Học Thuật Phương Đông

TÍN NGƯỠNG - VĂN HÓA - VĂN HỌC - LICH SỬ - ĐỊA LÝ => VIỆT NAM DANH THẮNG => Tác giả chủ đề:: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:37:59 PM



Tiêu đề: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:37:59 PM
 

Thưa các bằng hữu anh em huynh đệ Hoàng thần tài ,
Diệp mạn phép mở mục mới một bộ sưu tập về các chùa tính theo thứ tự chữ cái để tiện cho việc theo dõi của mọi người và để mọi người có thể truy tìm về các ngôi chùa mình cần một cách dễ dàng. Tất cả các dữ liệu trên do Diệp sưu tra từ nhiều nguồn. Nếu có gì sơ suất kính mong mọi người lượng thứ.

Kính chúc con đường tu tập của các thành viên Hoàng thần tài Forum luôn được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni và các Chư Tôn Bồ tát đồng đẳng hộ trì.
Kính hồi hướng mọi công đức truyền bá thông tin  Linh Tự và chú pháp này đến hương hồn của Ngoại Trần Thị Ba Pháp danh Ngọc Tảo được sớm tiếp dẫn về  cõi Tịnh Độ.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật .

Diệp A.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:43:04 PM
CHÙA ẤN QUANG.
Võ Văn Tường-Huỳnh Như Phương.


(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:yOljq3dcUtiPxM:http://www.cad.vn/Data/BAI_BAO/KS_BB_00000235/Image/A.jpg)

Tổ đình Ấn Quang được xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Chùa Ấn Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), nay là trụ sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982).

Chùa Ấn Quang hiện tọa lạc tại 243 Sư Vạn Hạnh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, Đà nẵng vào lập nên vào năm 1948. Lúc đầu đây chỉ là một ngôi Phật tự nhỏ bằng cây lợp lá, mang tên là Ứng Quang Tự.

Năm 1950, Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907 - 1978), thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43, sau 10 năm tu học về đạo pháp và giới luật tại Tây Thiên Phật học đường, Báo Quốc Phật học đường và chùa Quán Sứ, trở về Sài Gòn. Ngài được Hòa thuợng Thích Trí Hữu giao cho quyền quản lý chùa Ứng Quang để hoằng dương Phật pháp. Với tư cách là Viện chủ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm ở Huế. Từ đó trong suốt hơn một phần tư thế kỷ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã hiến trọn tâm trí và công đức để tôn tạo ngôi chùa và thành lập trường Phật học để giáo dục và hoằng pháp.

Đầu năm 1951, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã vận động các trường Phật học Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật học đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang được đổi tên thành Ấn Quang và được chọn làm trụ sở của Phật học đường. Hòa thượng Thích Thiện Hòa được bầu làm Tổng giám đốc.

Năm 1955, chùa xây dựng thêm dãy lẫu nhà tổ và trai đưởng. Liên tục hai năm sau đó, xây nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bổ Đè, thư viên, nhà xuất bản, nhà phát hành Hương đạo. Năm 1959, xây lại dãy lầu giảng đường. Đến năm 1966, chánh điện được tôn tạo; năm sau lầu tăng xá, nhà trai được tái thiết. Kiến trúc chùa được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Bên trong chùa ngoài tượng đức Bổn Sư Thích-ca và tượng các vị Phật được tôn trí trang nghiêm tại chánh điện, còn có tượng Tổ Sư Đạt ma (tạc bằng gỗ) và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn-thù, Phổ Hiền do nghệ nhân Trương Văn Thanh (tức Đại đức Minh Tịnh) thực hiện.

Từ năm 1974, do Hòa thượng Thích Thiện Hòa lâm bệnh nặng, một Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang gồm chín vị, do Hòa thượng Thích Huệ Hưng làm Tổng lý, đã được bầu ra để đảm đương Phật sự. Hòa thương Thích Thiện Hòa viên tịch năm 1978. Tên tuổi Hòa thương gắn liền không chỉ với sự nghiệp mở mang chùa Ấn Quang và còn với sự nghiệp đào tạo hàng trăm giảng sư và hàng nghìn Tăng Ni sinh làm sứ giả của Như Lai đi bổ xứ trụ trì các chùa ở các tỉnh miền Nam.

(http://www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/thiensu-nhathanh12/chuaAnQuang2b.JPG)
Sư Thích Nhất Hạnh đến viếng chùa Ấn quang.

--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Danh Lam Nước Việt (www.thuvienhoasen.org)


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:49:00 PM
Chùa Am Cây Đề (Thanh Ninh tự)

Nguyễn Thế Long - Phạm Mai Hùng

(http://www.truongviet.net/music/52007/13_1180480335.jpg)



Chùa Am Cây Đề ở số 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Thanh Ninh là têng làng được dùng để gọi tên chùa. Tên chùa Am Cây Đề xuất hiện năm Cảnh Hưng 7 đời vua Lê Hiến Tông (1746) khi một viên quan họ Trịnh cho xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.

Chùa thờ Phật, ngoài ra còn có đền Ngọc Thanh là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo cùng các thân quyến. Tương truyền chùa được xây dựng từ đời vua Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành (1031) và là một trong 95 ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta thời bấy giờ. Dấu tích khởi dựng không còn nữa, năm Cảnh Hưng nguyên niên (1739), chùa được dựng lại đơn sơ nên có tên gọi là "Chùa Cỏ". Từ thời Lê về trước, khu vực quanh chùa là nghĩa trang của kinh thành vì thế viên quan họ Trịnh mới xây am nhỏ để thờ các cô hồn. Theo dân gian, vào đầu xuân Kỷ Dậu, một số thi hài nghĩa quân Tây Sơn hy sinh khi giải phóng thành Thăng Long đã được an táng quanh chùa.

Chùa xây trên một khu đất cao, trước đây là một khuôn viên rộng rãi, có nhiều cây cổ thụ. Hiện nay chùa gồm cổng, sân, đền Ngọc Thanh và toa tam bảo. Cổng chùa được xây kiểu tam quan có 3 cổng nhỏ, trên có 4 mái nhỏ. Đền Ngọc Thanh nằm theo hướng bắc, trông thẳng ra cổng. Đền có kiến trúc hình chuôi vồ gồm bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Đền lợp ngói ta, hai đầu xây kiểu bít đdốc, các vì làm kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây quanh.

Tòa tam bảo của chùa cũng hình chuôi vồ gồm tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Chùa dựng trên nền cao, quay hướng đông nam, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các vì làm nhiều dạng khác nhau (có thể do đã sửa chữa nhiều lần). Ở tiền đường, vì kèo làm kiểu "thượng chồng giường giá chiên, hạ kẻ". Các vì kèo có chạm hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.

Chùa hiện còn giữ được 35 pho tượng tròn. 12 pho ở đền Ngọc Thanh, 3 đôi lọ độc bình sứ, 1 đôi choé sứ men trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoàng phi, 1 ống bút, 1 chuông đồng đúc niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1797) có tên là "Thanh Ninh tự hồng chung".

Năm Gia Long 7 (1808) sư cụ Tịch Quang trụ trì tại chùa đã cho trùng tu, tô tượng và đúc chuông. Tấm bia "Thanh Ninh thiện tự bi ký" do tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn năm 1779 có ghi: "Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó." Đến năm Khải Định 8 (1923) chùa lại được trùng tu. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền Ngọc Thanh vì vậy dấu tích cũ không còn nữa.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tinh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 22/7/1981.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Chùa Hà Nội


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:51:48 PM
Chùa Anh Linh (Anh Linh Tự)

Nguyễn Thế Long - Phạm Mai Hùng


Chùa Anh Linh thuộc xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, ngoài thành Hà Nội, và cách trung tâm thành phố về phía tây bắc. Đi theo đường Hoàng Hoa Thám đến chợ Bưởi, qua Nghĩa Đô, rẽ tay phải khoảng 3 km là đến di tích.

Tương truyền chùa Anh Linh được lập từ thời Trần, do công chúa Trần Khắc Hãn vâng lệnh vua cha là Trần Nhân Tông, chiêu mộ những người phiêu tán đến phía bắc kinh thành Thăng Long để khai hoang và lập ra xã Cổ Nhuế. Khi lập làng cũng đồng thời lập chùa để thờ Phật.

Chùa có mặt bằng hình chữ "đinh", tiền đường gồm 3 gian xây kiểu "tường hồi bít đốc". Hai bộ vì gian giữa làm kiểu "giá chiêng, con nhị", phân cốn nách là nhà tổ, một bên là nhà Mẫu. Chùa đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, đã qua nhiều lần sửa chữa. Tượng Phật trong chùa đầy đủ, có phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Chùa còn lưu giữ được tấm bia năm Cảnh Trị đời Lê (1664) và bia năm Tự Đức 12 (1864).

Chùa Anh Linh (cùng với đền Bà Chúa) đã được bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử và nghệ thuật ngày 21/6/1993.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 02:54:54 PM
Chùa Bảo Tháp, nơi có 3 người tu thành Phật

Vũ Kiêm Ninh

(http://www.vietducinfo.com/datapic/Image/2006/08/25/12532/12532_1.jpg)



Đó là ngôi chùa cổ tên gọi là Bảo Tháp tự, dân gian gọi là chùa Bồ Tát, thuộc địa phận thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Làng Thượng Phúc thời trước thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Đông, có 5 xóm là Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh. Sau cách mạng tháng Tám 1945 hợp với Nhân Hòa thành xã Phúc Hòa. Năm 1949 lập đại xã Tả Hòa gồm Tả Thanh Oai, Phúc Hoà và Siêu Quần, sau đổi tên thành xã Đại Thanh, huyện Liên Nam, Hà Đông. Đến năm 1966, xã Đại Thanh đổi tên thành xã Tả Thanh Oai gồm 4 thôn: Tả Thanh Oai, Nhân Hòa, Thượng Phúc và Siêu Quần.

Làng Thượng Phúc nằm ở phía Tây Nam thành phố Hà Nội, vùng cuối huyện Thanh Trì, trải dài theo bờ con sông Nhuệ. Một bên là làng mạc trù phú, một bên là dòng sông chảy lững lờ. Bờ sông có nhiều tre mọc ken chắn sóng, tạo thành một vẻ đẹp êm đềm của thôn quê. Đây cũng là nơi mà các bậc hoàng thân, quốc thích, đế vương tìm đến tu hành rồi đắc đạo thành Phật.
Về Thượng Phúc ta gặp chùa Bảo Tháp, một ngôi chùa được khởi dựng từ cuối đời Lý do vị hoàng thân nhà Lý là hoàng thúc Lý Thầm (con vua Lý Cao Tông, chú của Lý Chiêu Hoàng) đến lập am và tu, chân thân của Ngài đã hóa thành địa mạch liên hoa, nay tại chùa còn bảo tháp và đôi câu đối:

Hộ quốc, xuất gia, bát đại thiên hoàng quang Lý diệp
Chân thân hóa Phật, thiên thu địa mạch dũng liên hoa.

(Giúp nước, tu hành dòng dõi tám đời nhà Lý
Chân thân thành Phật, ngàn năm địa mạch đài sen)

Đến năm 1328 (thời nhà Trần) có vị cao tăng Hồ Bà Lam đến tu. Ông là hoàng thân nhà Hồ, khi tu ở chùa ngoài việc tụng kinh niệm Phật còn đi thu nhận những trẻ mồ côi, cô nhi, quả phụ về chùa nuôi dưỡng. Nhân dân đương thời ca ngợi, tôn Ngài là Bồ Tát sống; có câu ca rằng:

Cô nhi quả phụ các nơi
Đến chùa đều được Tổ nuôi hàng ngày
Không cơm mặn thì cơm chay
Nhiều khi Tổ phải đi “vay” nuôi người

Ngài tu ở chùa cho đến khi Hoàng thái hậu Minh từ Hồ Thuận Nương (mẹ vua Trần Nghệ Tông) về lánh nạn Chiêm Thành đánh phá Thăng Long. Bà mến cảnh chùa, mộ đạo Phật, nên xin ở lại chùa đi tu. Nhà sư thấy bà tướng mạo cốt cách quả là người nhân hậu, có căn duyên nên đã trao truyền Y Bát rồi tự lên giàn hỏa, hóa Phật. Đó là ngày 14 tháng Tư. Sử cũ không chép về sự kiện này, nhưng tại Thượng Phúc, mỗi khi nhà chùa làm giỗ Tổ, các bà vãi lại hát chèo đò, kể hạnh:

Tổ ngồi niệm Phật ung dung
Mặc cho lửa cháy tứ tung bốn bề
Dân làng thương khóc thảm thê
Tổ bảo: “Đi về, đừng có khóc thương
Ta lên Cực Lạc Tây Phương
Tháng Tư - Mười Bốn ta thường về đây…”

Hiện nay tại khám thờ Tổ vẫn còn tượng pháp của Ngài và đôi câu đối:

Lục dương sơ bát thời, Thần giáng phi duy Tây hữu
Tứ nguyệt thập ngũ nhật, Phật thành khởi thị Nam vô

(Tháng sáu, ngày tám thần giáng, chẳng phải Tây Trúc mới có
Tháng tư, ngày rằm thành Phật, khởi tự nước Nam)

Tuân theo đạo hạnh của Bồ Tát Hồ Bà Lam, làng Thượng Phúc mỗi khi mở hội chùa, nhà dân đều nấu cháo để ngoài cửa mời khách qua đường. Ai đói cứ ăn tự nhiên không câu nệ. Dân gian còn tin rằng mỗi khi đến ngày giỗ Tổ bao giờ cũng có sự chuyển thời tiết:

Đang nồm mà dậy gió may
Cả làng đều biết hôm nay Tổ về

Sau ngày làm lễ, thường có cuồng phong thổi từ Tây Nam về Đông Bắc báo hiệu Tổ đã ra đi.

Như kể trên, vị Bồ Tát thứ ba đến tu tại chùa chính là bà Minh từ Hồ Thuận Nương. Bà người huyện Diễn Châu, Nghệ An, lấy vua Trần Minh Tông, sinh ra hai con đều làm vua (Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông). Từ khi trông coi chùa Bảo Tháp, trong hơn ba năm, bà tu sửa chùa, lại xây thêm chùa Phúc Khê (còn gọi là chùa Dâu thờ Pháp Vũ) ở cuối làng. Đức độ của bà được dân mến phục, khi triều đình đón bà về kinh, làng lưu luyến tiễn đưa. Đúng lúc đó có đám mây ngũ sắc sà xuống bao phủ, khi mây tan, bà đã không còn ở cõi trần. Dân liền lập miếu thờ ngay trên nền đất nhà cũ, gọi là miếu Minh từ.

Khi Bình Định vương Lê Lợi khởi nghĩa, mang quân ra Bắc đánh quân Minh hành quân qua miếu Minh từ nghỉ lại, vua Lê được bà Minh từ báo mộng sẽ âm phù giúp vua “kháng Minh phục quốc”. Nhà vua tiến quân chém được Liễu Thăng, bức hàng Vương Thông, giải phóng Thăng Long, lập lại nền độc lập tự chủ. Nhớ ơn bà, vua Lê đã sắc phong đức Minh từ Hồ Thuận Nương là “Thượng Đẳng Phúc Thần Hưng Quốc”, sắc cho xây dựng đền miếu thờ làm Thành Hoàng làng.

Nay tại Minh từ và đình còn đôi câu đối ca ngợi:

Đế hậu vị tha, sơn thế cao phong tiêu vũ trụ
Thần uy Phật đức, độ nhân phúc lượng đẳng hà sa

(Lòng thương của Đế hậu cao như núi, sánh cùng vũ trụ
Uy đức Thần Phật cứu người, phúc nhiều như cát sông).

Như vậy là trên đất Thượng Phúc trong khoảng thời gian thịnh đạt của đạo Phật đã có 3 người tu đắc đạo, được nhân dân tôn thờ. Ngoài điển tích vừa kể, chùa Bảo Tháp là một ngôi chùa đẹp, mang nét nghệ thuật thế kỷ 17-18. Chùa có chùa Trong, chùa Ngoài, bố trí theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Nhà tiền đường, nhà thượng điện là nơi thờ Phật với nhiều tượng Phật còn nguyên nét xưa, các lớp sơn cổ truyền vẫn đẹp bền. Chùa Trong là nơi thờ Tổ Hồ Bà Lam. Sân trước tiền đường có hai tòa bảo tháp tượng trưng của Phật Tây Trúc và Phật nhà Lý.

Tại nơi đây còn giữ được nguyên bản 32 đạo sắc (chủ yếu của miếu Minh từ) ngọc phả, bia đá năm Quang Thái thứ 3 thời Trần Thuận Tông, bia “Mộc Bản” khắc năm Bảo Thái thứ hai, chuông đồng đúc thời Gia Long, khánh đồng đúc thời Thiệu Trị…

Miền quê Thượng Phúc với hai ngôi chùa, miếu Minh từ và các hiện vật cổ rất quý, cần chú ý giữ gìn, bảo vệ được nét đẹp của văn hóa dân tộc. Chùa Bảo Tháp đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa từ năm 1990.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 03:03:21 PM
Chùa Bà Ngô-Chùa Bà Nành -Chùa Bà Đá-Chùa Bà Già-Chùa Bà Đanh-Chùa Bà Móc

không rõ tác giả

(http://i15.photobucket.com/albums/a366/Cuoi2005/SuuTap/ChuaBaDa2.jpg)
Bên trong chùa Bà Đá.

Chùa Bà Ngô còn có tên gọi là chùa Ngọc Hồ, ở số nhà 128 phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Hà Nội. Theo cuốn Thăng Long cổ tích khảo thì chùa được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông (1127 - 1128), cũng theo đó vào thời Lê, có một người con gái đẹp lấy chồng là một nhà buôn người Hoa giàu có, bà đã bỏ tiền ra xây dựng lại ngôi chùa này to đẹp hơn chùa cũ, do đó mới có tên Bà Ngô (Ngô Khách). Chùa được sửa chữa và làm mới qua nhiều năm như 1863, 1864, 1865...Thời kỳ Bảo Đại, chùa được sửa chữa lớn nên đã có câu đối (tạm dịch): "Không nhớ tháng Bà Ngô sửa chữa, Chỉ biết năm Bảo Đại khánh thành". Về kiến trúc, tam quan của chùa là gác chuông 2 tầng, 8 mái với 8 góc đao cong. Một quả chuông đồng đúc năm Canh Dần Thành Thái 2 (1887) được treo ở giữa tam quan có dòng chữ Ngọc Hồ tự chung. Phật điện gồm tiền đường và hậu cung làm theo kiểu chữ Đinh. Hiên trong tiền đường dạng vòm cuốn mở rộng bằng một vì vỏ cua, là một kiểu kiến trúc ít có ở miền Bắc mà chỉ thấy ở Hội An, Huế với 2 đầu làm theo kiểu nhà kèn. Hậu cung 4 gian có nhiều của võng. Nhà Tổ, ngoài 2 ban thờ các sư tổ Bồ Đề đạt ma, các sư tổ của chùa đã viên tịch, còn có bàn thờ đức Văn Xương.

Điện Mẫu thờ các Mẫu, Ngọc Hoàng và vua Lê Thánh Tông ngồi trong ngai rồng. Hai bên thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo cùng hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Tượng trong chùa hiện có 35 pho được sắp xếp dọc Phật điện. Ngoài những pho như Tam thế, A di Đà tam tôn, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, Ngọc Hoàng thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, còn có 10 vị Diêm Vương và tượng Bà Ngô trang phục gần như tượng Mẫu. Tượng Tổ mang nhiều nét chân dung của sư nữ... Chùa Bà Ngô được công nhận là di tích lịch sử - văn hoá năm 1993.



Chùa Bà Nành nay ở số nhà 154 phố Nguyễn Khuyến. Tương truyền nơi đây vốn là nhà của một bà bán bánh, bán chè đậu nành.
Khi về già, bà đã bỏ tất cả tiền nong tích góp xây ngay trên đất nhà mình một ngôi chùa và xuất gia tu hành. Sau khi bà mất, dân làng đắp tượng bà và đặt trên tấm đá mà bà vẫn dùng làm bàn bán hàng. Nay tượng và bàn đá đó vẫn còn. Tên chữ của chùa là “Tiên Phúc tự”.



Chùa Bà Ðá, ở số 3, phố Nhà Thờ. Lịch sử chùa được kể như sau: Ðời Lê Thánh Tông, ở làng Báo Thiên (khu vực Nhà thờ Lớn ngày nay) có người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá, bèn dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ ngay tại nơi đào được tượng. Về sau, dân làng thấy linh thiêng, góp công, góp của xây thành chùa lớn, đón sư về trụ trì. Tên chữ là “Linh Quang tự”.
Chùa Bà Già, ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng. Phú Gia, tên nôm là làng Gạ, còn gọi là thôn Bà Già. Ðây là nơi các vua đời Trần đưa một bộ phận người Chăm từ phía nam ra định cư. Theo sách Toàn thư thì Bà Già là cách gọi chệch của cái tên Ða-da-li. Nay trong chùa còn bức hoành phi cổ khắc ba chữ “Bà Già tự”, quả chuông đúc năm 1665, cao 1,46 m.

Chùa Bà Ðanh cũng là một ngôi chùa dành cho người Chăm. Theo Tây Hồ chí thì vua Lê Thánh Tông cho xây một thiền viện (vừa là chùa, vừa là nơi nghiên cứu) bên bờ nam hồ Tây cho người Chăm hành đạo, gọi là Châu Lâm.
Về sau, do người Chăm chuyển sang khu vực khác, thiền viện hoang phế nên có câu ngạn ngữ: “Vắng như chùa Bà Ðanh”. Sau đó, đồ thờ ở chùa Châu Lâm được đưa sang thờ chung với chùa Phúc Châu, nay là số nhà 199B phố Thụy Khuê, gọi chung là chùa Phúc Lâm. Hiện nay, trong chùa còn tấm bia ghi dòng chữ “Châu Lâm tự hiệu là Bà Ðanh tự”.

Chùa Bà Móc
, ở số 27 phố Nguyễn Thiệp. Không rõ lai lịch của chùa. Chùa cũng không còn cổ vật, trừ tấm bia mang niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 nói về việc tu bổ chùa.

(http://i15.photobucket.com/albums/a366/Cuoi2005/SuuTap/ChuaBaDa1.jpg)



--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 28, 2008, 03:07:08 PM
Chùa Báo Quốc (Sắc Tứ Báo Quốc Tự)

Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:pbzXknmj3W3X8M:http://lh6.ggpht.com/_nmLC5OHG8nQ/R1A3wDrB8MI/AAAAAAAABJ8/9KxdtA-Cgok/pagoda.jpg)





Dừng chân ở giếng Hàm Long để tận hưởng những giây phút mát mẻ nhờ những gàu nước trong trẻo được kéo lên ở độ sâu hơn 4m, du khách sẽ thanh thản khi bước lên những bậc cấp vào chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long.

Tọa lạc ở đường Báo Quốc, thuộc phường Phường Đúc, thành phố Huế, chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong dựng vào cuối thế kỷ XVII, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần. Đến năm 1747, Chúa Nguyễn Phúc Khoát ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Báo Quốc Tự" có ghi dòng chữ : "Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề".

Vào thời Nguyễn, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1808, Hoàng Hậu Hiếu Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng chung, bảo khánh � và đổi tên là chùa Thiên Thọ. Thiền sư Phổ Tịnh được cử làm trụ trì trong thời gian này.

Năm 1824, vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc lấy tên "Báo Quốc Tự". Nhà vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh vào năm 1830.

Đến năm 1858, do chùa bị hư hỏng nhiều, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình khác. Chùa đã được liên tục trùng tu, mở rộng đến cuối thế kỷ XIX.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935, trường Sơ đẳng Phật giáo được mở tại chùa. Đến năm 1940, trường Cao đẳng Phật giáo cũng lại được mở tại đây. Chùa trở thành một trung tâm đào tạo Tăng Ni cho đến ngày nay.

Năm 1957, Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với những nét kiến trúc cổ kính nói riêng.

Chùa được xây dựng kiểu chữ "Khẩu" trong khuôn viên rộng khoảng 2 ha. Qua cổng tam quan cổ kính, đồ sộ, du khách đi qua một sân rộng, đến sân trong trồng nhiều cây tùng và các cây cảnh khác, có lan can bao bọc. Phía trái là khu tháp Tổ, cổ nhất là tháp Ngài Giác Phong, xây năm 1714, cao 3,30m. Ở tiền điện có 4 trụ đắp rồng nổi, ở thành bậc tam cấp cũng có đôi rồng, hai vách trang trí hoa văn bằng mảnh sành rất công phu.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Các tượng thờ đều đặt trong khung kính. Án thờ cao nhất ở gian giữa là tượng Phật Tam Thân và hai bộ kinh tạng Đại Thừa. Trước tượng Tam Thân là bảo tháp thờ xá-lợi Phật. Án thờ kế là tượng đức Phật Thích-ca, hai bên là tượng A-nan và Ca-diếp. Án ngoài cùng đặt một bộ kinh Pháp Hoa, hai bên là chuông, mõ. Án hai bên thờ đức Phật Dược Sư và Bồ-tát Quan Âm. Đây là cách thờ tự đã được sửa đổi từ khi Hòa thượng Phước Hậu được phong Tăng cang và trụ trì chùa Báo Quốc vào năm 1939. Còn trước phong trào Chấn hưng Phật giáo, chùa Báo Quốc cũng như đa số các chùa cổ ở Huế đều chịu ảnh hưởng thuyết "Tam giáo đồng nguyên".

Từ năm 1959, trong khuôn viên của chùa, trường tiểu học Hàm Long được thành lập do thầy Thiên Ân làm Hiệu trưởng. Đến năm học 1961 -1962, trường mở thêm bậc trung học do thầy Thân Trọng Hy làm Hiệu trưởng. Kế tiếp Hiệu trưởng là các thầy Trương Như Thung, Thích Phước Hải, Thích Thiện Hạnh, Thích Đức Thanh, Thích Hải Ấn. Ban đầu trường có tên là Trường trung tiểu học tư thục Hàm Long, sau đổi tên là Trường Bồ Đề Hàm Long, hoạt động đến năm 1975.

Ngày nay, tên trường Hàm Long chỉ là một kỷ niệm ngọt ngào như nước giếng Hàm Long, nhưng đóng góp của chùa Báo Quốc về mặt giáo dục thật đáng ghi nhận.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Danh Lam Nước Việt (www.thuvienhoasen.org)

(còn tiếp )


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: haiduong trong Tháng Chín 29, 2008, 05:53:52 PM
Anh Diep công fu quá nhé! hd nể thật.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 29, 2008, 06:18:09 PM
Chùa Bích Động
không rõ tác giả

(http://www.suutap.com/chuavietnam/minhhoa/chuabichdong.jpg)


Bích Động - Tam Cốc là khu di tích thắng cảnh nổi tiếng thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình, nằm trong rặng núi đá vôi Trường Yên, gần khu di tích Hoa Lư. Thăm Bích Động, ngồi trên con thuyền nhỏ chầm chậm di chuyển trên làn nước trong xanh in bóng mây núi, luồn lách dưới những mái đá phủ thạch nhũ óng ánh muôn màu, lướt qua những vách đá cao ngất còn ghi lại những vần thơ tức cảnh lưu đề của người xưa, chúng ta cảm thông sâu sắc với ý tưởng nghệ thuật của vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293) trước vẻ đẹp tuyệt trần của thiên nhiên:

Tứ biên sơn nhiễu thủy bôi hoàn,
Sơn thủy như đồ cảnh tư nhiên.
(Bốn bề núi vây bọc, nước quanh co;
sông núi như tranh, phong cảnh đẹp tự nhiên).

Chùa Bích Động được xếp hàng thứ hai sau động chùa Hương Tích (Nam thiên đệ nhất động), được gọi là "Nam thiên đệ nhị động" (Động đẹp thứ nhì dưới trời Nam). Phía trước động là đồng lúa rộng mênh mông, có chi nhánh sông Hoàng Long chảy qua, uốn khúc quanh năm ngọn núi quây quần thành cụm như đóa hoa sen.

Trên núi cây cối xanh um, thấp thoáng ẩn hiện những vạt mái ngói rêu phong của ngôi chùa cổ. Chùa Bích Động được dựng với quy mô lớn từ đầu đời Lê. Trong chùa còn quả chuông lớn đúc từ thời vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433), mộ tháp các vị hòa thượng có công xây dựng chùa. Thời Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông 1740 - 1786) chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao gồm Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng, trải ra trên ba tầng núi.

Vào Chùa Hạ phải qua một cầu đá ba nhịp. Chùa xây bằng đá tảng mài nhẵn trên khối nền kè đá cao tới gần 2m, trông khá bề thế. Cột thềm, lan can... chủ yếu đều được tạo dựng bằng chất liệu đá. Mái chồng lợp ngói mũi hài to bản; Hai bên là hai tòa giải vũ; phía trước là sân gạch rộng và phương đình.

Bên trái Chùa Hạ có lối lên Chùa Trung, đục đá thành bậc, mát rượi dưới tán lá cây lưu niên. Chùa Trung nằm kề cửa động, trên vách đá có khắc hai chữ Hán "Bích Động" cực lớn. Phía bên trái có tấm bia "Bích Sơn thiền tự bi" (Bia Chùa Bích Sơn) dựng thời Lê Dụ Tông (1705 - 1729); phía bên phải là tấm bia thời Cảnh Hưng, tạc ngay vào sườn núi.

Từ Chùa Trung, trèo 22 bậc đá nữa, qua Hang Tối có chuông cổ, tượng Phật bằng đồng, qua cổng đá cuốn, sẽ lên tới Chùa Thượng. Chùa dựng trên điểm cao chót vót gần đỉnh núi, đã đổ nát, chỉ còn lại mấy cột đá đứng chơ vơ giữa những cây đại cổ thụ. Đứng trên nền Chùa Thượng có thể ngắm nhìn toàn cảnh Bích Động, như bức tranh sơn thủy tuyệt đẹp, trải rộng ra trước mắt.

Gần Bích Động là động nước Tam Cốc, đền Thái Vị và khu Hành cung - Vũ Lâm đời Trần. Từ Bích Động đến Tam Cốc tuy gần nhưng chỉ có đường thủy. Dòng sông nhỏ, nước xanh thẫm, in bóng vách núi, hoa rừng, đến núi Kiểu thì thắt hẹp lại, luồn quanh ba cái hang (Tam Cốc): Hang Cả, Hang Hai, Hang Ba. Trong hang nhiều nhũ đá, lóng lánh đủ mầu sắc, lại nhễ pha lẫn kim nhũ, ngân nhũ dưới ánh đèn đuốc. Không khí trong hang mát lạnh. Vua Trần Thái Tông (1255 - 1258) đã ví nơi đây với chốn non tiên:

Thủy thức Bồng Lai nguyên bất viễn
Thung dung tuế nguyệt độn phàm trần

(Đến đây mới biết cảnh tiên chốn Bồng Lai đâu có xa;
ngày tháng thong dong xa lánh cõi phàm trần).

Nhà vua đã dựng một am nhỏ trên vạt đất cao gần Hang Cả làm nơi tu hành. Nơi đây vẫn còn di tích một khu đất rộng khoảng hơn một sào, cao hơn mặt ruộng tới trên một mét, nước lên cũng không bị ngập, được gọi là Vườn Am. Hang Cả trong Tam Cốc tuy đẹp nhưng khuất nẻo. Vua Trần Thái Tông lúc đó tuy đã khoác áo cà sa nhưng vốn là ông vua có tài thao lược, đã từng lãnh đạo quân dân thời Trần đạp tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông. Nhà vua đã cho dựng am Thái Vị ở đây, chiêu mộ dân lưu tán đến để khai hoang lập ấp, mở mang đường giao thông, tôn tạo những nơi xung yếu, chuẩn bị sẵn sàng với tình thế khẩn trương, một khi chiến tranh chống xâm lược lại nổ ra. Nhiều cuộc họp quan trọng của triều đình, dưới sự chủ trì của Trần Thái Tông (với cương vị là Thái thượng hoàng) đã được tổ chức ở chính nơi đây. Câu đối ở đền Thái Vị (dựng sau này trên đền Thái Vị) cho ta biết nơi đây đã từng chứng kiến cảnh văn võ bá quan, áo mũ uy nghi, tới lui tấp nập. Cũng như ở phủ Thiên Trường (nơi phát tích của nhà Trần), nơi đây cũng đã từng có nhiều phủ đệ của các vương hầu. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông lần thứ hai 1285), khu Hành Cung - Vũ Lâm trở thành căn cứ địa vững chắc của quân dân đời Trần.

Trải ra trên một địa bàn khá rộng, khu di tích Hành Cung - Vũ Lâm bao gồm nhiều xã thuộc huyện Hoa Lễ (tỉnh Ninh Bình) ngày nay, với nhiều địa danh gợi nhớ lịch sử như: Cửa Quan, Hành Cung, Cống Rồng, Tuân Cáo, Vườn Kho, v.v... Di tích am Thái Vị hiện còn đến nay là một khu đất rộng khoảng sáu sào, xung quanh có lũy đất, ở giữa là ngôi đền thờ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Hiển Từ Hoàng Thái hậu, có tượng đồng đặt trong hậu cung.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 29, 2008, 06:19:42 PM
Chùa Bồ Đề

Nguyễn Thế Long - Phạm Mai Hùng

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:8YEIRG20BgyTfM:http://hanhdth.files.wordpress.com/2008/06/img54974cs.jpg)




Chùa Bồ Đề thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía Tây.

Chùa Bồ Đề là một ngôi chùa có quy mô kiến trúc vừa phải, đã qua nhiều lần sữa chữa. Chùa có tam quan đẹp, tòa tam bảo và nhà tiền đường, thượng điện xây theo kiểu bít đốc, Chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật. Chùa có 1 quả chuông cũ và 1 chuông đúc năm 1814.

Tương truyền khi nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành phố Đông Quan (Hà Nội) có đóng bản doanh tại chùa và đình Cự Chính.

Chùa Bồ Đề (cùng đình Cự Chính và gò Đống Thây) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạn di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật ngày 28/9/1990.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Chùa Hà Nội


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 29, 2008, 06:21:33 PM
Chùa Bửu Long

Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:4wniu-PQhvBlkM:http://www.1650km.com/Resource/Hotspot/ImageGallery/1/2226/Large/1d5jq16509e47cc6a53d44f39be55063a40c10d6bkm28461251.jpg)



Chùa Bửu Phong là một danh lam thắng cảnh không chỉ của tỉnh Đồng Nai mà còn của cả miền Nam. Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long thuộc thôn Bình Điện, xã Tân Bửu, cách thành phố Biên Hòa 4km. Do địa danh ấy nên còn có tên là chùa Bình Điện.

Chùa được Hòa thượng Bửu Phong dựng vào khoảng thế kỷ XVII, lúc đầu chỉ là một am tranh nhỏ thờ Phật. Sách Đại Nam nhất thống chí viết rằng: "Núi Bửu Phong ở phía Nam huyện Phước Chánh 13 dặm, phía Tây trông xuống sông lớn, phía sau làm hộ vệ cho núi Long Ẩn. Trên núi có chùa Bửu Phong khói mây man mác, cây cối um tùm là thắng cảnh thứ nhất trên tỉnh hạt. Xưa có nhà sư là Hòa thượng Bửu Phong lập chùa trên núi, cho nên thường gọi tên là núi Bửu Phong".

Vào cuối thế kỷ XVIII, số người Hoa đến vùng đất này sinh sống ngày càng đông, trong đó có những người mộ đạo Phật đã xây cất lại ngôi chùa bằng gạch ngói. Họ đã mời Thiền sư Thành Trí, pháp danh Pháp Thông - Thiện Hỉ, thuộc Thiền phái Tào Động thế hệ thứ 36, đến trụ trì và tôn làm vị Tổ đầu tiên của chùa. Thiền sư Pháp Thông cũng là người có công khai sơn chùa Long Ẩn dựng trên núi Long Ẩn phía trước núi Bửu Long. Ngày nay tại chùa này còn tháp của Tổ sư Pháp Thông xây theo hình khối lục giác.

Theo tài liệu của ông Nguyễn Hiền Đức in trong sách Thiền sư Việt Nam của Hòa thượng Thích Thanh Từ, thì Hòa thượng Pháp Thông không có đệ tử thay thế, nên Thiền sư Viên Quang là người Minh Hương thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 36 được cử về trụ trì chùa Bửu Phong. Năm 1760, Thiền sư Viên Quang đã trùng tu chùa này.

Đến năm Ký Sửu (1829) chùa được xây cất lại và mở rộng do Tham tướng Nguyễn Văn Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm pháp nguyện hiến cúng. Ngoài ra chùa còn được sửa chữa nhiều lần vào cuối thế kỷ XIX và những năm gần đây.

Đến thăm chùa Bửu Phong, sau khi leo lên 100 bậc cấp, du khách có ấn tượng sâu sắc khi đứng trước tòa kiến trúc này. Mặt tiền có ba cửa vòng cung lớn, hai bên lại có bốn ô cửa vòng cung nhỏ.

Bên trên mặt tiền trang trí các hoa văn đắp nổi bằng mảnh sành, mảnh sứ rất công phu và độc đáo. Trước chùa có tượng Bồ-tát Quan Thế Âm do Yết-ma Thiện Giáo dựng vào năm 1963. Hai câu đối ở hai cột chính nói lên ý nghĩa của tên chùa:

Bửu nhạc phối đề y Thứu Lĩnh
Phong sơn qún mỹ tự Kỳ Viên

Nghĩa là:

Bửu nhạc dịu dàng như Thứu Lĩnh
Phong sơn đẹp đẽ tựa Ký Viên

(Giản Chi dịch)

Bên trong chánh điện có tượng Phật Di-đà cổ. Điện Phật được trang hoàng rực rỡ. Xá-lợi Phật được tôn trí ở ngôi bảo tháp sau chánh điện.
Hiện nay vùng núi Bửu Long đã trở thành một quần thể di tích thắng cảnh du lịch của tỉnh Đồng Nai. Du khách đến Đồng Nai không thể không viếng chùa Bủu Phong nằm trong toàn cảnh núi Bửu Long hay núi Bình Điện và sông Trường Giang, tức sông Đồng Nai:

Phía sau Bình Điện ngăn phong lãnh
Mé trước Trường Giang nước chảy quanh

Chung quanh khu vực này còn có các ngôi tháp cổ và những pho tượng lộ thiên khá lớn như tượng đức Phật đản sinh, tượng đức Phật thiền định, tượng đức Phật nhập niết bàn





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Danh Lam Nước Việt (www.thuvienhoasen.org)


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Chín 29, 2008, 06:27:48 PM
Chùa Bút Tháp

không rõ tác giả

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:j1rqqH3afdJk-M:http://www.limsi.fr/Individu/dang/webvn/icons/IMG_0195.jpg)

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:5TybtAOmT8Yz6M:http://img84.imageshack.us/img84/1156/buthapchuadau131te8.jpg)
mái hiên chùa Bút tháp

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:eXP4rBfxlBgDNM:http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f3/Ph%E1%BA%ADt_Quan_%C3%82m.jpg)
Tượng Thiên thủ thiên nhãn ở chùa Bút tháp.



Chùa Bút Tháp được xây dựng vào thế kỷ 17, nằm trên địa bàn xã Định Tô, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Từ thủ đô Hà Nội theo đường 5 về hướng Đông bắc qua chùa Dâu và bờ đê sông Cầu khoảng 25 km là tới chùa Bút Tháp. Bút Tháp có tên nguyên thuỷ ghi trên tấm bia dựng vào năm Phúc Thái thứ 4 (1646) là "Ninh Phúc Thọ". Ngoài ra, dân trong vùng còn gọi chùa là Nhạn Tháp.

Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, nằm trên một trục dài hơn 100m với 10 toà nhà. Mặt trước chùa là Tam quan và gác chuông; bên phải có tháp Bảo Nghiêm. Chùa chính với 3 dãy nhà Tiền đường - Thiên hương - Thượng điện tạo thành chữ "công". Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các pho tượng. Hơn 70 pho tượng gỗ ở đây được tạc trong tư thế quỳ, đứng, ngồi với nét mặt thành kính trông rất sinh động như pho Kim Đồng - Ngọc Nữ, Thị Giả,... còn tượng La Hán lại thể hiện cảm xúc nội tâm, mang nặng ý tưởng Phật giáo. Trong bộ tam thể tượng Tuyết Sơn nổi lên tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay.

Phủ thờ nằm sau Phật diện là ngôi nhà 5 gian có hai pho tượng đáng chú ý. Hai pho tượng này là chân dung hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (nhà Lê) đầu đội vương miện nhưng khoác áo tu hành, và công chúa Ngọc Duyên. Cả hai pho tượng đều ngồi theo dáng toạ thiền.

Nét đặc trưng nhất ở chùa Bút Tháp là tượng Phật Quan âm nghìn mắt nghìn tay cao 3,7 m , ngang 2,1m, dày 1,15m. Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng - nghệ thuật làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc. Phật bà ngồi trên toà sen hồng qua bệ tượng hình vuông được trang trí bằng những nét chạm khắc cổ với dáng hành đạo, thư thái, đôi mắt quảng đại như bao quát cả không gian vũ trụ. Ở đây ta bắt gặp nhiều mô tip quen thuộc được trang trí ở đỉnh chùa Việt Nam như hoa lá, cây cảnh cùng các con vật - trong đó có rồng - ngư với viên ngọc; lân với quả cầu; quạt hai vòng tròn, sóng nước, hoa sen,... Tượng Quan âm hai tay chắp trước ngực, hai tay để trên đùi với những ngón tay đan chéo biểu tượng cho dáng hành đạo và nhập định; các chùm tay để trần từ sườn, vai, lưng, trên người; những tay được xếp vòng tròn từ lớn đến nhỏ hướng vào tâm (ngay sau gáy Phật) trong lòng mỗi bàn tay lại hiện lên một con mắt. Nhìn tổng thể tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm.

Ngoài tượng Phật Quan Âm, tháp Bảo Nghiêm cũng là một kiến trúc quý. Tháp Bảo Nghiêm 5 tầng, cao 13,5 m và một bút mai giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp được xây dựng bằng đá xanh nhẵn bóng với 8 mặt đều đặn; 5 góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29m. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Đời Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm. Tháp thờ sư tổ Chuyết Chuyết với tước vị vua phong "Minh Việt Phổ Giác thiền sư".





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài

(còn tiếp )


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Mười 04, 2008, 05:36:21 PM
Chùa Chúc Thánh

Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:GlSan4OELgIsTM:http://bp1.blogger.com/_1LdFGIU_eEw/RiEEfPhSVII/AAAAAAAABL0/lK2h812Lwt4/s320/_QuangNam_chuaChucThanh.jpg)

Từ lâu Hội An đã được biết đến như một trong những đô thị cổ hiếm hoi trên thế giới còn giữ được nguyên vẹn những đường nét kiến trúc của nó. Theo bản đồ thời Hồng Đức (thế kỷ XV) thị xã này vốn tên là Đại Chiêm hải - một cảng biển của Vương quốc Chămpa. Về sau nó đã được ghi nhận trên tấm bản đồ Đại Việt của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đác Lộ) được công bố năm 1653, như một thị trấn ven biển của người Việt có tên gọi là Hải Phố. Do cách phát âm của người phương Tây, Hải Phố đã biến thành Faifo.

Đô thị cổ Hội An nằm trên tả ngạn sông Thu Bồn cách thành phố Đà Nẵng 25km về phía Đông Nam, cách biển Đông chỉ 5km. Từ Đà Nẵng, ngoài đường số 1A, du khách có thể đến Hội An bằng con đường nhỏ chạy ven theo bờ biển qua khu thắng cảnh Ngũ Hành Sơn và xã Điện Ngọc.

Chúc Thánh Tự là một trong hai mươi ngôi chùa và hội quán cổ của thị xã Hội An. Nằm trên địa phận phường Cẩm Phô, chùa này đã được công nhận là một di tích lịch sử văn hóa quốc gia từ ngày 19-11-1991.

Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, chùa Chúc Thánh đã được Thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo khai sơn vào thế kỷ XVII. Vị Thiền sư này người tỉnh Phước Kiến, sang nước ta vào thời Chúa Nguyễn Phúc Trân (1687 - 1691). Ông đã tự giới đàn tại chùa Linh Mụ, sau đó vào Hội An dựng chùa Chúc Thánh. Dần dần ngôi chùa này trở nên một ngôi tổ đình lớn ở miền Trung và miền Nam.

Thiền sư Minh Hải có hai vị đệ tử nổi tiếng là Chánh Hiền và An Triêm. Ông có để lại một bài kệ truyền pháp như sau :

Minh thiệt pháp toàn chương
Ấn chân như thị đồng
Chúc Thánh thọ thiên cửu
Kỳ Quốc tộ địa trường
Đắc chính luật vi tuyên
Tổ đạo hạnh giải thông
Giác hoa bồ đề thô
Sung mãn nhân thiên trung

Nghĩa là :

Hiểu thấu pháp chân thực
Ấn chân như hiện tiền
Cầu Thánh quân tuổi thô
Chúc đất nước vững bền
Giới luật nêu trước tiên
Giải và Hạnh nối liền
Hoa nở cây giác ngộ
Hương thơm lừng nhân thiên

(Nguyễn Lang dịch)

Chùa Chúc Thánh đã từng được trùng tu vào những năm 1845, 1849, 1892, 1894,... Đằng sau cổng tam quan là một kiến trúc giản dị, khiêm tốn, mái lợp ngói âm dương, trên đỉnh có đôi rồng chầu mặt nguyệt. Một trong những bảo vật được lưu giữ bên trong chùa là bộ tượng Thập bát La-hán bằng đất nung đặt trên tòa sen, mỗi pho tượng cao 0,45m, bề ngang gối 0,28m, đế 0,16m.

Trong khuôn viên chùa có tháp Tổ Minh Hải - Pháp Bảo. Chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Trí Nhãn trụ trì.





--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Danh Lam Nước Việt (www.thuvienhoasen.org)


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Mười 04, 2008, 05:42:17 PM
PHỤ LỤC  : Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của

Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam

Thích Giải Nghiêm



A. DẪN NHẬP

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Đàng Ngoài-Đàng Trong, một giai đoạn bi ai của lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự phân chia đất nước kéo dài trên 170 năm với 7 lần hưng binh đánh nhau khiến cho muôn dân đồ thán. Cục diện huynh đệ tương tàn của hai nhà Trịnh -Nguyễn chưa kết thúc thì tiếp đến cuộc chiến tranh nông dân Tây Sơn lại nổi lên. Tiếng binh reo, ngựa hý, gươm khua không bao giờ ngớt trên đất mẹ Việt Nam thân yêu trong suốt 200 năm. Thế nhưng, trong suốt hai thế kỷ ấy, Phật giáo tại Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong lại hưng thịnh và phát triển. Cũng thật dễ hiểu, đạo Phật là đạo của Từ Bi và Trí Tuệ, sự phát triển của Phật giáo đã xoa dịu nỗi đau thương của dân tộc do chinh chiến gây nên.

Ở Đàng Ngoài, Phật giáo đã có một quá trình du nhập, định hình nên dễ dàng thuận lợi trong việc ổn định và phát triển. Còn Đàng Trong là một vùng đất mới, được hình thành bởi chủ trương Nam tiến của vua Lê Thánh Tông cho đến các chúa Nguyễn, tuy chưa được ổn định nhưng Phật giáo lại rất hưng thịnh. Tại nơi đây, các dòng Thiền được truyền bá và phát triển mạnh mẽ, trong đó có Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh là một trong những chi nhánh của dòng Thiền Lâm Tế tại Trung Hoa. Dòng Thiền Lâm Tế Chúc Thánh được Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo khai sáng vào những năm cuối thế kỷ XVII tại chùa Chúc Thánh tỉnh Quảng Nam. Vì thế, dòng Thiền này còn có tên gọi khác là Thiền phái Minh Hải - Pháp Bảo.

Kể từ khi Tổ sư Minh Hải khai sơn xuất kệ truyền thừa, Thiền phái Chúc Thánh đã trải trên 300 năm hình thành và phát triển. Trong suốt chuỗi thời gian song hành cùng dân tộc, các Thiền sư thuộc Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh đã đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp mọi nơi và góp vào lịch sử Phật giáo Việt Nam những trang sử vàng son châu ngọc. Ngày nay, Thiền phái Chúc Thánh có mặt khắp các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam, thậm chí còn phát triển mạnh tại các nước Âu - Mỹ. Với một Thiền phái lớn như vậy, nhưng các nhà viết sử Phật giáo Việt Nam lại ít đề cập đến, nếu có cũng chỉ vài nét khái lược. Không muốn bị lãng quên bởi thời gian, nhằm khẳng định lại vị thế và những cống hiến tích cực của Thiền phái Chúc Thánh trong dòng sử Phật Việt nên người viết đã chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp. Đây cũng là một việc làm mang tính chất “Ẩm Thủy Tư Nguyên" của hàng con cháu đối với các bậc Tổ sư trong Tông Môn đã dày công giáo hóa. Đồng thời, cũng là tâm nguyện của người viết thực hiện theo di ý của Bổn Sư, ngõ hầu báo đáp thâm ân giáo dưỡng trong muôn một.

 

2. NHỮNG TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:

Từ trước đến nay, đã có một số tác phẩm đề cập đến Tổ sư Minh Hải và dòng Thiền Chúc Thánh, chẳng hạn như: Việt Nam Phật giáo sử luận (tập II) của Nguyễn Lang, NXB Văn Học Hà Nội,1992; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh,1993; Việt Nam Phật giáo sử lược của Mật Thể, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993; Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức, NXB TP.HCM, 1995; Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (giáo trình lưu hành nội bộ) của Chơn Phát, 1998. Trong những tác phẩm này, chỉ có cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức là đề cập nhiều đến Thiền phái Chúc Thánh. Nhưng rất tiếc, những sử liệu ông đưa ra vẫn còn nhiều điều cần phải bàn. Gần đây, thầy Thích Hạnh Thiện với luận văn “Thiền sư Minh Hải và Tổ đình Chúc Thánh”, đề tài tốt nghiệp Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế - Khóa I (1997 - 2001) cũng rất công phu. Tuy nhiên, Thầy chỉ giới hạn nơi Tổ sư Minh Hải và Tổ đình Chúc Thánh chứ chưa đi sâu, làm sáng tỏ hơn những đóng góp của Thiền phái Chúc Thánh đối với lịch sử Phật giáo Quảng Nam nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Qua những công trình của người đi trước, chúng tôi xin trân trọng cám ơn và ghi nhận. Bởi lẽ, những tư liệu này giúp ích rất nhiều cho việc tham khảo và cũng là nguyên nhân để chúng tôi thực hiện  luận văn này.

 

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Theo như đề tài của  luận văn, người viết chỉ đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của Thiền phái Chúc Thánh tại Quảng Nam.

- Về mặt thời gian: Từ những năm đầu khi Ngài Minh Hải-Đắc Trí-Pháp Bảo đời 34 Lâm Tế khai sơn Chúc Thánh cho đến thế hệ truyền thừa đời 43, 44 của Thiền phái này. Như vậy, khoảng thời gian này kéo dài từ cuối thế kỷ XVII đến những năm  cuối thế kỷ XX.

- Về mặt không gian: đề tài giới hạn trong phạm vi tỉnh Quảng Nam, là nơi phát tích của Thiền phái Chúc Thánh.

- Trong chương 3, người viết xin được tóm lược vài nét về sự truyền thừa, ảnh hưởng của Thiền phái Chúc Thánh đối với sinh hoạt của Phật giáo tại các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam cũng như Hải ngoại. Từ đó, nói lên được tầm quan trọng cũng như những đóng góp của dòng Thiền này đối với Đạo pháp và Dân tộc.

 

4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nguồn tư liệu, đây là vấn đề ưu tư và nan giải của người viết. Bởi lẽ, xưa nay chư Tổ của Thiền phái với tư tưởng “Nhạn vô lưu tích chi ý” nên không chú trọng đến việc ghi lại sử liệu. Có chăng cũng chỉ còn lại một vài văn bia bằng đá ghi lại tiểu sử các vị Tổ hay bia công đức ở rải rác một số chùa trong tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu là kết hợp giữa nghiên cứu văn bản và nghiên cứu điền dã. Nghĩa là người viết cố gắng sưu tầm tất cả những sử liệu liên quan đến Thiền phái Chúc Thánh nằm rải rác khắp nơi. Đồng thời đi khảo sát thực tế tại một số chùa và tham vấn các vị trưởng lão trong môn phái. Từ đó, hệ thống lại, đối chiếu phân tích để có thể đưa ra một sự chuẩn xác theo yêu cầu của đề tài.

 

5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.

Đề tài này sẽ có những đóng góp cụ thể như sau:

a. Xác định hành trạng của Tổ sư Minh Hải cũng như quá trình khai sơn chùa Chúc Thánh để tránh những hiểu lầm, suy luận không căn cứ của một số vị khi tìm hiểu về Tổ sư Minh Hải và Thiền phái Chúc Thánh.

b. Phác họa lại quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp tích cực của Thiền phái Chúc Thánh đối với Đạo pháp và Dân tộc. Từ đó, khẳng định lại tầm quan trọng và vị trí của Thiền phái này trong dòng chảy của lịch sử Phật giáo Việt Nam.

c. Với tinh thần “Ôn cố tri tân”, tìm hiểu về cội nguồn của Tông phong Pháp phái để soi gương cổ đức mà nhìn lại chính mình. Đồng thời, người viết mong rằng, luận văn sẽ là tiền đề sơ khởi để về sau có thể đi sâu hơn nữa trong lãnh vực nghiên cứu này.

Tập luận văn này hoàn thành một phần nào đó đánh giá quá trình 4 năm theo học tại Học Viện Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian này, chúng tôi nhận được rất nhiều sự trợ duyên từ chư Tôn đức Tăng Ni cũng như quý đạo hữu Phật tử. Qua đây, chúng tôi cũng xin chân thành cảm niệm và nhớ mãi những thắng duyên ấy. Đồng thời, người viết xin trân trọng tri ân giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã tận tình hướng dẫn để tập luận văn này được hoàn thành như ý nguyện.

 

Chương 1

THIỀN SƯ MINH HẢI VÀ SỰ KHAI SÁNG

THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH

 

1.1 BỐI CẢNH QUẢNG NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XVII.

1.1.1 Khái Quát Quá Trình Hình Thành Tỉnh Quảng Nam.

 

Kể từ độ cha ông mang gươm đi mở nước với chủ trương Nam tiến, cánh chim Lạc đã sải cánh bay mãi vào phương Nam đến tận Hà Tiên-Rạch Giá. Một trong những vùng đất đầu tiên sáp nhập vào bản đồ Đại Việt chính là tỉnh Quảng Nam. Mảnh đất “chưa mưa đã thấm” này đã ghi lại những dấu chân hoang sơ  của người Việt trong suốt thời gian mở mang bờ cõi.

Sau cuộc hôn nhân của Huyền Trân công chúa với vua Chiêm là Chế Mân vào năm 1308, lãnh thổ Đại Việt mở rộng đến Quảng Bình và Quảng Trị. Đến thời nhà Hồ (1400-1407), sau khi thương thảo thì vua Chiêm nộp thêm đất Chiêm Động và Cổ Lũy, tức là Quảng Nam ngày nay. Vua Hồ Quý Ly chia đất này thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa rồi đặt lộ Thăng Hoa thống lãnh bốn châu ấy. Đến thời vua Lê Thánh Tông, Hồng Đức năm thứ 2 đã Tổ chức lại hành chánh các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; đồng thời đặt làm Đạo thừa tuyên Quảng Nam. Danh từ Quảng Nam bắt đầu có tên trên bản đồ Đại Việt từ lúc ấy.

Vào thế kỷ XV, Đạo thừa tuyên Quảng Nam có diện tích từ phía Nam Thuận Hóa vào đến núi Thạch Bi ở Phú Yên bao gồm 4 phủ 14 huyện [14,35]. Sau đó, vào năm 1490 đổi lại là xứ Quảng Nam, năm 1520 gọi là trấn Quảng Nam và đến khi Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm 2 xứ Thuận-Quảng thì đổi lại là dinh Quảng Nam. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đổi lại là Trực lệ Quảng Nam thuộc kinh sư. Đến năm 1832, vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Quảng Nam. Sau Cách mạng tháng 8-1945 và đến năm 1975 thì Quảng Nam Đà Nẵng có 12 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố. Đến năm 1997 tách tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng thành 2 đơn vị: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam gồm có 12 huyện và 2 thị xã [14, 84].

Như vậy, kể từ khi sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và có tên gọi Quảng Nam, tính đến nay tỉnh Quảng Nam đã có trên 500 năm lịch sử. Trải qua bao sự hưng phế, thịnh suy của các triều đại cũng như các chính thể và tùy theo sự phân chia địa lý hành chính mà diện tích tỉnh Quảng Nam có khi rộng, khi hẹp. Tuy vậy, Quảng Nam vẫn lại là Quảng Nam chứ không thay đổi tên gọi nào khác và mảnh đất này có vị trí rất đặc biệt trong tiến trình mở nước của  lịch sử dân tộc.

Ngày hôm nay, Quảng Nam được coi như là vùng đất trung tâm của hai đầu Tổ quốc. Nhưng cách đây khoảng 3 thế kỷ, Quảng Nam là biên giới phía Nam của Đại Việt, một vùng đất mà mỗi khi nghe nhắc đến thì người dân tại các đạo thừa tuyên Thanh Hóa, Nghệ An thường than thở:

“Dậm chân xuống đất kêu trời

Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra”

Ca dao

Như vậy, Quảng Nam là mảnh đất “đầu sóng ngọn gió” trong những năm đầu thế kỷ XVII và suốt cả cục diện Đàng Ngoài-Đàng Trong. Về địa hình, Quảng Nam có bờ biển chạy dài từ Bắc đến Nam, sau lưng là dãy Trường Sơn sừng sững án ngữ suốt cả một vùng biên giới Việt-Lào. Do Quảng Nam có một vị trí quan trọng nên được các chúa Nguyễn quan tâm lưu ý. Dưới thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam được coi như là kinh đô thứ hai sau Thuận Hóa. Vì thế, các chúa Nguyễn đều cho các Thế tử vô trấn nhậm Quảng Nam một thời gian trước khi chính thức nối ngôi Chúa. Về chính trị, Quảng Nam là một trung tâm hành chánh nối liền phủ Chúa đến các tỉnh mới lập ở phía Nam cũng như giao lưu quốc tế. Về quân sự, Quảng Nam có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong việc phòng thủ chánh dinh Thuận Hóa  cũng như mở mang bờ cõi. Thời bấy giờ, dinh trấn Thanh Chiêm-Quảng Nam là căn cứ quân sự thủy lục hùng mạnh nhất của chúa Nguyễn. Từ căn cứ này, thủy quân dễ dàng tiếp cứu Quảng Bình khi có quân Trịnh xâm lấn và ngăn chặn tàu nước ngoài quấy nhiễu vùng biển. Cũng từ đây, bộ quân dễ dàng hành quân hỗ trợ cho các cuộc Nam tiến. Về phương diện ngoại giao, kinh tế, văn hóa thì hải cảng Hội An thuộc dinh Quảng Nam là một trong những thương cảng phồn thịnh bậc nhất Đàng Trong thời bấy giờ. Đây là nơi giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trong vùng và các nước phương Tây. Nơi đây là nơi mà các đoàn ngoại giao nước ngoài đến nghỉ chân  để tiếp tục ra Thuận Hóa gặp nhà Chúa. Các nhà văn hóa lớn nước ngoài có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam như Hòa thượng Thạch Liêm (1633-1704), học giả Chu Thuấn Thủy (1600-1682), giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1593-1660) v.v… đều đến ngụ Hội An một thời gian và đánh giá vùng đất này có tiềm năng về mọi mặt, là cửa ngõ quan trọng của Đại Việt.

 

1.1.2 Tình Hình Chính Trị Xã Hội:

Sau cái chết của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng lo sợ cho số phận của mình nên đến vấn kế Nguyễn Bỉnh Khiêm. Với tám chữ ngắn gọn “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Trạng Trình đã mở cho Nguyễn Hoàng một con đường sống, không những vậy mà còn tạo dựng nên một cơ nghiệp lâu dài về sau.

Tháng 10 năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông phong tước Đoan quận công và cử vào trấn nhậm đất Thuận Hóa. Đến năm 1570, Ông được nhà vua cho kiêm lãnh trấn thủ Quảng Nam. Từ đó, Nguyễn Hoàng ra sức chiêu hiền đãi sĩ, mộ phu khai hoang vùng đất mới này. Với những chính sách đối nội và đối ngoại khôn khéo, chúa Tiên-Nguyễn Hoàng đã dần dần biến hai xứ Thuận-Quảng thành một vùng đất trù phú. Ông được sử sách ca ngợi như sau:  “Đoan quận công vũ trị vài mươi năm, chính trị khoan hòa, thường ra ân huệ, dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm trấp kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm mến ân đức, dời đổi phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi người đều cố gắng, vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư lạc nghiệp” [7,115-116].

Kế nghiệp chúa Tiên-Nguyễn Hoàng (1558-1613), các vị chúa anh minh của họ Nguyễn như: chúa Sãi-Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635); chúa Thượng- Nguyễn Phúc Lan (1635-1648); chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) v.v…đã củng cố thế lực của mình, dần dần tạo thành cục diện đối lập với thế lực họ Trịnh ở phương Bắc mà lịch sử gọi là Đàng Ngoài-Đàng Trong. Với chủ trương nhất quán “Nam tiến, Bắc cự”, các chúa Nguyễn đã khiến cho họ Trịnh phải lấy sông Gianh phân chia biên giới, đồng thời lãnh thổ Đàng Trong được mở rộng vào vùng đất phương Nam.

So với Đàng Ngoài, tình hình chính trị xã hội tại Đàng Trong tương đối ổn định hơn. Ở vùng đất mới này, với chính sách khoan dung của Chúa Nguyễn nên xã hội không có sự phân tầng rõ rệt như của họ Trịnh. Khôn khéo trong chính trị đã đưa lại một kết quả khả quan là lãnh thổ vẫn mở rộng vào miền Nam nhưng không có một cuộc xung đột nào đáng kể.

Với chính sách mở rộng, thông thoáng trong ngoại giao, các chúa Nguyễn đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các thương gia nước ngoài vào Đàng Trong buôn bán. Thương cảng Hội An là một trong những trung tâm kinh tế thương mại phồn thịnh thời bấy giờ. Nơi đây, có thể được coi là con đường tơ lụa trên biển nối liền Đại Việt với các nước trong khu vực cũng như các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v.v…. Sự phồn thịnh ấy được ghi nhận như sau: “Nhân dân đông đúc, cá tôm rau quả tập hợp mua bán suốt ngày. Thuốc Bắc hay các món hàng khác, tìm mua ở Thuận Hóa không có thì người mua vào mua ở đây” [12,154].

Về nông nghiệp, các chúa Nguyễn cho quan lại đứng ra chiêu mộ dân đi khai khẩn cũng như dùng quân đội đồn trú để khai hoang. Điều này đã đem lại một kết quả rất khả quan: “Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, các chúa Nguyễn đã biến nhiều vùng đất hoang thành ruộng đồng tươi tốt, thành xóm làng trù mật và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân” [22, 286].

Lúc bấy giờ tại Trung Quốc, bộ tộc Mãn Châu từ phương Bắc tràn xuống đánh chiếm Trung Nguyên, lật đổ nhà Minh lập ra vương triều Mãn Thanh. Các cựu thần nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh nên đã bỏ nước ra đi. Mảnh đất Đại Việt trở thành điểm đến của những người Trung Hoa vong quốc. Tại Đàng Ngoài, các chúa Trịnh dè dặt trong vấn đề cho người Hoa cư ngụ. Trái lại, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong ưu đãi để người Hoa định cư và cho họ thành lập từng làng sống theo cộng đồng. Vì thế, các làng Minh Hương được thành lập nhiều nơi ở Huế, Hội An, Gia Định v.v…và những người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế cũng như mở mang bờ cõi. Cụ thể như các tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình lập ra Cù Lao Phố, Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến lập ra Mỹ Tho Đại Phố, Mạc Cửu cũng đã đem đất Hà Tiên sáp nhập vô lãnh thổ Đại Việt dưới sự cai trị của chúa Nguyễn.

Tóm lại, từ khi mới thành lập cho đến những năm cuối thế kỷ XVII, tình hình chính trị Đàng Trong tương đối ổn định, lãnh thổ mở rộng về phương Nam, kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải thiện. Sự ổn định đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo phát triển, trong đó Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tư tưởng của người dân ở Đàng Trong.

 

1.1.3 Thái Độ Của Các Chúa Nguyễn Đối Với Phật Giáo.

Kể từ khi vào trấn nhậm hai xứ Thuận-Quảng, chúa Tiên-Nguyễn Hoàng cũng như các Chúa về sau đều là những người sùng mộ Phật pháp. Dưới sự hộ trì của nhà Chúa, Phật giáo tại Đàng Trong phát triển rất mạnh. Tuy rằng các Chúa không lấy Phật giáo làm quốc giáo như thời Lý-Trần, nhưng lại lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho chính sách an dân trị quốc. Vì sao các chúa Nguyễn lại để tâm đến việc phát triển Phật giáo? Sau đây là hai nhận xét của các nhà nghiên cứu sử sẽ cho chúng ta thấy được phần nào của vấn đề: “Quá trình tạo lập xứ Đàng Trong cũng là quá trình liên tục Tổ chức khẩn hoang. Lực lượng khẩn hoang đông đảo nhất chính là những người nông dân nghèo khổ. Họ không có điều kiện để cho con em tới trường, và với số ít ỏi có điều kiện thì đạo thánh hiền mà Nho gia rất mực tôn kính, trong họ cũng đã dần dần bớt thiêng. Họ tìm đến những gì phù hợp hơn, thiết thực vỗ về và an ủi họ khi đối mặt với vùng đất mới bao la và dữ dội. Họ cần trước hết là những bài học về đức làm người, cụ thể, giản dị và sinh động chứ không phải là (bởi vì cũng khó có thể là) sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô số những triết lý cao siêu. Và, Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành giàu nhiệt huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng đáp ứng được điều này. Ở đâu có đất mới được mở ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái đối với một xã hội lầm lũi” [21, 156]. Nhà sử học Li Tana cũng nhận xét như sau: “Trong tình hình mới này, các nhà lãnh đạo họ Nguyễn cảm thấy cần phải đưa ra một cái gì đó khác với tín ngưỡng của người Chăm để củng cố các di dân người Việt về mặt tinh thần và tâm lý. Không thể sử dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối với triều đình. Tuy nhiên, họ Nguyễn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt với truyền thống của người Việt ở phía bắc. Trong những hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại Thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ Nguyễn. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và mặt khác làm lắng động các mối lo âu của người di dân mà không đặt lại vấn đề về tính hợp pháp của những người cai trị” [13, 194].

Trở lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta thấy những điều mà các chúa Nguyễn làm là hoàn toàn phù hợp với tình hình chính trị thực tại. Trong giai đoạn đầu của cuộc Nam tiến, những người Việt di cư sống lẫn lộn với người Chăm. Lúc ấy, văn hóa của người Chăm vẫn còn nhiều và đôi lúc ảnh hưởng đến người Việt. Vì lẽ đó, người Việt phải tìm về với cội nguồn văn hóa của mình để an ủi trong những lúc xa xứ. Lúc này, nếu đem Nho giáo ra áp dụng thì không phù hợp. Bởi lẽ, những người dân Việt đã chán ngán với tư tưởng hủ lậu của Nho giáo đã gò bó họ bao đời. Vả lại Nho giáo hoàn toàn xa lạ với văn hóa người Chăm nên dễ đưa đến sự xung đột tôn giáo, ảnh hưởng đến sự cai trị của nhà Chúa. Chỉ có Phật giáo Đại Thừa mới thỏa mãn được nhu cầu của cả hai bên. Vì Phật giáo Đại Thừa với tư tưởng khoáng đạt không chấp nê sự chính thống hay phản nghịch của chúa Nguyễn. Các nhà sư Phật giáo với sự nhập thế tích cực đã đem lại niềm an lạc trong đời sống tinh thần của những người Việt di cư. Thêm vào đó, Phật giáo Đại Thừa có những sự tương đồng trong việc thờ tự của người Chăm nên họ không cảm thấy bỡ ngỡ khi tiếp cận. Qua đây, ta thấy các chúa Nguyễn dựa vào Phật giáo để trị nước là hoàn toàn phù hợp.

Xuất phát từ nguyên nhân trên, cộng với tâm đạo của mình, các chúa Nguyễn đã trùng kiến và xây dựng rất nhiều chùa trên hai xứ Thuận-Quảng. Năm 1601, chúa Tiên-Nguyễn Hoàng cho trùng tu chùa Thiên Mụ [1,72-73]. Năm 1602, khi đi lạc thành chùa Thiên Mụ, Chúa lại phát nguyện trùng tu chùa Sùng Hóa. Năm 1607, Chúa lập chùa Bửu Châu ở Quảng Nam. Năm 1609, Chúa lập chùa Kính Thiên ở xã Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy-Quảng Bình.

Năm 1665, chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần trùng tu chùa Thiên Mụ. Năm 1667, Chúa lại cho xây dựng chùa Vĩnh Hòa ở cửa biển Tư Dung. Tại lễ khánh thành này, Chúa cho mở đại hội Du Già bảy ngày đêm để tạ ơn Tam Bảo và siêu độ vong linh.

Năm 1688, chúa Nghĩa-Nguyễn Phúc Trăn cho trùng tu chùa Vĩnh Hòa. Đồng thời, Chúa còn nhờ Thiền sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh cao tăng, pháp tượng, pháp khí sang hoằng hóa tại Đàng Trong.

Năm 1694, Quốc chúa-Nguyễn Phúc Chu thỉnh Hòa thượng Thạch Liêm sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm -Thuận Hóa. Quốc Chúa quy y với Ngài Thạch Liêm, được đặt pháp danh Hưng Long, hiệu là Thiên Túng đạo nhân.

Qua những sự kiện trên, chúng ta có thể thấy rằng: Ngoài chủ trương vận dụng tư tưởng Phật giáo để trị nước, các Chúa Nguyễn thực sự là những người sùng mộ đạo Phật, tôn trọng chư tăng, làm chùa, tạo tượng, đúc chuông v.v… Chính vì lẽ đó mà các Thiền sư từ Trung Hoa đã đến Đàng Trong hoằng hóa. Phật giáo nơi đây thật sự hưng thịnh, đặc biệt là dòng Lâm Tế phát triển rất mạnh tại vùng đất mới này.

 

1.1.4  Phật Giáo Quảng Nam Trước Khi Thiền Phái Chúc Thánh Ra Đời.

Người Việt đi đến đâu là lập chùa thờ Phật đến đó. Đây là một vấn đề tất yếu, bởi lẽ tinh thần Phật giáo đã thấm sâu vào trong tư tưởng tình cảm của mỗi người dân Việt. Vì thế, kể từ khi đất Quảng Nam thành lập, chúng ta đã thấy có bóng dáng của những ngôi chùa cũng như các vị Thiền sư hoằng hóa tại nơi đây.

Những ngôi chùa đầu tiên tại xứ Quảng mà chúng ta được biết là chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu do chúa Tiên-Nguyễn Hoàng xây dựng vào năm 1607. Ngôi chùa thứ hai là chùa Chiên Đàn tại Hội An do cộng đồng người Hoa xây dựng vào những năm 1653. Chùa này còn có những tên gọi khác như là chùa Di Đà, Quan Âm hay Minh Hương Phật Tự.

Trong những năm đầu giữa thế kỷ XVII, Thiền sư Minh Châu-Hương Hải tu học và hoằng hóa tại Quảng Nam. Tổ tiên Ngài vốn người Nghệ An, theo phò chúa Tiên vào định cư tại phủ Thăng Hoa. Ngài sinh năm 1628, thuở thiếu thời là nho sinh nơi cửa Khổng sân Trình, thi đậu ra làm quan tới chức tri phủ huyện Triệu Phong. Năm 1652, Ngài đến thọ giáo với Tổ Lục Hồ-Viên Cảnh và Đại Thâm-Viên Khoan, để rồi 3 năm sau xuất gia với pháp danh Minh Châu-Hương Hải và hiệu là Huyền Cơ -Thiện Giác. Sau đó, Ngài dong thuyền ra đảo Tiêm Bút La (Cù Lao Chàm ngày nay) lập thảo am tu hành. Đạo phong của Ngài đã ảnh hưởng đến mọi tầng lớp nhân dân và được Chúa Nguyễn mời ra Thuận Hóa hoằng pháp: “Một thời gian sau ông đóng thuyền đến Cù Lao Chàm ở ngoài cửa biển Hội An, dựng ba gian am nhỏ để ở và tu trì. Thời gian Thiền sư ở đảo này khoảng chục năm. Tiếng tăm tu Thiền của ông được nhiều người biết đến. Trong số đó có Hoa Lễ Hầu là Tổng thái giám. Hoa Lễ Hầu tâu với Dũng Quốc Công Nguyễn Phúc Tần (1649 - 1687) về Thiền sư và Thiền sư được quốc công mời về trụ trì viện Thiền tịnh ở núi Qui Kỉnh. Mẹ của Nguyễn Phúc Tần và 3 con là Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ đều đến quy y cùng đông đảo quan lính.” [15, 14-15]

Rất tiếc là một thời gian sau, chúa Hiền-Nguyễn Phúc Tần nghe theo lời sàm tấu sinh tâm nghi kỵ Ngài. Vì thế, vào tháng 3 năm 1682, Ngài cùng với 50 đồ chúng đóng thuyền vượt biển ra Đàng Ngoài. Đây cũng là một Tổn thất lớn cho Phật giáo Quảng Nam lúc bấy giờ.

Vào những năm 1677,  Thiền sư Hưng Liên-Quả Hoằng là đệ tử của Ngài Thạch Liêm Hòa thượng từ Trung Quốc sang Đàng Trong giáo hóa. Ngài lập đạo tràng tại chùa Tam Thai núi Ngũ Hành tỉnh Quảng Nam và được Quốc chúa -Nguyễn Phúc Chu phong làm Quốc sư.

Năm 1695, sau khi giới đàn tại chùa Thiền Lâm-Thuận Hóa viên mãn, Ngài Thạch Liêm vào Hội An để đón thuyền về lại Quảng Đông. Trong thời gian ngụ lại Hội An, Ngài đã mở đàn truyền giới cho khoảng 300 Tăng tục tại nơi đây: “ Tăng tục luôn luôn đến xin truyền giới, nhơn nghĩ còn mười ngày nữa mới khai thuyền, bọn chúng đã thành tâm khẩn cầu, tiếc chi khó nhọc hai ba ngày, không thành tựu cho vẹn toàn công đức; bèn truyền rao xa gần, hẹn đến ngày mồng 7 truyền giới. Đến ngày kỳ hẹn, tứ chúng giới tử hơn 300 người, đến thụ giới hoàn tất. Khiến quốc sư và Hậu đường cấp phát điệp - văn cho họ, mặc khác tư giấy trình Quốc vương xin dùng ấn để đóng kiềm điệp văn.”[12, 158]

Điểm qua một vài dữ kiện, ta thấy lúc bấy giờ Phật giáo đã hình thành tại Quảng Nam. Tuy rằng các Ngài Minh Châu, Thạch Liêm giáo hóa nơi đây không lâu nhưng đạo phong của các Ngài ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp nhân dân xứ Quảng. Giới đàn vào ngày mồng 7 tháng 7 năm 1695 tại chùa Di Đà-Hội An đủ để chứng minh rằng người dân xứ Quảng thời bấy giờ phần lớn hướng tâm đến đạo Phật và khát khao tìm cầu giáo pháp. Vì các vị Thiền sư đến rồi đi nên những sinh hoạt Phật giáo tại đây thường gián đoạn không được ổn định. Mãi đến khi Thiền sư Minh Hải-Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh và dòng Thiền Chúc Thánh thành lập thì Phật giáo Quảng Nam mới ổn định và phát triển mạnh.

 

1.2 THIỀN SƯ MINH HẢI VÀ SỰ KHAI SÁNG THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH.

1.2.1 Sự Ra Đời Của Thiền Phái Chúc Thánh.

Như trên đã trình bày, trước khi Thiền phái Chúc Thánh ra đời, tại Quảng Nam đã có nhiều vị Thiền sư danh tiếng giáo hóa như: Minh Châu, Thạch Liêm, Hưng Liên v.v. Tuy nhiên, các Ngài chỉ trụ một thời gian rồi ra đi. Ngài Minh Châu cùng với 50 đệ tử vượt biển ra Đàng Ngoài vào tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682). Có thể sợ bị liên lụy nên không một vị đệ tử nào của Ngài ở lại Quảng Nam tiếp tục giáo hóa. Vì thế, sự ảnh hưởng của Ngài mau chóng phôi phai theo năm tháng.

Kế đến là hai thầy trò Ngài Thạch Liêm và Hưng Liên của dòng Tào Động. Ngài Thạch Liêm qua chỉ một thời gian ngắn, còn Ngài Hưng Liên được phong Quốc sư và trụ tại chùa Tam Thai. Tuy nhiên, sau khi Ngài Thạch Liêm về nước và Ngài Hưng Liên viên tịch thì sự truyền thừa của dòng Tào Động tại Quảng Nam xem như không còn. Điều này có hai lý do giải thích như sau:

- Thứ nhất, Ngài Thạch Liêm và Hưng Liên đều là những vị tài giỏi nhưng tầm ảnh hưởng của các Ngài chỉ trong nội vi nhà Chúa và giới lãnh đạo mà thôi, chứ chưa có sự ảnh hưởng lan rộng trong lòng quần chúng Phật tử.

- Thứ hai, sau khi Ngài Hưng Liên viên tịch, các đệ tử của Ngài không có ai có đủ khả năng kế thừa Ngài để phát triển tông phong. Vì lẽ đó, dòng Tào Động cũng mai một và không còn dấu tích trên đất Quảng.

Sự hoằng hóa của các Thiền sư kể trên đã làm cho người dân đất Quảng thấm nhuần Phật pháp. Nhưng các Ngài tùy duyên giáo hóa, chợt đến chợt đi khiến cho người con Phật nơi đây cảm thấy hụt hẫn, thiếu thốn. Chính vì lẽ đó, khi Thiền sư Minh Hải quyết định trụ lại Quảng Nam hoằng hóa đã đáp ứng được niềm khát khao mong đợi của đa số tín đồ quần chúng. Nếu như các Ngài Minh Châu, Thạch Liêm là người có công xây dựng nền móng thì Ngài Minh Hải là người có công kiến tạo tòa nhà Phật giáo Quảng Nam.

 

1.2.2. Lược Sử Thiền Sư Minh Hải.

Thiền sư Minh Hải (1670-1746) thế danh Lương Thế Ân, sinh vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Thân phụ là Lương Đôn Hậu, thân mẫu là Trần Thục Thận, Ngài là người con thứ hai trong gia đình.

Năm Mậu Ngọ (1678), khi vừa lên 9 tuổi, Ngài được song thân đưa đến xuất gia tại chùa Báo Tư thuộc tỉnh Phước Kiến. Sau một thời gian dài tu học, khi tuổi tròn 20, Ngài được đăng đàn thọ cụ túc giới với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo. Như vậy, Ngài nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế truyền theo bài kệ của Ngài Vạn Phong-Thời Ủy.

Năm Ất Hợi (1695), Ngài cùng với các Ngài Minh Vật-Nhất Tri, Minh Hoằng-Tử Dung, Minh Lượng-Thành Đẳng v.v… trong hội đồng thập sư cùng Hòa thượng Thạch Liêm theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn Phúc Chu sang An Nam truyền giới. Phái đoàn xuống thuyền tại bến Hoàng phố và cập bến Hội An vào ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1695). Sau đó, đoàn ra Thuận Hóa, được chúa Nguyễn Phúc Chu đón tiếp trọng thể và thỉnh về ngụ tại chùa Thiền Lâm.

Ngày mồng 1 tháng 4 năm Ất Hợi (1695), giới đàn khai mở do Ngài Thạch Liêm làm Đàn đầu Hòa thượng.  Giới đàn truyền các giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ Tát cho 1400 giới tử trong đó có cả các vương hầu khanh tướng. Đặc biệt, chúa Nguyễn Phúc Chu được truyền riêng một đàn giới và Hòa thượng đàn đầu đã ban cho pháp danh là Hưng Long.

Sau khi giới đàn thành tựu, ngày 28 tháng 6 năm Ất Hợi (1695), phái đoàn trở vào lại Hội An để chờ thuyền về nước. Tại Hội An, đoàn trú ở chùa Di Đà (sau này đổi tên là Chiên Đàn) và thể theo lời thỉnh cầu của chư Tăng cũng như bổn đạo, Ngài Thạch Liêm lập đàn truyền giới cho 300 giới tử. Ngày 19, đoàn rời Hội An ra Cù Lao Chàm, lên thuyền chờ gió. Ngày 30 thuyền nhổ neo nhưng bị nghịch gió nên phải trở lại Hội An. Ngày 12 tháng 10, chúa Nguyễn mời Ngài Thạch Liêm trở lại Phú Xuân lập đàn cúng Phật truyền giới một lần nữa tại chùa Thiên Mụ. Sau đó đến ngày 24 tháng 6 năm Bính Tý (1696) Ngài Thạch Liêm cùng với phái đoàn trở về Quảng Đông và không qua nữa.

Sau khi Ngài Thạch Liêm về nước, một số vị trong phái đoàn ở lại An Nam trác tích khai sơn hoằng hóa như Ngài Minh Hoằng-Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tông ở Thuận Hoá, Ngài Minh Lượng-Thành đẳng khai sơn chùa Vạn Đức-Hội An và Ngài Minh Hải-Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh tại Cẩm Phô-Hội An.

Từ những ngày đầu tiên ở nơi mảnh đất đầy cát bụi này, Ngài chỉ lập một thảo am để tịnh tu phạm hạnh. Dần dần hương giới đức của Ngài lan tỏa khắp mọi nơi, ảnh hưởng đạo đức đến người dân phố Hội và các vùng phụ cận nên đồ chúng ngày một quy ngưỡng tham học.

Sau gần 50 năm sang An Nam hoằng hóa, đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), Ngài  gọi đồ chúng đến dặn dò và đọc kệ phú chúc:

原    浮    法    界    空

真    如    無    性    相

若    了    悟    如    此

眾    生    與    佛    同

Âm:

Nguyên phù pháp giới không

Chơn Như vô tánh tướng

Nhược liễu ngộ như thử

Chúng sanh dữ Phật đồng  [18, 19]

Sau khi phú chúc, Ngài thâu thần thị tịch, trụ thế 77 tuổi. Đồ chúng cung thỉnh nhục thân Ngài nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Chúc Thánh.

 

1.2.3 Thiền Sư Minh Hải  Với Việc Khai Sáng Thiền Phái Chúc Thánh.

Sau khi quyết định trụ lại Hội An để hoằng hóa, Tổ Minh Hải khai sơn chùa Chúc Thánh. Để việc truyền thừa có quy củ dài lâu, Ngài xuất kệ truyền pháp như sau:

傳 法 名 偈

明 實 法 全 彰

印 真 如 是 同

祝 聖 壽 天 久

祈 國 祚 地 長
 傳 法 字 偈

得 正 律 為 宗

祖 道 解 行 通

覺 花 菩 提 樹

充 滿 人 天 中
 
Truyền pháp danh kệ:

Minh thiệt pháp toàn chương

Ấn chơn như thị đồng

Chúc thánh thọ thiên cửu

Kỳ quốc tộ địa trường
 Truyền pháp tự kệ:

Đắc chánh luật vi tông

Tổ đạo giải hạnh thông

Giác hoa bồ đề thọ

Sung mãn nhân thiên trung.
 

 

Bài kệ này bao gồm bốn mươi chữ và được chia ra làm hai phần. Phần đầu gồm 4 câu đầu được dùng để đặt Pháp danh và phần còn lại để đặt Pháp tự. Ngài Minh Hải có pháp danh chữ Minh và Pháp tự là chữ Đắc. Tiếp đến, hàng đệ tử của Ngài theo thứ tự có pháp danh chữ Thiệt và pháp tự chữ Chánh như : Thiệt Diệu-Chánh Hiền, Thiệt Dinh-Chánh Hiển, Thiệt Đăng-Chánh Trí v.v. Chính sự truyền thừa có thứ tự như vậy nên chúng ta dễ dàng nhận ra vị Thiền sư nào là đệ tử Ngài Minh Hải. Bởi vì, cùng thời với Ngài, có rất nhiều vị Thiền sư thuộc đời 34 dòng Lâm Tế với pháp danh chữ Minh theo bài kệ của Ngài Vạn Phong-Thời Ủy hoằng hóa tại Đàng Trong. Các vị này cũng cho đệ tử pháp danh chữ Thiệt theo câu kệ: “Hành Siêu Minh Thiệt Tế”. Nếu không có pháp tự bằng chữ Chánh đứng đầu thì chúng ta khó phân biệt vị nào thọ giáo với Thiền sư Minh Hải. Đây là điểm đặc biệt của dòng Chúc Thánh mà các Thiền phái khác không có.

Thiền phái Chúc Thánh là lấy theo tên ngôi chùa Chúc Thánh do Tổ sư Minh Hải khai sơn. Từ đây, sữa Pháp lại được khơi dòng tại đất Quảng, lan tỏa khắp các tỉnh thành, góp phần rất lớn trong sự nghiệp hoằng truyền chánh pháp.

Về nội dung của bài kệ, chúng ta có thể hiểu như sau: Ở bài kệ truyền Pháp danh, hai câu đầu là nói về chân đế. Nghĩa là các pháp xưa nay vốn dĩ sáng tỏ tròn đầy, cùng với thể tánh Chơn như không có sự sai biệt. Hai câu sau nói về tục đế, cầu cho Thánh quân sống lâu muôn tuổi và vận nước được dài lâu muôn thuở. Ở bài kệ truyền Pháp tự, hai câu đầu mang ý nghĩa lấy giới luật làm tông, nên tuyên dương giới luật. Ban đầu, Tổ Minh Hải đặt là “Đắc chánh luật vi tông”, nhưng về sau, vì kỵ tên húy của vua Thiệu Trị [18, 17] nên có một số vị trại chữ Tông lại chữ Tuyên (宣) như Chương Tư-Tuyên Văn; Chương Quảng-Tuyên Châu v.v.. hoặc chữ Tôn (尊) như Chương Đạo- Tôn Tùng; Chương Lý- Tôn Sư v.v…. Còn nội dung của hai câu cuối nói đến sự chứng ngộ của hành giả.

Về ý nghĩa của hai chữ Chúc Thánh, chúng ta có thể hiểu hai nghĩa như sau:

- Đứng về mặt Đạo pháp, là một người trưởng tử của Như Lai, chư Tổ thuở quá khứ cũng như các thế hệ chúng ta ngày nay, ai ai cũng muốn cho chánh pháp cửu trụ thế gian để lợi lạc nhân quần xã hội. Ở đây, Thiền sư Minh Hải lấy hai chữ Chúc Thánh để đặt tên cho ngôi chùa cũng có ý nghĩa như vậy. Thánh ở đây có nghĩa là Thánh đạo, Ngài muốn Thánh giáo luôn luôn tồn tại ở thế giới Ta-bà này để xoa dịu những nỗi thống khổ của kiếp nhân sinh.

- Đứng về mặt Dân tộc, mỗi người chúng ta ai cũng muốn có những vị vua anh minh cai trị đất nước, đem lại cảnh hòa bình an lạc cho muôn dân. Vì thế, Chúc Thánh ở đây còn có nghĩa là Chúc cho Thánh quân thọ lâu muôn tuổi để trị vì thiên hạ. Bởi lẽ, giai đoạn Tổ Minh Hải qua Đàng Trong là giai đoạn các chúa Nguyễn anh minh đang trị vì và Đàng Trong đang thời hưng thịnh. Đồng thời, các chúa Nguyễn là những vị nhiệt tâm hộ trì Phật giáo. Họ chính là những vị hộ pháp đắc lực cho chư tăng trong sự nghiệp  truyền bá chánh pháp.

Qua ý nghĩa hai chữ Chúc Thánh, chúng ta thấy được nơi đây có sự kết hợp hai yếu tố Đạo pháp và Dân tộc. Với hai chữ ngắn gọn, Thiền sư Minh Hải đã gói trọn, dung hòa được cả hai yếu tố quan trọng này. Đồng thời, qua bài kệ truyền pháp, chúng ta thấy được sở ngộ, sở tu của Tổ Minh Hải. Từ sự chứng ngộ siêu xuất đó, ngày nay Thiền phái Chúc Thánh phát triển khắp các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam và sang tận Âu - Mỹ.

 

1.2.4. Một Vài Nghi Vấn Về Hành Trạng Của Tổ Minh Hải.

Cho đến nay, hành trạng của Tổ sư Minh Hải còn có nhiều vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ. Chẳng hạn Tổ xuất gia với Tổ sư nào tại chùa Báo Tư-Trung Quốc? Đây là vấn đề quan trọng mà vẫn còn nằm trong bức màn bí mật của thời gian. Ở đây, người viết xin được làm rõ một vài nghi vấn về hành trạng của Tổ mà một số sách sử đã ghi nhầm. Tựu trung xoay quanh ba nội dung chính sau:

a. Tổ Minh Hải có phải là đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều?

Theo Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức cho rằng Tổ Minh Hải là đệ tử Ngài Nguyên Thiều? [5, 8] Nhận định ấy có chỗ chưa thỏa đáng. Chúng ta  xác định lại vấn đề qua niên đại của Tổ Nguyên Thiều và Tổ Minh Hải.

Tổ sư Nguyên Thiều (1648-1728) sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý (1648) tại huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ngài xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Báo Tư với Thiền sư Bổn Khao-Khoáng Viên. Năm Đinh Tỵ (1677), Ngài theo thuyền buôn sang phủ Quy Ninh lập chùa Thập Tháp. Còn Tổ sư Minh Hải, Ngài sinh ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670), tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến. Ngài xuất gia tại chùa Báo Tư khi lên 9 tuổi, tức là năm Mậu Ngọ (1678). Như vậy, khi Ngài Minh Hải mới nhập chúng tu học thì Ngài Nguyên Thiều đã sang An Nam rồi. Vì thế, ta có thể khẳng định Ngài Minh Hải không phải là đệ tử của Tổ Nguyên Thiều, mà có thể Ngài là sư điệt gọi Tổ Nguyên Thiều bằng sư bá hoặc sư thúc.

b. Có phải Tổ sư Minh Hải khai sơn chùa Thiên Ấn - Quảng Ngãi?

Cũng theo Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức cho rằng: vào những năm 1694-1695, Tổ Nguyên Thiều và Tổ Minh Hải có liên quan đến vụ nổi loạn của Linh Vương và Quảng Phú tại Bình Định và Quảng Nam. Vì thế, Tổ Minh Hải vào núi Thiên Ấn đổi pháp danh là Pháp Hóa và khai sơn chùa Thiên Ấn; còn Tổ Nguyên Thiều  vào Đồng Nai đổi pháp danh là Siêu Bạch và khai sơn chùa Kim Cang [5,19]. Điều này có đúng không? Chúng ta có thể phân tích qua các yếu tố sau:

- Những năm 1694-1695, Tổ sư Minh Hải mới qua An Nam thì làm sao dính líu đến vụ nổi loạn của Linh Vương. Lại nữa, nếu cả hai vị Tổ sư đều dính líu đến Linh Vương thì làm sao Ngài Nguyên Thiều được chúa Nguyễn Phước Trú sắc ban thụy hiệu là “Hạnh đoan Thiền sư”? Và liệu rằng, hàng đệ tử của Tổ Minh Hải như Thiệt Diệu, Thiệt Dinh, Thiệt Thọ v.v.. có thể yên tâm tu học duy trì Chúc Thánh trong khi bổn sư đi lánh nạn? Chúng ta biết rằng, dưới chế độ phong kiến, một người làm loạn, ba họ bị tru di. Huống gì người thầy làm loạn mà học trò sống an ổn như vậy sao? Vì thế, đây là lý do thứ nhất chứng minh Ngài Minh Hải không phải là Tổ khai sơn Thiên Ấn.

- Theo bi ký chùa Thiên Ấn, Thiền sư khai sơn thuộc đời 35 dòng Lâm Tế, có pháp danh Phật Bảo, tự là Pháp Hóa, thế danh Lê Diệt. Trên bia mộ có ghi rõ “Tự Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Ngũ Thế Pháp Hóa húy thượng Phật hạ Bảo Hòa Thượng Chi Tháp” Như vậy, vị Tổ sư khai sơn chùa Thiên Ấn thuộc đời 35 truyền theo bài kệ của Ngài Đạo Mân-Mộc Trần. Còn vấn đề Thiền sư Thiệt Úy- Khánh Vân, đệ tử Tổ Minh Hải kế thế Thiền sư Phật Bảo-Pháp Hóa trụ trì chùa Thiên Ấn cũng là lẽ tự nhiên. Thiền sư Thiệt Úy sau khi thọ giáo với Tổ Minh Hải ở Chúc Thánh thì về quê nhà tại Mộ Đức lập chùa Liên Tôn. Đến khi Ngài Phật Bảo viên tịch, vì không có đệ tử kế thừa nên Ngài Thiệt Úy lên kế vị trụ trì Thiên Ấn. Từ đó, chùa Thiên Ấn truyền thừa theo dòng Chúc Thánh và trở thành Tổ đình của chi phái Chúc Thánh tại tỉnh Quảng Ngãi.

Qua hai luận giải trên, chúng ta đi đến kết luận rằng: Tổ sư Minh Hải-Pháp Bảo và Tổ sư Phật Bảo-Pháp Hóa là hai và Tổ Minh Hải không phải là người khai sơn Tổ đình Thiên Ấn như xưa nay mọi người ngộ nhận.

c. Về hai bài kệ truyền pháp của Thiền sư Minh Hải:

Ngoài bài kệ truyền pháp tại Quảng Nam, chư tăng môn phái Chúc Thánh tại Bình Định cũng có một bài kệ truyền pháp như sau:

傳 法 名 偈

明 實 法 全 彰

印 真 如 是 同

萬 有 唯 一 體

觀 了 心 境 空

戒 香 成 聖 果

覺 海 湧 蓮 花

信 進 生 福 慧

行 智 解 圓 通

影 月 清 中 水

雲 飛 日 去 來

達 悟 微 妙 性

弘 開 祖 道 長
 傳 法 字 偈

得 正 律 為 宗

祖 道 解 行 通

覺 花 圓 境 智

充 滿 利 人 天

恆 沙 諸 法 界

濟 度 等 含 生

周 圓 體 相 用

觀 照 剎 塵 中

去 來 當 一 念

能 所 豈 非 他

心 境 誰 邊 取

真 望 總 皆 如
 
Truyền Pháp Danh Kệ:

Minh Thiệt Pháp Toàn Chương

Ấn Chơn Như Thị Đồng

Vạn Hữu Duy Nhất Thể

Quán Liễu Tâm Cảnh Không

Giới Hương Thành Thánh Quả

Giác Hải Dõng Liên Hoa

Tín Tấn Sanh Phước Huệ

Hạnh Trí Giải Viên Thông

Ảnh Nguyệt Thanh Trung Thủy

Vân Phi Nhật Khứ Lai

Đạt Ngộ Vi Diệu Tánh

Hoằng Khai Tổ Đạo Trường.
 Truyền Pháp Tự Kệ:

Đắc Chánh Luật Vi Tông

Tổ Đạo Giải Hạnh Thông

Giác Hoa Viên Cảnh Trí

Sung Mãn Lợi Nhân Thiên

Hằng Sa Chư Pháp Giới

Tế Độ Đẳng Hàm Sanh

Châu Viên Thể Tướng Dụng

Quán Chiếu Sát Trần Trung

Khứ Lai Đương Nhất Niệm

Năng Sở Khởi Phi Tha

Tâm Cảnh Thùy Biên Thủ

Chơn Vọng Tổng Giai Như.
 

 

Nguyên nhân xuất hiện của bài kệ thứ hai này như sau: vào năm 1967, có một học sinh gốc người Hoa đến nộp đơn học tại trường trung học Bồ Đề Nguyên Thiều (Bình Định). Qua lý lịch thì được biết học sinh này có quan hệ thân tộc với Tổ Nguyên Thiều. Theo sự yêu cầu của thầy giám học Thích Đổng Quán, gia đình em này cung cấp một số tư liệu về gia phả Tổ Nguyên Thiều, trong đó có bài kệ này.[19,34] Từ đó, chư Tăng dòng Chúc Thánh tại Bình Định sau chữ Đồng thì truyền xuống chữ Vạn chứ không truyền xuống chữ Chúc. Như vậy, giữa hai bài kệ thì bài nào đích thực là của Tổ Minh Hải phú chúc?

Xét nội dung hai bài kệ truyền pháp thì cũng không có gì sai lệch. Nội dung của bài kệ tại Bình Định nói về vạn pháp đều quy về một thể, đó chính là tánh không. Khi nào quán chiếu thấy rõ tâm không, pháp không thì đạt thành chánh quả. Ở đây, nhấn mạnh đến trí tuệ Bát Nhã, nói đến bổn tánh vắng lặng trong mỗi chúng sanh, chỉ vì vọng niệm nên trôi lăn trong sanh tử luân hồi. Giống như mặt trăng bị mây mờ che khuất, khi nào mây tan thì mặt trăng lại lồng lộng tỏa sáng. Tuy nhiên, cả hai bài kệ đều lấy giới luật làm tông, tuyên dương giới luật. Đây chính là điều thiết yếu để đoạn trừ vô minh, bước vào dòng Thánh.

Xét về mặt lịch sử truyền thừa, bài kệ tại Tổ đình Chúc Thánh-Quảng Nam được truyền bá rộng rãi hơn. Còn bài kệ tại Bình Định mới phát hiện và được áp dụng truyền thừa trong phạm vi chư Tăng môn phái Chúc Thánh tại Bình Định. Như vậy, chúng ta có thể giả định rằng: lúc đầu Tổ sư Minh Hải làm bài kệ như Hòa thượng Thích Đổng Quán tìm được sau này, nhưng khi truyền pháp, để phù hợp với tên ngôi chùa mình khai sơn cũng như chúc cho minh chúa sống lâu để hộ pháp an dân nên Ngài mới đổi lại như vậy. Đây cũng là phương tiện quyền xảo trong việc hoằng pháp lợi sanh. Nhưng có một điều chúng ta thắc mắc: tại sao bài kệ của Tổ Minh Hải không nằm trong gia phả của dòng họ Ngài mà lại nằm trong gia phả Tổ Nguyên Thiều? Mong rằng, về sau có những công trình nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề này.

Như vậy, cả hai bài kệ đều do Thiền sư Minh Hải lưu xuất cả. Tuy nhiên, về sự truyền thừa thì bài kệ tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An có thời gian lâu dài và tầm ảnh hưởng rộng rãi hơn bài kệ tại Bình Định. Dù chư Tăng các thế hệ về sau được đặt pháp danh với chữ Chúc, chữ Thánh hay chữ Vạn, chữ Hữu cũng đều thuộc pháp phái Chúc Thánh-Minh Hải Tổ sư. Tất cả đều một tâm nguyện phụng sự Đạo pháp và Dân tộc theo như tinh thần của chư Tổ từ xưa đến nay.

Tóm lại, kể từ khi Tổ Minh Hải khai sơn, xuất kệ truyền thừa, tính đến giữa và cuối thế kỷ XVIII, Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh đã có sự hình thành rõ nét. Sự hình thành này là nền tảng vững chắc để dòng Chúc Thánh phát triển mạnh về sau, góp phần then chốt cho sự phát triển của Phật giáo xứ Quảng.

 

Chương 2

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA

THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI QUẢNG NAM

 

2.1. NGUYÊN NHÂN PHÁT TRIỂN.

Kể từ ngày Tổ sư Minh Hải khơi nguồn đạo mạch, đến cuối thế kỷ XVIII các chùa tại tỉnh Quảng Nam đều do các Thiền sư dòng Chúc Thánh đảm nhiệm giáo hóa. Không những thế, tầm ảnh hưởng của dòng Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng vào các tỉnh phía Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Định.

Với thời gian chưa tới 100 năm mà Thiền phái Chúc Thánh phát triển nhanh chóng như vậy? Chúng ta có thể lý giải vấn đề này qua một số nguyên nhân sau:

- Gần 50 năm hoằng hóa, đạo phong của Tổ Minh Hải đã thấm nhuần, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân xứ Quảng. Quan trọng hơn, Ngài đã đào tạo một thế hệ kế thừa xứng đáng, đủ khả năng kế nghiệp Ngài xiển dương đạo pháp và phát triển tông môn. Đời thứ 2 của dòng Chúc Thánh có các Ngài Thiệt Dinh, Thiệt Diệu, Thiệt Thọ, Thiệt Đạo, Thiệt Mẫn, Thiệt Gia, Thiệt Lương v.v.. hoằng hóa tại Quảng Nam; Thiệt Úy, Thiệt Uyên hoằng hóa tại Quảng Ngãi; Thiệt Đăng, Thiệt Thuận hoằng hóa tại Bình Định. Đến thế hệ thứ 3 có các Ngài Pháp Liêm, Pháp Chuyên, Pháp Ấn, Pháp Diễn, Pháp Tịnh, Pháp Tràng v.v…đều nhiệt tâm truyền bá chánh pháp làm cho Phật giáo Quảng Nam thêm hưng thịnh, đồng thời tông môn Chúc Thánh nhanh chóng phát triển.

- Các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân nên dòng Thiền này nhanh chóng phát triển. Như chúng ta biết, Hội An là chiếc nôi khai sinh của dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Lúc bấy giờ Hội An là một thương cảng trù phú nên có nhiều người ngoại quốc đến sinh sống làm ăn, trong đó cộng đồng người Hoa chiếm đại đa số. Với một lực lượng kế thừa hùng hậu, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đáp ứng được cả hai cộng đồng người Việt lẫn người Hoa. Các Ngài Thiệt Diệu, Thiệt Thọ, Thiệt Mẫn là người Hoa nên ngụ tại Chúc Thánh đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng người Hoa. Còn Thiền sư Thiệt Dinh ra khai sơn Phước Lâm với sự hỗ trợ của các Ngài Thiệt Đạo, Thiệt Gia đã thu hút sự quy ngưỡng cũng như đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của người Việt. Như vậy, trong hàng đệ tử xuất gia của Tổ Minh Hải có cả người Hoa và người Việt. Các vị người Hoa ở Chúc Thánh và các vị người Việt ở Phước Lâm tạo thành hai trung tâm hoằng pháp đầu tiên của dòng Chúc Thánh.

- Với tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế, cộng với nếp sống giản dị, thanh bần, các Thiền sư dòng Chúc Thánh gần gũi với nhân dân nên dễ dàng tiếp cận đi sâu vào lòng quần chúng. Thời bấy giờ, dân Quảng Nam phần lớn là dân di cư từ Bắc vào. Từ lâu họ đã sống trong tư tưởng gò bó của Nho giáo nên rất chán ngán. Nay có một trào lưu mới với những tư tưởng phóng khoáng, không câu nệ tiểu tiết nên họ nhanh chóng tiếp nhận. Sự giản dị trong cách sống, chân tình trong giao tiếp của các Thiền sư nơi đất Quảng tạo nên sự gần gũi thân mật dễ dàng hòa nhập cùng cộng đồng.

Với những nguyên nhân trên, dòng Thiền Chúc Thánh nhanh chóng phát triển tại Quảng Nam. Không những thế, Thiền phái này còn phát triển và ảnh hưởng đến sự sinh hoạt của các tỉnh phụ cận.

 

2.2. HOẠT ĐỘNG CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH.

2.2.1. Phương Pháp Tu Tập Và Tôn Chỉ Hành Đạo.

a. Phương pháp tu tập.

Sau Lục Tổ Huệ Năng, Thiền tông Trung Quốc phát triển mạnh và hình thành năm Thiền phái. Danh xưng và tính cách tu tập của năm Thiền phái được tóm gọn qua bài kệ sau:

Lâm Tế thống khoái

Quy Ngưỡng cẩn nghiêm

Tào Động tế mật

Vân Môn ký cổ

Pháp Nhãn tường minh

Thiền phái Lâm Tế do Thiền sư Lâm Tế-Nghĩa Huyền (?-867) sáng lập tại Trung Hoa. Sự truyền thừa của tông Lâm Tế đến đời 21 thì Thiền sư Vạn Phong-Thời Ủy chùa Thiên Đồng xuất kệ “Tổ Đạo Giới Định Tông”. Đến đời 31, Ngài Đạo Mân-Mộc Trần chùa Thiên Khai xuất kệ “Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên”. Khi các Tổ Nguyên Thiều, Minh Hải, Minh Lượng sang An Nam thì tông Lâm Tế phát triển mạnh ở Đàng Trong. Ngài Nguyên Thiều thuộc đời 33 truyền theo bài kệ của Ngài Vạn Phong-Thời Ủy, phái này phát triển mạnh ở Bình Định với Tổ đình chính là chùa Thập Tháp. Ngài Minh Lượng đời 34 truyền theo bài kệ của Ngài Đạo Mân- Mộc Trần, phái này phát triển ở Gia Định với Tổ đình Giác Lâm là trung tâm. Ngài Minh Hải đời 34 biệt xuất bài kệ lập phái Lâm Tế Chúc Thánh phát triển tại Quảng Nam và chùa Chúc Thánh là Tổ đình chính. Đời 35 có Ngài Thiệt Diệu - Liễu Quán xuất kệ truyền thừa nên pháp phái Lâm Tế Liễu Quán được hình thành và phát triển tại Thuận Hóa với Tổ đình Thiền Tôn.

Trở lại với môn phái Lâm Tế Chúc Thánh, cho đến nay chúng ta chưa có nguồn tư liệu nào ghi lại sự tu tập và những Thiền ngữ của Thiền sư Minh Hải. Tuy nhiên, đây là chi phái của tông Lâm Tế nên sự tu tập của các Thiền sư dòng Chúc Thánh cũng không ra ngoài tông chỉ của phái này. Qua bài thuật sự tích của Thiền sư Pháp Chuyên, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh, chúng ta phần nào thấy được sự tu tập của các Thiền sư thời bấy giờ: “Ngài ngày ăn một bữa, xa lìa tài sắc, không màng đến chuyện thế sự, thường xem kinh luật, tinh tấn cầu đạo, tụng chú Đại Bi một tạng, đảnh lễ Tam Thiên, Vạn Phật, Hồng Danh mỗi loại năm lần, đem thiện căn này cầu cho tội chướng tiêu trừ, sớm  thành Phật đạo”. [24, 5]

“Ngài đảnh lễ Bổn sư và thưa:

- Người xưa có nói: kẻ học đạo không thông lý, thân sau phải hoàn trả của tín thí. Thế nào là thông lý? Nguyện Thầy chỉ dạy!

Thầy bèn trả lời:

- Tùy theo pháp mà tu hành, cùng tột của sự thì đến lý, nóng lạnh tự biết, tuyệt đường ngôn ngữ.

Lại hỏi rằng:

- Trong luật có dạy: Người xưa tâm địa chưa thông, không quản ngàn dặm tìm thầy học đạo. Việc ấy như thế nào?

Thầy lại dạy:

- Người xưa xuất gia không màng danh lợi, duy chỉ cầu đến chỗ rốt ráo của Đạo, đoạn trừ sanh tử, tâm địa như vậy, thấy rõ tự tánh thì thành Phật.

Bổn sư biết Ngài là bậc có căn khí Đại thừa, đạo niệm siêu quần xuất chúng, bèn ấn chứng hiệu là Diệu Nghiêm.”[24, 7].

Qua đoạn trích về sự tu hành của Thiền sư Pháp Chuyên, một Thiền sư danh tiếng thuộc thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh, ta có thể thấy được sự tu tập của các vị Thiền sư lúc bấy giờ là kết hợp hài hòa giữa Thiền-Tịnh, theo chủ trương Thiền-Tịnh song tu của Thiền sư Vĩnh Minh-Diên Thọ (904-975). Nghĩa là các Thiền sư tụng đọc kinh văn, lạy Phật sám hối để cầu tội chướng tiêu trừ theo pháp môn Tịnh Độ. Đồng thời, thực tập Thiền định, tham thoại đầu, vấn đạo để cầu thầy ấn chứng sở đắc theo truyền thống Thiền tông.

Như vậy, với tư tưởng “Lâm Tế thống khoái”, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh có pháp môn tu phù hợp với điều kiện xã hội. Sự vận dụng kết hợp Thiền-Tịnh song tu đã đem lại sự lợi lạc cho hành giả và tha nhân. Về tự thân, các Thiền sư đạt được sự an lạc do Thiền định đem lại, thân tâm an lạc, nội lực tăng trưởng nên thấy rõ thật tướng của mọi sự, mọi việc. Với pháp môn Tịnh Độ, các Ngài đã giúp cho dân chúng ổn định tinh thần, có một niềm tin hướng về Tam Bảo. Đặc biệt, với lâm lý của những người mới di cư vào vùng Quảng Nam lúc bấy giờ, tín ngưỡng Di Đà, quy kính Tịnh Độ là chỗ dựa tinh thần vững chắc, an ổn nơi mảnh đất đầy sơn lam c


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: diep trong Tháng Mười 04, 2008, 05:50:07 PM
chướng khí này.

b. Tôn chỉ hành đạo.

Phật giáo phát triển  đến đâu là mang tinh thần hòa bình đến đó. “Hộ quốc an dân” là một tôn chỉ xuyên suốt trong lịch sử 2000 năm truyền đạo trên đất Việt. Tôn chỉ của Thiền phái Chúc Thánh cũng không ra ngoài nguyên tắc bất di bất dịch ấy.

Ngay từ những ngày đầu truyền pháp, Thiền sư Minh Hải cũng đã phần nào khẳng định tôn chỉ ấy qua hai câu kệ sau:

Chúc thánh thọ thiên cửu

Kỳ quốc tộ địa trường.

Ở ý nghĩa chúc thánh quân sống lâu và vận nước vững bền này, chúng ta thấy có sự gắn liền giữa Đạo pháp và Dân tộc. Đây chính là chất liệu kết nối Tăng sĩ với các tầng lớp nhân dân và đạo Phật dễ dàng đi sâu vào quần chúng.

Ngoài việc tu hành chứng ngộ tâm linh, các Thiền sư dòng Chúc Thánh chủ trương nhập thế tích cực với tinh thần vô nhiễm. Điều này được thể hiện qua cuộc đời của Thiền sư Pháp Liêm, thế hệ thứ 3 dòng Chúc Thánh. Sau khi xuất gia, Ngài về quê đăng lính đánh giặc lập nhiều công to được phong chức chỉ huy. Nhưng Ngài từ bỏ tất cả, phát nguyện quét chợ Hội An suốt 20 năm. Về sau, Ngài được triều đình và dân chúng suy tôn hiệu là Minh Giác Thiền sư, thỉnh về kế nghiệp trụ trì Tổ đình Phước Lâm. Tiếp nối gương của bậc cổ đức, các thế hệ tăng đồ dòng Chúc Thánh luôn nhiệt tâm tham gia vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập cho Tổ quốc và tự do cho Dân tộc. Thiền sư Vĩnh Gia, thế hệ thứ 6 dòng Chúc Thánh là một bậc cao tăng được triều đình Huế kính trọng, thường thỉnh ra kinh đô thuyết giảng. Tuy nhiên, không vì sự kính trọng, ưu ái ấy mà Ngài quên đi nổi đau mất nước. Ngài đã âm thầm cố vấn cho nhà chí sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên trong phong trào Duy Tân. Các Thiền sư chùa Cổ Lâm huyện Đại Lộc đã che dấu Trần Cao Vân một thời gian dài. Nhà yêu nước họ Trần cũng đã có một thời tu hành tại đây với pháp danh Như Ý [14, 388].

Tinh thần nhập thế của các Tăng sĩ dòng Chúc Thánh lại một lần nữa được thể hiện qua phong trào đấu tranh đòi tự do bình đẳng tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Điểm cao của tinh thần ấy là sự hy sinh cao cả của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Ngài đã thiêu thân cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn. Tâm nguyện Bồ tát của Ngài đã để lại trái tim bất diệt mà ngàn đời Tăng Ni kính ngưỡng. Bồ tát Quảng Đức pháp danh Thị Thủy, tự Hạnh Pháp thuộc thế hệ thứ 9 dòng Chúc Thánh. Sự hy sinh của Ngài chính là đỉnh cao của tinh thần xả thân phụng sự Đạo pháp và Dân tộc. Ngọn lửa từ bi được Ngài thắp sáng, soi rõ lương tri của thời đại, góp phần đưa Phật giáo đồ cũng như mọi người dân thoát khỏi một chế độ độc tài hà khắc.

Tôn chỉ hành đạo của Thiền phái Chúc Thánh kể từ ngày Tổ sư khai sơn cho đến nay vẫn không thay đổi. Nhập thế tích cực cứu đời nhưng vẫn thong dong tự tại trước mọi lợi danh. Tùy duyên hành đạo và bất biến giữ đạo luôn được áp dụng tùy từng hoàn cảnh đã thể hiện được bản hoài của người Thích tử theo tinh thần: “Phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật.”

 

2.2.2. Sinh Hoạt Và Tổ Chức Của Sơn Môn.

a. Sinh hoạt của Sơn Môn Chúc Thánh:

Như phần trên đã trình bày, kể từ khi Thiền sư Minh Hải xuất kệ truyền thừa, trong vòng một thế kỷ, Thiền phái Chúc Thánh phát triển mạnh ở Quảng Nam và lan rộng theo bước chân Nam tiến vào đến miền Gia Định. Tại Quảng Nam, đến cuối thế kỷ XVIII, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đảm nhiệm công việc hoằng hóa tại các chùa trong tỉnh và hình thành ba trung tâm hoằng pháp: trung tâm Hội An nằm ở phía Đông với các Tổ đình Chúc Thánh, Vạn Đức, Phước Lâm; trung tâm Ngũ Hành Sơn nằm ở phía Bắc với hai ngôi quốc tự Tam Thai và Linh Ứng; trung tâm Đại Lộc nằm ở phía Tây với Tổ đình Cổ Lâm. Cả ba trung tâm hoằng pháp của dòng Chúc Thánh tại Quảng Nam  có sự liên hệ mật thiết và hỗ tương cho nhau. Trong đó, các chùa Chúc Thánh, Phước Lâm giữ vai trò trung tâm đào tạo tăng tài, phân bổ đến các chùa trong tỉnh.

Bấy giờ, việc sinh hoạt của Sơn Môn cũng còn đơn giản. Thiền tông với chủ trương “Bất lập văn tự” nên các Thiền sư không có mở trường dạy học mà chủ yếu là thầy trò truyền dạy cho nhau, thực tập Thiền định và ấn chứng sở ngộ. Sự sinh hoạt của các chùa trong tông môn thể hiện rõ nét qua các đàn truyền giới.

Đàn truyền giới được khai mở mỗi khi có giới tử phát nguyện thọ giới để thăng tiến trong việc tu học. Việc này được ghi nhận như sau: “Trước đó một năm, thỉnh chư Tăng các chùa quy ước một ngày hội họp luận nghị về việc mở đại giới đàn tiếp dẫn Tăng chúng hậu học. Chư Tăng đồng ứng nhận hỗ trợ, sau đó, công bố cho chư Tăng các chùa khắp nơi đều biết mà chuẩn bị, chọn năm… tháng… ngày… v.v…Trước đó 3 ngày, kiền thỉnh chư Tăng quang lâm đến chùa đã được định trước, cung thỉnh chư tôn an bài chức sự: một vị Hòa thượng Chủ kỳ, một vị Hòa thượng Đàn đầu, một vị Hòa thượng Yết-ma, một vị Hòa thượng Giáo thọ, bảy vị Xà-lê tôn chứng, bốn vị dẫn lễ, một vị Tuyên luật sư, chọn hai vị Sa di thủ vĩ..” [23,15-15b]

Qua sự mô tả này, ta thấy việc Tổ chức giới đàn đều tuân theo quy củ giới luật Phật chế, đầy đủ hội đồng thập sư. Tuy nhiên, theo lời của các vị tôn túc, giới đàn ngày xưa được mở sau khi kết thúc 3 tháng an cư kiết hạ mà hay gọi là trường Kỳ hoặc trường Hương. Nghĩa là giới tử phải tập trung trong 3 tháng an cư, theo vị Đàn đầu Hòa thượng học tập giới luật sau đó mới chính thức đăng đàn thọ giới.

Trong quá trình tiếp tăng độ chúng, các vị Thiền sư dòng Chúc Thánh thường Tổ chức giới đàn để truyền trao y bát, tuyển người kế thừa sự nghiệp hoằng pháp. Trong Ngũ Hành Sơn Lục, Thiền sư Từ Trí ghi lại: vào tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1869), Thiền sư Chương Tư-Tuyên Văn kiến lập đàn giới tại chùa Phước Lâm, giới đàn này do Thiền sư Toàn Nhâm -Vi Ý làm Hòa thượng Đàn đầu và giới tử đắc pháp là Thiền sư  Ấn Bổn-Tổ Nguyên-Vĩnh Gia.

Năm Quý Tỵ (1893), Thiền sư Ấn Bổn-Tổ Nguyên-Vĩnh Gia cùng Ngài Ấn Thanh-Tổ Đạo-Chí Thành khai đại giới đàn tại chùa Chúc Thánh. Thiền sư Chí Thành được cung thỉnh làm Hòa thượng đàn đầu và Ngài Vĩnh Gia làm Giáo Thọ A-xà-lê tại giới đàn này.

Các năm Mậu Thân (1908), Canh Tuất (1910), Thiền sư Ấn Bổn-Vĩnh Gia khai giới đàn và làm Hòa thượng Đàn đầu tại chùa Phước Lâm. Đặc biệt nổi tiếng nhất là giới đàn năm Canh Tuất (1910), giới đàn này quy tụ trên 200 giới tử xuất gia và hàng ngàn giới tử tại gia. Trong đó có một số vị đắc giới và trở thành lương đống trong Phật pháp như các Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Về phần tại gia thì có Tuy Lý Vương-Miên Trinh, Đô thống Lê Viết Nghiêm cũng như nhiều hoàng thân quốc thích khác thọ giáo với Ngài.

Năm Mậu Thìn (1928), niên hiệu Bảo Đại thứ 3, Hòa thượng Chơn Pháp-Đạo Diệu-Phước Trí khai giới đàn và làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Từ Vân-Đà Nẵng. Trong hàng giới tử đắc pháp với Ngài có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những cao Tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Năm Kỷ Tỵ (1929), niên hiệu Bảo Đại thứ 4, Hòa thượng Phước Trí lại được cung thỉnh làm Hòa thượng Đàn đầu tại giới đàn chùa Phước Lâm-Hội An.

Qua các giới đàn mà ngày nay chúng ta biết được, phần nào tái hiện lại sinh hoạt của cộng đồng tăng lữ ngày xưa tại Quảng Nam. Điều này thể hiện được mối quan hệ khắng khít của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh thời bấy giờ. Các đàn giới đã đào tạo những thế hệ Tăng sĩ kế thừa nên môn phái ngày càng phát triển rộng khắp. Đồng thời, qua các giới đàn này, đã nói lên được mối liên hệ của chư tăng Quảng Nam đối với các tỉnh lân cận như Thừa Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v…Bởi vì, các giới đàn được khai mở tại Quảng Nam đều có sự tham dự của chư tăng các tỉnh trong Hội Đồng Thập Sư cũng như giới tử cầu thọ giới. Cũng thế, khi các tỉnh mở giới đàn đều cung thỉnh các Thiền sư ở Quảng Nam tham dự và chư tăng Quảng Nam cũng đến các tỉnh cầu thọ giới.

Ngoài việc lập đàn truyền giới, sự quan hệ của các chùa trong sơn môn Chúc Thánh tại Quảng Nam được biểu hiện qua các ngày giỗ Tổ, khánh thành chùa, tang lễ v.v… Trong những Phật sự này, chư tăng tề tựu hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, thể hiện tình pháp lữ đồng môn gắn bó tương thân tương trợ.

 

b. Tổ chức của Môn phái.

Những ngày đầu hình thành, môn phái Chúc Thánh chỉ sinh hoạt đơn giản với danh từ Chư Tự Sơn Môn. Lúc đó, sự Tổ chức còn sơ sài, chùa nào có bậc cao tăng thạc đức, uyên thâm giáo điển là tăng chúng quy tụ về theo học. Thông thường, các Thiền sư danh tiếng đều trụ tại đạo tràng Phước Lâm. Vì thế Phước Lâm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của môn phái Chúc Thánh.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, tình hình chính trị đất nước biến chuyển phức tạp. Các giáo sĩ Thiên chúa theo bước chân lính Pháp sang truyền giáo và chủ trương đập chùa làm nhà thờ. Minh chứng cụ thể là chùa Bửu Châu do chúa Tiên-Nguyễn Hoàng lập năm Đinh Mùi (1607) tại Trà Kiệu đã bị người Thiên chúa san bằng để làm nhà thờ Trà Kiệu.

Trước tình hình như vậy, vào năm Tân Dậu (1921), Hòa thượng Ấn Nghiêm -Phổ Thoại đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư Sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng già, chỉnh đốn Thiền môn đồng thời bảo vệ các chùa trước sự tàn phá của binh lính Pháp. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị Sự đầu tiên.

Cơ cấu của Tổ chức Bản Tỉnh Chư Sơn Hội gồm có một vị hội trưởng, một vị thư ký, mỗi huyện thị có một vị Chánh Kiểm Tăng và một vị Phó Kiểm Tăng. Lúc bấy giờ tỉnh Quảng Nam chia làm 9 phủ huyện như sau: Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc, Tiên Phước, Hội An.

Tổ chức Bản Tỉnh Chư Sơn Hội đã bảo vệ được các chùa trước sự tàn phá của lính Pháp cũng như củng cố Tăng già làm tiền đề cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Tổ chức này chính là tiền thân của Giáo Hội Tăng Già về sau.

Đến năm Nhâm Thân (1992), nhân dịp khánh thành bảo tháp Tổ sư Minh Hải, môn phái Chúc Thánh mới chính thức thành lập. Đây là nhu cầu thiết yếu để duy trì truyền thống và sự phát triển của tông môn. Chư Tăng Ni thuộc môn phái khắp các tỉnh thành trong cả nước đều vân tập về Chúc Thánh Tổ chức hội nghị thành lập môn phái. Danh xưng chính thức được gọi là Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh và đặt trụ sở tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An. Cơ cấu Tổ chức bao gồm 2 hội đồng: Hội Đồng Môn Phái và Hội Đồng Điều Hành. Hội Đồng Môn Phái gồm các vị tôn túc tiêu biểu cho giới luật, có nhiệm vụ chứng minh các đại lễ, đàn giới của môn phái. Hội Đồng Điều Hành có trách nhiệm điều hành mọi công tác Phật sự của môn phái. Đứng đầu môn phái có một vị Trưởng môn phái và nhiều vị Phó trưởng môn phái, chánh phó thư ký và các ủy viên. Các vị phó trưởng môn phái là chi phái trưởng tại các tỉnh thành. Hội nghị cũng đã thông qua bản Nội Quy của môn phái bao gồm 7 chương 16 điều. Đồng thời, trong hội nghị này, môn phái cũng đã quy định 3 năm một lần vào ngày giỗ Tổ Minh Hải mồng 7 tháng 11 các năm thuộc chi Dần, Tỵ, Thân, Hợi, Tăng Ni các nơi Tổ chức về nguồn để họp bàn Tổng kết đánh giá những thành tựu, ưu khuyết của môn phái, từ đó, vạch ra chương trình sinh hoạt trong những năm tới. Thông lệ này được thực hiện một cách đều đặn từ ngày ấy đến nay.

Xuyên suốt 300 năm truyền thừa trên đất Quảng, Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh hình thành và phát triển theo thời gian. Dần theo năm tháng, với những chuyển biến của đất nước, môn phái Chúc Thánh có những Tổ chức cụ thể để duy trì truyền thống tông môn. Sự thành lập Môn phái Lâm Tế Chúc Thánh vào năm Nhâm Thân (1992) là đỉnh cao của tinh thần hòa hợp của Phật giáo. Đây là một Tổ chức kiện toàn nhất của dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ trước đến nay.

 

2.3. CÁC THIỀN SƯ TIÊU BIỂU TRONG SỰ NGHIỆP TRUYỀN THỪA:

Với 300 năm truyền thừa và phát triển, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, tại Quảng Nam đều có các vị Thiền sư đóng vai trò chủ đạo của tông môn. Các vị Thiền sư tiêu biểu trong sự nghiệp truyền thừa qua các thời kỳ như sau:

1. Hòa thượng Ân Triêm (1712-1796): Ngài họ Lê, sinh năm Nhâm Thìn (1712) tại xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam. Tương truyền: mẹ Ngài một đêm nằm mộng thấy con trâu chọc sừng chui vào bụng, từ đó bà thọ thai. Từ khi mang thai, bà nhàm chán những thức ăn thịt cá, chỉ dùng toàn chay tịnh và sau đó sanh ra Ngài.

Năm lên 10 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Minh Hải tại chùa Chúc Thánh, được Tổ ban cho pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm, nối pháp đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau khi Tổ Minh Hải viên tịch, Ngài đến ấp Trảng Kèo, xã Thanh Hà, phủ Điện Bàn (Nay là phường Thanh Hà-Hội An) lập thảo am lấy tên là Phước Lâm để tịnh tu đạo nghiệp. Không bao lâu, hương thơm giới hạnh của Ngài lan khắp mười phương và đồ chúng theo về tu học ngày càng đông, dần dần tịnh thất Phước Lâm trở thành Tùng Lâm nguy nga tại Xứ Quảng.

Gần 50 năm khai sáng và hành đạo tại Phước Lâm, vào ngày mồng  10 tháng 11 năm Bính Thìn (1796), sau khi dặn dò phó chúc cho đệ tử, Ngài  phát nguyện thiêu thân cúng dường Tam bảo, hưởng thọ 85 tuổi. Đồ chúng lập tháp tại phía Tây Nam trong khuôn viên chùa Phước Lâm để thờ linh cốt Ngài.

Hơn 60 năm hoằng dương chánh pháp, Hòa thượng Ân Triêm đã kế thừa sự nghiệp của Tổ Minh Hải thắp sáng ngọn đèn chánh pháp tại Quảng Nam. Đệ tử của Ngài có các vị như Pháp Ấn-Tường Quang-Quảng Độ, Pháp Liêm-Luật Oai-Minh Giác (trụ trì chùa Phước Lâm); Pháp Chuyên-Luật Truyền-Diệu Nghiêm  (khai sơn chùa Từ Quang-Phú Yên); Pháp Tịnh-Luật Phong-Viên Quang (khai sơn chùa Thiên Hòa-Tuy Phước). [10, 3]

2. Hòa thượng Minh Giác (1747-1830): Ngài thế danh Võ Đức Nghiêm, sinh ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747) tại thôn Ngọc Trì, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm Kỷ Mão (1759), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài xuất gia tại chùa Phước Lâm với Hòa thượng Ân Triêm và được bổn sư cho pháp danh Pháp Liêm, tự Luật Oai. Như vậy, Ngài nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Canh Dần (1770), sau hơn 10 năm tu tập, Ngài về làng thăm song thân. Gặp lúc giặc mọi Đá Vách lại nổi dậy, Ngài tòng quân đánh dẹp loạn phỉ, lập nhiều chiến công được phong chức chỉ huy. Tuy hưởng công danh phú quý, nhưng Ngài nhàm chán nên từ quan, về lại Hội An, phát nguyện quét chợ 20 năm để sám hối tội lỗi gây ra trong chiến tranh. Quét chợ để làm sạch cảnh trần ai và cũng là quét sạch mọi cấu bẩn trong tâm, dọn mình khiết tịnh để tiến lên bờ giác.

Năm Mậu Ngọ (1798), khi công hạnh viên mãn, Ngài được Chư Sơn cũng như tín đồ thỉnh về trụ trì chùa Chiên Đàn và tôn hiệu là Minh Giác Hòa thượng. Trong tờ biểu tôn xưng có nói: “Phật là giác giả, Hòa  thượng có tính thông tuệ, tự cho con đường tình duyên danh lợi đã 20 năm nay như đem dao cắt đứt hẳn, coi giống cát sông bọt nổi. Lại đem mình ở nơi thị tỉnh chịu đựng bụi trần nhọc lòng khổ chí để giữ vững tâm niệm nhập đạo mà thành tựu tấm thân chứng đạo. Đã hay tự mình khai giác hết thảy những người có tình như chiêm bao thức giấc vậy. Trong điển Phật có nói: Tự mình biết, bảo cho người khác biết, đó là có ý nghĩa đầy đủ tiếng khen về biết rõ cả” [14, 169].

Ngài trở lại Phước Lâm cùng Ngài Quảng Độ trùng tu chùa và kế thế trụ trì. Ngài tích cực xiển dương chánh pháp cho đến khi viên tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830) hưởng thọ 84 tuổi.

Hàng đệ tử thờ Ngài với hai câu đối đầy ý nghĩa như sau:

- Dẹp giặc, quét chợ, mấy độ gian lao, xuất gia lạ, phát nguyện càng thêm lạ, tám mươi vãng sanh thành chánh giác.

- Làm chùa, đúc chuông, biết bao công đức, sữa cũ đẹp, làm mới lại càng đẹp, ngàn năm sáng mãi ngọn đèn Thiền.

Đệ tử của Ngài có các vị thành danh như: Ngài Toàn Nhâm-Vi Ý-Quán Thông (trụ trì chùa Phước Lâm); Toàn Ý-Vi Tri-Phổ Huệ (khai sơn Chùa Phổ Bảo- Bình Định); Toàn Tín-Vi Tâm-Đức Thành (khai sơn chùa Khánh Lâm-Tuy Phước). Hạnh nguyện của Ngài quả thật là vô tiền khoáng hậu trong dòng sử Phật Việt. Ngày nay người dân Phố Hội thường nhắc đến Ngài với cái tên dung dị: Tổ Bình Man Tảo Thị.

3. Hòa thượng Quán Thông (1798-1883): Ngài thế danh Nguyễn Văn Định, sanh vào năm Mậu Ngọ (1798), tại làng Trung Phường, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia và đắc pháp với Tổ Pháp Liêm-Luật Oai nên có pháp danh Toàn Nhâm, tự Vi Ý, hiệu Quán Thông, nối pháp đời 37 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Canh Dần (1830), Ngài trụ trì chùa Phước Lâm sau khi Bổn sư viên tịch. Tiếp đó, Ngài lại được Chư Sơn cung thỉnh kiêm trụ trì chùa Chúc Thánh.

Vào các năm Ất Tỵ (1845), Kỷ Dậu (1849), Ngài đứng ra quyên mộ trùng kiến Tổ đình Chúc Thánh, xây dựng tiền đường và đổi hướng chùa từ hướng Tây sang hướng Tây Nam cho phù hợp với địa  thế phong thổ.

Ngày mồng 2 tháng 3 năm Quý Mùi (1883), Ngài thị tịch, hưởng thọ 86 thế tuế. Phần lớn đệ tử của Ngài đảm nhiệm các chùa tại Quảng Nam như: Chương Nhẫn-Tuyên Hòa-Quảng Hóa (trụ trì chùa Phước Lâm); Chương Đạo-Tôn Tùng-Quảng Viên, Chương Khoáng-Tuyên Điền-Chứng Đạo (trụ trì chùa Chúc Thánh); Chương Quảng-Tuyên Châu-Mật Hạnh, Chương Tư-Tuyên Văn-Huệ Quang, Chương Tín-Hoằng Ân (hoằng hóa tại Ngũ Hành Sơn); Chương Lý-Tôn Sư-Trí Quang, Chương Chất-Tông Chiếu-Quảng Thành, Chương Đàn-Tông Khai-Hoằng Đạt (hoằng hóa tại chùa Cổ Lâm-Đại Lộc). [9, 98]

4. Hòa thượng Huệ Quang (…-1873):Ngài thế danh Đặng Văn Quang người xã Đức An, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ngài xuất gia đắc pháp với Tổ Quán thông nên có pháp danh Chương Tư, tự Tuyên Văn, hiệu Huệ Quang, thuộc đời 38 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau khi thọ đại giới, Ngài xin Bổn sư vân du vào tham học Kinh Luật tại chùa Từ Quang-Đá Trắng tỉnh Phú Yên.

Năm Tân Dậu (1861), Ngài được triều đình bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Ứng trên núi Ngũ Hành và đến năm Nhâm Tuất (1862), triều đình cải bổ Ngài làm trụ trì quốc tự Tam Thai.

Năm Kỷ Tỵ (1869), niên hiệu Tự Đức thứ 22, Ngài lập đàn truyền giới tại Phước Lâm, thỉnh Hòa thượng bổn sư Quán Thông làm Đàn đầu.

Năm Quý Dậu (1873), vào ngày 22 tháng 6 Ngài nhóm họp môn đồ, ân cần phó chúc mọi việc một cách rõ ràng rồi an nhiên mà thoát hóa. Môn đồ đã kiến tạo bảo tháp của Ngài tại phía Nam ngọn Âm Hỏa Sơn trong núi Ngũ Hành.

            5. Hòa thượng Vĩnh Gia (1840 -1918): Ngài thế danh Đoàn Nhược sinh vào năm Canh Tý (1840) tại làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm Kỷ Mùi (1859), Ngài đến chùa Tam Thai- Ngũ Hành Sơn xin xuất gia với Tổ Chương Tư-Tuyên Văn, được Tổ ban cho pháp danh là Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên. Từ đây, Ngài nối truyền đời thứ 39 tông phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Kỷ Tỵ (1869), Ngài thọ giới cụ túc tại giới đàn chùa Phước Lâm do Tổ Quán Thông làm đàn đầu và được phú pháp hiệu Vĩnh Gia. Năm Quý Mùi (1883), Ngài được triều đình sắc phong trụ trì quốc tự Linh Ứng. Năm Đinh Hợi (1887), Thiền sư Chương Nhẫn-Tuyên Hòa, trụ trì Tổ đình Phước Lâm viên tịch, Ngài được sơn môn cung thỉnh trụ trì Phước Lâm.

Là một cao Tăng tinh thông Tam tạng, nghiêm trì giới luật nên đạo hạnh của Ngài lan rộng khắp các tỉnh miền Trung. Vì thế Ngài thường được triều đình thỉnh về kinh đô Phú Xuân để thuyết pháp cho Vua và hoàng tộc, cũng như cung thỉnh  trong các giới đàn tại các tỉnh Thuận Hóa, Quảng Nam, Bình Định v.v…

Ngài thường xuyên kiến đàn truyền trao giới pháp cho chư Tăng tu học. Đặc biệt, giới đàn năm Canh Tuất (1910) tại Phước Lâm, các giới tử đắc giới đều là những bậc cao tăng rường cột cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Trong đó, nổi bậc nhất là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, đệ nhất và đệ nhị Tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới phải hoàn lại y bát, ra khỏi Già Lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia. Có vậy nước Thiền định mới khai thông, đèn Tri giác thêm sáng tỏ”.

Vào ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), Ngài thị tịch, thọ thế 79 tuổi. Nhục thân của Ngài được an trí trong bảo tháp rất trang nghiêm nằm phía tả Tổ đình Phước Lâm. [9, 100-102]

6. Hòa thượng Từ Trí (1852-1921): Ngài tên Nguyễn Viết Lư sinh năm Nhâm Tý (1852), tại xã An Bình, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm Bính Dần (1866), vừa tròn 15 tuổi, Ngài đến chùa Linh Ứng bái Hòa thượng Chương Quảng-Tuyên Châu làm thầy. Ngài được Tổ ban pháp danh Ấn Lan, tự ụ Tổ Huệ, hiệu Từ Trí, nối pháp đời 39 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm Đinh Hợi (1887), Ngài được triều đình bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Ứng. Từ đây, Ngài ra sức tu bổ Linh Ứng khiến cho chùa ngày càng khang trang mỹ lệ. Đồng thời, Ngài tham dự các giới đàn để thí giới cho tăng đồ tu học.

Năm Ất Mùi (1895), triều đình sắc phong Ngài làm Tăng cang, cai quản hai chùa Tam Thai-Linh Ứng. Trong lịch sử Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn, Ngài là vị Tăng cang đầu tiên vậy.

Năm Đinh Dậu (1897), vua Thành Thái ban cho hai chiếc “Ngũ Phước Ngân Tiền”, tưởng thưởng cho công đức tu hành cũng như đạo hạnh của Ngài. Năm Canh Tý (1900), vua ban cho Ngài tấm biển với 4 chữ “Hữu Tâm Tượng Giáo” để tán thán tài đức của Ngài đã làm Phật giáo hưng thạnh như thời Tượng pháp.

Năm Nhâm Dần(1902), Ngài Tổ chức trai đàn tại chùa Linh Ứng, vua Thành Thái ngự vào dự lễ, ban cho Ngài sáu chiếc ca sa để thưởng cho Phật sự này.

Năm Tân Dậu (1921), Ngài đã viên tịch, thọ 70 thế tuế. Bảo tháp của Ngài được xây dựng tại phía Nam của ngọn Thủy Sơn trong cụm Ngũ Hành.

Ngài để lại tác phẩm “Ngũ Hành Sơn Lục”, một cuốn sách rất có giá trị lịch sử về các thắng tích cũng như tiểu sử chư Hòa thượng hoằng hóa tại Ngũ Hành Sơn. [11, 220-222]

7. Hòa thượng Phổ Thoại (1875-1954): Ngài thế danh Nguyễn Văn Thọ, sinh năm Ất Hợi (1875) tại xã Cẩm Kim, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Năm Đinh Hợi (1887), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Chương Đạo- Tôn Tùng tại chùa Chúc Thánh với pháp danh Ấn Nghiêm, tự Tổ Thân, nối pháp đời 39 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài vốn người thông minh, tính tình cương trực nhưng khiêm nhượng nên Bổn sư rất yêu mến. Vào năm  Quý Tỵ (1893), Tổ Chương Đạo viên tịch, Ngài về Phước Lâm y chỉ Tổ Vĩnh Gia để tu học.

Vào tháng 4 năm Ất Mùi (1895), khi vừa tròn 20 tuổi, Ngài được Tổ Vĩnh Gia truyền trao giới Cụ túc và phú pháp với pháp hiệu là Phổ Thoại.

Năm Kỷ Dậu (1909), được một Phật tử hiến cúng khu đất tại ấp Hậu Xá, xã Thanh Hà, Ngài xin phép Tổ Vĩnh Gia ra lập một thảo am nhỏ lấy tên là Long Tuyền để tiện việc tu niệm. Cũng trong năm này, Ngài vận động đúc một đại hồng chung nặng 200Kg dưới sự chứng minh của Ngài Tăng cang Từ Trí. Từ đó, Ngài lần lần xây dựng Long Tuyền thành một ngôi Phạm vũ nguy nga và được triều đình nhà Nguyễn ban sắc tứ vào năm Quý Dậu (1933).

Năm Tân Dậu (1921), Ngài đứng ra thành lập Bản Tỉnh Chư Sơn Hội nhằm mục đích củng cố Tăng già, chỉnh đốn Thiền môn. Ngài được chư sơn tín nhiệm cung thỉnh làm Trị Sự đầu tiên. Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma, Giáo Thọ trong nhiều đàn giới tại Quảng Nam. Năm 1933, khi Hội An Nam Phật Học thành lập, Ngài được cung thỉnh làm chứng minh đạo sư cho hội.

Hòa thượng Phổ Thoại là một người giới luật tinh nghiêm, chuyên cần tu niệm, thường trì tụng kinh Phạm Võng. Ngoài tinh thần vì Đạo pháp, Ngài còn có một tinh thần Dân tộc rất cao. Ngài thường dạy đệ tử: “Nước nhà mất thì đạo cũng không còn, nên cần phải có ý thức trách nhiệm đối với quốc gia”.

Vào ngày mồng 9 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1954), Ngài đã thị tịch, thọ 80 tuổi. Môn đồ thỉnh nhục thân an trí trong bảo tháp tại phía hữu chùa Long Tuyền. Ngài đã đào tạo được nhiều vị đệ tử tài ba phục vụ cho Phật giáo Quảng Nam hiện  đại. [10, 8-10]

8. Hòa thượng Thiện Quả (1881-1962): Ngài thế danh Dương Văn Y, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Tân Tỵ (1881), tại xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm lên 15 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Ấn Bính-Tổ Thuận-Phổ Bảo tại chùa Chúc Thánh nên có pháp danh Chơn Chứng. Như vậy, Ngài nối pháp đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

Năm 17 tuổi, Ngài ra Tam Thai học tập kinh luật. Đến năm Nhâm Dần (1902), khi vừa 21 tuổi thì thọ Sa Di tại giới đàn chùa Từ Quang ở Phú Yên và được ban pháp tự là Đạo Tâm. Năm Canh Tuất (1910), Ngài thọ Đại giới tại chùa Phước Lâm do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn đầu Hòa thượng và Tổ đã phú pháp cho Ngài với pháp hiệu là Thiện Quả. Sau khi thọ giới, Hòa thượng xin phép Bổn sư tiếp tục vào tu học tại chùa Từ Quang ở Phú Yên.

Năm Giáp Dần (1914), Tổ Ấn Bính gọi Ngài về và ấn chứng kế thừa trụ trì Chúc Thánh. Hòa thượng về trụ trì Chúc Thánh một thời gian thì đạo phong của Ngài đã lan tỏa khắp nơi và ngày mồng 8 tháng 9 năm Canh Thân (1920), chùa Chúc Thánh được triều đình ban Sắc Tứ.

Với đạo hạnh cao thâm, Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng cho các giới đàn tại chùa Báo Quốc- Huế, Từ Vân- Quảng Nam, Thạch Sơn-Quảng Ngãi v.v…

Năm Quý Dậu (1933), vào ngày mồng 8 tháng 7, Ngài được triều đình sắc phong Tăng cang chùa Chúc Thánh, ban cho giới đao, độ điệp và đến năm Bính Tý (1936), Ngài lại được sắc phong Tăng cang Tam Thai-Linh Ứng.

Vào những năm 1930 -1940, Hòa thượng được cung thỉnh Chứng minh đạo sư cho Hội An Nam Phật Học tại Quảng Nam. Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài trùng tu chánh điện, Đông đường, Tây đường khang trang cho đến ngày hôm nay.

Vào mùa hạ năm Nhâm Dần (1962), Ngài thị bịnh và viên tịch vào ngày mồng 6 tháng 7, thế thọ 82. Bảo tháp của Ngài được môn đồ an trí bên cạnh tháp Tổ Minh Hải trong khuôn viên Tổ đình Chúc Thánh. [10, 11-12]

9. Quảng Nam Tứ Trụ: Quảng Nam Tứ Trụ là danh từ thân mật kính ngưỡng mà chư Tăng Ni Phật tử  gọi 4 vị Hòa thượng tài ba lỗi lạc của xứ Quảng hiện đại. Đó là Hòa thượng Chơn Phát, Hòa thượng Long Trí, Hòa thượng Như Vạn, Hòa thượng Như Huệ. Mỗi vị có một biệt tài và đã đoàn kết bên nhau hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu hành cũng như tham gia các phong trào đấu tranh đòi tự do bình đẳng tôn giáo vào những thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX. Các Ngài kế thừa sự nghiệp chư Tổ làm cho Phật giáo Quảng Nam một thời hưng thịnh.

- Hòa thượng Chơn Phát : Ngài thế danh Nguyễn Nghi, sinh năm Nhâm Thân (1932) tại thôn Kim Bồng, xã Cẩm Kim, Hội An. Ngài xuất gia năm lên 10 tuổi với Hòa thượng Phổ Thoại tại Long Tuyền với pháp danh Chơn Phát, tự Đạo Dũng, hiệu Long Tôn, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Vào những thập niên 50-60, Ngài theo học tại Phật học đường Ấn Quang và làm giáo thọ sư tại Học viện Giác Sanh-Sài Gòn. Năm 1961, Ngài về trụ trì chùa Long Tuyền và thành lập Phật Học Viện Quảng Nam vào năm 1970. Ngài là người thâm hiểu Phật pháp và tâm huyết với việc đào tạo tăng tài. Hiện nay, Ngài đương kim trụ trì chùa Long Tuyền - Hội An.

- Hòa thượng Long Trí (1928 -1998): Ngài thế danh Lý Trường Châu, sanh năm Mậu Thìn (1928) tại làng Minh Hương-Hội An. Xuất gia năm 19 tuổi với Hòa thượng Phổ Thoại nên có pháp danh Chơn Ngọc, tự Đạo Bảo, hiệu Long Trí, nối pháp đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Trong những thập niên 50, các Tăng sĩ cùng khóa đều theo học các trường ở miền Nam thì Hòa thượng trụ tại trú xứ và theo học với bổn sư. Do thiên tính bẩm sinh nên Ngài rất có khả năng Tổ chức hành chánh cũng như nghi lễ. Năm 1954, Ngài về trụ trì chùa Viên Giác theo lời thỉnh cầu của đạo hữu Phật tử, đồng thời làm phó thư ký cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng. Trong các mùa pháp nạn, Ngài đều dấn thân tranh đấu cho sự tự do tôn giáo. Ngài thường chú trọng đào tạo Gia Đình Phật Tử, một thế hệ trẻ kế thừa Phật giáo sau này. Hòa thượng viên tịch vào ngày 13 tháng 9 năm 1998, hưởng thọ 71 tuổi.

- Hòa thượng Như Vạn (1930 -1980): Ngài thế danh Trần Văn Chín, sinh năm Canh Ngọ (1930) tại Ái Nghĩa-Đại Lộc. Ngài xuất gia năm 21 tuổi tại Chúc Thánh với Hòa thượng Thiện Quả, được ban pháp danh Như Vạn, tự Giải Thọ, hiệu Trí Phước, nối pháp đời thứ 41 Lâm Tế Chúc Thánh. Năm 1951, Ngài theo học tại Phật Học đường Ấn Quang. Năm 1959, Ngài được sơn môn cử làm trụ trì Tổ đình Phước Lâm. Năm 1960, Ngài được Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần cử làm giảng sư tỉnh Quảng Nam. Hòa thượng là người nhiệt tình trong mọi công tác Phật sự nên rất được Tăng Ni Phật tử yêu mến. Ngài có công trùng tu Tổ đình Phước Lâm trang nghiêm cho đến ngày hôm nay. Ngài viên tịch đột ngột vào ngày 23 tháng 3 năm 1980, hưởng dương 51 tuổi.

- Hòa thượng Như Huệ: Ngài thế danh Phạm Huệ, sinh năm Giáp Tuất (1934) tại làng Cẩm Phô-Hội An. Ngài xuất gia từ thuở nhỏ với Hòa thượng Thiện Quả tại Tổ đình Chúc Thánh. Ngài được bổn sư ban cho pháp danh Như Huệ, tự Giải Trí, hiệu Trí Thông, nối pháp đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Năm 1951, Ngài cùng các Hòa thượng Chơn Phát, Như Vạn, Chơn Điền v.v… vào học tại Học đường Ấn Quang. Năm 1960, Ngài cùng với Hòa thượng Như Vạn được Tổng Hội Phật giáo Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư tỉnh Quảng Nam. Trong mùa pháp nạn 1963, Ngài tích cực dấn thân tranh đấu vì sự trường tồn của Đạo pháp. Năm 1964, Ngài được Viện Hóa Đạo bổ nhiệm làm giảng sư chính thức tỉnh hội Quảng Nam. Những năm 1970, Ngài đảm nhận chức vụ trụ trì chùa Pháp Bảo (trụ sở tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam bấy giờ) và làm Giám đốc trường bồ đề Quảng Nam. Năm 1982, Ngài sang hoằng pháp và khai sơn chùa Pháp Hoa - Nam Úc. Hiện nay Hòa thượng là Hội Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan.

Hiện nay, Quảng Nam Tứ Trụ còn lại hai vị, nhưng những gì quý Ngài đã làm vẫn còn lưu lại trong tâm khảm của người con Phật xứ Quảng.

 

2.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH:

2.4.1. Đối Với Đạo Pháp:

Kể từ khi Tổ Minh Hải khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tính đến nay đã trải qua 300 năm truyền thừa lịch sử. Trong suốt khoảng thời gian ấy, Tăng đồ dòng Chúc Thánh không ngừng vận dụng đem hết mọi khả năng của mình để hoằng dương Phật pháp. Từ một vùng đất mà sự sinh hoạt Phật giáo chưa được ổn định, các Ngài đã đào tạo những thế hệ kế tục xứng đáng làm cho Phật giáo Quảng Nam khởi sắc, ổn định và phát triển song hành cùng với Phật giáo các tỉnh trong nước. Địa hình Quảng Nam từ vùng núi non hiểm trở xa xôi như Hòn Kẽm - Đá Dừng đến miền biển Duy Hải cát trắng đều có dấu chân hoằng pháp của các Ngài. Phần lớn, người dân Quảng Nam đều là tín đồ của Phật giáo. Phật giáo Quảng Nam dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của chư Tăng dòng Chúc Thánh đã góp vào lịch sử truyền bá Phật giáo trên đất Việt những trang vàng son rực rỡ.

 

2.4.2. Đối Với Dân Tộc:

Với tôn chỉ “Hộ quốc  an dân” Tăng nhân Chúc Thánh đóng góp rất lớn cho Dân tộc qua mọi triều đại cũng như các chế độ. Trong giai đoạn Đàng Ngoài-Đàng Trong, trong khi các Thiền sư dòng Tào Động đóng vai trò cố vấn chính trị cho chúa Nguyễn thì các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã tạo được sự đoàn kết trong mọi tầng lớp dân chúng, góp phần ổn định nhân tâm nên các chúa Nguyễn rất mến mộ. Trong giai đoạn Pháp thuộc, các Ngài cũng đã dấn thân tham gia phong trào Duy Tân, che chở cho các nhà chí sĩ  cách mạng nhằm giành lại nền tự chủ của nước nhà. Đến thời cận đại, các Hòa thượng cũng đã tham gia tích cực vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập, hòa giải Dân tộc để mưu cầu hòa bình cho đất nước.

 

2.4.3. Đối Với Văn Hóa:

Về văn hóa vật thể: Sự phát triển của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Nam đã đưa đến số lượng các chùa ngày một phát triển. Từ Chúc Thánh, các chùa như Phước Lâm, Cổ Lâm, Linh Ứng, Long Tuyền v.v… lần lượt ra đời và trở thành những ngôi chùa Tổ. Kiến trúc các ngôi chùa Tổ đã phần nào nói lên được nét văn hóa riêng biệt của người dân xứ Quảng. Các pho tượng cổ, các quả chuông xưa, những bản gỗ khắc kinh văn v.v… là những di tích minh chứng cho tâm đạo và sự tài hoa của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng, làng đúc Phước Kiều xưa. Các hoành phi liễn đối tại các chùa là một kho tàng triết lý vô tận, thể hiện sự thâm sâu giáo lý Phật Đà của các Thiền sư. Chính quần thể kiến trúc các chùa xưa cũng là một trong những yếu tố quan trọng để Tổ chức UNESSCO công nhận Hội An là di sản văn hóa thế giới, thu hút nhiều khách nước ngoài đến tham quan chiêm ngưỡng.

Về mặt văn hóa phi vật thể: Sự giáo hóa của tăng đồ dòng Chúc Thánh đóng vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần tại đất Quảng. Đạo đức Phật giáo được thể hiện qua đời sống của chư Tăng ảnh hưởng đến sinh hoạt tín ngưỡng cũng như tâm tư tình cảm của người dân nơi đây rất nhiều. Cụ thể tại Hội An, trung tâm của dòng Chúc Thánh, vào mỗi đêm 14 và 30 hàng tháng, nhà nào cũng đặt bàn hương án cúng vọng ngoài trời. Vào những ngày rằm và mồng một, hơn 90% dân chúng ăn chay theo tinh thần Phật giáo. Rải rác tại các huyện thị phụ cận, trong các điệu ai đưa linh, chúng ta nghe ông Công khấn nguyện Đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp độ vong giả. Như vậy, tín ngưỡng A Di Đà và tư tưởng vãng sanh Tịnh Độ ảnh hưởng rất lớn trong cộng đồng dân chúng.

Tóm lại, từ đầu thế kỷ XVIII đến những năm cuối thế kỷ XX, môn phái Chúc Thánh phát triển mạnh và đóng góp tích cực vào sự truyền bá Phật pháp tại Quảng Nam. Từ đây, tăng đồ Chúc Thánh đã vân du đến các tỉnh thành hoằng hóa. Vì thế, dòng Chúc Thánh có sự truyền thừa và ảnh hưởng rất lớn đối vơí sinh hoạt của Phật giáo các tỉnh miền Trung và Nam Việt Nam cũng như lan rộng đến các nước trên thế giới.

 

Chương 3

SỰ TRUYỀN THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI

CÁC TỈNH MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM

 

Kể từ khi Tổ Minh Hải khai dòng pháp thủy tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An, các Tăng đồ thuộc hàng đệ tử và pháp tôn của Ngài đã đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp nơi.  Bên cạnh sự hình thành và phát triển tại Quảng Nam, Thiền phái Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng phát triển khắp các tỉnh thành từ Huế vào đến Sài Gòn và lan ra tận hải ngoại vào những thập niên 80 của thế kỷ XX. Từ đó, các Tăng sĩ của dòng Chúc Thánh đã góp phần quan trọng trong sứ mệnh truyền pháp khắp mọi nơi trong và ngoài nước.

 

3.1 Tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Thừa Thiên-Huế tức Thuận Hóa xưa, là kinh đô của các chúa và vua triều Nguyễn trong vòng 4 thế kỷ. Nhắc đến Huế, người ta liên tưởng đến sự cổ kính của cố đô, đồng thời cũng là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Là kinh đô của một vương triều sùng mộ đạo Phật, Huế đã vinh dự đón nhận bước chân của các bậc cao Tăng đến giảng pháp.

Sự kiện đầu tiên ghi nhận các Thiền sư dòng Chúc Thánh có mặt tại Thuận Hóa là tham dự trai đàn tại chùa Linh Mụ vào năm Minh Mạng thứ 2, tức năm Canh Thìn (1820). Chư tăng tại Quảng Nam ra kinh đô dự đại trai đàn là Hòa thượng chùa Phước Lâm và tăng chúng 20 vị [6, 30]. Vị Hòa thượng ấy là Ngài Minh Giác, một vị cao tăng thuộc thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh.

Đến năm Kỷ Sửu (1889), Thiền sư Chơn Kim-Pháp Lâm thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Châu Lâm-Phú Yên ra kinh đô hoằng hóa tại chùa Viên Thông. Chùa Viên Thông do Tổ Liễu Quán khai sơn, truyền đến đời Ngài Tánh Trạm thì không có người kế thừa nên Thiền sư Chơn Kim đảm nhận chức ỉ trụ trì. Từ đây, Thiền phái Chúc Thánh có mặt và phát triển tại Huế. Tuy nhiên, sự phát triển rất khiêm tốn trong sự truyền thừa của chùa Viên Thông. Các Thiền sư tiêu biểu truyền thừa tại đây có Ngài Hoằng Nguyện và Ngài Diệu Khai.

- Hòa thượng Hoằng Nguyện: Ngài người làng Bao La, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa  Thiên, có pháp danh Như Thừa. Ngài kế thừa bổn sư Chơn Kim trụ trì chùa Viên Thông. Ngài có công khai khẩn đất chùa thêm 3 mẫu và cả đời thực hành theo chủ trương “bất tác bất thực” của Tổ Bách Trượng. Vào năm Giáp Tý (1924), Ngài định thiêu thân cúng dường vào ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4 nhưng bị Ngài Viên Thành ở Trà Am và Ngài Giác Viên ở Hồng Khê phản đối. Vì thế, Ngài tịch cốc từ mồng mồng 8 tháng 4 đến 15 tháng 5 thì tịch. Đệ tử của Ngài là Thị Bình-Diệu Khai kế thừa trụ trì chùa Viên Thông.

- Hòa thượng Diệu Khai: Ngài pháp danh Thị Bình, sinh ngày 30 tháng 3 năm Mậu Thân (1908) tại làng Nam Phổ Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi tại chùa Viên Thông và kế vị trụ trì chùa vào năm 1924. Ngài theo học kinh luật với Ngài Viên Thành ở Trà Am và học nghi lễ với Tổ Phước Huệ tại Thập Tháp. Ngài có công trùng tu chùa Viên Thông khang trang cho đến ngày hôm nay. Đệ tử nối pháp của Ngài có các Hòa thượng Đồng Chơn-Thông Niệm (khai sơn chùa Bát Nhã-Đà Nẵng), Hòa thượng Đồng Quả-Thiện Phước (thủ chúng chùa Linh Sơn-Đà Lạt). Hiện tại, trụ trì chùa Viên Thông là Hòa thượng Đồng Huy, hiệu Quảng Tú đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Thiền sư Ấn Bổn-Vĩnh Gia thường được triều đình thỉnh ra kinh đô thuyết giảng. Đạo hạnh và sự uyên thâm Phật pháp của Ngài đã được cộng đồng tăng lữ đất thần kinh kính ngưỡng và theo thọ pháp. Đặc biệt nhất là giới đàn năm Canh Tuất (1910), số giới tử tại Thừa Thiên-Huế vào Phước Lâm thọ giới với Ngài đều đắc pháp, về sau trở thành những bậc đống lương của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Ngoài Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, chúng ta còn biết được một số vị cao Tăng ở Huế thọ pháp với Ngài Vĩnh Gia như: Hòa thượng Giác Viên (khai sơn chùa Hồng Khê); Hòa thượng Chơn Thiệt (chùa Từ Hiếu); Hòa thượng Giác Nguyên (trụ trì chùa Tây Thiên), Hòa thượng Tịnh Hạnh (trụ trì chùa Tường Vân), Hòa thượng Giác Tiên (khai sơn chùa Trúc Lâm) v.v…Các vị này toàn là những bậc long tượng trong nhà Thiền, khiến cho Phật giáo xứ Huế hưng thịnh. Đến năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Chơn Pháp-Phước Trí khai giới đàn tại chùa Từ Vân -Đà Nẵng, tại Huế có một số giới tử vào cầu pháp, trong đó có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một vị cao Tăng thời cận đại, đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

Tóm lại, sự phát triển của dòng Chúc Thánh tại Thừa Thiên-Huế rất là khiêm tốn, chỉ vỏn vẹn một ngôi chùa Viên Thông. Nhưng  xét về mối tương giao thì các vị cao Tăng ở Huế thời cận đại đều vào thọ giáo và đắc pháp với các Thiền sư dòng Chúc Thánh tại Quảng Nam. Các Hòa thượng  Vĩnh Gia, Phước Trí bằng đạo lực của mình đã tác thành giới thể cho các giới tử, mà về sau trở thành các bậc cao Tăng không những cho xứ Huế mà ảnh hưởng rất lớn đến sự thịnh suy của Phật giáo Việt Nam.

 

3.2 Tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi là tỉnh tiếp giáp với Quảng Nam nên sớm đón nhận những Thiền sư của dòng Lâm Tế Chúc Thánh đến hoằng hóa. Hai vị đệ tử Tổ Minh Hải đến Quảng Ngãi đầu tiên là Ngài Thiệt Úy-Chánh Thành-Khánh Vân khai sơn chùa Liên Tôn và Ngài Thiệt Uyên-Chánh Thông-Chí Bảo khai sơn chùa Bảo Lâm. Sau đó, Ngài Khánh Vân lên kế thế trụ trì chùa Thiên Ấn khi Tổ khai sơn là Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa viên tịch. Từ đó, Thiên Ấn truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải và trở thành Tổ đình của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Ngãi.

Các hàng đệ tử, pháp tôn của các Ngài lần lượt khai sơn các chùa như: Ngài Ấn Tham-Hoằng Phúc (đời 39) khai sơn chùa Quang Lộc; Ngài Ấn Kim-Hoằng Tịnh (đời 39) khai sơn chùa Phước Quang; Ngài Ấn Lãnh-Hoằng Thạc (đời 39) khai sơn chùa Thạch Sơn; Ngài Hoằng Thanh (đời 39) khai sơn chùa Cảnh Tiên; Ngài Chơn Sử-Khánh Tín (đời 40) khai sơn chùa Thọ Sơn; Ngài Chơn Trung-Diệu Quang (đời 40) khai sơn trùng kiến các chùa như Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Kim Tiên … Ngài Chơn Miên-Trí Hưng (đời 40) khai sơn chùa Từ Lâm, Ngài Như Bình-Giải An (đời 41) khai sơn chùa Từ Quang v.v… Tất cả đã tạo nên một hệ thống các chùa huộc môn phái Chúc Thánh có sự sinh hoạt rất chặt chẽ.

Dòng Lâm Tế Chúc Thánh có những vị cao Tăng góp phần rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp tại Quảng Ngãi, tiêu biểu là các vị Tổ sư tại Thiên Ấn như sau:

- Đệ nhị Tổ Thiền sư Khánh Vân: Ngài họ Huỳnh, quê làng Mộ Đức, xuất gia với Tổ Minh Hải, pháp danh Thiệt Úy, tự Chánh Thành, hiệu Khánh Vân. Sau khi khai sơn chùa Liên Tôn tại quê nhà, Ngài được thỉnh kế thế Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa trụ trì chùa Thiên Ấn. Từ đây, chùa Thiên Ấn bắt đầu truyền thừa theo dòng kệ của Tổ Minh Hải. Sau hơn 30 năm hoằng dương Phật pháp tại Thiên Ấn, Ngài thị tịch vào ngày mồng 1 tháng 10 năm Quý Tỵ (1773).

- Đệ tam Tổ Thiền sư Bảo Ấn: Ngài họ Trịnh, quê làng Tráng Liệt, quận Tư Nghĩa, húy Toàn Chiếu, tự Trí Minh, hiệu Bảo Ấn, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài đem hết tâm huyết của mình để trùng tu Tổ nghiệp nên thời Ngài tăng chúng tu hành tại Thiên Ấn rất đông. Ngài noi gương Tổ Bách Trượng thành lập nông Thiền với chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Trong đời Ngài có một truyền thuyết rất là thần kỳ: đó là quả chuông thần . Số là trong một đêm Hòa thượng đang tĩnh tọa tham Thiền, có vị hộ pháp đến thưa Ngài cho người đến làng Chú Tượng, quận Mộ Đức thỉnh đại hồng chung. (Nguyên là làng Chú Tượng có đúc một quả đại hồng chung nhưng đánh không kêu). Sáng ra, Hòa thượng cho thầy Điển tọa đến thỉnh thì hương chức trong làng không đồng ý, phải đến lần thứ hai thì họ mới chấp nhận. Sau khi quả hồng chung về đến chùa, Ngài khấn nguyện tạ Phật và Tổ chức lễ khai chuông. Kỳ lạ thay, khi Ngài cầm dùi đánh thì tiếng chuông ngân vang khắp mọi nơi. Sự kiện này xảy ra vào ngày mồng 10 tháng 4 năm Ất Tỵ (1845), Ngài viên tịch vào ngày 30 tháng 6 năm Bính Dần (1866) sau 40 năm gắn liền với chùa Thiên Ấn.

- Đệ tứ Tổ Thiền sư Giác Tánh: Sau khi Tổ Toàn Chiếu-Bảo Ấn viên tịch, đệ tử là Ngài Chương Khước, tự Tuyên Tôn, hiệu Giác Tánh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài noi theo chí nguyện của Bổn sư tiếp tục mở rộng nông Thiền và tiếp tăng độ chúng. Môn hạ của Ngài có nhiều vị thành danh như các vị Hoằng Phúc, Hoằng Thanh, Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc v.v… Đạo phong của Ngài đã khiến vị thần cây đến xin quy y và Ngài đã cho pháp danh là “Lãnh sơn Mộc cộng chi thần, pháp danh Ấn Chứng”. Ngài viên tịch vào ngày mồng 1 tháng 3 năm Tân Hợi (1911) với hơn 50 năm hoằng pháp tại Thiên Ấn.

- Đệ ngũ Tổ Thiền sư Hoằng Phúc: Sau khi Tứ Tổ viên tịch, Ngài Hoằng Phúc, trụ trì chùa Quang Lộc được sơn môn cung thỉnh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài họ Phạm, người làng Phước Long-Tư Nghĩa, húy Ấn Tham, tự Tổ Văn, hiệu Hoằng Phúc, là đệ tử của Tổ Giác Tánh. Ngài có tâm nguyện sùng hưng chốn Tổ, nhưng Ngài chỉ mới trùng tu được cổng tam quan thì viên tịch ngày 19 tháng chạp năm Giáp Dần (1914), sau 4 năm trụ trì Thiên Ấn.

- Đệ lục Tổ Thiền sư Diệu Quang: Sau khi Ngũ Tổ viên tịch, Thiên Ấn rơi vào tình trạng không có trụ trì. Mãi đến năm Tân Dậu (1921), sơn môn thỉnh Ngài Diệu Quang về trụ trì. Ngài họ Trần, người làng Sung Tích-Sơn Tịnh, là đệ tử của Tổ Hoằng Phúc có pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Chí, hiệu Diệu Quang, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài có công làm con đường trôn ốc từ chân núi lên đến chùa. Đạo phong và uy tín của Ngài vang dội, được triều đình sắc phong Tăng cang vào năm Bảo Đại thứ 3. Ngài có công sáng lập và trùng tu nhiều chùa trong tỉnh cũng như đào tạo các thế hệ tăng sĩ kế thừa. Ngài thị tịch vào ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Thìn (1952). [2, 17-30]

Tóm lại, kể từ khi có mặt trên đất Quảng Ngãi, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh luôn đem hết khả năng của mình để xiển dương Đạo pháp và phục vụ Dân tộc. Sự đóng góp ấy luôn được Tăng Ni Phật tử các thế hệ sau trân trọng ghi nhận và giữ gìn phát triển. Ngày nay, tại Quảng Ngãi phần lớn các chùa đều truyền thừa theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

 

3.3 Tỉnh Bình Định.

Bình Định, mảnh đất giữa miền Trung nước Việt, nơi đây đã vinh dự đón nhận những bước chân đầu tiên của vị Tổ sư dòng Lâm Tế đến Đàng Trong hoằng hóa: đó là Nguyên Thiều-Thọ Tôn Hòa thượng. Từ đây, Phật giáo Bình Định khởi sắc bởi tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế. Từ cội nguồn đó, dòng Lâm Tế tại Bình Định truyền thừa theo ba bài kệ: Lâm Tế Nguyên Thiều, Lâm Tế Chúc Thánh, Lâm Tế Liễu Quán. Cả ba phái này hòa quyện và bổ túc cho nhau tạo nên một sự ổn định của Phật giáo tỉnh Bình Định từ xưa đến nay.

Các vị Thiền sư đầu tiên của pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh đến đất Bình Định là Ngài Thiệt Thuận-Chánh Mạng-Huệ Trường khai sơn chùa Linh Sơn-Phù Cát; Ngài Thiệt Đăng-Chánh Trí-Bửu Quang khai sơn chùa Sơn Long-Quy Nhơn. Cả hai vị đều là đệ tử của Tổ sư Minh Hải, thuộc đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tiếp đến, Ngài Pháp Tịnh-Viên Quang, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh (đệ tử Tổ Thiệt Dinh ở Phước Lâm-Hội An) vào khai sơn chùa Thiên Hòa. Đời 37 có các Ngài Toàn Ý-Phổ Huệ khai sơn Chùa Phổ Bảo; Toàn Tín-Đức Thành khai sơn chùa Khánh Lâm (cả hai vị là đệ tử Tổ Pháp Liêm tại Phước Lâm-Hội An); Ngài Toàn Thể-Linh Nguyên khai sơn chùa Long Tường (đệ tử Tổ Pháp Chuyên- Diệu Nghiêm chùa Từ Quang-Phú Yên). Đời 38, các vị đệ tử Tổ Toàn Ý ra khai sơn các chùa như: Ngài Chương Lý-Hoằng Hóa khai sơn chùa Diệu Phong; Chương Hiệp-Chánh Trì khai sơn chùa Huỳnh Long; Chương Thiện-Hoằng Đạo khai sơn chùa Phổ Quang; Chương Hải-Thanh Nguyên khai sơn chùa Thiên Trúc; Chương Trí-Quảng Giác khai sơn Chùa Hưng Khánh v.v.. Từ đó tạo nên một hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh có sự liên hệ sinh hoạt chặt chẽ.

Trong sự truyền thừa của dòng Chúc Thánh tại Bình Định, có những Thiền sư tiêu biểu như sau:

- Thiền sư Liễu Tạng (1784-1866): Ngài sanh năm Giáp Thìn (1784), xuất gia với Tổ Toàn Tín-Đức Thành tại chùa Khánh Lâm có pháp danh Chương Nghĩa, hiệu Liễu Tạng, thuộc đời 38 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là bậc danh tăng đa văn quảng bác đã soạn cuốn “Thiền Môn Chánh Độ” để làm nghi lễ tế Tăng cang Tổ Ấn-Mật Hoằng thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 10 năm Ất Tỵ (1825). Đây là cuốn khoa nghi đầu tiên được soạn để cung tiến Giác linh khi các Thiền sư viên tịch nên có tầm quan trọng đối với giới Tăng lữ tại kinh đô cũng như các tỉnh thành. Với đạo cao đức trọng và sự uyên thâm giáo điển, Ngài được mời ra Phú Xuân giảng dạy, hoằng pháp. Ngài thị tịch mồng 4 tháng 4 năm Bính Dần (1866), thọ 83 tuổi. Nhục thân được lưu giữ tại chùa Quốc Ân-Huế.

- Hòa thượng Trí Hải (1876-1950): Ngài thế danh Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876) tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn-Bình Định. Thuở nhỏ, Ngài theo Nho học, thi đậu tú tài năm 31 tuổi. Năm 1919, 43 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Ấn Lãnh-Hoằng Thạc tại chùa Thạch Sơn-Quảng Ngãi, có pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn có kiến thức Nho học cộng với sự thông minh mẫn duệ nên Ngài sớm thâm nhập diệu lý của Phật đà. Năm 1931, Ngài được Hòa thượng Khánh Hòa mời làm chủ bút tạp chí Từ Bi Âm  của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1934, Ngài khai sơn chùa Bích Liên tại quê nhà. Từ đó mọi người kính ngưỡng đều gọi Ngài là Hòa thượng Bích Liên. Năm 1937, Hội Đà Thành Phật Học tại Quảng Nam Đà Nẵng mời Ngài làm chủ bút tạp chí Tam Bảo. Sau đó, Ngài về chùa nghiên cứu giảng dạy và đã đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngài viên tịch vào ngày 3 tháng 6 năm Canh Dần (1950) thọ 75 tuổi. Hòa thượng trước tác rất nhiều, đặc biệt hai bản văn “Quy Sơn Cảnh Sách” và “Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” bằng chữ Nôm đã thể hiện được sự tài hoa của Ngài. [3, 213-217]

- Hòa Thượng Trí Độ (1894-1979): Ngài thế danh Lê Kim Ba (Lê Đinh Ba), sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại Phổ Trạch, Tuy Phước-Bình Định. Thuở thiếu thời, Ngài chuyên học Nho và nghiên cứu Phật học. Năm 1935, Ngài được mời làm đốc giáo và giảng dạy tại trường An Nam Phật Học tại chùa Báo Quốc-Huế. Năm 1940, Ngài xuất gia với Tổ Chơn Giám-Trí Hải nên được ban pháp danh là Như Đăng, hiệu Trí Độ, thuộc đời 41 dòng Chúc Thánh. Sau đó, Ngài vào tham học với Hòa thượng Phước Huệ tại Thập Tháp. Năm 1941, Ngài thọ đại giới tại chùa Quốc Ân-Huế. Năm 1945, Ngài tham gia Phật giáo cứu quốc và năm 1946, Ngài được mời ra giảng dạy tại chùa Quán Sứ-Hà Nội. Từ đó, cuộc đời của Ngài gắn liền với những Phật sự tại miền Bắc cho đến ngày viên tịch mồng 4 tháng 1 năm Kỷ Mùi (1979) thọ 86 tuổi. Ngài đã để lại nhiều trước tác và dịch phẩm rất có giá trị về Phật học. [3, 571-578]

Hiện tại, dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Bình Định còn nhiều cây đại thọ chấn sơn môn, là nơi nương tựa của đàn hậu học như: Hòa thượng Như An-Huyền Quang; Thị Huệ-Bảo An, Thị Quảng-Đổng Quán v.v….

 

3.4 Các tỉnh Phú Yên - Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận.

Phú Yên từ xưa đến nay vẫn được giới Phật giáo ca ngợi là chốn Tổ. Bởi lẽ, các bậc Tổ sư danh đức phần lớn xuất thân từ đất Phú Yên như Tổ Liễu Quán, Tổ Giác Ngộ, Tổ Toàn Nhật, Tổ Pháp Tạng v.v… Tại Phú Yên, sự truyền thừa chủ yếu là dòng Lâm Tế Liễu Quán và Lâm Tế Chúc Thánh.

Người đầu tiên của dòng Chúc Thánh đến Phú Yên là Thiền sư Pháp Chuyên-Diệu Nghiêm, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh. Sau một thời gian hoằng hóa, Ngài khai sơn chùa Từ Quang-Đá Trắng vào năm Đinh Tỵ (1797). Từ đó, chùa Từ Quang trở thành Tổ đình của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên. Nơi đây là trung tâm đào tạo Tăng tài của các tỉnh miền Trung vào các thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX.

Từ Tổ đình Từ Quang, các đệ tử của Ngài Pháp Chuyên khai sơn các chùa trong tỉnh như sau: Ngài Toàn Đức-Thiệu Long khai sơn chùa Khánh Sơn; Ngài Toàn Nghĩa-Chơn Thường khai sơn chùa Thượng Tiên Thọ Vân; Ngài Toàn Nhật-Quang Đài khai sơn chùa Viên Quang; Ngài Liễu Năng-Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn; Ngài Liễu Diệu-Chánh Quang khai sơn chùa Triều Tôn v.v..Từ đó, dòng Chúc Thánh hưng thịnh tại Phú Yên và liên tục phát triển vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.

Tại Phú Yên, dòng Chúc Thánh có những vị Thiền sư nổi tiếng như :

- Thiền sư Diệu Nghiêm (1738-1810): Ngài họ Trần, sinh ngày 2 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) tại làng Cổ Tháp, phủ Thăng Hoa, nay là xã Duy Châu-Duy Xuyên-Quảng Nam. Ngài vốn thông minh đỉnh tuệ, thi đậu tú tài khi 18 tuổi và ra làm quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sau khi xem tuồng “Tam Trinh Cố Sự” và “Long Hổ Sự Duyên”, Ngài ngộ lẽ vô thường ảo hóa của kiếp người nên quyết chí xuất gia. Ngài đến chùa Phước Lâm-Hội An lạy Tổ Ân Triêm làm thầy và được Tổ cho pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Từ đó, Ngài tinh cần học đạo, nổ lực hành trì tu tập. Về sau, Ngài đến chùa Thập Tháp-Quy Nhơn theo học với Ngài Liễu Triệt, đồng thời đọc hết bộ Đại Tạng do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Cửu hiến cúng. Vào một đêm, sau khi đọc kinh Hoa Nghiêm, Ngài thấy lòng tỏ ngộ nên phát nguyện: “Phàm gặp người bất luận nam nữ, già trẻ, sang hèn thảy đều giáo hóa quy kính Tam Bảo, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”. Từ đó, Ngài giáo hóa khắp các vùng từ Quảng Nam vào đến Phú Yên. Mãi đến năm Đinh Tỵ (1797)


Tiêu đề: Hóng chuyện dưới chân chùa Tây Phương
Gửi bởi: SCC trong Tháng Mười 17, 2008, 04:19:50 AM
Chùa Tây Phương nay đã về với Thủ đô. Nhưng ngay dưới chân các vị La Hán, chúng tôi vẫn được nghe những câu chuyện kỳ bí, nửa thực nửa hư được người dân nơi đây truyền miệng từ đời này sang đời khác

Ngôi đình thiêng và quả chuông kỳ bí

Đình làng Yên Lạc nằm cách chùa Tây Phương chỉ vài trăm mét. Ngôi đình cổ oai nghiêm, trầm mặc giữa không gian của một làng quê yên tĩnh lại ẩn chứa trong mình những câu chuyện kỳ bí, khó tin và đến nay vẫn chưa có một lời giải thích thoả đáng, khoa học.
(http://images.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2008/10/17/2008101794038728/2008/10/Anh%201%20Tay%20Phuong.JPG)
 Đình làng Yên Lạc.

Cần Kiệm là vùng đất cổ xứ Đoài, có sông, suối, núi đồi, nơi cư dân Việt cổ sinh sống. Sự tích tam vị Thành hoàng làng Yên Lạc cả xã đều rõ như chuyện nhà mình. Cụ từ trông đình lần dở cuốn Ngọc phả đình làng Yên Lạc đã được dịch ra chữ quốc ngữ, nheo mắt nhẩm đọc. Cuốn Ngọc phả này được nhà Hán học Ngô Đức Thọ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ban Khoa học xã hội Việt Nam dịch thuật. Trong đó có ghi rõ đình Yên Lạc là nơi thờ tam vị Đại vương có công cùng Tản Viên sơn thánh đánh giặc giữ nước Văn Lang thời Hùng Vương thứ 18.

Đình làng Yên Lạc có cấu trúc đặc biệt, mọi người phải đi qua sân đình rồi mới vào cổng đình. Cột trụ cổng đình được xây cao vút lên ngang mái đình đồ sộ. Theo những tài liệu còn lưu giữ được thì đình được dựng từ thời Hồng Đức nguyên niên (1469). Cột đình được làm toàn bộ bằng gỗ lim, một người ôm không hết. Trải qua bao năm tháng gió mưa dập vùi, những cột trụ ấy vẫn vững chãi, chỉ có mái đình là đôi lần phải lợp lại.

Suốt những năm chống Pháp, đình làng bị máy bay bắn phá dữ dội nhưng vẫn chẳng hề gì. Phải chịu bao trận bom ác liệt của giặc Pháp nhưng các cột trụ vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt". Trên những trụ ấy, bây giờ vẫn còn những vết tích từ thời chiến, những vết đạn, những mảnh bom đã găm mình trên đó mấy chục năm rồi.

Cụ từ trông đình năm nay đã ngoại bát tuần, râu tóc bạc phơ kể về sự thần bí, linh thiêng của khúc gỗ:

     “Thường ngày, khi con nước lên xuống, khúc gỗ cũng lên xuống theo, lúc nào cũng ở gần mép nước, không hề lên quá gần bờ hay ngập chìm trong nước. Mùa lũ, nó bị cuốn trôi theo dòng nước nhưng thời gian sau, tôi lại thấy nó về lại bến nước này. Hỏi khắp thì ai cũng lắc đầu rằng mình không mang nó về!”


Trước cổng đình, cạnh bến nước là cây đa 9 gốc tỏa bóng mát, tạo nên một không gian cổ kính, trầm mặc. Theo các cụ trong làng kể lại thì sau khi dựng xong đình làng, trời đổ mưa to, rồi lũ. Lũ cuốn theo một cây đa nhỏ đến trước cổng đình (trước cổng đình, chỗ cây 9 gốc bây giờ ngày trước là sông). Sau khi bị lũ cuốn đến đó, cây tự bám rễ mà sống và ngày càng xum xuê, thành những thân, những gốc như bây giờ mà không hề có sự chăm sóc của ai cả!

Trong đình Yên Lạc ngày trước có một quả chuông đồng rất to, hai người ôm không hết, cao gần 2 mét. Trên thân chuông có khắc những hình long phượng và rất nhiều hoa văn đẹp mắt. Đặc biệt, nó còn khắc tên của làng Yên Lạc, xã Cần Kiệm. Đó chính là "dấu hiệu" để người dân nơi đây phân biệt với những quả chuông của làng khác.

Dân làng Yên Lạc tin rằng đây là một quả chuông thiêng. Sự kỳ bí, linh thiêng của nó xuất hiện từ khi đúc. Ông Nguyễn Văn Dậu, Trưởng ban quan lý di tích đình Yên Lạc kể lại câu chuyện ông được các cụ đời trước truyền lại như thế này: Sau khi dựng đình xong, mọi người đi quyên góp đồng từ khắp nơi để đúc chuông. Khi ấy có một người hành khất đi qua, trên người không có gì đáng giá mới góp một chiếc chìa khóa bằng đồng, những người phụ trách đã không nhận. Người hành khất đem chiếc chìa khóa ấy thả xuống cái ao nhỏ trên đồng làng (nơi ấy bây giờ đã trở thành ruộng lúa). Dân làng đúc chuông nhưng qua 3 lần đúc đi đúc lại, quả chuông vẫn bị thủng một lỗ nhỏ, đánh không thành tiếng. Một ông thầy có tiếng bảo rằng cần phải có chiếc chìa khóa của người hành khất kia thì đúc chuông mới thành. Thế là dân làng đổ xô đi tìm người hành khất để xin chiếc chìa khóa. Sau khi tìm thấy, cho vào đúc lại, quả nhiên chuông không bị thủng nữa, tiếng kêu vang vọng. Chuông được treo ở gian đại bái ngay trước cửa đình. Bom đạn của Pháp khiến trên thân chuông bị mấy vết xước.

Mấy trăm năm ở trong ngôi đình, trải qua bao sóng gió, quả chuông đã trở thành vật thân thuộc với mỗi người dân Yên Lạc. Thế mà đột nhiên, đến thời chống Mỹ, chính xác là năm 1968, kẻ trộm đã "khuân" quả chuông đi như... một chuyện đùa. Cả làng Yên Lạc bàng hoàng, không tin rằng một quả chuông to, nặng như thế lại được đem ra khỏi làng trót lọt mà không bị ai phát hiện. Từ ấy, dân làng ra sức "truy lùng" tung tích quả chuông. Mọi người đến rất nhiều các ngôi đình, chùa, đến cả những nơi buôn bán đồng nát nhưng đều không tìm thấy.

Có lẽ ông Dậu là người mất nhiều công sức nhất trong việc tìm vật báu của quê hương. Gần chục năm nay, ông lặn lội khắp nơi tìm kiếm. Hễ nghe thấy ai nói ở đâu có chuông là ông lại lạch cạch đạp xe đến nơi. Nhưng bao lần "mục sở thị" là bấy nhiêu lần ông buồn bã trở về vì đó không phải quả chuông làng mình. Những người con Yên Lạc đi làm ăn xa, ông đều căn dặn phải cố tìm kiếm tin tức về quả chuông của làng. Đến giờ, quả chuông ấy vẫn "lưu lạc" đâu đó chưa về được với quê hương.

Khúc gỗ biết… quay về

Một khúc gỗ đen kịt ở bến sông Tích trước cổng đình Yên Lạc bao năm nay đã "nổi tiếng" khắp vùng vì biết... quay về làng. Khúc gỗ có từ bao giờ không ai rõ. Ngay cả những bậc bô lão lớn tuổi nhất trong làng còn bảo rằng, từ ngày bé, họ đã được ông cha kể cho nghe những câu chuyện về nó. Chuyện kể rằng, xưa khi dân làng làm đình, còn thừa một khúc gỗ khá to, mọi người đem ra bến nước làm cái bàn giặt. Người làng đi làm đồng về đều ghé qua bến nước, để chân lên khúc gỗ kỳ cọ. Trẻ con vẫn thường lấy nó làm "cầu nhảy" lao mình xuống dòng nước mát lạnh. Qua bao nhiêu năm dập vùi sóng nước, nó mòn đi và trở nên đen kịt như bây giờ.
(http://images.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2008/10/17/2008101794038728/2008/10/anh%204-Tay%20Phuong.JPG)
Bây giờ, khúc gỗ đen đã bị mòn đi nhiều, dân làng không còn dùng nó làm bàn giặt nữa, nhưng nó vẫn là một phần không thể thiếu nơi làng quê yên bình này.

Cụ Từ trông đình năm nay đã ngoại bát tuần, râu tóc bạc phơ kể về sự thần bí, linh thiêng của khúc gỗ: "Thường ngày, khi con nước lên xuống, khúc gỗ cũng lên xuống theo, lúc nào cũng ở gần mép nước, không hề lên quá gần bờ hay ngập chìm trong nước. Mùa lũ, nó bị cuốn trôi theo dòng nước nhưng thời gian sau, tôi lại thấy nó về lại bến nước này. Hỏi khắp thì ai cũng lắc đầu rằng mình không mang nó về!"

Người dân Yên Lạc bao năm nay vẫn truyền miệng nhau những câu chuyện kỳ bí xung quanh khúc gỗ đen ấy. Có người kể rằng, đêm về, họ thấy hai nàng tiên ngồi chơi trên đó. Lại có người "doạ" chúng tôi bằng câu chuyện về những người tham lam mang khúc gỗ đó về làm của riêng, gặp phải những chuyện không may, phải tha hương đi nơi khác làm ăn.

Cũng có người cố gắng lý giải cho sự linh thiêng của khúc gỗ đen. Người thì cho rằng đó là "khúc gỗ thần", người thì bảo khúc gỗ ấy lấy từ trong đình ra, các Thánh đã "yểm bùa" cho nó, không ai được phạm... Tất cả những lời giải thích ấy chỉ làm tăng thêm sự huyền bí của nó, không có cơ sở khoa học. Nhiều người lại cho rằng, sự kỳ bí, linh thiêng của nó có liên quan đến bãi đá đen phía cuối làng, cách đình làng và bến nước không xa. Tương truyền rằng, vào cuối thế kỷ thứ IX, một nhà phù thủy cao tay của Trung Quốc là Cao Biền đã đến đây trấn yểm. Hiện nay, trên các hòn đá vẫn có hình bước chân trấn yểm của Cao Biền xưa?! Trong Bảo tàng tỉnh Hà Tây (cũ) còn lưu giữ một tấm đồ có đánh dấu những vùng đất trên tỉnh bị Cao Biền yểm mạch.

Bao nhiêu lời lý giải, song có lẽ thuyết phục nhất là sự giải thích của ông Nguyễn Văn Dậu, Trưởng Ban quản lý khu di tích làng Yên Lạc. Theo ông, khúc gỗ ấy là gỗ thông, một loại gỗ có khối lượng riêng vào loại trung bình. Khi thả xuống nước, nó không chìm hẳn, cũng không nổi hẳn, chỉ là là mặt nước. Hơn nữa, bến sông bên này lại thoai thoải vì là bên bồi. Chính những điều đó khiến cho khúc gỗ lên xuống cùng dòng nước.

Ông Dậu cho rằng, những câu chuyện về khúc gỗ, về bãi đá chỉ là những câu chuyện do dân gian sáng tạo ra để răn dạy con cháu, như chuyện Thánh Gióng giúp vua diệt giặc cứu nước. Người dân Yên Lạc vẫn giữ gìn và kể cho con cháu nghe những câu chuyện ấy như những câu chuyện dân gian dạy con người biết trọng quá khứ.

Về thăm Yên Lạc bây giờ, chúng ta vẫn thấy hình ảnh thân thương của một làng quê yên bình. Bao đời nay, người dân Yên Lạc đã quen với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình. Những thứ ấy đã gắn bó mật thiết với người dân quê, trở thành nét sinh hoạt bình dị, thân thuộc. Nơi đây vừa khoác lên mình chiếc áo hào nhoáng "đất Thủ đô". Liệu rằng mái đình cổ kính, cây đa cổ thụ 9 gốc và cả những câu chuyện hư hư thực thực, kỳ bí về sự linh thiêng của khúc gỗ, của bãi đá đen có thể "sống" được trong cái ồn ã của cuộc sống thành thị?!

Bài và ảnh: Trang Nguyên (suckhoedoisong)





Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: LANFRANCE trong Tháng Mười 18, 2008, 07:04:43 AM
Bài của cả hai người bài nào cũng dài  :-S may mà bài SCC có cái hình còn đỡ đau mắt  :D
Tks.Tiếp đi diep và scc .Đang hay .
LANF.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: SENTHISAO trong Tháng Mười Một 13, 2008, 04:40:14 AM
Chùa Tháp Vàng Schwedagon ở Miến Điện
Võ Quang Yến
 

(http://chimviet.free.fr/25/vyen052/vyen052b.jpg)

Tọa lạc trên ngọn đồi Singuttara cao 58m so với mặt biển, giữa một mặt bằng 5,6 ha, tháp chùa Schwedagon lóng lánh dưới nắng từ sáng đến tối. Nhưng đẹp nhất là vào cuối chiều, những lớp vàng trên tháp phản chiếu ánh mặt trời sắp lặn, cho dội ra những tia sáng huyền ảo trong một bầu không khí mát dịu vì nhiệt độ trong ngày đang dần dần tiêu tan. Đúng vào lúc nầy, sở tan, trường đóng, từng đợt gia đình lũ lượt kéo nhau lên chùa lễ bái. Đây chính điện, thiền đường tương đối nhỏ, không đủ chỗ cho tất cả mọi người. Tín đồ nếu không múc nước tắm các tượng, đi dạo vòng quanh chùa, trên các dải chiếu trải quanh hay trên nền gạch, theo đường kim đồng hồ như tục lệ ở mọi chùa Phật khác, thì quỳ khấn, sụp lạy ngay trong sân chùa, khắp nơi, trước các ngôi tượng cũng như trước các bức tường. Mà thật sân chùa vô cùng sạch sẽ nhờ hằng ngày nhiều chục các cô các bà sắp thành hàng ngang cùng bước cùng quét, hòng mong đóng góp "công đức" cho gia đình, con cái và cả cho chính mình, ở đời nầy cũng như ở kiếp sau. Trời dần tối thì chùa cũng lên đèn. Ngọn tháp dần dần sáng chói trên nền trời đen thẩm, huyền diệu như viên ngọc bích trong tủ gương, một bảo vật cao 98 m đặt trên một cái nền 6,4 m nên trông như một tháp mẹ giữa một đàn tháp con.
Thật vậy, đi quanh kinh đô Yangon của xứ Myanmar (Miến Điện) từ đâu cũng dễ thấy tháp vàng chùa Schwedagon. Có bốn lối vào chùa đầy cửa hàng bán hàng cúng và vật lưu niệm cho khách du lịch hay kẻ hành hương. Hai bên đường cửa tây là một dảy tu viện kyaung nên còn giữ vẻ cổ kính thời trước. Cửa chính zaungdan nằm ở phía nam, có thang máy cho người yếu sức như ở cửa bắc. Hai bên cửa, hai tượng sư ưng chinthe khổng lồ 9 m đứng giữ. Chúng không có vẻ dữ tợn nhưng từ đây vào chùa phải đi chân không nên trong chùa không có tiếng lộp độp guốc dày ồn ào. Tháp chính zedi là một công trình đầy đặc dựng theo lối cổ truyền Miến Điện. Ở dưới là ba thềm vuông pichaya, chồng ở trên là các thềm bát giác trước khi đến năm thềm tròn, một cách để chuyển những thềm vuông qua hình tròn. Và những hình tròn nầy cũng là một phương tiện để chuyển những thềm nằm ngang ở dưới lên những thành phần dựng thẳng, thon mảnh phía trên : một hình chuông klaunglaung bon đường kính 105 m, những dải vòng đốt baungyit cao 12,5 m, hai vòng cánh sen sấp và ngữa kyahlan cao 9,5 m, một hình chén lật ngữa thabeik rồi một hình bắp chuối hnget pyawbu cao 16 m. Nếu ở dưới chỉ có những lá vàng che phủ, ở trên 13.153 tấm vàng 30 cm vuông trang hoàng phần hoa sen và bắp chuối. Trên cùng là một vành hti hình dù, bằng sắt mạ vàng, cao 10 m, gồm có bảy tầng, nặng hơn một tấn. Vòng nầy thon dần thành một mũi nhọn mang 1065 chuông vàng nhỏ bằng vàng, 420 chuông nhỏ bằng bạc, một cái chong chóng cao 4,6 m xoay theo chiều gió và một quả cầu seinbu. Cái chong chóng mạ vàng và bạc, khảm 1383 viên đá quý, rubi, xaphia, topa, và 1100 viên kim cương tổng cộng 270 cara còn quả cầu cũng khảm 4351 viên kim cương tương ứng với 1800 cara và trên chóp một viên kim cương độc chiết 76 cara. Mỗi năm, tháp phải được mạ vàng lại và 53 m khối đã được dùng năm 1955 !

Chùa Schwedagon không chỉ có tháp chính nầy. Nhiều tháp nhỏ hơn bao quanh nó, đặc biệt bốn cái ở bốn hướng, bốn cái ở bốn góc chân tháp xung quanh có những người sư tử manoktikavà sư ưng chinthe ngồi chầu, và 60 cái quanh chu vi làm thành một rừng zedi, phần lớn mạ vàng hay ít nhất cũng ở trên nóc, đua nhau sáng chói suốt ngày đêm. Trong số các tháp nầy có một cái đặc biệt gồm có tám hốc dành cho tám đức Phật ngồi giữ tám con thú tượng trưng cho tám hành tinh, tương đương với tám phương hướng kết hợp với tám ngày trong tuần : voi có ngà (Thủy tinh, nam, sáng thứ tư), rắn naga (Thổ tinh, tây nam, thứ bảy), chuột (Mộc tinh, tây, thứ sáu), voi không ngà (Rahu, tây bắc, chiều thứ tư), chuột lang (Kim tinh, bắc, thứ sáu), chim garuda (mặt trời, đông bắc, chủ nhật), cọp (mặt trăng, đông, thứ hai) và sư tử (Hỏa tinh, đông nam, thứ ba). Xen lẫn với các tháp là những điện đủ loại như điện thờ đất, thờ mặt trời, thờ mặt trăng, cùng các hành tinh : Thủy, Thổ, Hỏa, Mộc, Rahu (hành tinh thần thoại), điện Konagamana với những tượng xưa nhất của chùa thờ những vị Phật trước đức Gautama, điện Kakusandha với bốn bức tượng ngữa gan bàn tay lên trời, điện Tazaung arakanais với tượng đức Phật nằm dài 8,5 m, điện Shin Itzagone với đức Phật mắt to lạ thường, điện đức Phật làm phép lạ, điện U Nyo với những tranh gỗ chạm kể lại sự tích đức Phật, điện những dấu ấn đức Phật, điện thờ Gautama mà uy thế sẽ kéo dài đến thế kỷ 45, điện Mahabodhi phiên bản của chùa Godh Gaya bên Ấn Độ,... bên cạnh những tượng đặt ngoài trời hay trong tủ kính như tượng vua natThagyamin, tượng thần nat Bo Bo Gyi tức là vị hộ pháp của chùa, các tượng Mai La Mu và Sakka tức là hai nhân vật thần thoại được xem như là phụ mẫu của vua Okkalapa, người sáng lập ra chùa,... Lịch sử của chùa cũng đi đôi với sự tích những cái chuông có tiếng của chùa. Trước tiên là một cái nặng 30 tấn do vua Dhammazedi dâng cúng ; năm 1608, Felipe de Brito y Nicota, người Bồ Đào Nha, muốn cướp đem về đúc súng ca nông, chuông rơi xuống nước mất tiêu. Chuông Maha Gandha, nặng 23 tấn, được vua Singu cho đúc năm 1779 ; đầu thế kỷ 19, người Anh muốn đem chuông qua Calcutta, chuông cũng rơi xuống nước, lần nầy người dân thành công vớt lên được đưa về chùa cũ. Một cái chuông thứ ba, Maha Tissanda, nặng hơn 40 tấn, do vua Tharrawady biếu tặng năm 1841, đồng thời với 20 kg vàng, hiện nay còn thấy ở chùa.

Người Miến Điện tin là chùa Schwedagon được xây cất từ 2500 năm nay, nhưng những nhà khảo cổ đều nhất trí tháp không thể được dựng trước thời đại môn nghĩa là giữa hai thế kỷ 6 và 10. Tục truyền khi đức Phật còn ngồi định tâm trước gốc cây bồ đề, hai anh em lái buôn Tapussa và Bhallika lại dâng Ngài một cái bánh mật. Để cám ơn, Ngài nhổ tám sợi tóc biếu cho họ. Trên đường về, vua Ajetta cướp hai sợi khi họ băng qua vịnh Bengan, sau đó vua thần rắn naga lại còn chiếm mất hai sợi nữa. Trong lúc đó, vua môn Okkalapa nước Suwannabhumi cầu khấn (có thể ở điện Kannaze mà tượng Phật được gọi là Sudaungbyi nghĩa là "đức Phật chấp thuận ước nguyện của nhà vua") để có được thánh tích. 49 ngày trước khi nhận quà biếu đầu tiên, đức Phật đã xuất hiện báo trước cho nhà vua biết. Thần thoại kể rằng đồi Singuttara, nơi vua Okkalapa ngự trị, xưa kia đã có chứa một cái gậy, một cái gáo nước và một mảnh áo của các đức Phật trước, lâu ngày mất linh thiêng nếu không có thánh tích mới. Vì vậy, khi hai anh em lái buôn đem hộp đựng tóc về thì vua đang chờ đợi, lập tức cho lập đàn cúng tế và mời tất cả các vị thần linh địa phương kể cả các thần nat lại dự. Tất cả đều ngạc nhiên khi mở hộp đựng tóc thì thấy còn đầy đủ tám sợi. Hơn nữa, hộp vừa mới mở thì bổng nhiên hào quang sáng tỏ khắp mặt đất, sấm chớp rực trời, bảo táp nổ dậy rúng động cả núi Meru, cho rơi ngọc quý xuống đến đầu gối, làm hoa nở, trái mọc trên Hy Mã Lạp Sơn mặc dầu không phải đúng mùa... và nhất là gây ra một số phép lạ : người câm biết nói, người mù biết thấy, người điếc biết nghe, người què biết đi,...

Biết là thánh tích rất thiêng, vua truyền cho đem rửa sạch (có lẽ ở giếng cạnh Sandawdwin) và đóng một cái hộp bằng vàng để tạm thời chứa đựng (đặt ở điện Naungdawgyi do chính vua Okkalapa cho cất) trong lúc xây dựng một cái tháp xứng với thánh tích ấy. Khi tháp xây xong, vua lại làm lễ và chuyển tóc qua tháp. Người Miến Điện tin cái tháp nầy gồm có nhiều lớp : ở trong là một cái tháp bằng vàng, sau đó lần lượt được phủ thêm những tháp bằng bạc, đồng, chì, cẩm thạch và ngoài cùng bằng sắt. Mặc dầu linh thiêng như vậy, chùa tháp dần dần bị bỏ quên cho đến đời vua Ashoka mới lại được sửa sang. Qua thời đại Pagan, các vua Anawratha rồi Byinya U de Pegu và Binnyagyan lần lượt cho trùng tu và tiếp tục xây thêm, nâng tháp cao lên đến 90 m. Qua thế kỷ 15, tục lệ dán lá vàng vào tháp bắt đầu. Nữ hoàng Shinsawbu hoàn chỉnh chùa có hình dáng ngày nay, từ đấy lưu danh lâu đời. Bà đích thân dâng chùa 40 kg vàng là trọng lượng của bà để lợp đỉnh chùa. Vua Dhammazedi, rể của bà, và cũng là người kế vị, còn làm hơn : ông cúng chùa bốn lần trọng lượng của ông và vợ ông. Năm 1485, ông cho dựng ba tấm bia kể sự tích chùa bằng ba thứ tiếng Miến Điện, pali và môn, chuyển một truyền thuyết qua một chuyện thật. Rủi thay, nhiều cuộc hỏa hoạn và động đất làm thiệt hại nhà chùa như năm 1768 làm gảy mất chỏm zedi. Vua Hsinbyushin cho sửa lại như ta thấy ngày nay.

Một ngôi chùa kiến trúc đặc sắc như vậy, tượng trưng cho một đất nước thấm nhuần Phật giáo, ai mà không thèm được lại viếng thăm. Trong lòng mỗi người Miến Điện đều có ấp ủ mộng mơ một ngày kia có dịp lại vảng cảnh chùa đồng thời cúng lạy cầu khấn. Tôi được đưa đến đây một buổi chiều xuân, nắng ấm, thẩn thơ dạo quanh cho đến lúc mặt trời lặn. Tháp vàng óng ánh như khêu gợi, quyến rũ khách du hành. Vì vậy, không quản thì giờ, ngại khó khăn, tôi đã tranh thủ để trở lại một lần nữa, cũng vào cuối chiều. Lần nầy hết còn có cái ngạc nhiên thú vị của cuộc khám phá ban đầu, tuy vậy tôi vẫn thích thú tìm được hạnh phúc trong sự chờ đợi một cảnh tượng đã sống, một cảnh đẹp đã trông, và cảm thấy như bị mê hoặc, vì cái thẩm mỹ đã đành, mà tuồng như cũng vì cái vượng khí thiêng liêng của một ngôi chùa từng được xem là một " bí ẩn mạ vàng,... một kỳ quan lừng lẫy" để dùng chữ của Rudyard Kipling đã từng được may mắn lại chiêm ngưỡng nơi nầy.



Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: SENTHISAO trong Tháng Mười Một 13, 2008, 04:42:29 AM
Bốn Đôi Mắt Chùa  Swayambunath ở Népal
Võ Quang Yến
 


(http://chimviet.free.fr/truyenky/voquangyen/vyen053/vyen053a.jpg)

Dựa lưng vào dãy Hy Mã Lạp Sơn trùng trùng điệp điệp, tuyết trắng thiên thu, Katmandu, kinh đô xứ Nepal, nằm trong một thung lũng cao gần 1400 m. Chảy ngang qua là hai con sông Vishnumati và Bagmati soi bóng những dãy nhà san sát hai, ba tầng, xen lẫn với các đền miếu, chùa chiền hai, ba mái. Dân tộc bản xứ là người Newar, nguồn gốc Tây Tạng, đến đây trong khoảng giữa những thế kỷ 10 và 6 trước Công nguyên, những nghệ nhân từ lâu đã thực hiện những công trình mỹ thuật độc đáo ở nhà cửa tư nhân cũng như trong các đền Ấn Độ giáo (tôn giáo quốc gia) hay các chùa Phật giáo (tôn giáo thiểu số, cỡ 20% dân cư). Phật giáo ở Nepal theo nhánh Đại thừa nhưng tổ chức bị ảnh hưởng Mật tông rất nhiều, còn nghi lễ thì nhuốm màu đạo sa man, thuyết phiếm thần sơn cước nếu không là Ấn Độ giáo pha Tây Tạng giáo. Kết quả là các đạo thâm nhập lẫn nhau, kể cả thiểu số Hồi giáo và Công giáo. Không ai lấy làm lạ khi thấy một đền Ấn Độ giáo sát cánh một chùa Phật giáo, có khi nằm ngay trong một vườn. Và cũng là lệ thường khi một nhà vua được xem một bên là thần Vishnu hoá kiếp, bên kia là vị Bồ tát giác ngộ chúng sinh. Vì vậy, du khách, dù không chăm chú đến vấn đề tôn giáo, cũng thấy thú vị khi tham quan các đền chùa kia.
Chùa Swayambunath, cách trung tâm thành phố 4 km, có điểm chung với chùa Bonath, xa đến 8km, là ngôi tháp stupa xây theo hình một mạn đà la, biểu thị hình học và chiêm tinh vũ trụ, đồng thời là một "dụng cụ " thiền định. Chân chùa hình vuông tượng trưng Đất, mang một hình bán cầu gharba, sơn vôi trắng, tượng trưng Nước, một khúc tháp vuông tượng trưng Lửa, một cột hình trụ toran tượng trưng Gió và trên cùng một cái lọng tượng trưng Hư Không, tức là ngũ đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không cấu thành vũ trụ vật chất. Cả ba phần trên đều mạ vàng. Cột toran ở chùa Swayambunath gồm có 13 vòng kim loại, còn ở chùa Bonath thì là 13 bậc thang, tượng trưng cho 13 tầng nhận thức tối cao Bodhi. Đặc biệt, từ xa, phần chùa ta để ý đầu tiên là khúc tháp vuông với bốn đôi mắt trừng trừng chú mục vào khách thập phương như để thôi miên, quyến rũ. Thật vậy, khi đã bắt đầu thấy đôi mắt ấy rồi thì khó lòng rời nó. Xung quanh mắt không có miệng, không có tai. Ở chỗ lỗ mũi là một cái dấu giống như một chấm hỏi : đấy là chữ "một" viết theo lối chữ phạn mới devanagari, biểu thị tính duy nhất của đức Phật. Ngài không nói mặc dầu Ngài nghe mọi chuyện, thấy mọi nơi, biết mọi điều và tha mọi lỗi.

Tháp chùa Swayambunath được xây trên ngọn đồi cao nhất vùng cho nên đứng trên tháp thấy rõ quanh thung lũng. Tháp cũng được xây lâu đời nhất. Tục truyền cách đây 2000 năm, thung lũng Katmandu là một cái hồ. Đức Phật hiện ra trên một đóa hoa sen nở thành năm hào quang sáng rực gọi là swamyambhu có nghĩa "Người từ hư không ra" tức là Adi-Buddha, đức Phật nguyên thủy, từ đó phát xuất thế gian. Cảm thụ những tia hào quang của đóa hoa sen, đức Văn Thù Sư Lợi Manjushri lại rút gươm xẻ núi cho tháo nước hồ nên vị bồ tát nầy được xem là người khai canh Nepal. Đường lên chùa cao 300 bậc thang. Người hành hương khi lên đến chân tháp, trước tiên gặp một "dụng cụ" khổng lồ cao 1,50 m thường chỉ nhỏ để nắm trong tay, gọi là vajra, hình dáng cái mũ miện vua chúa trong Mật tông cũng như trong các phái bí truyền Á Đông khác, tượng trưng nối liền những vũ lực tinh thần, tính vững bền của tâm thần. Nó cũng còn được xem như là biểu tượng tính dương, đi đôi với ghanta, một cái chuông nhỏ có cán, tính âm, tương đương với cặp linga-yoni ở Ấn Độ giáo. Trong Phật giáo Tây Tạng, vajra biểu hiện uy quyền tối cao và được sử dụng với ghanta trong mọi buổi cúng lễ, chẳng hạn khi các nhà sư tán, tụng. Sau khi quỳ lạy, khấn vái trước cái vajra đó, người hành hương phải đi quanh tháp, theo chiều kim đồng hồ như nghi lễ bắt buộc. Sát với tháp là một dãy "cối xay cầu nguyện" hkor-brten chứa đựng những bản kinh, đặc biệt lời cầu khấn Om, Mani Padme Hum ! (Om ! ngọc mani trong sen). Mani là châu báu, còn có nghĩa là cuộc sống, hạnh phúc, linh hồn. Padme là hoa sen, tượng trưng sự trong trắng, sự từ bỏ đời sống vật chất. Khách vừa đi vừa cầu nguyện vừa lấy tay cho xoay mấy cái cối xay.

Quanh xa hơn một chút ngôi tháp là những điện chaitya thờ các đức Phật Vasupura (Địa), Nagapura (Thủy), Agnipura (Hỏa), Vayupura (Phong), Shantipura (Không), các vị Phật năm phương Mahavairochana (đức Phật hoàn hảo thiên đỉnh), Akshobhya (đức Phật bất biến phương đông), Amitabha (đức Phật hào quang vô biên phương tây), Ratnasambhava (đức Phật châu báu phương nam), Amoghasiddhi (đức Phật thắng lợi vô tận phương bắc), cùng các vị Phật bổ thể nữ tính shakti Vajradharishvari (Mahavairochana), Lochana (Akshobhya), Pandara (Amitabha), Mamaki (Ratnasambhava), Tara (Amoghasiddhi). Đối diện với vajra, bên kia ngôi tháp, là hai cột trụ mang hai tượng Tara trắng và lục, kèm giữa một con công, chim thần, đang xoè đuôi. Trong những số tượng khác đáng chú ý là tượng Dipankara, xem như là tiền thân đức Thích Ca, thứ 24 theo Nam tông, thứ 52 theo Bắc tông. Một điện gần đây rất được sùng bái, đông khách lại cầu đảo chen chúc nhau, là điện thờ nữ thần Ấn Độ giáo Ajima (theo tiếng Newar), còn được gọi Sitala, với hai mái bằng đồng, dáng điệu thanh mảnh bên ngôi tháp đồ sộ. Thần Ajima bảo vệ con trẻ, đặc biệt chống bệnh đậu mùa. Tuy là một thần Newar, tất cả dân cư trong vùng đề lại thờ cúng. Ngay cả các Phật tử cũng đặt tên Hariti, tương đương với đức Quan Âm Tống Tử bên ta, xem thần như là hiện thân của Maya Devi, đức Phật Mẫu. Người ta tin quyền lực của thần vô cùng hiệu nghiệm đến nỗi nhiều bà mẹ đã đem con đi chủng đậu rồi mà vẫn đưa lại đây nhờ thần phù hộ ! Bên trái ngôi tháp, bước lên vài bậc thang là một tu viện Mật tông. Hằng ngày, vào giữa chiều, các vị la ma làm lễ. Từ trong vọng ra tiếng đọc kinh đơn điệu, trầm trầm, thỉnh thoảng xen lẫn một tiếng còi inh ỏi. Ngoài giờ lễ, khách mục kích các chú tiểu áo vàng, áo đỏ, xung xăng giữa những người hành hương áo quần cũng sặc sỡ không kém gì trước các cửa tiệm hàng hóa la lượt đủ thứ đồ ăn, hành lễ, lưu niệm,... Làm thêm rộn rịp là những bầy khỉ tự do chạy nhảy khắp nơi, bám víu vào bất cứ cái gì, khi vào điện thờ lượm hoa quả dâng cúng, khi giật bánh trái của những người đang soạn ăn bên lề đường, trên sân giữa các điện, sau khi làm xong phận sự cầu cúng. Thành thử bầu không khí không trầm lặng, tỉnh tâm như nơi dành cho thiền định mà là quang cảnh một ngày hội thường xuyên. Âu cũng là một cách thờ Phật.

Nhưng chớ tưởng chùa nào ở Katmandu cũng ồn ào như Swayambunath. Quanh chùa song đôi Bunath với ngôi tháp tương tự, cũng xưa như chùa kia nhưng còn được tôn sùng hơn, một số tu viện gompa dành cho các tu sĩ Tây Tạng đủ phái. Ở đây, vào cửa phải đi chân không để tránh tiếng dày lộp cộp, không được nói chuyện ồn ào. Với lại khách chăm chú mải miết nhìn cảnh , trầm lặng ngắm những tranh vẻ trên tường thì cũng dễ giữ yên tĩnh nơi chốn tu hành. Tu viện nào cũng có ở ngoài cửa hình xe pháp Dharmachakra với hai con nai đứng chầu hai bên, nhắc lại sự tích đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Sarnath. Hầu hết tu viện nào cũng có bốn đức hộ pháp bốn phương : Dhritarashtra (phương đông), Virupaksha (phương tây), Virudhaka (phương nam) và Kuvera (một hình thức của Vaishravana, phương bắc). Ở tu viện gần nhất và cũng là mới nhất (1986), sau một cái "cối xay cầu nguyện" khổng lồ, khách được nhìn một bức tượng đức Phật khá lạ : Ngài không ngồi hai chân tréo nhau "lối hoa sen" hay kiết già Padmasana như thông lệ mà hai chân thỏng xuống theo "lối Âu châu" hay "lối Trung Quốc" Bhadrasana, thường dành ở Á châu cho Maitreya, đức Phật Vị Lai. Khách ắt đặt câu hỏi vì sao cố ý ra khỏi truyền thống ?

Ở tu viện Sakya-Pa, xây dựng năm 1071, chuyên dạy theo lời giảng huấn của vị Bồ tát Manjushri và nhà triết học Ấn Độ Najarjuna (thế kỷ 2), đặc biệt có hình vẽ mạn đà la "Vũ trụ các la ma" và nhất là "Bánh xe cuộc sống" hay xe luân Bhavachakra, tượng trưng chu kỳ tái sinh vô tận. Đấy là hình vẽ một vòng tròn chia làm bốn lớp. Ở trung tâm là ba "nọc độc", ba con vật cắn đuôi nhau nghĩa là luôn liên kết với nhau : một con gà (tham), một con rắn (sân), một con heo (si). Bao quanh là một vòng nửa trắng (vùng giải thoát) nửa đen (vùng luân hồi). Trong vòng thứ ba, tương đối lớn nhất, sáu phần lục đạo : cõi Phật, cõi A Tu La, cõi người (ba cõi lành), cõi súc sinh, cõi quỷ đói, cõi địa ngục (ba cõi ác). Vòng ngoài cùng trình bày 12 hình vẻ người và vật tượng trưng 12 nhân duyên. Một makara, chúa tể thời gian, trên dùng miệng, dưới dùng móng, nắm giữ bánh xe như để xác nhận chúng sinh luôn bị thời gian siết chặt, khó lòng thoát khỏi vòng luân hồi. Đúng ngoài các vòng, bên mặt là đức Phật dang tay chỉ bánh xe, bên trái là xe pháp Dharmachakra.

Thấy ra đời sống tâm linh cũng sâu đậm. Du khách đi mau qua có thể chỉ thấy bên ngoài và hấp tấp phán đoán không đúng. Nhất là vào những năm thập niên cuối 60, đầu 70, một số thanh niên Âu Mỹ, mang tên hippy, tóc dài, áo cụt, kéo nhau lại Katmandu tìm một lối sống "ngoài thời gian và không gian", thỏa thích với đủ loại thuốc hút, ma túy, để lại một hình ảnh không chút lành mạnh. Ngày nay, loại thanh niên ấy không lảng vảng trong thành phố nữa nhưng dư vang một thời còn lắng đọng trong thung lũng nầy. Riêng phần tôi còn giữ một kỷ niệm cá nhân. Một hôm, nhân được đưa lên núi xem mặt trời trên các đỉnh Everest, Anapurna, tôi mất tự nhiên khi thấy một ông sĩ quan đội quân Nepal canh giữ biên thùy cứ chòng chọc nhìn tôi. Hỏi ra mới biết ông cho tôi là người Newar mà lấy làm lạ chỉ nghe tôi nói tiếng ngoại quốc. Biết đâu tôi lại thuộc dân tộc Newar mà không hay ! Gần đây, trong một tập Nhớ Huế, tác giả Tô Kiều Ngân có viết dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một bộ lạc nói tiếng Huế. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ nầy phải chăng đã phát xuất từ một cơ duyên nào đây ! Sau đấy, làm quen nhiều hơn, ông sĩ quan cho mượn ống nhòm nhà binh để mặc sức nhìn trời, ngắm núi, một cảnh đẹp thiên nhiên ít thấy vì Hy Mã Lạp Sơn cũng như Phú Sĩ San bên Nhật Bản, mây mù quanh năm, những đỉnh cao khi ẩn khi hiện, không phải lúc nào muốn là chiêm ngưỡng được dung nhan. Trầm ngâm một buổi chiều trên "đồi" (đồi ở đây cao hơn 3000 m, phải cao quá 5000 m mới được mang tên núi), tôi cảm thông tín ngưỡng của người bản xứ, sống trong một dải núi dài 800 km, rộng 50-230 km, ép mình giữa Ấn Độ và Tây Tạng, đã thấm nhuần những giáo lý nguyên thủy để chế biến ra một đạo Phật riêng biệt, chứng minh một đặc điểm của Phật giáo, bất cứ chỗ nào trên thế giới cũng biết thích ứng với nơi thâm nhập.



Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: SENTHISAO trong Tháng Mười Một 13, 2008, 04:45:04 AM
Bộ Tripitaka ở chùa Haiensa xứ Đại Hàn
 
Võ Quang Yến
 


(http://chimviet.free.fr/truyenky/voquangyen/vyen055/Dai_Han_Haeinsa_1B.jpg)

Sách du lịch thường khuyên đi ngang Huế, nếu có ít thì giờ, ít nhất phải viếng chùa Thiên Mụ. Sách du lịch cũng bảo ghé Đại Hàn, nếu chỉ có thì giờ đi xem một chùa thì nên viếng chùa Haiensa, vì chùa nầy không phải đẹp nhất, mà nhờ có bộ Tripitaka nổi tiếng. Có dịp đến đây vào cuối thu, chỉ nhẹ bước trên đường dẫn lên các thiền viện, trong ánh nắng chiếu qua các ngọn lá xanh, nâu, vàng, đỏ những cấy thích, bạch quả, là đã thấy lòng lân lân, sẵn sàng tiến vào cỏi Tiên Phật. Rồi khi khách đứng trước những ngôi nhà kiến trúc độc đáo, trang trí hài hòa là quên mọi bận bịu, buồn phiến của cuộc đời trần giới. Thật ra chùa đẹp không hiếm ở Đại Hàn. Gần kinh đô Seoul, có Pongunsa với bốn vị Thiên Vương ở ngay cửa ngoài, cạnh đó có Popchu với tượng đức Phật lớn nhất nước (27m) đội một cái mũ vuông bằng đá hoa cương, trên bờ Hoàng Hải có Naksansa được nhà sư Uisang dựng lên từ thế kỷ 7 sau khi đức Quan Âm hiện lên chỉ chỗ, quanh hải cảng Pusan có Tongdosa, một trong những ngôi chùa lớn nhất nước, dựa vào dãy Chiri còn hoang vu có Hwaomsa, ngôi chùa đẹp nhất vùng tây nam, vùng đồi Andong có Pisoka, ngôi chùa xưa nhất xứ... để chỉ kể một vài danh lam thắng cảnh không thể bỏ qua khi đi quanh xứ Ban mai trong sáng mà thường người Âu gọi là xứ Ban mai trầm lặng. Chùa nào cũng có vài ba bảo vật, ít nhiều quý báu, nhưng nói đến bộ Tripitaka thì không đâu sánh được với Haiensa.
Tripitaka là một Phạn tự, tri nghĩa là ba, pitaka theo nghĩa đen là một cái giỏ hay một cái hộp tượng trưng một tập chính văn. Ba tập nầy, ta gọi Tam Tạng, là ba loại văn bản hợp thành giáo điều Phật giáo : Sutra, Kinh tạng, gồm những bài thuyết pháp của đức Phật Thích Ca, là sách trình bày những bài giảng về học thuyết ; Vinaya, Luật tạng, gồm những giới luật do đức Phật chế định, là những quy tắc kỷ luật làm khuôn phép cho sinh hoạt các tăng sĩ ; và Abhidharma, Luận tạng, những bình chú về các Sutra và Vinaya kia, bao gồm những bài viết, sách Phật để trình bày giáo lý. Sau khi đức Phật viện tịch, hội nghị đầu tiên để sưu tập những lời giảng dạy của Ngài nhóm 500 vị La Hán trong một cái động ở miền nam thị xã Rajagriha vùng Magadha bên Ấn Độ, dưới sự giám sát của Maha Kashyapa (Ma ha Ca Diếp) , một trong những đồ đệ chính và lớn tuổi của Ngài, được xem là người hoàn hảo nhất trong cuộc thực hành khổ hạnh. Tục truyền trong buổi nhóm lịch sử ấy, Ananda (A Nan Đà), người bà con và cũng là đồ dệ gần nhất đã đi theo Ngài nhiều năm, đọc thuộc lòng những Sutra, còn Upali (U Bá Lị), đồ đệ đã áp dụng triệt để những lời dạy của Ngài, thì đọc những Vinaya. Phần Abhidharma được thêm vào sau, khi các tông phái Đại thừa phổ biến những bình chú, các nhà Phật học viết sách giới thiệu, trình bày giáo lý có hệ thống.

Phật giáo xâm nhập Hàn Quốc cuối thế kỷ 4 vào thời đại Tam Quốc. Những tăng sĩ Trung Quốc đầu tiên đến vương quốc Koguryo, dần dần lấn qua vương quốc Paekche, và hai thế kỷ sau Phật giáo mới phát triển mạnh mẽ ở vương quốc Sila. Cuối thế kỷ 8, vương quốc nầy yếu dần, nhiều sứ quân nổi dậy khắp nơi. Khi biên thùy bị vương quốc Paekche hăm dọa, vua Kyong mời một người có tiếng nhiều tài năng, Wang Kon, vào triều cứu giúp và sau đó, để tránh đổ máu, nhường ngôi luôn cho ông ta. Wang Kon thành công thống nhất xứ sở, đặt tên nước Koryo, tức là Koguryo rút ngắn lại, cho dời kinh đô từ Kyonju về Kaesong, lập nên một triều đại dài hơn 400 năm (918-1392). Tuy xuất thân từ một gia đình nhà buôn, ông biết mời giữ quý tộc cũ, tổ chức xã hội theo thứ bậc, sao phỏng thiết chế các triều đại đời Đường, Tống bên Trung Quốc. Tuy nhiên, Khổng giáo không lấn áp được Phật giáo : các vua mời nhiều tăng sĩ Phật giáo tham dự chính quyền và họ đã đóng một vai trò quan trọng trong mọi quốc sự lớn, nhỏ đến nỗi nhiều người không bằng lòng và chuyện nầy có ảnh hưởng rất nhiều trong tương lai của triều đại. Dù sao, lúc bấy giờ Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở nên quốc giáo. Chưa bao giờ chùa chiền được xây dựng nhiều như lúc nầy. Chính phủ lại khuyến khích việc giảng dạy Phật giáo nên nhiều chùa chăm lo chuyện ấn loát văn bản học thuyết. Với những đồ sứ màu lục nhạt celadon, bộ Tripikata là bằng chứng bất hủ của gia tài thời đại Koryo.

Những năm đầu thế kỷ 9, hai tu sĩ Hàn Quốc đi du học hên Trung Quốc về, cất một cái nhà tu nhỏ cạnh một ngọn suối, lấy thanh tịnh làm gốc, thực hiện phép thiền seon nơi yên lặng núi đồi. Thanh danh của họ lan tràn khắp nơi nên khi bà hoàng hậu bị đau yếu thì nhà vua Shila mời hai vị nầy lại cứu chữa. Thành công mỹ mãn nhờ kiến thức rộng lớn về thuốc men, họ được vua biết ơn, bỏ tiền cho xây một ngôi chùa lớn thay thế nhà tu nhỏ trước kia. Sau nầy nhà vua tiếp tục cung cấp vật liệu, tài chánh và cũng thường hay đi lại không những để nghỉ ngơi mà còn để đàm đạo với hai nhà chân tu. Chùa Haiensa nhờ vậy trở nên một trong những ngôi chùa lớn nhất với Tongdosa và Songkwangsa, gồm khoảng 30 ngôi nhà, đạt đến 300 tăng sĩ. Tọa lạc trên sườn núi cây rừng trong dãy Kaya, chùa Haiensa thuộc tông phái Avatamshaka mà giáo điều hướng về mục tiêu chứng minh thế giới hiện tượng chỉ là một ảo tưởng không có gì vững bền, một phản ảnh trên nuớc. Đường lên chùa dẫn khách qua một tam quan, đi ngang trước miếu thờ đức Bodhidharma (Bồ Đề Đạt Ma) trước khi đạt đến sân thứ nhất, rộng lớn với nhiều nhà dịch vụ. Một trong những nhà nầy đặt biệt có đặt ở giữa một cái trống lớn và treo xung quanh một cái mõ gỗ hình cá, một cái khánh hình đám mây và một cái chuông đồng : người ta đánh trống kêu gọi tín đồ thập phương trên bộ, đánh khánh để mời sinh vật trên trời, đánh mõ để rước sinh vật dưới nước và đánh chuông để thỉnh thần linh ở thế giới bên kia. Mỗi ngày các tu sĩ hành lễ ba lần : sáng tinh sương khi mặt trời chưa mọc, giữa trưa trước ngọ và chiều vào lúc chạn vạn, mặt trời vừa lặn.

Một cái thang dưới điện Kugwangsu đưa khách lên sân thứ hai, trước một viện bảo tàng nhỏ. Trước cửa, một hình tượng gỗ sơn màu hình dung vị sáng lập giáo phái Hwaom đã được thiên cảm ngay ở Haiensa. Trội hẳn sân thứ ba là chính điện Taejokkwangjon (1818) thờ phụng Vairochana, tức là đức Thật thần khải, nguồn gốc của mọi Chân lý. Phật giáo ở đây còn được thể hiện qua bức chân dung đức Thích Ca Mâu Ni vẻ bên trái bàn thờ và một miếu thờ 16 vị La Hán ở cuối sân, nhưng các Ngài không phải là những vị độc nhất được sùng bái. Trong sân còn có miếu thờ Kshitigarbha tức Chijang (Địa Tạng), chủ tọa tòa án gồm có 10 vị Diêm Vương và những thánh rất xa lạ với Phật giáo như thần núi sa man Shanshin ngồi với cọp, ẩn sĩ Lão giáo Toksong giữa rừng thông, thác, hươu, sếu, Chilsong tức Long Vương ở biển cả. Sau chính điện, một cái thang dẫn khách lên sân cao nhất là nơi có hai dãy nhà song song làm thành thư viện chứa đựng bộ Tripitaka. Được xây dựng năm 1488, hai ngôi nhà nầy may mắn còn tồn tại sau các vụ hỏa hoạn, lớn nhất là vào năm 1817 đã đốt cháy rất nhiều.

Vào thế kỷ 10, các tăng sĩ Trung Quốc đã từng in toàn bộ những văn bản của tông phái Đại thừa nhưng rủi thay những bản khắc gỗ bị tản mác hay phá hủy. Qua thế kỷ 13, một bộ 5048 tập được khắc lại theo bản gốc Trung Quốc trước đây hầu mong đức Phật phù hộ đất nước Koryo bị những bộ lạc phương bắc quấy nhiễu nhưng bộ nầy lại bị quân Mông Cổ hủy diệt toàn toàn. Vào lúc ấy, triều đình phải chạy về trốn ở Kanghwa. Vua Kojong truyền lệnh phải khắc lại một bản khác. Công trình thật vĩ đại vì phải chạm những văn bản chứa đựng trong 1340 cuốn sách lúc ngành ấn loát chưa biết chữ rời, chỉ có thể in từ bản khắc gỗ. Gỗ mua từ Trung Quốc đem về cần phải xử lý rất công phu và lâu năm : ngâm 3 năm trong nước mặn, 3 năm trong nước ngọt, chôn 3 năm dưới đất rồi sau cùng cho phơi ra khí trời 3 năm nữa. Sau đấy khắc chạm trên hai mặt gỗ (23 x 67 cm), mỗi mặt 22 dòng, mỗi dòng 14 chữ. Năm 1251, công tác hoàn thành sau 16 năm công lao cần mẫn, thực hiện được 81.258 bản ! Cũng nên biết là chùa còn tích trữ 1835 bản gỗ cùng thời đại Koryo nhưng không thuộc bộ Tripitaka.

Lúc đầu, cả bộ Tripikata được giao cho chùa Chondungsa ở Kanghwa là chùa lớn nhất của đảo chăm giữ. Đến năm 1398, thấy quân giặc từ Nhật Bản lại hoành hành, cướp phá, vua Songjong truyền lệnh chở bộ Tripokata rời đảo, chuyển đến chùa Haiensa ở trong miền núi, hồi ấy được xem như là một tu viện kiên cố, khó tấn công. Để tránh không khí ẩm ướt phá hư, những tu sĩ phải đặt các bản gỗ trên những kệ thoáng khí như những pho sách, bên cạnh có những của sổ ở vách, tường phải tính toán làm sao cho không khí di động vừa phải để luôn giữ lột độ ẩm không thay đổi. Kết quả là cho đến ngày nay các bảng gỗ không hề nứt nẻ hay bị vênh váo và luôn còn dùng được. Tuy nhiên, mọi công việc đều phải được thực hiện bằng tay, rất mất thì giờ nên các tu sĩ phải hạn chế cuộc sản xuất ấn loát. Lần cuối cùng năm 1967, để in 13 tập, chùa đã phải vận dụng 100 nhân công trong luôn 6 năm !

Bộ Tripikata thật có một không hai. Đứng trước một công trình đồ sộ như vậy, khách chỉ biết khâm phục và cảm kích. Chùa Haiensa nhờ đó cũng được thơm lây và hàng ngày khách thập phương đến viếng đông vô kể. Trong số 13 nhà tu khổ hạnh thuộc chùa Haiensa, có tiếng nhất là Hongjean vì đây là nơi đã sống và chết vị tu sĩ - chiến sĩ nổi danh thời kháng chiến Imjin chống Nhật. Thông thái, thành thạo võ thuật, ông được giao nhiệm vụ đánh quân ngoại xâm với 5000 tu sĩ và thành công đàm phán đem về 3000 chiến binh bị giữ làm con tin. Một hình tượng ông được cất lên trước cửa Viện Đại học Phật giáo Dongguk ở Seoul. Tuy nhiên đi quanh một vòng Đại Hàn, khách còn mục kích được những cảnh tượng hay chia sẻ những giây phút ở thiền viện cũng sống động không kém gì. Vẫn biết người Hàn Quốc sùng bái Vaicochana nhưng hình tượng lạ lùng trong mắt du khách Việt Nam là đức Phật Vị Lai Maitreya mà dân bản xứ gọi là Myruk, không có chút gì giống với đức Di Lặc của ta. Ở Paju, cạnh kinh đô Seoul, ở Taejosa, Kwanchoksa, cạnh cố đô Pujo, cũng như ở Namsan trong thung lũng Kyonju,... khách không sao tránh được kinh ngạc thán phục trước bức tượng những ông phỗng cao từ 7 đến 18 m, với một cái mũ vuông hai tầng, sừng sững giữa sân bằng hay trên đồi cao, trong tựa như người không lồ trong chuyện cổ tích.

Nếu những hình tượng nầy gây cảm giác sợ hải hay kính phục, kích thích tôi nhất là hôm ở Pulguksa, ngôi chùa của xứ Phật, công trình của kiến trúc sư có tiếng Kim Taesong (thế kỷ 8), trong một buổi lễ lớn, một vị sư cơ thể nở nang, tay nắm xập xỏa, uyển chuyển nhưng hùng mạnh múa nhảy biểu lộ nổi hân hoan của đức Phật khi tìm ra Chân lý. Chắc Phật giáo Mật tông đã có ảnh hưởng nhiều lên tông giáo nầy. Nhưng làm tôi xúc cảm nhiều nhất là hôm ở Songwangsa, ngôi chùa đặc biệt đón nhận tăng ni tứ xứ, vào lúc 6 giờ chiều, các vị sư trẻ xếp hàng lần lượt ra tay múa nhảy đánh trống kêu gọi tu sĩ nhập thiền. Từ khắp các nẻo chùa, các thầy lặng lẽ nối đuôi nhau đi vào thiền đường, không một lời nói, không một tiếng động. Tiếng trống vừa dứt thì mặt trời cũng vừa lặn, không còn một nhà sư nào ở ngoài sân, chính điện cũng vừa lên đèn sáng trưng như hòn ngọc bích nổi lên trong đêm tối. Bầu không khí trở nên nghiêm trang, thanh thản và tuy đứng ngoài, không nhập cuộc, tôi không khỏi rùng mình, tưởng mình như ở trên đường bước vào một thế giới tâm thần khác. Tôi còn muốn lưu lại ít lâu nữa để hưởng cho tận cùng giây phút thần tiên nhưng người ta mời ra khỏi chùa để khỏi quấy rầy sự yên tĩnh của các nhà sư.

Đi viếng đất Phật, được sống những giờ phút sâu đậm như thế, được chiêm ngưỡng những bảo vật như bộ Tripikata ở chùa Haiensa, thật không có gì để lại trong lòng khách nhiều ấn tượng tốt đẹp, nhiều kỷ niệm rung cảm bằng. Tôi cảm thấy có đuợc rất nhiều may mắn.



Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: SENTHISAO trong Tháng Mười Một 13, 2008, 04:45:52 AM
MỜi các bạn đọc những bài chùa này đế lên kế hoạch đi hành hương hay đi tu cũng được .. :D


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: LANFRANCE trong Tháng Mười Một 15, 2008, 03:16:59 PM
Cám ơn bác Sen , chắc ăn nhà tôi có ngâm cứu các chùa của bác post để nếu tôi chưa đủ phước đi tu thì mấy đứa con tôi sẽ gửi gắm nơi cửa Phật ... :D


Tiêu đề: Chùa Kim Liên
Gửi bởi: Yahoo trong Tháng Chín 27, 2010, 09:46:51 AM
Chùa Kim Liên
Nguyễn Dư

Mời bạn "đi thăm" chùa Kim Liên, một ngôi chùa cổ nổi tiếng của Hà Nội.

"Chùa ở làng Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm. Nguyên xưa là chùa Ðống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên cái nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái Lý Thần Tông ra đời. Sau chỗ này lập trại trồng dâu nuôi tằm nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm Dương Hòa thứ 5 (1639), chùa được tu sửa lại, gọi là chùa Ðại Bi. Ðến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), lại có cuộc trùng tu, và chùa mang tên Kim Liên. Chùa được đại tu vào năm 1792 và trùng tu nhiều lần về sau. Chùa hiện nay là di sản nghệ thuật kiến trúc thời Tây Sơn...". (Võ Văn Tường: Việt Nam danh lam cổ tự, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr 393)

"Bên bờ hồ Mù Sương giáp liền bờ sông Cái, trại tằm lớn của Kinh thành. Ngàn dâu xanh ngắt một màu chạy suốt dọc bờ đê. Những ngôi nhà tằm, ở đó vất vả đêm ngày những "tang thất phụ", những phụ nữ có tội phải làm lao dịch hái dâu chăn tằm, kéo kén, ươm tơ để cung nữ dệt lụa là gấm vóc. Giữa khu nhà tranh mọc lên cung Từ Hoa mái ngói vàng chanh. Công chúa Từ Hoa nhân từ và mặt đẹp như hoa chán cảnh cung đình tẻ nhạt, nằng nặc xin vua cha Lý Thần Tông ra ở trại ngoài, chăn tằm, sướng khổ với đàn bà bị tội khổ sai. Ngày công chúa qua đời thì cung Từ Hoa cũng trở thành ngôi chùa công của phường Nghi Tàm, với kiểu kiến trúc là lạ...". (Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán: Hà Nội nghìn xưa, NXB Sở Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1975, tr 156)

"Ðây là chùa Kim Liên, còn có tên là chùa Ðống Long, nhưng tên cũ là chùa Từ Hoa. Nguyên con gái Lý Thần Tông (thế kỷ 13) (1) là nàng Từ Hoa, ra tu ở đó, nên vua sai làm cung cho ở. Có người lại nói là vua sai ra học nuôi tằm. Ðến các đời sau, lại có những quan thị và những phi tần ra ở, hóa ra trong chùa có tượng một thái giám (có người cho đó là tượng chúa Trịnh) và chùa cũng được vua chúa sửa sang. Có thể nói Kim Liên là ngôi chùa cổ và đẹp nhất vùng Tây Hồ...". (Hoàng Ðạo Thúy: Thăng Long Ðông Ðô Hà Nội, NXB Hội Văn Nghệ, Hà Nội, 1971, tr 35)

Ba lời giới thiệu chùa Kim Liên gần giống nhau. Cả ba cùng nói đến công chúa Từ Hoa, con vua Lý Thần Tông. Nhưng cũng khác nhau ở một điểm: Võ văn Tường cho rằng chùa được xây về đời Trần, trên cái nền nhà cũ nơi công chúa Từ Hoa ra đời. Trần Quốc Vượng và Hoàng Ðạo Thúy thì lại cho rằng chùa có từ đời Lý, do cung Từ Hoa sửa chữa tạo thành. Hai tác giả này còn cho biết thêm là công chúa Từ Hoa ra ở nơi đây để "chăn tằm, sướng khổ với đàn bà bị tội khổ sai" hoặc cũng có thể "ra tu ở đó, nên vua sai làm cung cho ở".

Ðọc ba lời giới thiệu này tôi thích quá. "Em là ai, cô gái hay nàng tiên?" (Tố Hữu). Xin phép được phạm thượng... mê công chúa Từ Hoa. Vừa đẹp người, vừa đẹp nết. "Nhân từ, mặt đẹp như hoa" lại còn thích gần gũi đám dân bị tội khổ sai. Biết đâu trong đám dân lam lũ đó lại chả có cả tổ tiên mấy chục đời của tôi?


Mê công chúa Từ Hoa, tôi đâm ra mến lây cả vua cha Lý Thần Tông. Chắc hẳn đây phải là một ông vua đức độ, một vị minh quân.

Tôi háo hức lật "Ðại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sĩ Liên (NXB Khoa học Xã hội, tập 1, Hà Nội, 1967, tr. 259-274), để "tìm hiểu" công chúa Từ Hoa và cha nàng.

Vua Lý Thần Tông, tên là Dương Hoán, con Sùng-hiền hầu, sinh năm 1116. Năm 2 tuổi được bác là vua Lý Nhân Tông đem vào nuôi trong cung, lập làm hoàng thái tử. Năm 1127 vua Nhân Tông băng, Dương Hoán lên nối ngôi, lấy hiệu là Lý Thần Tông (vua được 12 tuổi ta). Lên trị vì, vua tự thấy rằng "Trẫm còn trẻ thơ, nối nghiệp lớn của tiên thánh, mà thiên hạ yên tĩnh, trong cõi sợ uy, đều là nhờ sức của các khanh, các khanh nên cẩn thận chức vụ, chớ có lười biếng, để giúp trẫm những chỗ thiếu sót".

Năm 1130 (vua được 15 tuổi), xuống chiếu rằng con gái các quan không được lấy chồng trước, đợi sau khi chọn sung vào hậu cung, người nào không trúng tuyển mới được lấy chồng!

Sứ thần Lê văn Hưu can đảm nhận xét rằng: "Trời sinh ra dân mà đặt vua để chăn nuôi, không phải để cho vua tự phụng. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có vợ có chồng (...). Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi thi tuyển vào cung không trúng rồi mới được lấy chồng thì là tự phụng cho mình, có phải là lòng làm cha mẹ dân đâu?".

Phải chăng nhờ "chính sách kiểm duyệt" này mà vua cứ tha hồ "vùng vẫy trên lưng ngựa" đến nỗi năm 1136 mắc bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi, thân mang ác tật. Có sách ghi rằng vua bị bệnh "hóa hổ". May được "Lý triều quốc sư" Nguyễn Minh Không chữa khỏi.

Vua Lý Thần Tông chết năm 1138, thọ 23 tuổi.

Ông vua trẻ này "quá ưa thích điềm lành vật lạ, sùng thượng đạo Phật, chẳng đáng quý gì".

Vua có 5 người con
- Hoàng thứ trưởng tử Thiên Lộc sinh năm 1132, sau phong làm Minh Ðạo Vương.

- Hoàng trưởng nữ sinh rồi chết (cùng năm 1132). Ngô Sĩ Liên không ghi tên là gì. Theo tục xưa thì đứa bé con đầy tháng hoặc đầy năm mới được đặt tên. Ta có thể đoán là hoàng trưởng nữ sống chưa được một tháng hoặc một năm.

- Hoàng trưởng tử Thiên Tộ sinh năm 1136

- Hoàng tử thứ ba sinh năm 1137

- Hoàng nữ thứ hai sinh cùng năm 1137, sau phong làm Thụy Thiên công chúa.

Tôi ngạc nghiên và ... thất vọng, không thấy bóng dáng công chúa Từ Hoa. Rõ ràng một bên là "ba mặt một lời", một bên là sử gia Ngô Sĩ Liên.

Có thể nào có sự nhầm lẫn công chúa Từ Hoa với hoàng trưởng nữ hoặc công chúa Thụy Thiên không? Chắc là không vì tính đến năm cha chết (1138), Thụy Thiên được 2 tuổi, hoàng trưởng nữ cho dù có sống lại cũng mới được 7 tuổi. Một công chúa 2 tuổi, hoặc 7 tuổi, mà đã "nằng nặc xin vua cha ra ở trại ngoài" để chăn tằm với dân nghèo, hoặc để đi tu, quả là một điều khó tin.

"Cái nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái Lý Thần Tông ra đời" cũng đặt cho chúng ta một dấu hỏi lớn. Tuy sử không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng vua gặp gỡ các cung phi ở trong cung thành. Và các hoàng tử, công chúa đều được sinh ra trong cung. Ðịa điểm chùa Kim Liên (hoặc cung Từ Hoa) nằm ngoài kinh thành nhà Lý. Như vậy lại phải đưa ra thêm một giả thuyết là mẹ của công chúa Từ Hoa bị hắt hủi, bị đuổi ra ngoài cung thành. Mẹ phạm lỗi gì đó để bị đuổi thì con đẻ ra chắc chắn không được gọi là công chúa.

Vì vậy mà tôi nghĩ rằng, cả ba ý kiến cho rằng chùa Kim Liên bây giờ, trước kia là cái nền nhà cũ nơi công chúa Từ Hoa ra đời, hoặc là chỗ công chúa Từ Hoa chăn tằm, hoặc là chỗ công chúa Từ Hoa ra tu, đều đáng nghi ngờ.

Không đủ tài liệu để tra cứu thêm về nhân vật Từ Hoa, chúng ta tạm ngưng nơi đây. Mời bạn rời chùa Kim Liên sang thăm chùa Trấn Quốc, một chùa nổi tiếng khác của Hà Nội.

Chùa Trấn Quốc, cách chùa Kim Liên không xa lắm, "xưa ở bãi An Hoa, giáp sông Hồng, dựng từ đời Lý Nam Ðế (544-548) gọi là chùa Khai Quốc, sau đổi là chùa Trấn Quốc.

Năm 1615 bãi sông bị lở, chùa được dời tới làng Yên Phụ, cạnh Hồ Tây, dựng trên nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần, cũng là nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý" (Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển 1, NXB Khoa học Xã hôi, Hà Nội, 1978, tr 33).

Cung Thúy Hoa và cung Long Thụy được vua Lý Thái Tổ dựng năm 1010 để cho cung nữ ở. Cung nằm trong kinh thành Thăng Long. Lịch sử chùa Trấn Quốc có bãi An Hoa, có nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần, nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý.

Tôi cho rằng tên Thúy Hoa đã bị nhầm thành Từ Hoa.

Võ Văn Tường (sđd, tr. 390) cho biết một chi tiết khác về chùa Trấn Quốc: "đến đời Lê Kính Tông (1600-1618) chùa được dời vào hòn đảo Cá Vàng ở giữa Hồ Tây, tức địa điểm hiện nay".

"Cá Vàng" chữ Hán có thể viết là Kim Liên. Chữ liên nghĩa là cá liên ít dùng lại đồng âm và viết gần giống chữ liên thường dùng nghĩa là hoa sen, một hình tượng của đạo Phật, chùa chiền. Ðảo "Cá Vàng" trở thành chùa "Kim Liên" cũng là điều dễ hiểu.

Tôi nghĩ rằng người ta đã nhầm lẫn các tên gọi, rồi gán lịch sử chùa Trấn Quốc cho chùa Kim Liên.

Kim Liên = Cá Vàng
Kim Liên = Sen Vàng


Tiêu đề: Chùa Thầy và huyền thoại 3.000 bộ xương
Gửi bởi: Yahoo trong Tháng Chín 28, 2010, 07:34:03 AM
CHÙA THẦY & HUYỀN THOẠI 3000 BỘ XƯƠNG

Tụ linh khí xứ Đoài

Cách trung tâm Hà Nội gần nửa giờ đi xe máy, xã Sài Sơn hiện ra giữa những núi đá vôi cây cối rậm rạp đầy u tịch. Ngự giữa không gian ấy, chùa Thầy như là nơi phát ra muôn ngàn sương khói mờ ảo bao trùm lên cả xã 5 thôn xung quanh.

Chùa Thầy có tên chữ là Thiên Phúc tự bao gồm quần thể di tích Phật giáo ở quanh núi Thầy (tên chữ là Sài Sơn) gồm chùa thiên Phúc, chùa Long Đẩu, chùa Đỉnh Sơn, am Phật Tích, chùa Bối Am ở trên núi và cả những di tích phi Phật giáo như: đình, võ miếu, đền thánh Văn Xương (vị thần văn học), hang Cắc Cớ, chợ Trời… ẩn hiện sau những cây sứ đại thụ ngàn năm tuổi tỏa hương phảng phất.

Thực hư bể hài cốt ngàn bộ xương

Hang Cắc Cớ có cửa nằm gần trên đỉnh núi chính, du khách muốn thăm quan phải qua một đoạn đường đá dốc đứng khá nguy hiểm. Theo một cụ già bán nước hơn 30 năm ở đây thì hang là nơi cầu duyên, cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, cầu con.

Lối xuống hang dốc đứng trơn trượt dù đã được xây bậc bằng xi măng và có thanh sắt để vịn. Trong hang bóng tối gần như bao phủ hoàn toàn, nhưng tia sáng hắt xuống qua cổng trời những ngày nắng loáng nhoáng trên những nhũ đá lấp lánh thứ ánh sáng huyền bí. Những ngày mưa, không khí ẩm trong hang phủ dày một màn sương mù dày đặc đầy hơi hướng cõi âm.


Truyền thuyết kể rằng, chùa được dựng từ thời Lý cùng thời với thiền sư danh tiếng Từ Đạo Hạnh được dân gọi tôn kính và thân thuộc là Thầy (tức Thầy chùa), từ đó thành tên chùa là chùa Thầy. Xét về phong thủy, một cao niên ở đây giảng giải, núi Thầy được xem như là con rồng lẻ đàn độc đáo (quái long), xung quanh có 16 ngọn núi nhỏ (thập lục kỳ sơn) là các con lân, phượng, quy… chầu về. Chùa được dựng ở khu đất hàm rồng, sân trước chùa là lưỡi rồng thè ra uống nước, hai Nhật - Nguyệt tiên kiều như hai râu rồng và nhà Thủy đình là viên ngọc mà rồng vờn.
(Bàn thờ Lữ Gia) 
 
Bia Phật Tích sơn tự thi ghi lại lời chúa Định vương Trịnh Căn (1682-1709) khi qua đây: “Nay thấy chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích như viên ngọc nổi lên giữa đám ruộng sỏi đá rạng vẻ xuân tươi ở cả bốn mùa. Động Tiên hệt như cõi thanh hư bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật - Nguyệt đôi vầng. Núi tựa bình phong, sóng như dải lụa. Đá in dấu lạ, mãi mãi ghi điều thần diệu, vang reo sắc sáng, đường đường đầy rẫy quang minh. Tiếng Phật pháp đã vời được khách lạ dâng hoa, đạo đạo thừa lại khiến cả người quê tiến quả. Đó chính là vườn xanh núi Thúy dời đến chốn nhân gian vậy..

Du khách vào chùa sẽ qua hai cây cầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều trải bao mưa gió vẫn cổ kính rêu phong cùng thời gian. Giữa hồ có nhà thủy đình, nơi vẫn thường diễn ra múa rối nước, một đặc trưng chỉ có ở chùa Thầy.

Nơi đây đã đón nhiều danh nhân về thăm như Phan Huy Chú, Phùng Khắc Khoan. Đặc biệt, Nhà lưu niệm Bác Hồ tại đây ghi lại, ba lần Bác về thăm và làm việc ở nơi này.

Tương truyền hang có 9 tầng, tương ứng với chín tầng địa ngục. Trong đó, bể xương và bàn thờ Lữ Gia ở tầng thứ 3. Ngay lối xuống có một hang sâu mà theo người dẫn đường đó là lối dẫn xuống tầng địa ngục thứ 4. Bóng tối mịt mùng, thử ném một viên đá thì phải hơn phút sau mới nghe tiếng dội lại vang vọng mãi như ngàn tiếng linh hồn u uất. Người dẫn đường kể, đã có người buộc dây thừng ngang bụng xuống thám hiểm nhưng xuống chừng 30m mà không thấy đáy chỉ tối om và ngột ngạt nên đành quay lại.

Đi sâu hơn đến cổng trời, nơi thông thiên trời đất, sương mù từ dưới bay lên gặp     Cảnh âm u, mờ mịt của hang Cắc Cớ   ánh sáng trở nên mờ ảo. Những nhũ đá trong hang với những hình thù thiên tạo gắn vớ những sự tích như rồng chầu, suối bạc, trứng voi,…sinh động như có bàn tay con người tạo tác.

Theo những bậc đá trơn trượt, chúng tôi đến bàn thờ Lữ Gia, nơi thờ những nghĩa quân tương truyền chống Hán xưa kia thất trận chết tại đây. Không khí ẩm thấp nhuốm mùi nhang khói làm mọi người thấy lành lạnh sau lưng. Dấn bước vào sâu hơn là bể xương khổng lồ đầy huyền bí.

Theo người dân địa phương, bể xương này được xây lên để thu gom những hài cốt nằm la liệt các nơi trong hang trước đây. Thắp nhang làm lễ xong, du khách rướn người ngó vào trong bể xương, 1, 2,3… chiếc đầu lâu cùng nhiều xương ống mỗi cái một hình thù mờ mờ, ảo ảo. Đưa máy ảnh vào chụp, bấm đèn fash nhưng những bức ảnh chỉ là một màu trắng nhòa nhuốm màu âm khí. Tạ lễ lui ra, du khách không khỏi thót mình vì lũ dơi ở đâu phành phạch bay tứ tung…Theo nhà nghiên cứu văn hóa Phùng Thành Chủng, bể xương này chứa khoảng 3.000 bộ xương người. Chưa thấy có tài liệu nào trong nước chính thức ghi lại về nó. Trong một vài văn bản sử của nhà Hán chỉ thấy đề cập đến có quân “giặc cỏ họ Lữ” chứ không nhắc gì đến hang Cắc Cớ.

Mỗi năm khai hội chùa Thầy, ngày 7-3 âm lịch, du khách thập phương lại về chiêm bái và vui chơi. Hang Cắc cớ không chỉ chứa đầy bí ẩn mà từ lâu đã là nơi cầu duyên cho nam nữ thanh niên:
“Gái chưa chồng thăm hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”



Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: ngodao trong Tháng Mười 15, 2010, 02:55:49 PM
 Chùa Đất Sét Sóc Trăng: Ngôi chùa độc nhất vô nhị
Sóc Trăng có nhiều ngôi chùa độc đáo nhất ĐBSCL. Chùa Dơi (chùa Mã Tộc) nơi hội tụ của hàng ngàn con dơi quạ, loài dơi lớn có sải cánh dài từ 1-1,5m; Chùa Chén Kiểu với hàng nghìn chén kiểu lớn nhỏ được đính trên các mái, vách, cột chùa; Chùa Vàng lộng lẫy với nét chạm khắc tinh tế... mang nét văn hóa đặc trưng của người Khmer Nam Bộ. Chùa Đất Sét còn gọi là chùa Bửu Sơn Tự, ngôi chùa với hàng ngàn tượng lớn nhỏ bằng đất sét, cột chùa cũng bằng đất sét. Độc đáo hơn nơi đây còn có 8 cây đèn cầy nặng tổng cộng 1,4 tấn.
(http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2006/8/cm241/6.jpg)
Cặp đèn cầy lớn bên bàn thờ Bác Hồ
(http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2006/8/cm241/7.jpg)
Kỳ Lân bằng đất sét
(http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2006/8/cm241/8.jpg)
Bạch Hổ bằng đất sét
 Chùa được xây dựng cách đây 200 năm, do một người trong dòng họ Ngô sáng lập. Ông Ngô Kim Giản, 86 tuổi trụ trì chùa đời thứ 5 cho biết: Năm 1928â Ông Ngô Kim Tòng, thuộc đời thứ tư, người khởi xướng trùng tu chùa, qua một lần "nằm mộng" ông nghĩ ra cách nặn tượng bằng đất sét thay vì phải đúc bằng đồng, vàng… Trong cảnh nghèo khó, ông đã quyết định sử dụng đất sét để nặn tượng xây dựng chùa. Đầu tiên đất sét lấy về, ông cho phơi thật khô, sau đó bỏ vào cối giã thật nhuyễn, rồi sàng lọc bỏ rễ cây, rễ cỏ, lấy đất mịn trộn với bột nham ô dước tạo thành một hỗn hợp dẻo, thơm để sử dụng nắn tượng Phật và xây chùa. Ông Ngô Kim Tòng lúc ấy 20 tuổi, người chưa hề học qua lớp điêu khắc nào, ông vẫn bắt tay vào tạc tượng. Hơn 1000 pho tượng lớn nhỏ ông tạc, nặn một cách tinh tế trong vòng 42 năm. Khi đã hoàn thành việc xây cất chùa và trang trí các tượng Phật, tượng loài thú trong chùa thì ông bắt đầu lâm bệnh nặng và mất ở tuổi 62. Cho đến nay các tượng lớn, nhỏ này hiện vẫn còn nguyên vẹn ở chùa Đất Sét. Nào là tượng A Di Đà, Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế… Sự sắp xếp tượng ở đây nói lên tư tưởng Tam giáo đồng viện (Phật-Nho-Lão). Pho tượng "Bảo tòa thỉnh Phật trụ thế truyền tháp luận" có đến 1000 cánh sen, mỗi cánh sen là một vị thần ngự. Phía dưới đài sen lại có "Bát quái Thiên tiên" gồm 8 cung, đó là " Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài"; mỗi cung có hai tiên nữ đứng hầu; dưới đài sen và Bát quái là Tứ đại Thiên Vương trấn giữ.
(http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2006/8/cm241/10.jpg)
Tượng Phật  thờ trên chùa
(http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2006/8/cm241/11.jpg)
Tượng Phật che mắt
 Riêng tháp Đa Bảo cao 3,5m được thể hiện hết sức độc đáo. Tháp có 13 tầng với 208 cửa vị thần; dưới chân tháp có 126 rồng nâng đỡ tháp. Ngoài ra còn có lục long đăng 3 chóp đỉnh lớn, 7 lư hương nhỏ và các cặp Kim Lân, Thanh Sư, Bạch Tượng, Bạch Hổ, Long Mã. Những chi tiết này nhiều người tưởng là đúc bằng đồng, mạ kim nhũ với dầu bóng, nhưng tất cả đều được làm từ đất sét.
    Chùa Đất Sét không chỉ nổi tiếng bởi các pho tượng làm bằng đất sét mà còn 8 cặp đèn cầy lớn, mỗi cây cao 2,6m, ngang 1m (chứa 200kg sáp), được dòng họ Ngô đúc năm 1940. Hiện nay hai đèn nhỏ cháy suốt ngày đêm từ khi ông Ngô Kim Tòng qua đời (ngày 18-7-1970 đến nay). Nếu cháy hết sáp phải vào cuối năm 2006. Bình quân mỗi cây đèn cháy suốt ngày đêm phải mất 70-80 năm. Hiện nay mỗi ngày chùa đón trên 200 du khách và phật tử đến tham quan. Và đây được xem là ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam vì có trên 10.000 tượng lớn nhỏ đều được làm từ đất sét, là địa chỉ thu hút du khách mỗi khi đến Sóc Trăng.

TRƯƠNG CÔNG KHẢ


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: 8N trong Tháng Một 06, 2011, 02:50:06 PM
Hiên ngang đứng giữa đất trời
Nguyễn Dư

Ngày bé, mình xem Chùa Một Cột, thấy cái cột bằng gỗ, chứ không xây như bây giờ. Cột mà xây thì còn gì là hay nữa.
(Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Nhớ và ghi về Hà Nội, nxb Trẻ, 2004, tr. 117).
Hay hay không hay ? Cột xây hay cột gỗ ? Muốn biết thì... dựa cột mà nghe!

Đại Việt sử kí toàn thư chép : năm 1049, vua Lý Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu. Trước đấy, vua chiêm bao thấy phật Quan Âm ngồi trên toà sen, dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật Quan Âm ở trên cột, giống như đã thấy trong mộng.

Một tấm bia, khắc năm 1665, kể rằng :

" Năm đầu niên hiệu Hàm Thông đời Đường [...], dựng một cột đá ở giữa hồ. Trên cột xây một toà lầu ngọc, trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng " (...).
(Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển 1, Khoa Học Xã Hội, 1978, tr. 59).

(http://chimviet.free.fr/41/nds0056_chuamotcot/Chua%20Mot%20Cot-1884%20(Hocquard).jpg)
Chùa Một Cột năm 1884 (ảnh Hocquard)

Chùa được sửa chữa nhiều lần. Năm 1847 :

" May nhờ các quan Đốc bộ đường trước nay và các viên văn vũ bản tỉnh, xúc cảm trước cảnh chùa, phát lòng bồ đề, gia công tu bổ, khiến cho cửa Thiền lộng lẫy, tượng Phật huy hoàng, sánh với hoàng đô muôn đời bất diệt, so cùng cột đá, lâu mãi vững bền. Công này, đức này, tiếng để ngàn năm " (...). (sđd, tr. 61).

Cái cột đá của chùa Một Cột đã có từ thời nhà Lý, hay trễ nhất cũng là từ thế kỉ 17.

Tháng 5 năm 1884, bác sĩ Hocquard dạo chơi quanh Hà Nội, có ghé thăm chùa Diên Hựu.

" Hai cụ từ giữ chùa ở trong một ngôi nhà rất ngộ nghĩnh. Nhà được xây cất trên cột đá dựng giữa một cái ao đầy bèo và sen. Trông như một cái tổ chim. Ngôi nhà được mấy thanh gỗ ngang gắn vào cột đá chống đỡ. Giống mấy cái nan ô được gắn vào cán ô ". (Docteur Hocquard, Une campagne au Tonkin, Arléa, 1999, tr. 266).

Ngày xưa, đã có lúc chùa Một Cột được dùng làm chỗ ở của người trông coi chùa Diên Hựu.

Mấy tấm ảnh của Hocquard (bản khắc tr. 211, sđd), của Dieulefils (Indochine pittoresque & monumentale ( Annam - Tonkin ), của trường Viễn Đông Bác Cổ, của bưu ảnh, chụp trong khoảng từ cuối thế kỉ 19, sang đầu thế kỉ 20, cho đến năm 1950, đều cho thấy cái cột đá. Chưa thấy tài liệu nào đả động đến cái cột gỗ của Nguyễn Công Hoan.

Năm 1954, thực dân Pháp sửa soạn rút khỏi Hà Nội. Ngày 11 tháng 9, chùa Một Cột bị đặt chất nổ ! Tan tành. Cái cột bị huỷ hoại.(Philippe Papin, Histoire de Hanoi, Fayard, 2001, tr. 84). Rất may, thông tin của Papin không hoàn toàn chính xác. Có người chụp ảnh chùa bị phá. Cột đá chỉ hơi bị nghiêng. Hai tảng đá vẫn còn nguyên vẹn. (Carnet du Viêt Nam, tháng 8/2004, tr. 33).

(http://chimviet.free.fr/41/nds0056_chuamotcot/chua%20mot%20cot%20bi%20pha%20hoai%20-%20(1954).jpg)
Chùa Một Cột năm 1954


Năm 1955, chùa Một Cột được xây cất lại. Chuyên viên Sở Bảo Tồn Cổ Tích Nguyễn Bá Lăng được uỷ nhiệm nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. (Nguyễn Nam Kinh, Chùa Một Cột, Hương Sen số 60, Hội Phật Tử Việt Nam tại Pháp, 1996, tr. 27). Chính Nguyễn Bá Lăng đã công nhận : " thành phần (của chùa Một Cột) mà ta có thể tin được là nguyên vẹn từ triều (Lý) này thì chỉ có cây cột đá gồm hai khúc tròn chồng khớp lên nhau đường kính 1m20 đội toà chùa bên trên như thể một cái cuống đưa đoá hoa sen nổi trên mặt một hồ nước vuông nhỏ mỗi bề rộng khoảng 16m ". (Nguyễn Bá Lăng, Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, tập 1, Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1972, tr. 85).

Ai phá hoại chùa Một Cột ? Nhiều người nghi là quân đội Pháp. (France Mangin,Hanoï, Edition Recherches, Ipraus, 2001, tr. 149) . Nghi vấn này bị Duyên Anh bác bỏ :

- (...) Cuối năm 1954, đảng Đại Việt (không phải nước Đại Việt) gài mìn cho nổ sập Chùa Một Cột. Nói rằng, Chùa Một Cột phải tan nát, " quân ta " mới có ngày về " giải phóng " ! Báo chí quốc gia chửi đảng Đại Việt thậm tệ, gọi Đại Việt là bọn phá hoại ngu dốt. Phật giáo phẫn nộ. Chúa đảng Đại Việt, Nguyễn Hữu Trí, bị bắn chết ở Tân Sơn Nhất, hôm di cư vào Nam (...). (Duyên Anh, Ca dao quyện lấy miếng ngon dân tộc, Vũ Trung Hiền xuất bản, 1995, tr. 186).

Chùa Một Cột bị phá nhưng cái cột đá vẫn hiên ngang đứng giữa đất trời. Ngạo nghễ giữa bùn, sen, mưa, nắng !

Nguyễn Công Hoan nhớ sai. Cột đá mới vững, mới bền, mới... hay!


Tiêu đề: 4 đền, chùa cầu duyên linh thiêng nức tiếng gần xa
Gửi bởi: ngodao trong Tháng Hai 10, 2011, 06:47:41 AM
4 đền, chùa cầu duyên linh thiêng nức tiếng gần xa

Đầu năm mới, lên đền, chùa ngoài cầu phúc, lộc và sự bình an, nhiều nam thanh, nữ tú còn cầu chuyện tình duyên năm mới có nhiều may mắn, tìm được ý chung nhân.

Không có ngôi chùa, đền nào riêng biệt cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc cá nhân. Tuy vậy, tiếng lành đồn xa, trên khắp dải đất hình chữ S xinh đẹp, mỗi vùng miền đều được dân gian truyền miệng có những đền, chùa rất thiêng cho việc cầu duyên.

Ở đất Thăng Long nổi tiếng nhất là chùa Hà (Q. Cầu Giấy), rồi đến Am Mỵ Châu ở đền Cổ Loa huyện Đông Anh. Bên cạnh đó, khá nhiều ngôi đền, chùa được người đời truyền nhau rất thiêng trong việc cầu duyên tình cho đôi lứa như đền Gióng (huyện Sóc Sơn), chùa Hương...

Tại Ninh Bình, có chùa với cái tên nghe rất lãng mạn: chùa Duyên Ninh cũng là địa điểm cầu duyên có tiếng gần xa.

Ngược lên miền Đông Bắc của Tổ quốc, tại Lạng Sơn - nơi cũng có rất nhiều đền, chùa, lễ hội độc đáo có đền Bắc Lệ.

Đầu năm mới, ai cũng mong bản thân mình được hạnh phúc, tình duyên xuôi chèo, mát mái. aFamily xin giới thiệu vài nét về 4 đền, chùa cầu duyên được nhiều người "mách nhau" dịp đầu năm mới kể trên để trong những chuyên du xuân, bạn hãy ghé qua để thưởng ngoạn và cầu khấn.

1. Nổi tiếng chùa Hà
 
 
Chùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước tọa lạc ở thôn Bối Hà, xã Dịch Vọng, Huyện Từ Liêm, nay làng lên phố nên chùa thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
 
Theo tích xưa kể lại, chùa Hà do một gia đình làm nghề gốm sứ giàu có quê ở Bối Khê công đức, xây dựng. Hiện nay, lăng mộ thờ gia đình vẫn được lưu giữ trong chùa. Bên phải chùa là ngôi đình Hà làm hoàn toàn bằng gỗ quý, thờ 2 vị thành hoàng là Triệu Chí Thành và Chu Lý, các tướng của Triệu Việt Vương (thế kỷ VI) có công chống giặc Lương.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/1266909747cauduyen.jpg)
(http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/IMG0238.jpg)
Nhiều nữ tú tới chùa Hà cầu duyên. Ảnh: VNE
 
Qua thời gian, ngôi chùa đã trải qua rất nhiều lần trùng tu, sửa chữa và tôn tạo với tầm vóc ngày càng to đẹp, khang trang hơn. Chùa là điểm đến vàng ngày Lễ, Tết, ngày Rằm hay mồng 1. Tuy vậy, nhắc tới chùa Hà, nhiều người mách ngay đây chính là ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng nhất đất Thăng Long.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/IMG0208.jpg)
Viết sớ xin duyên. Ảnh: VNE
 
Không biết nguyên cớ từ đâu và từ khi nào, nhưng với nhiều nam thanh, nữ tú, muốn cầu duyên cho bản thân thì chùa Hà là điểm đến đầu tiên, họ tin sự linh nghiệm tại đây. Cũng không cứ ngày Tết, mà bất kể khi nào, nhất là vào ngày Rằm, ngày mồng 1, nếu có dịp ghé thăm chùa Hà, bạn không khỏi ngạc nhiên vì có rất nhiều bạn trẻ (đa số trong đó là các bạn nữ) tới để dâng hương, xin sớ, xem quẻ cầu duyên.
 
Một điểm đặc biệt nữa, dọc con phố dẫn vào chùa Hà chỉ bán hoa hồng-hoa tượng trưng cho tình yêu. Các hàng lưu niệm quanh chùa cũng bán rất nhiều vòng, nhẫn… mà cái nào cũng đi theo đôi, theo cặp…

2. Am Mỵ Châu
 
Am Mỵ Châu nằm trong chùa Cổ Loa. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay phải 3 km đến chợ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/59aDSCN2564.JPG)
Chùa thờ Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung, thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/michau3.jpg)
Trong chùa, có am nhỏ thờ một bức tượng không đầu được trang trí rất đẹp và sang trọng. Theo người dân sống tại đây, bức tượng này là thờ công chúa Mỵ Châu bị vua cha chém đầu vì tội phản bội trong truyền thuyết xa xưa.
 
Truyền thuyết kể lại rằng, khi An Dương Vương thất thế ở thành Cổ Loa công chúa Mỵ Châu lên ngựa chạy về phía nam. Khi đến đèo Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) thì sức cùng, lực kiệt, trước mặt là biển Đông sau lưng là quân thù.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/ammychau1.jpg)
Lối vào Am Mỵ Châu
 
An Dương Vương đã cầu cứu thần Kim Quy, rùa thần hiện lên và nói: “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” vua liền rút gươm quyết định chém đầu Mỵ Châu. Trước khi chết Mỵ Châu quỳ gối ôm chân cha mà nói: “Oan cho con lắm. Nếu là kẻ bất trung có lòng hại cha khi chết thân xác con sẽ hoá thành tro bụi, bằng không hoá thành ngọc, thành đá trôi về hầu cha”.
 
Về sau nay, người dân Cổ Loa vẫn truyền nhau câu chuyện ly kì về dân chài quăng lưới trên sông Hoàng Giang kéo được bức tượng với hình người ngồi xếp bằng, hai tay để song song đặt lên đầu gối nhưng lại mất đầu.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/TUONGKHONGDAU1.jpg)
Cho rằng bức tượng không mấy gì đặc biệt nên dân chài lại thả xuống sống. Nhưng kỳ lạ là sau những lần quăng lưới, bức tượng lại lọt vào. Cảm thấy có điểm báo, người dân hò nhau kéo bức tượng lên bờ. Đồng thời làm lễ xin được rước về. Các cụ bô lão đức cao vọng trọng trong làng đã lên tiếng nói:  Nếu có linh thiêng xin ở chỗ nào về chỗ đó để con cháu lập đền thờ. Quả nhiên sau khi gánh về chiếc võng đã đứt ngay tại vùng đất là Am thờ công chúa Mỵ Châu ngày nay, nằm bên trái điện Di Quy.
 
Nhân dân cho rằng đây chính là tượng công chúa Mỵ Châu đã ứng nghiệm vào lời nói năm xưa, trôi ngược biển Đông về đất Tổ để hầu vua cha. Từ đó hàng năm, người dân trong vùng đã cử người trông coi Am này, người được cử phải có đạo đức tốt, gia đình đầy đủ hạnh phúc, con cái trưởng thành. 
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/7d6michau1.jpg)
Cũng vì câu truyện dân gian vẫn chưa có chứng thực xúc động trên, am Mỵ Nương được người đời truyền tụng rất có ứng nghiệm cho việc cầu duyên, cầu hạnh phúc gia đình.

3. Chùa Duyên Ninh

Chùa Duyên Ninh (Duyên Ninh Tự) tọa lạc trong thành Tây Hoa Lư ở thôn Chi Phong xã Trường Yên. Trên đường từ Tràng An đến chùa Bài Đính. Thưở xa xưa, Duyên Ninh Tự là nơi vui chơi của các công chúa thời Đinh Lê.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/chuaduyenninh1.jpg)
Chùa được xây dựng dưới thời Vua Đinh Tiên Hoàng. Dân gian thường gọi chùa này là chùa Thủ. Nơi đây Lý Thái Tổ và công chúa Lê Thị Phất Ngân con vua Lê Đại Hành đã thề hẹn yêu đương ở đó mà sinh ra Lý Thái Tông.
 
Sau này Lý Phật Mã vẫn lui về đây tu hành. Chùa Duyên Ninh được xem là ngôi chùa nguyên vẹn từ thời Đinh còn lại nên kiến trúc khá khiêm nhường và cổ kính.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/chua-duyen-ninh-2.jpg)
Chính nguồn gốc về các cô công chúa, về gia đình hạnh phúc xa xưa của bậc vua chúa nhà Lý mà chùa sau này trở thành một điểm tín ngưỡng thu hút rất đông người dân tới cầu phúc, cầu may. Đặc biệt không thể không kể tới việc cầu duyên và cầu tự hiếm muộn con cái.
 
4. Đền Bắc Lệ
 
Nếu có dịp ghé thăm xứ Lạng vào dịp đầu xuân để cảm nhận không khí xuân ngập tràn nơi đây. Đất Lạng Sơn nổi tiếng với rất nhiều lễ hội đặc sắc của các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Dao...
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/CH082100.jpg)
Nếu còn độc thân hay muốn cầu hạnh phúc gia đình, bạn hãy tìm đến đền Bắc Lệ. Dân gian vùng quê nơi đây luôn tin tưởng đây là ngôi đền cầu tình duyên thiêng nhất tại xứ Lạng cũng như trên đất nước Việt Nam.
 
Đền Bắc Lệ Lạng Sơn thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là đền thờ Mẫu điển hình ở nước ta. Lễ hội lớn nhất trong năm được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 Âm lịch.
(http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/bac-le-1.jpg)
Đền Bắc Lệ nằm trên một quả đồi cao, xung quanh rợp bóng cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đền là nơi thờ Bà Chúa Thượng Ngàn - nữ thần núi. Bà là người trông coi, cung cấp và ban phát nguồn của cải núi rừng cho con người.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/CH011866.jpg)
Ngoài ra, được suy tôn trong đền còn có Chầu Bé - một nhân vật có thật người vùng Bắc Lệ, đây chính là các cô, các cậu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
 (http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2011/02/09/CH011854.jpg)
Lễ hội đền Bắc Lệ bao gồm các phần lễ chính: lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước... Không khí của buổi lễ hòa trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng với những điệu nhạc và những trang phục rực rỡ sắc màu của điệu múa sanh tiền, người dân ở đây tin rằng điệu múa sẽ đem lại may mắn và bình an.

(afamily)


Tiêu đề: CHÙA XUÂN TRÊN ĐẤT BẮC .
Gửi bởi: ngodao trong Tháng Hai 12, 2011, 03:09:42 PM
Đã thành một nét đẹp truyền thống của người Việt, cứ vào sáng sớm mồng một Tết, nhiều gia đình lại cùng nhau đi lễ chùa cầu chúc một năm mới an lành, nhiều may mắn đến với gia đình mình và mọi người. “Đi lễ thì lúc nào cũng được. Nhưng sáng mồng 1 Tết là thời khắc đặc biêt của năm mới nên đến cầu phúc cho gia đình và con cháu sang năm mới có nhiều hạnh phúc, niềm vui”.
Đêm giao thừa, nhiều dòng người đổ đi lễ chùa một mạch từ đêm, tới sáng bảnh mới lục tục kéo nhau về. Trước lễ Phật, lễ Thánh, sau về nhà lễ gia tiên. Những miền đất Phật, đất thánh như chùa Hương, Yên Tử, đền Bà Chua kho ngay rạng sáng mùng 1 Tết, đã nô nức những dòng người trảy về.

Phủ Tây Hồ - cầu tài lộc
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/500-375-chua-xuan-tren-dat-bac-1.jpg)
Phủ Tây Hồ được coi là một trong những chốn linh thiêng nhất trong hệ thống đình chùa của Hà Nội.
Phủ Tây Hồ được coi là một trong những chốn linh thiêng nhất trong hệ thống đình chùa của Hà Nội. Không chỉ những người dân Hà Nội, mà đa số du khách khắp nơi khi đến thăm Hà Nội thì đều đến thắp hương cầu phúc ở Phủ Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ của kinh thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây. Ở ngay đầu làng có một ngôi đền thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (Thánh Mẹ). Hàng năm cứ sau thời khắc giao thừa, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi lễ Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn, vừa đi thưởng ngoạn cảnh đẹp Hồ Tây.

Hai bên đường dẫn vào Phủ là các hàng bán hoa quả, hương, oản, bánh kẹo, những cành vàng lá ngọc lấp lánh. Nhiều ông đồ cắm cúi viết sớ không kịp nghỉ tay trước hàng đoàn người đứng xếp hàng chờ đến lượt. Việc chen chân vào để đặt được lễ trong phủ thật khó, và không ít người phải đặt lễ lên đầu, hoặc phải bái vọng từ ngoài vào...

Quốc Tử Giám  xin chữ
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/500-357-chua-xuan-tren-dat-bac-2.jpg)
Sáng mồng Một đi xin chữ thánh hiền ở Văn Miếu Quốc Tử Giám
Tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám những ngày đầu năm khách ra vào nườm nượp. Khách chủ yếu là những học sinh, có em được cha mẹ đưa đến cầu mong một năm mới học hành tấn tới, đỗ đạt.

Nói là "xin chữ" nhưng chính xác ra là mua chữ, giá trung bình năm nay cho một chữ mực tàu giấy đỏ cỡ 100.000 đồng. Bức tường bên phố Quốc Tử Giám dài khoảng trăm mét có tới dăm chục ông đồ, già có, trẻ có ngồi cặm cụi hành nghề. Đa số họ đều là thành viên CLB Thư pháp Hà Nội.

Sáng mồng Một đi xin chữ thánh hiền, lòng người như phơi phới và thanh tao, cả người cho lẫn người xin. Nhiều bậc cha mẹ cùng con cái ríu rít tới xin chữ. Ấy vậy nên, các thầy đồ lấy bao nhiêu tiền một chữ, ai nấy đều vui vẻ rút hầu bao, không mặc cả thêm bớt như đi mua sắm món hàng hóa thông thường.

Đền Trần – xin ấn
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/500-323-chua-xuan-tren-dat-bac-1.jpg)
Theo tương truyền, ấn chỉ linh thiêng khi được lấy đúng vào 23 - 24h của ngày 14 tháng giêng.
Cứ ngày 14 tháng riêng âm lịch hàng năm, Nam Định tổ chức lễ khai ấn Đền Trần, nơi thờ các vị vua đời Trần. Dù chỉ đêm 14 tháng Giêng mới khai ấn đền Trần nhưng mới mùng 7, mùng 8 Tết, phủ Thiên Trường Nam Định đã tấp nập du khách thắp hương, vãn cảnh đầu xuân. Vài năm trở lại đây, ngày càng nhiều người đổ về khu di tích Đền Trần, Nam Định xin ấn để cầu tài, cầu lộc, vạn sự như ý.

Đền Trần (Trần Miếu) thuộc Tức Mặc, phường Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định. Đền Trần là công trình thờ tự có từ lâu đời, thờ 14 vị vua triều Trần. Khai ấn đầu năm là một hoạt động văn hoá mang đậm dấu ấn của triều đại phong kiến nước ta. Thế nên, dù Đền Trần có hơn hai chục ngày lễ nhưng Lễ khai ấn là đại lễ được mong đợi nhất trong năm. Theo tương truyền, ấn chỉ linh thiêng khi được lấy đúng vào 23 - 24h của ngày 14 tháng giêng. Vì vậy hàng vạn, hàng triệu người khắp nơi đổ về Đền Trần chen chúc, xô đẩy nhau cũng chỉ mong xin được ấn vào thời khắc thiêng liêng ấy.

Để xin được ấn vua ban lúc nửa đêm, người ta phải xếp hàng, xin thẻ từ trước đó rất lâu, hoặc đến thời điểm khai ấn. Loại này được đóng trên giấy điệp vàng là dành cho "thường dân".

Còn có một loại ấn được đóng trên tấm lụa đỏ, loại này chỉ có rất ít, và chỉ dành cho các quan chức cấp tỉnh, Trung ương về dự. Cứ 10 khắc trên lụa đỏ chỉ có 1 tấm duy nhất là có giá trị vì được cắt ra từ tấm áo hoàng bào của các đời vua. Và nếu ai may mắn được tấm lụa đó thì coi như đã đắc lộc, đắc thọ.

Trẩy hội Chùa Hương
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/450-300-chua-xuan-tren-dat-bac-2.jpg)
Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.
Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.

Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn.

Trong suốt những ngày hội là sự nồng nhiệt của tuổi trẻ, là sự thành kính của các bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà nam phụ lão ai ai cũng có phần riêng của mình. Cả ở những triền núi thấp cao, những rừng cây, rừng mơ… là những đoàn người trẩy hội. Kẻ đi ra, người đi vào, kẻ đi lên, người đi xuống bồng bềnh vào những đám mây nhẹ. Họ gặp nhau, quen hay không quen cũng vui vẻ chào nhau bằng một lời chào: "Nam mô a di đà Phật" nhẹ nhàng. đằm thắm và ấm áp…

Hành hương Yên Tử
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/440-330-chua-xuan-tren-dat-bac-1.jpg)
"Trăm năm tích đức tu hành
Chưa về Yên Tử chưa thành quả Tu"
Đã thành thông lệ, cứ mỗi dịp đầu xuân, hàng vạn người dân cả nước lại trẩy hội về với non thiêng Yên Tử- kinh đô Phật giáo nước ta thế kỷ 13.

Sau lễ hội chùa Hương, thì lễ hội Yên Tử đang là lễ hội hành hương lớn thứ hai vào mùa xuân ở nước ta với cả quy mô và thời gian trẫy hội. Lễ hội Yên Tử bắt đầu từ ngày 10 tháng Giêng AL hằng năm và cũng kéo dài suốt mùa Xuân.

Vẻ đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoà với nét cổ kính trầm mặc của hệ thống am, tháp cùng với đường tùng, thông, đại, trúc, mai mọc ở hai bên đường toả bóng mát làm cho du khách thập phương quên nỗi mệt nhọc đường dốc cheo leo.

Hiện nay hệ thống cáp treo ở Yên Tử đã đi vào hoạt động, đưa du khách tới chùa Hoa Yên ở độ cao 534 m so với mực nước biển, nơi có hai cây đại 700 năm tuổi. Từ đây du khách tiếp tục leo núi, tới các ngôi chùa nằm rải rác trên đường đi tới chùa Đồng. Đường lên chùa Đồng du khách có cảm tưởng như đi trong mây.

Đền Bà Chúa Kho – xin lộc rơi lộc vãi
(http://i.travellive.org/images/thumbs/news-thumb/480-360-chua-xuan-tren-dat-bac-2.jpg)
Mọi người lên lễ Bà Chúa Kho để vay tiền hoặc xin "lộc rơi lộc vãi".
Theo dân gian truyền miệng thì, người đi lễ đầu năm đến đền Bà Chúa Kho để vay tiền làm ăn kinh doanh cho năm mới.

Các thương gia, các nhà doanh nghiệp ai cũng cố vào được cửa Bà. Bằng mọi giá, mọi cách, họ phải khấn vái và đặt lễ được trước… mặt Bà. Có vậy Bà mới cho lộc, mới mở kho xuất tiền cho vay. Mọi người lên lễ Bà Chúa Kho để vay tiền hoặc xin "lộc rơi lộc vãi". Vay thì thủ tục khá rắc rối, phải qua nhiều ban bệ. Đa số mọi người lên xin lộc rơi lộc vãi nhưng năm nào cũng lên tạ lễ Bà đã phù hộ cho.

Đi lễ Bà Chúa Kho đã trở thành thói quen đối với nhiều người, đặc biệt là giới kinh doanh. Cứ vào dịp đầu xuân năm mới hàng ngàn khách thập phương trong cả nước lại đến chiêm bái, thắp hương và dâng phẩm vật kính lễ bà Chúa kho, cầu mong một năm mới an lạc thịnh vượng và hạnh phúc.
Nguồn:  YeuDuLich.vn


Tiêu đề: Thực hư hòn đá chém đầu 200 năm vẫn 'than khóc'
Gửi bởi: SCC trong Tháng Mười Một 05, 2011, 04:01:28 AM
Thực hư hòn đá chém đầu 200 năm vẫn 'than khóc'

Cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết.

Để trở thành một địa điểm được nhiều người dân coi là linh thiêng, “hòn đá oán hờn” trong ngôi chùa Thập Tháp Di Đà (Thường gọi là chùa Thập Tháp) ở Bình Định có lẽ đã “góp công lớn” vì những truyền thuyết nửa thực nửa hư về nó được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác. 200 năm đã trôi qua, hòn đá trắng lạ kỳ vẫn trơ trơ giữa sân chùa, vừa như một điểm nhấn cho cảnh quan, vừa như một chứng tích lịch sử.

Chứng tích lịch sử

Ngôi chùa nằm ở phía Bắc thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận thôn Vạn Thuận (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách TP.Quy Nhơn gần 30km và cách quốc lộ 1A khoảng 100m). Du khách đến vãn cảnh chùa nếu hỏi chuyện sẽ được các nhà sư ở chùa Thập Tháp kể cho nghe những câu chuyện ly kỳ, huyền bí liên quan đến những dấu tích lịch sử còn sót lại trong ngôi chùa cổ tự này.

Chuyện kể rằng, hơn 200 năm trước đây, khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta đã mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi đổ máu đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù; ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới; ai có tài sẽ được trọng dụng.

Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện. Nhưng ngay sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé “những kẻ thù xưa” rồi chôn tập thể.

(http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/11/05/11/20111105110356_da1.jpg)

Hòn đá kỳ lạ chất chứa căm hờn của hàng trăm người dân đối với bạo chúa Nguyễn Ánh

Đao phủ của Nguyễn Ánh kỳ công đi khắp các vùng, rồi tìm được một hòn đá lớn màu trắng tinh khôi mang về dùng để kê đầu các nạn nhân. Tảng đá ấy được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, quân lính và đao phủ đưa nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm kiếp người đã từ giã cõi đời trên hòn đá này, nỗi oán hờn của người dân với bạo chúa chất cao như núi.

Nỗi oan khất, đau đớn của hàng trăm người như lặn vào tảng đá kia khiến sau đó, khi đã xong nhiệm vụ hành hình, dù bao nhiêu quân lính cũng không thể nhích hòn đá ấy rời khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Truyền thuyết kể lại rằng, hàng đêm người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, người dân và cả quan quân nhà Nguyễn Ánh không ai dám đi ngang nơi cổng thành.

Dân gian thêu dệt nên câu chuyện, cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Cả vùng bất ổn, không chỉ những quan lại trong triều mà người dân sống quanh thành (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn) cũng sống không yên. Quan lại sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy.

Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân trong triều đón tiếp vị sư rất long trọng. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, vị sư xin được mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp. Kỳ lạ thay, lúc này chỉ cần 4 người khiêng nhưng hòn đá được chuyển đi nhẹ tênh, khác với việc trước đó cả trăm quân lính hè nhau di chuyển đi mà đá không nhúc nhích.

Hòn đá oán hờn

Các vị sư trong chùa kể lại, hòn đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 300 năm tuổi nằm phía Nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém. Thế nhưng đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng.

Nhà sư Mật Hạnh, người đã nhiều thập kỷ gắn bó với ngôi chùa kể lại, ngày xưa khi ông mới đôi mươi, vào những đêm mùa đông, trong thời tiết âm u, có lúc ông loáng thoáng nhìn thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ hòn đá kia rồi đi đến chỗ đặt tấm bia di tích của nhà chùa. Khi chó trong chùa sủa ran là bóng người phụ nữ kia biến mất.

Nhà sư Mật Hạnh cười: “Thực sự thì cũng không dám khẳng định đó là ma hay chỉ là ảo ảnh. Cũng có khi do nghe nhiều truyền thuyết về hòn đá quá nên tưởng tượng ra ma quái mà thôi”.

Thời gian sau, vị cao tăng trong chùa có tên Phước Huệ một lần nữa chuyển Hòn Đá Chém vào để ngay bậc tam cấp bước vào khu Phương Trượng của chùa. Đêm đầu tiên chuyển hòn đá vào chùa, nhà sư Phước Huệ đang ngon giấc thì thấy có một vị mặc trang phục võ tướng hiện hình nói rằng: “Ông ỷ là đệ tử nhà Phật nên phá nhà tôi hả?”.

Nhà sư Phước Huệ hét to một tiếng khiến tất cả sư đệ trong chùa đều nghe thấy lao đến, mới biết sư phụ mình nằm mơ. Cũng có thể đó chỉ là nội dung những truyền thuyết được nghe trong ngày, đêm đến ám ảnh cả vào trong giấc mơ.

Người trong chùa còn lưu truyền lại những câu chuyện ngày xưa, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hàng năm vào lúc nửa đêm 30 tháng Chạp, rạng sáng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán. Bàn thờ cúng được đặt ngay chánh điện, nơi đặt Hòn Đá Chém bên dưới. Trong mỗi lần cúng, đến khi đổ 3 hồi trống chiến là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi biến mất.

200 năm đã trôi qua, Hòn Đá Chém vẫn còn yên vị ngay cửa khu Phương Trượng của chùa Thập Tháp, cao khoảng 40cm, dài 1,5m, rộng 1,3m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản nhưng trải qua bao nhiêu vết bụi của thời gian, những hòn đá vẫn giữ được màu trắng sáng tuyệt đẹp của loại đá trắng không tì vết. Nếu không được kể chuyện về nó, thoạt trông không ai có thể ngờ trong hòn đá hiền hậu kia đã chứa biết bao nỗi oan khuất của hàng trăm mạng người là nạn nhân của bạo chúa Nguyễn Ánh ngày xưa.

Hòn đá chứng nhân lịch sử, lại gắn liền với nhiều truyền thuyết như thế nhưng không được thờ cúng, nay giản dị làm một bậc tam cấp cho người ta bước chân qua. Những nhà sư trong triều cho biết, oan khuất rồi cũng đã đi qua.

Ngày xưa khi dời hòn đá từ cổng kinh thành về chùa, người ta cũng chỉ có mục đích mong mỏi lớn nhất là làm dịu đi những oán hờn của người oan trái chứ không có mục đích dời hòn đá về đây làm vật thờ cúng. Đá lại trở về với công dụng của đá, ngày ngày du khách bước chân qua để nhớ lại bài học ngày xưa bạo chúa Nguyễn Ánh vì nuốt lời tàn độc nên cuối cùng đã phải trả giá đắt khi vương triều lụn bại, phải nhận một cái chết tức tưởi và bị lịch sử muôn đời coi như đối tượng “rước voi về giày mả tổ”.

Hòn đá oán hờn ngày xưa nay thành hòn đá hiền hòa, thành hòn đá xinh đẹp, thành hòn đá nâng niu bước chân du khách.

Trong tất cả những ngôi chùa ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh Bình Định được chép vào sách Đại Nam Nhất Thống Chí với lời đánh giá: “Chùa này cùng chùa Linh Phong đều nổi tiếng là danh thắng”.

Chùa được xây dựng trên một gò tương đối rộng hình mai rùa có chu vi gần 1km gọi là Gò Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có 10 ngọn tháp do người Chàm xây để “yểm hậu” cho thành Vijaya. Vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 nhà Lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựng mà vật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp Chàm đã bị đổ.

Cho đến ngày nay, trải qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Năm 1990, Chùa Thập Tháp được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

(Theo Pháp luật và Thời đại)


Tiêu đề: Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu và Nha Trang
Gửi bởi: Yahoo trong Tháng Bảy 29, 2012, 07:47:01 AM
Thích Ca Phật Đài  ở Vũng Tàu và Nha Trang
Phanxipăng
Thành phố Vũng Tàu có Thích Ca Phật Đài trên sườn núi Lớn.  Thành phố Nha Trang có Kim Thân Phật Tổ trên đỉnh đồi Trại Thuỷ. 
Đôi pho tượng ngoài trời nổi tiếng ấy do điêu khắc gia nào sáng tạo? Cớ sao hai tác phẩm dẫu kích cỡ khác nhau song cùng kiểu dáng lẫn phong cách?


Để thuận tiện, trong bài này, cả hai tác phẩm điêu khắc đều được gọi Thích Ca Phật Đài kèm địa danh. Những trường hợp cần thiết, Thích Ca Phật Đài ở Nha Trang còn được gọi Kim Thân Phật Tổ hoặc tượng Phật Trắng. Tính đến nay, trên đất nước Việt Nam, đó là đôi pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền định đặt ngoài trời thuộc hạng xinh đẹp nhất.
(http://chimvie3.free.fr/47/phanxipn_ThichCaPhatDai/IMG_0898.jpg)

Tác giả là ai?
Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia qua quyết định số 1987/VH/QĐ ban hành ngày 14-12-1989.

Thư tịch lâu nay nhận định gì về công trình này? Vũng Tàu xưa và nay của Huỳnh Minh (NXB Cánh Bằng, Sài Gòn, 1970 - NXB Thanh Niên tái bản, Hà Nội, 2001): "Phật Đài Thích Ca không những là một công trình xây dựng đồ sộ của tín đồ Phật giáo Việt Nam đóng góp mà còn là thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu cũ, đã thu hút rất đông du khách trong nước và ngoài nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa, Thái Lan, Ai Lao".
Danh lam nước Việt do Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương hợp soạn (NXB Mỹ Thuật, Hà Nội, 1995): "Do địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích Ca Phật Đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu".
Tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (dùng trong các trường phổ thông) của nhiều soạn giả (Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ấn hành, 2005): "Nằm phía Bắc dưới chân núi Lớn, Thích Ca Phật Đài là một di tích lịch sử văn hoá và là một thắng cảnh rất nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu".
Bà Rịa - Vũng Tàu con số và sự kiện của nhiều soạn giả (Thư viện tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thực hiện, 2007): "Thích Ca Phật Đài là một thắng cảnh nổi tiếng ở Đông Nam Á, là nơi hành hương của đông đảo Phật tử hằng năm, một điểm tham quan hấp dẫn của du khách mọi miền đất nước khi đến Bà Rịa - Vũng Tàu".
 Những sách vừa dẫn chẳng nêu tên người đã tạc tác phẩm quá thành công. Ngay cả bệ tượng tại Vũng Tàu hiện cũng chưa gắn biển ghi phương danh điêu khắc gia. Do đó, lâu nay, đông đảo khách thập phương thắc mắc: tác giả Thích Ca Phật Đài là ai?

Kề cận Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, có chùa Hộ Pháp xuất hiện năm 1970. Tại đó, ngày 1-5-2010, thượng toạ trụ trì Thích Giác Trí nói với tôi cùng tiến sĩ toán Lê Bá Khánh Trình rằng:

- Người tạc Thích Ca Phật Đài là Bửu Điềm. Hoàn cảnh ổng cuối đời cực nhọc lắm: sống neo đơn một thân một mình trong công viên văn hoá Tao Đàn tại Sài Gòn. Mình đã ghé vào Tao Đàn thăm và "cúng" ổng một chỉ vàng. Sau, nghe ổng chết, hổng rõ ngày tháng năm nào, hổng biết chôn đâu!

Thoạt nghe thế, tôi liền thấy... ù màng nhĩ! Há lẽ tu sĩ này nhầm lẫn quá đáng? Tôi vẫn nhẹ nhàng hỏi:

- Vậy ông ấy sinh năm mấy? Pháp danh gì? Còn tấm ảnh nào của ông ấy chăng?

- Hổng biết năm sinh và pháp danh ổng. Cũng hổng có bức ảnh nào chụp ổng cả.

- Phải chăng Thích Ca Phật Đài được đúc bê tông tại chỗ, riêng phần đầu thực hiện nơi khác?

- Nhiều người, trong đó có thân nhân của mình, kể rằng phần đầu Thích Ca Phật Đài được Bửu Điềm làm trong xưởng ở Biên Hoà, xong dùng trực thăng cẩu về đây ráp vào thân tượng.

Để nắm sự thật, trước tiên hãy lần lại quá khứ.

Thập niên 1940, cùng đốc phủ sứ Lê Quang Vinh dạo chơi núi Lớn, tức núi Tượng Kỳ, đại đức Nàrada Mahà Thera (1898 - 1983, người Tích Lan / Sri Lanca) nhận định: "Đây là nơi thích hợp để lập chùa". Năm 1957, tại đó, Lê Quang Vinh tạo dựng chùa Thiền Lâm, đồng thời xuất gia, trở thành đại đức Thích Giác Pháp. Thời gian sau, cùng ông Nguyễn Văn Hiểu (Hội trưởng Phật giáo Nguyên thuỷ Việt Nam) viếng chùa Thiền Lâm, đại đức Nàrada nói: "Nơi đây nên xây bảo tháp để tôn thờ xá lợi của Đức Thế tôn".

Bảo tháp hình nón 8 cạnh, cao 17m, bằng bê tông cốt sắt, phía ngoài tô đá mài. Quanh bảo tháp còn thêm 4 đỉnh chứa đất từ 4 nơi liên quan cuộc đời Phật Thích Ca: Lumbini / Lâm Tì Ni (nơi Phật đản sinh), Uravela / Ưu Lâu Tần Loa (nơi Phật thành đạo), Isipatana / Lộc Giả / Vườn Nai (nơi Phật chuyển pháp luân), Kusinara / Câu Thi Na (nơi Phật nhập niết bàn).

Thoạt tiên, chỉ có kế hoạch xây bảo tháp. Nhưng, hàng ngũ tăng ni và Phật tử nhận ra rằng để công trình tốt đẹp trọn vẹn ắt phải thêm Thích Ca Phật Đài. Nhiều người phát tâm bồ đề, tích cực đóng góp, nổi trội có giáo sư khảo cổ Hồ Đắc Thăng. Chính ông Thăng cùng đại đức Nàrada đi tìm điêu khắc gia, ngẫu nhiên gặp cơ sở tạc tượng của Phúc Điền ngay mặt tiền đại lộ Lục Tỉnh ở Chợ Lớn, nay là đường Hùng Vương, Q.6, TP.HCM, trước chùa Tuyền Lâm.

Điêu khắc gia Phúc Điền (chứ không phải Bửu Điềm) có họ tên Bùi Văn Thêm, pháp danh Thiện Sáng, chào đời năm Ất Mão 1915 tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Phúc Điền Bùi Văn Thêm là con của nghệ nhân đắp nặn tượng gốc huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi: Bùi Quang Điển tức Tài công Cang (1888 - 1968). Hôn sự của Phúc Điền khá gập ghềnh. Vợ trước mất, ông lấy vợ sau, vậy mà phải 3 bà. Vợ cả: Thái Thị Ngan. Vợ thứ nhì: Lê Thị Mai. Vợ thứ ba: Ngô Thị Khuyên. 3 bà sinh cho ông tổng số 12 con, trong đó có 4 người nối nghiệp điêu khắc là Bùi Quang Thái, Bùi Quang Vĩnh, Bùi Quang Thọ (cả 3 đã mất) và Bùi Quang Phước. Quả phụ của anh Tư Thái là chị Nguyễn Thị Kim kể với tôi:

- Giai đoạn cuối đời, cụ Phúc Điền sống ấm êm cùng vợ thứ ba ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Năm 2002, cụ quá yếu, gia đình rước cụ lên Sài Gòn, đưa vào Bệnh viện An Bình tại Q.5 điều trị nửa tháng, rồi chuyển về nhà riêng tại Q.6 thời gian ngắn thì cụ mất trong vòng tay chăm sóc của vợ, con, cháu. Cụ trực vãng Tây phương đúng dịp đại lễ Phật đản.

Điêu khắc gia Phúc Điền qua đời ngày 27-5-2002 nhằm 16 tháng 4 Nhâm Ngọ, thọ 87 tuổi.

Quá trình thiết kế và thi công

Năm 1961, rất hữu duyên, vừa gặp Phúc Điền thì đại đức Nàrada và giáo sư Hồ Đắc Thăng nêu ngay một số vấn đề kỹ thuật:
- Thích Ca Phật Đài bằng bê tông cốt thép, đặt vĩnh viễn ngoài trời. Tượng Phật ngồi, cao 6m. Bệ cao 7m.

Phúc Điền lao vào phác thảo pho tượng bằng đất sét với chiều cao 40cm. Phật ngồi, tất xếp chân kiết già trên toà sen, nhưng tư thế thuyết pháp hay tham thiền nhập định? Nếu thuyết pháp thì mắt mở nhiều hay ít tuỳ trạng huống, tay phải úp lên chân phải thành ấn địa xúc, tay trái lật ngửa đặt trước bụng, trên bàn tay trái có thể có bình bát. Nếu toạ thiền thì mắt khép 3/4, nhưng hai tay thế nào? Tay phải nâng đoá sen ngang mũi, tay trái bắt ấn giáo hoá chăng? Tay phải đưa cao ngang tai và bắt ấn cát tường chăng? Cả hai tay cùng nâng ngang ngực, kết ấn định tâm hoặc ấn vô lượng liên hoa hoặc ấn chuyển pháp luân chăng? Một trong những yếu tố tạo hình khiến Phúc Điền lao tâm khổ tứ: đấng Thế Tôn khoác cà sa (y / áo) ra sao? Cà sa thường được phân 3 loại: đại, trung, tiểu. Tượng uy nghi thì dùng đại cà sa, nhưng cửu điều (ghép từ 9 mảnh vải) hay bá lạp (ghép từ 100 mảnh vải)? Mà mặc kiểu gì? Kiểu lục thù là y gồm 6 phần với cổ vuông hoặc chữ nhật như các tranh tượng của Trung Hoa ư? Kiểu hở vai và hở nguyên cánh tay trái như các tranh tượng xuất xứ từ Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Campuchia ư? Đại đức Nàrada trao Phúc Điền một số tranh ảnh thể hiện kiểu đắp y của Tích Lan: quấn cà sa quanh thân, phủ trùm luôn đôi cánh tay, nom rất thẩm mỹ. Giới điêu khắc gọi đó là y quấn kiểu Colombo - tên thủ đô đảo quốc Sri Lanka. Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu trở thành tác phẩm điêu khắc đầu tiên ở Việt Nam được đắp cà sa kiểu Colombo.

Trải qua 20 phác thảo khác nhau, mẫu tượng Phật Thích Ca toạ thiền mới được chấp nhận bước đầu. Phúc Điền lại tiếp tục sửa chữa mẫu tượng đó thật thoả mãn. Thỉnh ý các tu sĩ, nhà điêu khắc đã cân chỉnh thế tay bậc Đại Giác: bàn tay phải ngửa ra chuồi vào lòng bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm nhau, và đặt trên đùi phía trước bụng. Đó là ấn tam muội, tên khác là thiền ấn.

Chùa Thiền Lâm xúc tiến các thủ tục pháp lý cần thiết để thi công cùng lúc cả bảo tháp lẫn Thích Ca Phật Đài. Riêng pho tượng, kiến trúc sư Phúc Điền cử học trò Hoàng Gia Thuận đảm trách khâu mỹ thuật ở công trường. Hoạ sĩ kiêm điêu khắc gia Hoàng Gia Thuận nhớ lại:

- Tớ sinh năm Mậu Dần 1938. Lúc thực hiện Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu, tớ mới 23 ~ 25 xuân xanh, có 2 người lớn tuổi là Hai Tường và Năm Bình cùng làm với tớ.

Chủ nhật 4-6-1961, đặt viên đá đầu tiên. Thứ năm 20-7-1961, khởi công. Thích Ca Phật Đài toạ lạc trước cội bồ đề do đại đức Nàrada đưa cành chiết từ Tích Lan về trồng ngày 2-11-1960. Thoạt tiên là xây bệ tượng có bình đồ hình bát giác tượng trưng bát chánh đạo. Kế tiếp, đài sen có đường kính 4m lẫn thân mình cùng tứ chi của "trí giả trầm lặng" hình thành bởi bê tông cốt thép. Thứ bảy 18-8-1962, tôn trí 3 viên ngọc xá lợi vào kim thân. Vậy phần đầu Thích Ca Phật Đài được tạo tác cách nào?

Qua bài Thích Ca Phật Đài công bố trên http://www.langchai.com/ThichcaPD.htm, (http://www.langchai.com/ThichcaPD.htm,) Nguyễn Đình Phúc thuật: "Phần đầu của tượng được điêu khắc gia thực hiện ở Sài Gòn, chỉ rước về tôn trí khi phần thân tượng hoàn tất". Viết bài Thích Ca Phật Đài: danh thắng Phật giáo Việt Nam đăng báo Giác Ngộ ngày 1-2-2009, Võ Văn Tường cho rằng: "Tượng Kim Thân Phật Tổ được đúc tại chỗ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20-7-1962, khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh đức Phật. (...) Phần đầu được đúc tại cơ sở 267 đường Hùng Vương (kế chùa Tuyền Lâm, quận 6, TP. Hồ Chí Minh ngày nay)".

Nghe tôi đọc 2 trích đoạn đó, Hoàng Gia Thuận phì cười:

- Suy luận vậy cực kỳ nhầm lẫn! Nhà cụ Phúc Điền trên đường Hùng Vương quá chật hẹp, cỡ 30m2, chỉ tầng trệt, làm văn phòng thì được, chứ vô cùng bất tiện nếu thực hiện đầu và cổ đấng Thế Tôn cao 1,25m. Thực tế, thời gian đó, thầy Phúc Điền có xưởng riêng khá rộng rãi ở Phú Thọ Hoà, nay thuộc quận Tân Phú. Tại xưởng ấy, đầu Thích Ca Phật Đài chẳng phải được đúc bê tông như người ta lầm tưởng, mà đắp đất sét. Xong, tạo khuôn nhiều mảnh bằng xi măng, đoạn chuyển về Vũng Tàu. Trên sườn núi Lớn, đầu tượng được đúc bê tông đặc, xong nâng lên ráp vào thân.

Thứ bảy 9 và chủ nhật 10-3-1963, nhằm 14 và rằm tháng tư Quý Mão, đúng đại lễ Phật đản Phật lịch 2506, bảo tháp cùng Thích Ca Phật Đài được khánh thành trọng thể. Cũng trong dịp này, 13 viên ngọc xá lợi được tôn trí vào lòng bảo tháp. Thích Ca Phật Đài cho thấy đức Mâu Ni không quá gầy, không quá béo, vừa nghiêm trang, vừa dịu hiền, an nhiên tự tại, thư thái mỉm cười vô ưu vô uý, bộc lộ rõ bi-trí-dũng. Bệ bát giác màu đen. Pho tượng màu trắng. Để chụp ảnh chính diện chân dung tác phẩm điêu khắc, nhiếp ảnh gia Phạm Kim Khánh đã nhờ máy bay trực thăng. Bức ảnh nọ liền được phổ biến gần xa.

Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, trưởng Hội Phật học tỉnh Khánh Hoà là thượng toạ Thích Đức Minh đề nghị điêu khắc gia Phúc Điền tiếp tục thực hiện Thích Ca Phật Đài trên đỉnh đồi Trại Thuỷ cạnh chùa Long Sơn ở thị xã Nha Trang. Đồi Trại Thuỷ cao 35m, dài 600m, còn mang tên hòn Xưởng, hòn Kho, non Mai. Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thì gọi đồi Trại Thuỷ là Khố sơn. Quanh đồi Trại Thuỷ còn có chùa Hải Đức và chùa Bửu Phong tức chùa Núi.

Vẫn sử dụng mẫu tượng vừa tiến hành thành công tại Vũng Tàu, song cần to cao hơn nhằm thích ứng không gian thoáng đãng nơi xứ trầm hương: toàn bộ công trình bằng bê tông cốt thép cao 24m tính từ nền đất, cao 21m tính từ mặt đế, trong đó tượng Kim Thân Phật Tổ cao 14m an toạ trên đài sen có đường kính 10m. Bệ cao 7m, tạo khối nhà hình bát giác, mà 1 mặt trổ cửa, 7 mặt gắn 7 phù điêu vinh danh 7 vị thánh tử đạo trong mùa pháp nạn 1963 gồm 6 nam, 1 nữ: Quảng Đức, Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Tiêu Diêu, Quảng Hương, Thiện Mỹ, Diệu Hương.

Hoàng Gia Thuận kể:

- Ở Nha Trang, Thích Ca Phật Đài cao lớn, nên đầu đấng Thế Tôn có bề dọc những 3,5m, phải đổ bê tông trên thân mình. Mà đổ rỗng, chứ không đặc như ở Vũng Tàu. Đích thân tớ lo việc lắp các mảnh khuôn lên thân, cân chỉnh thật chuẩn xác, thêm cốt thép, rồi đổ bê tông. Ngày tháo khuôn, mọi người rất hồi hộp. Ai cũng lo rằng lỡ chẳng may, lắp khuôn bị lệch lạc chút xíu, ắt đầu Như Lai nghiêng lệch khó coi. Mừng ơi là mừng khi thấy tượng cân đối, hài hoà.

Ngày 5-5-2010, tại nhà riêng ở phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP.HCM, ông Hoàng Gia Thuận vừa cho tôi xem loạt ảnh chụp quá trình thi công Thích Ca Phật Đài, vừa hồi tưởng:

- Cả 7 phù điêu đều do tớ tạo tác tại xưởng của cụ Phúc Điền. Mỗi phù điêu diễn tả một chân dung thánh tử đạo. Thầy Phúc Điền thì say mê đắp đầu và cổ Phật Thích Ca bằng đất sét, rồi tạo khuôn nhiều mảnh. Phù điêu cùng khuôn được chuyển ra Nha Trang bằng xe nhà. Bởi bên cạnh ô tô Citroën 2CV, thầy Phúc Điền còn có chiếc Dogde dùng để vận chuyển nguyên vật liệu, trang thiết bị, kể cả tác phẩm có kích cỡ phù hợp. Trên đồi Trại Thuỷ, theo sự phân công phân nhiệm của thầy Phúc Điền, tớ lắp ráp các mảnh khuôn lên thân để đổ bê tông và chỉ đạo gắn 7 phù điêu. Phù điêu và tượng đều cùng chất liệu xi măng trắng.

Chất liệu xi măng trắng khiến tác phẩm điêu khắc của Phúc Điền nơi đồi Trại Thuỷ ở thành phố biển được dân chúng gọi là tượng Phật Trắng. Dân địa phương vẫn lưu truyền bài ca dao tiếp thị du lịch:

Ai về viếng cảnh Khánh Hoà,
Long Sơn - nên ghé, Tháp Bà - đừng quên.
Kim Thân Phật Tổ - nhớ lên,
Nhìn ông Phật Trắng ngồi trên đỉnh đồi.


Thích Ca Phật Đài tại Nha Trang được khởi công năm 1964, khánh thành năm 1965. Từ chân đồi Trại Thuỷ lên đỉnh, khách thập phương leo 143 bậc cấp. Hai bên chuỗi bậc cấp dẫn đến tượng Phật trắng có đôi cặp rồng uốn lượn bằng xi măng, mỗi con dài 7,2m, do êkíp nghệ nhân từ Huế vào thực hiện.
Hoàng Gia Thuận nói:

- Trước, bệ Thích Ca Phật Đài tại Nha Trang có biển ghi điêu khắc gia là... Kim Điền! Báo Giác Ngộ số 182 ra ngày 25-9-1999 đăng ý kiến tớ phát biểu rằng chi tiết nọ nên cải chính. Nhờ vậy, tấm biển kia được sửa chữa thành Phúc Điền. Bệ Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu đang rất cần gắn biển khắc tên người sáng tác.

Thích Ca Phật Đài được điêu khắc gia Phúc Điền cùng cộng sự tạo dựng cạnh chùa Thiền Lâm tại Vũng Tàu và chùa Long Sơn tại Nha Trang còn toả vẻ đẹp của tình đoàn kết giữa 2 trường phái Phật giáo là Nam truyền với Bắc truyền, giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo nước ngoài.

(http://chimvie3.free.fr/47/phanxipn_ThichCaPhatDai/IMG_0898.jpg)
Tượng Phật Trắng / Kim Thân Phật Tổ / Thích Ca Phật Đài trên đồi Trại Thuỷ ở Nha Trang. Ảnh: Phanxipăng

(http://chimvie3.free.fr/47/phanxipn_ThichCaPhatDai/IMG_5747s.JPG)
Toàn cảnh Thích Ca Phật Đài trên sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. 
Ảnh: Phanxipăng

(http://chimvie3.free.fr/47/phanxipn_ThichCaPhatDai/IMG_5950s.JPG)
Di ảnh Phúc Điền Bùi Văn Thêm (1915 -2002)


Tiêu đề: THÁP HÒA PHONG Ở CHÙA DÂU BẮC NINH TÀNG CHỨA LINH NHA CỦA ĐỨC PHẬT
Gửi bởi: SCC trong Tháng Mười Hai 22, 2012, 10:14:48 PM
THÁP HÒA PHONG Ở CHÙA DÂU BẮC NINH TÀNG CHỨA LINH NHA CỦA ĐỨC PHẬT

Tháp Hòa Phong là một tòa tháp thờ Phật có quy mô bề thế dựng ở sân chùa Diên ứng (tức Chùa Dâu) xã Khương Tự, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền tháp cổ gổm 9 tầng cao đẽn ngàn trượng, người đi thuyền trên dòng sông Đuống cách xa hàng chục cây số cũng nhìn thấy, chẳng thế trong dân gian có câu ca rằng:
     Dù ai buôn đâu bán đâu
     Hễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì về
     Dù ai buôn bán trăm nghề
     Tháng Tư mồng Tám thì về Hội Dâu


Chùa Dâu thờ Tứ pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, hàng năm mở hội vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch, nghi thức cực kì long trọng. Tòa tháp cổ đã bị đổ vỡ từ lâu, đẽn năm Đinh Tị (1737) niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3, vị Sa môn trụ trì ở chùa là Tính Mộ bàn bạc cùng dân làng đứng ra hưng công khuyến hóa xây dựng lại tháp mới. Tòa tháp hoàn thành vào năm 1738, gồm 3 tầng, cũng rất hoành tráng. Tầng chân tháp giống như một tòa nhà xây bằng gạch vuông kích cỡ lớn, tường dày 160cm. Bốn mặt có cửa vòm cuốn mở ra bôn phía. Cửa trước và cửa sau cao 270cm, rộng 185cm lớn hơn hai cửa bên. Vào những ngày lễ hội, dân làng có thể khiêng kiệu, rước tượng Phật Pháp Vân qua cửa tháp Hòa Phong để đi ra ngoài. Mặt ngoài trên tầng hai có hàng đại tự khắc trên phiến đá đề ba chữ Hòa Phong Tháp, phía dưới có dòng lạc khoản ghi niên đại là tháng 8 năm Đinh Tị niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3, phù hợp với năm hoàn thành xây tháp.
Phía trước tháp được dựng một tấm bia trụ khổ 32 x 72cm. Cả bốn mặt đều khắc chữ Hán, tuy để ở ngoài mưa gió lâu ngày, song do nét chữ khắc sâu, nên còn đọc rõ. Mặt sau và hai mặt bên ghi tên các vị đóng góp công đức. Mặt chính trán bia ghi tên là Hòa Phong Tháp bi ký, song ở đầu bia ghi đầy đủ hơn là Cổ Dâu Diên ứng tự Hòa Phong tháp ký. Ở  cuối bia ghi rõ niên đại biên soạn và khắc bia là năm 1738. Tác giả bài văn bia là người họ Nguyễn ở làng Vĩnh Thế cũng trong tổng Khương Tự. Để giúp cho việc phân tích nhận định được chắc chắn hơn, chúng tôi xin dịch nghĩa chú thích toàn văn mặt chính của tấm bia trụ này.

Ghi chép về tháp Hòa Phong ở chùa Diên ứng xã Cổ Châu:
Từng nghe! Đạo Phật sâu sắc rộng lớn có muôn pháp cứu giúp con người, tháp báu dựng lên khắp chốn là đầu mối gom góp việc thiện. Sách xưa ghi chép, nay thấy tỏ tường.
Xét xưa vua Cao Đế(1) nhà Tùy yêu chuộng đạo Thích, coi trọng Xà lê(2) đã sai sứ giả rước hòm Xá lị(3) ủy thác cho thú lệnh họ Lưu(4) ở đất Giao Châu chọn đất xấy tháp. Bấy giờ có Đại sư Pháp Hiền tán thán rằng, đích thị đất danh thắng sẽ có lợi ích cho Phật pháp. Thế là cho xấy tháp ở đất ấy rồi cung kính rước hòm linh nha(5)  cất giữ vào đó, những muốn để giống thơm truyền mãi muôn đời chẳng đổi. Nào ngờ ngày qua tháng lại, năm tháng lâu dài, gạch nát rêu phong, dấu cũ ít thấy. Các vị thiện nam tín nữ thấy vậy ai chẳng muốn được ra tay tu tạo. Nay có ông Vũ Hà Thụy tư là Huệ Tiến người làng Cao Xá, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương đến ở làng Hoa Đường, giữ chức Nội trù tiểu thủy đẳng đội Tri nội nhất phiên kiêm giữ Tả thiếu giám Tư lễ giám ở Thị nội giám, cùng với vợ là bà Nguyễn Thị Hạo hiệu là Diệu Chính quy y Phật pháp, hướng tới Thiền lâm. Xem sách Cổ Châu thực lục(6)  mà thêm hâm mộ, thấy nền cũ tòa bảo tháp mà thấy xót xa. Thế là ông bà thực hành hạnh bồ đề, mở rộng tấm bồ đề. Đón thợ về làm công, bỏ tiền ra mua gạch. Cốt sao phúc quả viên thành mới thôi, đâu phải chỉ vì bản thân mà là mong đưa việc thiện đến cả người khác. Thế rồi cho dựng đàn Phổ khuyến, quyên góp công đức thập phương, những mong Đức Phật từ bi ban cho phúc đức tốt lành. Bèn cho khởi công vào giờ tốt tháng 8 năm Đinh Tị (1737), đến giờ tốt tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) thì hoàn thành. Tháp báu xấy xong trang nghiêm lộng lấy, tầng trên có chữ đề Tháp Hòa Phong. Tòa tháp này lã nền nhân móng nghĩa, nhà cao cửa rộng. Sừng sững cung tòa cổ Phật, hoa lệ khách xá tăng phòng. Thật sánh ngang với cửa pháp Ở Phượng Tượng, lại tề danh cùng cung Vạn Thọ ở Cam Châu. Công đức quả là vô lượng vô biên, há chẳng lớn lao lắm sao? Tòa tháp này đâu chỉ lã biểu dương của Thiền viện tráng quan, mã còn để lưu truyền lấu dãi cho hậu thê vậy.

Tên tuổi các vị hưng công và khách tùy duyên công đức xin liệt kê ra dưới đày:
Ngày tốt tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3.
Sư trụ trì bản tự lã Tính Mộ(7)  cùng các đệ tử góp công sức trông nom xây tháp.
Viên cựu Tri huyện huyện Thượng Nguyên họ Nguyễn người xã Vĩnh Thế soạn.
Tác giả bài kí văn ghi lại việc trùng tu tháp Hòa Phong này là viên cựu Tri huyện huyện Thượng Nguyên. Ông là người làng Vĩnh Thế cũng thuộc tổng Khương Tự, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc này. Theo quy chế tuyển chọn nhân tài qua khoa cử và bổ dụng quan chức địa phương thời Lê, thì người thi đỗ Hương Công mới được bổ nhậm làm Tri huyện. Do vậy có thể thấy tác giả văn bia là người có học thức, lại là dân địa phương, do vậy chắc hẳn ông nắm bắt được nhiều tư liệu ghi chép về tháp cổ Hòa Phong ở chùa Diên ứng này. Nói cách khác chúng ta có thẻ viện dẫn nhiều tư liệu lịch sử thư tịch hiện có liên quan để chứng minh cho những điều mà tác giả văn bia ghi lại trong bia đá:

1. Đại sư Pháp Hiền
Văn bia cho biết khi được biết viên Thứ sử Giao Châu là Lưu Phương vâng mệnh vua Tùy Cao Đế tiẽp nhận hòm Xá lị đưa sang Giao Châu, thì Đại sư Pháp Hiền vô cùng hoan hỉ, lại tán thán thêm rằng: Giao Châu đích thực là đất danh thắng có lợi cho việc hoằng dương Phật pháp. Thế là Đại sư liền chọn đất Cổ Châu cho xây tháp báu rồi rước hòm linh nha của Đức Phật đưa vào tàng chứa trong tháp.
Sách Thiền uyển tập anh chép Đại sư Pháp Hiền trước lúc chưa xuất gia họ Đỗ, người ở huyện Chu Diên. Khi xuất gia Đại sư đến tu ở chùa Pháp Vân, thụ cụ túc giới với Thiền sư Quán Duyên. Năm Canh Tí (580) Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Quảng Châu sang hành hóa ở Giao Châu, đến tu đạo ở chùa Pháp Vân. Đại sư Pháp Hiền được Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi rất yêu mến, coi là đệ tử thân cận. Khi thị tịch, Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi cho gọi Đại sư Pháp Hiền đẽn dặn dò. Năm 694, Đại sư làm lễ hỏa táng Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi rồi thu lấy Xá lị và cho xây tháp để thờ. Sau đó, ngài đến tu tập ở chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du. Người đương thời hâm mộ danh tiếng của Đại sư tìm đến theo học rất đông, tăng đồ có lúc nhiều hơn đến hơn ba trăm người. Viên Thứ sử ở Giao Châu là Lưu Phương đem việc đó tâu lên triều đình nhà Tùy. Vua Cao Tổ nhà Tùy từ lâu nghe tiếng đất phương Nam sùng chuộng đạo Phật, sản sinh ra nhiều bậc Cao tăng có đức vọng, liền sai sứ đem hòm xá lị Phật sang ban cho dân Giao Châu xây tháp phụng thờ. Đại sư Pháp Hiền đón nhận rồi chia cho chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và nhiều ngôi chùa danh tiếng khác để dựng tháp thờ. Đến năm Bính Tuất (626) Đại sư thị tịch.

Về Đại sư Pháp Hiền, chúng tôi còn thấy nhắc đến trong truyện Quốc sư Thông Biện của sách Thiền uyển tập anh. Sách viết, khi bà Linh Nhân Thái hậu hỏi về chứng cứ ghi nhận Thiền phái ở nước ta, Quốc sư Thông Biện liền thưa rằng:
- Xét truyện Đàm Thiên pháp sư thấy ghi nhận như sau:
Vua Cao Tổ (581-604) nhà Tùy coi Pháp sư là hạng Pháp khí liền mời đến bảo rằng: “Trẫm nghĩ đến đạo từ bi của đức Điều Ngự mà không biết làm thế nào để đền báo. Lạm dự ở ngôi hoàng đế, trẫm đã ủng hộ Tam bảo khắp nơi. Trong nước thì thu chứa xá lị cho xây 49 tòa bảo tháp, ngoài nước thì cho dựng 150 ngôi chùa để giúp đời. Riêng ở các xứ ngoài như Giao Châu cũng đã nhiều lần cho dựng chùa để ơn phúc thấm nhuần khắp cõi đại thiên. Nhưng xứ ấy tuy nội thuộc mà quản chế còn lỏng lẻo. Vậy Pháp sư hãy lựa chọn các Sa môn có tài đức đưa sang đất ấy giáo hóa để họ có thể thấm nhuần đạo Bồ đề!”
Pháp sư Đàm Thiên tâu lên: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc nên khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp, thì ở vùng Luy Lâu đã có tới 20 ngôi bảo tháp, thu nạp hơn 500 vị sư tăng, dịch được 15 quyển kinh rồi. Như vậy Phật giáo truyền đến Giao Châu trước cả Hoa Hạ ta. Hồi ấy ở xứ đó đã có các vị danh tăng là: Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác từng tu tập ở đó. Nay lại có Thượng sĩ Pháp Hiền đắc pháp với Sa môn Tì Ni Đa Lưu Chi, truyền bá tông phái của Đệ Tam tổ Tăng Xán. Pháp Hiền là vị Bồ Tát sống, hiện trụ trì chùa Chúng Thiện, giáo hóa không dưới 300 môn đồ, thực chẳng thua kém gì Trung Quốc. Bệ hạ là bậc cha hiền của cả thiên hạ, mong được bố thí bình đẳng, nên muốn đưa chư tăng giáo hóa. Nhưng họ đã có đủ rồi, ta chẳng cần đưa sang nữa.”

Tư liệu dẫn trong tiểu truyện Quốc sư Thông Biện cũng đưa đến một nhận định chung là đời Tùy, các hoàng đế Trung Hoa không đưa sư tăng sang hoằng dương Phật pháp ở Giao Châu, mà chỉ là đưa sang sắc điệp và Xá lị Phật.

2.   Ở khu vực Chùa Dâu hiện còn lưu giữ nhiều ván khắc in cổ, trong đó có hai bộ ván in có ghi chép sự kiện nhà Tùy ban tặng cho xứ Giao Châu 5 hòm Xá lị Phật, đó là bộ ván Cổ Châu thực lục, và Cổ Châu Phật bản hạnh.

2.1. Cổ Châu thực lục, có tên đầy đủ là Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục. Bộ ván in gồm 21 tấm khổ 22 x 30cm. Bộ ván in này đã được in thành một bản, kí hiệu A.818. Sách do một học giả tên là Viên Thái dịch ra tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm. Đoạn văn nói việc vua Tùy tặng hòm Xá lị cho xứ Giao Châu được viẽt là:
Tùy Cao Đế niên gian khiển sứ giả phụng Thích Ca Phật Xá lị ngũ hàm, khiến Giao Châu Lưu Phương lệnh trạch Giao Châu địa. Phương lệnh cúng dàng dữ dân phụng sự, kí Phật lưu bố. Thời Giao Châu Pháp Hiền Đại sư vị, pháp thắng chi địa, nãi kiến tháp ư kì trung, kì Xá lị nhất hàm lưu trấn.
Lời giải nghĩa của Viên Thái:
Thuở đời nhà Tùy năm vua Cao Đế khiến sứ giả vâng rước năm hòm Xá lị Bụt Thích Ca, khiến đất Giao Châu ngươi Lưu Phương lệnh tìm đất Giao Châu Ngươi Phương lệnh cúng dàng cho dân thờ phụng mong âm đức lâu ra. Thuở ấy đất Giao Châu thầy Pháp Hiền rằng chưng đây đất Pháp thắng. Bèn dựng làm tháp chưng thửa trong thửa Xá lị một hòm lưu trấn.

2.2 Cổ Châu Phật bản hạnh là tác phẩm văn vần viẽt theo lối ca lục bát, tất cả gồm 496 câu. Ván in có 21 tấm khổ 15 x 22cm. Chữ Nôm khắc to, rõ ràng dễ đọc. Đoạn thơ nói việc vua Tùy tặng hòm Xá lị cho xứ Giao Châu được viẽt là:
Thời ấy có ông Lưu Chi
Tâu rằng nhà Tùy Cao Đế niên gian.
Năm hòm Xá lị Bụt quan,
Giữa, huyện Siêu Loại là chiền Cổ Châu
Danh lam bảo tháp phù đồ,
Cao dư ngàn trượng khỏe phù thánh cung.

3. Luật sư Đạo Tuyên
Về sự kiện vua Tùy đưa tặng hòm Xá lị Phật cho xứ Giao Châu, chúng tôi còn tìm thấy trong tiểu sử của Luật sư Đạo Tuyên, là Cao tăng đời Tùy Đường cũng có liên quan.
Sách Cao tăng truyện đời Đường cho biết, Luật sư Đạo Tuyên lúc chưa xuất gia mang họ Tiền, sinh năm 696 ở đất Đan Đồ, nay thuộc huyện Đan Đồ, tỉnh Giang Tô. Năm 16 tuổi xuất gia theo môn phái Luật tông, đến trụ trì ở núi Chung Nam, nên người đời quen gọi là Nam Sơn Luật Sư Đạo Tuyên. Đầu đời Đường, khi Tam tạng Huyền Trang sang Ấn Độ thỉnh kinh về, Luật sư Đạo Tuyên cũng được mời tham gia bản dịch thuật kinh tụng. Luật sư từng biên soạn các sách: Hành sự sao, Cao tăng truyện, Quảng hoằng minh tập,v.v... Tương truyền Luật sư là vị Cao tăng đạo cao đức trọng được cả quỷ thẩn kính nể. Phương trượng của Luật sư ở núi Chung Nam luôn có thần nhân hộ trì. Một lần Thái tử Na Tra của vua Tì Sa Môn lấy lại được chiếc linh nha của Đức Phật từ tay bọn tiểu quỷ, rồi đem dấng hiến cho ngài. Luật sư Đạo Tuyên liền chọn đất xấy tháp để thờ phụng.

Kêt luận
Từ các tư liệu dẫn ra trong văn bia Hòa Phong tháp kí ở Chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cùng sách Cổ Châu thực lục, Cổ Chấu Phật bản hạnh, các tiểu truyện Đại sư Pháp Hiền, Quốc sư Thông Biện trong sách Thiền uyển tập anhLuật sư Đạo Tuyên trong sách Cao Tăng truyện đời Đường, chúng tôi có thể đưa ra một số’ nhận xét sau đây:
Thứ nhất, vào khoảng thê kỉ VII, VIII đạo Phật ở nước ta đã hết sức phát triển, Hoàng Đế nhà Tùy đã gửi hòm Xá lị Phật sang cho xứ Giao Châu, các vị Cao tăng thời đó đã hoan hỉ đón nhận.

Thứ hai, hòm Xá lị Phật là để chỉ chung, thực chất đấy là hòm linh nha của Đức Phật do Luật sư Đạo Tuyên nhờ cơ duyên hi hữu mà có được, đã chọn đất Giao Châu để xây tháp thờ.

Thứ ba, Đại sư Pháp Hiền là hàng Bồ Tát sống ở Giao Châu thời đó đã đón nhận hòm linh nha quý giá này đưa về xấy tháp ở Cổ Châu để tàng chứa./.

Ghi chú:
1. Cao Đế.: Trong tiếng Hán người ta dùng các từ Cao Tổ, Cao Hoàng, Cao Đế, Thái Tổ để chỉ vi vua sáng nghiệp ra một vương triều. Vua Cao Đế nhà Tùy nói trong văn bia này chính là Cao Tổ nói đến trong Thiền uyển tập anh, đều chỉ vào vua Văn Đế (581-604) khai sáng ra triều Tùy của Trung Quốc

2. Xà lê: còn gọi là A - Xà - Lê là từ phiên âm tiếng Phạn, A Ca Rya, chỉ vị Cao tăng

3. Xá lị: hài cốt hóa tro của các vị Cao tăng

4. Họ Lưu: Chỉ viên thứ sử Giao Châu thời đó là Lưu Phương

5. Linh nha: răng thiêng liêng, chỉ vào chiếc răng của Đức Phật Thích Ca.

6. Cổ Châu thực lục: sách ghi chép về sự tích Đức Phật Chùa Dâu, đã được khắc in năm 1752, ván in hiện vẫn đang lưu giữ tại chùa.

7. Tính Mộ: nhà sư trụ trì Chùa Dâu lúc bấy giờ. Nhà sư là người làng Bích Ngô, huyện Gia Đinh, nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Lúc còn tại gia sư có tên là Vương Doanh, năm 21 tuổi xuất gia đến ở chùa Bút Tháp, năm 1734 mới về Chùa Dâu. Năm 1752 Thiền sư tổ chức in các sách Cổ Châu thực lụcCổ Châu Phật bản hạnh. Ván in hiện vẫn còn lưu giữ ở Chùa Dâu.

Tác giả: Nguyễn Tá Nhí - Tạp chí nghiên cứu tôn giáo


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:11:20 AM
Chùa Giác Lâm – Ngôi chùa “ lớn tuổi” nhất Sài Gòn
[/b]
(http://nld.vcmedia.vn/QDgVqccccccccccccp8ccccccccccc/Image/2012/06/NewFolder/chuagiaclam_9883b.jpg)

(NLĐO) - Giác Lâm là một trong những ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở đất Gia Định – Sài Gòn còn tồn tại đến ngày nay. Năm 1744, chùa được cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương xây dựng. Trải qua hàng trăm năm, chùa có nhiều tên gọi khác nhau như: Chùa Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Ngày nay, Chùa Giác Lâm tọa lạc tại 118 Lạc Long Quân, P.10, Q. Tân Bình, TPHCM.

Kiến trúc chùa Giác Lâm được xem là tiêu biểu cho lối kiến trúc chùa Nam bộ, với mặt bằng tổng thể theo kiểu chữ tam; chính điện là kiểu nhà dân gian truyền thống một gian hai chái, có bốn cột chính gọi là tứ trụ. Chùa nguyên thủy không có cổng tam quan (cổng tam quan được xây dựng năm 1955), mái chùa gồm 4 vạt và các sống mái đều thẳng. Chùa hình chữ nhật, gồm 3 lớp nhà chính: chính điện, giảng đường, nhà trai, không kể các nhà phụ. Năm 2007, khởi công xây dựng khu giảng đường và tăng xá (phía bên phải chùa - theo hướng nhìn từ trong ra).


Chính điện khá rộng và sâu, có nhiều cột to hơn vòng ôm; khắc câu đối, chữ thiếp vàng. Giữa các hàng cột là các cửa võng, chạm trổ các đề tài trang trí truyền thống như cửu long, tứ linh, tứ quý, hoa điểu… sơn thiếp lộng lẫy.

Toàn chùa có 38 tháp, các tháp này được xây dựng đầu thế kỷ XIX, tồn tại đến nay đã gần 200 năm, với kỹ thuật xây dựng tinh vi trong việc dùng chất kết dính bằng hỗn hợp vôi, đường, ô dước… Phong cách nghệ thuật trên các tháp mang yếu tố dung hợp các luồng văn hóa giữa các cộng đồng tộc người đang sống cộng cư ở Nam bộ như Khmer, Việt, Chăm… và phần nào yếu tố phương Tây (Pháp), phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ)…

Chùa hiện lưu giữ 118 pho tượng (106 tượng gỗ, 7 tượng đồng, 5 tượng bằng xi măng), trong đó có 113 pho tượng cổ. Trong các pho tượng cổ có bộ tượng Thập Bát La Hán, bộ tượng Thập Điện, bộ tượng Phật và Tứ Chúng gây được sự chú ý của khách đến chiêm bái nhiều nhất. Riêng bộ tượng Thập Bát La Hán là minh chứng rõ nét nhất cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam bộ, từ ảnh hưởng nặng nề của phái Lâm Tế ở Trung Quốc, dần xác lập được một dòng phái mới mang đặc điểm dân tộc và hoàn toàn của người Việt.

Chùa Giác Lâm là nơi chứa đựng nhiều tư liệu quý báu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc tôn giáo. Ngày xuân nơi đây đón hàng ngàn khách thập phương và du khách quốc tế đến lễ phật tôn kính và chiêm ngưỡng nét cổ kính uy nghiêm của chùa.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:15:19 AM
Chùa bà Thiên Hậu
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/chua-Ba-Thien-Hau.jpg)
Vì ngôi chùa thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, nên người ta thường gọi ngôi chùa cổ này là Chùa bà Thiên Hậu hay Chùa Bà Chợ Lớn (nghĩa là Chùa bà ở Chợ Lớn, để phân biệt với các ngôi chùa bà Thiên Hậu khác).

Theo tấm bia đá treo ở chùa bà Thiên Hậu, Thiên Hậu Thánh Mẫu vốn là người Phước Kiến (Trung Quốc), được bà con người Hoa xem như một vị thần biển. Bà được sinh ra vào đời vua Tống Kiến Long (tại vị từ năm 960-976). Khi mới chào đời, bà đã tỏa hào quang và hương thơm ngát. Khi lớn, bà có thể cỡi chiếu ra biển, cỡi mây đi khắp nơi. Đến khi bà đã qua đời, thỉnh thoảng người đi biển vẫn thấy bà bay lượn trên biển để cứu người bị nạn.

Từ đó mỗi khi thuyền bè ngoài biển gặp nạn, người ta đều gọi vái đến bà. Năm 1110, nhà Tống sắc phong cho bà là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Ngoài ra, bà còn được người Quảng Đông gọi là A Phò, có nghĩa là Đức Bà. Đó là lý do vì sao chùa bà Thiên Hậu còn có tên gọi là Phò Miếu.

Ngôi chùa bà Thiên Hậu được xây dựng vào khoảng năm 1760 bởi một nhóm người hoa gốc Tuệ Thành (tức Quảng Châu) di dân sang Việt Nam. Họ mong muốn bà Thiên Hậu sẽ giúp họ vượt qua những sóng gió, nguy nan nơi vùng đất mới. Từ đó đến nay, chùa trở thành nơi hội họp của người Hoa gốc Quảng Châu, nên chua noi tieng mien Nam này còn được gọi là Tuệ Thành Hội Quán.

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, chua Ba Thien Hau

Chùa bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sài Gòn, mang đậm phong cách chùa cổ của người Hoa, từ đường nét, kiến trúc đến vật liệu xây dựng. Theo nhà văn hóa – học giả Vương Hồng Sển, từng viên gạch, mái ngói, đồ gốm ở chùa đều được đem từ Trung Quốc sang.

Chua noi tieng Sai Gon này có hàng trăm đồ cổ có niên đại từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 20, bao gồm các tượng gỗ, tượng đá, bia đá, lư đồng, câu đối, phù điêu,… được chế tác rất tỉ mỉ và tinh tế. Đặc biệt, phải nói đến 2 đại đồng chung bằng gang, có niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo Quang năm thứ 10 (1830) cùng với bộ lư lớn có niên hiệu Quang Tự năm thứ 12 (1886).

Miếu thờ trong chùa bà Thiên Hậu gồm 3 điện thờ chính: tiền điện, trung điện và chính điện. Chính điện thờ tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu. Hai bên trang thờ Bà là trang thờ Kim Huê nương nương và Long Mẫu nương nương. Giữa các dãy nhà trong miếu đều có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh, giúp thu ánh sáng, không khí và thoát khói hương.

Vào các ngày mùng một, ngày rằm, Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu và đặc biệt là vào ngày lễ vía Bà (23.3 âm lịch), luôn có nhiều du khách hành hương Phật giáo, Phật tử đến chiêm bái, đứng kín cả trong và ngoài chùa. Vì vậy, cũng như chùa Ngọc Hoàng, bạn nên đến viếng chùa vào ngày thường để có thể dễ dàng thưởng lãm từng dấu tích lịch sử của ngôi cổ tự.

Chùa bà Thiên Hậu cũng là một ngôi chùa của người Hoa, nhưng được xây dựng trước điện Ngọc Hoàng cả hơn một thế kỷ. Giữa các dãy nhà trong chùa đều có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh, giúp thu ánh sáng, không khí và thoát khói hương. Theo những người coi sóc chùa, mỗi ngày chùa bà Thiên Hậu đều đón nhiều lượt khách hanh huong Phat giao đến tham quan


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:19:31 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/chua-Ngoc-Hoang-Sai-Gon11.jpg)
Nằm ở trung tâm TP.HCM có ngôi chùa Phước Hải Tự hay có tên gọi phổ biến hơn là chùa Ngọc Hoàng từ lâu là địa chỉ đỏ của những người hiếm muộn đến xin con.

Kể cả ngày thường lẫn ngày nghỉ, Chùa Ngọc Hoàng Sài Gòn lúc nào cũng đông người. Những lời đồn đoán khiến ngôi chùa này ngày càng “nổi tiếng”. Đến cổng chùa Ngọc Hoàng, đã thấy chim, cá, rùa và nhiều con vật phóng sinh được bày la liệt. Bên ngoài chua noi tieng mien Nam này, có hẳn các quầy hàng bán vật phóng sinh lúc nào cũng đông khách.

“Xin con mà đến chùa này là đúng địa chỉ rồi. Linh lắm à nghen. Đã đến là có kết quả”- bà T., lúi húi một rổ đựng rùa con trước chùa lởi xởi nói. Bà còn khẳng định chắc mẫm, cứ 10 người đến thì 8 người thành công. Bà cho biết, thường sau khi xin có con, người ta đều quay lại khấn vái làm lễ tạ ơn. Người nghèo thì mâm quả, người giàu có thì lễ tạ lớn, có khi cúng cả vàng tiền.

“Nhiều năm ở đây, dì biết nhiều trường hợp nhiệm màu lắm nghe”- bà kể tiếp. Có nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn nhiều năm đến xin con, chỉ vài tháng sau đã có tin mừng. “Kỷ lục” ở chùa là một phụ nữ luống tuổi, lấy chồng 18 năm không có con, tưởng đã vô vọng nhưng sau khi đến chùa khấn xin đã đạt được tâm nguyện.

Theo những hộ dân xung quanh, ngoài việc nổi tiếng cầu con. Tiếng lành đồn xa, người ta còn đến đây cầu duyên, cầu tài…mỗi người đến với một mong muốn riêng.

Trong sân chùa Ngọc Hoàng Sài Gòn, tôi gặp một cặp vợ chồng dắt tay một đứa nhỏ chuẩn bị vào lễ tạ. Người vợ vui vẻ cho tôi biết tên là Hường, quê ở tận Hải Phòng. Chị 37 tuổi, có con 5 năm trước. Thằng bé khôi ngô nũng nịu trên tay mẹ.

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, chua Ngoc Hoang Sai GonChùa Ngọc Hoàng – Địa chỉ đỏ của những người hiếm muộn đến xin con

“Năm nào dịp này gia đình chị cũng đến chùa Ngọc Hoàng tạ lễ. Nhờ phước lành chị mới có được cháu như ngày hôm nay”- chị kể. Thật ra, chị lấy chồng từ năm 25 tuổi nhưng mãi chẳng có con. Cả hai đều khám chữa đông tây y đủ cả nhưng không thể có thai. Đến lúc tưởng vô vọng thì chị được mách bảo đến chùa này khấn vái.

Anh chị cất công lặn lội làm theo và như một phép màu, chỉ 3 tháng sau đã mang thai rồi hạ sinh cháu lành lặn khỏe mạnh. Gia đình chị tin vào phép màu. Nên cứ mỗi dịp sinh nhật thằng bé, lại dắt díu nhau vào chua noi tieng Sai Gon này này khấn tạ.

Trong số những người đến khấn nguyện, rất nhiều người đang mang thai. Họ giải thích rằng dù đã chắc chắn có con trong bụng nhưng vẫn đều đặn đến để cầu trời phật phù hộ cho con mình. Thậm chí, có người bị sẩy thai cũng đến để xin tiếp.

Chị Duyên, 29 tuổi kể: Trước chị cũng thuộc dạng hiếm muộn nhiều năm. Được mách bảo nên vài tháng trước chị đến đây khấn nguyện và lập tức ứng nghiệm. Nhưng rủi thay cái thai vừa được mấy tháng thì hư mất. Cả anh và chị đều là con độc nên hai gia đình tiếc đứt ruột. Ai cũng động viện chị năng vào chùa Ngọc Hoàng Sài Gòn xin đứa khác.

“Người ta nói con xin là con trời, khó nuôi lắm. Nhưng bạn bè chị vào đây nhiều người xin được hai ba đứa vẫn khỏe mạnh mà”-chị tự an ủi.

Chúng tôi bất ngờ vì “thành phần” cầu nguyện ở chùa không chỉ riêng người thành thân, rất nhiều cô gái trẻ cũng đến đây cầu khấn. Theo những hộ dân xung quanh, ngoài việc nổi tiếng cầu con. Tiếng lành đồn xa, người ta còn đến đây cầu duyên, cầu tài…mỗi người đến với một mong muốn riêng.

Ở chùa Ngọc Hoàng, cũng có nhiều nghi lễ rất lạ. Không có quy định nhưng đã thành lệ lâu nay. Ví như thả cá chép vàng, chép đỏ thì cầu làm ăn, cầu tài lộc; cá trê cầu sức khỏe, giải hạn; cá rô bí, ba ba : phóng sanh theo tuổi hạn; Chim phóng sanh thì cầu siêu cho người đã mất.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:29:45 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/chua-Ngoc-Hoang-Sai-Gon.jpg)
Chùa Ngọc Hoàng mang đậm phong cách chùa cổ Trung Hoa có tên chính thức là Phước Hải Tự, nhưng người Sài Gòn vẫn quen gọi ngôi chùa này là chùa Ngọc Hoàng.

Chùa Ngọc Hoàng trước đây còn gọi là chùa Đa Kao (vùng đất nơi chùa tọa vị, xưa và nay đều được gọi là Đa Kao). Có lẽ, cái tên chùa Ngọc Hoàng ăn sâu trong tâm thức người Sài Gòn là do từ thế kỷ 19, chùa vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Lúc bấy giờ, đây chua noi tieng Sai Gon duy nhất có thờ Ngọc Hoàng ở Sài Gòn. Mãi đến năm 1984 (có tài liệu ghi là 1982), điện Ngọc Hoàng mới được đổi tên là Phước Hải Tự.

Tương truyền, Chùa Ngọc Hoàng Sài Gòn được một người Quảng Đông (Trung Quốc) tên là Lưu Minh xây dựng. Do đó, chùa có kiến trúc theo kiểu đền chùa cổ Trung Hoa, được xây bằng gạch, mái ngói âm dương, góc mái được lợp từ gốm. Trong chua noi tieng mien Nam này còn có nhiều tranh thờ, tượng thờ, câu liễn,… bằng gỗ, gốm, giấy bồi có giá trị nghệ thuật và lịch sử cao.

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, chua Ngoc Hoang Sai Gon

Đến chùa Ngọc Hoàng, ngoài cầu Ngọc Hoàng sự bình an, cầu Thần Tài chuyện tài lộc, khách hành hương Phật giáo viếng chùa (đặc biệt là nữ) còn mang nhang dầu đến nơi thờ Kim Hoa thánh mẫu và 12 bà mụ để cầu con.

Để cầu được con, nhiều cặp vợ chồng không chỉ làm lễ trước Kim Hoa thánh mẫu, mà họ còn phóng sanh một cặp rùa ghi tên tuổi của mình. Nếu cặp rùa mang thai thì lời thỉnh cầu càng linh nghiệm. Đó là lý do khiến hồ rùa ngày càng có nhiều “cư dân”, thậm chí trong hồ còn có cả những cụ rùa trên dưới 100 tuổi.

Theo những người buôn bán trước cửa chùa Ngọc Hoàng Sài Gòn, ngoài thả rùa, người đến viếng chùa cũng thường phóng sanh nhiều loài vật khác tùy theo điều mình muốn cầu xin. Họ thả cá chép để cầu tài lộc, thả cá trê, cá rô để cầu sức khỏe bình an và giải hạn, phóng sanh chim để cầu siêu,…

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, chua Ngoc Hoang Sai Gon

Sự linh nghiệm của chùa Ngọc Hoàng đã được truyền miệng qua nhiều người từ nhiều thế hệ trước, cho nên mỗi ngày có rất nhiều du khách hanh huong Phat giao và Phật tử đến chiêm bái chùa. Ngoài những người đến cầu an, cầu tài và cầu con, còn có những người đến để tạ ơn, trả lễ khi tâm thành nguyện toại. Một số góc cổ kính khác của chùa Ngọc Hoàng

Nếu muốn tham gia vào không khí lễ hội, bạn có thể đến chùa vào ngày vía Ngọc Hoàng hàng năm (9 tháng Giêng). Còn nếu muốn tìm về sự yên bình và tĩnh lặng nơi cửa Phật, bạn hãy chọn một ngày thường, không lễ, cũng không rằm, lần qua từng điện thờ rồi dừng lại ngồi dưới bóng đa trăm tuổi nơi sân chùa, để chiêm ngưỡng từng ngóc ngách thời gian của một trong những ngôi chùa cổ nhất Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:32:36 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/Chua-Xa-Loi-Sai-Gon.jpg)
Cách bài trí một tượng Phật duy nhất, tôn nghiêm cộng với giá trị nghệ thuật của pho tượng đã góp phần làm nên nét đặc thù riêng của chùa Xá Lợi Sài Gòn

Chùa Xá Lợi là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh. Chùa tọa lạc tại số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa Xá Lợi chính thức khởi công xây dựng ngày 5/8/1956 (nhằm ngày 29/6 năm Bính Thân) trên một diện tích 2500 m2, do Câu lạc bộ Đông Dương nhượng lại với số tiền tượng trưng là một đồng bạc Việt Nam. Chua noi tieng Sai Gon này được xây dựng theo bản vẽ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh, với sự tham gia kỹ thuật của hai kỹ sư Lê Văn Hổ và Trương Văn Khoa cùng với sự đôn đốc thi công của hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hồ Tố Thuận. Đây là địa điểm hành hương Phật giáo nổi tiếng ở TP HCM!

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, Chua Xa Loi Sai Gon

Thời gian thi công ngôi chùa Xá Lợi là mười bảy tháng và hoàn thành ngày 2/5/1958. Chùa được khánh thành vào các ngày 2-4/5 /1958 (nhằm ngày 14-16/3 năm Mậu Tuất). Chùa Xá Lợi Sài Gòn chỉ mới trải qua một lần trùng tu duy nhất trong ba năm, từ 1999 đến 2001. Đợt trùng tu này đã giữ nguyên vẻ kiến trúc ban đầu của ngôi chùa.

Chùa Xá Lợi Sài Gòn được xây dựng theo phong cách kiến trúc hiện đại nhưng vẫn giữ được nét văn hóa truyền thống dân tộc. Đây là ngôi chùa lầu đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh, mở đầu cho lối kiến trúc mới của Phật giáo: Trên Bái đường, dưới Giảng đường. Đồng thời trên nóc Chính điện là những đầu mái uốn cong truyền thống. Kiến trúc ngôi chùa có các hạng mục: cổng tam quan, ngôi chính điện, giảng đường, tháp chuông bảy tầng, thư viện, văn phòng Ban quản trị, khu tăng phòng, nhà trai đường, phòng khách, đoàn quán gia đình Phật tử, phòng phát hành kinh sách, nhà vãng sinh và các vườn cảnh.

Chùa nổi tiếng Việt Nam, Chùa nổi tiếng miền nam, chua noi tieng Sai Gon, Chua Xa Loi Sai Gon

Về kinh điển, có thể nói, chùa Xá Lợi là ngôi chùa Bắc tông duy nhất ở Việt Nam hiện lưu giữ pho kinh Pali viết trên lá buôn cổ xưa nhất. Pho kinh này đã trên một ngàn năm tuổi. Bản kinh dài 45 cm, rộng 6cm, hai đầu có dùi lỗ để xỏ chỉ xâu lại. Bìa kinh làm bằng gỗ, sơn son thép vàng, có trang trí hoa văn cầu kì. Pho kinh được bọc trong một khăn lụa ngũ sắc. Bản kinh được cung thỉnh về chùa Xá Lợi vào ngày 16/6/1957. Nội dung pho kinh này chép những lời ngọc của đức Thế Tôn khi Ngài bắt đầu chuyển bánh xe Pháp luân.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:41:19 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/chua-noi-tieng-Sai-Gon1.jpg)
Chùa Vĩnh Nghiêm – Nơi có tháp đá cao và công phu nhất Việt Nam

Tháp đá chùa Vĩnh Nghiêm được ghi nhận là tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam. Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của Sài Gòn. Con đường phía trước chùa từng là nơi ghi dấu trận chiến cuối cùng của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi năm 1964. Đây là địa điểm hanh huong Phat giao nổi tiếng ở TP HCM.

Ngoài ra chùa nổi tiếng Sài Gòn này còn được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, với 7 tầng, cao 14m được khánh thành vào năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín… tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý – Trần.

Địa chỉ: 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Quận 3, TP.HCM.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:43:44 AM
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/Chua-Sung-Nghiem-Thanh-Hoa1.jpg)
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh có bốn gian hậu cung, năm gian tiền đường, nhà tổ năm gian và gần đây mới làm thêm hai gian ở phía hữu. Hậu cung thờ Phật, tiền đường thờ Lý Thường Kiệt.

    Bạn là tín đồ Phật giáo?! Hãy tham khảo các tour du lịch Thái Lan, du lịch Hàn Quốc, tour du lịch Singapore, tour du lich Nhat Ban hoặc chuyến du lịch Bắc Kinh – Thượng Hải bạn có thể tham quan chùa chiền ở những nơi này!

Tượng ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh này còn khá đầy đủ gồm 22 pho (tất cả đều bằng gỗ) tượng đồng không còn. Sự bố trí tượng Phật ở chùa Sùng Nghiêm hiện nay được sắp xếp như sau:

– Bàn nhất: Bên trái là Đại Thế Chí Bồ tát, bên phải là Quan Thế Âm Bồ tát, và giữa là tượng Phật Di Lặc (A Di Đà). Trên cùng là ba pho tượng Tam thế.

– Bàn hai: ở hàng ngoài phía bên trái là tượng đức Phổ Hiền, kế đến là tượng đức Văn Thù Bồ tát và tượng Phật Ala diếc.

– Bàn ba: Bên trái là Thượng Thiên, ở giữa là tượng Bồ tát Thích ca sơ sinh, bên phải là tượng Đế Thích.

– Bàn bốn: ở giữa là tượng Chuẩn Đề Quan Âm, tả là tượng Nam Tào, hữu là tượng Pháp Loa lâm.

– Bên ngoài nữa là 3 pho tượng Bát Nhã…

Ở giữa Tiền đường chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh thì có đặt bài vị và tượng thờ Lý Thường Kiệt.

Nói chung, cách bài trí hiện nay ở chùa nổi tiếng miền Bắc này là hợp lý. Các hiện vật nội thất ở trong chùa còn khá phong phú và đầy đủ. Những di vật thời Lý – Trần còn lại cho đến nay gồm:

– Tấm bia đá thời Lý

-Ba bệ sen bằng đá ở trung tâm Phật điện

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng mien Bac, chùa nổi tiếng Thanh Hóa, Chua Sung Nghiem Thanh Hoa,

Một khác biệt cần chú ý nữa là một số chùa ngoài Bắc, do Triều đình hoặc các Tể tướng đứng ra xây dựng mới trở thành đại danh lam, nhưng trung tâm Phật điện lại không lớn lắm, hầu như chỉ thấy đặt có một bệ tượng, nhưng riêng ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh thì ở trung tâm Phật điện lại đặt những ba bệ tượng. Tất cả sự khác biệt này làm cho giới nghiên cứu khoa học cần suy nghĩ để giải mã chua noi tieng mien Bac này

Có thể nói, với sự tồn tại của ba bệ tượng bằng đá này sẽ cho phép chúng ta khẳng định là trung tâm Phật điện của chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh thời Lý là quy mô bề thế. Đây là ba tác phẩm điêu khắc đá tinh xảo, biểu hiện trình độ thẩm mỹ cao của người xứ Thanh lúc đó. Từ ba bệ đá này, chúng ta có thể cảm nhận được tình cảm tâm hồn của người thợ đá xứ Thanh đã có cái gì phóng khoáng thoáng đạt hơn. Nó như một sự vươn dậy để thoát ra sự gò bó khuôn mực công thức của nghệ thuật kiến trúc đương thời.

Ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, hiện nay còn 22 pho tượng bằng gỗ, nhiều bản khắc gỗ in hình, một chuông đồng thời Nguyễn nặng khoảng 5 tạ, hai con vẹt bằng gỗ, một bia công đức thời Nguyễn, một tượng thờ Lý Thái Uý (Lý Thường Kiệt) v.v… Nói chung, các hiện vật trang trí nội thất ở trong chùa còn khá đầy đủ và được nhà sư bảo vệ chu đáo.

Có thể nói, sự hiện diện hôm nay của chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh đã có đủ yếu tố để khẳng định đây là một di tích văn hoá – kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh đáng trân trọng và cần được giữ gìn, bảo vệ.

Sự hiện diện của chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh hôm nay còn cho ta biết được rõ hơn đặc điểm về sự hoà nhập, kết hợp của Phật, Nho Lão của những thế kỷ gần đây. Đó là sự biểu hiện gần như phổ biến của các chùa Việt Nam. Một điểm nữa, với sự tồn tại và hiện diện của ngôi chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, vùng đất Duy Tinh, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc của xứ Thanh càng thêm tươi đẹp và đáng yêu hơn. Nhất định, trong một tương lai gần, ngôi chùa của vùng đất ngàn năm văn hiến của xứ Thanh này sẽ trở thành một điểm hẹn lý tưởng của du khách


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:46:01 AM
Chùa Nam Ngạn
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/Chua-Mat-Da-Thanh-Hoa3.jpg)
Chùa Nam Ngạn thuộc hệ phái Bắc tông, kiến trúc theo hình chữ Đinh gồm nhà Tiền đường 5 gian và Hậu cung 2 gian. Chùa xây dựng kết cấu khung gỗ Lim, trang trí chạm trổ văn hoa sắc sảo, mái cong lợp ngói âm dương

    Bạn là tín đồ Phật giáo?! Hãy tham khảo các tour du lịch Thái Lan, du lịch Hàn Quốc, tour du lịch Singapore, tour du lich Nhat Ban hoặc chuyến du lịch Bắc Kinh – Thượng Hải bạn có thể tham quan chùa chiền ở những nơi này!

Chùa Nam Ngạn Thanh Hóa còn có tên là “Mật Đa tự”, mang nghĩa hàm ý nơi đây xưa kia là rừng trái cây thơm ngọt của đất Phật, nhân kiệt địa linh, hiện chùa nằm ở phía hữu ngạn sông mã, cách cầu Hàm Rồng 500m. Chùa xưa tọa lạc ở ngoài đê sông Mã, thuộc ấp Hòa Bình, chùa nổi tiếng miền Bắc này lợp tranh lá vách đất, tượng Phật tạo bằng đất sét. Theo tài liệu khảo sát năm 1998 lưu trữ tại chùa cho thấy, thời gian trùng tu di dời chùa vào năm Lê Triều Bảo Thái tứ niên (1723). Theo văn bia “ Nam Ngạn tự bi ký” dựng năm Quí Mão (1724) cho biết vị sư trụ trì chùa Nam Ngạn đầu tiên có tên húy là Nguyễn Công Huy ( Hòa thượng Huệ Minh), người đã trụ trì chùa Đại Khánh – chùa Vồm xã Thiệu Khánh ngày nay).

Chùa Nam Ngạn thuộc hệ phái Bắc tông, kiến trúc theo hình chữ Đinh gồm nhà Tiền đường 5 gian và Hậu cung 2 gian. Chùa xây dựng kết cấu khung gỗ Lim, trang trí chạm trổ văn hoa sắc sảo, mái cong lợp ngói âm dương, bên trong chánh điện là bức đại tự sơn son thếp vàng chạm 3 chữ “Mật Đa tự”, vào gian giữa là bức đại tự với dòng chữ “Pháp giới Mông huân”, Hậu cung chùa Nam Ngạn Thanh Hóa là nơi thờ tượng Phật, chùa còn có rất nhiều tượng pháp, tượng Tổ, tượng Mẫu, hai bên trang trí hai pho tượng Hộ pháp khuyến thiện và trừ ác cao hơn 3m, ở gian tả chùa còn lưu giữ một pho Thổ tượng.

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng mien Bac, chùa nổi tiếng Thanh Hóa, Chua Mat Da Thanh Hoa, Chua Mat Da, chùa Nam Ngạn, chua Nam Ngan Thanh Hoa

Trong 2 cuộc chiến trang chống Pháp và đế quốc Mỹ chua noi tieng mien Bac này cũng chung với số phận của dân tộc bị tàn phá, nhất là thời chiến tranh bằng không quân của đế quốc Mỹ suốt nhiều năm đánh phá cầu Hàm Rồng, Chùa Nam Ngạn là chỉ huy sở, là nơi tập kết long thực, thực phẩm, vũ khí đạn dược, là nơi cấp cứu và nuôi dưỡng bộ đội. Ni sư Thích nữ Đàm Xuân, dành chọn tình thương và long nhiệt tình chăm sóc thương bệnh binh ngay tại chùa, sư dỡ nhà làm ham chú ẩn cho các chú bộ đội, tháo cánh cửa chùa làm cáng cứu thương. Sư không quản gian khổ huy sinh đã cùng trực chiến, no cơm nước cho bộ đội, Ni sư Đàm Xuân sống tốt đời đẹp đạo cho muôn đời sau.

Chùa Nam Ngạn Thanh Hóa trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thiên nhiên và thăng trầm cùng lịch sử đất nước. Sau ngày đất nước được hoàn toàn thống nhất, được sự quan tâm của chính quyền và các cơ quan ban ngành địa phương, chùa Nam Ngạn được tu bổ xửa chữa khang trang to đẹp như ngày hôm nay. Nơi đây là điểm thu hút khách hanh huong Phat giao tới niệm Phật và vãn cảnh chùa. Hiện Sư cô Thích Đàm Chung chủ trì ngôi chùa, tiếp nối các vị sư tổ sống tốt đạo, đẹp đời, sư cô luôn giành phúc đức cho mọi người và được nhân dân nơi đây và khách thập phương kính trọng.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:47:22 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/chua-Thanh-Ha-Thanh-Hoa2.jpg)
Chùa Thanh Hà vào lễ hội mang màu sắc sinh hoạt văn hóa làng. Cho đến giờ hiện trạng của chùa cơ bản không thay đổi. Hòa thượng Thích Thanh Trình được dân làng thỉnh mời ở lại và là vị sư tổ khai sáng của chùa Thanh Hà.

Bảo Đại năm thứ 10 (1935), dân làng thống nhất trùng tu lại chùa Thanh Hà Thanh Hóa (năm trùng tu còn ghi ở bia Hậu) làng nhờ cụ NGuễn Văn Phú ra giúp và thỉnh sư tổ chùa Hương Dự- Ninh Bình xin cho đệ tử vào giúp kế hoạch xây dựng kiểu mẫu hợp thể thức nhà chùa Thanh Hà. (Bởi Hòa thượng chùa Ninh Bình cùng dòng thiền Lâm Tế, quy y xuất gia ở chùa Quảng Thọ và hoằng pháp tại Ninh Bình). Hòa thượng chùa hương Dự thuận tình đã cử Hòa thượng Thích Thanh Trình và Sư ông Thích Thanh Đức vào Đức Thọ Vạn thăm chùa, bàn bạc với ban trị sự gồm chành tổng, lý trưởng, hương chức cùng các kỳ lão trong làng thiết kế sơ đồ quy hoạch xong, bàu ra ban phụ trách gồm 14 vị (……)

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng mien Bac, chùa nổi tiếng Thanh Hóa, chua Thanh Ha Thanh Hoa, chua Thanh Ha

Hoàn thành ngôi chùa, Hòa thượng Thích Thanh Trì mờ hàng tổng và làng Đức Thọ cùng các cụ trong ban xây dựng làm lễ khánh thành chùa Thanh Hà. Cụ NGuyễn Trọng Kỳ còn nhớ rõ lễ hội ngày ấy: Trước là uy nghi kính lễ Tam Bảo Phật, lễ Thánh Thần, lễ Thánh Mẫu, lẽ rước tượng quan huyện quy y về chua noi tieng mien Bac này. Sau là mở hội có:Tế nữ quan, đánh cờ người, trò tổ tôm điếm, đánh du nam nữ, bơi thuyền, thả đèn (phóng đăng), thả chim (phóng sinh)

Chùa Thanh Hà vào lễ hội mang màu sắc sinh hoạt văn hóa làng. Cho đến giờ hiện trạng của chùa cơ bản không thay đổi. Hòa thượng Thích Thanh Trình được dân làng thỉnh mời ở lại và là vị sư tổ khai sáng của chùa Thanh Hà.

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng mien Bac, chùa nổi tiếng Thanh Hóa, chua Thanh Ha Thanh Hoa, chua Thanh Ha

Do thời gian và chiến tranh, nhiều ngôi chùa quanh thành phố bị tàn phá và hư nát, một bộ phận thực hiện tiêu thổ kháng chiến như chùa Quảng Thọ, chùa Thanh Thọ, chùa Quảng Hóa, chùa Hai Voi, phủ Thanh Lâm… Nhân dân đã thỉnh tượng và đưa đồ thờ cũng từ các chùa, phủ ấy quy tụ về chùa Thanh Hà.

Khuôn viên của chùa nổi tiếng miền Bắc này cũng bị thu hẹp lại, Một số gia đình vào chùa ở, tiểu khu Điện Biên mượn phủ Mẫu là trụ sở hành chính, không có tường rào, ngôi chùa có phần hoang phế. Khi hòa thượng Thích Thanh Cầm chuyển về, ngài đã sửa sang tượng Phật, ổn định Phật giáo, cho xây vườn tháp, sửa sang phủ Mẫu. Thời ấy cụ thường nói: Đất của nhà nước, chùa của dân, tăng quản lý. Được chính quyền địa phương giúp đỡ, nhà chùa đã di chuyển được khu tập thể trước phủ Mẫu và giải phóng khu vực hàng quán trước cổng chùa.


Tiêu đề: Re: BỘ SƯU TẬP VỀ CHÙA .
Gửi bởi: tdtvnn trong Tháng Mười Hai 17, 2015, 08:49:19 AM
(http://chuanoitieng.com/wp-content/uploads/Chua-Tam-Bao-Da-Nang.jpg)
Chùa Tam Bảo cổ kính trầm lắng giữa lòng thành phố Đà Nẵng với bề dày lịch sử cùng nét đẹp biểu trưng của những ngôi chùa cổ, là điểm thưởng ngoạn cùng hành hương lý tưởng dành cho du khách.

Chùa Tam Bảo – Nét đẹp tín ngưỡng của người dân Đà Nẵng. Khi chọn các hành trình khám phá Đà Nẵng, du khách thường được các công ty du lịch tư vấn các địa danh nổi tiếng như Ngũ Hàng Sơn, khu du lịch Bà Nà, … Tuy nhiên, chùa Tam Bảo cổ kính trầm lắng giữa lòng thành phố nhộn nhịp cũng là một trong những điểm đến bạn nên ghé thăm nếu có dịp đến với Đà Nẵng.

Là một trong những điểm đến du lịch Đà Nẵng mang vẻ rất bình yên, chùa Tam Bảo với bề dày lịch sử cùng nét đẹp biểu trưng của những ngôi chùa cổ, là điểm thưởng ngoạn cùng hanh huong Phat giao lý tưởng dành cho du khách. Nằm trên con đường Phan Chu Trinh rợp bóng cây xanh, ngôi chùa nổi bật với lối kiến trúc hài hòa giữa phong cách Đông Nam Á và nét thuần Việt bình dị.

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng Da Nang, Chua Tam Bao Da Nang, Chua Tam Bao,

Được xây dựng từ những năm 1953-1963, chùa Tam Bảo Đà Nẵng là ngôi chùa đầu tiên của Quảng Nam – Đà Nẵng và là tổ đình của các tỉnh miền Trung. Chùa có 5 ngọn tháp cao vút sừng sững đặt cân đối trong khuôn viên, được pha màu trước khi nung khói tạo nên 5 màu sắc biểu tượng của Phật Giáo. Chính điện của chùa được đặt ngay tại trung tâm thờ tượng đức Phật Thích Ca thành đạo ở chính giữa, hai bên đặt tượng đức Phật Thích Ca trì bình khất thực, đức Phật nhập niết bàn, đức Phật thiền định, … Cạnh điện thờ là tủ sách Tam Tạng quý giá.

chua noi tieng , Chùa nổi tiếng Việt Nam, chua noi tieng Da Nang, Chua Tam Bao Da Nang, Chua Tam Bao,

Tầng dưới chùa Tam Bảo là nơi giảng đạo của sư thầy trong chùa. Tháp chùa cao vút là nơi cất gữ xá lợi Phật Tổ. Đặc việt trước cửa chùa có có 2 cây bồ đề được lấy từ cây bồ đề Đạo trường ở Ấn Độ (nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo). Phía sau sân chùa là 2 cây sa – la lấy từ vườn Lumbini (nơi Đức Phật được sinh ra) tỏa bóng mát quanh năm. Ngoài ra chùa Tam Bảo Đà Nẵng còn cất giữ một số pho tượng linh thiêng cùng bộ bàn thờ và pháp tọa bằng gỗ quý hiếm đặt trong chính điện do Hoàng gia Thái Lan hiến cúng. Với những hiện vật thiêng liêng quý giá cùng sự tôn thờ tín ngưỡng của người dân, chùa Tam Bảo hiện nay là một trong những chùa quan trọng của miền Trung và là nơi linh thiêng cho khách hành hương Phật giáo khắp nơi trên đến cúng bái tỏ lòng mộ đạo. Không chỉ cảm nhận sự yên lành khoáng đạt, bạn còn tìm thấy sự thanh tịnh thư thái cho tâm hồn rất đặc biệt mà có thể cuộc sống vội vã đã vô tình lấy mất của bạn từ lâu.