanh đi lần này dữ nhiều lành ít, có đi không có trở về, lúc đó thân nhân bạn bè điều đến Trường Lạc Ba tiễn ông đi. Hôm đó, Nam Chân Khanh uống rượu say, ông bước lên xe nói với mọi người rằng:

“Tôi mấy năm trước có gặp một đạo sỹ tên là Đào Bát Bát, ông truyền thọ cho tôi cây đao bằng ngọc khuê và thần đơn, do đó đến nay vẫn không thấy già yếu. Đạo sỹ nói tôi đến năm 70 tuổi có tai ách, sau này ông sẽ ở La Phù Sơn gặp tôi, tôi sợ lời tiên đoán của ông là tai ách trước mắt chăng?”.

Nhan Chân Khanh đến Đại Lương quả nhiên bị Lý Hy Liệt treo cổ giết chết, thi thể táng tại phía Nam thành. Sau này, Lý Hy Hiệt thất bại, người nhà là Nhan Thị mở quan tài ra chỉ thấy dung mạo ông như bình thường, không chút thay đổi, toàn thân màu vàng, móng tay và râu tóc đều mọc rất dài. Người nhà đem ông về an táng tại Yển Sư Bắc Sơn.
Sau này, có một thương nhân đến La Phù Sơn, trông thấy hai đạo sỹ đang ngồi đánh cờ dưới gốc cây. Một đạo sỹ nói: “Ai tới thế?”.

Người kia trả lời rằng: “Tôi là thương nhân ở thành Lạc Dương”.

Đạo sỹ kia cười nói với ông rằng: “Phiền ông mang bức thư cho người nhà của Nhan tiên sinh được chăng?”.

Thương nhân đi về, đem thư cho con cháu Nhan tiên sinh. Họ mở ra xem, chính là chữ viết của Nhan Chân Khanh. Họ vôi vã chạy lên núi La Phù, trên núi không có một người nào cả.
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 06, 2011, 05:33:21 pm
(tiếp theo)

TRƯƠNG CHÍ HÒA


Trương Chí Hòa tự là Bất Đồng, người Kim Hoa triều Đường. Mẹ ông mộng thấy trên bụng mọc một cây phong mà sinh ra ông. Thời Đường Tiêu Tông, ông thi đậu Minh Kinh, Hoằng đế ban cho ông tên Chí Hòa, từ đó làm hàn lâm.
Sau khi cha mẹ Trương Chí Hòa mất, ông bèn từ quan về ẩn cư, ngao du giang hồ và tự lấy hiệu “Yên Hà câu đồ”, lại còn hiệu là  “Huyền Chân Tử”. Ông bình thường câu cá không cần mồi , bởi vì ông không mong được cá. Ông rất tinh thông về hội họa, biết uống rượu ba đấu vẫn không say. Nhưng hứng thú chân thật của ông vẫn là tu đạo. Ông có thể nằm trong băng tuyết mà không cảm thấy lạnh, nổi trên mặt nước cũng không bị ướt.

Ông cùng danh nhân đương thời như Lục Vũ, Nhân Chân Khanh nhậm chức Thích sử ở Hồ Châu. Trương Chí Hòa  hầu như mỗi ngày đều cùng ông ta uống rượu ngâm thơ, cùng nhau họa xướng.

Khi Nhan Chân Khanh đi chơi ở Bình Vọng Dịch, Trương Chí Hòa thường uống say bí tỉ, uống say bèn trải chiếu trên mặt nước ngồi tiếp tục uống, trôi đi trôi lại, giống như chiếc thuyền.

Có một lần Trương Chí Hòa đang ngồi trên chiếu uống rượu trôi qua sông, bỗng từ trên mây có con hạc bay tới, mở rộng đôi cánh chở ông đi, người hai bên bờ sông kinh ngạc vô cùng. Lúc đó, Trương Chí Hòa vừa vẫy tay tạm biệt với Nhan Chân Khanh, vừa mỉm cười bay lên trời cao.

   
LÝ HẠ

Lý Hạ tự là Trường Kiết, là hậu đại tông thất triều Đường Trịnh Vương. Ông dáng người xấu xí nhỏ bé, mày rậm, móng tay dài, mới 7 tuổi liền có thể viết văn chương, do đó được gọi là thần đồng. Hán Vũ và Hoằng Phi không tin ông có kỳ tài như thế bèn đi đến nhà ông thử tài thi phú, không ngờ Lý Hạ cầm bút không do dự viết một bài thơ rất hay, “Cao Can Quá”, Hàn Dũ không khỏi kinh ngạc khen là thiên tài.

Lý Hạ do cha mẹ kêu tên Tấn Tiêu, vì tránh kiêng kỵ, do đó không thể thi tiến sỹ, rốt cùng vận quan không tốt, nhưng ông nhiệt tình thích viêt thơ, mỗi ngày cưỡi  con lừa nhỏ, chở sách thiếu nhi đến trong thành dạo chơi, vừa có linh cảm thì viết trên giấy, đem để trong cẩm nang.

Năm 27 tuổi, có một hôm ông bỗng thấy có một thiên sứ cưỡi con rồng đỏ, mặc áo hồng lớn, tay cấm cái bản phía trên khắc một vài văn tự rất cổ, giống như Tích Lịch thạch văn. Thiên sứ nói với Lý Hạ rằng:

“Thượng đế mời Lý Trưởng Kiệt”.

Lý Hạ đọc không ra văn tự kỳ quái này, lúc đó bèn ở trên giường không cầm được khấu đầu nói:

“Mẹ tôi vừa già vừa bệnh, tôi không thể bỏ mặc bà ta không chăm sóc”.

Người mặc áo đỏ cười nói:

“Làu Bạch ngọc của Thượng đế vừa khánh  thành muốn mời ngài đi làm tấm biển văn kỷ niệm, cuộc sống trên trời rất vui  vẻ, một chút cũng không khổ, ngài không cần lo lắng”.

Lý Hạ khóc, chầm chậm tắt thở. Chỉ thấy bên cửa sổ một trận khói mạnh mẽ, sau đó lai có tiếng bánh xe lăn chuyển động.

Người đời sau gọi Lý Bạch là Thi tiên, Lý Hạ là Quỷ tài, thi phong của ông quỷ quyệt kỳ dị, duy mỹ thi phong, gợi phát thời văn Đường, Lý Mục Tử, Lý Thương Ẩn đều rất kính trọng ông.

   
HÀ KHỨU TRỌNG

Hà Khứu Trọng người ở huyện Ninh, ngày thường làm nghề bán thuốc, nghe nói ông sống hơn 100 tuổi, ông đã bán thuốc hơn 100 năm.

Có một lần, huyện Ninh phát hiện một chấn động đất lớn, Khứu Trọng cùng mười mấy người, nhà cửa ông đều bị đổ ngã, mọi sự sống của ông đều bị đất lấp chết hết. Qua cuộc động đất, sau đó có người tìm thấy thi thể Khứu Trọng đem bỏ ở trong nước và lấy thuốc của ông còn dư lại đem bán. Đang bán chợt thấy Khưu Trọng mặc áo bào tới lấy thuốc. Người đó mặt tím ngắt bèn quỳ xuống cầu xin tha tội. Không ngờ, Khứu Trọng vui vẻ nói với ông:
“Đừng sợ, tôi không phải làm người sợ, chẳng qua chỉ để ngươi giật mình. Ta sắp đi, mong người tự làm tốt”.
Khứu Trong nói xong biến mất không thấy. Người ở xứ đó nói ông đã thành tiên.
   
   
GIANG TẨU

Gang Tẩu là một người thôn quê biết thổi sáo, tiếng sáo của ông thổi trong trẻo thật hay, khiến người ta có cảm giác đang ở ngoài thế giới.

Có một hôm, ông ngồi trên cây quế thổ sáo, tàn lá rất rộng, bóng quế khắp đất, chim ở trên cây xa gần đều ngừng huyên náo, lặng yên nghe tiếng sáo của ông ngân vang bồng bềnh trong trời xanh mấy trắng. Không biết thổi được bao lâu, dưới gốc cây quế bỗng có một vị thàn tiên già đi ra, mặt mày rất hiền từ. Nghe xong một đoạn, ông ta bèn ngước đầu hỏi Giang Tẩu:

“Người thổi rất hay, tiên nhạc ở trên trời cũng không hơn như thế. Người ở thôn nghèo bị mai một thế này thật đáng tiếc, người nên đến Kim Sơn tìm một vị Bào Tiên (tiên cá) để ông cho ngươi một vài chỉ điểm”.
Nói xong, ông già ẩn mất trong cây quế. Giang Tẩu quả nhiên đến Kim Sơn tìm được Bào Tiên, Bào Tiên tặng cho ông ông cây sáo ngọc. Ông tiếp lấy và thổi thì có một con rồng bay tới đón ông xuống trong nước đi làm thủy tiên.
   
   
HỨA TÂY NHAM

Hứa Tây Nham nhà ở dưới dốc núi, nhà Đường niên hiệu Trịnh Nguyên lên kinh đô thi bị rớt, ông bèn tạm thời ở lại Trường An.

Có một hôm, ông đi trên đường phố Trường An gặp một con ngựa Phiên to lớn khỏe mạnh, ông rất muốn mua nhưng giá thành quá cao, ông còn do dự chưa quyết định. Lúc đó, ông nhờ Đạo Sỹ bói cho một quẻ, bói ra quẻ Càn cửu ngũ hào, lời quẻ rằng: “Phi Long tại thiên, lợi kiến đại nhân”. (rồng bay trên trời, sẽ gặp bậc đại nhân”. Đạo Sỹ nói với ông: “Con ngựa này thuộc giống rồng, tiên sinh nếu như mua được nó, tương lai ắt có thể bay lên trời!”.
Tây Nham nghe nói rất vui mừng, không cần đắn đo chút nào bèn mua ngay.

Đương thời, danh thần Ngụy Linh Công trấn thủ Tứ Xuyên, Hứa Tây Nham bèn cưỡi ngựa đi thăm ông, giữa đường khi đi qua Kiếm Các, ngụa bỗng nhiên trượt chân ngã xuống sâu vạn tượng, tình huống lúc đó rất nguy hiểm, nhưng người ngựa đều an nhiên vô sự, Hứa Tây Nham vô cùng kinh ngạc, tiếp tục đi mấy mươi dặm sau đó đến một cái động, trông thấy trong động hoa nở tươi tốt, bên rừng cây còn có đá xanh hồ nước, bên bờ ao trong thạch thất có một vị đạo sỹ, tóc bạc mặt hồng, ngày thường nằm trên một cái sạp bằng đá, có hai tiên nữ đứng hầu hai bên. Sự xuất hiện của Hứa Tây Nham là kinh động hai tiên nữ đó, họ hỏi: “Ông là người gì, tự nhiên làm ồn đến tiên cư của Thái Ất Nguyên Quân?”.

Tây Nham đem tình hình thật nói với họ. Họ đi báo cáo với Nguyên Quân, Nguyên Quân hỏi ông:
“Ông ở nhân gian thích làm việc gì?”.

Tây Nham trả lời ông rằng ông rất thích tụng kinh Huỳnh Đình của Lão Trang.

Nguyên Quân lại hỏi ông: “Ông đối với Lão Trang có tâm đắc gì không?”.

Tây Nham trả lời nói: “Trang Tử nói chân nhân dùng chân để thở, Lão Tử thì cho rằng tình thần mới là chân thật, kinh Huỳnh Đình giảng về đạo lý trường sinh bất lão”.

Nguyên Quân nói: “Ông nói thật hay, xác thật phải lãnh hội”.

Bèn mời Tây Nham ngồi xuống, kêu ngọc nữ rót rượu cho ông uống. Nguyên Quân nói: “Năm nay Kê Khang không thể được, mà nay ông được âu cũng là cái mạng!”.

Hứa Tây Nham vội vàng cầu tạ, chỉ nghe Ngọc nữ nói: “Dĩnh Đạo sỹ đến rồi”.
Nguyên Quân dặn dò sắp đặt chỗ ngồi, Tây Nham định mắt nhìn vị Đạo sỹ họ Dĩnh thì ra chính là người ông nhờ xem bói mua ngựa ở Trường An năm xưa. Chính đang lúc kinh ngạc, đạo sỹ mở miệng nói: “Tôi năm trước phê quẻ nào hôm nay ứng nghiệm rồi”.

Không bao lâu có tiên đồng cưỡi rồng nai đến nói:

“Đông Hoằng Quân đón Nguyên Quân đến Khúc Long Sơn đi ngắm trăng”.

Nguyên Quân nói với Tây Nham: “Chúng tôi sao không được cùng đi?”

Lúc đó, họ mỗi người cưỡi một con rồng, con nai vẹt hư không mà đi. Chớp mắt thì đã đến Khúc Long Sơn, chỉ thấy quế cao, cầu nguy hiểm, ngọn núi quanh có hiểm trở, ngọn núi quanh có cao vạn trượng. Nguyên Quân muốn Tây Nham đi bái Đông Hoàng, Đông Hoằng nói với ông:

“Ngươi là con cháu của Hứa Trương Sử, hôm qua tôi mới uống rươu cùng ông ta, ông ta cũng biết ngươi đến đây”.
Trong tiệc rượu, Đông Hoằng sai ngọc nữ ca hát, loan phượng nhảy múa, để làm vui cho khách.

Sau khi ca múa xong, Nguyên Quân và Tây Nham lại cưỡi rồng trở về. Hứa Tây Nham từ trên không trung trông thấy trên mặt đất có một cái thành lớn, liền hỏi đây là nơi nào. Nguyên Quân bảo đó là nước Tân La. Đến bờ biển có cái thành nhỏ, Tây Nham lại hỏi, Nguyên Quân nói là Đường Quốc Đăng Châu. Trong khoảng khắc về đến động phủ.Tây Nham bái và cầu xin cho ông được về nhà, Nguyên Quân bảo ông rằng:

“Ngươi đã uống rượu tiên,có thể sống đến 1000 tuổi, chỉ mong người giữ kín miệng, không tiết lộ thiên cơ, lại càng không phóng đãng ham muốn, phải giữ thân tâm cho thanh tịnh, chúng ta còn có cơ hội gặp lại”.
Trước khi Tây Nham lên ngựa, Nguyên Quân nói:

“Con ngựa này là thân long trong động phủ tôi. Bởi vì nó làm tổn hại nhà nông nên bị giáng chức xuống nhân gian. Ngươi về đến nhân gian không thể cưỡi nó nữa, chỉ cần thả nó trở lại Vị Thủy, tự nhiên nó trở lại thân rồng”.
Lúc bấy giờ ngọc nữ cùng đi lại nói nhỏ với Tây Nham rằng:

“Ông đến huyện Hiệu, giúp tôi tìm Điền Bà, nói là gửi cho tôi mấy cấy kim được không?”.

Tây Nham nhận lời, ông nhảy lên long mã, trong khoảng khắc về đến huyện Hiệu, mà ở nhân gian đã trải qua 60 năm rồi. Thời ấy, Đường Huyền Tông niên hiệu Đại Trung thứ 5, Hứa Tây Nham quả đến Điền Bà và nói với bà về việc cần cây kim. Điền Bà nói:

“Thái Ất Gia Tử Tiêu Tỷ viết thư đến nói, nhờ người đến tôi lấy kim, ông chính là người họ nhờ cậy phải không?”.
Điền Bà đưa cái kim đem cho Tây Nham.Tây Nham lấy kim buộc trên bườm ngựa sau đó đến Vị Thủy thả nó. Quả nhiên, ngựa vừa thấy nước liền thân bay lên biến thành rồng.
Hứa Tây Nham sau này ẩn cư ở Khương Lô Sơn, ra vào không nhất định, không biết cuối cùng đi đâu.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 06, 2011, 05:36:43 pm
(tiếp theo)

DU LINH


Du Linh là người Hà Gian, ông đến tu đạo ở Hoằng Sơn Cửu Chân Quan. Nam Nhạc Xích Quân dạy ông phép thuật Thiên lý nhãn. Ông siêng năng tu tập 20 năm, sau khi tu thành công ông ngồi trong nhà mà có thể trông thấy mọi việc khắp nơi trong thiên hạ. Việc to việc nhỏ không sót, rõ ràng như ở trong lòng bàn tay. Nhưng Du Linh ẩn không ra ngoài, từ đấy không còn thấy pháp thuật kinh hãi lòng người.

Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa Đường Hiến Tông, quan sứ Bân Châu phát hiện, ông có thể thấy mà người ta chưa thấy, nói điều mà người ta không thể nói, rất kinh ngạc liền bàn hỏi với ông. Du Linh từ chối nói đây chỉ là khéo kết hợp, ông chỉ là người bình thường không có chi hơn người cả.

Từ đấy, Du Linh đóng cửa không ra ngoài nữa, sau đó đến Cửu Nghi Sơn tu đạo nghe nói ông cũng tu thành thần tiên.
   
LÝ NGỌC

Lý Ngọc người Quảng Lăng triều Đường, ngày thường làm nghề bán gạo, mỗi đấu gạo chỉ lời 2 văn tiền vừa đủ để nuôi dưỡng cha mẹ. Mỗi lần ông bán gạo, đều cho người mua tự lấy đấu đong gạo, không một chút tính toán cũng không mảy may nghi ngờ.

Thừa Tương đương thời cũng tên Lý Ngọc. Khi ông ở Chuẩn Nam, nằm mộng thấy đi vào trong một cái động phủ, trông thấy trên vách đá có hai chữ thật lớn sắc vàng, đứng gần xem rõ ràng là tên của mình. Lý Ngọc (Thừa Tương) rất mừng cho là mình đã có tên trong bảng tiên, ông ta đang vô cùng khoái trá, bỗng nhiên có hai đồng tử đi lại nói với ông rằng:

“Đây chỉ là một người bình dân ở quận Giang Đương, ông ta và ông cùng họ cùng tên, cũng là Lý Ngọc. Ông ta cả một đời thuần hiếu mà còn thành, thật đáng lý phải thành tiên”.
Lý Ngọc ở thế gian sống hơn 100 tuổi, sau đó quả nhiên thành thần tiên. Có thể thấy điều kiện thành thánh, thành tiên là ở phẩm cách mà chẳng phải quyền thế.
   
   
Y   KỲ HUYỀN GIẢI

Y   Kỳ Huyền Giải, tên kỳ lạ mà người cũng kỳ lạ, ông lớn lên tóc thì bạc mà nhan sác thì trẻ, thân thể tỏa khắp hương thơm, ngày thường cưỡi con ngựa màu vàng, con ngựa này không ăn cỏ, cũng không dùng dây cương, chỉ cần dùng thảm màu xanh trải trên lưng nó thôi. Ông cưỡi ngựa dao du giữa Thanh Châu va Duyễn Châu, người thấy đêu nói việc ngàn năm. Họ đều đến để chính mắt nhìn thấy.

Đường Hiến Tông nghe nói đại danh của ông, liền mời ông vào cung, chiêu đãi ông ở trong cung Cửu Hoa là một nơi rất hào hoa, mỗi ngày mời ông uống rượu Long Cao là một loại rượu quý rất nổi tiếng, và còn đích thân hỏi đạo, đối với ông rất trọng hậu. Nhưng Huyền Giải vốn tính thẳng thắn, từ đấy không chịu câu thúc lễ tiết của quân thần, Hoằng đế hỏi:

“Tiên sinh tuổi thọ cao như núi mà dung mạo không già, do là có đạo lý gì?”.

Huyền Giải đáp:
“Tôi ở trên biển trồng cỏ Linh Chi, ai ăn thứ đó đều có thể trường sinh bất lão”.

Vì đáp lại sự trọng đãi của Hoằng đế, Huyền Giải đích thân mang gống cỏ Linh Chi về trồng trong vườn thú ở cung đình. Tất cả có 3 thứ: Song Lân Chi, Lục Hợp Quỳ và Vạn Cân Đằng, Hoằng đế sau khi ăn rồi, quả nhiên cảm thấy to lớn không giống lúc trước.

Trải qua thời gian không bao lâu, Huyền Giải muốn trở về Đông Hải, Hoằng đế không chuẩn, lúc đó Huyền Giải ở trong cung dùng gỗ khắc Phùng Loan Tam Sơn, Kim Bích Huy Hoàng, Châu Quang Bảo Khí, Hoằng đế được mời đến chiêm ngưỡng. Hoằng đế chỉ Phùng Lai nói:

“Nếu như không phải người thành tiên, làm sao có thể đi vào cảnh đẹp đẽ này?”.
Huyền Giải cười đáp:

“Tam đảo chỉ trong gang tấc, đến không khó gì. Tôi tuy không có khả năng, nhưng muốn cùng bệ hạ thử đi một chuyến”.

Nói xong, ông lập tức nhảy lên không trung, thân thể từ từ rút nhỏ lại, rồi chui qua trong cửa cung vàng bạc của giả sơn, tả hữu cung nhân liều mình kêu ông, ông cũng không chịu ra.

Xem thấy một màn “Tiên độn” (tiên ẩn), Hoằng đế rất hối hận, dường như muốn phát bệnh.Lúc đó bèn đặt ngọn giả sơn tên là Tàng Chân Đảo. Qua mấy ngày, Từ Thanh truyền lại một tin tức, nói là trông thấy Huyền Giải vượt biển mà đi.
   
   
TRỊNH TOÀN PHÚC


Trịnh Toàn Phúc là người Giang Tây Kỳ Lương, thời Đường An Tông ông đến Tân An động Chư Linh tu luyện, sau đó lại đến động Liên Hoa, du ngoạn ở suối Đào Hoa.

Lúc ở suối Đào Hoa, ông thường trông thấy một ông già ở trên suối Đào Hoa chèo chiếc thuyền bằng sắt qua qua lại lại. Nhìn kỹ từng chiếc thuyền nặng lắm, nhưng ông lão chèo nhẹ nhàng đi rất nhanh, cảm thấy không có một chút dùng sức, thuyền cũng không bị khẳm. Toàn Phúc trong lòng rất bồn chồn, thầm nghĩ ông già này chắc chắn không phải người bình thường. Một hôm, ông làm liều nói với ông già cho mượn chiếc thuyền về quê, không ngờ ông lão không một chút do dự nhận lời, nhưng ông yêu cầu Toàn Phúc mượn tối đa 3 năm phải trả lại.

Ba năm sau, Trịnh Toàn Phúc y lời hẹn trở lại. Ông già ở trên suối Đào Hoa chơi 3 năm, khi trở về đã hơn 100 tuổi. Sau đó, nghe đệ tử nói, ông chèo chiếc thuyền sắt ngược suối Đào Hoa cho đến khi thành tiên.
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 06, 2011, 05:39:53 pm
(tiếp theo)

LIỄU THẬT VÀ NGUYÊN TRIẾT


Liễu Thật và Nguyên Triết là người Hoành Nhạc. Khoảng niên hiệu Nguyên Hòa triều Đường, hai người kết bạn đến Hoan Khánh Nhị Châu đi tìm Tĩnh Thân, trên đường từ Đăng Châu qua biển Giao Chỉ, nửa đêm bỗng trông thất gió lốc nổi dậy. Thuyền bị vỡ, họ đều trôi dạt vào một hòn đảo trên biển.

Ngày thứ 2 khi trời sáng, họ leo lên đảo nhỏ, bốn bề vắng vẻ. Họ phát hiện trên đảo có một cái miếu, trong miếu có tượng của Bạch Ngọc Thiên Tôn, trên bàn thờ có cái lò bằng vàng. Họ đang nhìn dáo dác thì bỗng nhiên phía đông xuất hiện mây màu tía, từ mặt biển bay vọt thẳng lên đảo. Trong chớp mắt có hai thị nữ bưng tráp ngọc tới miếu Thiên Tôn vừa lễ lạy vừa đốt hương lạ tỏa thơm phức. Liễu, Nguyên hai người vội vàng đi tới hai thị nữ này giải thích sự việc họ bị nạn trên biển, nhờ tìm cách giúp đỡ. Thị nữ bảo họ rằng:

“Đợi một chút Tôn Sư đến đây và Nam Minh Phu Nhân gặp nhau, lúc đó các ông có thể cầu họ giúp đỡ chắc chắn sẽ có hiệu quả”.

Thị nữ vừa nói xong thì có hai vị Tiên nhân cưỡi nai trắng vẹt mây bay tới. Liễu, Nguyên hai người lạy họ cầu cứu.
Ngọc Hư Tôn Sư nói với họ rằng:

“Hai vị theo Nam Minh Phu Nhân đi, chắc chắn sẽ tìm được đường về, không cần phải lo lắng”.

Nam Minh Phu Nhân nhìn chăm chú Liễu, Nguyên hai người hồi lâu mới nói:

“Hai vị có nét tiên phong đạo cốt, sau này tu ắt thành thần tiên. Nhưng hai vị phải có thầy mà ta cùng hai vị hoàn toàn không có duyên phận thầy trò. Nhưng đã trôi nổi gặp nhau, ta cũng không thể không có chỗ chứng tỏ”.
Nói xong, bà kêu thị nữ tiễn họ đi về, đến lúc đi còn tặng cho họ hai cái bình ngọc.

Họ bái từ tiên nhân, vừa đi khỏi cửa bỗng nhiên trông thấy một cây cầu dài mấy trăm trượng, hai bên lan can mọc đầy hoa thơm cỏ lạ, thì ra cây cầu dài kia do một bầy rồng nối liên tiếp nhau mà thành. Khi họ đi đến bờ, thị nữ cởi vạt áo lấy ra một cái hộp, bên trong có một vật hình giống con nhền nhện, nói với họ rằng:

“Tôi là thủy tiên, trong mạng căn thuần âm, không có dương. Hồi trước đã một lần gặp một thiếu niên, hai mối tình cùng vui, cùng kết châu thai, ngày nay đứa trẻ đã lớn được 3 tuổi rồi. Nam Minh Phu Nhân ra lệnh tôi đem con cho thần Nam Nhạc làm nghĩa tử, mấy năm trước Nam Nhạc về Nhạn Phong Sơn, có sứ giả đến thủy phủ, đem đồ chơi của con tôi là ly ngọc cho tôi, mà sứ giả đó lại dấu không đem cho tôi. Hai vị lần này đi về, cảm phiền hai vị đến Nhạn Phong Sơn giúp tôi tìm đến sứ giả đó, sau đó lấy cái hộp này ra thì có thể được cái Ly Ngọc lại. Đến lúc đó, phiền các vị đem cái Ly Ngọc này đến Nhạn Phong Sơn đưa cho con tôi, con tôi chắc chắn sẽ hỏi hai vị, dù thế nào thì hai vị cũng không trả lời!”.

Liễu, Nguyên hai người hỏi thị nữ rằng:
“Phu nhân nói sau này chúng tôi đến nhân gian, nếu như đậy cái hũ ngọc này sẽ có sự tình phát sanh, đây rốt cuộc là ý gì vây?”.

Thị nữ trả lời rằng:
“Hai vị có tâm nguyện gì, vừa đậy hũ ngọc, việc gì cũng như ý”.

Họ lai hỏi thị nữ:
“Phu nhân nói chúng tôi riêng có thầy, người đó là ai thế?”
Thị nữ đáp:
“Đó là Nam Nhạc Thái Cực tiên sinh”.

Đối đáp xong hai người cáo từ ra đi. Khi về đến nhà nhân gian đã trải qua 10 năm dài.Mấy đứa trẻ lúc trước đã thành thanh niên. Vợ họ đều đã chết rồi.
Ngày thứ 3 hai người vội đậy hũ ngọc, trong hũ phát ra một tiếng nói: Có thể đến miếu sứ giả đưa cái hộp này, hai vị sẽ được thuốc hay”.

Hai người đó vội vã đi đến Nhạn Phong Sơn, tìm được miếu sứ giả, sau đó đem cái hộp trình lên rồi đi. Trong chốc lát một con rồng đen bay vượt không trung, quả nhiên quăng xuống một cái ly ngọc, họ nhặt lấy ly ngọc, đi nhanh đến miếu Nam Nhạc. Trong miếu có một thiếu niên áo vàng, lấy hai cái hộp chế bằng vàng, nói:
“Thuốc này tên là Phản Hồn Hào, trong nhà hai vị nếu có người chết, dù cho đã qua 60 năm, đem nó xoa lên đỉnh đầu thì có thể sống lại.”

Nói xong, thiếu niên liền biến mất.

Hai người lúc đó về nhà, và theo lời nói đem thuốc xoa lên đỉnh đầu vợ, quả nhiên vợ họ đều sống lại. Lúc đó, họ cùng nhau đi đến núi Nam Nhạc hỏi thăm Thái Cực Tiên sinh, nhưng cả năm cũng không tìm được.

Có một hôm họ trông thấy một ông già ở trong tuyết lớn, vác củi đi một mình, hai người không chịu được cảnh ông già bị lạnh, bèn lấy rượu mời ông uống. Mới vừa tới gần bỗng nhiên thấy hai chữ “Thái Cực” khắc trên gánh củi, hai người vui mừng lập tức quỳ xuống bái làm thầy, và lấy bình ngọc ra làm bằng chứng. Ông già trông thấy bình ngọc liền nói:

“Ta bình sinh luyện nước ngọc trữ chứa trong cái hũ này”.
Lúc đó ông già dẫn hai người cùng lên Chúc Dung Phong, từ đấy cũng không trở về nhân gian.

   
LƯ SƠN NHÂN



Lư Sơn Nhân lai lịch không rõ ràng, khoảng niên hiệu Bảo Lịch ông thường ẩn hiện ở Kinh Châu, bề ngoài là một nhà kinh doanh buôn bán, bỗng biểu lộ ra một chút dấu kỳ lạ, mọi người đều đối với ông không lường đươc sự cao sâu.
Có một thương nhân Triệu Văn Khanh muốn tới lui cùng ông, lúc đó thường tới mua đồ đạc và còn mượn cơ hội hướng về ông học hỏi đạo lý. Lư Sơn Nhân phát giác có khác lạ, bèn hỏi ông ta rằng:

“Ông tìm tôi với mục đích gi?”.

Triệu Văn Khanh đáp:
“Tôi biết ngài là bậc cao nhân ẩn kín không lộ diện, mong được sự chỉ dạy đôi chút”.

Lư Sơn Nhân cười nói:
“Tôi thấy chủ của ông trưa hôm nay sẽ bị cái họa lớn rơi vào đầu. Nếu như ông nghe lời khuyên của tôi, đại họa có thể khỏi. Khi đến giờ ngọ sẽ có một người bán bánh quảy cái túi đến nhà ông, trong túi ông ta có hai nghìn đồng tiền, anh ta sẽ tranh cãi vô lý, ông nhớ nên đóng cửa nhà, bảo với vợ con đừng nói chuyện với ông ta. Đối phương sẽ chửi lớn, cả nhà ông nên chạy đến bờ sông ẩn tránh, như vậy có thể tiêu phí tài sản ba ngàn tư đồng có thể tiêu tai”.

Đương thời Triệu Văn Khanh ở nhờ nhà của người họ Trương, sau khi ông trở về, lập tức đưa chuyện Lư Sơn kể cho họ nghe một lượt.

Trương Tiên Sinh cũng rất bội phục Lư Sơn Nhân, lúc đó mọi việc đều y theo đấy mà làm. Ông đóng cửa đúng giờ ngọ đã đến, quả nhiên có hình người giống như Lư Sơn Nhân tả, kêu cửa mua gạo. Do Trương Thị không trả lời, ông nổi cơn đại nộ dùng chân đạp mạnh cửa nhà. Do đó làm kinh động làng trên xóm dưới, đều ào ào chạy lại vây xem.

Đồng thời ông Trương dẫn vợ con hầu gái từ cửa sau chạy trốn bên bờ sông. Giờ ngọ vừa qua, người đó bực tức bỏ đi, nhưng mới đi được mấy trăm bước, bỗng nhiên ngã té mà chết. Vợ con người đó nghe tin vội chạy đến, đám người vây quanh đem tình huống lúc nãy kể lại cho bà ta. Bà rất khổ tâm, liền chạy đến ông họ Trương khóc thảm thiết, còn vu cáo nhà ông Trương hại chết chồng bà.

Kết quả một hàng người huyên náo tiến vào nha môn, huyện trưởng một lúc cũng không biết phán quyết thế nào, may thay có hàng xóm đến làm chứng cho họ, huyện trưởng mới rõ sự tình, ông nói với mọi người rằng:

“Họ Trương tuy không có tội, nhưng trên đạo nghĩa phải vì người chết lo liệu việc tang”.
Họ Trương vui vẻ nhận lời, vợ ông kia cũng không oán trách, họ vào trong thành làm việc tang xong, vừa tình lại quả thật tiêu đúng 3400 văn tiền, so với lời tiên đoán của Lư Sơn Nhân không sai mảy may.

Lư Sơn Nhân sau này đi Kinh Châu, chuẩn bị hỏi thăm Lục Tú Tài. Có người bảo Lục Tú Tài nói Lư Sơn Nhân có đạo thuật, lúc đó Lục Tú Tài mới đi trước đến thăm Lư Sơn Nhân. Lúc đó Lục Tú Tài định đi kinh thành ở nhà một người bạn, nhân đây mà thỉnh giáo Lư Sơn Nhân họa phước tốt xấu thế nào.

Lư Sơn Nhân nói với ông ta rằng:
”Ông bây giờ không nên đi, phía sau nhà ông có một chậu tiền, dùng ván gỗ đóng kín, dù đó không phải là tiền của chủ ngươi năm nay mới 3 tuổi, dù thế nào ông cũng đừng lấy một đồng tiền. Nếu ông lấy tiền thì có họa liền, ông có nghe lời khuyên của tôi không?”.

Lục Tú Tài kinh ngạc nhận lời.
Sau khi Lư Sơn Nhân đi rồi, Lục Tú Tài cười nói vớ vợ rằng:
“Lư Sơn Nhân đã nói như vậy, ta đòi làm gì”.

Ông bèn sai người đầy tớ đào đất vừa được mấy thước quả nhiên thấy một cái chậu, bên trong đầy tiền. Vợ ông lấy cái quần gói tiền lại, ước chừng được một xâu. Đang đếm, bỗng nhiên đứa con gái lớn của ông kêu đau đầu, Lục Tú Tài mới kinh hãi nói:

“Đây chẳng phải là lời tiên đoán của Lư Sơn Nhân linh nghiệm?”.

Ông lập tức cưỡi ngựa đuổi theo Lư Sơn Nhân, hướng về ông tạ tội. Lư Sơn Nhân tức giận nói:
“Cốt nhục và tiền bạc cái nào quan trọng! Ông thử cân nhắc xem”.

Nói xong quay đầu đi mất. Lục Tú Tài về đến nhà vội vàng gói tiền kỹ càng chôn trở lại, đứa con gái của ông cũng lập tức khỏe mạnh lại ngay.

Lư Sơn Nhân đến Phục Châu, cùng mấy người bạn dạo trên đường phố, bỗng gặp 6, 7 người ăn mặc coi chừng sang trọng, hơi rượu nực nồng. Lư Sơn Nhân vừa trông thấy họ đã lớn tiếng mắng rằng:

“Các người là những thằng làm xằng làm bậy, cách cái chết không xa đâu”.
Mây người đó lập tức quỳ xuống đất lạy và tạ tội nói:
“Từ đây về sau không dám nữa”.

Bạn của Lư Sơn Nhân đều rất kinh ngạc, hỏi ông ta chuyện gì thế, Lư Sơn Nhân nói:
“Mấy người này đều là cường đạo cướp thuyền trên sông”.

Có Triệu Nguyên rất thân quen với Lư Sơn Nhân, căn cứ theo tướng mạo ông có lúc thấy rất già, có khi lại nhìn thấy rất trẻ, đồng thời cũng ít thấy ông ăn uống. Ông từng nói với Triệu Nguyên:

“Ở thế gian kẻ thích khách ẩn hình không ít, con người đắc được thuật ẩn hình mà không dùng, qua 20 năm có thể phân thân biến hình, thoát ly thể xác. Lại qua 20 năm liền biến thành địa tiên”.

Lời nói và  việc làm của Lư Sơn Nhân rất kỳ dị, do vậy người thời đó suy đoán ông chắc có lẽ là người trong thần tiên.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 06, 2011, 05:44:55 pm
(tiếp theo)

BÙI HÀNG

Bùi Hàng là một thư sinh, khoảng niên hiệu Trường Khánh đời Đường, do thi rớt ông bèn đi đến các nơi thăm bạn cũ. Đương thời, Thôi tướng quốc tặng cho ông 20 vạn tiền, lúc đó ông thuê chiếc thuyền lớn đi chơi ơ Nhương Hán. Đi cùng trên thuyền có Phàn Phu Nhân, là một mỹ nữ nổi tiếng, Bùi Hàng chưa có cơ hội gặp cô ta, bèn nhờ tỳ nữ đem thơ mình viết tỏ ý ái mộ. Qua mấy ngày, Phàn phu nhân cũng sai nữ tỳ đến mời Bùi Hàng để gặp mặt, nói với ông rằng:

“Chồng tôi ở Hán Nam, ông định không làm quan nữa chỉ lo tu đạo ở Nam Cốc, lòng tôi rất là lo âu, xin đừng đùa giỡn với tôi được không?’.

Bùi Hàng xem xong vừa ân hận vừa xấu hổ. Sau khi đến Nhương Hán, Phàn phu nhân không từ giã mà đi, Bùi Hàng tìm khắp nơi mà không gặp cô ta.

Có một hôm ông đến Lam Kiều Trạch vì khát nên muốn tìm nước uống. Ông trông thấy 3, 4 ngôi nhà  tranh, trong nhà có một bà lão đang dệt vải. Bùi Hàng hướng về bà lão chào hỏi và xin ít nước uống, bà lão kêu lớn nói:
“Vân Anh, nhanh đem lại đây một bình nước”.

Bùi Hàng sực nhớ tới Phàn phu nhân, trong thơ đưa có đề cập đến câu Vân Anh, đang kinh ngạc không bao lâu có thiếu nữ Vân Anh bưng ra một ly nước. Bùi Hàng uống cảm thấy ngọt như nước cam lồ.

Bùi Hàng vì có tình hiếu kỳ bèn nhìn trộm qua bức mành, ông phát hiện bên trong có một người con gái sáng chói đẹp đẽ, Bùi Hàng bất giác động lòng ông nói với bà lão:

“Con ngựa của tôi rất mệt mỏi, có thể cho tôi ngủ trong  phủ này một đêm chăng?”.
Bà lão nói: “Xin cứ tự nhiên”.

Qua một lát Bùi Hàng nhẫn nại không nổi, bèn nói với bà lão rằng:
“Vừa lúc nãy tôi thấy một cô gái rất đẹp đẽ, mỹ miều vo song, do đó không muốn rời khỏi nơi đây, mong được tiếp nhận hậu lễ của tôi, để tôi cưới cô ta làm vợ”.

Bà lão nói:
”Tôi vừa già vừa bệnh, dưới tôi chỉ có một đứa cháu gái. Hôm qua, có một vị tiên tặng tôi một ít linh dược, chỉ cần lấy cây chày ngọc để giã, 100 ngày sau uống có thể trường sanh bất lão. Người muốn cưới nó, chỉ cần tặng cây chày ngọc là được rồi, còn bao nhiêu của cải nữa tôi không cần”.

Từ Hàng cảm tạ nói:
“Mong bà đợi tôi 100 ngày, tôi chắc chắn đem chày ngọc tới, dù thế nào đi nữa bà không nên gả cô ta cho người khác”.

Bùi Hàng đến kinh thành, ông không làm việc gì cả, chỉ một lòng một ý tìm cây chày ngọc, gặp ai cũng hỏi, không kể người ta có biết hay không, vì vậy mọi người đều cho ông là điên.

Có một hôm ông gặp một ông già bán ngọc nói vôi với ông rằng:
“Gần đây bạn tôi là Lão Biện ở  Quắc Châu, viết thư lại, ông có cối chày ngọc muốn bán. Hôm nay, ông thành khẩn như vậy, tôi sẽ vì anh viết thư hỏi thử xem sao”.
Bùi Hàng vội vã không ngớt lời cảm ơn và còm mang thư giới thiệu của ông già bán ngọc lập tức đi tìm Biện Lão.
Biện Lão nói:
“Cối chày ngọc này đáng quý lắm, không đủ 200 xâu tiền không bán”.

Bùi Hàng lúc đó đổ số tiền ra đếm, bán cả một người tớ và con ngựa, mới vừa đủ số tiền. Cuối cùng, ông chỉ còn cách đi bộ về Lam Kiều.

Bà lão trông thấy ông về liền cười nói:
“Ở thế gian có người giữ chữ tín như vậy chăng?”. Liền nhận lời hứa hôn.

Cô gái đẹp kia cũng mỉm cười, nói với Bùi Hàng:

“Tuy ngài đúng kỳ hẹn trở lại, nhưng vẫn còn phải giã thuốc 100 ngày, mới có thể chính thức bàn đến việc hôn nhân”.

Bà lão lấy thuốc từ trong túi áo đưa ra cho Bùi Hàng. Bùi Hàng lập tức để trong cối ngọc dùng chày giã luyện. Đến tối, bà lão lấy thuốc trong cối mang về nhà, cách vách tường luôn luôn nghe tiếng giã thuốc vang ra. Bùi Hàng nhìn trộm qua khe cửa, phát hiện có con thỏ ngọc đứng bên trong giã thuốc, con thỏ trắng như tuyết chói sáng.

Một trăm ngày đã đủ, sau đó bà lão đem thuốc uống vào nói:

“Ta muốn đi đến động tiên, ta sẽ thông báo cho thân thích đến để làm lễ thành hôn”.

Bà dẫn cháu gái lên núi. Trước khi đi bà nói với Bùi Hàng:

“Người đợi một chút, chúng tôi đi rồi sẽ trở lại”.

Không bao lâu, quả nhiên từ xa có xe ngựa, đầy tớ tới đón Bùi Hàng. Bùi Hàng trông thấy một đám mây cao tầng tầng lớp lớp liên tục, trong cánh cửa có dán chữ Hỷ, ngọc ngà trân bảo không chi chẳng có. Tiên đồng ngọc nữ dẫn Bùi Hàng đi thẳng vào trong trướng hành lễ. Bùi Hàng hướng về bà lão quỳ lạy. Bà Lão nói:

“Bùi Lang, ngươi là cháu của Thanh Lãnh Chân nhân, ngươi số mệnh đã định nên vượt khỏi trần thế, không cần phải cảm động, bày tỏ đến thế”.

Bà lão giới thiệu thân thích của mình cho ông ta, họ đều là thần tiên.Trong đó, có một tiên nữ tự xưng là chị vợ. Bùi Hàng hướng về bà lễ lạy, bà nói :
“Bùi Lang, ngươi không nhận ra ta sao?”.

Bùi Hàng không nhớ ra chút nào cả, chỉ biết xin lỗi. Tiên nữ nói:
“Người quên chúng ta đi cùng thuyền trên sông Nhương Hán rồi à?”

Bùi Hàng cảm thấy xấu hổ, tả hữu nói:

“Bà là chị của Tiểu phu nhân, đã có tên trong tiên tịch sổ của tiên”.

Bà lão đó dẫn hai vợ chồng Bùi Hàng vào Ngọc Phong Động, chỗ ở là lầu quỳnh gác ngọc, thực phẩm là cạnh tiên, thuốc tiên. Bùi Hàng dần dần thoát thai đổi cốt, thần hóa tự tại , cũng tu thành tiên nhân.

Khoảng niên hiệu Thái Hòa, bạn của Bùi Hàng là Lô Hạo, gặp ông ở Lam Kiều Trạch biết ông đã thành tiên, bèn nhờ ông chỉ dạy bí quyết để tu đạo. Bùi Hàng nói:

“Lão Tử nói, muốn khiến tâm địa không linh, trung khí sung sức, mà hiện tại trong lòng đều vọng tưởng, phóng dục quá độ, tiết lậu nguyên khí, nên không linh thành bất không linh, nên sung phế thành bất sung phế, ngược lại đạo mà làm, như thế làm sao tu thành đại đạo”.

Lô Hạo nghe rồi cảm thấy rất có đạo lý, đang nghĩ tiếp tục được chỉ giáo, nào ngờ Bùi Hàng lại biến mất đâu không còn thấy nữa.
   
   
HẦU ĐẠO HOA

Hầu Đạo Hoa là người thành Nhuế, có người nói ông từ Nga Mi Sơn đến, ông ở Đạo Thanh Quan bái Châu Ngộ làm thầy. Ngày thường ông giống như người khùng khùng điên điên, chuyên môn thích leo cao chỗ nguy hiểm, những nơi người khác không dám đi, đối với ông đó lại là việc bình thường, lâu dần người ta cảm thấy ông không phải điên cuồng, mà là một đạo sỹ không lường cao sâu được. Nhưng ông và một vài đạo sỹ có chút ít khác nhau, đó là tính hiếu học của ông, ông thích nhất là đọc sách về sử, mỗi ngày không rời quyển sách, dụng công không thể lường được.

Có một hôm trần nhà bị hư, ông bò lên sửa lại, bất ngờ phát hiện trên cây cột có mấy hộp vàng nhỏ, trong hộp có đan. Ông nuốt nó luôn, bỗng cảm thấy thân thể nhẹ như chim én. Ông leo lên đọt cây tùng, và vui giỡn với hạc, rồi chầm chậm thân ông nhẹ nhàng cất lên, cuối cùng bay vào hư không đi luôn.
   
   
LIÊU SƯ


Liêu Sư là người Sâm Châu, Đường Thất Tông mời ông vào cung, nhờ ông dạy đạo thuật. Sau đó, vì ông không chịu nổi sự phồn hoa trong cung, lại xin Hoằng đế cho trở về trên núi.

Lúc ông ở Sâm Châu, quen biết nhà đại văn hào Hàn Dũ đương thời, Hàn Dũ tặng cho ông một thiên văn chương, đại ý nói rằng:

“Sâm Châu là nơi sơn minh thủy tú, do đó ông suy đoán nơi này chắc chắn có kỳ nhân. Mà Liêu Sư nguyên khí sung phế, dung mạo Thẩm  tĩnh, nhiều tài nhiều nghề lại khéo giao du, đây đại khái chỗ kỳ nhân tôi nói, người ham thích đạo của Lão Tử”.

Sau này, nghe nói Liêu Sư đắc đạo ở núi Tĩnh Phước và bay lên trời.
Hàn Dũ là một người nói rõ đạo lý của Khổng, Mạnh, nhưng ông, đạo sỹ và hòa thượng đều có qua lại, có thể thấy Nho, Đạo, Phật, ba nhà tư tưởng đương thời hấp dẫn lẫn nhau, dần dần trở thành tín ngưỡng phổ thông của người Trung Quốc.
   
   
LƯU ĐỨC BỔN

Lưu Đức Bổn là người Ngạc Châu, thích đọc sách của người xưa và có nhiều tài nghệ. Ông bình thường qua lại hai bên bờ Đại Giang để làm nghề buôn bán.

Khoảng năm Đường Càn Phù, dân chúng bị đói khát khắp nơi, Lưu Đức Bổn bố thí mấy vạn thạch gạo để cứu sống người dân bị đói, đương nhiên đây chỉ là một trong nhũng việc lành như thế mà thôi.

Sau này, Hoằng Sào làm loạn, ông ở dưới ngọn núi Ngũ Lão Phong, một hôm có một đạo sỹ mặc áo da nai đến hỏi thăm ông, lúc đó hai người cùng dắt tay nhau vào rừng sâu. Đi chưa được bao lâu bỗng có một ông già ra nói với họ: “Mời đi vào phía sau nhà mới được”.

Họ mới vừa đi vào, chỉ thấy toàn kỳ hoa di thảo, gác phụng lầu rông, ông già nói: “Đây là động Thiên Phước, bởi vì người đã làm nhiều điều lành, do đó có duyên đến đây, bây giờ ngươi đã có tên trong tiên tịch, đáng vui vẻ, đáng chúc mừng!”.

Lưu Đức Bổn sau này đi khắp các danh sơn nghe nói không bao lâu cũng bay thẳng lên trời.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 07, 2011, 01:57:25 pm
(tiếp theo)


LƯU THẾ


Lưu Thế tên riêng là Nghi Ca, người ở thời nhà Đường. Tuy gia cảnh của ông nghèo nàn nhưng ông rất thích tu đạo. Anh của ông là Lưu Đạm nói với ông:

“Thần tiên chập chờn hư ảo như có như không, xa xôi mà khó tìm cầu, triều đình lại gần trong thước tấc, có thể nỗ lực tìm được, sao em không bỏ đạo mà cầu làm quan?”.

Lưu Thế nghe xong chỉ cười mà thôi, vẫn nỗ lực tiếp tục tu đạo.

Một hôm, có một đạo sỹ bỗng nhiên chạy đến nhà họ, ông ta nói với Lưu Thế rằng: “Người có muốn bái ta làm thầy không?”.

Lưu Thế nói: ‘Rất muốn, rất muốn, đây thật là may mắn cho tôi”.

Hai người họ cùng đi đến núi Nga Phù, ở trong núi này cùng tu 40 năm.

Trong thời gian này, anh của ông là Lư Đam làm quan được hanh thông, từng bước được thăng mãi cho đến chức Tể tướng. Nhưng con đường làm quan thì gồ ghề thăng Thẩm  không nhất định, sau đó lại bị giáng chức đày ra xứ ngoài. Lúc đó, ông đang ở Triều Đài đứng đơi thuyền qua sông, bỗng thấy Lưu Thế đầm mưa chạy tới, Lưu Đạm mừng rỡ vô cùng. Ông nhìn kỹ, thấy em mình dung mạo như lúc còn trẻ, còn mình thì tóc đã bạc trắng phau, già yếu vô cùng. Ông rất cảm khái, bèn hỏi Lưu Thế:

“Em hiện giờ có còn tu đạo không?”

Lưu Thế đáp:

”Tiên phàm hai con đường không giống nhau, bây giờ mọi việc quá muộn rồi”.
Hai anh em trò chuyện với nhau một buổi tối. Sáng hôm sau, Lưu Thế bèn đi. Không bao lâu sau đó, Lưu Đam quả nhiên chết do bị giáng chức quan ở địa phương.

   

   
HÀ LINH THÔNG

Hà Linh Thông là quốc sư của Nam Đường, ông trước kia ở Ngưu Đầu Sơn, sau này ông thấy ở Ngưu Đầu Sơn không có lợi cho tu đạo bèn dời về Tiên Dung Phong ẩn cư.

Hà Linh Thông đã không luyện đơn cũng không hái thuốc. Sự tu hành của ông rất đơn giản, chỉ ngồi để cầu chuyên tâm định ý, triệt ngộ bản nguyên. Ông không kể trời lạnh hay nóng, ngồi như thế 40 năm, cuối cùng một hôm thoát nhiên đại ngộ, thấu triệu đạo lý nguồn gốc của nhân sinh, từ đây ông đổi tên là “Mộ Chân” để bày tỏ lòng mình đã gần được chân lý, chỉ còn đợi ngày rất gần thoát khỏi “cái túi da hôi thối” ở cõi thế gian chịu tội này.
Khoảng năm Tống Thiên Hỷ, có một buổi sáng ông đang ngồi tịnh, bỗng trong lòng xuất phát một đốm chân hỏa, trong khoảng khắc đốt tiêu tấm thân của ông, đương nhiên đây là một phương thức tu thành đại đạo rất đặc thù mà ít thấy.
   
MA - Y  TIÊN CÔ

Ma Y Tiên Cô là người Phần Châu, họ Nhâm.Bà ẩn cư ở Bạch Đường Sơn, người nhà mấy lần đến trong núi tìm bà,  tìm khắp nơi mà không gặp.

Có một lần vô ý bà bị một người làng kế bên gặp, người đó định níu bà lại hỏi một vài câu, không ngờ bà chạy thẳng môt mạch vào trong vách đá, và còn phát ra tiếng ầm ầm như tiếng trời gầm.  Sau khi bà chạy đi rồi, vách đá tự nhiên hợp lại không còn một kẽ nhỏ. Chỉ có dấu chân của bà in lại rõ ràng trên vách đá.
Người nhà của bà biết sự việc này, bèn chạy đến dấu chân trên vách đá lạy. Kẻ xa gần không quen biết nghe tin đồn cũng đi tới cầu phước. Ma Y Tiên Cô tuy thề quyết chí ẩn cư, mà danh tiên của cô lại không có đường mà đi, đây là việc xảy ra ngoài dự tính của bà.
   
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 07, 2011, 02:00:06 pm
(tiếp theo)

NHĨ CHÂU ĐỘNG

Nhĩ Châu Động tự là Thông Vi, tổ tiên của ông tộc Nhĩ Châu lệ thuộc Nguyên, Ngụy. Ông lúc nhở gặp người lạ day tu đạo, do đó tự lấy cho mình một biệt hiệu là “Quy Nguyên Tử”. Ông lúc đầu ẩn cử ở Phùng Sơn, sau đó lại đến Tứ Xuyên đi bán thuốc. Ngày thường ông đi bộ như bay, thích uống máu lợn làm rượu. Uống rượu xong lại ngâm thơ tự vui một mình.

Lúc ở Tứ Xuyên ông ở lâu trong một khách sạn. Ông chủ khách sạn mỗi đêm đều nghe trong phòng ông có tiếng. Một hôm, chủ quán nhìn trộm qua khe hở, phát hiện ông tuy ngồi trên giường nhưng thân thể lại từ trên giường từ từ cất lên, mãi cho đến khi đụng trần nhà mời dừng. Thì ra âm thanh ở trong phòng là do đầu ông dụng trần nhà mà gây ra tiếng.

Vào năm chót triều Đường, Vương Kiến lãnh binh vây đánh Thành Đô, Nhĩ Châu Động lúc ấy cũng mắc kẹt trong thành, Vương Kiến công thành rất lâu mà không phá nổi. Vương Kiến nổi giận, tuyên hô một ngày nào thành bị phá, ông nhất định sẽ giết hết tất cả. Dân chúng trong thành biết vậy đều sợ hãi, Nhĩ Châu Động lại nói với họ rằng: “Không cần phải lo sợ!”. Lúc đó, ông đem một chiếc chiếu làm phép. Lúc ấy, Vương Kiến và thuộc hạ của ông đều trông thấy một thần nhân đạp mây đen mà đến, và còn nhìn vào Vương Kiến chửi lớn rằng:

“Ai muốn làm hại nhân dân trong thành, ta sẽ để cho họ gặp tai ương!”.

Vương Kiến vừa thấy quỳ xuống đất, cầu xin tha mạng. Sau này, Vương Kiến vào thành rồi, ra lệnh nghiêm cấm binh sỹ không được làm tổn thương một người nào, cả thành nhân dân được bảo toàn.

Nhĩ Châu Động cũng ở Thành Đô bán thuốc như trước, mỗi lần bán một viên ông thâu 12 vạn tiền, đương thời có một thái thú muốn mua thuốc của ông, Nhĩ Châu Động đối với ông ta nói:
“Nhà của thái thú tiền bạc một vạn xâu, 1 viên không lấy 120 vạn tiền thì không bán”.
Thái thú nổi giận, cho là ông dối trá mê hoặc quần chúng, kêu người bắt ông giam trong một cái lồng trúc, sau đó đem cái lồng ngâm dưới sông. Cái lồng này theo dòng sông trôi đến Bồi Giang. Có hai người đánh cá vô tình đánh được cái lồng. Vừa mở ra xem thì rõ ràng Nhĩ Châu Động ở bên trong. Người đánh cá nói:
“Đây chắc chắn là dị nhân, ông ta đại khái là nhập định rồi”.

Hai người đánh thau đồng kêu ông dậy. Nhĩ Châu Động từ từ mở mắt ra, ông hỏi người đánh cá rằng:
“Ở đây cách Đồng Lương bao xa? Có phải đi qua 3 ngọn núi này không”.
Người đánh cá đáp:
“Chúng tôi là người Bạch Thạch Giang, ở đây cách Đồng Lương 400 dặm, từ đó đi về hướng đông là huyện Phong Đô, núi Bình Đô, trên núi có Tiên Đô quan”.

Nhĩ Châu Động nghe xong rồi nói:
“Sư phụ ta bảo ta đợi ta đến Tam Đô, khi trông thấy “Bạch Thạch Phù Thủy” thì có thể thành tiên, ta nghe nói nơi này chắc là chỗ ông vừa chỉ đó”.
Nguyên trước kia Nhĩ Châu Động dọc bờ sông mà đi, mỗi khi đến nơi nào đều quăng cục đá trắng xuống dòng sông, xem nó có nổi lên mặt nước hay không, người xung quanh đều không hiểu ý của ông. Thì ra sư phụ ông nói “Bạch Thạch Phù Thủy” là chỉ hai người đánh cá!

Nhĩ Châu Động lên bờ nói với hai người đánh cá: “Ta xem hai vi cũng giống đạo sỹ, dám hỏi sư phụ của hai vị là ai?”.
Người đánh cá trả lời:
“Chúng tôi lúc trước ở trên biển gặp một ông tiên, ông dạy cho chúng tôi tu luyện đã được vài năm rồi”.
Nhĩ Châu Động lúc đó cùng họ uống rượu, và đem đan dược chia cho họ ăn, cuối cùng họ đến một vườn vải, ba người cùng nhau cưỡi mây đi.
   
   
TRẦN BỘ

Trần Bộ tự là Đồ Nam, hiệu Phù Dao Tử người ở Hào Châu Chân Nguyên. Khi ông mới sanh mãi không biết nói chuyện, khi đến 4, 5 tuổi, có một lần đi chơi trên sông nước, bên bờ sông có một bà già mặc áo xanh, nắm ông ôm vào lòng cho bú. Trần Bộ mới bỗng nhiên khai khẩu nói chuyện. Ông lúc nhỏ nhanh nhẹn hơn người; sau khi lớn lên,  kinh sử vừa xem qua đã thuộc làu. Mới 15 tuổi, sách Lễ Ký, Kinh Thi các thứ sách Y không thứ gì không thông hiểu.

Sau khi cha mẹ ông đều chết, Trần Bộ nói với chú rằng:
“Sở học của cháu từ trước tới nay chẳng qua học thuộc tên người chết mà thôi.Bây giờ cháu muốn đến núi Thái Sơn tìm An Kỳ Sinh, Hoằng Thạch Công và một vài tiên nhân để hỏi đạo, từ đó cũng không bị trôi nổi, đắm chìm trong sanh tử luân hồi”.

Trần Bộ dùng gia tài để cứu tế nên chóng trở thành nghèo nàn, ông chỉ mang một cái Thạch Đương thong dong đi. Sĩ đại phu của các triều Lương, Đường ngưỡng mộ sự thanh cao của ông, đều cho gặp ông là vinh hạnh. Còn Trần Bộ xam thường vinh hoa, đối với họ hoàn toàn không hiểu biết. Đường Minh Tông nghe nói thanh danh của ông, đích thân viết thư mời ông. Kết quả, ông vào trong triều cũng chỉ làm lễ mà không quỳ lạy. Minh Tông nhân đây càng thêm quý trọng, và ban cho ông ba cung nữ. Trần Bộ viết bài thơ cự tuyệt, ông đến Vũ Đang Sơn ẩn cư, mỗi ngày ở trong nham động tinh thành tu đạo, cho đến 20 năm, sau đó dời về Hoa Sơn, lúc ấy ông đã hơn 70 tuổi, ngày thường đóng của ngủ, vừa tỉnh dậy thì hơn 1 tháng, do đó người ta gọi ông là “Trần Bộ Cao Ngọa”.

Khoảng niên hiệu Hiển Đức Châu Thế Tông, có một tiều phu lên núi Hoa Sơn phát hiện một thi thể đầy bụi bặm, tới gần xe thì ra Trần Bộ. Ông từ từ mở mắt nói:
“Ta đang ngủ rất ngon, người làm gì đến làm ồn ta vây?”’
Châu Thế Tông từng triệu ông và ban cho ông là “Văn tiên sinh”.

Một hôm Trần Bộ cưỡi lừa đi dạo chợ Hoa Âm, bỗng nghe nói Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lên ngôi làm vua, ông bất giác vỗ tay cười lớn:
“Tốt a! Từ đây thiên hạ thái bình!”.
Tồng Thái Tổ biết được, bèn mời được gặp ông và phong ông làm quan.Trần Bộ khách sáo khéo chối từ, ông nói với Thái Tổ:
“Tấm lòng của tôi sớm bị mây trắng giữ chặt rồi!”.

Tống Thái Tông kế vị sau đó cũng mời ông vào cung. Ông không thể chối từ được mới miễn cưỡng vào kinh. Nhưng ở trong cung ông cần được một gian phòng yên tịnh, để tiện tu hành. Thái Tông ban cho ông Kiến Long Quan, kết quả ông ở trong quan ngủ một tháng, tỉnh dậy ông cáo từ đòi đi.Thái Tông giữ ông không được, tốt hơn để ông đi về, ban cho ông hiệu “Hy Di tiên sinh”. Do đó, người sau này quen gọi ông là “Trần Hi Di”.

Đoang Cung Nguyên Niên, có một hôm ông nói với đệ tử rằng: Ta sang năm tết Trung Nguyên muốn đến núi Nga Mi”.
Năm thứ hai ông kêu đệ tử ở Trương Siêu Cốc đục một cái động làm thạch thất, đục xong rồi, Trần Bộ bèn nói: “Chỗ này đại khái là chỗ ta về nghỉ”.

Trần Bộ lúc đó ngồi trong thạch thất, chuẩn bị tọa hóa trong đó. Ông kêu đệ tử nửa đêm đốt đuốc thắp đèn. Cuối cùng, thời khắc đến, ông dùng tay trái đỡ đầu, như vậy từ giã trần thế. Mãi cho đến 7 ngày, sắc diện của ông không thay đổi, toàn thân ấm áp, và năm sắc mây lành vây chật cửa động, trải qua một tháng không tan. Ông sống cộng được 118 tuổi.
Trần Bộ sinh tiền đối với Kinh Dịch rất có nghiên cứu, đặc biệt tinh vi phân biệt được người thiện, ác, hiền, ngu, trung, gian. Cuối thời Ngũ Đại thiên hạ đại loạn, lúc đó mẹ Triệu Khuông Dẫn dùng gánh quảy 2 anh em (tức là Tống Thái Tổ, Thái Tông sau này) lánh nạn. Trần Bộ giữa đường gặp họ nói:
“Không nên nói hiện nay chưa có thiên tử, thiên tử đang ở trên đòn gánh bị gánh chay”.
Sau này, có một lần gặp lại Thái Tổ, Thái Tông và Triệu Phổ đồng đi chơi ở Trường An, Trần Bộ cũng đi vào một phố rượu. Triệu Phổ ngồi bên phải của Thái Tổ Thái Tông, Trần Bộ nói với Triệu Phổ:
“Ông chẳng qua là một vì sao nhỏ bên Tử Vi tinh, làm sao có thể tùy tiện ngồi trên chiếu nay!”.

Lại có một lần, Châu Thái Tông và Tống Thái Tổ cùng đi, Trần Bộ bèn nói:
“Ngoài thành hiện nay có hai lằn khí Thiên Tử tụ lại một chỗ”.
Chủng Phóng lúc đầu tới lui với Trần Bộ, Trần Bộ nói với ông:
“Ông sau này sẽ gặp Hoằng đế anh minh và vang danh bốn biển, mà tên là tạo vật có chỗ ghét kỵ đồ vật, trong trời đất không có cái tên hay thủy chung bất hoại, tiếng tăm của ông e sợ cũng gặp phải đả kích, phải nên chú ý”.
Chủng Phóng không ngờ lúc già giống như lời dự đoán của Trần Bô.

Thời đó, có một người tên là Trần Nghiêu Tử khi ông thi đậu tiến sỹ từng thăm hỏi Trần Bộ. Ông ở trong nhà Trần Bộ trông thấy một Đạo sỹ, trên đầu búi tóc, nhìn thẳng vào ông và nói với ông rằng:
“Nam Am., Nam Am!”.
Nói xong Đạo Sỹ rời chỗ ngồi mà đi.

Trần Nghiêu Tư rất lấy làm lạ, liền hỏi Trần Bộ rằng:
“Vừa rồi, vị đạo sỹ đó là ai thế?”.
Trần Bộ đáp:
“Ông ta là Chung Ly Tử (một trong Bát Tiên) đó!”.
Trần Nghiêu Tử vừa nghe rất lấy làm hối hận, bởi vì ông đã nhận lầm mặt một vị đại tiên nổi tiếng. Ông rất muốn đuổi theo. Trần Bộ cười nói:
“Không cần, ông ta bây giờ đã đi xa ngoài mấy ngàn dặm rồi”.

Trần Nghiêu Tư lại hỏi:
“Vừa rồi ông ta nói liên tục Nam Am đó là ý nghĩa gì?”
Trần Bộ đáp:
“Việc này tự nhiên sau này ông sẽ biết”.
Sau này, Trần Nghiêu Tử đến Phúc Kiến làm quan, tình cờ đi qua ruộng, nghe thấy người đàn bà kêu con của bà nói:
“Con đi đến Nam Am giục cha con trở về”.

Trần Nghiêu Tử giật mình, liền hỏi người đàn bà là Nam Am ở đâu, kết quả ông đi đến phát hiện đó là một ngôi chùa đã bị hoang phế. Trong chùa có một tấm bia, trên mặt bia khắc: “Ngày đó…  năm đó… tháng đó, chủ nhân Nam Am qua đời, chân thân của ông được cúng tại đây”. Trần Nghiêu nhìn kỹ, thì ra đó là ngày sinh của mình.

Trần Bộ lúc sinh tiền đã có khả năng biết trước. Trong nhà ông máng một trái hồ lô lớn, đạo sỹ Giang Hưu trong lòng rất muốn nó nhưng ngoài miệng ngại không dám nói ra. Trần Bộ biết được, nói với ông: “Ông cần trái hồ lô phải không?”, nói xong kêu người hầu mang trái hồ lô tặng ông ta.

Lại có một người tên là Quách Hàng ở nhờ trong quan của ông, nửa đêm Trần Bộ kêu ông dậy, bảo ông lập tức đi vè nhà, và còn đi cùng với ông. Đi được 1, 2 dặm, có người kêu lớn rằng mẹ ông đã chết rồi.Trần Bộ tặng cho ông một ít thuốc, kêu ông chạy nhanh về còn cứu được, kết quả mẹ ông chết đi được cứu sống lại.
Đương thời huyện Hoa Âm ra lệnh Vương Mục hỏi Trần Bộ rằng: “Tiên sinh rốt cùng ở đâu, khi đi ra ngoài ai trông nom cửa nhà?”.

Trần Bộ an nhiên dùng thơ trả lời rằng, đại ý nói vùng Cao Hoa Sơn là nhà của tôi, khi tôi ra khỏi của vút lên trời cao cưỡi gió đi, nhà tôi không dùng ống khóa vàng, tự có mây trắng phủ chặt nó.

Có một hôm, một người khách tới thăm ông, ông đang ngủ bên cạnh một người lạ, lắng nghe nhịp đập của ông ta và dùng bút đen ghi lại, đầy trên giấy màu đen thui. Người khách lấy làm lạ hỏi ông hỏi ông làm gì? Người đó trả lời rằng: “Đây là Hoa tư điều, hỗn thuần phá của Trần tiên sinh”.

Ý của ông nói nhịp mạch của Trần Bộ đã giống như Thiên lai (tiếng ống tiêu trời). Trần Bộ đã gặp Mao Nữ, Mao Nữ tặng cho ông một bài thơ, đại ý nói:
“Thuốc của ông vẫn chưa đầy đủ, cần phải leo lên núi càng cao, ngoái cổ lại đi về đường lộ, để tôi dẫn vào mây mù trong núi”.

Tống Thái Tông nghe nói Trần Bộ biết xem tướng, bèn mời ông ta đi xem Chân Tông, ông vừa đến cổng liền trở lại. Thái Tông  hỏi vì sao không đi vào. Ông nói:

“Ngay cả nô bộc ở cổng đều là tướng sau này, đâu cần xem chủ nhân của họ”.

Bởi vi câu nói của ông, Thái Tông quyết tâm lập Chân Tông làm thái tử để thừa kế đế thống.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 07, 2011, 02:03:15 pm
(tiếp theo)

LƯU HUYỀN ANH

Lưu Huyền Anh là người ở Quảng Lăng, hiệu Hải Thiềm Tử, đầu tiên tên Tháo, sau này đắc đạo đổi xưng hiệu chữ. Ở trong triều làm quan rất được sủng ái.

Có một hôm, có đạo sỹ tự xưng là Chánh Dương Tử tới thăm ông, ông chiêu đãi đạo sỹ này ngồi ở trên Đại đường, đối với ông ta rất hiếu khách. Vị đạo sỹ này vì ông giảng đạo lý thanh tịnh vô vi, cho đến việc luyện các loại đơn, nói xong lại kêu ông đưa 10 quả trứng gà, 10 văn tiền vàng, sau đó dùng một văn để dưới đáy, phái trên đồng tiền chất 10 trứng gà, hình giống như cái tháp Phật. Lưu Hải Thiềm vừa thấy rất kinh ngạc, ông lập tức ngộ đạo, bất giác mở miệng nói:

“Rất nguy hiểm a!”.

Đạo nhân lúc đó nói với ông:
“Trong cảnh giàu sang rất nhiều ưu hoạn, cái nguy hiểm đó so với ngôi tháp này còn hơn nữa!”. Đạo sỹ nói xong, lại dùng đồng tiền vàng còn dư đạp phá tòa tháp bằng trứng gà 10 tầng, sau đó quay đầu đi mất.
Trải qua một màn, Hải Thiềm phút chốc đại ngộ, đêm hôm đó đi sai tất cả người nhà đi thu dọn đồ đạc từ quan mà đi ở ẩn dưới Chung Nam Sơn.

Bao nhiêu năm sau, Hải Thiềm tu thành đại đạo, nghe nói khi ông qua đời, trên đỉnh đầu xông ra một làn khói trắng, khí trắng ấy biến thành chim hạc bay lên không trung, ông không những mãi mãi rời xa trường danh lợi, cũng từ đó rời bỏ mãi mãi rời bỏ tất cả các rời buộc của cõi hồng trần.

   
   
TÔ TRỪNG ẨN


Tô Trừng Ẩn là người Chân Định, đang là một đạo sỹ trong Long Hưng Quan, hơn 80 tuổi không thấy một chút già yếu.

Thời Ngũ Đại có rất nhiều vua chúa liên tục đem lễ vật mời ông vào cung, ông đều nhất nhất chối từ, mãi cho đến khi Tống Thái Tổ đánh Thái Nguyên, khi về đến Trấn Dương, triệu kiến ông và cầu ông dạy thuật trường sinh, ông đáp lới Hoằng đế:

“Thuật dưỡng sinh của tôi chẳng qua là thuật công phu luyện khí, đến như thuật dưỡng sinh của đế vương phần nhiều không giống nhau. Lão Tử nói” Ta có thể vô vi, trăm họ tự nhiên cảm hóa, ta có thể vô dục, trăm họ tự nhiên nương theo chánh đạo. Ngày xưa nhà Đường, Nghiêu sở dĩ nước được hưng thịnh lâu dài, chính vì họ làm được điều này”.
   
TRƯƠNG CỬU CA

Trương Cửu Ca là người thời Bắc Tống, khoảng niên hiệu Khánh Lịch, ở trong kinh sư, mặc dù mùa đông tuyết nhiều ông chỉ mặc một cái áo, do đó mọi người coi ông là dị nhân.

Yên Vương thời đó từng mời ông vào cung và chiêu đãi ông tiệc tùng. Rượu uống được ba tuần, ông bỗng nhiên nói với Vương Yên rằng:

“Tôi muốn ra khỏi kinh đo đi chơi xa, bây giờ thử biểu diễn một phép vui nhỏ để kỷ niệm trước lúc chia tay”.

Nói xong, ông nhấc cây kéo lấy mảnh vải và cắt thành hình con bướm, mấy miếng vải hình con bướm vừa cắt xong thì bay tứ tung đầy trời, được chốc lát thì ông kêu thâu mấy con bướm về, không bao lâu lại biến ra thành vải. Yên Vương vừa thấy rất vui, liền hỏi ông tuổi thọ của mình được bao lâu? Ông bảo rằng thọ bằng tháp Phật của chùa Khai Bảo. Không bao lâu thì tòa tháp này bị cháy bởi hỏa tai. Yên Vương quả nhiên chết cùng lúc đó.
   
   
MÃ TƯỜNG

Mã Tường tự là Tự Nhiên, tổ tiên của ông ta đã từng làm Gián quan, nhiều đời làm tiểu lại. Còn Mã Tường ngược lại thích kinh sử, có công với văn học. Ông từng giao kết rộng với tăng đạo, đi khắp các chùa, quán, có một lần ở Hồ Châu vì say rượu té xuống sông, cả buổi mới bò lên được, mà y phục rốt cùng không bị thấm ướt chút nào. Sau sự việc ấy, ông nói với bạn bè, thì ra hôm ấy ông được Hạng Vũ mời đi uống rượu.

Mã Tường tinh thông đạo thuật, ông có thể dùng nắm tay nhét vào trong lỗ mũi rồi rút ra mà lỗ mũi cũng không sao cả. Ông có thể dùng tay chỉ, khiến khe nước chảy ngược lại, lại vừa chỉ cây cầu liền gãy. Các loại như thế chỉ là phép thuật nho nhỏ. Có người tìm ông khám bệnh, ông cũng không dùng thuốc, chỉ lấy cây gậy trúc đánh vào chỗ bị  bệnh, hoặc cùng cây gậy trúc chỉ nhè nhẹ, sau đó dùng miệng thổi đầu cây gậy phát ra tiếng sét, người bệnh lên tiếng trả lời rồi mạnh khỏe. Ông khám bệnh không nhận tiền, trừ khi họ nài nỉ quá, ông bèn lấy tiền phân phát cho người nghèo khổ.

Ông bình sinh rất thích đi chơi, mỗi khi đến một nơi nào đó đều có thơ, ca, đề, vịnh. Sau đó, ông về nhà đi thăm anh, đang lúc anh ông ra khỏi cửa, ông bèn nói với chị dâu rằng: “Tôi lần này muốn cùng anh chia gia tài, mà tôi thích nhất chỉ có Đông Viên, ngoài ra tôi không thích cái gì nữa cả”.

Chị dâu cầm ông ở lại ăn cơm, ông không ăn, chỉ uống rượu, đợi ba ngày anh cũng chưa trở về, còn Mã Tượng tự nhiên không nói không rằng gì chết queo luôn. Ông anh trở về, nghe vợ kể không cầm được đau đớn nói:
“Em học đạo bao năm nay, lần này trở về lại chết ở quê hương”.

Lúc đó, liền chuẩn bị quan tài an táng ông ở Đông Viên.
Qua một năm, Động Xuyên đạo sỹ tấu lên nói Mã Tượng ban ngày bay lên trời. Trong triều phái người xuống mở quan tài kiểm tra, không ngờ trong quan tài chỉ có cây gậy trúc, ngoài ra không có vật gì khác.
   
   
VƯƠNG ĐỈNH

Vương Đỉnh là người Nhượng Dương, đầu tiên ông làm nghề y để nuôi sống gia đình. Sau khi gặp được Chung Ly tiên sinh không bao lâu đắc được tiên thuật, từ đó đổi thành Vương Phong Tử.

Vương Đỉnh đắc đạo rồi sau đó hành vi mười phần cổ quái, ông hầu như từ nào đến giờ không cần ăn uống, mà dung mạo đẹp đẽ tỏa sáng hơn người thường. Có một hôm ông đi tản bộ bên bờ sông có người phát hiện tự nhiên trên nước có hai cái bóng của ông. Lúc đó bèn hỏi ông nguyên nhân, ông làm vẻ tự nhiên hỏi ngược lại:
“Các ông còn muốn xem lại không?”.

Nói xong ông lập tức hiện ra mười cái bóng, uyển chuyển rõ ràng như người sống, mọi người đều kinh ngạc nói không ra lời.

Tống Chân Tông triệu kiến ông, ông gặp Hoằng đế chỉ chắp tay chào mà không lạy. Không bao lâu mất tiêu tông tích, chỉ để lại một quyển trước tác “Tu Chân thư”.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 07, 2011, 02:07:18 pm
(tiếp theo)

HẦU TIÊN SINH

Hầu Tiên Sinh không biết là ký nhân xứ nào, chỉ biết ông ở niên hiệu khoảng Đại Trung triều Tống, ở trong kinh sư bán thuốc, tuổi hơn 40 mà râu tóc không có, toàn thân nổi đầy thịt thừa.

Có một lần ông uống rượu say nhảy xuống ao tắm, bạn của ông là Mã Nguyên trên bờ nhìn trộm, không ngờ Hầu Tiên Sinh vừa xuống ao liền biến thành con tôm lớn. Mã Nguyên giật mình né tránh. Hầu Tiên sinh tắm xong, mặc quần áo, Mã Nguyên hướng về ông vái chào.Hầu Tiên sinh cười hỏi ông rằng:
“Ông vừa lúc nãy trông thấy tôi chăng?”.

Sau này không biết cuối cùng Hầu Tiên sinh như thế nào, nhưng ở Tứ Xuyên có người thấy ông thường tới lui bán thuốc, ông rốt cùng là người hay ếch nhái? Hay là do một đạo nhân biến hóa? Việc này người thường không thể đo lường được.
   
TRƯƠNG BÁ ĐOAN

Trương Bá Đoan là người Thiên Thai, từ nhỏ đã có tính hiếu học, trở về già học đạo, đi khắp bốn phương. Đời Tống Thần Tông niên hiệu Hy Ninh thứ hai, gặp được Lư Hải Thiềm ở Tứ Xuyên, đắc được chân truyền của Tiên đạo, lúc đó đổi tên là Dụng Thành, tự Bình Thúc, hiệu Tử Dương.

Đương thời có vị hòa thượng tu tập giỏi đinh huệ, tự cho mình đã đắc đươc cảnh giới tối cao, có thể nhập định và ở trong định xuất thần hồn đi chơi, mấy trăm dặm đường đi trong khoảng khắc thì tới. Ông cùng với Trương Bá Đoan chí thú hợp nhau. Có một hôm Trương Bá Đoan nói với ông rằng:
“Thiền sư hôm nay có muốn cùng ta đi chơi không?”.

Hòa thượng đáp: “Được thôi!”.
Bá Đoan hỏi: “Đi đây vây?”.
Hòa thượng nói: “Đi Dương Châu ngắm hoa!”.

Hai người ngồi ngay thẳng trong căn phòng yên tĩnh, mặt đối mặt nhắm mắt ngồi kiết gà, không bao lâu hồn bay khỏi thân thể.
Khi Bá Đoan đến nơi thì hòa thượng đã đến trước, và đang ở trong vườn hoa đi dạo 3 vòng. Bá Đoan nói:
“Sao không hái một đóa hoa làm kỷ niệm?”.

Do đó, hai người mỗi vị ngắt một cành hoa mang về, không bao lâu Bá Đoan và thiền sư cùng một lúc mở mắt ra. Bá Đoan hỏi thiền sư: “Hoa của ngài đâu?”. Thiền sư vừa cúi đầu xem chỉ thấy hai tay không. Bá Đoan lúc ấy mới rút tay áo ra một cành Quỳnh hoa và cùng thiền sư vui cười.

Vì sự việc này, đệ tử hỏi Bá Đoan rằng:
“Thiền sư và tiên sinh cùng thần thông dạo chơi, vì sao thầy mang hoa về mà ông ta lại không có?”.
Bá Đoan nói:
“Ta gồm tu cả tính và mạng, do đó tụ thì thành hình, tán thì thành khí. Còn thiền sư thì cầu hiệu quả cấp tốc, chỉ tu tính mà không tu mạng, do đó đến chốn mà người khác không nhìn thấy ông, mà ông cũng không thể biến thành sự vật, đây so sánh vì sao ông có thể đến trước ta mà không thể mang hoa trở về”.

Mùa hạ niên hiệu Nguyên Phong thứ 5, Trương Bá Đoan ngồi kiết gà mà hóa, sống được 99 tuổi, đẹ tử của ông mang ông đi hỏa táng, được 100 viên xá lợi, màu sắc xanh đẹp, mọi người đều nói trong sách đạo thuật nghĩa là “ Xá Lợi Ki, Tử” là một thứ tướng lành của sự thành đạo.

   
TƯ VẤN CHƠN

Tư Vấn Chơn là người Đông Lai Duy Châu, ông có đạo thuật và nhà đại văn hào Âu Dương Tử thời đó là bạn thân. Có một hôm, bỗng ông muốn ra đi. Âu Dương Tử cầm giữ ông thế nào cũng không được, ông nói:
“Bạn đạo của tôi trách tôi kết giao với người quyền quý, do đó là trái phạm quy luật đạo”.

Âu Dương Tu không biết làm sao, đành sai đồng tử tiễn ông đi. Đi chưa được bao xa, quả nhiên có một người to lớn đội mão đứng đợi ở bên đường. Lúc đó, Từ Vấn Chơn lấy bầu châm rượu cho đồng tử uống một hớp, đồng tử vừa ngóng lên thì Từ Ván Chơn và người to lớn kia đâu mât không thấy.

Tù Vấn Chơn đã dạy Âu Dương Tử phương pháp để trị bênh thấp khớp chân. Tô Đông Pha có thực hành qua phương pháp này, quả nhiên linh nghiệm.
   
   
THẦN ĐỒ HỮU NHAI

Trần Đồ Hữu Nhai là người thời triều Tống, sống ở Nghi Hòa, ông thường mang theo mình một cái bình bằng sành. Có một hôm ông cùng mọi người sang sông, ông ở trên thuyền coi như không có ai bên cạnh, đưa rượu trong bình ra uống, uống say thì ói, dẫn đến mọi người trên thuyền đều ghét ông. Cuối cùng họ khiêng ông quăng xuống sông., lúc đó ông xách cái bình ra lay động từ từ lên bờ.

Sau khi lên bờ, Thần Đồ Hữu Nhai vừa chống gậy vừa hát:
“Khổng Tử không phải không hiền đức à, mà người đời không tha thứ ông. Các người đều ở trên thuyền ngu si, nhận không ra rồng ở trong người”.

Hát xong, ông đứng thẳng người nhảy vào trong bình, lúc ấy mọi người giật mình vây quanh xem. Họ vội đập bể cái bình, nhưng thấy cái bình trống không, hoàn toàn không có một bóng người.
   
   
LÔI ẨN CÔNG


Lôi Ẩn Công tên là Bổn, lúc thiếu thời lòng dạ quang minh chính đại không giống như đám trẻ con khác. Sau khi thành niên cũng không cầu tiến sỹ, chỉ ngồi tĩnh tọa cả ngày. Có người chê cười ông ngu si. Ẩn Công chỉ cười nói:
“Tôi không muốn đem cái ngu của tôi đổi lấy cái thông minh của ông”.

Có một hôm ông đưa toàn bộ đạo thuật của ông truyền cho con trai ông, từ đó đi ngao du không trở lại. Khoảng niên hiệu Nguyên Hựu đời Tống, có người ở La Phù Sơn, trông thấy ông ngồi ở dưới gốc cây tùng tự xưng là Lôi Ẩn Công.
   
   
SA -  Y  ĐẠO NHÂN

Sa Y Đạo Nhân nguyên quán ở Hoài Dương, họ A, tổ tiên của ông từng làm đại phu bàn luận triều chính. Đạo Nhân vì tránh loạn qua sông, lúc trẻ thi rớt tiến sỹ, cuối năm Thiệu Thánh ông đến Bình Giang.

Đạo nhân bình thường mặc đồ trắng, lâu ngày áo rách, dùng sa để vá. Có một lần ông ở trên hồ nước, bất ngờ thấy cái bóng của mình chiếu trên nước, lúc đó hoát nhiên đại ngộ, từ đó có người đến hỏi ông việc vị lai tốt xấu, ông đều có thể nói chính xác. Có người tới khám bệnh, ông chỉ cầm bụi cỏ cho người bệnh, bệnh liền khỏi. Cho đến một đôi khi, không tìm được cỏ thì bệnh không cứu được.

Hiếu Tông Hoằng đế mời ông làm quan, ông đều từ chối. Lại ban cho ông mấy bộ y hoa, ông không nhận. Sau này, không biết ông đi đâu.

Cách ngộ đạo giống như ông trong đạo giáo hiếm có, còn ở trong thiền môn thì thường thấy.
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 07, 2011, 02:11:20 pm
(tiếp theo)

VƯƠNG VĂN KHANH


Vương Văn Khanh là người Vũ Châu, Lâm Xuyên, ông tinh thông kêu mưa làm gió, có pháp thuật sai khiến quỷ thần. Tống Chính Hòa năm đầu, triều đình Mông Triệu Kiến, đang lúc gặp mưa lớn hoài không dứt, sợ trở ngại tiến hành điền lễ. Hoàng Đế bèn ngờ ông cầu đảo để mong mưa tạnh. Ông vừa định thần, lập tức mưa tạnh, sau khi điền lễ làm xong, trời tiếp tục mưa xuống nữa.

Có một lần Dương Châu bị đại hạn, thỉnh ông cầu mưa, ông liền vung kiếm phun nước nói: “Mượn ba thước sông Hoàng Hà dùng đỡ”.

Không bao lâu, thành Dương Châu quả nhiên mưa thật lớn, mà nước đều rất vàng, thật giống nước mượn từ sông Hoàng Hà cuồn cuộn lại.

Có một hôm ông nói với đệ tử rằng: “Trên Trời phía Tấy Bắc khi nổi mây đen lên nhanh thì bảo ta!”.

Không bao lâu, quả nhiên xuất hiện một đám mây đen, ông lập tức tĩnh tọa mà mất, phảng phất cùng đám mây đen nhỏ giống như có hẹn ngầm cái gì đó.
   
   
LƯU ÍCH

Lam Ích là người Lam Điền, ẩn cư ở Trực Am Lư 60 năm ròng. Da thịt của ông trắng trong như ngọc.Bình thường, dù cho ông đi bộ trên đường sình lầy, người khác cưỡi ngựa cũng không đuổi kịp.

Tống Huy Tông đối với ông rất trọng hậu, nhưng Lưu Ích không động lòng chút nào. Ông chỉ muốn ẩn cư trong núi sâu, tránh xa sự vinh hoa phú quí.

Huy Tông niên hiệu Tuyên Hòa năm cuối, ông thường nói với người ta, núi sông cây cỏ có mùi tanh khó ngửi. Không bao lâu sau, ông đắc đạo thành tiên. Khi ông qua đời kim binh thiết kỵ theo xuống phương nam, mùi tanh khét y như ông đoán.
   
   
TÔN MẠI NGƯ

Tôn Mại Ngư tên thật của ông chưa ai biết, chỉ biết rằng ông bán cá ở chợ Sở Châu. Có một năm lúc mùa hè, ông gặp một vị đạo sỹ nói với ông rằng:

“Cá của người sắp chết hết, nếu như người chịu mời ta uống rượu, ta có thể khiến cá của người chết rồi sống lại”.
Lúc đó, Tôn Mại Ngư liền mời ông ta đi uống rượu cả một đấu rượu, đạo sỹ vừa uống rượu vừa luận đạo với ông. Sau khi đi rồi, cá cũng sống lại liền, từ đó Tôn Mại Ngư có thể tiên đoán họa phước, linh nghiệm không lường.

Khoảng năm Tống Tuyên Hòa, triều đình mời gặp ông và ban cho ông hiệu là Trần Ẩn Xứ Sỹ. Không bao lâu ông về Sở Châu. Đầu năm Tĩnh Khang, có một hôm không có duyên cớ gì ông tự nhiên khóc lớn, không ai biết nguyên nhân gì. Sau đó, mới hiểu, hôm đó Biện Kinh bị thất hãm, ngày mất nước của Bắc Tống.
   
   
NGỤY NHỊ ÔNG

Ngụy Nhị Ông là người ở Bộc Châu Lôi Trạch, từng được gặp dị nhân mà đắc đạo. Ngày thường ông cầm quạt Hương bồ, tiên đoán việc họa phúc, không chi chẳng linh nghiệm, do đó người trong làng rất tôn trọng ông.
Mùa đông năm ấy ông tự tay mình may áo để chống lạnh rét. Buổi tối đó có tên trộm rình định lấy đồ. Nhị Ông bèn kêu đúng tên của nó, do đó kẻ ăn trộm đều hoảng chạy.

Tống Huy Tông mộ cao danh của ông, từng phái người đến mời và thăm hỏi ông. Sứ giả đến cổng nhà của ông, chỉ nghe tiếng ngáy như sấm, lại tìm khắp nơi không gặp. Sau đó, chỉ tìm được một tờ giấy trong nhà, viết mấy câu nhận lời xã giao. Sứ giả đem tờ giấy trình lên Hoằng đế, rốt cuộc là tờ báo cáo kết quả.
   



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 07:34:50 am
(tiếp theo)

LÂM LINH TỐ


Lâm Linh Tố tự là Thống Tẩu, người Vĩnh Gia. Mẹ của ông một lần nằm ngủ trong phòng  mơ thấy mây hồng phủ khắp người, sau đó mang thai ông. Hai mươi bốn tháng sau, có một hôm mộng thấy thần nhân mặc áo bào xanh đai ngọc, mắt chiếu sáng như ánh mặt trời, cầm cây bút nói với bà:
“Ta muốn đến đây ở nhờ!”.

Ngày thứ hai, Lam Linh Tố khóc oa oa sinh ra. Khi sinh ra, ánh sáng vàng đầy khắp nhà, nhưng ông không biết nói chuyện mãi đến lúc năm tuổi. Sau này, có một đạo sỹ không mời tự đến, nhìn Lâm Linh Tố mà nói với ông rằng: “Lâu lắm không gặp, tôi riêng biệt đến thăm”.

Hai tiếng vỗ tay cười lớn, thật kỳ lạ, từ đó Lâm Linh Tố có thể nói chuyện được luôn. Không những thế, năm lên bảy tuổi ông còn biết làm thơ, mỗi ngày viết ít nhất cũng hơn một vạn chữ. Đại thi nhân đương thời Tô Đông Pha đưa Lịch Thư cho ông đọc, ông xem qua đều thuộc lòng hết. Tô Đông Pha rất kinh ngạc bèn khen ngợi ông rằng: “Đứa trẻ này thông minh hơn ta, công danh phú quý dễ như nhổ nước bọt trên tay!”.

Không ngờ, Lâm Linh Tố cười nói:

“Sanh tiền phong hầu, chết rồi lập miếu, cuối cùng chỉ là đường quỷ, chí ta không ở chỗ này”.

Năm 20 tuổi, ở Tây Lạc ông gặp một vị đạo sỹ họ Triệu, dạy cho ông thuật biến hóa của thần tiên, từ đó ông có khả năng kêu mưa gọi gió, trừ đuổi quỷ quái, sai khiến tinh linh, không việc gì mà chẳng làm được. Năm thứ hai ở tửu lâu Lạc Dương lại gặp vị đạo sỹ họ Triệu, đạo sỹ nói với ông:

“Ta là Triệu Thăng, dạy đạo thuật cho ngươi nên cẩn thận mà làm. Không bao lâu sẽ được phong Thần Tiêu Giáo Chủ, kiêm lĩnh Lôi Đình đại phán quan, để phụ tá Đông Hoa Đế Quân.

Niên hiệu Sùng Ninh thứ năm, đêm rằm tháng tám, Tống Huy Tông mộng đi tới Thần Tiêu phủ, và được mời thăm Ngọc Đế. Ông bay lên hư không mà đi, xa xa trông thấy ngoài cửa trời có một người, đội mũ thất tinh, mặc đại bào, tay cầm ngọc khuê, dẫn ông đi vào cửa trời. Trên cửa có tấm biển màu hồng đề: “Thần Tiên Ngọc Quyết chi môn”. Lại đi ngang qua một ngôi tiểu viện đề: “Ngọc Khu viên”, có vị quan sử mặc áo hồng đón Tống Huy Tông đi, nói với ông:

“Ở đây chính là chỗ tiếp ngài”.

Sau khi gặp Ngọc Đế, Ngọc Đế truyền chỉ rằng: “Người nên nhậm dụng trung hiền, gạt bỏ gian tà để bảo hộ xã tắc”.

Huy Tông từ cửa trời đi hơn 100 bước, trông thấy một vị đạo nhân mặc áo xanh mão lam, cưỡi con trâu xanh đi lên trời tiền hô hậu ủng, uy nghi lẫm liệt. Ông đến trước mặt Huy Tông hô lớn một tiếng: “Vạn tuế”. Sau đó, trâu xanh đi thẳng lên cửa trời.

Huy Tông sau khi tỉnh dậy, nhớ lại toàn bộ trong giâc mộng, vẽ lại tỉ mỉ (Tống Huy Tông còn là một họa sỹ nổi tiếng). Năm Đại Quan thứ 2, ông ra lệnh tìm cầu đạo sỹ trong thiên hạ. Mâu Sơn Tông, Sư Thôi Tồn, Lâm Linh Tố. Huy Tông hỏi ông:
“Ngài có pháp thuật gì?”.

Linh Tố đáp: “Thần trên thông cõi trời, giữa biết nhân gian, dưới biết địa phủ. Đêm trung thu năm rồi tôi gặp Ngọc Đế, trên đường đã bái chào, nhận ra thánh nhan của bệ hạ”.

Huy Tông như sực nhớ, nói:
“Trẫm nhớ lại, trâu xanh của ngài cưỡi bây giờ đâu rồi?”.

Linh Tố đáp: “Gửi nuôi ở nước ngoài, không bao lâu có thể hiến cho bệ hạ”.

Huy Tông rất tán thưởng Lâm Linh Tố, thường mời ông vào cung, mời ông sang đính kho Kinh Sử đạo, Hoàng  Đế thậm chí trọng ông như thầy, đặc biệt xây dựng Thần Tiêu Cung. Ngày khánh thành cung, Hoàng  đế ra lệnh bá quan vào cung vui chơi, ông lúc đó trong lòng nổi hứng còn ngâm một câu thơ:

“Tuyên đức ngũ môn lai vạn quốc”.

Quan thần đương nhiên Thẩm  ngâm cả buổi cũng không ngâm tiếp được, không ngờ Lâm Linh Tố lên tiếng nói:
“Thần Tiêu nhất phủ tổng chư thiên”.

Huy Tông trong lòng rất vui, từ đó với Linh Tố càng nhìn với con mắt khác.

Năm Chính Hòa thứ 7, nước Cao Lệ (bây giờ là Hàn Quốc) tiến cống con trâu xanh, Huy Tông vừa nhìn rất mừng, bèn mang trâu ban cho Lâm Linh Tố.

Đầu năm Trọng Hòa, Hoa Sơn vì xây dựng điện Tam Thanh, lúc đào móng phát hiện một cái hộp, trong hộp có một quyển sách thư pháp giấy bằng vàng, trình lên Hoàng  đế. Không ngờ, Lâm Linh Tố trong tay đã có một phần, hai bên đối chiếu không sai một chữ. Huy Tông vẫn không phục, bèn nửa đêm tự tay viết một bức thư dâng lên Ngọc Đế, Sáng sớm ngày thứ 2, Hoàng  Đế hỏi Lâm Linh Tố:

“Tối hôm qua trẫm thượng biểu cho Ngọc Đế,  không biết Ngọc Đế nhận được chưa?”.
Lâm Linh Tố bình tĩnh đáp:
“Vẫn chưa được, khổ nỗi trong tờ biểu của bệ hạ viết sai một chữ, tôi không dám chuyển đến thượng tấu chuyện này”.

Nói xong, ông bèn đọc thuộc lòng tấu chương của Hoàng  Đế từ đầu đến cuối một lần, vang vang từng tiếng không sai một chữ. Huy Tông rất là nể phục, lúc đó vỗ vai Linh Tố nói: “Tiên sinh thật không hổ là thần tiên”.

Nhân đây, ban hiệu “Kim Môn Vũ Khách”.

Có một lần Lâm Linh Tố đãi tiệc ở dưới lầu Thái Thanh, trông thấy một cái bia của những người theo đảng Nguyên Hựu, thì cúi đầu chào. Hoàng  Đế hỏi ông vì lý do gì, ông nói:

“Khắc trên bia này đều là tinh tú ở trên trời, thần làm sao không cúi đầu”.

Chỗ ở thường ngày của Lâm Linh Tố luôn luôn đóng cửa, dù cho Hoàng  Đế cũng không mở vào. Gian thần Tế Kinh nhân cơ hội này nói nhỏ với Hoàng  Đế:

“Lâm Linh Tố trong nhà có trướng Hoàng  La, giường bằng vàng ròng, ghế bàn đều bằng châu đỏ, tự coi mình bằng đế vương, do đó không dám để Hoàng  Đế trông thấy! Bệ hạ không tin có thể đích thân tới kiểm tra bất ngờ!”.

Huy Tông nửa tin nửa ngờ, lúc đó đến Thần Tiêu Cung cùng Tế Kinh xông xáo vào nhà Lâm Linh Tố, nhưng chỉ thấy vách tường cửa sổ trống, bàn ghế hai cái, ngoài ra ông không còn cái gì khác. Tế Kinh thấy thế không lợi, bèn vội vã cúi đầu nhận tội. Lâm Linh Tố hỏi ông có việc gì, Hoàng  Đế nói mọi chuyện cho ông nghe, Lâm Linh Tố cười, dùng tay chỉ lên vách tường, liền xuất hiện một tòa lầu vàng điện ngọc, long sàng la trướng, gồm thiết bị ngự dùng, có thể nói muốn gì có nấy. Huy Tông thấy như thế cũng thẫn thờ hết cười, nói:

“Tiên sinh dựa hết vào thần thông du hí, so với trẫm giàu sang hơn nhiều!”.

Qua mấy năm, Linh Tố thấy triều đình ngày mỗi sai trái, lúc đó dâng sớ lên Hoàng  Đế, đau đớn vạch trần thói xấu của Tế Kinh, và khuyên Hoàng  Đế sửa lỗi lầm làm lành, không thì sao chổi hiện ra khó có thể tránh. Và ông cáo biệt Hoàng  Đế, trốn khỏi cung đình, Nguyên trước kia Hoàng  Đế thưởng cho ông 300 gánh trân bảo, một khu nhà ở cũng trả lại Hoàng  Đế luôn.

Có một hôm ông nói với đệ tử Trương Như Hối rằng:

“Cõi trần không thể lưu luyến lâu, huống là họa lớn sắp đến, bây giờ ta muốn đi, sau này gặp lại ở Thần Tiêu trên trời”.

Nói xong, ngồi ngay thẳng nhắm mắt qua đời.

Lâm Linh Tố đi về tiên không bao lâu, người Kim quả nhiên xuống phương Nam, bắt Huy Khâm Nhị đế.
   
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 07:38:23 am
(tiếp theo)

LÝ TỴ THẾ

Lý Tỵ Thế là người triều Tống, niên hiệu Thiệu Thánh năm đầu. Danh nhân đương thời Lưu Diên Trọng ngụ ở Tứ Châu, từng có đạo nhân đi ngang qua cổng nhà ông, bên đường có người hướng về ông cầu thuốc, ông ta liền dùng nước mũi với cáu ghét trên người vo thành viên, uống vào lập tức khỏe liền, do đó mọi người gọi ông là “Lý Tỵ Thế”.

Lưu Diên Trọng thấy hành động kỳ lạ bèn mời ông ngồi nói với ông: “Đáng tiếc hôm nay tôi không có rượu đãi ngài”.
Đạo nhân cười đáp lai:

“Trên đầu giường của ngài có bình rượu Trân Châu Truyền, sao không lấy ra đãi khách?”.

Lưu Diên Trọng rất hổ thẹn, vội kêu đầy tớ lấy rượu lại, Đạo nhân lại nói:

“Không cần khách sáo, chỉ cần lấy bình không lại là được rồi”.

Đạo nhân cùng Lưu Diên Trọng lấy giấy trùm lên bình rượu, trong chốc lát mùi thơm ngọt ngào bay bốn phía, một bình rượu ngon đã để trước mặt.

Mọi người ngồi ở đấy không ai không say bí tỷ.

Ngày thứ 2 Lưu Diên Trọng lại mời khách quý khác tới, muốn khoe khoang Trân Châu Truyền của ông một lần, không ngờ trong bình rượu trống rỗng trống lơ, không còn một giọt rượu nào cả.
   
   
VƯƠNG KIẾT


Vương Kiết hiệu là Trùng Dương Tử, người Hàm Dương. Mẹ ông nằm thấy giấc mộng kỳ lạ mà sinh ra ông. Ông thân thể khôi ngô, tướng mạo cao lớn, năm 20 tuổi thi đậu tiến sỹ, tài trí mẫn tiệp, văn chương vang dội khắp nơi.
Đầu năm Phụng Xương, địa phương bị nạn đói khát, cho đến người ta phải ăn thịt lẫn nhau. Vương Kiết gia đình giàu có, bị dân làng cướp giật hết trơn, quan lính bắt kẻ trộm dẫn tới Vương Kiết, ông lại nói: “Tôi không nhẫn tâm để họ chết, tha cho họ đi”.

Có một hôm ông gặp Lữ Thuần Dương, Lữ Tiên truyền cho ông khẩu quyết tu tiên, và nói với ông rằng:
“Nhanh đi đến Đông Hải, đến nhờ Đàm bắt ngựa”.

Nói vừa xong, Lữ Tiên tiêu mất không thấy.

Vương Kiết lúc đó dẫn vợ và con gái đưa về nhà mẹ vợ, tự mình đi đến Đông Hải.

Vương Kiết quang minh chính đại không bị ràng buộc, người đời đều gọi ông là “Vương Hạ Phong”. Ông thường cầm cái lon sắt đi ăn xin, đi qua Lam Điền, Đăng Châu, Côn Lôn. Đi theo sau ông là Mã Ngọc, Đàm Ngọc, Lưu Xứ Huyền, Khưu Xứ Huyền đều là đệ tử của ông.

Có một hôm ông làm thơ cáo biệt mọi người, rồi ngồi ngay thẳng qua đời, năm 58 tuổi. Mã Ngọc được ông truyền dạy, cùng 3 người nữa là Đàm, Lưu, Khưu tiếp tục vì Tống Minh. Triều đại nhà Nguyên năm thứ 6 triều đình truy tặng ông là “Trùng Dương Toàn Chân Khai Nguyên chân quân”, ông trước tác có “Thao quang tập” lưu truyền ở đời.

   
   
MÃ NGỌC


Mã Ngọc là người Ninh Hải, vợ ông là Tôn Tiên Cô. Ông lúc đầu tên là Tùng Nghĩa tự là Nghi Phủ, sau này đổi tên là Ngọc, hiệu Đơn Dương Tử. Mẹ ông khi mang thai mộng thấy Ma Cô ban cho một viên đơn, nuốt vào liền tỉnh dậy. Ông sinh ra vào thời Kim Thái Tông, niên hiệu Thiên Hội năm thứ 5.

Mã Ngọc lúc nhỏ thích đọc thi biên về cưỡi mây cưỡi hạc, thời đấy có một đạo sỹ tên là Lý Võ Mộng, vừa thấy ông liền biết diện mạo phi phàm, ông nói với Mã Ngọc rằng:

“Trên trán của người nổi lên như ba ngọn núi, tay dài quá gối, là tướng của Đại tiên”.
Có một hôm Vương Trùng Dương tổ sư từ Chung Nam Sơn tới thăm ông, nói với ông là “Túc hữu tiên duyên”. Vương Trùng Dương ăn dưa, ăn luôn cả cuống dưa. Mã ngọc hỏi ông vì sao thế, ông nói đây là ngọt từ trong đắng mà có.Mã Ngọc lại hỏi ông, ông đáp:

“Ta không từ ngàn dặm xa đến, đặc biệt vì dùi dắt người say mà tới”.

Mã Ngọc trong lòng tỉnh ngộ, thì ra ông ta từng đi ngang qua đấy làm một bài thơ, trong thơ có câu: “Túy trung khước hữu na nhân phù” (trong lúc say lại có người đó dùi dắt). Đo đó, Mã Ngọc biêt Vương Trùng Dương là bậc đạo sỹ, lập tức bái ông làm thầy.

Lúc trước Mã Ngọc từng mộng thấy một con hạc vọt lên, ông liền tới chỗ đó xây một tòa Nam Viên, để thờ cúng Trùng Dương và đặt tên là am là “Toàn Chân”. Không bao lâu, Trùng Dương có ý đi chơi phương Tây, còn Mã Ngọc không có cách nào bỏ lại gia nghiệp, Trùng Dương dùng các thứ phương cách điểm hóa cho ông. Có một lần ông kêu Mã Ngọc khóa của am lại, mỗi ngày chỉ ăn một lần, lúc đó gió tuyết từ bốn phương tám hướng thổi vào trong am, Trùng Dương thần sắc thoải mái như ngồi trước gió xuân, mà mỗi ngày còn lấy ra lê, khoai lang ăn. Mã Ngọc trông thấy hình ảnh ấy mới nhất định quyết tâm lấy tài sản chia cho ba đứa con, cùng Trùng Dương đi đến động Yên Hà, còn vợ ông Lưu Tiên Cô thì ở lại am tu hành.

Như vậy, trải qua hơn 20 năm, một hôm Mã Ngọc nói với đệ tử rằng:

“Hôm nay sẽ có chuyện hay xảy ra mà nghĩ không tới được”.

Tôn Tiên Cô đang cưỡi mây bay qua, tiên đồng, ngọc nữ tiền hô hậu ủng, uy nghi mười phần trang nghiêm. Tôn Tiên Cô cúi đầu nói với Mã Ngọc rằng:

“Tôi đi đến trước tiên đảo Phùng Lai đợi ngài”.

Chiều hôm đó, bỗng nhiên mưa gió rất lớn, sấm chớp ầm ầm, Mã Ngọc lấy cánh tay gối đầu, an nhiên qua đời. Ông chết rồi còn để lại bài thơ, nói:

“Trường niên sáu mươi mốt
Ở đời không người biết
Sấm dữ gầm một tiếng
Bồng bềnh theo gió đi”
   
   
TÔN TIÊN CÔ

Tôn Tiên Cô hiệu là Bất Nhị, hiệu là Thanh Tịnh Tán Nhân, là vợ của Mã Ngọc. Hai vợ chồng đều người Ninh Hải. Mẹ của bà mộng thấy hạc trắng vào thai mà sinh ra bà.

Tiên Cô từ nhỏ đã thông tuệ, nhân từ. Tổ Sư Trùng Dương từ núi Chung Nam tới, hai vợ chồng đối với ông kính như thần minh. Một hôm Trùng Dương quá say rượu, nằm ngủ trên giường của Tiên Cô, Tiên Cô nổi giận kêu đầy tớ khóa cửa lại và nói với Mã Ngọc. Mã Ngọc rất kinh ngạc, ông nói Trùng Dương lúc đó đang luận đạo với ông, không rời nửa bước. Hai vợ chồng vội vã đi xem, chỉ thấy phòng trống không, còn Trùng Dương đang ngủ ngáy khò khó ở một gian phòng khác. Hai vợ chồng từ đó đối với ông càng kính trọng.
Tôn Tiên Cô ở Lạc Dương sáu năm thành đạo, một hôm bà nói với đệ tử muốn đi Diêu Trì, lúc đó tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ mới, làm một bài thơ nói:

“Tam thiên công mãn siêu tam giới.
Đào xuất âm dương bao lý ngoại
Ẩn hiện tung hoành đắc tự do
Túy hồn bất phục qui Ninh Hải”.

Dịch nghĩa là:

“Đầy đủ 3000 công đức vượt ngoài ba cõi
Nhảy ra khỏi sụ bao bọc của âm dương
Lúc ẩn hiện qua lại được tự do
Hồn say không trở lại Ninh Hải”.

Viết xong, sau đó ngồi kiết gà mà hóa, mùi hương thoang thoảng xa mấy ngày không tan.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 07:41:30 am
(tiếp theo)

ĐÀM XỨ ĐOAN


Đàm Xứ Đoan tự là Thông Chánh, đầu tiên tên Ngọ, hiệu Trường Chân Tử, người xứ Ninh Hải. Ông tướng mạo phi phàm, năm 6 tuổi lọt chân xuống giếng không những không chìm mà còn an nhiên ngồi trên mặt nước. Lại có một lần trong nhà bị tai nạn lửa cháy, cột nhà gãy rớt xuống trước giường ngủ, còn Xứ Đoan thì đang ngủ, người nhà kêu ông dậy, tinh thần ông thản nhiên mảy may không vội vã.

 Khi ông 10 tuổi, làm một bài thơ vịnh Bồ đào rằng: “Nhất triều hành thượng long giá, kiến giã nhân nhân ngưỡng diện khang”. Ông là một người rất hiếu thuận, học rộng nhiều tài,  nhất là giỏi chữ thảo, chữ lệ. Có một lần ông say nằm trong tuyết, bị lạnh mà tê liệt, ông chỉ phải niệm thầm kinh Bắc Đẩu để cầu khỏe mạnh.

 Bỗng nhiên có một hôm ông mộng thấy một chiếc chiếu lớn bay ngang qua hư không, phía trên có các vị tinh quân ngồi, ông lập tức cúi đầu bái, sau khi tỉnh dậy tình trạng bệnh như không có gì, từ đó ông quyết lòng học đạo.

Kim Thế Tông niên hiệu Đại Định năm thứ 7, ông nghe nói Tổ sư Vương Trùng Dương nhà ở Mã Đang Sơn, ông vội vã đến bái làm thấy. Vương Trùng Dương đối với ông cũng rất tán thưởng, mời ông ở lại trong am, lúc ấy trời lạnh đóng băng.

Vương Trùng Dương ôm ông lại, vừa mới một chút thôi ông đã nóng đổ mồ hôi ròng ròng, giông như ngồi trên lò lửa. Ngày thứ hai, Vương Trùng Dương lại kêu ông dùng nước rửa tay dư đem rửa mặt, không ngờ mặt của ông đang mệt nhọc bỗng thấy khỏe khoắn. Sau này, ông đi theo Vương Trùng Dương đến núi Côn Lôn. Có một hôm ngồi nghỉ ở Tân Hưng Phủ Quận miếu, tùy tùng thì đên Vệ Châu, Tăng Hương miếu, là miếu quan của Ôn Lục, nửa đêm bỗng nhiên trong am đèn đuốc sáng trưng, ông trộm nhìn xuống phát hiện, thấy Xứ Đoan đối mặt với lửa ngồi một mình.

Ôn Lục hướng về phía trước lạy, Xứ Đoan mỉm cười không nói từ từ đi ra. Ôn Lục ở trong am đợi Xứ Đoan, cuối cùng cũng không chịu nổi, liền chạy ra ngoài tìm, tìm khắp nơi cả buổi không gặp. Ông vội kêu người đi đến Vệ Châu hỏi, tin tức được truyền lại nói, Đàm Xứ Đoan từ lúc đến Vệ Châu, vốn không đi ra ngoài nửa bước. Ôn Lục lúc này mới tin ông chỉ gặp dương thần của Xứ Đoan.

Sau này Đàm Xứ Đoan đến Từ Châu khuất thực, có một người điên vô cớ tát ông gãy răng chảy máu, mà thần khí ông vẫn không biến sắc chút nào, chỉ lãnh đạm nói:

“Ta nên cảm tạ thường ngày thầy từ bi dạy dỗ”.

Lúc đó, Vương Trùng Dương ở trong am nghe thấy sự việc này, khen ông rằng:

“Cái đánh này sẽ tiêu diệt mọi cái xấu xa của Xứ Đoan trong đời thường”.

Không bao lâu, ông đến huyện Cao Đường, lấy bút lớn viết hai chữ “ Quy Xà” tặng cho chủ quán Ngô Lục. Ngô Lục đem treo trong quán. Mấy ngày sau, dân làng bị lửa cháy, chỉ có nhà Ngô Lục không bị tai nạn gì cả. Do đó, mọi người nói hai chữ đó là bùa tránh lửa của Lữ Động Tân.

Ông đi chơi về hướng đông đến Dương Võ, ban đêm thấy sao Bắc Đẩu dời vị trí, xoay như bánh xe. Ông liền nói với Thạch Khổng: “Ở đây không bao lâu nữa sẽ xảy ra thủy tai”. Đến năm đó, quả nhiên Hồng Hà vỡ đê. Đàm Xứ Đoan cuối cùng cũng thành tiên, ông có trước tác quyển “Thủy Vân tiền hậu tập” lưu truyền ở đời.

   
   
DƯƠNG QUẢNG CHÂN


Dương Quảng Chân người Nghiêm Châu, bà xuất giá sau này bị bệnh thiếu máu, đêm nằm mộng thấy Đạo nhân cho bà thuốc uống, do đó mà hết bệnh, từ đó bà không ở chung với chồng nữa mà di xa ở xứ khác học đạo. Bà lạy Hà Tiên Cô làm thầy, khoảng năm Tống Thuần Hi bà đang ngồi ăn cơm ở nhà một người bạn, bỗng nhiên có người đứng ngoài cửa kêu bà, bà ra cửa xem, có ba vị tiên nhân đến đón bà. Họ dẫn bà đến bờ biển lớn, nhảy lên lưng con tôm lớn mà đi qua biển cả. Tiên nhân hỏi bà:

“Bà có muốn vượt phàm trần vào cõi thánh? Hay vẫn muốn ở thế gian? Hay là đổi lốt thành tiên?”.

Ba trả lời:

“Mẹ tôi vẫn còn sống, mong muốn cả đời phụng dưỡng bà cụ”.

Tiên nhân lúc đó dạy bà cách ở lại thế gian, và tặng bà một viên đan, từ đó bà không cần ăn uống. Bà là một hiếu nữ trong các vị thành tiên.
   
   
KHƯU XỨ CƠ

Khưu Xứ Cơ tự là Thống Mật, hiệu Trường Xuân Tử, người Đăng Châu, từ nhỏ thông minh, năm 19 tuổi dời về ở núi Côn Lôn. Sau này ông nghe nói Vương Trùng Dương ở am Toàn Chân biển Ninh Hải, lập tức đi đến bái làm thầy.

Không bao lâu Vương Trùng Dương quy tiên, ông cùng ba người nữa là Mã Ngọc, Đàm Xứ Đoan, Lưu Trường hộ tống di thể của sư phụ, an táng ở núi Chung Nam, và còn che trại ở bên mộ  3 năm mới đi.

Kim Thế Tông đối với ông rất trọng hậu, nhưng ông tính tình đạm bạc thà về ẩn cư ở núi Chung Nam chớ không chịu nhận 10 vạn tiền của Thế Tông ban cho. Nguyên Thái Tổ từng hướng về ông hỏi đạo, ông trả lời rằng:

“Đời người sau khi 40 tuổi, khí huyết dần dần suy yếu, nên tu đức bảo hộ thân, để bảo dưỡng thiên niên”.

Ông còn tiến thêm một bước nữa khuyên Hoàng  đế tiết dục, không thể ỷ lại vào các vị thuốc. Ông nói thuốc ví như cỏ, tinh thần cũng như tủy, bỏ tủy mà thêm cỏ cũng như trong kho vàng, bỏ vàng mà đổi sắt, dần dần vàng hết sạch chỉ còn sắt, đối với thân thể này có lợi ích gì? Ỷ lại thuốc men là việc làm ngu muội, bỏ gốc theo ngọn vậy”.

Nguyên Thái Tổ lại hỏi ông về đạo trị nước, ông trả lời rằng:

“Đạo cai trị phải kính trời, thương dân, lòng trong sạch ít ham muốn”.

Thái Tổ nghe rồi trong lòng rất vui, ban thưởng rất hậu nhưng đều bị Xứ Cơ từ chối.

Có một hôm Khưu Xứ Cơ tay cầm một cành hoa lê tặng cho Trương Khứ Hoa. Trương Công đem hoa trồng ở trong bình, đến mùa thu tự nhiên trổ được 24 đóa hoa.

Lại có một lần, một gốc cây hòe của Dương Tường Quan bị khô chết, Khưu Xứ Cơ dùng gậy đập, trong miệng ngâm rằng: “Cây hòe sống lại”. Gốc cây hòe này quả thật sống lại tươi tốt, mãi cho đến triều Minh vẫn tươi phơi phới.

Đến triều Nguyên năm thứ 6, Đông hồ nước cạn, Bắc Khẩu núi lở, Khưu Xứ Cơ nói:

“Đây là điềm báo ta sắp xa trần thế”.

Mồng chín tháng sáu năm đó, ông lên Bảo Huyền Đường, miệng bói một bài thơ nhỏ, ngồi yên lặng mà hóa.

Khưu Xứ Cơ hưởng thọ 80 tuổi, ông có trước tác “Phan Khuê Minh Đạo tập” lưu truyền ở đời.
   



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 07:45:16 am
(tiếp theo)

HÁCH ĐẠI THÔNG

Hách Đại Thông tự là Thái Cổ, hiệu Điềm Nhiên Tử, cũng là người Ninh Hải. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, thờ mẹ rất hiếu thảo, thường mộng thấy thần nhân dạy nghĩa Huyền ảo về Châu Dịch, từ đó tinh thông âm dương, ngũ hành, tinh tường bói quẻ. Khi Vương Trùng Dương đến Ninh Hải, rất chú ý tới ông, do đó mà điểm hóa ông ngộ đạo. Sau này ông ở Cổ Sơn gặp thần nhân, dạy ông Kinh Dịch, từ đó tiên đoán kiết hung không việc gì không linh nghiệm.

Hách Đại Thông có một lần ngồi dưới cầu Triệu Châu, mặc nhiên không nói, có một đám con nít nghịch ngợm hiếu kỳ lấy gạch đá chất trên đầu ông, chất thành một cái tháp gạch, còn dặn ông không được đụng đậy một viên gạch nào. Hách Đại Thông không nhúc nhích tý nào, nước sông dâng lên ông cũng không tránh, ngồi ngay thẳng như vậy qua 6 năm, đỉnh của tháp gạch cũng y như ban đầu.

Niên hiệu Bảo Quanh năm đầu, ông ngồi hóa ở Tiên thiên Quan, Ninh Hải, hưởng thọ 73 tuổi. Đạo nhân có pháp thuật rất nhiều nhưng thứ định lực như ông thật là hiếm thấy.
   
TỬ ĐÁN

Tử Đán là người Trần Lưu, thầy của ông là Mã Ngọc và Khưu Xứ Cơ. Ông từng đặt hiệu là Ninh Chân Tử, người ta gọi ông là Tử Tiên Ông.

Ông từng đi chơi qua Tế Nam, đến lâu đài của Trịnh Châu đời nhà Kim khoảng niên hiệu Thái Hòa, trời rơi tuyết lớn, dày hơn một trượng. Tử Đán không đi ra khỏi nhà, liên tục mười mấy ngày trời.Mọi người đều cho ông chắc chắn đã chết rồi, đợi băng tuyết tan ra, sau đó họ phát hiện ông vẫn ngôi ngay thẳng, không một chút có vẻ đói lạnh.

Khoảng niên hiệu Trịnh Hựu, đại binh phá ở Quan Ích, quân dân kinh sợ, Tử Đán lại nói không phải lo sợ, sau đó quả nhiên như lời ông nói. Ai Tòng bôn tẩu đến Tế Châu, hỏi làm sao thành trì thiên hạ đều bị chiếm đóng, chỉ riêng có thành này không bị phá vỡ. Mọi người đều đồng lời bởi vì có Tử Đán ở trong. Không bao lâu Tử Đán quan đời, vẫn chưa an táng, ngày thứ hai thành Tế Châu liền bị địch công phá luôn.
   
   
MẠI KHƯƠNG ÔNG

Lai lịch của Mại Khương Ông không rõ ràng, chỉ biết ông từng gánh gừng bán ở chợ Hoành Châu hơn 30 năm mà dung mạo vẫn không già yếu chút nào.

Có một hôm ông ở trong quán trà gặp một đạo nhân, đạo nhân đó nói với ông rằng:
“Ta sẽ luyện kim thuật, rất muốn tìm người có đức truyền thọ cho ông”.

Mại Khương Ông không nói không rằng, từ trong đòn gánh lấy ra một cử gừng để vào trong miệng, một lát sau nhổ ra cục vàng.

Đạo sỹ thấy thế, hai người bất giác nhìn nhau mà cười. Họ liền cùng đi ra khỏi quán trà, từ đó không thấy tung tích hai vị này nữa.
   
   
CHÂU QUẤT


Châu Quất tự Thùy Dương, người Hoài Tây. Mẹ ông nằm mộng thấy nuốt một vì sao sáng lớn bằng cái đấu, do đó mà mang thai, mang thai 15 tháng vẫn chưa sinh được, do đó cả ngày bà buồn bã không vui. Có một hôm trước cổng nhà có một đạo sỹ tới, trên tay cầm một trái quýt nói:

“Ăn trái quýt này người sẽ sinh dễ dàng”.

Mẹ ông rất mừng, há mồm nuốt luôn. Sau đó bà hỏi đạo nhân cho biết quý danh, đao nhân chỉ nói:
“Tên tôi Cúc Quân Tử”

Lại vừa nói xong biến mất không thấy. Qua chưa được một giờ, Châu Quất quả nhiên khóc oa oa ra đời, cha mẹ của ông nhân đó mà đặt tên cho ông là Quất.

Châu Quất tuy riêng có huệ căn, nhưng trên đường công danh lại không thuận toại, hai lần ông thi hương đều rớt, bất giác có tâm chán nản. Một hôm ông đang bồi hồi buồn bã ngồi bên hồ, vô ý thấy bóng mình trong hồ nước, bỗng nhiên trong lòng có nhớ ngộ, từ đó chán ghét công danh mà quyết tâm tu đạo.

Có một hôm ông lại gặp vị đạo nhân đó, đạo nhân vẫn cầm trái quýt trên tay cuống cuồng điên điên vừa đi vừa ca. Ông hát rằng:

“Trái quýt a trái quýt
Không có người biết ngươi a
Chỉ có người họ Châu kia
Ông rốt cũng hiểu người”
Mọi người trên đường đều ngó ngang tránh đi, chỉ có Châu Quất trong lòng có chỗ cảm, ông theo đạo sỹ đến ngoại thành, mật thiết vừa bái nói:

“Ngài đây chẳng phải là Cúc Quân Tử à?”.

Châu Quất nói tên họ thật của mình cho ông biết.

Đạo nhân lại hỏi ông rằng:

“Đời người giàu sang cũng như bọt bèo trên mặt biển, như đám mây nhỏ trên không trung, đâu có đủ để luyến mến, chỉ có đạo thần tiên bất tử là chỗ tôi hướng tới.

Đạo nhân trông thấy thời cơ đã chín, lúc đó liền điểm hóa ông, và trao giới cho ông, muốn ông đến Hoãn Công Sơn xây nhà.tu luyện. Chỉ có đạo là nên làm theo Sau này có ngươi đi vào núi trông thấy một đứa trẻ trắng trong như ngọc, đi nhanh như sao xẹt, mới thấy trước am lập túc không thấy liền. Chỉ thấy Châu Quất ngồi ngay ngắn trong am. Mọi người đều hiểu đứa bé ấp là phân thân của ông.

Có một ngày nọ ông nói với một người cùng quê là Trần Đại rằng:

“Hôm nay ta muốn đứng trước Huyện Nha mà hóa, mong ông dùng đất sạch mà lấp trên thân tôi”.

Trần Đại y theo lời ông mà làm chỗ ông lên tiên, sau đó dùng đất bùn phủ lại. Mỗi đêm tiểu lai của nha môn uống rượu say rồi, chỉ tượng bằng bùn của Châu Quất chửi lớn nói đó là đồ giả, và còn lấy roi đánh đùng đùng, chỉ thấy bùn đất từng cục rớt ra, các xác người bên trong cũng không biết đi đâu.

 Lúc đó, mọi người mới biết Châu Quất đạo hạnh rất cao sâu, ông dùng phương pháp này để cảnh giác người thường nên khám phá vô thường.
   
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:10:11 am
(tiếp theo)

VƯƠNG XỨ NHẤT
Vương Xứ Nhất người Ninh Hải Đông Mậu, hiệu Ngọc Dương. Mẹ là Châu Thị khi mang thai ra ông, ban đêm mộng thấy mây hồng vây quạnh thân, tỉnh dậy thì sinh ra ông.

Khi còn nhỏ, ông đi chơi trong núi, gặp một ông già ngồi trên hòn đá lớn, nói với ông rằng:
“Say này người sẽ nổi danh ờ triều đình, trở thành tông chủ của Đạo giáo”.

Niên hiệu Đại Định năm thứ 8, gặp Tổ sư Trùng Dương ở am Toàn Chân, ông và mẹ ông cùng bái lạy Tổ sư Trùng Dương tu học đạo pháp, từ đó tự xưng là Huyền Tịnh Tán Nhân.

Có một lần Vương Xứ Nhất ở một mình trên núi Thiết Tra, Vương Trùng Dương và Mã Ngọc thì đi bộ trên đường Long Tuyền, lúc đó trời đang nắng nóng, Vương Trùng Dương bỗng nhiên cầm dù đằng hư không mà đi, qua một chút cấy dù đó rớt xuống trước am của Vương Xứ Nhất, trên dù có đề chữ Tổ sư. Long Tuyền cách xa Núi Tra khoảng 200 dặm.

Vương Xứ Nhất ngày thường ẩn cư trong động Vân Quang, ông thường đứng bên vực nguy hiểm, đứng thế nhón chân, mỗi lần đứng như thế mấy ngày không nhúc nhích, do đó người đương thời gọi ông là “Thiết Khước Tiên Nhân”.

Niên hiệu Đại Định thứ 27, Nguyên Thế Tông mời ông vào cung. Chương Tông năm thứ 2 lại mời ông vào cung hỏi đạo. Chương Tông vì thử đạo hạnh của ông, cố ý hỏi một vài việc bí mật, còn Vương Xứ Nhất có hỏi ắt là đáp, có đáp ăt là trúng. Chương Tông rất kinh ngạc hỏi ông duyên cớ, Vương Xứ Nhất đáp:

“Gương sáng có thể soi vật, huống chi là trời đất xét soi đến, không cái gì chẳng quán sát, không vật gì có thể chạy trốn, còn gọi là Thiên địa minh giám, cũng là bản tâm linh diệu của chính mình”.

Chương Tông vừa nghe, rất là thán phục nói: “Cổ nhân nói: “Trong sạch ở thân, chí khí như thần” thật là viết theo của tiên sinh đấy!”.

Năm thứ hai, Nguyên Phí bố thí một kho kinh đạo, hy vọng thâu chứa ở trong Ngọc Hư quán, mà trước thủy động của quán có một tảng đá lớn làm trở ngại đường đi, dưới chân tảng đá có mấy lằn nứt rất sâu, tảng đá lớn lúc lắc muốn rớt, không có ai dám đi ngang qua dưới đó. Mấy người thợ bàn bạc đục tảng đá đó ra, đục liền mấy ngày chỉ được một phần trăm. Vương Xứ Nhất thấy tình trạng này không nhịn được cười, nói:

“Đây không phải sức người có thể làm được”.

Ông nói xong cầm chùy đứng trước tảng đá gõ nhẹ 3 cái, mà mỗi lần gõ đều phát ra tiếng sấm sét ầm ầm, chấn động cả núi hang, tảng đá đó cũng theo tiếng sét mà vụn ra, vấn đề giải quyết được thuận lợi, mọi người xung quanh đều trố mắt nhìn.

Khoảng tháng 4 năm thứ 2, bỗng nhiên ông nói với đệ tử rằng các vị tiên hẹn ông đi dự tiệc.

Lúc đó tắm gội mặc đồ mới, đai mão chỉnh tề, đốt hương lễ lạy 10 phương xong, an nhiên qua đời.

Ông có trước tác một quyển sách “Vân Quang tập”.

   
   
NHAN BÚT TIÊN

Nhan Bút Tiên là người Cao Bưu, lúc trẻ rất phóng khoáng, đầu năm Bảo Khánh triều Tống, ông ở đầu đường bán bút mà gặp được tiên ông. Mỗi lần ông bán được 19 cây bút thì nghỉ không bán nữa, lúc đó có một viên quan tới thăm ông, hỏi ông có thể uống rươu không, ông nói có thể uống một đấu, uống xong sau đó bái chào mà đi, đem bút bỏ hết trên thuyền. Quan viên ra lệnh tả hữu đem bút trả lại cho ông, có mấy người dùng hết sức mình mà không nâng nổi cây bút.

Ông có lúc đem bút tặng cho bạn bè, chẻ cây bút ra trong đó tất nhiên có bài kệ , bà thơ, tiên đoán cây bút này năm nào tháng nào sẽ bị gãy, và còn đoán họa phước tốt xấu của người đó, rất là linh nghiệm. Do đó, mọi người gọi ông là “Bút Tiên”.

Năm ông 97 tuổi, có một hôm ông ở trong sân chất đống cỏ rơm, châm lửa vào mình và nhảy vào đó, ở trong lửa phừng phừng, mọi người trông thấy Bút Tiên cưỡi mây lửa mà đi.


MẠC NGUYÊN ĐỈNH


Mạc Nguyên Đỉnh tự là Khởi Viêm, vốn tên Động Nhất, người Hồ Châu. Ông thiên bẩm tài năng, tướng mạo thanh tú, da dẻ như ngọc, mắt rực sáng long lanh, cử chỉ nhanh nhẹn.

Ông ở Thanh Thành Sơn Trượng Nhân Quan gặp được Từ Vô Cực, tu học Ngũ Lôi pháp. Lại nghe nói Nam Phong có Trịnh Tiền Bích tinh thông đạo pháp bí mật mà không truyền, ông bèn hạ mình làm người hầu, hết lòng phụng sự, sau cùng cảm động được Trịnh Tiền Bích, cuối cùng trước lúc chết đem đạo pháp truyền cho ông, từ đó, Nguyên Đỉnh xứng là Lôi Sư, có thể sai khiến quỷ thần, lúc động lúc tịnh điều hợp đạo. Ông có lúc vui, cười, giận, chửi giống như đang có thần tiên cùng trò chuyện.

Nguyên Thế Tổ triệu kiến ông, đang lúc đo sắc trời trong sáng, vạn dặm không có một chút mây, hoàng đế hỏi có thể làm tiếng sấm được chăng? Nguyên Đỉnh đáp không có vấn đề gì. Ông cầm hạt đào vừa quang xuống đất, lôi đình bỗng phát ra chấn động cả triều đình. Nguyên Thế Tổ bất giác lộ vẻ xúc động trên khuôn mặt, lúc đó lại mời ông làm mưa, cũng được mãn nguyện. Nguyên Thế Tổ rất mừng trọng thưởng cho ông vàng bạc tơ lụa. Nguyên Đỉnh đem mấy phẩm lụa quý giá cắt thành từng đoạn, phân chia cho dân chúng nghèo khó.

Mạc Nguyên Đỉnh rất thích uống rượu, hầu như ngày nào cũng say sưa. Sau khi say bèn ngước mắt lên nhìn trời tiếp theo có âm phong ù ù từ trong tay áo bay ra.  Ông từng cùng bạn bè thả thuyền trên Tây Hồ uống rượu, lúc đó mặt trời nóng như lửa, bạn bè ông nhờ ông mượn một đám mây tới che cho mát mẻ. Nguyên Đỉnh cười, lượm một miếng vỏ trái cây để trong ly  rượu, trong khoảng khắc có mây từ bến hồ bay lên, dần dần che kín mặt trời.

Có một lần các đạo sỹ của Phiên Lý Quan nhân tết trung thu tụ lại ăn tiệc, đang lúc cầm sừng để cụng ly thì bỗng nhiên có mây đen kéo tới che lấp mặt trăng, rất lâu không tan. Nguyên Đỉnh lúc ấy đang ở nhờ trong quan, đạo sỹ muốn đố ông ra tay thử, vội vàng mời ông cùng dự tiệc và trịnh trọng hướng về ông cáo lỗi, Nguyên Đỉnh dùng tay chỉ nhè nhẹ một cái, lập tức mây tan, trăng lộ ánh sáng rực rỡ.

Năm 73 tuổi, ông ngồi ngay thẳng mà qua đời, lúc đó mưa to gió lớn, sấm sét ầm ầm mà mặt ông nhan sắc vẫn tươi sáng mêm mại như lúc còn sống.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:13:48 am
(tiếp theo)

TRƯƠNG TAM PHONG

Trương Tam Phong là người Liêu Đông Nhất Châu, tên Quân Bảo, tự Huyền Huyền, sinh ra có tướng lạ, quy hình hạc cốt, tai to mắt tròn, thân cao 7 thước, râu như lưỡi kiếm. Trên đầu chải búi tóc, tay cầm cây đao một thước, bình thường trên đầu chỉ đội cái nón lá, mặc trên mình chiếc áo bá nạp, không kể lạnh nóng, không chú ý đến ăn mặc. Do đó, mọi người đều gọi ông là “Trương Lạp Thạp”.

Trương Tam Phong hành vi rất đặc biệt, lúc động thì đi ngàn dặm, lúc tịnh thì nhắm nghiền mắt 10 ngày, mỗi khi gặp ăn uống cả thăng cả đấu ăn hết luôn, có lúc lại mấy tháng không ăn gì cả, coi như không có chuyện gì.

Cuối triều Nguyên, ông ở Bảo Kê Kim Đài Quan, không bao lâu ngồi hóa luôn trong quan. Bạn của ông Dương Chấn Sơn vì ông sắp đặt làm Kim Quan, vừa muốn nhập liệm. Trương Tam Phong bỗng nhiên sống lại.

Sau khi sống lại, Trương Tam Phong đi đến Tứ Xuyên, ở lại núi Thái Hòa cất am tu luyện. Trước am có năm gốc cổ thụ, ông nằm dưới gốc cây, thú dữ cũng không dám xúc phạm, chim uyên cũng không dám công kích, người ta đều kinh ngạc vì kỳ tích ấy.

Sau này, ông lại đến núi Võ Đang, ông nói với dân làng: “Ngọn núi này về sau sẽ nổi tiếng trong thiên hạ”.

Hơn mươi năm sau, ông phất vạt áo mà chu du tứ xứ. Khoảng niên hiệu Vĩnh Lạc, triều đình vì ông dựng cung kỷ niệm ở núi Võ Đang.

Khoảng năm Thiên Thuận lại phong ông là “Thông vi hiển hóa chân nhân”.

 Còn Trương Tam Phong thật đúng như tên gọi, lúc ẩn lúc hiện xuất quỷ nhập thần, không biết rồi đi đến đâu.
   
   
TRƯƠNG TRINH

Trương Trinh tự Cảnh Hòa, người Lâm Xuyên, lúc nhỏ gặp dị nhân dạy cho Thái Ất thần số, có thể tiên đoán họa phước, không sai một chút nào. Ông lúc bình thường đầu đội mão, do đó mà gọi là “Thiết quan đạo nhân”.

Đương thời Minh Thái Tổ vì sáng lập sự nghiệp đuổi quân Trừ Dương, mời Trương Trung phổ kiến. Ông nói với Thái Tổ rằng:

“Như nay thiên hạ đại loạn, nếu chẳng phải mạng chúa, không dễ gì bình định, theo cái thấy của tôi, ngài có thể đáng làm lắm!”

Thái Tổ hỏi ông duyên cớ, ông đáp:

“Minh Công mắt phụng, tướng mạo phi thường, quí không thể nói, đợi đến lúc vẻ mặt ngài rạng rỡ như gió thổi mây, lúc đó cũng là ngày ngài lên xưng ngôi đế”.

Minh Thái Tổ rất khen ngợi ông, mời giữ ông lại ở trong dinh nhậm chức, mỗi lần cùng xuất chinh, ông đều có thê quan sát khí sắc phân biệt tốt xấu. Trận chiến Phiên Hồ, Trần Hữu Kinh bị trúng tên mất mạng, mà quân hai bên chưa biết sự tình, tiếp tục chiến đấu. Trương Trinh ngước nhìn mây khí phát hiện sự việc này bèn tấu nói:
“Trần Hữu Kinh đã chết rồi, mà bộ hạ của ông ta không biết, vẫn vì ông ta hết sức chiến đấu, sao ngài không viết một bức văn tế, để cho tử tù đọc vang ra, thì trí khí quân sĩ của địch chắc chắn dao động, mà quân ta có thể đánh được không?”.

 Như lời nói, lính của Trần Hữu Kính tự nhiên tan vỡ.

Khi Từ Vũ Ninh Vương đang làm tướng, Trương Trinh nói với ông:
:Hai gò má của ngài tươi hồng, mắt sáng như lửa, quan chức rất cao, đáng tiệc chỉ được trung thọ, không thể lâu dài!”.

Sau này, Vũ Ninh Vương quả nhiên được phong vương, ngược lại lúc 59 tuổi ông qua đời.
Quốc công nước Lương là Lam Ngọc từng mang rượu đi thăm Trương Trinh, Trương Trinh bèn ra nghinh đón, Lam Ngọc không vui. Do đó, mà đùa với ông rằng:

“Tôi có câu nói, mời tiên sinh làm một câu đối: Chân mang dày cỏ đón khách, dưới chân vô lễ”.

Trương Trinh lập tức chỉ Lam Ngọc đang ôm trài dừa nói: “Tay cầm trái dừa làm cái ly, trước tôn bất trung”.

Trương Trinh mấy năm ở trong kinh thành, có một hôm không có việc gì cả mà ông từ trên cầu Đại Trung gieo mình xuống sông mà chết. Hoàng  đế ra lệnh tìm thi thể của ông, tìm khắp nơi mà không được.
Năm thứ hai Đổng Quan thủ nha tâu lên nói: “Ngày đó… tháng đó  …. Thiết quan đạo nhân chống gậy ra khỏi quan, vừa đúng ngày đó là ngày ông gieo mình xuống nước”.
   
   
CHÂU ĐIÊN TIÊN

Châu Điên Tiên họ tên không rõ, ông tự xưng là người Nam Khang Kiến Xương, năm 14 tuổi bị mắc bệnh điên, ở Nam Xương đi ăn xin hơn 30 năm, có một hôm bỗng nhiên miệng phát cuồng.
Đương thời triều Nguyên thái bình lâu ngày, thiên hạ sắp loạn mà Châu Điên đã thấy người Hán có điểm muốn phục hưng.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương mỗi lần đi tuần, Châu Điên nhất đinh tới trước chặn lại bái, mỗi lần như thế đều nói: “Cao Thái Bình”. Thái Tổ rất giận ghét, hạ lệnh đưa rượu nóng đổ ông mà Châu Điên uống vẫn không say.Thái Tổ muốn giết ông, Châu Điên nói:

“Ngài có thể giết chết tôi không? Nước lửa, kim loại, gai góc đối với tôi vẫn không có vật gì”.

Thái Tổ vừa giận, hạ lệnh bắt ông giam vào trong cái khạp, phía dưới đốt củi lửa, sau khi lửa tắt,  mở khạp ra chỉ thấy Châu Điên ngồi đó, an nhiên tĩnh tọa không tốn một sợi lông. Thái Tổ ra lệnh đốt thêm lửa, đốt tiếp tục rất lâu, lại mở khạp ra xem chỉ thấy khói mịt mù.

Châu Điên đang ngủ, giống như mộng mới vừa tỉnh, còn tưởng như đang ngủ trong cái lồng, sắc diện càng rạng rỡ. Thái Tổ không biết làm sao đành để ông ở trong chùa Tương Sơn. Ông ở chùa Tương Sơn mỗi ngày đều có tranh chấp với các hòa thượng.

 Hơn một tháng các hòa thượng tâu cáo trạng nói hành vi cổ quái của ông. Lão Ái và Sa Di tranh giành cơm đã nửa tháng chưa ăn cơm. Hoàng  Đế vừa nghe lập tức xa giá đến xem, khi Châu Điên đi ra Phổ Kiến, không có một chút mệt mỏi. Hoàng  Đế đặc biệt thiết đãi ông ở điện Thúy Vi

Khi Chu Nguyên Chương đánh Thanh Sỹ Thành, Châu Điên cũng đồng đi theo quân. Lúc đó, Trương Sỹ Thành đã xưng đế. Chu Nguyên Chương hỏi ông như thến nào mới tốt, Châu Điên ngước nhìn lên trên không, hồi lâu như có chỗ thấy, ông ngoắc ngoắc tay nói:

“Trên trời chưa có ngôi vị của ông ta”.

Lúc đó, Chu Nguyên Chương mới yên lòng đánh, vừa khởi binh đánh thì được thắng.

Sau này, Châu Điên đi ẩn cư ở Lô Sơn, đi đâu không rõ. Sau khi bình định thiên hạ, Minh Thái Tổ đích thân làm bài văn và khắc cái biên dựng ở Lô Sơn để kỷ niệm hành vi kỳ quái này.
   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:18:00 am
(tiếp theo)

LÃNH KHIÊM

Lãnh Khiêm tự là Khải Kính, đầu năm Hồng Vũ, từng nhậm Hiệp luật bộ, là chức quan quản lý âm nhạc của triều đình thời cổ đại. Nhiều nhạc chương chùa miếu ngoài thành, đều do ông soạn viết.

Ông có một người bạn, nghèo đến nỗi không thể tự sống được, chạy đến cầu Lãnh Khiêm xin cứu giúp. Lãnh Khiêm nói:
“Ta chỉ điểm ngươi một chỗ, người đi đến đó nhất thiết không nên tham cầu châu báu”.

Nói xong, ông vẽ trên vách tường một cái cánh cửa. Bên cửa có một con hạc trắng trông coi, ông gõ cửa kêu người bạn, cửa tự động mở ra, bạn của ông bất giác đi bộ đến chỗ đó. Ngước đầu vừa xem, vàng bạc châu báu xán lạn chóa mắt, người bạn này quên lời nói của Lãnh Khiêm, không quan tâm tới tất cả, liều mạng lấy đồ, trong cơn mê loạn đã làm một miếng tên của mình rớt xuống.

Qua mấy ngày, kho vàng trong cung phát hiện thiếu một tốp tài vật, quan giữ kho kiểm tra trong khố đến trang tên, bàn ghi họ tên bắt người bạn của Lãnh Khiêm đi. Trong lúc thẩm xét, Lãnh Khiêm cũng bị đem  ra,do đó liên đồng Lãnh Khiêm cũng cùng bị tội chết. Đang lúc bị đao phủ thủ áp ra cửa thành, Lãnh Khiêm nói với ông ta rằng:

“Tôi gần chết rồi, có thể cho tôi 1 ít nước giải khát được không?”.

Đao phủ thủ cho ông một bình nước, Lãnh Khiêm vừa uống vừa để chưng vào trong bình, nói cũng kì quái, thân thể của ông cứ từ từ rút nhỏ vào trong bình nước.Đao phủ thủ vừa thấy kinh ngạc vừa la lớn:

“Ngươi không ra, mấy bọn lâu la của chúng tôi đều phải chết hết”

Lãnh Khiêm đáp nói:

“Không cần vội vã, ngươi chỉ cần mang cái bình đến trước Hoàng  Đế thì không có việc gì”

Đao phủ thủ y theo lời ông đi gặp Hoàng  Đế. Phàm Hoàng  Đế hỏi chi, trong bình lập tức đáp ra lại, Hoàng  Đế nói:

“Người nhanh ra gặp ta, ta không giết ngươi”

Lãnh Khiêm nói: “Thần có tội không dám ra”

Hoàng Đế nổi giận đập nát cái bình, không ngờ mỗi mảnh vụn đều có tiếng Lãnh Khiêm phát ra nói: “Thần có tội không dám ra”, âm thanh vang bốn phía, nhưng không thấy người. Sau nầy có người ở Tứ Xuyên gặp ông, nghe người ta nói ông thành tiên rồi.
   
ĐỊCH  THIÊN  SƯ

Đich Thiền Sư  tên Càn Hưụ, người ở Hiệp Trung. Thân cao 6 mét, tay dài hơn một thước, lúc ngủ không dùng gối để gối đầu, về già hay tiên đoán. Ông có một lần đi đến chợ Quy Châu, la lớn rằng:

“Tối nay sẽ có tám người tới hỏi, mọi người tự bảo trọng”.

Trong chợ không ai hiểu lời nói của ông, không ngờ tối hôm đó phát sinh ra lửa lớn, đốt cháy mấy trăm căn nhà, mọi người mới hiểu lời nói của ông. “Tám Người” đó là chữ “hỏa”.

Địch Thiên Sư mỗi lần vào núi, phía sau đều có một bầy cọp đi theo. Ông thường ở bên bờ sông cùng mấy người đệ tử ngắm trăng, có một đệ tử hỏi ông trong mặt trăng có cái gì. Địch Thiên Sư cười nói: “Các con xem nè!”.
Ông dùng tay chỉ hai người đệ tử xem mặt trăng cả buổi, bên trong có lầu quỳnh gác ngọc, xán lạn đẹp đẽ, được chốc lát thì tiêu mất không thấy.
   
   
LÝ THIẾT QUẢI

Lý Thiết Quải vốn họ Lý. Ông thân tướng rất khôi ngô. Lúc trẻ đã đắc đạo, sau đó mãi ở trong hang. Lý Lão Quân và Uyển Khưu tiên sinh (hai vị tiên đương thời) thường giáng đến trên núi ông ở, dạy cho ông đạo pháp rất cao thâm.

Một hôm Thiết Quải tiên sinh muốn đến Hoa Sơn dự tiệc của Lão Quân, trước khi đi ông dặn dò đệ tử rằng:

“Ta để thân xác tại đây, các người khéo giữ hộ, hồn phách của ta đi dự tiệc của Lão Quân. Nếu như 7 ngày sau ta chưa trở về, các người quẳng cái xác của ta vào lò lửa thiêu đi”.

Sau khi ông đi rồi, người đệ tử bỗng nhiên nhận được tin tức mẹ bị bệnh nặng, rất nóng lòng, mới 6 ngày thì khiêng xác của  ông để vào lửa thiêu, còn tự mình đi về nhà.

Ngày thứ 7, tiên sinh trở về nhà, ông tìm khắp nơi mà không thấy xác của mình, du hồn không chỗ nương tựa chỉ còn tùy ý di chuyển tìm một thi thể mới chết để nhập vào, không ngờ thi thể lại là người chân thọt, từ đó Lý tiên sinh chỉ còn cách chống gậy, điên điên đảo đảo, lúc ấn lúc hiện ở nhân gian.

   


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:25:43 am
(tiếp theo)

CHUNG LY QUYỀN (HÁN CHUNG LY)

Chung Ly Quyền là người Yên Đài, sau này đổi tên thành Giác Tự Tịch Đạo, hiệu Vương Dương Tử, lại còn hiệu là Phùng Tiên Sinh. Cha ông làm quan ở triều Hán, có công hiển hách được phong làm hầu.

Khi đản sinh Chung Ly Quyền, hào quang lạ chiếu khắp nhà, giống như lửa rực, tả hữu thị vệ đều nhìn thấy thất sắc. Ông đầu tròn trán rộng, trái tai dài tới vai, mắt sâu mũi thẳng, miệng vuông cằm rộng, mắt tươi hồng như đan, hai cánh tay dài hơn người thường. Sau khi ông sinh ra không khóc không ồn ào, cũng không ăn uống, đến 7 ngày bỗng nhiên nói:

“Ta muốn đi đến Tử Phủ và Ngọc Kinh nơi tiên nhân ở để chơi!”.

Sau khi lớn lên ông làm quan trong triều đình, lên tới chức đại tướng quân. Có một lần xuất chinh đánh giặc Thổ Phiên bị thất lợi, ông một mình môt ngựa chạy vào hang núi, không ngờ bị lạc đường. Nửa đêm ông gặp một vi tăng người Hồ tóc rối, mặt dơ dáy, tiên sinh mặc áo bá nạp, dẫn ông đi mấy dặm đường, cuối cùng trông thấy một ngôi trang viên, Hồ tăng nói với ông:

“Đây là nơi Đông Hoa tiên sinh thành đạo, tướng quân có thể ở đây nghỉ ngơi”.

Nói xong vái chào mà đi, Chung Ly Quyền không dám làm kinh động người trong làng, chỉ hồi hộp nhìn ngó lâu mới nghe thấy có người nói:

“Đây chắc chắn là một người Hồ mắt xanh nhiều chuyện”.

Có một ông lão mặc áo da nai trắng, chống cây gậy lê màu xanh, lớn tiếng hỏi ông:

“Người có phải là đại tướng Chung Ly Quyền triều Hán chăng? Sao không ở trong phòng của sơn tăng?”.

Chung Ly Quyền vừa nghe giật mình trong lòng biết đây là dị nhân, lúc đó ông mới rời khỏi hang hùm sói, nhân đây mà có ý xuất thế. Ông liền nói với ông lão xin truyền dạy đạo pháp, ông lão dạy cho ông “Trường Chân Quyết” và nhiều tiên thuật khác cho ông. Chung Ly Quyền cáo từ ra khỏi cửa rồi quay lại nhìn trang viên đó, trong chớp mắt đã mất tiêu không thấy.

Sau này Chung Ly Quyền lại gặp Hoa Dương chân nhân, truyền giao cho ông đạo pháp càng thâm sâu hơn. Tiên nhân Vương Huyền Phủ cũng dạy cho ông bí quyết trường sinh. Từ đó, Chung Ly Quyền vân du bốn phương, dấu chân đi khắp Sơn Đông, Không Đồng, v, v…. Sau cùng ở Tứ Hạo Phong đắc được đạo pháp rất cao, rốt cùng tu thành tiên.

Do Chung Ly Quyền người triều Hán, nên người đời sau gọi ông là “Hán Chung Ly”.

   
TRƯƠNG QUẢ LÃO

Trương Quả Lão tên là Trương Quả, ông là người thời đại triều Đường ẩn cư trong dãy núi Hoàn Châu, ngày thường hay lui tới Phân Phủ, là một đạo sỹ có thuật trường xuân bất lão.Ông thường cưỡi một con lừa trắng, ngày đi hàng vạn dặm, khi nghỉ ngơi thì gấp con lừa lại, mỏng như tờ giấy, đem để trong cái thùng. Khi muốn cưỡi dùng nước phun lập tức biến thành lừa trở lại.

Đường Thái Tông, Đường Thế Tông đều mời ông làm quan, nhưng ông đều từ chối. Võ Tắc Thiên lại tìm ông, ông bèn giả bộ nằm chết trước Nữ Miếu, giữa lúc nắng gay gắt, không bao lâu thì thi thể thối hôi sinh ra giòi. Lúc đó, Võ Tắc Thiên mới tin là ông chết thật.

Sau này, có người trông thấy ông đi chơi trong núi Hoàn Châu. Năm Khai Nguyên thứ 23, Đường Minh Hoàng  phái Bùi Ngộ đến Hoàn Châu đón ông vào cung. Trương bèn ở trước mặt Bùi Ngộ mất thở mà chết.Bùi Ngộ chỉ còn biết đốt hương lễ lạy, đối với ông nói rõ ý thiên tử thành tâm của người hiền, qua một lát Trương Quả Lão từ từ tỉnh dậy, Bùi Ngộ không dám ép ông lên đường, chỉ có tâu với triều đình thỉnh cầu thánh chỉ. Hoàng  đế lúc đó lại phái Trung thư xá nhân Từ Kiếu và Thông sự xá nhân Lư Trọng Huyền, đích thân dâng thánh chỉ có dấu ấn ngọc tới nghinh đón Trương Quả đến Đông Đô. Sau đó, Minh Hoàng  sắp xếp ông ở trong viện Tập hiền, cư lễ trọng hậu. Công hầu danh tước đều tới trước bái ông.

Minh Hoàng  không lúc nào không hỏi ông về chuyện thần tiên. Trương Quả im lặng không đáp. Ông giỏi về dưỡng khí, có thể mấy ngày không ăn cơm mà chỉ uống một chút rượu. Hoàng  thượng ban rượu cho ông, ông chối từ nói:
“Tiểu thần uống không hơn hai thăng, đệ tử của thần có thể uống hết một đấu”.

Minh Hoàng  nghe thấy lấy làm vui mừng, lập tức mời gặp vị đệ tử đó. Không bao lâu thấy một đệ tử nhỏ từ dưới điện bay lên, khoảng chứng 15, 16 tuổi, dung mạo đẹp đẽ, cử chỉ nhàn nhã trong lúc uống ứng đối lời nói trong trẻo, lễ mạo vô cùng. Minh Hoàng  ra lệnh đạo sỹ ngồi, Trương Quả nói:

“Đệ tử nên đứng hầu Hoàng  đế”.

Minh Hoàng  vừa nghe càng thêm mừng, bèn ban rượu cho tiểu đạo sỹ uống, khi uống được một dấu, tiểu đạo sỹ quả nhiên cảm tạ nói:

“Không thể uống được nữa, quá độ ắt có lỗi, chỉ mong Hoàng  thượng cười thì tôi hài lòng  rồi”.

Hoàng đế 3 lần ép chàng ta uống, kết quả làm cho tiểu đạo sỹ say bí tỷ, chỉ thấy rượu từ trên đầu vọt ra, làm cho mão rớt xuống đất, trong phút chốc hóa thành ly vàng, Hoàng  đế và phi tần đều hết sức kinh ngạc. Lại định thần, tiếu đạo sỹ không biết đi đâu, chỉ còn lại cái ly vàng trên mặt đất, mọi người nhìn kỹ, hóa ra là cái ly vàng ở trong viện Tập hiền, dung lượng chỉ được một đấu rượu.

Trương Quả từng nói ông sinh thời nhà Nghiêu, mà sắc diện của ông lại giống như 70 tuổi. Thời đó, Hình Hòa Phát giỏi về xủ quẻ tuổi tác, Minh Hoàng  bèn chỉ thị ông bói mạng của Trương Quả. Hình Hòa Phác cố gắng bói cả ngày cũng tính không ra Trương Quả được bao nhiêu tuổi.

Có một lần Hoàng  đế nói với Cao Lực Sỹ:

“Ta nghe nói uống cẩn tửu mà không cho là khổ đó là kỹ sỹ, có phải việc này chăng?”.

Đang nói thì thời tiết lạnh lẽo, Hoàng  đế bèn ban cẩn tửu cho Trương Quả uống, rượu được ba tuần ông bèn uể oải cáo say nói:

“Rượu này không ngon”, nói xong bèn đi về ngủ, đơi khi tỉnh dậy răng đã nám co rút lại, người bên cạnh thử gõ bèn rớt ra hết, lúc đó đem răng của ông giấu trong túi để làm thuốc. Không bao lâu, trong miệng ông tự nhiên mọc răng mới, sáng trong như ngọc,chiếu lóng lánh.

Hoàng đế ở Hàm Dương bắn được một con nai, mênh lệnh quân sỹ đem nó đi hầm. Trương Quả lại nói:

“Đây là con nai tiên đã được 1000 tuổi, ngày xưa Hán Vũ Đế niên hiệu Nguyên Thủ năm thứ 5, tôi từng hầu trên Lâm Uyển, bắt đươc con nai này. Nhưng Vũ Đế thả nó ra”.

Minh Hoàng  hỏi Trương Quả rằng:

“Nai trong thiên hạ rất nhiều, thời đại lâu xa làm sao có thể trường tồn được?”.

Trương Quả đáp:

“Khi Vũ Đế thả nó ra đã buộc một cái thẻ bằng đồng để nhớ, buộc ở bên góc mặt trái của nó”.

Minh Hoàng  lập tức sai người đi kiểm tra, quả nhiên tìm được tấm thẻ dài 2 phân, chỉ trên mặt đã mòn, Minh Hoàng  nói:

“Nguyên Thủ đến đây đã bao nhiêu năm?”.

Trương Quả nói: “Tất cả 852 năm”.

Minh Hoàng  ra lệnh Thái sử tra lịch, quả nhiên không sai một năm.

Có một hôm Minh Hoàng  hỏi Diệu Pháp Thiện rằng:

“Trương Quả nói cho cùng là người thế nào?”.

Diệu Pháp Thiện nói ông biết nhưng không dám nói, bởi vì nói sẽ chết, trừ khi Hoàng  thượng cởi áo mão đi chân không cứu ông thì ông mới dám nói. Minh Hoàng  nhận lời, Pháp Thiện lúc này mới nói, thì ra Trương Quả là con dơi tinh màu trắng từ thuở hỗn độn sơ khai. Diệu Pháp Thiện nói chưa xong, lập tức 7 khiếu ra máu ngã nằm trên đất. Minh Hoàng  thấy tình trạng như thế kinh ngạc vội cởi giày mão tự nói với ông có tội và cầu xin Trương Quả tha thứ. Trương Quả nói chầm chậm:

“Thằng nhỏ này quá nhiều chuyện, không phạt nó sợ sẽ tiết lộ thiên cơ!”.

Minh Hoàng  lại 3 lần cầu khẩn, hồi lâu Trương Quả mới dùng nước phun lên trên mặt của Pháp Thiện, cứu ông ta sống lại, từ đó Minh Hoàng  đối với ông càng thêm kính lễ, đặc biệt là ông vẽ một bức tượng trong viện Tập hiền và ban hiệu “Thông Huyền tiên sinh”

Trương Quả tính tình đạm bạc, không chịu nổi năm tháng ở trong cung, bao lần xin lui về ẩn núi rừng. Hoàng  đế không giữ ông lại được, chỉ còn cách ban cho ông 300 xấp lụa, hai người tùy tùng, dùng kiệu đưa ông đến Hàn Châu. Sau đó, một người đệ tử trở về, một người kia đi theo ông vào núi.

Đầu năm Thiên Bảo, Minh Hoàng  lại triệu Quả Lão vào cung. Trương Lão vừa nghe tin liền chết. Khi đệ tử mai táng ông mới phát hiện quan tài trống không. Minh Hoàng  biết sự việc này bèn xây Tây Hà Quan để thờ ông.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:30:45 am
(tiếp theo)

LỮ ĐỘNG TÂN

Lữ Động Tân vốn tên là Nham, người triều Đường, xứ Bạc Châu Vĩnh Lạc. Ông nội là Lữ Vi đã nhậm chức Lễ bộ thi lang, cha là Lữ Nhượng cũng đã từng làm Thích Sứ Hải Châu.

Niên hiệu Trịnh Nguyên thứ 13, ngày 14 tháng 4 giờ tỵ, Lữ Động Tân sinh ra, do đó hiệu là Thuần Dương Tử.

Mẹ ông trước lúc sinh ông, mỗi đêm ngủ từng nghe hương thơm tỏa khắp nhà, nhạc trời văng vẳng trên hư không, một con hạc trắng từ trên trời bay xuống vào trong trướng rồi không thấy nữa.

Lữ Động Tân sinh ra, tướng mạo tiên phong đạo cốt, đầu hạc lưng voi, mắt rồng mình cọp, mắt phụng buổi sáng, hai chân mày  nối vào nhau.  Cổ của ông so với râu thì dài, hai má cao, thiên đình tròn đầy, mũi cao thẳng, góc chân mày bên trái có một nốt ruồi, dưới chân có nếp nhăn như lưng rùa. Từ nhỏ đã thông minh hơn người, mỗi ngày có thể đọc thuộc vạn lời, xuất khẩu thành chương, thân cao 8 thước 2, thích đội trên đầu khăn hoa dương, mặc áo dài vàng, có buộc một sợi đai vàng, dáng vẻ rất giống Trương Lương đời Hán.

Ông hai mươi tuổi vẫn chưa lấy vợ, khi còn nằm trên tã, Mã Tổ đã trông thấy ông nói rằng ông cốt tướng phi phàm, chắc chắn là bậc cao nhân ở thế gian, lại nói với ông rằng:

“Trương gặp Lô thì ở, gặp chuông thì gõ chớ nên quên”.

Sau này Lã Động Tân đi chơi trên Lô Sơn gặp Hỏa Long chân nhân, truyền cho ông Thiên tuần kiếm pháp. Khoảng năm Văn xương triều Đường, ông hai lần thi tiến sỹ đều rớt. Khi 60 tuổi, ông đang ở trong quán rượu tại Trường An, trông thấy một đạo sỹ mặc áo bào trắng quấn khăn xanh, và còn đề 3 bài thơ trên tường. Lữ Động Tân giật mình thấy ông tướng mạo cổ quái, ý thơ phóng khoáng, do đó bái chào xin hỏi họ tên. Đạo sỹ nói:

“Sao người không đề một bài thơ bày tỏ chí hướng của người đi!”.

Lữ Động Tân cầm bút lên đề một bài thơ thất ngôn tuyệt cú. Ý nghĩa nói là ông không muốn ở trên thế gian tranh danh đoạt lợi, chỉ mong tu đắc đạo thành tiên. Đạo sỹ vừa xem xong rất vui vẻ và nói:

“Ta là Vân Phòng tiên sinh ở Chung Nam Sơn Hạc Linh, người muốn theo ta chăng?”.

Lữ Động Tân nhất thời không quyết định được, Vân Phòng bên ông cùng nghỉ ngơi trên lầu quán trà. Vân Phong đích thân làm cơm, Lữ Động Tân bỗng nhiên ngã xuống giường ngủ luôn. Ông mộng thấy lên kinh đô thi, đỗ Trạng Nguyên, từ quan Lang thăng lên đến chức Hàn Phạm bí các, trải qua nhậm các hạng các chức, lấy vợ giàu sang ngàn vàng, sinh con cũng đều trai lấy vợ gái gả chồng, con cháu quây quần, cả nhà vinh hiển. Trải quan như vậy 40 năm, đã làm Tể Tướng được 10 năm, quyền thế cực thịnh một thời, bỗng nhiên có việc hỏi tội, gia đình gặp thảm hại nghiêm trọng, vợ con phân tán, giáng chức bị đày xuống Lĩnh Nam, đơn độc một thân, nghèo khổ tiều tụy. Ông đang dừng ngựa trong gió tuyết, than thở và cảm động, bỗng nhiên tỉnh dậy, lúc đó Vân Phòng tiên sinh nấu cơm vẫn chưa chín.

Vân Phòng hướng về ông cười nói:

“Cơm vẫn chưa chín, ngươi nằm mộng đã đến Hoa Tế Quốc”.

Lữ Động Tân kinh ngạc nói:

“Tiên sinh biết mộng của tôi ư?”.

Vân Phòng cười nói:

“Người vừa mới mộng, thăng Thẩm  vạn lần, vinh nhục ngàn mối, khoảng 50 năm chẳng qua vừa nháy mắt mà thôi, không giá trị vui mừng, càng sao đủ để cảm thương! Ở thế gian có người đại giác ngộ, sau này mới có thể thấy đại mộng của người đời”.

Lữ Động Tân nhân đó mà cảm ngộ, liền bái Vân Phòng làm thầy, hướng về ông học đạo.Vân Phòng cố ý thử ông nói:

“Cốt tiết của ngươi vẫn chưa có tốt, muốn cầu xuất thế, vẫn phải mấy đời nữa mới có thể”.

Nói xong rồi bỏ đi. Lữ Động Tân từ đó bỏ hết nho quan đi ẩn cư. Vân Phòng nhân cơ hội này đối với ông thử 10 lần:
-Thử lần thứ nhất:

Lữ Động Tân từ xa trở về nhà đều thấy người nhà bị bệnh chết hết, nhưng trong lòng ông không một chút hối tiếc, chỉ lo mua quan tài, chuẩn bị làm tang, trong phút chốc mấy người chết đều sống lại.

-Thử lần thứ hai:
Lữ Động Tân đang bán hàng trong thành, có người khách hàng chỉ đưa ông một nửa số tiền, Lữ Động Tân không tranh cãi với họ, người khách hàng đó để đồ lại chỗ cũ rồi đi.

-Thử lần thứ 3:
Lữ Động Tân tết Nguyên Đán ra khỏi cửa, bỗng gặp người ăn xin dựa cửa xin tiền, Lữ Động Tân cho anh ta rất nhiều tiền, người ăn xin đó xin hoài không chán và còn nói lời hung dữ nữa, Lữ Động Tân cười không mảy may gây gổ.

-Thử lần thứ 4:
Lữ Động Tân chăn dê trên núi, gặp con cọp đuổi bầy dê. Lữ Động Tân vì bảo vệ con dê, dùng thân mình làm bình phong, con cọp quay đầu chạy mất.

-Thử lần thứ 5:
Lữ Động Tân ở trong núi, đang ở trong nhà tranh đọc sách, có một người con gái 17, 18 tuổi, tự nhiên nói lạc đường xin ngủ nhờ, lại còn giễu cợt đủ điều, nửa đêm còn ép ông ngủ chung. Động Tân không lấy làm động lòng, như vây liên tiếp 3 ngày, người con gái ấy thấy khó quá rồi lui.

-Thử lần thứ 6:
Lữ Động Tân một hôm đi ra ngoài thành, sau khi về nhà mới phát hiện mất hết đồ đạc, ngay cả cuộc sống hàng ngày đều phải lo lắng. Động Tân không giận, tự mình đi cày ruộng, bỗng nhiên cày được 10 tấm thẻ vàng, ông bèn dùng đất lấp lại, không lấy chút nào.

-Thử lần thứ 7:
Lữ Động Tân gặp chủ quán đồng mua một bộ, sau khi về nhà, phát hiện ra bằng vàng, ông lập tức tìm chủ trả lại cho họ.

-Thử lần thứ 8:
Có một đạo sỹ điên ở trong thành phố bán thuốc, tự nói uống xong liền chết, lại ở đời thì sẽ đắc đạo, 10 ngày trời không bán được gì cả. Động Tân mua thuốc của ông ta. Đạo sỹ kêu ông về nhanh sắp xếp mọi việc sau này. Nhưng ông uống vào sau đó không có việc gì cả.

-Thử lần thứ 9:
Lúc mùa xuân nước dâng lên, Lữ Động Tân cùng mội người lội nước mà qua, thuyền đi được nửa sông thì sóng lớn nổi dậy, mọi người đều thất sắc, chỉ riêng Động Tân ngồi ngay ngắn bất động.

-Thử lần thứ 10:
Lữ Động Tân ngồi một mình trong phòng, bỗng nhiên trông thấy quỷ mị nhiều hình dáng kỳ quái, nhe nanh, vươn móng vuốt muốn giết hại ông. Động Tân không mảy may sợ hãi. Lại thấy Dạ Xoa mấy mươi con bắt một từ tù máu thịt nhễ nhại, khóc nói:

“Người đời trước giết ta, hôm nay hãy trả mạng cho ta”.

Lữ Động Tân nói: “Giết người thường mạng, lý đương như thế”. Nói xong, giơ đao tự tận, bỗng nhiên trong không trung có tiếng thét, quỷ thần đều không thấy. Có một người vỗ tay cười lớn chạy lại, thì ra là Vân Phòng tiên sinh. Ông nói với Động Tân:

“Ta thử ngươi liên tục 10 lần, do đó xem ra ngươi có thể chắc chắn đắc đạo, mà công đức của ngươi vẫn chưa đủ, còn phải lập 3000 công, 800 đức mới có thể viên mãn,  đên lúc đó ta sẽ đón ngươi xuất thế”.

Nói xong,liền dạy Động Tân thuật điểm đá thành vàng, để ông dùng pháp thuật này cứu giúp người đời, cho công đức mau được điền đây. Lữ Động Tân nghĩ một lát, bèn hỏi ông rằng:

“Do thuật điểm đá thành vàng, có thể khôi phục bản chất của đá không?”.

Vân Phòng đáp rằng:

“Sẽ khôi phục lại, bất quá chỉ là việc của 3000 năm sau”.

Lữ Động Tân không cầm được lo lắng nói:

“Đây há chẳng hại cho người 3000 năm sau chăng? Tôi không muốn dùng phương pháp này để tròn đầy công đức”.

Vân Phòng tiên sinh cười nói:

“Chỉ vào một điểm nhân tâm của ngươi, 3800 công đức đều đầy đủ trong đấy!”.

Lúc đó ông dẫn Động Tân về Hạc Lĩnh, đem các đạo thuật truyền dạy cho ông. Lữ Động Tân chuyên lòng khổ tu hơn 10 năm, một hôm từ trên trời đến hai vị tiên nhân, họ bưng bùa vàng nói với Vân Phòng tiên sinh rằng:

“Thượng đế mời ngài làm Cửu Thiên Kim Tiên, tức khắc lên nhậm chức”.

Văn Phòng tiên sinh liền nói với Động Tân:

“Ta đi bái yết với Thượng đế, người ở lại nhân gian tu công lập đức, ngày khác cũng sẽ được Thượng đế mời lên trời thành tiên giống như ta vậy”.

Lữ Động Tân đối với Vân Phòng tiên sinh cung kính bái chào, sau đó nói:

“Chí hướng của tôi và tiên sinh không giống, ắt cần phải độ hết chúng sinh. Sau đó mới yên lòng lên trời”.
Lúc đó Vân Phòng tiên sinh cưỡi mây từ từ bay lên, ông đứng trên đám mây lành hướng về phía Động Tân, gật đầu lia lịa khen ngợi.

Động Tân học được đạo thuật của Vân Phòng, cho đến kiếm pháp của Hỏa Long chân nhân, ông bắt đâu đi chơi ở Giang Đoài, trừ yêu biến hóa hơn 400 năm, dấu vết thường ẩn hiện ở khoảng Lưỡng Hổ, Lưỡng Triết, nhưng đầu đuôi chưa ai biết ông là người nào, ông tự xưng hai chữ “Đạo Nhân”.

Huy Tông niên hiệu Chánh Hòa năm thứ 2, trong cung có quỷ quái hiện hình ban ngày trộm lấy vàng bạc và cung tần. Huy Tông cung kính kỳ đảo 60 ngày, có một hôm ngủ trưa mộng thấy ngoài của Đông Hoa có vị Đạo sỹ, đầu đội mão Bích liên, mình mặc áo Tử hạc, tay cầm thủy tinh như ý bái chào Hoàng  đế, nói:

“Ta phụng mệnh Thượng Đế tới bắt yêu quái!”.

Đạo sỹ đưa tay mời một vị Kim Giáp Trượng Phu, trong chốc lát bắt được con yêu quái và nuốt vàomiệng. Hoàng  đế hỏi vị trượng phu đó là người gì, đạo sỹ nói:

“Ông ta là Sùng Kinh Chân Quân Quan Vũ mà bệ hạ đã phong hiệu đó”.

Hoàng đế rất vui mừng, lại hỏi hiện nay Trương Phi ở đâu, Quan Vũ nói:

“Trương Phi nay đã giáng sinh, có lẽ ở Trương Châu Nhạc Gia rồi”.

Hoàng đế hỏi đạo sỹ tên họ, ông chỉ nói mình họ Lữ, sinh ngày 14 tháng 4.Hoàng đế mộng tỉnh dậy sau đó ghi lại mới biết ông là Lữ Động Tân. Từ đó trong cung bình yên vô sự. Huy Tông vì cảm kích, hạ lệnh toàn quốc đốt hương nơi thờ Lữ Động Tân, đều đồng gọi là “Diệu Thông chân nhân”.

Lữ Động Tân thần thông quảng đại, ẩn trong nhân gian, thường thường hiển linh, đã làm nhiều việc có công đức khắp nơi, do đó nhân gian đối với truyền thuyết của ông khác biệt rất nhiều.

Sau này, cha của Nhạc Phi quả nhiên mộng thấy Trương Phi tới  gá sinh, do đó bèn lấy chữ “Phi” làm danh ông.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 08, 2011, 08:35:09 am
(tiếp theo)

LAM THÁI HÒA

Lam Thái Hòa, lý lịch ông không rõ ràng. Truyền thuyết rằng ông thường mặc y phục rách rưới, eo buộc đai cây đen dài 3 tấc, một chân mang giầy, một chân để trần, mùa hạ trong quần áo nhét đầy bông sợi, mùa đông thì nằm trên tuyết, hơi thở như sương mù, mồ hôi nhễ nhại.

Ông thường ở trong thành cầm cái phách lớn dài 3 tấc say ngất ngưỡng ca hát, người già trẻ con đều bị tiếng ca của ông mê hút. Ông giống như khùng mà không phải khùng, lời ca mang dệt thành đầy đủ ý tiên. Người phàm đối với ông không đo lường được cao sâu. Khi có tiền bèn dùng dây xâu lại, kéo dài trên đường mà đi, tiền bị rớt mất cũng không để ý. Có lúc ông đem tiền cứu giúp người nghèo khổ, không để lại một đồng trên mình, lại có thể vân du khắp bốn phương lang thang tiêu dao. Có người lúc còn nhỏ gặp ông, đến lúc già lại gặp ông, thấy ông vẫn như gương mặt trẻ thơ, không một chút thay đổi.

Có một lần ông uống rượu trên tửu lầu Hào Lương, bỗng nhiên nghe thấy tiếng tiêu, sánh từ trên trời vang lại, ông lập tức nhảy lên hư không, cưỡi con hạc bay vòng tròn đi luôn. Ông từ trên không trung quăng xuống áo giầy, đai và cái phách, đảo một vòng tròn rồi bay đi xa, mấy thứ đồ vật quần áo không bao lâu cũng không thấy nữa.
   
   
HÀ TIÊN CÔ


Hà Tiên Cô là người Quảng Châu, huyện Tăng Thành, bà sinh ra trên đỉnh đầu có 6 sợi lông vàng xán lạn. Thời Đường Võ Tắc Thiên, ở suối Vân Mẫu, lúc 14, 15 tuổi, bà mộng thấy thần nhân dạy bà ăn bột vân mẫu, cơ thể thân thể nhẹ nhàng không chết. Do giấc mộng rất rõ ràng, bà y theo lời ăn, từ đó lập thệ không lấy chồng, thường tới Sơn Cốc đi bộ như bay. Sáng sớm ra đi đến tối trở về nhà phụng dưỡng mẫu thân.

Sau này, bà dần dần tuyệt thực, không nấu nướng ăn uống, lời nói thường cao sâu khó lường. Võ Tắc Thiên phái người mời bà vào cung, đi được nửa đường không thấy bà đâu nữa.

Đương Trung Tông khoảng niên hiệu Cảnh Long, có người trông thấy bà ban ngày bay lên trời. Năm Thiên Bảo thứ 9, bà lại xuất hiện trên Ma Cô đàn, có mấy ngũ sắc quấn bên mình. Khoảng niên hiệu Đại Lịch bà lại hiện thân ở Quảng Châu Tiểu Thạc Lầu, Thích Sử Cao Thúy từng thương tấu trình bày tường thuật về sự tích của bà. Bà là một tiên nữ trong Bát Tiên.
   
   
HÀN TƯƠNG TỬ

Hàn Tương Tử tự là Thanh Phu, là cháu của đại văn hào  Hàn Dũ. Khi ông còn trẻ phóng đãng không ràng buộc, có một lần gặp được Thuần Dương tiên sinh, bèn cùng ông ngao du học đạo.

Hàn Dũ thấy ông cả ngày không lo việc chánh đáng, bèn khuyến khích ông nên cố gắng tu học, không ngờ Hàn Tương Tử cuối cùng lại trả lời nói chí hướng của ông và Hàn Dũ không giống nhau, Hàn Dũ nghe rồi không vui, kêu ông làm bài thơ để nối rõ ý chí của mình.

Hàn Tương Tử vừa cầm bút vừa vung bút là xong một bài thơ, trong thơ toàn là lời nói việc học tiên. Hàn Dũ xem xong hỏi ông, người có thể biến hóa được không? Hàn Tương Tử lập tức vì ông biến ra rượu ngon và từ trong bình rượu lấy ra một cánh hoa mẫu đơn màu xanh, trên cánh hoa còn có một câu liễn đối “Vân hoành Tần  lĩnh gia hà Tuyết củng Lam Quan mã bất tiền”. Hàn Dũ đọc xong hoàn toàn không hiểu được, Hàn Tương Tử nói ngày sau ông sẽ hiểu rõ.

Chưa được bao lâu, Hàn Dũ vì dâng sớ phản đối nghinh đón xá lợi Phật vào cung làm Hoàng  đế nổi giận, cuối cùng bị giáng chức đi đày triều châu xa xôi. Trên đường đi gặp phải tuyết lớn đang lo lắng thì bỗng trông thấy một người đội tuyết chạy lại, đên gần mới thấy rõ là Hàn Tương Tử. Hần Tương Tử nói với ông:

“Ngài còn nhớ câu đối trên cánh hoa mẫu đơn kia không?”.

Hàn Dũ như có chỗ tỉnh ngộ, bèn hỏi đây là nơi nào, Hàn Tương Tử nói với ông ta đây là Lam Quan, lời đoán mấy năm trước thật là linh nghiệm. Vì thế mà Hàn Dũ rất cảm khái, ông còn đặc biệt dùng hai câu đối làm một bài thơ thất ngôn.

Hai chú cháu ở trong dịch quán nói chuyện cả đêm. Hàn Tương Tử an ủi chú nói không bao lâu thì sẽ về kinh, không những được khỏe mạnh mà còn được thăng quan. Hàn Dũ hỏi ông có còn cơ hội gặp nhau không, Hàn Tương Tử đau buồn nói cũng không biết được.

Tiên phàm khác đường, Hàn Tương Tử đã ra khỏi hồng trần! Gia nhập Lữ Động Tân, Lam Thái Hòa, hành vi của họ bất hủ, trừ phi Hàn Dũ thành tiên,nếu không thì làm sao có thể gặp lại được ông?


   
TÀO QUỐC CỰU


Tào Quốc Cựu là em trai của Tào Thái Hậu triều Tống. Bởi vì ông có người em ỷ mình thường cậy thế giết người, làm xằng làm bậy, ông rất đau lòng bèn vào núi ẩn cư, chuyên tâm tu đạo. Sau này, ông gặp Chung Ly Quyền và Lữ Động Tân hỏi ông rằng:

“Nghe nói ông đang tu đạo, đạo của ông ở chỗ nào?”.

Tào Quốc Cựu đưa tay chỉ trời. Lữ Động Tân lại hỏi:
“Trời ở đâu?”.

Tào Quốc Cựu liền chỉ tâm mình, Chung Ly Quyền cười nói:
“Tâm là trời, trời là đạo. Ông đã nhận ra bản lai diện mục rồi!”.

Lúc đó 3 người nhìn nhau cười, nắm tay nhau vân du bốn biển, cũng do nhân duyên này.

Bát Tiên trở thành chuyện thần tiên rất nổi tiếng ở dân gian Trung Quốc, chuyện của họ lưu truyền ở đời rất nhiều, nhất là “Bát Tiên quá hải”.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 10, 2011, 04:11:46 am
(tiếp theo)

NGŨ NHẠC ĐẠI ĐẾ

Ngũ Nhạc là năm ngọn núi nổi tiếng, đó là: Đông Nhạc Thái Sơn, Nam Nhạc Hoành Sơn, Tây Nhạc Hoa Sơn, Trung Nhạc Tung Sơn, Bắc Nhạc Hành  Sơn, mà Ngũ Nhạc Đại Đế quản lý năm ngọn núi này, ở đời cổ đại trên từ thiên tử dưới đến dân chúng họ đều rất sùng tín.

Đông Nhạc Đại Đế gọi là “Đông Nhạc Thái Sơn Thiên Tai Nhân Thánh Đại Đế” gọi tắt là “Thiên Trai Vương”, hay là “Đông Nhạc Thái Sơn Thần”, “Thái Sơn Phủ Quân”. Nghe người ta nói ở thời cổ đại, đã có phong tục lên núi Thái thờ cúng trời đất. Ví dụ trong “Thần Dị điển” ghi các vị như Thái Hạo Phục Nghĩa, Diêm Đế Thần Nông, Hoàng  Đế Hữu Hùng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vv… đây là việc Thánh vương phong Thái Sơn, phong thần trở thành việc lớn của Quốc Gia.

Hán, Đường trở về sau, đối với cúng tế Đông Nhạc Đại Đế cũng không gián đoạn, dần dần trở thành một thứ tín ngưỡng dân gian. Ở trong truyền thuyết, phàm người chết rồi, hồn phách bèn trở về Thái Sơn. Trong Thi cố “Oán Thi Hành” nói:

“Nhân gian lạc vi ương, hốt nhiên quy Đông Nhạc” là chỉ về sựu việc này. Do đó, nhân gian tin tưởng, Đông Nhạc Đại Đế triệu hồn phách người ta, giữ thọ mạng con người, chủ thể sanh tử báo ứng, thưởng phạt lành dữ, cũng như phán quan của âm phủ. Do đó, một só người đối với Đông Nhạc đều giữ lòng kính sợ.

Đông Nhạc Đại Đế sinh ngày 1 tháng 10.

Nam Nhạc Đại Đế còn gọi là “Nam Nhạc Hoành  Sơn Tư Thiên Thỉ Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên là Sùng Khắc Hổ, sinh ngày 16 tháng 12, cũng đã có trước Đào Đường Thị, Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều từng cúng tế, các đời vua chúa không vị nào không tôn sùng và cúng tế, trải qua các đời vương đều có tế điển. Quản lý về tình trạng ranh giới cúa thế giới kiêm thủy tộc rồng cá.

Tây Nhạc Đại Đế còn gọi là “Tây Nhạc Hoa Sơn Kim Thiên Thuận Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên Trương Hùng, sinh ngày 06 tháng 11. Căn cứ sách ghi chép, Huỳnh Đế từng phong là Hoa Sơn, Nghiêu Thuấn cũng từng hiến tế, các vị vua chúa không vị nào không tôn sùng và cúng bái. Tên của Đại Đế còn có mấy thừ gọi là bất đồng, có chỗ nói ông họ Hạo tên Thọ, hoặc nói ông tên Thiên Lũy, chưa biết cái nào đúng.

Bắc Nhạc Đại Đế còn gọi là “Bắc Nhạc Hoàn Sơn An Thiên Huyền Thánh Đại Đế”. Đại Đế tên Thôi Anh, sinh ngày 10 tháng 8. Từ Đào Đường, Đé Nghiêu Thuấn, vv… Trải qua các đời vua chúa đều có thờ cúng. Tên của Bắc Nhạc Đại Đế cũng có mấy thứ gọi khác nhau, như “Trùng Hôi Đình, Thần, Phục Thông Manh”.   

Cuối cùng, ai đúng cũng không có cách khảo tra.

Trung Nhạc Đại Đế còn gọi là “Trung Nhạc Tung Sơn Thiên Sùng Thánh Đại Đế”. Đại Đế sinh ngày 18 tháng 3. Từ Huỳnh Đế bắt đầu có phong trải qua các đời vua chúa sau này đều thờ cúng. Tên của Đại Đế cũng có mấy thứ truyền thuyết như: Thọ Dật Quần, Huy Thỉ, Giác Phổ Sinh, vv…

Đối với tư liệu của Ngũ Nhạc Đại Đế có thể tham khảo các sách: Thần Dị Điển, Văn Hiển, Thông Khảo, Thông Điển,Nhật Tri Lục, Long Ngư Hà Đồ, Thị Tộc Bác Khảo, Ngũ Nhạc chân hình đồ, Chân Linh vị nghiệp đồ, vv…
   
   
VĂN XƯƠNG ĐẾ QUÂN

Văn Xương Đế Quân còn gọi là “Tử Đồng Đế Quân”, gọi tất là “Tử Đồng Quân”, “Văn Xương Quân”.

Văn Xương Đế Quân bình thường có nhiều cách nói bất đồng. Căn cứ vào cách nói “Cai Dư Tùng Khảo” là: Văn Xương Quân vốn là con trai Huỳnh Đế, tên Huy, giỏi về tạo ra dây trướng lưới, do đó lấy họ Trương, là con trai của Sơn Âm Trương Thị thời nhà Châu, công tinh thông y thuật, từng phò tá Châu Công. Sau khi chết tái sinh vào nhà Trương Vô Kỵ là Di Phục Tử, trong Kinh Thi gọi “Trương Trọng Hiếu Hữu” là nói chỉ về ông.

Ông vì dâng sớ can gián  bị U Vương hại chết, hồn vân du ở Tuyết Sơn, ông có công với Thục. Không bao lâu ông thác sanh làm con trai Hán Cao Tổ là Triệu Vương như ý, sau này bị Lã Hậu giết chết hồn hóa thành một con rắn . Thời đó Lã Hậu cũng đã chuyển kiếp làm Cung Trì Linh, ông vì báo cừu mượn nước biển làm mưa, làm cho huyện Công Trì chìm ngập, do đó sát sanh quá nhiều, bị phạt làm rồng Cung Trì, toàn thân đều tiểu trùng nhiệt sa, ngày đêm bị cắn đau đớn vô cùng. Sau này gặp Bồ Tát Vân Thù quy y mới được giải thoát.

Sau này ở nước Triệu thác sanh làm Trương Huân, thời Hán Thiệu Đế làm Hiếu Trọng, thời Tây Phổ làm Việt Tuyển. Trương Thị, 73 tuổi ở trong hang đá ngộ đạo, lúc đó đã hoán thân đổi xác đến Hàm Dương, gặp Đào Trương, theo Đào Trương đến Tứ Xuyên, thiên thân đối với Đào Trương nói: “Tần không có chủ, người nên trở về đi” . Đào Trương sau này vì ông lập đền thờ ở Tứ Xuyên, cũng gọi là miếu Trương Tướng Công.

Trên đời do vi ông nhiều kiếp làm nho sinh, lưu tâm đến kinh điển, đặc biệt là mệnh ông quản lý hộ tịch của thiên tào, phàm học sinh trong thiên hạ công danh thi cử làm quan đều do ông trong coi cả.

Còn có một cách nói ông sinh ở nước Tấn, họ Trương tên Á Tử, vốn là người Việt sau này đến nước Thục ở huyện Tử Đồng. Vì ông là người thanh tú đẹp đẽ, văn chương bóng bẩy trở thành một bậc tôn sư ở Tứ Xuyên. Ông nhận thấy đời người vô thường, thích tới lui với tăng sĩ, học trò của ông sau khi ông chết rồi họ lập đền thờ đề là “Văn Xương Quân”.

Khi Đường Huyền Tông đến Tứ Xuyên lánh nạn, ông đã từng hiển linh  hộ giá, sau khi bình yên, chiếu phong Tấn Vương, người đời sau gọi thêm Đế, ông đặc biệt được học sĩ văn nho trong thiên hạ sùng phụng.



(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 10, 2011, 04:17:50 am
(tiếp theo)

QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN

Quan Thánh Đế Quân, một số người tôn xưng là Quan Công. Ông vốn là họ Quan, tên Vũ, tự là Vân Trường, là người thôn Bình Thường, huyện Hà Đông Giải, sinh ngày 13 tháng 5 thời Đông Hán Hoàng  đế niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ hai.

Ông từ nhỏ vâng theo theo gia học, rất thích đọc dịch truyện và Xuân thu, do đó bồi dưỡng ra một luồng khí trung nghĩa. Ông tướng mạo to lớn, uy vũ bức người, khiến người ta trông thấy tự nhiên kính phục.

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” mô tả ông “thân cao 9 thước, râu dài 2 thước, mặt như trái táo chín đỏ, môi giống như bôi son, mắt phụng, mày tằm, tướng mạo đường đường, uy phong lẫm liệt”.

Linh Đế Kiến Ninh năm thứ 2, ông trốn đi đến huyện Trác cùng Lưu Bị,Trương Phi ba người kết nghĩa tại vườn đào, bái làm huynh đệ khác họ, đây là câu chuyện “Đào viên tam kết nghĩa” rất nối tiếng. Ba người họ hy vọng đồng tâm hiệp sức, cứu khốn, phò nguy, trên báo đền quốc gia , dưới an cư trăm họ. Do đây, họ làm điều gì đều là đại nghĩa lẫm liệt, khiến người kính phục. Quan Công hỗ trợ Lưu Bị xây dựng nước Thục, và Ngụy, Ngô hình thành thế đứng chân vạc, nhân đây sử gọi là “Thời đại Tam quốc”.

Quan Công từng bị Tào Tháo uy hiếp dụ dỗ, nhưng ông giải quyết cứng rắn, tuyệt không khuất phục, dũng mãnh của ông càng lừng danh gần xa, ví như qua 5 cửa ải chém 6 tướng, một mình một đao đi họp, thủy yêm thất quân, trí thủ Hoàng  trung, nạo xương trị độc, vv… đều là chuyện khoái miệng người đời. Ông phò ta Lưu Bị, tiêu diệt Hoàng  Cân, phá Tào Tháo, an định Tây Thục, đốc chiến Kinh Châu đại nhân, đại dũng, đại trí làm vinh quang một thời. Bởi họ ở vườn đào kết nghĩa tuyên thệ “Bất cầu đồng niên đồng nguyệt sanh, đản nguyện đồng niên đồng nguyệt tử - Không cầu cùng ngày cùng tháng năm sinh ra, nhưng nguyện chết cùng ngày tháng năm”. Phần tinh thành này đã ảnh hưởng người đời sau, tạo thành một phong khí (tập tục) kết nghĩa lễ bái, hình thành một thế lực rất lớn trong xã hội.

Sau này, Quan Công bị người gian hại, chạy lại Lăng Thành ngày 17 tháng 2, Hiến Đế Kiến An năm thứ 24, ông chết ở Hồ Bắc.

Miếu của Quan Công thường gọi là miếu Vũ, dùng để đối xướng với miếu Văn của Khổng Tử. Truyền thống này được bắt đầu từ triều đại nhà Đường, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh,Thanh vẫn không suy yếu.

Quan Công không những được người đời xem là anh hùng và thần minh, người buôn bán coi ông như thần bảo hộ, hay thần tài. Do đó, trong nhiều phố, tiệm thương gia đều có thờ cúng vị thần Quan Công.

Trải qua các triều đại vua chúa, đối với Quan Công đều có sắc phong, khen ngợi ông có công giữ nước giúp dân. Thục Hậu Chúa Kiến hưng năm thứ 7 truy thụy là Trang Mậu Hồng, nhà Tùy truy phong Trung Huệ Công, Đường phong ông Lam Thần, đời Tống phong ông làm Trung Huệ Vương, Vũ An Vương; đời Nguyên phong Vũ An Anh Tề Vương, Phụ chánh lợi tế chiêu Trung Hầu, triều Minh phong là Tam giới phục ma Đại đế, Thần Uy Viễn chấn Thiên Tôn, Quan Thánh Đế Quân, Chân nguyên hiển ứng Chiêu Minh Vũ Hán thiên tôn; triều Thanh phong Trung Nghĩa thần Vũ quan thánh đại đế; Ung Chánh phong ông Công Tước, vua Càn Long phong ông Sơn Tây phu tử; Gia Khánh phong ông Linh Hựu, Đạo Quang phong ông Trung Nghĩa thần Vũ linh hựu nhân uy hiển Quan Thánh đại đế. Từ xưa phong hiệu rất nhiều, sợ e không hơn đối với Quan Thánh Đế Quân. Triều Đường trở về sau, trải qua các đời vua chúa đều thờ ông làm Điền phạm của nhà Võ, đến ngày kỵ Vũ miếu, đều sắc lệnh toàn quốc phủ huyện cúng mừng tuổi nhang khói nghi ngút.
   
   
LAI LỊCH QUAN CÔNG


Tương truyền ở vùng Giải Lương, Hà Đông (nay là Gải Châu tỉnh Sơn Tây) có một thôn trang tên là Bạch Gia Trang. Thôn trang này không lớn lắm nhưng vô cùng tú lệ, ba mặt núi vây quanh, một mặt kề với nước. Bến nước đó gọi là “Bach Sa Hà”, cát trong sông trắng như ngọc trân châu, hễ tới mùa đông, nước sông rút xuống, lộ ra thành từng lớp cát trắng chất chồng, mặt trời chiếu dọi, trong suốt như pha lê.

Núi đó tên là Linh Tiên, trên đỉnh Linh Tiên cây cối mọc cao tới trời. Trong núi có một ngôi chùa, trong chùa có một hòa thượng già tên gọi là Tri Chân, trên 120 tuổi, là người rất có đạo hạnh, thấu hiểu được mọi điều, biết cả quá khứ và tương lai, quả thật Trí Chân chẳng khác gì Thần Nhân.

Lại nói có một năm, đúng vào dịp cuối thu, dân chúng đang bận rộn gặt hái, nước trong dòng Bạch Sa khô hạn, cát lộ ra như một dải lụa trắng. Ngày lúc đó, đúng lúc Thái Bạch Kim Tinh trên Thượng Giới từ Nam Hải trở về cung, cưỡi mây qua thôn Bạch Sa, bỗng dưng ngó nhìn xuống dưới. Người già hoa mắt nhìn cát trắng trên sông lại cho là “gạo trắng”, Thái Bạch Kim Tinh bực tức nghiến răng.

 Sau khi trở về cung, bèn dâng lên Ngọc Hoàng  Đại Đế một bản tấu:
“Muôn tâu Ngọc Hoàng, dân cư dưới hạ giới hết thảy an cư lạc nghiệp. Duy chỉ có một lũ diêu dân ở Giải Lương, chẳng tiếc ngũ cốc, đem những hạt gạo trắng ngần đổ xuống lòng sông. Hành vi tội ác như vậy, thượng giới đâu có thể ngồi nhìn. Xin bệ hạ giáng tôi!”.

Ngọc Hoàng  Đại Đé nghe nói giận dữ vô cùng, lập tức hạ chỉ: “Bắt địa phương Giải Lương chịu hạn hán 3 năm, không được trái lệnh”.

Và như vậy đã thực sự làm khổ dân chúng ở Gải Lương. Gần một trăm gia đình ở Bạch Sa Trang hoàn toàn dựa vào sự cần cù trồng cấy vất vả để sống qua ngày. Đừng nói tới 3 năm không mưa, cho dù chỉ đại hạn trong 1 năm cũng đã nguy khốn. Dòng sông Bạch Sa lại là dòng sông theo mùa, do nước trong núi chảy qua hội họp mà thành, hễ tới cuối năm là dòng lại cạn khô. Làm sao có thể chịu đựng được 3 năm đại hạn?

Đại hạn năm đầu tiên, nước sông khô cạn, cát trắng bốc hơi nóng, may mà mọi nhà còn có chút ít tích lũy. Năm thứ 2 bị đại hạn, cát trắng bị nắng phơi bốc lửa hoa, cây cỏ cháy vàng, bệnh tật hoành hành, chó gà chết sạch. Sang năm thứ 3, mặt trời đổ lửa, đất cát nứt vỡ, cây cỏ tự cháy. Nơi nơi là bãi đất vàng, trong thôn làng mười người chết chín. Những người sống sót đều tới chùa Bạch Sa suốt ngày cầu thần cho mưa, diệt tai khỏi bệnh. Thế nhưng, vị hòa thượng già Trí Chân chỉ nhắm mắt dưỡng thần, chẳng hề mở miệng nói câu gì, thật đúng là “Sinh linh lầm than, thần phật chẳng xót”.

Bỗng một hôm, hòa thượng Trí Chân bỗng nhiên mở con mắt và nói với mọi người rằng:
“Cứu được rồi! Bạch Sa Trang có một vị thần trung nghĩa, đã lên thượng giới cầu mưa rồi. Ba ngày sau tất có trận mưa tràn trề mặt đất”.

Dân chúng đang thoi thóp thở, nghe được lời nói này, lập tức tinh thần tỉnh táo. Thế nhưng, bước ra cửa nhìn xuống dưới vẫn là nắng soi vạn dặm, sợi mây chẳng có, nào đâu dấu tích gì mưa? Họ cùng thở dài ngao ngán, chỉ cho rằng hòa thượng nói an ủi mọi người mà thôi!

Vốn là một con lươn đã thành tinh, trước làm thần ở trên thiên đình, vì bị hãm hại nên bị đẩy xuống nhân gian tu đạo chịu tội, vừa hay người này ở cách Bạch Sa Trang không xa. Khi ngài nghe thấy những tiếng khóc bi ai thảm thiết truyền tới, mở mắt ra nhìn mới biết dân chúng chịu nỗi oan tày trời ghê gớm, bấm đột ngón tay mới biết việc oan nghiệt này từ Thái Bạch Kim Tinh mà ra. Tức thì người ấy đã thác mộng cho Trí Chân trưởng lão sẽ tới thiên đình minh oan cho dân chúng.

Lại nói tới con lươn đã thành tinh lên đến thiên đàng bí mật tìm đến Vũ Sư, Vân Thần, Phong Bá kể cho các chúng thần hiểu rõ nguyên do. Các thần nghe xong không ai không đồng tình.

Thiện Ngư Tinh – con lươn đã thành tinh nói:

“Sinh linh bị oan uổng như vậy, lũ chúng ta có thể ngồi yên được sao? Các vị cao thần chỉ cần làm mưa thôi, mọi trách nhiệm, tội lỗi do một mình tôi gánh chịu hết, quyết chẳng liên lụy đến một người”. Các thần nghe xong đều gật đầu đồng ý.

Buổi trưa ngày hôm đó, quả nhiên có mây đen dày đặc, chỉ trong chốc lát, sấm chớp giao nhau, mưa như trút nước. Trận mưa lớn đủ 3 canh giờ đổ thẳng xuống ruộng đồng quanh dải núi tràn ngập nơi nơi, ào ào như tái ngoại Cửu Hà, cuồn cuộn Ba Trung Tam Hiệp. Sau đó, năm ngày một trận mưa nhỏ, mười ngày một trận mưa lớn, quả thực là gió hòa mưa thuận.

Đến mùa thu hoạch, thực sụ một năm được mùa. Để cảm tạ công đức của trưởng lão Trí Chân ở chùa Bạch Sa, dân chúng đến quét dọn sửa sang miếu Vũ, còn làm một con đường thông tới chùa Bạch Sa, rải lên một tầng cát trắng, người đến thắp hương bái lễ không ngớt.

Nháy mắt đã tới đêm 30 tết, nhà giàu giăng đèn kết hoa, nhà nhà trồng cành đào treo câu đối, pháo nổ vang trời, tiếng cười vui dậy đất. Chẳng ngờ lại là cảnh lạc cực sinh bi, từng trận pháo nổi vang trời này đã xuyên chín tầng mây, xông thẳng tới Linh tiêu bảo điện, Ngọc Hoàng  Đại Đế nghe thấy hỏi:

“Đất nào ở dười hạ giới ồn ào làm cho trẫm tâm thần bất an thế?”

Thái Bạch Kim Tinh vội vàng ban tấu trình:

“Bạch Sa Trang vùng Giải Lương hạ giới, bởi đem gạo trắng đổ xuống lòng sông, bệ hạ đã giáng tội 3 năm không mưa, không hiểu tại sao lại có mưa được, dân chúng reo hò rối rít đang chúc mừng đấy ạ. Như vậy là không ăn năn hối tội trước, nên phải trị tội nặng hơn”.

Ngọc Hoàng  Đại Đế nghe tấu liền giận dữ lập tức triệu Vũ Sư đến hỏi tội:

“Trẫm đã có chỉ, đại hạn 3 năm ở Giải Lương Hà Đông, tại sao các người lại dám làm mưa hở?”

Vũ Sư khoái thác nói:

“Tâu bệ hạ, từ xưa đến nay mưa phải theo mây, xin cứ hỏi Vân Thần ạ”.

Triệu Vân Thần đến, thần mây đáp:

“Mây hành động theo gió, xin cứ hỏi Phong Bá ạ”.

Lại hỏi Phong Bá, Phong Bá đành phải chịu nói thực:

“Tâu bệ hạ, lời tấu của Thái Bạch Kim Tinh quả thực oan tình. Sông Bạch Sa vốn toàn cát trắng chứ đâu phải là gạo trắng. Đại hạn từ mấy năm nay khiến cho nông dân vùng Hà Đông, mười người chết chín. Vốn trước Thiện Ngư Tinh là thần ở Thái Hư cung cũng bị Kim Tinh tấu bừa mà mang tội, phải đày xuống phàm trần, may mà ngài ở gần Bạch Sa Trang, mắt thấy cảnh sinh linh chịu khổ nạn như vậy, đành lẻn trộm về cầu mưa, để cứu vạn dân. Xin Ngọc Hoàng  Đại Đế anh minh xem xét!”.

Thử nghĩ xem, Ngọc Hoàng  Đại Đế là bậc chí tôn ở Thượng Giới, miệng vàng lời ngọc, làm sao có thể để người bên cạnh chống đối lại được? Ngài không những không suy nghĩ đến lỗi lầm của mình, mà còn đập bàn quát tháo:
“Một tội thần khốn khiếp lại có thể xâm phạm thiên quy hay sao? Lý Tịnh nghe lệnh đây: Phải lập tức cử Thiên Binh tới tróc nã Thiện Ngư Tinh về hỏi tội chém đầu. Vũ Sư, Vân Thần, Phong Bá làm việc tư tình vi phạm luật trời, xét cho lần đầu phạm tội, đánh mỗi tên tám chục gậy lớn, để tỏ rõ thiên uy!”.

Thiện Ngư Tinh biết mình khó thoát khỏi tội, liền thác mông cho Trí Chân trưởng lão, nhờ trưởng lão đặt một cái chum lớn trên đinh núi sau chùa Bạch Sa, sau buổi trưa ngày mai lại dùng chiêc chum lớn đậy chặt miệng lại, chép lấy một thiên Trung Nghĩa Chân Kinh dán chặt lên miệng chum, sau bảy bảy bốn chín ngày mới được mở ra. Trưởng lão Trí Chân biết rằng Thiện Ngư Tinh này đã vì dân mà phạm thượng và bị chém đầu, Ngài liền đọc câu “a di đà phật”, thế rồi liền sai các tiểu hòa thượng y lệnh làm theo.

Buổi trưa ngày hôm sau, bỗng nhiên Nam Thiên Môn hồng quang sáng láng, một cột máu tươi hồng đổ thẳng xuống đỉnh núi phía sau chùa Bạch Sa, vừa hay lại trút vào trong miệng chiếc chum lớn đó. Chưa đầy một khối, tia sáng hồn biến mất, chum to đựng đầy máu đặc, Trí Chân vội vàng ra lệnh đậy chặt miệng chum, niêm phong kinh vận lên trên. Lại phân mười hai tiểu hòa thượng luân lưu canh giữ, không được để có sai sót.

Lại nói, số tiểu hòa thượng này, ngày đêm canh giữ chum máu đã được 48 ngày. Một vị tiểu hòa thượng nói:
“Sư phụ bắt chúng ta canh giữ trò chơi này, chẳng biết là có ý gì. Hôm nay đã được 48 ngày rồi, đừng ngại ta cứ mở xem thử”.

Đề nghị này được các tiểu hòa thượng đồng ý, thế là họ vội vàng mở ngay miệng chum ra. Vừa mở họ bèn thấy một sự việc vô cùng kinh sợ, làm cho các tiểu hòa thượng sợ hãi hết hồn, họ liền chạy vào trong chùa bẩm báo với trưởng lão.

Trí Chân vội chạy lên đỉnh núi xem thì ra ở trong chum có một vị đang ngồi máu thấm đẫm toàn thân, nhắm mắt và luôn miệng kêu “ Ta chết ngạt mất” Trưởng lão chắp hai tay, niệm câu “A di đà phật”, nhìn người này thân cao 9 thước, vai tròn lưng thô, mắt liễu râu dài, chỉ có đôi mắt là nhắm nghiền. Trí Chân trưởng lão ra lệnh đưa nước cho người này tắm gội, lại tiện tay chặt một cây cỏ tranh, khía đứt một khe nhỏ ở dưới mi mắt, đó chính là “Đan Phượng Nhãn” (mắt phượng đỏ).

Người này tắm gội thay quần áo xong, vái ba cái lạy Trí Chân trưởng lão, xin trưởng lão đặt cho cái tên, Trí Chân suy nghĩ giây lát nói:

“Người bị nhốt trong chum nước mà lớn lên, nên ta đặt họ “Quan” nhé. Mong muốn gặp được minh chủ sải cách bay khắp bốn phương trời, nên ta đặt tên cho chữ “Vũ”. Người hóa thành hình người trong máu từ trên trời đổ xuống, nên biểu tự chính là “Vân Trường”. Không biết ý ngươi thế nào?”.

Quan Vũ gật đầu cảm tạ. Về sau, liền ở lại Gải Lương làm nghề kéo xe, khi nhàn rỗi thì tới chùa Bạch Sa học chút võ nghệ.

Ngài Trí Chân quả là một bậc dị nhân đã đem đao pháp bí truyền, truyền hết lại cho Quan Vũ. Sau này Quan Vũ gặp Lưu Bị, Trương Phi kết làm anh em, đã lập nên sự nghiệp lớn oanh liệt rực rỡ.

Sau khi trở về trời, bước vào của Phật, cho nên trong rất nhiều chùa miếu đến nay vẫn còn thờ tượng Quan Công.
   

(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 10, 2011, 04:20:06 am
(tiếp theo)

BẢO SANH ĐẠI ĐẾ

Bảo Sanh Đại Đế vốn gọi tắt “Ngô Chân Nhơn”, “Ngô Chân Quân”, “Đại Đạo Công”, “Hoa Kiều Công”, vv… Tuy xưng hô không giống nhau, ngược lại đều thừa nhận ông là một vị Thần y, người người đều kính trọng, càng kính trọng nhất là bác sĩ và người buôn bán dược liệu.

Bảo Sanh Đại Đế họ Ngô, tên Bổn, tự Hóa Cơ, biệt hiệu Vân Đông, cũng có một thuyết nói họ Ngô, tên Mãnh, tự Thế Vân, kỳ Sanh Đại Đế ở vào thời Tống thái bình niên hiệu Ninh Quốc năm thứ tư, sinh ngày 15 tháng 3 tại tỉnh Phước Kiến, phủ Tuyền Châu, huyện Đông An, thôn Bạch Tiêu, ông từ nhỏ đã thông minh hơn người, hiểu rộng các sách thiên văn, địa lý, lễ, dược, hành, chính,  không chi không hiểu, xem qua có thể thông thuộc ngay, đối với y đạo càng nghiên cứu nhiều nhất.

 Nghe nói ông từng đi chơi Côn Lôn thấy Vương Mẫu, ở lại 7 ngày, học được phép thần cứu thế, các thứ phép thuật đuổi trừ ma tà, sau này ông lui về ân cư cả đời không lấy vợ. Sau khi đắc đạo ông đi tứ xứ hành nghề y, trị bệnh như thần, thậm chí còn có thể làm chết đi và sống lại, đuổi lôi đánh ma, bố thí giúp đỡ quần chúng, cứu người không tính kể.

Trong thời gian ông lui về ẩn cư, có rất nhiều nghe tiếng đến xin ông học y đạo, như Hoàng  Y Quan, Trịnh Chân Nhân, Ngân Tiên Cô, vv… đều là đệ tử của ông. Do đó, ông không những hành nghề y cứu đời, mà còn có đệ tử khắp thiên hạ nữa, Quảng  nhiên trở thành một thời làm đại tông sư y thuật. Ông còn để lại trước tác y thuật về ngoại khoa châm có hơn 30 quyển sách để lưu truyền ở đời.

Theo truyền thuyết, tháng 5 niên hiệu Cảnh Hựu thứ 3 ông tu luyện thành công, khi hai giờ Ngọ đều cùng cha mẹ, chị em thằng bé hầu hạ đèn sách, vv…. đều  cùng cưỡi hạc bay lên trời, lúc đó ông được 58 tuổi, trong thôn xa gần đều cùng bày hương án tiễn đi và lập đền thờ ông.


   
THANH THỦY TỔ SƯ

Thanh Thủy Tổ sư còn gọi là “Ma Chương Thượng Nhân”.

Thanh Thủy Tổ Sư họ Trần, tên ứng, pháp danh Phổ Túc, đời Tống Nhân Tông niên hiệu Khánh Lịch năm thứ 4 ngày 6 tháng giêng ông sinh ra ở tỉnh Phúc Kiến, huyện Vĩnh Xuân, làng Tiểu Cô. Xuất gia từ thưở nhỏ, đầu tiên ở Viện Đại Vân, sau này một mình lên núi Cao Thái, kết tranh làm am tu tập, giới luật nghiêm túc.

Ông tự cảm thấy tu học một mình không có thấy rất khó thành đạo, bèn đến núi Đại Tĩnh bái thiền sư Minh Tùng làm thầy, tham học 3 năm cuối cùng ngộ đạo, ông trở về núi Cao Thái lúc trước. Thiền sư Minh Tùng khuyên bảo ông nên làm việc nhân từ cứu đói, từ đó ông vâng lời trị bệnh cho thuốc cứu giúp người nghèo khổ bị bệnh hoạn.

Thần Tông niên hiệu Nguyên Phong thứ 6, ở Thanh Khê (huyện An Khê, tỉnh Phúc Kiến) bị gặp hạn hán, người trong làng nghe nói ông đạo hạnh cao siêu bèn đi mời ông cầu mưa. Không bao lâu mưa xuống ở Cao Lâm, nước mưa đầy đủ giải trừ hiện tượng hạn tại địa phương. Người trong làng mời ông ở lại núi Phùng Lai, đặc biệt vì ông mà xây tịnh xá để cúng đường ông.

Ông trông thấy trước cổng có một suối nước trong sạch mát lạnh, bèn bảo đặt tên tịnh xá là “Thanh Thủy nham”, ông ở lại Thanh Thủy nham tu hành 19 năm. Trong 19 năm ông tự lực đi hóa duyên, sửa cầu đắp đường, rộng kết duyên lành.

Thời đó Chương Châu, Định Châu người cả vùng này rất sùng kính ngưỡng mộ ông, thường thường tìm ông cầu phước tiêu tai. Tống Huy Tông Kiến Trung Tĩnh Quốc năm thứ 9 ngày 13 tháng 5, ông sáng sớm dặn dò xong rồi sau đó nơi kệ ngồi ngay thẳng mà tịch, hưởng thọ 65 tuổi.

Khi ông còn sống, từng đi chơi Lãng Sơn ở phía nam Thanh Khê, nói với người ta rằng: “Đây thật là đắt của nhà Phật, mấy mươi năm sau ta sẽ hiện thân ở đây”. Tống Cao Tông Thiệu Hưng thứ 4 ngày mồng 10 tháng 7 sét đánh cháy núi từ sáng tới tối sức lửa không ngừng, người trong làng vội chạy đến thạch môn nơi ít có dấu chân người lui tới, thấy có một bụi cúc trắng, ba bó gừng, lò hương nghi ngút khói, người bề trên khi ẩn khi hiện ngồi ngay thẳng trong đó, người ta liển ở thạch môn nơi ông hiện thân lập đền thờ, tên là “Thanh Thủy Biệt Nham”, đệ tử của ông biểu dương đạo và lập tháp Chân Không vì ông an trí xá lợi.

Văn sĩ địa phương vì thấy ông sanh tiền đức hạnh rộng lớn, sau khi chết hiển linh, tâu báo Cao Tông, sắc lệnh phong hiệu “Chiêu Ưng Đại Sư”, thời Hiếu Phong lại phong “Từ Tế Đại Sư”, thời Bình Tông phong thêm “Chiêu Ứng Từ Tế  Quảng Huệ Đại Sư’, thời Minh Cảnh Tông sắc phong “ Chiêu Ưng Từ Tế Quảng Huệ Thiên Lợi Đại Sư”.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 10, 2011, 04:23:20 am
(tiếp theo)

MA TỔ

Chính thức tôn hiệu của Ma Tổ là “Thiên Thượng Thánh Mẫu” có thể nói dân gian Đài Loan tín ngưỡng vị thần này rất cao. Miếu Ma Tổ rất nhiều gần giống như đức Quan Thế Âm. Ma Tổ còn có tên là Mi Châu Ma, Ôn Linh Ma, Ngân Đồng khác nhau. Mi Châu Ma là phần linh của “Mi Châu Ma Tổ”, Ôn Linh Ma là phần linh của “Truyền Châu Ma Tổ” , Ngân Đồng Ma là phần linh của “Đồng An Ma Tổ”. Ma Tổ tuy tên gọi khác nhau, nhưng trên sự thật vẫn là cùng một vị tôn thần , mà các tín đồ vẫn tôn bà là Thiên Hậu, do đó miếu của bà còn gọi là Cung Thiên Hậu.

Nghe người ta nói Thiên Thượng Thánh Mẫu kiếp trước họ Lâm, tên Mặc Nương , là người tỉnh Phúc Kiến, phủ Hưng Hóa, huyện Bạc Điền, đảo Mi Châu. Bà nguyên quán ở Hà Nam, trải qua các đời đều làm quan lớn, thời Ngũ Đại cảnh chiến tranh loạn lạc, ông nội của bà bỏ quan về ở ẩn ở Đông Nam Bạc Điền. Ông nội của Mặc Nương thừa sủng công lao làm Tổng đốc ở Phúc Kiến rất nổi tiếng. Lúc già từ quan về quê, nhàn cư ẩn du rồi chết. Cha Mặc Nương là người đôn hậu, vui làm lành, thích bố thí, người trong làng đều gọi ông là “Lâm Thiện Nhân”. Lâm Thiện Nhân chỉ có một đứa con trai và năm đứa con gái, mà con trai thân thể lại yếu đuối, do đó hai vợ chồng hy vọng sinh thêm một đứa con trai nữa. Vì thế sáng tối thắp hương lạy Bồ Tát Quan Âm, liên tục mấy năm. Hiển Đức năm thứ 6, mùa hè ngày 15 tháng 6, hai vợ chồng trai giới tắm gội sạch sẽ, lại bàn hương án lặng lẽ cầu nguyện, đêm hôm đó bèn mộng thấy đức Quán Âm nói với họ rằng:

“Nhà họ Lâm các người nhiều đời tích đức, trời sẽ hộ cho các người!”.

Nói xong, lại đưa một viên thuốc tròn cho vợ ông ta và bảo:

“Nuốt viên thuốc này, người sẽ được toại nguyện như ý, sẽ sanh quý nhân, tương lai sẽ phổ độ chúng sinh!”.
Vương Thị vợ ông theo lời nuốt viên thuốc vào, sau khi tỉnh dậy, dường như có cảm ứng, không bao lâu có thai.Năm thứ 2 ngày 23 tháng 3, buổi tối bỗng thấy một luồng hào quang từ phía tây bắc bắn vào trong phòng Vương Thị, màu sáng chói mắt, mùi hương lạ khắp nhà. Vương Thị lập tức sinh con liền. Nào ngờ sinh lần này lại là gái, hai vợ chồng quá thất vọng, nhưng do có điềm lành càng thêm thương tiếc, đứa trẻ này mãi cho đến đầy tháng cũng không khóc một tiếng, do đó Lâm Thiện đặt tên là “Mặc Nương”.

Mặc Nương từ nhỏ đã thông minh hơn người, mới 7 tuổi liền nói: “Ta đã có tên “Mặc” thì phải có tâm “Tĩnh”.
Bà thích ở trước cửa sổ trong nhà yên tịnh, một mình một nơi, lúc 8 tuổi vào trường tư thục, không những nhìn qua mắt thuộc lòng mà còn hiểu sâu sắc. Khi 10 tuổi bà đã biết thắp nhang lễ Phật, sáng chiều tụng kinh. Khi Mặc Nương 13 tuổi trông xịnh đẹp quý phái. Bà không những học thức sâu rộng, mà còn đối với cha mẹ rất chí hiếu, đối với anh chị em kính thương, người trong làng đều khen ngợi. Năm đó có một lão đạo sỹ Huyền Thông đến nhà họ Lâm hóa duyên, Mặc Nương rất mừng đón tiếp ông, và cúng cho ông rất nhiều trái cây, trà, nhang, nhân đó Huyền Thông thường đến nhà họ Lâm. Mặc Nương hoàn toàn nhiệt tâm chiêu đãi, dâng hiến những gì đã có. Lão đạo sỹ rất cảm động nói với bà rằng:

“Người trời sinh ra đã có huệ căn, nên lòng dạ từ bị siêu độ người đời”.

Lão đạo sỹ truyền cho bà “Huyền Vi bí pháp”. Mặc Nương vừa nghe lĩnh hội ngay. Năm Mặc Nương 16 tuổi, có một hôm vui chơi trong sân, trông thấy một giếng nước lắng trong như tấm kính, liền đi soi cái bóng của mình, không ngờ lúc đó bỗng nhiên xuất hiện một thần nhân, tay cầm đồng phù từ đáy giếng bay lên không trung. Các đứa bạn khác chạy la tứ tán. Mặc Nương ngược lại bình tĩnh quỳ lạy, thần nhân liền đưa thần phù cho Mặc Nương, bay vào trong mây ngũ sắc đi luôn. Mặc Nương được thần phù sau đó chuyên tâm nghiên cứu, dần dần học được đạo thuật, đủ thần thông biến  hóa, đuổi tà cứu nguy. Bà thường ngày dùng pháp thuật cứu giúp dân làng, do đó càng được dân làng quý mến .Năm bà 18 tuổi, cha bà gặp nạn ngoài biển, bà phấn đấu không màng thân thể cứu cha về được, và khi biển ngưng sóng thì tìm được thi thể của anh cả.

Thái Tông Ung Hy năm thứ 4, Mặc Nương vừa tròn 23 tuổi. Mồng 8 tháng 9 hôm đó bà nói với người nhà rằng:
“Ngày mai là tiết Trùng Dương, ta muốn đi lên cao thanh tịnh một chút, do đó tới trước cáo biệt”.

Người nhà không chú ý. không ngờ ngày hôm sau, Mặc Nương dậy sớm tắm gội chải tóc, trang điểm đẹp đẽ cáo từ mà đi, chị của bà cũng muốn cùng đi lại bị bà cự tuyệt. Đến khi ly biệt, Mặc Nương tỏ ra lưu luyến không muốn rời, mọi người đều cười bà việc bé xé to. Không ngờ Mặc Nương đi lên Mi Phong, như chỗ đất bằng, trong chớp mắt đã nhảy lên mây, ở chân trời vọng lại tiếng nhạc du dương, tiếng sành, tiếng ca trong trẻo,ở dưới cờ xí của tiên đồng, ngọc nữ, bà bềnh bồng bay lên trời.


Mặc Nương lên trời rồi sau đó hiển linh. Thường có người trông thấy một vị nữ thần mặc áo đỏ, bay đi trên mặt biển, cứu giúp người bị nạn. Cư dân Mi Châu cảm nhớ ân đức của bà, xây dựng miếu thờ cúng, tôn xưng bà là “Thông hiển linh nữ”. Còn một số người cho là thân thiết gọ bà là Ma Tổ.

Linh tích hiển thánh của Ma Tổ rất nhiều, có thể nói mỗi thời đại đều có tin đồn, do đó sự tín ngưỡng Ma Tổ ngày càng sâu rộng, sắc phong càng lúc càng nhiều. Triều Thanh niên hiệu Ung Chánh thứ 4, truy phong bà là “Thiên Thượng Thánh Mẫu”, Đạo Quang năm thứ 19 lại phong bà là “Hộ quốc Tì dân Diệu Linh Chiêu Ứng Hoàng  Nhân Phổ Tế Thiên Thượng Thánh Mẫu”.

Tại tỉnh nhà, miếu của Ma Tổ hương khói nghi ngút đó là “Triều Thiên Cung” cảu cảng trấn Vân Lâm Bắc. Bàn thờ đề “Bắc Cảng Ma Tổ”, dân gian gọi là “Bắc Cảng Ma Tổ Côn Thân Vương Da”. Có thể nói là già trẻ đều biết. Mỗi năm từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch thời gian tấn hương gồm có mấy mươi vạn tín đồ tổ chức đoàn thể đổ về hướng Bắc Cảng triều bái.


(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: TRUYỆN THẦN TIÊN--CÁT HỒNG
Gửi bởi: nhuocthuy trong Tháng Sáu 10, 2011, 04:26:27 am
(tiếp và hết)

CHÚ SANH NƯƠNG NƯƠNG


Chú Sanh Nương Nương gọi tục là “Chú Sanh Ma”, là thân chủ ty sanh dục, chuyên môn bảo hộ người đàn bà mang thai, sản phụ và thai nhi. Ngày xưa, phụ nữ là đối tượng rất tôn sùng bà, bởi vì y dược thời cổ đại chưa phát triển, sanh sản là việc rất nguy hiểm.

Lại nữa, trong quan niệm luân lý Trung Quốc, cho là “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, người con gái nếu không sanh cho nhà chông con trai, thậm chí sẽ cấu thành tội “thất xuất” bị đối xử lạnh nhạt, bị đuổi về nhà mẹ. Do đó, Chú Sanh Nương Nương đã trở thành một vi tôn thần cầu nguyện sanh con trai và bảo hộ sanh sản.

Truyền thuyết đối với Chú Sanh Nương Nương rất nhiều, các nơi cách nói cũng không nhất trí, trong đó “Kiến Ninh Phủ Chí” ghi chép so ra một số người tiếp nhận. Căn cứ Kiến Ninh Phủ Chí nói: Thời Tống, Từ Thanh Tẩu có một con dâu mang thai 17 tháng vẫn chưa sanh ra, trong khi nhà đang muôn phần lo lắng, bỗng nhiên từ ngoài cổng có một phụ nữ đi vào, tự xưng họ Trần, chuyên môn làm mụ.

Bà muốn Từ Thanh Tẩu cho riêng một căn phòng, sau đó ở trong phòng trên lầu khoét một cái lỗ bà đặt sản phụ trên lầu, lại sai đầy tớ cầm gậy ở dưới lâu trông coi. Không bao lâu sau đó,sản phụ sinh ra, nhưng ngoài ý tính người ta, bà sanh ra một con rắn trắng dài hơn một trượng, từ trong lỗ trên lầu lọt xuống dưới, người tớ cầm gậy đập chết con rắn, sản phụ lúc đó mới được bình yên.

Từ Thanh Tẩu rất vui mừng, ông cho người đàn bà họ Trần nhiều lễ vật quý giá, nhưng người đàn bà kiên quyết từ chối không nhận, chỉ cần Từ Thanh Tẩu một chiếc khăn tay, và mời ông đề chữ lên khăn tay: “Từ Thanh Tẩu tặng cứu sản Trần Thị”. Lại nói bà ở Phúc Châu quận Cổ Điền, sau đó đi ra khỏi cổng, xoay thân thì không thấy nữa.

Không bao lâu sau này này Từ Thanh Tẩu được điều nhậm Phúc Châu, ông phái người tìm kiếm người đàn bà họ Trần, nhưng kiếm khắp mà không gặp. Sau này, nghe người trong làng nói, xứ này có một ngôi miếu Trần phu nhân, khi người phụ nữ trong thôn sanh khó, chủ thần trong miếu thường hóa thân vì sản phụ cứu nạn.

Từ Thanh Tẩu đến trong miếu xem, chỉ thấy trên lưng tượng thần mang một chiếc khăn tay, đó chính là chiếc khăn năm trước ông tặng cho người đàn bà họ Trần, do đó, ông dâng biểu tấu triều đình cầu phong sắc.

Ở Kiến Ninh, phụ nữ ai ai cũng đều rất tin tưởng thờ Trần Phu Nhân, Khi sanh sản chắc chắn phải cúng tượng phu nhân, sanh sản xong rồi vẫn cúi về bức tượng bái tạ.  Do duyên cớ này,Trần phu nhân dần dần trở thành Ty Sản Đại Thần, mọi người đều gọi bà là “Chú Sanh Nương Nương
   
   
NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN


Nguyệt Hạ Lão Nhân còn gọi là Nguyệt Lão Công, gọi tắt là “Nguyệt Lão”, ở Trung Quốc ông là thần minh quản lý về việc hôn nhân.

Đối với Nguyệt Hạ Lão Nhân chưa có sử sách ghi chép hoàn chỉnh và nhất trí giữa các thuyết. So ra, hoàn chỉnh nhất đó là một câu chuyện nhỏ trong “Tục U Quái Lục”.

Triều Đường có người tên là Vi Cố, lúc nhỏ chưa lấy vợ, có một lần ông nghỉ ở trong Tống Thành gặp một dị nhân. Dị nhân này ngồi ở bên cạnh Thanh Tương, ở dưới ánh trăng đính chính sách. Vi Cố rất lấy làm lạ, bèn hỏi ông xem cái gì, người đó đáp rằng:
“Ta đang đối chiếu số bộ nhân duyên của thiên hạ”.

Vi Cố phát hiện ở trong túi của ông có rất nhiều sợi chỉ màu hồng, bèn hỏi ông để làm gì, người lạ đáp rằng:
“Ta dùng những sợi chỉ này để buộc chân vợ chồng, dù cho là nhà có oán cừu với nhau, dù cho cách xa vạn dặm, ta cũng có thể buộc nam nữ có duyên ở một chỗ”.

Vi Cố hiếu kỳ, bèn hỏi ông sẽ chọn người nào làm vợ của mình. Dị nhân nói:
“Vợ người là con gái của Trần Âu bán cải phía bắc khách sạn này”.

Mười bốn năm sau, Vi Cố nhậm chức ở Tương Châu Tham Quận. Thích Sử Vương Thái sắp gả con gái cho ông, ước khoảng 16, 17 tuổi.

Vi Cố thầm nghĩ lời tiên đoán của dị nhân năm đó chắc sẽ có vấn đề. Kết hôn xong rồi vợ ông nói với ông rằng:
“Thiếp là cháu gái của Quận Thú, cha của thiếp đã chết sớm, lúc đó thiếp còn trong nôi. Vú nuôi mỗi ngày dựa vào bán cải mà sống”.

Vi Cố hỏi cha cô ta chết ở đâu, vú nuôi là người nào. Đáp rằng: cha cô chết ở Tống Thành, Vú nuôi là Trần Âu. Vi Cố cười ngàn dặm nhân duyên dây chỉ buộc, ông rốt cùng chưa thoát khỏi sợi chỉ hồng của dị nhân.

Tống Thanh Tế biết sự việc này, bèn đổi khách sạn đó là “Định Hôn Điếm”, người dị nhân buộc chỉ hồng đó từ đâu được gọi là “Nguyệt Hạ Lão Nhân”.

--------------------------




HẾT